Luận văn ; Một số giải pháp nhằm tăng cung hàng hoá cho thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay
Trang 1Lời mở đầu
Để có thể đạt đợc những mục tiêu đề ra trong qua trong chiến lợc ổn
định và phát triển kinh tế XHVN từ nay đến năm 2020 là phấn đấu đa nớc ta
về cơ bản trở thành một quốc gia có cơ sở vật chất kinh tế hiện đại, có tốc độtăng trởng GDP bình quân hàng năm ở mức 8% -10% và thực hiện thànhcông sự nghiệp CNH- HĐH đất nớc thì vốn là yếu tố quan trọng thiết yếu đ-
ợc đặt lên trên hàng đầu
Theo ớc tính của một số chuyên gia kinh tế thì từ năm 2001- 2020 VNcần khoảng 500- 550 tỷ USD vốn đầu t Vậy làm thế nào để nớc ta có thểhuy động đợc lợng vốn khổng lồ nh vậy
Chúng ta biết vốn có thể huy động từ nhiều nguồn (kênh dẫn truyền vốn) nh:
Tín dụng ngân hàng(TDNH), thị trờng chứng khoán(TTCK) , Đầu t nớc ngoài (FDI), tài trợ phát triển chính thức (ODA) nhng trong điều kiện hiện
nay khi nguồn vốn FDI, ODA có xu hớng giảm do ảnh hởng của những biến
động về kinh tế - chính trị trên thế giới và trong khu vực.Đồng thời vốn huy
động từ kênh TDNH chủ yếu là vốn Ngân hàng
Vậy thì, việc huy động vốn từ TTCK - cái nôi tập trung của mọi nguồnvốn mang tính chất trung dài hạn là mục tiêu quan tâm của cảu hầu hết các
dự án đầu t phát triển
Và ngày 20/07/2000 TTGDCK đầu tiên của nớc ta đã đi vào hoạt
độngtại Thành phố HCM Tuy nhiên để tổ chức thành lập đợc một TTCKkhông khó mà cái khó là làm sao các thị trờng đó phải hoạt động đợc và cósức sống phát huy đợc vai trò là công cụ thu hút mọi nguồn vốn nhàn rỗi vào
Trang 2Cụ thể là sau gần hai năm đi vào hoạt động vấn đề hàng hoá luôn luôn
là vấn đề thời sự thực tế bức xúc mà các nhà hoạch định chính sách, công tácquản lý, các chuyên gia kinh tế cảu UBCKNN vẫn luôn đau đầu để tìm ragiải pháp với hy vọng TTCK VN có thể hoạt động phát triển cạnh tranh trongtơng lai - chứng thựcTTCK là cái mà hiện nay nền kinh tế Việt nam đang rấtcần để có thêm cơ hội huy động triệt để , tối đa huy động mọi nguồn vốn Với quan điểm nh trên, bài khoá luận với tiêu đề “ Một số giải pháp nhằm tăng cung hàng hoá cho TTCK VN hiện nay” đợc viết ra mong đa lại
một cái nhìn toàn diện tổng quát và những nhận định khách quan về thựctrạng hàng hoá trên TTCKVN, đồng thời mạnh dạn đa ra một sô kiến nghịnhằm bổ sung thêm những giải pháp tăng cung hàng hoá
Khoá luận bao gồm 3 phần chính:
Chơng I: Những vấn đề cơ bản về hàng hoá và sự tạo hàng hoá cho TTCK Chơng II: Thực trạng các CK đã phát hành trên TTCK VN
Chơng III: Chính sách và giải pháp tăng cờng hàng hoá cho TTCK Việt Namhiện nay
Do thời gian cũng nh điều kiện qua khảo sát thực tế còn hạn hẹp chắcchắn bài khoá luận không tránh khỏi những sai sót nhất định.Tôi kính mongnhận đợc sự chỉ bảo và giúp đỡ tận tình của các thầy cô và những ngời cócùng sự quan tâm để bài khoá luận có thêm những ý nghĩa thiết thực cho sựphát triển TTCKVN nói chung và tăng lợng cung hàng hoá cho TTCK VNnói riêng
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới nhữngthầy cô trờng Học viện Ngân hàng - những ngời đã tận tâm trang bị cho tôi
đủ những kiến thức và t duy để hoàn thành tốt khoá luận Bên cạnh đó tôikính mong đợc cám ơn sự chỉ bảo nhiệt tình của TS Tôn Tích Quý - ngời đãtrực tiếp hớng dẫn tôi hoàn thành khoá luận này, tôi xin cảm ơn Thạc sĩ VũThị Kim Liên - Vụ trởng Vụ quản lý và phát hành CK đã tận tình hớng dẫntôi nơi cơ quan thực tập để tôi có thêm cơ hội tiếp cận trực tiếp với thực tế
Trang 4hoàn chỉnh thành những quy tắc có giá trị bắt buộc chung cho mọi thànhviên tham gia thị trờng.
Phiên chợ đầu tiên đợc diễn ra vào năm 1453 tại một lữ quán của một nhàbuôn – nhà môi giới tên là Van Ber Buerzo tại thị trấn Bruges (thuộc nớcBỉ) Trớc lữ quán có một bảng hiệu hình ba túi da với một từ tiếng Pháp là
“Bourse” tức là “Mậu dịch thị trờng” Ba túi da tợng trng cho ba nội dung
của “Mậu dịch trờng” là: mậu dịch trờng hàng hoá, mậu dịch trờng ngoại
tệ và mậu dịch trờng giá khoán động sản Đến năm 1547, thị trấn Bruges
mất hẳn sự phồn vinh vì eo biển Evin dẫn vào thị trấn bị cát lấp mất Mậudịch trờng đợc chuyển sang thị trấn Antwerpen, một hải cảng lớn của Bỉ thời
đó Cùng với sự phát triển nhanh chóng của các giao lu kinh tế trong tongquốc gia cũng nh giữa các quốc gia với nhau, các mậu dịch trờng không cònphù hợp và đủ sức cho các giao dịch với ba nội dung hoàn toàn khác nhau
Do đó theo lẽ tự nhiên, nó đợc tách thành các thị trơng khác nhau : giao dịchhàng hoá đợc tách thành khu thơng mại, giao dịch ngoại tệ tách ra thành thịtrờng hối đoái, giao dịch giá khoán động sản tách ra thành TTCK và các giaodịch tơng lai đợc tách ra thành các “thị trờng tơng lai”
Sự phát triển của TTCK:
Lần đầu tiên vào năm 1531, thị trờng phát triển mạnh ở Antwerpen thực hiệncác nghiệp vụ về CK ( Trái phiếu Chính phủ của Hà Lan, Anh, Bồ Đào Nha,Tây Ban Nha, Pháp ) Mậu dịch trờng Antwerpen sụp đổ vào cuối thế kỷXVI, khi Tây Ban Nha xâm chiếm Antwerpen và khi vua chúa Tây Ban Nha
và Pháp chấm dứt trả nợ
Năm 1608, TTCK Amsterdam (Hà Lan) đợc thành lập và tiếp theo nó là sự
ra đời của các TTCK London (1793), New York (1792), Paris (1808), Durich(1876), Tokyo (1878)
Từ đầu thế kỷ XV đến giữa thế kỷ XIX, hàng hoá lu thông trên TTCK chủyếu là CK nợ của Chính phủ, vì lúc này số lợng cổ phiếu còn hạn chế bởicông ty cổ phần cha nhiều Vào những năm cuối thế kỷ XIX, phong tràoCPH doanh nghiệp phát triển rầm rộ ở các nớc công nghiệp, tạo ra sự thay
đổi cơ bản trong cơ cấu các loại CK lu thông trên TTCK Các loại cổ phiếu
Trang 5và trái phiếu dài hạn của các công ty cổ phần đã chiếm u thế trong khối lợng
CK giao dịch trên tất cả các TTCK thế giới
Lịch sử phát triển TTCK trên thế giới đã trải qua những bớc thăng trầm Thời
kỳ huy hoàng nhất là vào những năm 1875-1913, TTCK phát triển mạnhcùng với sự tăng trởng của nền kinh tế Bắt nguồn bởi sự sụp đổ của SGDCKNew York vào mùa thu năm 1929 do có sự đầu cơ mua bán khống khiến chogiá CK bị mất giá kéo theo là sự sụp đổ hàng loạt các SGDCK của nhiềuquốc gia, là nguyên nhân chính gây ra cuộc đại khủng hoảng kinh tế thế giới(1929-1933) Sau sự kiện lịch sử này, chính quyền các nớc t bản đã buộcphải can thiệp vào hoạt động của thị trờng, đồng thời tiến hành kiểm soát cácnghiệp vụ CK bằng việc ban hành và thực hiện các văn bản pháp luật có liênquan về CK và TTCK Sau thế chiến thứ hai, TTCK các nớc phát triển lạiphục hồi và phát triển trở lại Thế nhng vào năm 1987, “Cuộc khủng hoảngtài chính” một lần nữa làm rung động và gây hiện tợng sụp đổ cho không ítcác TTCK lớn trên thế giới Lần này, hậu quả của nó để lại mang tính chấtnghiêm trọng và nặng nề hơn cuộc đại khủng hoảng những năm 1929-1933.Tuy nhiên chỉ 2 năm sau,TTCK thế giới lại đi vào hoạt động ổn định, pháttriển và trở thành một định chế tài chính không thể thiếu đợc đối với nhữngquốc gia có nền kinh tế phát triển theo cơ chế thị trờng
Ngày nay, TTCK của nhiều quốc gia trên thế giới ngày càng phát triển lớnmạnh cả về qui mô lẫn trình độ và có xu hớng toàn cầu hoá cao
1.1.2 Khái niệm và vai trò của TTCK đối với nền kinh tế.
A-Khái niệm
Trong lịch sử hình thành phát triển thị trờng tài chính, thị trờng tiền tệ đợchình thành trớc do ban đầu nhu cầu vốn cũng nh tiền tiết kiệm trong dân ccha cao và ban đầu nhu cầu về vốn chủ yếu là vốn ngắn hạn Sau đó, cùngvới sự phát triển kinh tế, nhu cầu về vốn dài hạn cho đầu t phát triển ngàycàng cao và thị trờng vốn đã ra đời để đáp ứng những nhu cầu này.Để huy
động đợc các nguồn vốn dài hạn bên cạnh việc đi vay ngân hàng thông qua
Trang 6Thị trờngtài chính
hình thức tài chính gián tiếp, Chính phủ và một số công ty còn thực hiện huy
có TTCK, song cho đến nay ngời ta vẫn cha thống nhất đợc một định nghĩachuẩn về TTCK Có rất nhiêù kháI niệm về TTCK đợc đa ra:
Ông Neil F Stapley trong cuốn “Stock market Aguide for the private Investor” đa ra khái niệm “là một thị trờng phức tạp, cao cấp mà hàng hoá
giao dịch mua bán là những cổ phiếu và cổ phần”
Tác giả Trần Xuân Kiệm trong cuốn “Hỏi đáp về TTCK và công ty cổ phần” cho rằng “TTCK là nơi giao dịch mà ở đó hàng ngàn ngời mua vào và
bán ra các cổ phần mỗi ngày thông qua các đại lý của họ, là những ngời môIgiới CK”
Thị trờng tàichính ngắn hạn(Thị trờng tiền tệ)
Trang 7Hai quan điểm trên đây đề cập hàng hoá mua bán trên TTCK chỉ bao gồm cổphiếu, trong khi đó hàng hoá của TTCK rất phong phú đa dạng, không chỉ có
cổ phiếu, trái phiếu mà còn nhiều loại CK khác nh chứng quyền bảo chứngquyền Hơn nữa, tính chất thời hạn của loại CK đợc đa ra giao dịch trên thịtrờng không đợc hai tác giả trên lu ý
Ông Young Jackim, một học giả ngời Hàn Quốc, nói rằng “TTCK là một
thị trờng trừu tợng nơi các CK đợc phát hành và giao dịch giữa ngời mua vàngời bán”
Thực chất đây là định nghĩa truyền thống cổ điển, phù hợp với loại hìnhTTCK đầu tiên ra đời một cách tự phát trong lịch sử, ngày nay loại hìnhTTCK này đợc gọi là TTCK phi chính thức hay thị trờng thứ ba
Có lẽ do cơ cấu TTCK ngày nay phức tạp nên khó có một định nghĩa đầy đủtrọn vẹn Tuy nhiên, đối với một quốc gia,TTCK tập trung là hạt nhân tiêubiểu cho TTCK, nên thông thờng ngời ta đồng nghĩa TTCK tập trung vớiTTCK Trong xu hớng đó, ngời ta chấp nhân định của tài liệu “Longman
dictionary of Business English, 1985” nh sau: “TTCK là một thị trờng có tổ chức, nơi các CK đợc mua và bán tuân theo những nguyên tắc đã đợc ấn
định”
TTCK ở bất kỳ nớc nào, dù mới thành lập hay đã phát triển,đều cấu thànhbởi hai bộ phận thị trờng có tổ chức khác nhau:
* Thị trờng sơ cấp (primary market ):
Thị trờng sơ cấp là thị trờng mua bán các CK mới phát hành Trên thị trờngnày, vốn từ nhà đầu t sẽ đợc chuyển sang nhà phát hành thông qua việc nhà
đầu t mua các CK mới phát hành Vì vậy, thị trờng sơ cấp còn đợc gọi là thịtrờng phát hành CK, là nơi tạo ra hàng hoá cho thị trờng giao dịch và làmtăng vốn đầu t cho nền kinh tế
Vai trò của thị trờng sơ cấp:
+ Chứng khoán hoá nguồn vốn cần huy động, vốn của công ty đợc huy độngqua việc phát hành CK
+ Thực hiện quá trình chu chuyển tài chính trực tiếp đa các khoản tiền nhànrỗi tạm thời trong dân chúng vào đầu t, chuyển sang dạng vốn dài hạn
Trang 8Đặc điểm của thị trờng sơ cấp:
+ Thị trờng sơ cấp là nơi duy nhất mà các CK đem lại vốn cho ngời pháthành Những ngời bán trên thị trờng sơ cấp đợc xác định thờng là Kho bạc,Ngân hàng nhà nớc, công ty phát hành, tập đoàn bảo lãnh phát hành
+ Giá CK trên thị trờng sơ cấp do tổ chức phát hành quyết định và thờng đợc
in ngay trên CK
* Thị trờng thứ cấp (secondary market):
Thị trờng thứ cấp là nơi giao dịch các CK đã đợc phát hành trên thị trờng sơcấp Việc mua bán CK trên thị trờng thứ cấp là để duy trì khả năng thanhtoán, đánh giá các DN và thay đổi cơ cấu sở hữu công ty Hoạt động của thịtrờng thứ cấp tuy không làm tăng thêm vốn đầu t của các DN, nhng lại tạo ra
sự giao lu vốn
Vai trò của thị trờng thứ cấp:
+ Đảm bảo tính thanh khoản cho các CK đã phát hành
+ Xác định thị giá của CK một cách đúng đắn Giá cả của CK trên thị trờngthứ cấp cũng có ảnh hởng đến giá phát hành trên thị trờng sơ cấp
+ Điêù hòa vốn giữa các ngành
Đặc điểm của thị trờng thứ cấp:
Trên thị trờng thứ cấp, các khoản tiền thu đợc từ việc bán CK thuộc về cácnhà đầu t và các nhà kinh doanh CK chứ không thuộc về nhà phát hành Nóicách khác, các luồng vốn không chảy vào những ngời phát hành CK mà luônchuyển giữa những ngời đầu t CK trên thị trờng Thị trơng thứ cấp là một bộphận quan trọng của TTCK, gắn bó chặt chẽ với thị trờng sơ cấp
Giao dịch trên thị trờng thứ cấp phản ánh nguyên tắc cạnh tranh tự do, giá
CK trên thị trờng thứ cấp do cung và cầu quyết định
Thị trờng thứ cấp là thị trờng hoạt động liên tục, các nhà đầu t có thể muabán các CK nhiều lần trên thị trờng thứ cấp
Cũng có thể phân loại TTCK theo tính chất tập trung của thị trờng Khi đó
TTCK bao gồm Sở giao dịch chứng khoán (Stock exchange)- thị trờng tập trung và thị trờng OTC ( Over the counter)- thị trờng phi tập trung Tại các
Trang 9sở giao dịch chứng khoán, các giao dịch đợc tập trung tại một địa đIểm, cáclệnh đợc chuyển tới sàn giao dịch và tham gia vào quá trình ghép lệnh đểhình thành nên gía giao dịch Trên thị trờng OTC, các giao dịch đợc tiếnhành qua mạng lới các công ty chứng khoán phân tán trên khắp quốc gia và
đợc nối với nhau bằng mạng đIện tử Giá cả trên thị trờng này đợc hình thànhtheo phơng thức thoả thuận
B- Vai trò của TTCK trong nền kinh tế quốc dân:
TTCK đã xuất hiện từ rất sớm ở các nớc TBCN và các nớc XHCN khi
từ bỏ con đờng phát triển kinh tế theo cơ chế quản lý kinh tế mệnh lệnh, kếhoạch hoá tập trung duy ý chí sang cơ chế quản lý thị trờng thì một số nớc đãthành lập TTCK của nớc mình
Rõ ràng là TTCK phải có một vai trò đáng kể trong nền kinh tế thị ờng và đặc biệt trong thị trờng tài chính quốc gia
tr-Tác động của TTCK đối với nền kinh tế:
+ Trớc hết, TTCK phản ánh tính hiệu quả của nền kinh tế quốc dân
Có thể nói mọi biến động của nền kinh tế thực sẽ đợc phản ánh vào hoạt
động của TTCK Thông qua TTCK ngời ta có thể đánh gía một DN, mộtngành kinh tế, sự tiến triển của nhu cầu Thị trờng này phản ánh thực trạngcủa kinh tế vĩ mô cả xu thế ngắn hạn và dài hạn Vì thế ngời ta ví TTCK là “phong vũ biểu” của nền kinh tế Chỉ tiêu quan trọng cho “phong vũ biêủ” đó
là chỉ số giá CK
+ TTCK là một kênh huy động vốn để đầu t vào sản xuất kinh doanh
và các nhu cầu chi tiêu của Chính phủ một cách trực tiếp Thị trờng này cókhả năng thu hút vốn ở khu vực t và công rất lớn Nhờ có thị trờng này màcác thể nhân và các pháp nhân có thêm nhiều cơ hội đầu t đồng thời vẫn cóthể thanh toán nhanh khi có nhu cầu TTCK khuyến khích đầu t và tiết kiệm,làm phong phú hình thức sở hữu Nhờ vào việc mua đI bán lại cổ phiếu trênthị trờng thứ cấp, TTCK góp phần đIều hòa vốn giữa các ngành trong nềnkinh tế quốc dân, do đó tạo nên sự phát triển nhanh và đồng đều của nềnkinh tế
+ TTCK còn thúc đẩy CPH, t nhân hóa, hình thành chế độ đa sở hữu
về t liệu sản xuất và tài sản trong nền kinh tế, tính chất sở hữu toàn dân mở
Trang 10rộng và làm cho quan hệ sản xuất sớm phù hợp với sự phát triển của lực lợngsản xuất Chính đó là cơ sở cho sự phát triển TTCK phân bổ rủi ro cho cácthành viên trong xã hội, do đó tạo nên sự quan tâm chung của xã hội đối vốinền kinh tế của đất nứơc.
+ TTCK là nơi khâu nối, tiếp sức cho cuộc chạy đua vốn, biến vốnnhàn rỗi ngắn hạn thành vốn dài hạn phục vụ đầu t phát triển sản xuất
Tác động của TTCK đối với các doanh nghiệp:
+ Tham gia TTCK các công ty buộc phải công khai công bố các vấn
đề tàI chính Điều này sẽ giúp công ty phải làm tốt hơn vế sản xuất, kế toán,thanh toán, thống kê Công ty sẽ làm ăn hiệu quả hơn, nghiêm chỉnh hơn vàminh bạch hơn TTCK giúp công ty bớc dần vào tập tục của thị trờng quốc
tế, buộc công ty phảI năng động hơn và trởng thành nhanh hơn trong sựcạnh tranh khốc liệt của nền kinh tế thị trờng
+ Mặt khác, TTCK là diễn đàn giúp công ty quảng cáo tốt, nâng caothanh thế và uy tín của công ty
Tác động của TTCK đối với việc thu hút vốn nớc ngoài :
Nhờ vào trào lu quốc tế hoá, TTCK quốc gia còn có vai trò nh là ngời dẫnvốn đầu t của ngời nớc ngoàI vào trong nớc, đồng thời dẫn vốn đầu t trong n-
ớc ra nớc ngoài, những nớc có cơ hội và môI trờng đầu t có lợi hơn Đây lànguồn vốn đầu t gián tiếp bên cạnh đầu t trực tiếp
Bên cạnh những tác động tích cực TTCK cũng có những yếu tố tiêu cực nh
đầu cơ, mua bán nội gián Đây là các yếu tố tất yếu, chúng xuất hiện khi thịtrờng phát triển đến một trình độ nhất định Trong một chừng mực nào đó,các yếu tố này có tác dụng kích thích thị trờng, tuy nhiên vẫn cần có biệnpháp thích hợp để hạn chế những tác động xấu
Khi nghiên cứu bất cứ một thị trờng nào thì vấn đề đợc quan tâm hàng đầuchính là hàng hoá của thị trờng đó TTCK cũng nh mọi thị trờng bình thờngkhác chỉ có thể hoạt động và phát huy đợc vai trò của mình khi có ngời bán,ngời mua và hàng hoá làm đối trao đổi Hàng hoá của TTCK rất đặc biệt, đó
là các CK TTCK Việt Nam vừa đợc thành lập vì thế vấn đề hàng hoá cũngrất đợc quan tâm Trớc hết, để có thể phát huy tốt hơn vai trò của CK là hànghoá cho TTCK ta cần phải hiểu rõ thế nào là CK?
Trang 111.2 Hàng hoá trên TTCK.
Để có thể vận hành đợc thị trờng thì hàng hoá đóng một vai trò vôcùng quan trọng.Đối với TTCK cũng vậy số lợng và chất lợng hàng hoá giaodịch trên thị trờng là yếu tố quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của thịtrờng Tuy nhiên không giống các thị trờng hàng hoá khác hàng hoá trênTTCK là loại hàng hoá đặc biệt đợc gọi là Chứng khoán
1.2.1 Khái niệm về Chứng khoán.
Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về Chứng khoán, nhng tựchung lại Chứng khoán dợc hiểu nh sau:
+ Chứng khoán theo nghĩa nguyên thuỷ là các chứng th ding thay cho tiềnbạc
+ Chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền sở hữu hay quyền chủ nợ hợppháp có thể chuyển nhợng đợc của ngời sở hữu Chứng khoán đối với Vốn,Tài sản và các lợi ích khác của ngời phát hành
Hiện nay, các thị trờng tài chính nói chung và TTCK nói riêng đợc mở rộng
và hiện đại hoá, đặc biệt ở các nớc công nghiệp phát triển, do đó khái niệmChứng khoán cũng đợc mở rộng thêm Công ty tài chính quốc tế ( IFC) có da
ra một định nghĩa về Chứng khoán nh sau:
+ Quyền hởng lãi hay lợi nhuận đối với vốn, tài sản, sở hữu, lợi tức, thunhập, tô của chính phủ, công ty hay pháp nhân hoặc quỹ đầu t do đóng góp
cổ phần hoặc vay nợ
+ Quyền chọn hay bảo chứng, hay quyền mua các chứng khoán đó
+ Mọi thoả thuận mà theo đó, lợi ích của mỗi bên đợc đáng giá theo mục
đích phát hành, chuyển nhợng hay nhợng lại quy chiếu với giá trị của lợinhuận, tỷ lệ thuận trong tổng lợng kỳ phiếu của tài sản, hay trong số lợngtiêu chuẩn của tiền tệ hay hàng hoá
+ Một hợp đồng đầu t mà theo đó, nhà đầu t có phần vốn trong tài sản vàphần vốn này có thể đợc sử dụng chung vớicác đồng vốn khác, hoặc theo đóngời góp vốn đợc kỳ vọng về khoản lợi nhuận,tiền thuê hay thu nhập do nỗlực của những ngời thúc đẩy, hợp đồng đầu t hoặc của một bên thứ ba
1.2.2 Chứng khoán- hàng hoá của TTCK.
Trang 12Chứng khoán (CK ) đợc coi là một loại hàng hoá đặc biệt và CK có đầy đủcác thuộc tính của hàng hoá thông thờng là giá trị và giá trị sử dụng.
Giá trị của CK thể hiện ở khía cạnh CK là một tài sản thực đó là chứng chỉhoặc bút toán ghi sổ, giá trị của chứng khoán thay đổi theo quy luật cung cầutrên thị trờng.CK đã dợc thừa nhận bằng văn bản pháp quy mà tại Nghị định
số 48/1998/NĐ-CP đã quy định cụ thể, CK mang tính thanh khoản và khảnăng sinh lời vì thế mà CK hoàn toàn có thể đợc đem ra mua bán, trao đổibởi ngời sở hữu chúng
Khác với các loại hàng hoá thông thờng giá trị sử dụng của CK thể hiện ởquyền đợc hởng lợi tức ( khoản thu nhập từ CK ).Ngời đầu t (sở hữu CK )mua bán CK với hy vọng là sẽ thu đợc lợi nhuận chênh lệch do CK mang lạitrong tơng lai
CK là loại hàng hoá đặc biệt trên TTCK vì CK là công cụ huy động vốn từnhững nơi thừa sang những nơi thiếu vốn, mang nhứng khoản tiền nhàn rỗitrong dân chúng sang cho những nhà đầu t thiếuvốn
Khi nền kinh tế của một quốcgia đang trong giai đoạn phát triển thì việc huy
động vốn triệt để mọi nguồn vốn nhàn rỗi thì cần phải có TTCK nơi mà CK
đợc hình thành, trao đổi và đợc mua đi bán lại
1.2.3 Phân loại chứng khoán:
Tuỳ theo tiêu thức lựa chọn mà có nhiều cách phân loại CK:
A- Căn cứ vào tiêu chuẩn pháp lý:
- CK ghi danh( Nominal/ Registered securities): là loại CK ghi rõ tên ngời
chủ sở hữu Đối với loại CK này nếu ngời chủ sở hữu muốn chuyển nhợngthì bắt buộc phải tiến hành đầy đủ các thủ tục đăng kí tại các cơ quan pháthành
- CK vô danh(Bearer Securities): là loại CK không ghi rõ tên ngời chủ sở
hữu Đối với loại CK này, thủ tục chuyển nhợng rất đơn giản, dễ dàng
B- Căn cứ vào tính chất thu lợi tài chính:
- CK có lợi tức ổn định( Fixed income securities): là loại CK có xác định
tỷ lệ lãi cụ thể phải trả cho ngời sở hữu khi đến kỳ hạn Thông thờng, vốn vàlãi của loại CK này đợc hoàn trả khi đến kỳ hạn Điển hình của loại CK này
là cổ phiếu u đãi, trái phiếu
Trang 13- CK có lợi tức không ổn định(Variable income securities): là loại CK
không xác định trớc tỷ lệ lãi đợc hởng Tỷ lệ lãi ( còn đợc gọi là cổ tức) phụthuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh của công ty tốt hay xấu, phụ thuộcvào kế hoạch phân chia lợi nhuận của công ty
C- Căn cứ vào mục đích huy động vốn:
- CK vốn: cổ phiếu( Stock):
Cổ phiếu là một loại chứng th, chứng minh quyền sở hữu của một cổ
đông đối với một công ty cổ phần, hay nói một cách khác, cổ phiếu là mộtgiấy chứng nhận việc đầu t vốn của một chủ thể vào một công ty cổ phần
Nh vậy, chính công ty cổ phần đã khai sinh ra cổ phiếu và chỉ có công ty cổphần mới có cổ phiếu Các cổ đông- ngời mua cổ phiếu của công ty –không phải là chủ nợ đối với công ty mà là ngời hùn vốn cùng công ty hoạt
động, là ngời chủ sở hữu một phần công ty Vì vậy cổ phiếu còn đợc gọi là
CK vốn
Trong lịch sử, loại cổ phiếu ra đời đầu tiên là loại cổ phiếu có ghi tên
sở hữu chủ- gọi là cổ phiếu ghi danh Hình thức cổ phiếu này có nhợc điểm
là việc chuyển nhợng rất phức tạp Khi muốn chuyển nhợng cho ngời khácphải đăng kí tại cơ quan phát hành và phải đợc Hội đồng quản trị của công ty
cổ phần cho phép Điều đó làm trở ngại cho việc lu thông cổ phiếu trên thị ờng Đến thế kỉ XVIII, cổ phiếu vô danh ra đời Và đến thế kỷ XIX với u thếchuyển nhợng đơn giản dễ dàng bằng cách trao tay mà không cần phải có thủtục pháp lý rờm rà, cổ phiếu vô danh đã thay thế hoàn toàn cổ phiếu ghidanh
tr-Cổ phiếu có rất nhiều loại tuỳ theo căn cứ phân loại Tuy nhiên có thểquy cổ phiếu thành hai loại chính:
- Cổ phiếu thờng( Common Stock):
Tơng tự nh các loại hình cổ phiếu, cổ phiếu thờng là một CK vốn,không có kỳ hạn, tồn tại cùng với sự tồn tại của công ty, lợi tức cổ phiếu đợctrả vào cuối năm để quyết toán- gọi là cổ tức Cổ phiếu thờng có các đặc
điểm sau:
+ Cổ tức không cố định, phụ thuộc vào mức lợi nhuận thu đợc hàng năm củacông ty và chính sách chia lời của công ty
Trang 14+ Việc trả cổ tức đối với cổ phiếu thờng có thể đợc thực hiện bằng các hìnhthức sau: trả bằng tiền mặt là hình thức phổ biến nhất phù hợp với nguyệnvọng của các nhà đầu t; trả bằng chính cổ phiếu của công ty, nếu công tylàm ăn tốt thì hình thức này rất hấp dẫn đối với những ngời muốn đầu t tiếp;trả bằng tài sản của công ty, hình thức này thờng ít sử dụng trong thực tế.+ Cổ phiếu của công ty không cho nhà đầu t một sự hứa hẹn hoàn trả lại sốvốn đầu t vì đây không phải là khoản nợ đối với công ty- vì vậy nó còn đợcgọi là một CK vĩnh viễn.
+ Cổ đông của cổ phiếu thờng đợc cấp một số đặc quyền khi họ mua cổphiếu của công ty nh: đợc tham gia bầu Hội đồng quản trị, tham gia bỏ phiếuquyết định các vấn đề lớn của công ty, khi công ty giải thể hoặc phá sản sẽ
đợc chia số tiền còn lại sau khi thanh toán các khoản nợ và thanh toán cho cổphiếu u đãi
Với các đặc điểm trên cổ phiếu thờng bao hàm nhiều yếu tố rủi ro, giácả cổ phiếu biến động nhiều trên thị trờng Do đó, khi đầu t vào cổ phiếu th-ờng, nhà đầu t cần phân tích xem xét kỹ lỡng để chọn đúng hớng đầu t, nhằmthu lợi tức cao
- Cổ phiếu u đãi( Preferered Stock):
Cổ phiếu u đãi là loại CK lai tạp có những đặc điểm vừa giống cổ phiếu ờng, vừa giống trái phiếu Cổ phiếu u đãi là loại cổ phiếu đợc hởng nhữngquyền u tiên hơn so với cổ phiếu thờng
th-+ Cổ tức đợc quy định rõ trên cổ phiếu hoặc là một số tiền nhất định hoăc là
tỷ suất cổ tức
+ Cổ tức u đãi đợc nhận trớc so với cổ tức thờng nếu nh DN có lãi Nếu DN
bị lỗ vốn hoặc lãi không đủ chia thì cổ tức u đãi sẽ đợc tích luỹ lại để trả lạivào những năm sau
+ Khi có chủ trơng hoàn vốn cho cổ đông thì cổ đông u đãi đợc xếp vào trật
Trang 15Để tạo nên sự hấp dẫn hơn cho cổ phiếu u đãi, phù hợp với tâm lýmuôn vẻ của nhà đầu t, cổ phiếu u đãi đợc đa dạng hoá và phân chia thànhnhiều loại khác nhau:
* Cổ phiếu u đãi tích luỹ( Cumulative Preferered Stock)
* Cổ phiếu u đãi không tích luỹ( Non- Cumulative Preferered Stock)
* Cổ phiếu u đãi dự phần( Participating Preferered Stock)
* Cổ phiếu u đãi hoàn vốn( Redeemable Preferered Stock)
* Cổ phiếu u đãi thu hồi( Callable Preferered Stock)
* Cổ phiếu u đãi đảm bảo( Guaranteed Preferered Stock)
Tóm lại, với những đặc trng của mình, cổ phiếu đã tạo cho các công ty cổphần những u thế tuyệt diệu, có khả năng huy động tập trung đợc một khối l-ợng vốn khổng lồ cho sự phát triển từ những số vốn lẻ tẻ trong dân chúng.Nhờ có cổ phiếu, vốn đầu t của các cổ đông không bị bất động, họ có thểchuyển vốn đầu t từ lĩnh vựu này sang lĩnh vực khác, từ công ty này sangcông ty khác bằng cách mua bán cổ phiếu trên TTCK thứ cấp
- CK nợ: trái phiếu( Bonds):
Trái phiếu là một CK đợc phát hành dới hình thức chứng chỉ hoặc búttoán ghi sổ xác nhận nghĩa vụ trả nợ( bao gồm vốn gốc và lãi) của tổ chứcphát hành trái phiếu đối với ngời sở hữu trái phiếu trong một thời hạn nhất
định
Trái phiếu là một CK nợ, ngời mua trái phiếu là trái chủ, là ngời chủ
nợ của tổ chức phát hành, là ngời chủ sở hữu trái phiếu đó Sau một thời giannhất định , trái chủ đợc cơ quan phát hành hoàn trả số vốn theo mệnh giá khi
đáo hạn, hàng năm hoặc hàng quý trái chủ sẽ đợc trả một số tiền lời theomức lãi suât đã định Đây là loại CK với lợi tức cố định( Fix incomeSecurities) Tình hình lạm phát tiền tệ, hoặc có sự thay đổi trong chính sáchtài chính- tín dụng cũng có thể làm ảnh hởng đến giá trái phiếu trên thị trờng
Một trái phiếu thờng có các đặc trng cơ bản sau:
* Mệnh giá( Par value): là số tiền ghi trên bề mặt trái phiếu khi phát hành,
đây là số tiền mà tổ chức phát hành cam kết trả cho ngời có trái phiếu( haycòn gọi là trái chủ)
Trang 16* Giá phát hành( Purchase Price): là giá mà ngời mua trái phiếu phải trả
tại thời điểm phát hành, thờng tơng ứng với mệnh giá trái phiếu,nhng cũng
có thể nhỏ hơn mệnh giá( ví dụ 98%) Giá đợc thể hiện bằng tỷ lệ % củamệnh giá
* Lãi suất định kỳ( Interest): mỗi trái phiếu đều có ghi cam kết của tổ chức
phát hành sẽ thanh toán cho ngời có trái phiếu một số tiền lãi nhất định vàomột ngày xác định Lãi suất thờng đợc công bố theo tỷ lệ % so với mệnh giácủa trái phiếu Thông thờng trái chủ sẽ nhận lãi vào một ngày định kỳ củasáu tháng hay một năm Tại Việt Nam, lãi suất đợc tính theo năm, tiền lãi đ-
ợc thanh toán mỗi năm một lần
* Lãi suất hiện hành: là lãi suất của nhà đầu t so với chi phí đầu t đợc xác
định nh sau:
Số tiền lãi nămLãi suất hiện hành = - x 100
Chi phí đầu t
* Lãi suât đáo hạn: đợc tính trên tiền lời thu đợc chia cho chi phí đầu t, rồi
tất cả chia cho số năm còn lại, đợc xác định theo công thức sau:
(P x M) + (P – F)/N Lãi suât đáo hạn = -
(P/F)/2 Trong đó:
-P: mệnh giá
-M: lãi suất -F: giá mua-N: số năm
* Ngày đáo hạn( Maturity date): đây là ngày công ty sẽ thanh toán mệnh
giá cho trái chủ, ngày này còn đợc gọi là ngày đến hạn (due date) của trái
phiếu Ngày đáo hạn cũng đợc ghi trên bề mặt của trái phiếu Ngày đáo hạncủa trái phiếu là ngày mà khoản nợ sẽ không tồn tại, vào ngày này nhà pháthành sẽ hoàn trả toàn bộ số vốn cho nhà đầu t
Trang 17Trái phiếu có tính ổn định và chứa đựng ít rủi ro hơn cổ phiếu Vì vậy,
đây là dạng đầu t đợc các nhà đầu t và các chế định tài chính a chuộng Tráiphiếu có thể đợc phân loại dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau
A/ Căn cứ vào hình thức phát hành, trái phiếu có hai loại: trái phiếu vô danh và trái phiếu ghi danh.
- Trái phiếu vô danh( Bearer bonds) là loại trái phiếu không mang tên trái
chủ, cả trên chứng chỉ cũng nh trên sổ sách của ngời phát hành.Những phiếutrả lãi đính theo tờ chứng chỉ, khi đến hạn trả lãi, ngời giữ trái phiếu chỉ việc
xé ra và mang tới NH nhận lãi, và khi trái phiếu đáo hạn, ngời nắm giữ cóthể mang chứng chỉ tới NH để nhận lại khoản cho vay, hoặc có thể bán nótrên TTCK thứ cấp trớc khi đáo hạn Trong trờng hợp này trải chủ sẽ nhận đ-
ợc giá trị theo giá thị trờng có thể bằng, cao hơn hoặc thấp hơn mệnh gía
- Trái phiếu ghi danh( registered/nominal bonds) là loại trái phiếu có ghi
tên và địa chỉ của trái chủ trên chứng chỉ và trên sổ của ngời phát hành Hìnhthức ghi danh có thể chỉ thực hiện cho phần vốn gốc, cũng có thể là ghi danhtoàn bộ, cả gốc lẫn lãi, sẽ đợc ngời đại lý gửi cho một tờ séc trả cho khoản lãi
đó, chứ không phải xé các cuống phiếu gửi tới nơi đại lý để thanh toán tiềnlãi nh trái phiếu vô danh
B/ Căn cứ vào tổ chức phát hành, trái phiếu gồm hai loại: trái phiếu công ty, trái phiếu CP và trái phiếu công trình.
- Trái phiếu CP( State bonds) là những trái phiếu do CP phát hành CP phát
hành trái phiếu(hay các công cụ nói chung) nhằm mục đích bù đắp thâm hụtngân sách, tài trợ cho các công trìng công ích, hoặc làm công cụ điều tiếttiền tệ
Trái phiếu CP là loại CK không có rủi ro thanh toán và cũng là loạitrái phiếu có tính thanh khoản cao Do đặc điểm đó, lãi suất của trái phiếu
CP đợc xem là lãi suất chuẩn để làm căn cứ ấn định lãi suất của các công cụ
Trang 18+ Ngời nắm giữ đợc trả lãi định kỳ và trả gốc khi đáo hạn, xong không đợctham dự vào các quyết định cuả công ty( cũng có những trái phiếu không đợctrả lãi định kỳ, ngời mua đợc mua dới mệnh giá và khi đáo hạn đợc nhận lạimệnh giá).
+ Khi công ty giải thể hoặc thanh lý, trái phiếu đợc u tiên thanh toán trớc các
cổ phiếu
+ Có những điều kiện cụ thể kèm theo hoặc nhiều hình thức đảm bảo chokhoản vay
- Trái phiếu công trình: là loại trái phiếu do ban quản lý dự án phát hành
d-ới sự bảo trợ và cho phép của Nhà nớc để huy động vốn xây dựng công trình.Trái phiếu là loại hàng hoá có độ an toàn khá cao, CK này thờng dành chonhững nhà đầu t vừa lòng với khoản lợi nhuận không lớn nhng độ rủi ro ít.Tuy vây thị trờng giao dịch trái phiếu trên thế giới cũng rất sôi động
- Công cụ phái sinh (Derivative Documents):
Trên TTCK, bên cạnh các giao dịch mua bán CK vốn, CK nợ còn có giaodịch mua bán các chứng từ tài chính khác nh chứng quyền, bảo chứng quyền,hợp đồng quyền chọn, Các chứng từ tài chính này đợc ra đời từ các giaodịch CK và đợc quyền chuyển đổi sang CK qua hành vi mua bán, cho nênngời ta gọi là chứng từ có nguồn gốc CK
* Hợp đồng quyền chọn (Option contract): là một sự thoả thuận mua bán
CK với một giá quy định trong thời gian tơng lai và hy vọng giá CK sẽ tănglên thì thực hiện quyền mua CK hoặc hy vọng giá giảm xuống thì thực hiệnquyền bán CK để kiếm lời
Hợp đồng quyền chọn có hai loại: hợp đồng quyền chọn mua (Call optioncontract) và hợp đồng quyền chọn bán (Put option contract)
- Hợp đồng quyền chọn mua (Call option) là hợp đồng trong đó cho
phép ngời mua hợp đồng đợc quyền mua một số cổ phiếu nhất định theomột giá quy định trong một thời hạn quy định của tơng lai Khi đáo hạn, ngờimua hợp đồng có thể thực hiện hợp đồng nếu giá cả CK trên thị trờng biến
động theo hớng có lợi cho họ hoặc huỷ hợp đồng trong trờng hợp ngợc lại
mà chỉ mất phí chọn mua (Call premium).
Trang 19- Hợp đồng quyền chọn bán (Put option) là hợp đồng trong đó cho
phép ngời mua hợp đồng đợc bán một số cổ phiêú nhất định theo giá quy
định trong một thời hạn quy định của tơng lai Khi đáo hạn, ngời mua hợp
đồng có thể lựa chọn thực hiện hợp đồng hoặc huỷ hợp đồng tuỳ theo trờnghợp nào có lợi hơn Ngời mua hợp đồng phải trả cho ngời bán hợp đồng một
khoản phí chọn bán (Put premium).
Các hợp đồng quyền chọn đợc sử dụng để kiếm lời và để rào chắn rủi ro Cácnhà đầu cơ chấp nhận rủi ro với hy vọng kiếm đợc lợi nhuận và hành độngnày có thể cho phép những ngời rào chắn rủi ro loại trừ đợc rủi ro khôngmong muốn
Chức năng kinh tế của hợp đồng quyền chọn là nhằm cung cấp công cụ giảmthiểu rủi ro
* Chứng quyền (Right Certificate): là một chứng th do công ty phát hành
cho các cổ đông, trong đó quy định quyền của cổ đông đợc mua một số lợng
cổ phiếu mới do công ty phát hành theo giá quy định trong một thời hạn nhất
định Cổ đông có thể thực hiện quyền mua, nhng cũng có thể chuyển nhợng,bán quyền mua cho một ngời khác để kiếm lời
Chứng quyền có đặc điểm là ngắn hạn, từ 1 đến 6 tuần, gia đăng kí mua cổphiếu ghi rõ trong chứng quyền thờng bé hơn giá trị thờng của cổphiếu.Thông thờng mỗi cổ phần hiện tại đợc một số quyền, số quyền cần có
để mua một cổ phần mới thay đổi và đợc quy định tuỳ theo chủ trơng củacông ty phát hành trớc khi bán cổ phiếu rộng rãi ra công chúng Chứngquyền chỉ bán cho cổ đông hữu hiệu
* Bảo chứng quyền (Warrants): là một chứng từ tài chính phát hành cùng
với trái phiếu hay cổ phiếu u đãi Bảo chứng phiếu cấp cho trái chủ hoặc cổ
đông khi phát hành CK mới quy định lợng trái phiếu hoặc cổ phiếu thờng
đ-ợc quyền mua với mức giá cao hơn giá thị trờng tại thời đIểm trong tơng lai,thờng sau thời gian dài Bảo chứng quyền đợc bán cho mọi đối tợng quantâm
Chứng quyền và bảo chứng quyền rất phù hợp với mục tiêu tài trợ công ty.Công cụ này có thể cho phép việc phát hành CK nợ trong những tình huốngkhó khăn Trong khi việc phát hành thẳng có thể không đợc chấp nhận hoặc
Trang 20đợc chấp nhận với mức lãi suất cao, thì một loại CK nợ giống nh vậy có thể
đợc chấp nhận tốt hơn bởi vì có chứng quyền đi kèm theo với nó Chứngquyền và bảo chứng quyền cũng đợc phát hành trong việc cơ cấu lại công tyhay phá sản nhằm đa ra cho các cổ đông một cơ hội để phục hồi lại số vốn
đầu t của họ nếu việc cơ cấu lại công ty đi theo chiều hớng tốt Việc sử dụngchứng quyền và bảo chứng quyền đã có truyền thống liên quan tới các công
ty có tỷ suất lợi nhuận cũng nh rủi ro rất cao nh là các công ty đầu cơ bất
động sản, các hãng hàng không và các công ty kinh doanh khoáng sản Tuynhiên, trong những năm thập niên 70, công ty American Telephone
&Telegraph rất nổi tiếng đã lộ ra một khoản nợ 1,57 tỷ USD và công ty đãlàm dịu đi tình hình bằng cách sử dụng chứng quyền Do tính chất nh vậy,nên chứng quyền và bảo chứng quyền cũng trở thành hàng hóa không xa lạvới TTCK
* Hợp đồng kỳ hạn (Forward Contract):là một thoả thuận trong đó một
ng-ời mua và một ngng-ời bán chấp thuận thực hiện một giao dịch hàng hóa vớikhối lợng xác định, tại một thời đIểm trong tơng lai với một mức giá đợc ấn
định vào ngày hôm nay
Hàng hoá ở đây có thể là bất kỳ thứ hàng hoá nào: từ nông sản, các đồngtiền, cho tới các CK
Theo hợp đồng này chỉ có hai bên tham gia vào việc ký kết, giá cả do hai bên
tự thoả thuận với nhau, dựa theo những quy ớc mang tính chất cá nhân.Bằngviệc tham gia vào một hợp đồng kỳ hạn, cả hai bên đều giới hạn đợc rủi rotiềm năng cũng nh hạn chế lợi nhuận tiềm năng của mình
* Hợp đồng tơng lai (Futures Contract): là một thoả thuận mua và bán một
loại hàng hoá hoặc một công cụ tài chính nào đó vào một thời điểm nào đótrong tơng lai mà giá cả, số lợng, chất lợng và mẫu mã của hàng hoá đợc xác
định rõ vào thời đIểm mở hợp đồng
Một giao dịch hợp đồng tơng lai nói chung đợc giao dịch trên một SGD, vớimột số lợng lớn ngời bán, ngời mua đợc tập trung lại, giá cho tơng lai đợcniêm yêt trên SGD, cả hai bên bán và mua đều không bao giờ biết về ngời ởphía bên kia của giao dịch Công ty thanh toán bù trừ sẽ phục vụ nh mộttrung gian trong tất cả các giao dịch
Trang 21Vào đầu những năm 1980, hầu hết toàn bộ khối lợng giao dịch hợp đồng
t-ơng lai đợc tập trung ở sàn giao dịch của Mỹ Cho đến giữa những năm 1980thì tình hình có khác đi do có nhiều sở giao dịch mới hoạt động khắp Châu
Âu, Nam Mỹ và khu vực Châu á TháI Bình Dơng Ngày nay giao dịch hợp
đồng tơng lai diễn ra trên toàn cầu với hơn 60 SGD trên khắp thế giới Nớc
Mỹ vẫn là nơI hoạt động giao dịch hợp đồng tơng lai nổi tiếng nhất trên thếgiới với hai trung tâm giao dịch chính là: Chicago và NewYork
Chứng chỉ này có những đặc điểm tơng tự nh cổ phiếu thờng nh quyền
đợc hởng lợi tức từ vốn góp, quyền đợc kiểm tra sổ sách của Quỹ nhng khác
+ Đối với quỹ mở: ngời tham gia góp vốn đợc phép bán lại chứng chỉ Quỹ
đầu t cho chính quỹ đầu t để thu hồi vốn Do vậy chứng chỉ quỹ đầu t có tínhthanh khoản cao
+ Đối với quỹ đóng: ngời tham gia góp vốn đầu t không đợc phép rút vốnbằng cách bán lại chứng chỉ cho quỹ mà chỉ có thể bán lại trên SGDCK hoặctrên thị trờng OTC, do vậy những chứng chỉ quỹ đầu t loại này thờng có tínhthanh khoản không cao
1.3 Các hình thức tạo hàng cho TTCK.
Có hai hình thức phát hành CK trên TTCK mà ta ngầm hiểu đó là trên thị
tr-ờng sơ cấp đó là phát hành riêng lẻ và phát hành ra công chúng.
1.3.1 Phát hành riêng lẻ:
Phát hành riêng lẻ là việc phát hành trong đó CK đợc bán trong phạm
vi một số ngời nhất định (thông thờng là các nhà đầu t có tổ chức), với những
Trang 22điều kiện (khối lợng phát hành) hạn chế,không tiến hành một cách rộng rãi
Nhìn chung, việc phát hành CK ra công chúng phải chịu sự chi phối của phápluật về CK và phải đợc các cơ quan quản lý nhà nớc về CK cấp giấy phép.Sau khi phát hành trên TTCK, CK sẽ đợc giao dịch tại Sở giao dịch CK nếu
đáp ứng đợc các quy định của SGDCK Những công ty phát hành CK ra côngchúng phải thực hiện một chế độ báo cáo, công bố thông tin công khai vàchịu sự giám sát riêng theo quy định của pháp luật CK
Mục đích phân biệt hai hình thức phát hành : phát hành riêng lẻ và phát hành
ra công chúng nh trên trớc hết là để quản lý, nhằm bảo vệ cho công chúng
đầu t nhất là những nhà đầu t nhỏ không có kiến thức chuyên môn bởi vì đểphát hành ra côngchúng thì tổ chức phát hành phải là những công ty làm ăn
có chất lợng cao, hoạt đông kinh doanh có hiệu quả, đáp ứng đợc các điềukiện do các cơ quan quản lý nhà nớc về CK (UBCKNN ) quy định Mặt khác
sự khác biệt giữa phát hành riêng lẻ và phát hành ra công chúng còn nhằmxác định phạm vi thị trờng của các loại CK đó Chỉ có các CK đợc phát hànhrộng rãi cho công chúng mới đủ điều kiện hình thành nên TTCK có tổ chứcchính sách và có tính thanh khoản
1.3.2.2 Các hình thức phát hành CK
Việc phát hành ra công chúng đợc phân biệt giữa phát hành cổ phiếu và pháthành trái phiếu
Trang 23+ Trờng hợp phát hành cổ phiếu ra công chúng việc phát hành đợc thực hiệntheo hai phơng thức sau:
- Phát hành lần đầu ra công chúng (IPO): là việc phát hành trong đó cổ
phiếu của công ty đầu tiên đợc bán rộng rãi cho công chúng đầu t
- Chào bán sơ cấp (Phân phối sơ cấp): là đợt phát hành cổ phiếu bổ sung
của công ty đại chúng rộng rãi cho công chúng đầu t
+ Trờng hợp phát hành trái phiếu ra công chúng,việc phát hành đợc thực hiệnbằng một phơng thức duy nhất đó là chào bán sơ cấp(phân phối sơ cấp)
Các ph ơng pháp phân phối CK ra công chúng
Để có thể phân phối CK để tận tay các nhà đầu t thì tổ chức phát hành,
tổ chức bảo lãnh và các đại lý phân phối CK (sau đây gọi là tổ chức phânphối )thờng sử dụng các phơng pháp chào bán /ghi mua, bán qua trung gian,bán thẳng, và đa ra niêm yết Các phơng pháp này không loại trừ nhau, do đótrong một đợt phân phối CK ngời ta có thể sử dụng kết hợp 2 hoặc 3 phơngpháp
A/ Phơng pháp chào bán/ghi mua.
Chào bán/ghi mua là phơng pháp phân phối CK đợc các tổ chức phân
phối tiến hành rộng rãi nhất Theo phơng pháp này để bán CK, tổ chức phânphối CK phải tiến hành quảng cáo trên các phơng tiện thông tin đại chúng đểthu hút các nhà đầu t Sau đó các nhà đầu t sẽ gửi phiếu đăng ký mua kèmtheo séc thanh toán số tiền mua CK Giá bán CK có thể là giá cố định do tổchức phân phối công bố hoặc cũng có thể đấu thầu công khai
Hạn chế lớn nhất của phơng pháp này là có một khoảng thời gian trễ kể từkhi gửi phiếu đăng ký mua đến khi nhận đợc thông báo về việc phân phối
CK Do đó khi gửi phiếu đặt mua CK xong thì ngời mua cũng không thể biếtchính xác mình sẽ đợc sở hũ bao nhiêu CK bởi lẽ nếu số lợng CK đặt mualớn hơn số lợng CK chào bán thì những phiếu đăng ký mua đến sau không đ-
ợc phân phối theo tỷ lệ Chính vì thế sẽ rất khó cho ngời mua khi muốn bánlại những CK mà mình đặt mua trong thời gian trễ này
Nhằm mục đích hạn chế này các tổ chức phân phối đã sử dụng một phơngpháp mới là phơng pháp bán qua trung gian
B/ Phơng pháp bán qua trung gian.
Trang 24Theo phơng pháp này, thay vì trực tiếp nhận phiếu đặt mua của cácnhà đầu t các nhân, các tổ chức phân phối sẽ thuê các công ty môi giới CK
đứng ra phân phối Điều này đem lại lợi ích cho các tổ chức phân phối, công
ty môi giới CK cũng nh các nhà đầu t Thứ nhất đối với các tổ chức phânphối, việc phân phối thông qua các trung gian sẽ giúp cho các tổ chức phânphối tiết kiệm đợc các chi phí Tổ chức phân phối thay vì phải bỏ ra mộtkhoản chi phí lớn cho quảng cáo trên các phơng tiện thông tin đại chúng, chiphí quản lý chi phí phải trả cho các công ty tổ chức môi giới một khoản chiphí hoa hồng, tính trong phí bảo lãnh phát hành.Thứ hai đối với công ty môigiới bên cạnh khoản tiền hoa hồng nhận đợc từ việc phân phối CK, công tymôi giới cũng nắm rõ đợc tỷ lệ sở hữu CK của các khách hàng của mình từ
đó xác định đợc những khách hàng quan trọng Thứ ba đối với các nhà đầu t,
do có các mối quan hệ mật thiết với các công ty môi giới và họ có những lời
t vấn cần thiết khi mua CK và họ biết ngay mình đợc phân phối bao nhiêu
CK sau khi đặt mua Do vậy, các nhà đầu t có thể dễ dàng bán CK ngaytrong ngày giao dịch đầu tiên mà không phải đợi đến khi nhận đợc th thôngbáo vè việc phân phối CK nh trong trờng hợp chào bán/ghi mua
C/ Phơng pháp bán thẳng.
Phơng pháp bán thẳng đợc các tổ chức phân phối a thích nhất, theo
ph-ơng pháp này, tổ chức phân phối sẽ tiến hành tiếp xúc với các nhà đầu t tiềmtàng có lựa chọn (thờng là những khách hàng có quen biết, bao gồm các nhà
đầu t cá nhânvà các nhà đầu t có tổ chức để đánh giá, xác định nhu cầu của
họ đối với các loại chứng khoán cần phân phối và sau đó khi số lợng CK
đăng ký mua đã bằng với số lợng CK cần phân phối thì tiến hành phân phối
CK theo nhu cầu của các nhà đầu t
D/ Phơng pháp đa ra niêm yết
Phơng pháp đa ra niêm yết là một phơng pháp phân phối CK đơn giảnnhất, theo phơng pháp này tổ chức phát hành không phát hành ngay CK mới
mà chỉ đơn thuần là đa các CK đã phát hành ra niêm yết Do vậy nhiệm vụcủa các tổ chức trung gian chỉ là chuẩn bị các thủ tục để đa CK ra niêmyết.Trên thực tế, phơng pháp này không có ý nghĩa nếu công ty không pháthành thêm CK sau đó hoặc các cổ đông hiện hữu không bán lại cổ phiếu của
Trang 25họ bởi vì theo phơng pháp này thì tổ chức phát hành sẽ không huy động thêmmột đồng vốn nào
Chơng II
Thực trạng hàng hoá giao dịch trên TTCK VN
2.1 Giới thiệu sơ lợc về Uỷ ban chứng khoán nhà nớc ( UBCKNNVN).
Căn cứ vào Luật tổ chức chính phủ ngày 30/09/1992 để thúc đẩy việc hình
Căn cứ vào điều 2 của NĐ75/ CP- UBCKNN có nhiệm vị quyền hạn nh sau:+ Soạn thảo các văn bản pháp luật về CK và TTCK để trình các cấp có themquyền xem xét quyết định, và tổ chức,hớng dẫn thực hiện các văn bản đó.+ Chủ trì, phối hợp với các Bộ, nghành có liên quan tổ chức xây dựngvà pháttriển TTCK ở VN
+ Cấp đình chỉ hoặc thu hồi giấy phép hoạt động đối với các công ty thamgia kinh doanh CK, quỹ đầu t CK, công ty quản lý quỹ đầu t CK và các đơn
vị đợc phát hành CK để giao dịch ở thị trờng chứng khoán theo quy định củachính phủ
+ Thành lập và quản lý các dịch vụ và phụ trợ cho hoạt động của TTCK theoquy định của pháp luật
+ Trình Thủ tớng chính phủ quyết định thành lập, đình chỉ hoạt động hoặcgiải thể Sở giao dịch CK
Trang 26+ Kiểm tra giám sát hoạt động của Sở giao dịch CK và các tổ chức có liênquan đến việc phát hành, kinh doanh, dịch vụ chứng khoán.
+ Ban hành các quy định về niêm yết, thông báo phát hành, thông tin vềgiao dịch, mua bán CK: thoả thuận với Bộ tài chính để quy định phí, lệ phíliên quan tới việc phát hành và kinh doanh CK
+ Tổ chức đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán
bộ quản lý, kinh doanh CK và TTCK
+ Hợp tác với các tổ chức quốc tế và các nớc về CK và TTCK theo quy địnhcủa Chính phủ
+ Chủ trì phối hợp với các cơ quan liên quan áp dụng các biện pháp cần thiết
để đảm bảo cho các hoạt động TTCK diễn ra có hiệu quả và đúng với phápluật
+ Quản lý cơ sở vật chất và tổ chức bộ máy, công chức, viên chức của UBtheo quy định của Chính phủ
+ Thực hiện các công việc khác do Thủ tớng Chính phủ giao
2.2 Giới thiệu chung về TTCK VN.
2.2.1 Sự ra đời của TTCK
Sau khi nhận định đợc tầm quan trọng của việc kinh doanh và pháttriển TTCK tại VN từ năm 1992 Ban thị trờng vốn trực thuộc NHNN đã đợcthành lập với chức năng và nhiệm vụ là nghiên cứu tạo tiền đề cho việc thànhlập ra TTCK ở VN.Trên cơ sở đề xuất của Ban thị trờng vốn ngày28/11/1996 Chính phủ đã chính thức ký quyết định thành lập UBCKNN VN
là cơ quan quản lý nhà nớc trực tiếp đối với các hoạt động của TTCK VN.Ngay sau sự kiện UBCKNN đợc thành lập thì hàng loạt các văn bản phápquy liên quan đến CK và TTCK cũng đã ra đời nhằm tạo hành lang pháp lýcũng nh chuẩn bị những điều kiện cần thiết để cho TTCK VN đi vào hoạt
động nh:
Nghị định số 48/1998/NĐ-CP, Quyết định số 127/1998/QĐ-CP ngày11/07/1998 về việc thành lập TTGDCK, Quyết định số 128/11998/QĐ- CPngày 01/08/1998 về quy chế tổ chức hoạt động của TTCK, Thông t số01/2001/TT-UBCK ngày 13/10/1998 hớng dẫn về việc phát hành cổ phiếu
Trang 27và trái phiếu ra công chúng và các quy chế về thành viên, tổ chức và hoạt
động của các công ty CK
Khi đã hội tụ đầy đủ mọi điều kiện cần thiết vào hồi 14h ngày20/07/2000 TTGDCK TP HCM đã chính thức đi vào hoạt độngvà ngày28/07/2000đã có phiên giao dịch chứng khoán đầu tiên, đánh dấu cho sự ra
đời của TTGDCK
2.2.2 Vai trò của TTCK VN.
TTCK VN đã chính thức đi vào hoạt động từ nagỳ 28/07/2000 và nóđã cónhững bớc đi khẳng định sự trởng thành và phát tiển thông qua gần 2 nămhoạt động
+ TTCK là một kênh cung cấp chủ yếu nguồn vốn trung và dài hạn hữu hiệu cho nền kinh tế Theo nguồn tin của Bộ tài chính , Việt nam đang
hoạch định một chiến lợc CNH- HĐH để rút ngắn khoảng cách phát triển vớicác nớc trong khu vực ASEAN cũng nh các quốc gia khác trên thế giới.Công cuộc kiến thiết nền kinh tế này dồi hỏi một nguồn vốn tài trợ khổng lồ
từ 10 -12 tỷ USD trong giai đoạn 2000 - 2010 Chính vì vậy,chiến lợc đadạng hoá thị trờng tài chính nhằm mục đích tài trợ ít nhất 50% nhu cầu vốnnói trên là điều thiết yếu
Hơn nữa khi nguồn vốn FDI không còn tăng nhanh thì trớc mắt VN cần tăngthêm nhiều kênh thu hút vốn đầu t nớc ngoài khác mà quan trọng nhất làkênh đầu t gián tiếp thông qua TTCK Theo nhận định nếu chậm mở raTTCK thì lợng vốn nớc ngoài cũng chậm đổ vào VN Bên cạnh đó hiện naylãi suất đồng nội tệ giảm nhng vẫn còn quá cao so với khả năng sinh lời củacác doanh ngiệp nớc ta
Hệ thống các NHTM - kênh cung cấp nguồn vốn chủ yếu cho các doanhnghiệp lại cha tự đặt trong tình thế cạnh tranh nên cha nỗ lực hạ thấp đợc chiphí và tăng lợi nhuận để thu ngắn khoảng cách chênh lệch giữa lãi suất đầuvào và lãi suất đầu ra
Sự ra đời của TTCK VN sẽ là nhân tố đặt hệ thống NHTM vào thế bị cạnhtranh, tăng sự lựa chọn cho các doanh nghiệp, giảm thiểu chi phí sử dụngvốn Thực tế cho thấy trong khi vốn của các NHTM tồn đọng lên tới hàngnghìn tỷ đồng không đem cho vay đợc thì ngợc lại các doanh nghiệp lại rơi
Trang 28vào tình trạng thiếu vốn để hỗ trợ sản xuất kinh doanh Từ hiện trạng trên vềphơng diện quản lý kinh tế chúng ta cần có một kênh huy động vốn vừa hiệuquả vừa linh hoạt để khai thông làm “làm nóng” các khoản vốn “đóng băng”
đó
+ TTCK cho phép đầu t dài hạn đợc tài trợ bằng nguồn vốn ngắn hạn.
Thực tế ở VN hiện nay đa phần những nhà đầu t là những nhà đầu tnhỏ (những ngời đầu t bằng nguồn vốn tiết kiệm) họ không muốn và không
có khả năng đầu t vào những cuộc kinh doanh dài hạn để rồi đến khi có nhucầu không thể rút ra đợc.TTCK hình thành với thị trờng thứ cấp (thị trờngmua đi bán lại ), hoạt động tấp nập sẽ không cho phép giải quyết đợc yêu cầu
đó của các nhà đầu t nhỏ.Tức là khi có nhu cầu thu hồi vốn họ sẽ không bán
đi đợc số CK của mình.Với tính chất đó của TTCK đã biến những nguồn vốnngắn hạn, lẻ tẻ trở thành những nguồn vốn đầu t dài hạn to lớn
+ TTCK là một công cụ để nhà nớc thực hiện chơng trình phát triển kinh
tế - xã hội.
Nhà nớc nào cũng có nhiệm vụ phát triển kinh tế, nền kinh tế tăng ởng hay suy thoái trớc hết phụ thuộc vào chính sách và các biện pháp canthiệp của nhà nớc Bất cứ quốc gia nào cũng phải có Ngân sách, Ngân sáchcàng lớn thì chơng trình phát tiển kinh tế - xã hội càng dễ thành công
tr-Để có vốn cho chi tiêu của nhà nớc thì nhà nớc phải thực hiện các chính sáchthuế Thuế là biện pháp quan trọng nhất để tạo Ngân sách nhà nớc, nhngthông thờng thuế không đủ cho chi tiêu mà vẫn cần phải cócác nguồn thukhác đó là trái phiếu kho bạc, trái phiếu chính phủ, trái phiếu chính quyền
địa phơng Về kinh tế nhà nớc vay tiền của dân là thiết thực và lành mạnh,vìchính phủ không phải thông qua ngân hàng để phát hành tiền giấy nhằmgiảm áp lực lạm phát nền kinh tế
Nhà nớc luôn luôn là con nợ lớn nhất ở mỗi quốc gia và chính phủ Việt namtrong mấy năm gần đây đã thực hiện vay tiền của dân nhng mức độ còn rấthạn chế
Nếu không có TTCK thì nhà nớc cũng phát hành đợc trái phiếu nhng đó cũngchỉ là những trái phiếu ngắn hạnhoặc trung hạn và nói chung việc phát hành
Trang 29sẽ khuyến khích về khả năng thanh khoản của trái phiếu (khả năng chuyểntrái phiếu sang tiền mặt ) là không đơn giản Có TTCK với thị trờng pháthành tập trung và thị trờng mua đi bán lại tấp nập thì việc phát hành tráiphiếu chính phủ sẽ thuận tiện và hiệu quả hơn.
+ TTCK là một yếu tố quan trọng giúp VN nhanh chóng hội nhập nền kinh tế thế giới
Về mặt đối ngoại, sự ra đời của TTCK đã khẳng định quan tâm chuyển
đổi nền kinh tế VN sang nền kinh tế thị trờng và là sự cam kết hội nhập nềnkinh tế tài chính quốc tế của chính phủ VN Sự cam kết này có giá trị thựctiễn khi VN đang chủ trơng thực hiện chính sách hội nhập tích cực vào nềnkinh tế thế giới
Cần khẳng định rằng, tuy vẫn còn tồn tại những bất đồng xung quanh vấn đềcơ sở hạ tầng cho sự ra đời và phát triển của TTCK nhng rõ rằng vai trò củaTTCK đối với nền kinh tế là không thể phủ nhận đợc nhất là trong bối cảnhhiện tại với thế tự do hoá nền tài chính quốc gia, nhất thể hoá nền tài chínhquốc tế,VN ta cần phải xây dựng và phát triển một TTCK nếu không muốn
bị bỏ rơi và tụt hậu nền kinh tế so với các nớc đang phát triển
2.2.3 Những đặc trng cơ bản của TTCK VN.
Xét về bản chất kinh tế ( quyền sở hữu )TTCK đến nay trên thị trờng chứngkhoán có ba nhóm TTCK khác nhau:
+ Nhóm thứ nhất, TTCK thuộc sở hữu tập thể của những ngời môi
giới CK, SGDCKdo các nhà môi giới lập ra và tự quản lý, họ độc quyền giaodịch mua bán CK Mô hình TTCK này đợc các nớc Pháp, Italia, Tây ban nha,
Bỉ, Hy lạp và một số nớc Nam Mỹ áp dụng
+ Nhóm thứ hai, TTCK thuộc sở hữu của các Ngân hàng cùng với các
công ty CK độc lập đứng ra thành lập và thực hiện quyền giao dịch nh tạiTTCK các nớc Đức, Thụy sĩ, Hà lan
+ Nhóm thứ ba, TTCK thuộc sở hữu t nhân, tổ chức theo luật công ty
cổ phần Ngời sở hữu không độc quyền giao dịch, quyền giao dịch thuộc vềcác TTCK thành viên Ngời sở hữu có thể là các thành viên hoặc không làcác thành viên nh tại TTCK London, Nhật bản, và các nớc Bắc Mĩ
Trang 30Tuy nhiên, TTCK ra đời lại không đợc sắp xếp vào các nhóm TTCK trên,
mà theo Nghị định số 48/1998/NĐ-CP thì thị trờng giao dịch tập trung củaViệt nam đợc tổ chức từng bớc từ TTGDCK lên SDGCK TTGDCK haySGDCK đều là những tổ chức tài chính thuộc sở hữu nhà nớc, đợc nhà nớccấp kinh phí thành lập và trực tiếp điều hành và quản lý
CK phát hành theo giá thoả thuận, sau đó đa ra bán lại trên thị trờng theo giáthị trờng ) Giao dịch mua bán giữa công ty phát hành với công ty bảo lãnh làgiao dịch sơ cấp, diễn ra ngoài Sở giao dịch, chỉ khi công ty bảo lãnh đa rabán lại cho ngời đầu t là giao dịch thứ cấp diễn ra tại SGD
Các công ty chứng khoán VN mới hình thành, cha đủ năng lực để thực hiệnbảo lãnh chắc chắn Hoạt động phát hành vẫn thực hiện hình thức đại lý bán,
do đó giao dịch phát hành phải đợc diễn ra tại Trung tâm giao dịch
+ TTCK VN sẽ đợc giao dịch cả CK niêm yết và CK không niêm yết Trung tâm này dự kiến sẽ thay thế cho cả thị trờng phi tập trung (OTC).
Hầu hết các tại các SGDCK trên thế giới, CK đợc giao dịch chủ yếu là củangời kinh doanh CK với mục đích kiếm lời từ chênh lệch giá CK Do đó, họ
đặt ra những điều kiện niêm yết khắt khe nhằm loại bỏ những loại CK không
có khả năng giao dịch sôi động, không có khả năng tạo ra chênh lệch giá.Những loại CK không đợc niêm yết sẽ giao dịch tại thờng OTC (thị trờnggiao dịch trực tiếpgiữa các công ty CK về các loại CK không niêm yết ).Trong lúc VN cha có thị trờng OTC, bên cạnh loại CK niêm yết có thể Trungtâm giao dịch hoặc Sở giao dịch sẽ giao dịch cả loại CK không niêm yết ,nhằm tạo ra tính thanh khoản cho các loại CK Hiện nay TTGDCK Thànhphố HCM đã thực hiện dịch vụ lu ký cho các loại CK không niêm yết
Trang 31+ Các loại CK giao dịch tại trung tâm giao dịch đơn thuần chỉ là các loại
cổ phiếu thông thờng Trung tâm giao dịch cha cho phép giao dịch quyền
lựa chọn, hợp đồng tơng lai, bán khống hoặc mua bảo chứng Đó là nhữngloại giao dịch tạo sự sôi động cho thị trờng, nhng trực tiếp tạo ra vốn đầu t.Những đặc trng nêu trên đợc thể hiện cụ thể trong chủ trơng chính sách và cơchế hoạt động của TTCKVN, trong đó có những đặc trng tồn tại lâu dài, nh-
ng cũng có những đặc trng sẽ bị thu hẹp khoảng cách so với các SGDCK trênthế giới trong quá trình phát triển
Sau hai năm đi vào hoạt động TTCK VN bớc đầu đã thực hiện đợc vai tròcủa mình, song trong qua trình hoạt động rất nhiều vấn đề nảy sinh bộc lộnhững hạn chế trong việc xây dựng và phát triển TTCKVN Một trong nhữngvấn đề bức xúc nhất hiện nay là hàng hoá cho TTCK
2.3 Thực trạng các CK giao dịch trên thị trờng tập trung.
Sự ra đời và hoạt động của TTCK VN đã đánh dấu một bớc tiến quantrong trong qua trình xây dựng đồng bộ và hoàn thiện thị trờng tài chính
Đây là một sự kiện có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế, mở ra mộtkênh huy động vốn trung và dài hạn mới bên cạnh hệ thống ngân hàng,khẳng định sự quan tâm của Đảng và Nhà nớc trong việc hình thành và chủtrơng xây dựng “nền kinh tế theo định hớng XHCN”
Sau thời gian gần hai năm TTCK đi vào hoạt động, mặc dù quy mô thị trờngvẫn còn nhỏ hẹp nhng có thể nói việc hình thành TTCK ở Việt nam đã bớc
đầu mở ra một kênh huy động vốn hiệu quả cho đầu t và phát triển , tạo điềukiện cho các nhà đầu t, các công ty CK, công ty niêm yết CK và cả cơ quanquản lý nhà nớc có môi trờng thực tế để cọ xát, tập dợt và làm quen dần vớihoạt động có thể nói là ở trình độ cao nhất của nền kinh tê thị trờng
Tuy nhiên cũng trong gần hai năm qua, TTCK đã bộc lộ những vấn đềmang tính chất đặc thù cần giải pháp mà đặc biệt nh số công ty niêm yết CKcòn ít, khan hiếm hàng hoá, mất cân đối giữa cung và cầu trên thị trờng.Vấn đề trên cần phải có giải pháp khắc phục, tuy nhiên đó lại là vấn đề vềmặt thời gian Trên cơ sở mục đích của đề tài, tôi đặc biệt quan tâm tớinhững loại CK đáp ứng đợc các điều kiện quan điểm theo Nghị định số48/1998/NĐ-CP đợc đa ra niêm yết và gia dịch tại TTGDCK thành phố
Trang 32HCM Trên thực tế các loại CK đã đợc đa vào giao dịch là TPCP , trái phiếucủa NHĐT và cổ phiếu của một số doanh nghiệp.
2.3.1 Tình hình phát hành Trái phỉếu chính phủ (TPCP).
Theo nhận định thì TPCP đợc coi là nguồn hàng hoá chủ đạo có vai trò quantrọng cho TTCK VN hoạt động, vì theo chủ thể phát hành là Chính phủ thìviệc đa TPCP vào trong giao dịch nhằm đa dạng hoá nguồn hàng cho TTCK
và qua đó chủ động điều tiết tác động vào TTCK
A/ Quá trình đa trái phiếu chính phủ vào TTCK.
Trái phiếu chính phủ đã có lịch sử khá lâu dài và có độ an toàn cao, ởViệt nam TPCP lần đầu đợc phát hành vào những năm 1946 gọi là công trái.Tiếp đó là những năm 1948, 1950, TPCP lại đợc phát hành nhiều đợt nhằmhuy động nguồn tài chính trong dân để phục vụ cho cuộc kháng chiến trờng
kỳ gian khổ của dân tộc ta
Sau một thời gian dài kể từ khi công trái không đợc chú trọng nh là một công
cụ của chính sách tài chính quốc gia (1983) thì thời gian những năm
1983-1988 công trái vẫn đợc phát hành nhng đối với ngời dân việc mua công tráithì đó chỉ là nghĩa vụ với Nhà nớc
và là nguồn hàng chủ đạo của thị trờng
Trang 33VN và đặc biệt Nghị định số 01/2000/NĐ-CP bổ sung phơng thức thứ 4 làbảo lãnh phát hành theo phơng thức đấu thầu qua TTGDCK nhằm mục đíchtạo lập hàng hoá cho TTCK VN
B/ Thực tế giao dịch Trái phiếu Chính phủ (TPCP) trong thời gian qua.
Kể từ khi khung pháp lý về phát hành đợc hoàn chỉnh cho đến nay ,TPCP đợc phát hành thông qua hai phơng thức chính là đấu thầu và bảo lãnhphát hành: tiến tới việc thu hẹp và chấm dứt việc bán lẻ qua hệ thống kho bạcnhà nớc Ngoài lý do để đáp ứng cho nhu cầu chi tiêu của Chính phủ TPCPcòn đợc phát hành liên tục nhằm mục đích tạo hàng hoá cho TTCK
Cụ thể là tính đến hết tháng 3/2002 tại TTGD thành phố HCM có loại TPCP
đợc phát hành và niêm yết cụ thể là:
Trang 34CP01-0102 TPKB phát hành ngày 24/ 01/2001.
CP01-02/02 TPKB phát hành ngày 08/03/2001.
Khối lợng TPCP đợc phát hành và niêm yết là khá lớn với tổng giá trị
niêm yết trên 2627,633 tỷ đồng chiếm gần 81% tổng giá trị CK niêm yết.
Lợng CK đợc phát hành thông qua kênh TTCK là khá lớn tuy nhiên kể từkhi chính thức đợc niêm yết đến nay, TPCP luôn bị rơi vào tình trạng “đóngbăng” giao dịch với số lợng ít không đợc u thế là “hàng hoá chủ đạo “
Thực tế trong tháng 2, tháng 3 năm 2002 thị trờng vốn vẫn cha có dấu hiệuthay đổi, hầu nh rất ít các nhà đầu t qua tâm tới loại hàng hoá này
Để lý giải cho tình trạng “đóng băng” này của TPCP ta cần kể tới 4 lý do :
Một là : Lãi suất loại TPCP thấp hơn so với mặt bằng lãi suất chung
hiện nay không hấp dẫn các nhà đầu t
Hai là : Phần lớn lợng TPCP đã phát hành thông qua phơng thức đấu
thầu đều đợc các NHTM và các công ty tổ chức tài chính tín dụng thu muanắm giữ và TPCP còn gặp những khó khăn trong việc có thể bán lại trên thịtrờng thứ cấp
Ba là : Mức sinh lời qua thấp không kích thích các nhà đầu t tham gia
giao dịch mặc dù mức phí đã đợc điềuchỉnh từ 0,5% xuống còn 0,1%
Bốn là: Tâm lý các nhà đầu t hiện nay là họ quan tâm vào sự biến
động lớn của các loại cổ phiếu trên thị trờng, mục đích sinh lời trong đầu tcao hơn đầu t ngắn hạn chứ không phải lợi tức do trái phiếu mang lại trongdài hạn
Trang 35+ Nghị định số 12098/NĐ-CP ngày 17/09/1994 của CP ban hành kèm theo
quy chế tạm thời về việc phát hành trái phiếu, cổ phiếu, DNNN ( với thông t
hớng dẫn số 91 ngày 5/11/1994 của Bộ tài chính )và Nghị định số 23/CP
ngày 22/3/1994 của Chính phủ về phát hành trái phiếu quốc tế hớng dẫn việcphát hành trái phiếu huy động vốn trong nớc và ngoài nớc đầu t cho SXKD
+ Quyết định số 212/QĐ-NH ngày 22/09/1994 của Thống đốc NHNN ban
hành thể lệ phát hành trái phiếu NHTM và hớng dẫn phát hành trái phiếu củacác tổ chức tín dụng
+ Luật doanh nghiệp1999 hớng dẫn việc phát hành trái phiếu của các công
ty cổ phần và các công ty trách nhiệm hữu hạn
* Tình hình phát hành theo Nghị định số 120/CP.
Nhiều DNNN đang có nhu cầu huy động thêm vốn để trợ đầu t SXKD,
đặc biệt là các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp nặng nh: điện, ximăng đã có những dự án trình Chính phủ xin cấp phép đợc phát hành tráiphiếu để huy động vốn, và đã có một số DN đã triển khai thực hiện Cụ thểtrong năm 1995 có hai DNNN Nhà máy xi măng Hoàng Thạch và Nhà máy
xi măng Anh sơn ( Tổng công ty xi măng Việt nam) đã phát hành TPDN cóthời hạn 3 năm lãi suất 21%/năm Qua đợt phát hành riêng Nhà máy xi măngHoàng Thạch đã huy động đợc 44,4 tỷ cho việc đầu t vào việc mở rộng phạm
vị sản xuất kinh doanh Sau hiện tợng Tổng công ty xi măng, cũng trong năm
1995 đã xuất hiện thêm các loại TPDN của các Tổng công ty Bu chính viễnthông, điện lực và vận tải
Nhng sang năm 1997- 1998 tình hình phát hành TPDN trở lên nguội lạnh, códấu hiệu lắng xuống vì các doanh nghiệp này làm ăn giảm sút, gặp nhiều khókhăn về tài chính, trong khi lãi suất của TPCP lại khá cao, gây áp lực cho các
DN huy động vốn trên thị trờng
Nhìn chung, một phần vì cha đủ hành lang pháp lý lẫn cơ chế đảm bảo chocác doanh nghiệp phát hành, phần khác vì các nhà đầu t không đủ thông tincần thiết, chính xác về DN phát hành và họ cũng không thể bán đi TPDN đótrớc khi đáo hạn nên việc tiếp tục duy trì mở rộng phát hành TPDN gặp nhiềukhó khăn cản trở
Trang 36Tuy nhiên cho tới những năm gần đây khi các NHTM chủ động tham giaphát hành trái phiếu cps thời hạn thờng là trên một năm với lãi suất khá hấpdẫn cụ thể là trờng hợp Ngân hàng Đầu t và phát triển Việt Nam đã huy động
đợc 1900 tỷ từ đợt phát hành trái phiếu ngày 17/4/1999 có thời hạn 2-5 năm,trong đó loại trái phiếu thời hạn 2 năm chiếm tới 80%, lãi suất thanh toán tr-
Thực tế phản ánh việc phát hành TPDN còn rất nhiều hạn chế, mặc dù đã cónhững TPDN đợc phát hành nhng lại không đáp ứng đủ các tiêu chuẩn điềukiện quy định trong Nghị định số 48/1998/NĐ-CP để có thể đa vào niêm yếttại TTGDCK, trừ một số trái phiếu của một số các NHTM có vốn điều lệ lớn
Điều này cũng đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp có hàng hoá là cácTPDN cung cấp cho TTCK VN là rất nghèo nàn
B- Thực trạng TPDN đợc niêm yết tại TTGDCK Tp Hồ Chí Minh:
Tính đến thời điểm tháng 3 năm 2002 vẫn chỉ có hai loại trái phiếu
DN đợc niêm yết tại TTGDCK TP Hồ Chí Minh đó là trái phiếu của NH Đầu
t và phát triển(BIDV) mang mã số BID1- 100 và BID1- 200
Là một trong những đơn vị đi đầu trong việc phát hành trái phiếu huy
động vốn, kể từ năm 1995 đến nay BIDV đã thực hiện tổng cộng đợc 5 đợtphát hành, trong đó chỉ có hơn 3.000 tỷ đồng trái phiếu đợc phát hành trong
đợt 1 và đợt 2 năm 2000 có đủ điều kiện niêm yết tại TTGDCK TPHCM.Khối lợng trái phiếu phát hành trong đợt 1 là 1.500 tỷ đồng, với 2 loại mệnhgiá là 10 triệu VN đồng và 1000 USD và trong đợt 2 là hơn 1500 tỷ đồng vớicác lọai mệnh giá là 5 triệu VND, 500 USD và 1.000 USD Cụ thể 2 loại tráiphiếu đợc niêm yết đó là:
- BID1- 100: trái phiếu vô danh kỳ hạn 5 năm, phát hành ngày 26/ 01/2000,
lãi suất trả trớc từng năm, đã trả trớc năm đầu 6,5%/ năm, lãi suất các nămsau bằng lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 12 tháng bằng VND trả trớc cộng