PHÁP LUẬT VỀ CHIẾT KHẤU GIẤY TỜ CÓ GIÁ CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG
TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CHIẾT KHẤU GIẤY TỜ CÓ GIÁ CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG
Lịch sử ra đời hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá
Khoảng 3500 năm trước công nguyên, ngân hàng đầu tiên xuất hiện dưới dạng tiệm cầm đồ Đến 2000 năm trước công nguyên, các ngân hàng sơ khai nhận ra nhu cầu vốn kinh doanh cao của thương nhân, dẫn đến sự ra đời của hoạt động cho vay lấy lãi Từ đó, nhiều nghiệp vụ ngân hàng khác cũng dần hình thành Với sự phát triển đa dạng của các công cụ tài chính, việc chuyển giao chúng trở nên phong phú hơn Chiết khấu giấy tờ có giá, mặc dù ra đời sau một số nghiệp vụ khác, lại trở thành phương thức hiệu quả để các tổ chức tín dụng tài trợ vốn cho thương nhân thông qua việc chiết khấu thương phiếu.
Nghiệp vụ chiết khấu của các ngân hàng ban đầu chỉ áp dụng cho thương phiếu, nhưng với sự gia tăng nhu cầu và đa dạng hóa hoạt động thương mại, nhiều loại giấy tờ có giá khác đã được phát hành bởi chính phủ, công ty và ngân hàng Hầu hết các giấy tờ có giá này đều được ngân hàng chấp nhận chiết khấu như một hình thức cấp tín dụng cho người sở hữu Tại Việt Nam, mặc dù nghiệp vụ chiết khấu giấy tờ có giá còn mới, nhưng các nhà làm luật đã nhanh chóng thể chế hóa nghiệp vụ này thông qua các quy định cụ thể trong pháp luật.
Khái niệm hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng
Theo Điều 6, khoản 8 của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010, Giấy tờ có giá (GTCG) được định nghĩa là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành và người sở hữu trong một khoảng thời gian nhất định, kèm theo điều kiện về lãi suất và các điều kiện khác.
Giấy tờ có giá (GTCG) là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quyền tài sản của một tổ chức hoặc cá nhân trong mối quan hệ pháp lý với các chủ thể khác, bao gồm điều kiện trả lãi và nghĩa vụ trả nợ giữa hai bên GTCG có ba thuộc tính chính: xác nhận quyền tài sản của một chủ thể xác định, trị giá bằng tiền, và khả năng chuyển giao quyền sở hữu cho chủ thể khác trong giao dịch dân sự GTCG là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ của một chủ thể đối với người thụ hưởng trong một thời hạn và theo các điều kiện nhất định.
GTCG được áp dụng trong nghiệp vụ chiết khấu và tái chiết khấu, bao gồm các công cụ chuyển nhượng cùng các GTCG khác theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước về chiết khấu và tái chiết khấu GTCG.
Công cụ chuyển nhượng là giấy tờ có giá (GTCG) ghi nhận lệnh thanh toán hoặc cam kết thanh toán một cách không điều kiện cho một số tiền xác định tại một thời điểm cụ thể.
Thương phiếu là một loại giấy tờ có giá (GTCG) phát sinh từ hoạt động thương mại giữa các doanh nghiệp, được sử dụng trong thanh toán và quản lý nợ Nó cho phép doanh nghiệp đòi nợ hoặc nhận nợ, đồng thời hỗ trợ hình thức tín dụng thương mại, nơi các doanh nghiệp mua bán chịu lẫn nhau Thương phiếu không chỉ là công cụ giúp thực hiện tín dụng thương mại mà còn bổ sung cho tín dụng ngân hàng Tóm lại, thương phiếu là công cụ vay nợ ngắn hạn do ngân hàng hoặc công ty phát hành và có thể chuyển nhượng.
1 Khoản 1- Điều 4 Luật các Công cụ chuyển nhượng 2005
Công cụ chuyển nhượng, bao gồm hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ và séc, được sử dụng trong nghiệp vụ chiết khấu và tái chiết khấu của tổ chức tín dụng (TCTD) đối với khách hàng là tổ chức và cá nhân.
Hối phiếu đòi nợ là một loại giấy tờ có giá trị do người ký phát lập, yêu cầu người bị ký phát thanh toán một số tiền xác định mà không cần điều kiện, có thể thực hiện ngay khi có yêu cầu hoặc vào một thời điểm nhất định trong tương lai cho người thụ hưởng.
Hối phiếu nhận nợ là giấy tờ có giá do người phát hành tạo ra, cam kết thanh toán một số tiền nhất định cho người thụ hưởng mà không có điều kiện, khi có yêu cầu hoặc vào một thời điểm cụ thể trong tương lai.
Séc là một công cụ tài chính do người ký phát lập, cho phép ngân hàng hoặc tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp phép trích một số tiền nhất định từ tài khoản của người ký phát để thanh toán cho người thụ hưởng.
Các giấy tờ có giá khác
Ngoài các công cụ chuyển nhượng, các GTCG khác bao gồm trái phiếu, công trái, tín phiếu và các GTCG do tổ chức được phép phát hành theo quy định pháp luật và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Trong hoạt động chiết khấu GTCG, NHNN đã hướng dẫn cụ thể về các GTCG được sử dụng cho từng loại nghiệp vụ chiết khấu và từng thời kỳ Một số loại GTCG thường gặp bao gồm trái phiếu và tín phiếu.
Trái phiếu là chứng khoán xác nhận quyền lợi hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn nợ của tổ chức phát hành Các loại trái phiếu phổ biến bao gồm trái phiếu Chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương và trái phiếu được chính phủ bảo lãnh.
1 Điều 1 Luật Các công cụ chuyển nhượng năm 2005
2 Khoản 2- Điều 4 Luật các Công cụ chuyển nhượng 2005
3 Khoản 3- Điều 4 Luật các Công cụ chuyển nhượng 2005
4 Khoản 4- Điều 4 Luật các Công cụ chuyển nhượng 2005
5 Khoản 3- Điều 6 Luật Chứng khoán 2006
Nghị định 01/2011/NĐ-CP ngày 05 tháng 01 năm 2011 quy định về việc phát hành trái phiếu chính phủ, trái phiếu được chính phủ bảo lãnh và trái phiếu chính quyền địa phương Điều 6 của nghị định này nêu rõ các quy định liên quan đến quy trình phát hành, quản lý và sử dụng trái phiếu, nhằm đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả trong việc huy động vốn cho các dự án phát triển kinh tế Trái phiếu chính phủ và trái phiếu được chính phủ bảo lãnh đóng vai trò quan trọng trong việc ổn định tài chính quốc gia, trong khi trái phiếu chính quyền địa phương hỗ trợ các hoạt động phát triển tại địa phương.
Tín phiếu là công cụ vay nợ ngắn hạn, trong đó tín phiếu kho bạc là sản phẩm do Chính phủ phát hành với thời hạn không quá 12 tháng Chúng được sử dụng để tạm thời bù đắp thiếu hụt ngân sách nhà nước trong năm tài chính và đóng vai trò quan trọng trong việc điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương.
Chứng chỉ tiền gửi là giấy tờ có giá do ngân hàng phát hành nhằm huy động vốn từ cá nhân và tổ chức Đây là biên nhận có lãi suất cho khoản tiền gửi tại ngân hàng trong một khoảng thời gian xác định, và có khả năng chuyển nhượng nhiều lần trong thời gian hiệu lực.
Các loại giấy tờ có giá (GTCG) như kỳ phiếu và sổ tiết kiệm đang ngày càng phát triển, tạo ra sự đa dạng cho các công cụ huy động vốn và thanh toán trên thị trường.
1.2.2 Hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá
Đặc điểm của hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng
Bên cung ứng tín dụng là tổ chức tín dụng (TCTD) thực hiện chiết khấu, trong khi bên thụ hưởng tín dụng là khách hàng (KH) xin chiết khấu Nghĩa vụ hoàn trả tiền vay sẽ được chuyển giao cho bên thứ ba, tức là người mắc nợ theo giấy tờ có giá (GTCG) KH chiết khấu GTCG tại TCTD phải là chủ sở hữu GTCG, bao gồm cả tổ chức và cá nhân Việt Nam, cũng như tổ chức và cá nhân nước ngoài đang sinh sống và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam, cùng với các TCTD trong trường hợp tái chiết khấu GTCG.
TCTD nhận chiết khấu trở thành bên có quyền yêu cầu trả tiền từ người mắc nợ theo GTCG, tức là bên thế quyền, do khách hàng thực hiện thủ tục chuyển quyền sở hữu.
1 Khoản 2 Điều 2 Quy chế ban hành kèm theo QĐ số 1325/2004/QĐ-NHNN
GTCG cho TCTD là việc chuyển giao quyền yêu cầu cho TCTD, thực hiện theo thỏa thuận trong hợp đồng chiết khấu GTCG và phù hợp với Điều 309, 310 Bộ luật dân sự 2005 Khi khách hàng chuyển giao quyền yêu cầu, TCTD trở thành bên có quyền yêu cầu Người chuyển giao phải thông báo bằng văn bản cho bên có nghĩa vụ về việc này Việc chuyển giao không cần sự đồng ý của bên có nghĩa vụ, trừ khi có thỏa thuận khác hoặc quy định pháp luật khác.
Về hình thức pháp lý
Hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá (GTCG) của tổ chức tín dụng (TCTD) được thực hiện thông qua hợp đồng chiết khấu GTCG, không phải hợp đồng tín dụng, mặc dù đây là một nghiệp vụ tín dụng Hợp đồng chiết khấu này khác với hợp đồng tín dụng trong cho vay thông thường, mà thực chất giống như hợp đồng mua bán GTCG, trong đó bên bán và bên mua thỏa thuận chuyển giao quyền sở hữu GTCG từ người bán sang người mua.
Về quy trình nghiệp vụ chiết khấu giấy tờ có giá
Khi có nhu cầu chiết khấu hoặc tái chiết khấu GTCG, khách hàng cần gửi giấy đề nghị và GTCG cho tổ chức tín dụng (TCTD), đồng thời chịu trách nhiệm về tính hợp pháp của GTCG Thủ tục thẩm định hồ sơ chiết khấu tương tự như thẩm định hồ sơ tín dụng trong vay thông thường Khi TCTD nhận chiết khấu, khách hàng phải chuyển giao ngay GTCG và thực hiện thủ tục chuyển giao cho TCTD để nhận tiền thanh toán Các thoả thuận về chiết khấu, tái chiết khấu giữa TCTD và khách hàng phải được lập thành văn bản và tuân thủ các quy định của Quy chế ban hành kèm theo Quyết định số 1325/2004/QĐ-NHNN cùng các quy định pháp luật liên quan.
Việt Nam quy định rằng trong trường hợp chiết khấu và tái chiết khấu có thời hạn, khi khách hàng hoàn thành nghĩa vụ mua lại giấy tờ có giá (GTCG), tổ chức tín dụng (TCTD) sẽ tiến hành chuyển giao GTCG cùng quyền sở hữu cho khách hàng theo quy trình đã được xác định.
Về đối tượng chiết khấu
Chỉ các giấy tờ có giá trị (GTCG) có thời hạn thanh toán ngắn hạn dưới 1 năm mới đủ điều kiện để chiết khấu tại các tổ chức tín dụng (TCTD) Để được TCTD nhận chiết khấu hoặc tái chiết khấu, GTCG cần đáp ứng đủ các yêu cầu nhất định.
Thuộc quyền sở hữu hợp pháp của KH;
Chưa đến hạn thanh toán;
Được phép giao dịch (mua, bán, tặng cho, chuyển đổi, chuyển nhượng, cầm cố, bảo lãnh và các giao dịch hợp pháp khác);
Được thanh toán theo quy định của tổ chức phát hành
Pháp luật quy định chiết khấu và tái chiết khấu chỉ áp dụng cho GTCG có thời hạn thanh toán ngắn hạn, vì đây là một nghiệp vụ tín dụng có độ rủi ro cao Việc hạn chế đối tượng chiết khấu nhằm bảo vệ lợi ích của TCTD, tránh những rủi ro không đáng có trong quá trình cấp tín dụng thông qua chiết khấu GTCG của khách hàng.
Trong số các loại giấy tờ có giá (GTCG) có thời hạn thanh toán ngắn mà các tổ chức tín dụng (TCTD) chấp nhận chiết khấu, hối phiếu là loại được ưa chuộng nhất Việc chiết khấu hối phiếu của ngân hàng không chỉ giống như hành vi mua bán chứng khoán, mà còn có yếu tố tín dụng, vì ngân hàng có quyền đòi nợ từ người xin chiết khấu nếu không thu hồi được nợ từ con nợ Do đó, chiết khấu hối phiếu có thể được xem như một hình thức giao dịch kết hợp giữa mua bán và tín dụng.
1 Điều 11 Quy chế ban hành kèm theo QĐ số 1325/2004/QĐ-NHNN
17 đồng được phép truy đòi Do vậy, thực chất chiết khấu hối phiếu là hình thức tín dụng ngắn hạn
Ngoài việc chiết khấu và tái chiết khấu đồng tiền, các TCTD phải tuân thủ quy định về GTCG có mệnh giá ghi bằng Đồng Việt Nam, thực hiện chiết khấu và tái chiết khấu bằng Đồng Việt Nam Đối với GTCG có mệnh giá ghi bằng ngoại tệ, các TCTD sẽ thực hiện chiết khấu và tái chiết khấu theo quy định riêng.
GTCG có mệnh giá ghi bằng ngoại tệ nào, thì chiết khấu, tái chiết khấu bằng ngoại tệ đó;
Trong trường hợp chiết khấu và tái chiết khấu bằng Đồng Việt Nam, các bên cần thỏa thuận theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về tỷ giá hối đoái áp dụng cho các tổ chức tín dụng được phép kinh doanh ngoại hối.
Về giá bán của giấy tờ có giá
Mặc dù các bên tham gia hợp đồng chiết khấu có quyền thỏa thuận về giá bán, nhưng thực tế giá bán GTCG từ khách hàng cho tổ chức tín dụng thường thấp hơn giá trị thực của nó Nguyên nhân là do khi chấp nhận chiết khấu GTCG, giá trị thực tế của chứng khoán thường bị giảm sút.
Khi chấp nhận chiết khấu GTCG từ khách hàng, TCTD phải chờ một thời gian để thu hồi tiền từ người mắc nợ Điều này có nghĩa là TCTD đã nhận rủi ro mà lẽ ra thuộc về chủ sở hữu trước của GTCG Để bù đắp cho rủi ro này, TCTD cần khoản tiền chênh lệch giữa giá trị thực tế của GTCG và giá trị đích thực, được gọi là lợi tức chiết khấu, là thu nhập của TCTD trong hoạt động chiết khấu GTCG.
Hoạt động chiết khấu không chỉ là nghiệp vụ mua bán giấy tờ có giá (GTCG) mà còn là nghiệp vụ tín dụng của tổ chức tín dụng (TCTD) Do đó, TCTD cần tuân thủ các quy tắc chung về hợp đồng mua bán GTCG và phải tuân theo các quy định pháp luật liên quan đến hoạt động ngân hàng.
1 Điều 7 Quy chế ban hành kèm theo QĐ số 1325/2004/QĐ-NHNN
PHÁP LUẬT ĐIỂU CHỈNH HOẠT ĐỘNG CHIẾT KHẤU CÁC GIẤY TỜ CÓ GIÁ CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG
Chủ thế tham gia giao dịch chiết khấu giấy tờ có giá
Giao dịch chiết khấu GTCG được xác lập và thực hiện bởi các chủ thể bao gồm bên được chiết khấu (KH) và bên nhận chiết khấu (TCTD)
Trong giao dịch chiết khấu, khách hàng là bên nhận công cụ chuyển nhượng và có nhu cầu chiết khấu tại tổ chức tín dụng, bao gồm cả tổ chức và cá nhân Việt Nam cũng như nước ngoài hoạt động hợp pháp tại Việt Nam Đối với giao dịch tái chiết khấu giấy tờ có giá, khách hàng xin tái chiết khấu chính là tổ chức tín dụng sở hữu giấy tờ đó.
Chiết khấu GTCG là một quan hệ pháp luật và hình thức cấp tín dụng tiềm ẩn rủi ro Do đó, khi thực hiện nghiệp vụ này, các TCTD yêu cầu khách hàng phải đáp ứng những điều kiện nhất định.
Chủ thể xin chiết khấu cần phải có đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự, đây là điều kiện bắt buộc cho mọi cá nhân hoặc tổ chức tham gia vào quan hệ pháp luật.
- Giấy tờ có giá được chấp nhận trong hoạt động chiết khấu, tái chiết khấu phải có đủ các tiêu chuẩn sau 3 :
1 Khoản 2, Điều 2 Quy chế ban hành kèm theo QĐ số 63/2006/Q Đ-NHNN
2 Khoản 3, Điều 2 Quy chế ban hành kèm theo QĐ số 1325/2004/Q Đ-NHNN và Khoản 3 Điều 2 Quy chế ban hành kèm theo QĐ số 63/2006/Q Đ-NHNN
3 Được quy định tại Điều 6 Quy chế ban hành kèm theo QĐ số 1325/2004/Q Đ-NHNN và Điều 2 Quy chế ban hành kèm theo QĐ số 63/2006/Q Đ-NHNN
Công cụ chuyển nhượng được phát hành hợp pháp và thuộc quyền sở hữu hợp pháp của khách hàng, đảm bảo rằng khách hàng có quyền thụ hưởng hợp pháp đối với tài sản này.
Thời hạn thanh toán của GTCG đề nghị chiết khấu thường ngắn hạn, dưới 1 năm từ ngày đề nghị đến ngày đáo hạn của GTCG.
Người sở hữu tài sản có quyền thực hiện các giao dịch như mua, bán, tặng cho, chuyển đổi, chuyển nhượng, cầm cố, bảo lãnh và các giao dịch hợp pháp khác Điều này có nghĩa là trên công cụ chuyển nhượng không được ghi các cụm từ như “Không được chuyển nhượng”, “Cấm chuyển nhượng”, “Không trả theo lệnh” hoặc những cụm từ tương tự.
Được thanh toán theo quy định của các tổ chức phát hành
Pháp luật quy định rõ các giới hạn chiết khấu tối đa đối với một khách hàng, bên cạnh các tiêu chuẩn và đối tượng GTCG được phép tham gia giao dịch chiết khấu, tái chiết khấu, nhằm đảm bảo an toàn trong kinh doanh của tổ chức tín dụng.
Các tổ chức tín dụng cần xem xét quy định về mức chiết khấu và tái chiết khấu trong các trường hợp cụ thể, đảm bảo tuân thủ các quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam liên quan đến tỷ lệ an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng.
Mức chiết khấu, tái chiết khấu tối đa đối với một khách hàng là TCTD;
Mức chiết khấu tối đa dành cho khách hàng không phải là tổ chức tín dụng (TCTD) khi có nhu cầu chiết khấu giấy tờ có giá do chính TCTD phát hành.
Mức chiết khấu tối đa đối với một khách hàng không phải TCTD có nhu cầu chiết khấu giấy tờ có giá do Chính phủ phát hành
1 Khoản 1, Điều 1 QĐ số 17/2006/QĐ-NHNN và Điều 10 Quy chế ban hành kèm theo QĐ số 63/2006/Q Đ- NHNN ngày 29/12/2006)
Tìm hiểu quy định về tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng theo Thông tư số 13/2010/TT-NHNN ngày 20/5/2010 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, cùng với các thông tư bổ sung như Thông tư số 19/2010/TT-NHNN ngày 27/9/2010 và Thông tư số 22/2011/TT-NHNN ngày 30/8/2011.
Khách hàng xin chiết khấu không thuộc các trường hợp quy định sẽ được áp dụng mức chiết khấu tối đa là 15% vốn tự có của tổ chức tín dụng nhận chiết khấu Đối với chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam, mức chiết khấu tối đa cho một khách hàng cũng là 15% vốn tự có của ngân hàng mẹ.
Trong quan hệ chiết khấu, tái chiết khấu GTCG, bên nhận chiết khấu, tái chiết khấu chính là các TCTD
Các TCTD được thực hiện nghiệp vụ chiết khấu GTCG theo Luật các TCTD năm 2010 bao gồm 2 tổ chức:
Chiết khấu và tái chiết khấu giấy tờ có giá (GTCG) là hình thức cấp tín dụng của tổ chức tín dụng (TCTD) và cũng mang bản chất là hợp đồng mua bán GTCG Để thực hiện các hoạt động này như một nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng, các chủ thể cần đáp ứng một số điều kiện nhất định.
Có giấy phép thành lập và hoạt động và hoạt động NH do NHNN cấp, trong đó có ghi rõ nghiệp vụ chiết khấu, tái chiết khấu GTCG
Có giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh nghiệp vụ chiết khấu, tái chiết khấu GTCG
Có điều lệ được NHNN chuẩn y
Có người đại diện hợp pháp đủ năng lực và thẩm quyền để kí kết hợp đồng chiết khấu GTCG
Trường hợp chiết khấu, tái chiết khấu GTCG bằng ngoại tệ, các tổ chức tín dụng phải được phép hoạt động ngoại hối
1 Điều 10 Quy chế ban hành kèm theo QĐ số 1 3 2 5 / 2 0 0 4 / Q Đ - N H N N
2 Mục b, khoản 3, Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010
3 Mục e, khoản 1, Điều 108 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010
4 Khoản 14, Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010
Ngoài các điều kiện pháp lý cơ bản, tổ chức tín dụng (TCTD) cần đáp ứng một số yêu cầu bổ sung như nguồn vốn, kỹ thuật nghiệp vụ chiết khấu, khả năng tiếp cận thị trường, hệ thống công nghệ ngân hàng hiện đại, trình độ quản trị tiên tiến và chiến lược khách hàng hợp lý Mặc dù những yêu cầu này không mang tính pháp lý và không ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng chiết khấu GTCG, chúng lại đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo hiệu quả hoạt động chiết khấu GTCG của TCTD trên thị trường.
Trong quá trình thực hiện hoạt động chiết khấu, tổ chức tín dụng (TCTD) cần phải phân loại và trích lập dự phòng để xử lý rủi ro liên quan đến số tiền chiết khấu và tái chiết khấu Điều này phải tuân thủ quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về phân loại nợ cũng như việc trích lập và sử dụng dự phòng nhằm xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD.
Hình thức của giao dịch chiết khấu giấy tờ có giá
Theo quy định pháp luật hiện hành, việc chiết khấu giấy tờ có giá (GTCG) phải được thực hiện dưới hình thức hợp đồng và văn bản Tất cả các hoạt động chiết khấu GTCG đều phải tuân thủ nguyên tắc chung của hợp đồng chiết khấu, đảm bảo nội dung phù hợp với pháp luật và mẫu hợp đồng do Hiệp hội Ngân hàng ban hành.
Hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá là thỏa thuận bằng văn bản giữa tổ chức tín dụng và khách hàng, trong đó tổ chức tín dụng cam kết mua giấy tờ có giá trước hạn thanh toán Điều kiện của thỏa thuận này là tổ chức tín dụng sẽ khấu trừ một khoản tiền nhất định dựa trên tỷ lệ phần trăm (%) của mệnh giá giấy tờ có giá được chiết khấu trong thời gian chiết khấu và tái chiết khấu.
Hợp đồng tín dụng, mặc dù có bản chất kinh tế tương tự như hợp đồng vay tài sản, nhưng lại khác biệt về mặt pháp lý Trong khi hợp đồng tín dụng được xem như một hình thức vay tài sản, hợp đồng này có những quy định và điều khoản riêng biệt mà các bên tham gia cần tuân thủ.
1 Điều 12 Quy chế ban hành kèm theo QĐ số 1325/2004/QĐ-NHNN đã được sửa đổi bổ sung bởi QĐ số 17/2006/QĐ-NHNN
2 Khoản 4, Điều 11 Quy chế ban hành kèm theo QĐ số 1 3 2 5 / 2 0 0 4 / Q Đ - N H N N
22 chiết khấu các GTCG giống như một hợp đồng mua bán tài sản hay mua bán các các trái quyền dân sự Đặc điểm
- Đối tượng của hợp đồng: là các GTCG thuộc quyền sở hữu hợp pháp của
KH có nhu cầu chiết khấu, tuy nhiên GTCG phải chưa đến hạn thanh toán, được phép giao dịch và phải tuân thủ quy định của tổ chức phát hành Ngoài ra, nội dung và hình thức của giấy tờ phải nguyên vẹn, đồng thời khả năng thanh toán khi GTCG đáo hạn cũng cần được đảm bảo.
- Chủ thể của hợp đồng: bao gồm có bên nhận chiết khấu (TCTD) và bên được chiết khấu (KH)
Nội dung của hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá
Nội dung của hợp đồng chiết khấu GTCG bao gồm các cam kết giữa các bên về quyền và nghĩa vụ khi thực hiện hợp đồng, thể hiện qua các điều khoản cụ thể Sự thỏa thuận này phải đảm bảo tính hợp pháp, bình đẳng và tự nguyện, với sự thống nhất ý chí của các bên, đồng thời phù hợp với các quy định của pháp luật.
Trong hợp đồng chiết khấu, cần ghi rõ thông tin của bên nhận chiết khấu, bao gồm tổ chức tín dụng hoặc ngân hàng Nhà nước Việt Nam, với các chi tiết như trụ sở, tên và số điện thoại Đồng thời, bên được chiết khấu cũng phải được xác định rõ ràng, bao gồm tổ chức hoặc cá nhân, địa chỉ và người đại diện hợp pháp.
Trong hợp đồng, cần ghi rõ đối tượng hợp đồng là chiết khấu GTCG, kèm theo Bảng kê các loại GTCG và bản gốc GTCG xin chiết khấu.
Điều khoản về lãi suất chiết khấu cần nêu rõ lãi suất chiết khấu GTCG cho từng loại GTCG cụ thể, bao gồm các chi phí khác, tổng mệnh giá được chiết khấu, số tiền lợi tức bị khấu trừ và tổng số tiền còn lại của khách hàng Lãi suất chiết khấu được hai bên thỏa thuận nhưng phải tuân thủ quy định của NHNN về lãi suất định hướng.
Điều khoản về phương thức thanh toán quy định cách thức chuyển tiền cho khách hàng khi thực hiện chiết khấu, có thể là bằng tiền mặt hoặc qua tài khoản tiền gửi.
Điều khoản về phương thức giải quyết tranh chấp xác định cách thức xử lý khi có tranh chấp phát sinh Điều khoản này có thể được bao gồm hoặc không; nếu không có, tranh chấp sẽ được giải quyết theo quy định của pháp luật.
Hiệu lực của hợp đồng
Hiệu lực của hợp đồng bắt đầu khi các bên hoàn tất thỏa thuận và bên cuối cùng ký tên Hợp đồng có thể bị coi là vô hiệu nếu vi phạm quy định pháp luật Cụ thể, hợp đồng chiết khấu sẽ bị vô hiệu tuyệt đối nếu mục đích, nội dung và hình thức không tuân thủ quy định pháp luật hoặc trái với hợp đồng mẫu của Hiệp hội ngân hàng và đạo đức xã hội Trong trường hợp này, hiệu lực hợp đồng không phát sinh từ thời điểm ký kết mà các bên phải khôi phục lại trạng thái ban đầu Hợp đồng cũng bị coi là vô hiệu tương đối nếu một bên không có đủ năng lực hành vi dân sự hoặc nếu hợp đồng được ký kết không tự nguyện Cuối cùng, hợp đồng sẽ bị tuyên bố vô hiệu khi có yêu cầu từ các bên, và cách xử lý tương tự như trường hợp vô hiệu tuyệt đối.
Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ chiết khấu giấy tờ có giá
Hệ quả pháp lý của một hợp đồng là tạo ra các quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên tham gia giao dịch
2.3.1 Quyền và nghĩa vụ của bên nhận chiết khấu
Quyền của bên nhận chiết khấu
TCTD có quyền yêu cầu khách hàng thực hiện chiết khấu chuyển giao quyền sở hữu GTCG theo quy định của pháp luật về công cụ chuyển nhượng Trong trường hợp chiết khấu hoặc tái chiết khấu có thời hạn, khách hàng cần hoàn thành nghĩa vụ cam kết mua lại.
GTCG và TCTD thực hiện quy trình chuyển giao GTCG và quyền sở hữu GTCG cho khách hàng theo quy định Khi khách hàng hoàn tất các thủ tục chuyển nhượng quyền sở hữu, TCTD sẽ trở thành người đại diện cho khách hàng trong việc thu hồi khi các GTCG đến hạn.
TCTD có quyền truy đòi từ khách hàng và những người liên quan về số tiền chưa thanh toán đối với công cụ chuyển nhượng, bao gồm tiền lãi phát sinh từ ngày đến hạn, chi phí truy đòi và các chi phí hợp lý khác Tuy nhiên, quyền truy đòi này chỉ áp dụng cho các công cụ như hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ và séc Đối với tín phiếu, trái phiếu, và kỳ phiếu, quyền truy đòi chỉ có hiệu lực khi được quy định trong hợp đồng chiết khấu.
Nghĩa vụ của bên nhận chiết khấu
TCTD có trách nhiệm thanh toán khoản tiền mua GTCG đã chiết khấu cho khách hàng, sau khi trừ đi lợi tức chiết khấu và các khoản phí dịch vụ theo thỏa thuận trong hợp đồng Giao dịch này nhằm đáp ứng nhu cầu vốn của khách hàng, do đó tổ chức nhận chiết khấu phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho khách hàng.
TCTD có trách nhiệm bồi thường thiệt hại vật chất cho khách hàng trong trường hợp có hành vi gây thiệt hại do lỗi của bên nhận chiết khấu trong quá trình thực hiện hợp đồng chiết khấu GTCG.
2.3.2 Quyền và nghĩa vụ của bên đƣợc chiết khấu
Quyền của bên được chiết khấu
KH có quyền yêu cầu bên nhận chiết khấu GTCG thanh toán tiền mua GTCG theo mức giá đã thỏa thuận trong hợp đồng, sau khi quyền sở hữu GTCG đã được chuyển giao cho bên nhận chiết khấu.
Người nhận chiết khấu có quyền khiếu nại và khởi kiện để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình trước các hành vi vi phạm hợp đồng từ bên liên quan Việc này giúp đảm bảo rằng quyền và lợi ích chính đáng của họ được tôn trọng và bảo vệ một cách hiệu quả.
KH có quyền yêu cầu bên nhận chiết khấu bồi thường thiệt hại trong trường hợp bên nhận chiết khấu gây ra tổn thất khi thực hiện hợp đồng.
1 Điều 11 Quy chế ban hành kèm theo QĐ số 1325/2004/QĐ-NHNN
2 Điều 12 Quy chế ban hành kèm theo QĐ số 63/2006/QĐ-NHNN
Nghĩa vụ của bên được chiết khấu
Khách hàng (KH) có trách nhiệm chuyển nhượng quyền sở hữu giấy tờ có giá (GTCG) đã chiết khấu cho bên nhận chiết khấu theo quy định pháp luật Khi KH hoàn tất các thủ tục chuyển nhượng quyền sở hữu cho tổ chức tín dụng (TCTD), KH sẽ không còn nghĩa vụ nợ đối với các GTCG, ngoại trừ trường hợp hối phiếu đòi nợ và hối phiếu nhận nợ, KH vẫn có thể bị truy đòi.
- Nghĩa vụ thực hiện các yêu cầu hợp pháp của bên nhận chiết khấu liên quan đến GTCG được chiết khấu.
Các phương thức chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá tại tổ chức tín dụng
Để đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng và tổ chức tín dụng trong quá trình chiết khấu và tái chiết khấu giấy tờ có giá, pháp luật hiện hành quy định hai phương thức chiết khấu và tái chiết khấu Tổ chức tín dụng và khách hàng có thể thỏa thuận và lựa chọn một trong các phương thức này.
Chiết khấu, tái chiết khấu toàn bộ thời hạn còn lại của giấy tờ có giá
Chiết khấu, tái chiết khấu có thời hạn
2.4.1 Chiết khấu, tái chiết khấu toàn bộ thời hạn
Chiết khấu và tái chiết khấu toàn bộ thời hạn còn lại của GTCG là phương thức mua đứt GTCG theo giá đã thỏa thuận Theo đó, khách hàng chuyển giao quyền sở hữu GTCG cho tổ chức tín dụng mà không cam kết mua lại sau một thời gian nhất định Khi khách hàng hoàn tất thủ tục chuyển giao, tổ chức tín dụng trở thành chủ sở hữu hợp pháp và hưởng toàn bộ quyền lợi phát sinh từ GTCG.
1 Điều 48, Điều 57 Luật các công cụ chuyển nhượng 2005
2 Điều 8 Quy chế ban hành kèm theo QĐ số 1325/2004/QĐ-NHNN và Điều 7,8 Quy chế ban hành kèm theo QĐ 63/2006/QĐ-NHNN
TCTD sẽ có quyền sở hữu hoàn toàn đối với GTCG đã mua, không bị giới hạn trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt Đây là điểm khác biệt cơ bản so với phương thức chiết khấu và tái chiết khấu có thời hạn Khi đến hạn thanh toán, TCTD sẽ trình bày GTCG để yêu cầu tổ chức phát hành thực hiện thanh toán.
Khi thanh toán cho khách hàng, số tiền mà tổ chức tín dụng (TCTD) trả sẽ bằng mệnh giá ghi trên Giấy tờ có giá (GTCG) trừ đi lãi chiết khấu và các chi phí khác Lãi chiết khấu được tính dựa trên toàn bộ thời gian còn lại của GTCG từ khi TCTD chấp nhận chiết khấu cho đến ngày đáo hạn.
Nhà đầu tư A đã mua Tín phiếu kho bạc vào ngày 01/01/2011 với mệnh giá 100.000 đ, thời hạn một năm và lãi suất 10%/năm, được phát hành theo hình thức chiết khấu với giá 90.000 đ Vào ngày 01/06/2011, A quyết định chiết khấu tín phiếu tại TCTD B bằng phương thức bán hẳn Từ thời điểm ký hợp đồng chiết khấu, TCTD B có quyền sở hữu và sử dụng tín phiếu trong 6 tháng còn lại, trong khi nhà đầu tư A không có quyền mua lại tín phiếu này.
Phương thức chiết khấu và tái chiết khấu GTCG trong toàn bộ thời hạn là lựa chọn tối ưu khi cả hai bên không có nhu cầu mua lại các giấy tờ có giá này.
2.4.2 Chiết khấu, tái chiết khấu có thời hạn
Chiết khấu và tái chiết khấu có thời hạn là thỏa thuận giữa tổ chức tín dụng (TCTD) và khách hàng (KH), trong đó TCTD cam kết mua giấy tờ có giá (GTCG) của KH với mức giá đã thỏa thuận KH cũng cam kết sẽ mua lại GTCG đó từ TCTD trong một khoảng thời gian nhất định trước khi đến hạn thanh toán của GTCG.
Khách hàng phải chuyển giao quyền sở hữu giấy tờ có giá (GTCG) cho tổ chức tín dụng (TCTD) và cam kết mua lại các GTCG đó khi hết hạn chiết khấu hoặc tái chiết khấu Thời hạn chiết khấu sẽ được hai bên thỏa thuận trong hợp đồng cam kết.
Thời hạn chiết khấu, tái chiết khấu do TCTD và KH thỏa thuận, nhưng không vượt quá thời hạn thanh toán còn lại của công cụ chuyển nhượng 1
Khi hết thời hạn chiết khấu và tái chiết khấu mà khách hàng không thực hiện mua lại giấy tờ có giá (GTCG), tổ chức tín dụng (TCTD) sẽ trở thành chủ sở hữu hợp pháp của GTCG và được hưởng toàn bộ quyền lợi phát sinh từ tài sản này.
Khách hàng có trách nhiệm thực hiện cam kết mua lại giấy tờ có giá đã chiết khấu và tái chiết khấu trong thời hạn quy định Mặc dù pháp luật hiện hành coi việc mua lại là nghĩa vụ của khách hàng, nhưng lại không quy định chế tài đối với trường hợp khách hàng không thực hiện nghĩa vụ này, dẫn đến vi phạm cam kết.
Tổ chức tín dụng (TCTD) có quyền sở hữu đối với giấy tờ có giá (GTCG) nhưng quyền này không hoàn toàn do phải bán lại cho khách hàng trong thời hạn chiết khấu, dẫn đến việc TCTD bị hạn chế trong việc sử dụng và định đoạt GTCG đã mua Quyền sở hữu của TCTD chỉ trở nên tuyệt đối khi khách hàng không thực hiện nghĩa vụ mua lại các GTCG sau khi hết thời hạn chiết khấu.
Thủ tục chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá
Nghiệp vụ chiết khấu GTCG, mặc dù về bản chất pháp lý chỉ là quan hệ mua bán, nhưng khác biệt so với việc mua bán trái quyền dân sự hay chứng khoán trên thị trường Điều này bởi vì chiết khấu GTCG còn mang tính chất của một nghiệp vụ tín dụng Do đó, thủ tục chiết khấu GTCG tại các tổ chức tín dụng có đặc thù riêng, kết hợp giữa quan hệ mua bán GTCG và quy trình tương tự như giao kết hợp đồng tín dụng.
Theo quy định hiện hành 3 , thủ tục chiết khấu, tái chiết khấu GTCG bao gồm các bước sau đây:
1 Khoản 2, Điều 9 Quy chế ban hành kèm theo QĐ 63/2006/QĐ-NHNN
2 Điểm b khoản 2 Điều 8 Quy chế ban hành kèm theo QĐ 1325/2004/QĐ-NHNN và khoản 2 Điều 8 Quy chế ban hành kèm theo QĐ 63/2006/QĐ-NHNN
3 Điều 11 Quy chế ban hành kèm theo QĐ số 1325/2004/QĐ-NHNN
Khi có nhu cầu chiết khấu hoặc tái chiết khấu GTCG, khách hàng cần gửi giấy đề nghị cùng với GTCG cho tổ chức tín dụng Khách hàng phải đảm bảo tính hợp pháp và hợp lệ của GTCG chiết khấu và tái chiết khấu, đồng thời chịu trách nhiệm trước pháp luật về vấn đề này.
Bước 2: TCTD thẩm định các điều kiện GTCG được chiết khấu, tái chiết khấu
Trường hợp cần thiết, TCTD có thể yêu cầu KH gửi giấy tờ chứng minh về điều kiện chiết khấu, tái chiết khấu bao gồm các điều kiện sau:
- Thuộc quyền sở hữu hợp pháp của KH;
- Chưa đến hạn thanh toán;
- Được thanh toán theo quy định của tổ chức phát hành
Trong trường hợp chấp nhận chiết khấu và tái chiết khấu, tổ chức tín dụng (TCTD) sẽ gửi cho khách hàng một văn bản rõ ràng, trong đó nêu rõ danh mục các giấy tờ có giá (GTCG) được chiết khấu và tái chiết khấu Văn bản cũng sẽ bao gồm tổng mệnh giá được chiết khấu, số tiền lợi tức chiết khấu bị khấu trừ và số tiền mà khách hàng nhận được.
Trường hợp từ chối chiết khấu, TCTD phải hoàn trả lại GTCG không được chiết khấu, kèm văn bản trả lời ghi rõ lý do từ chối
Bước 3: Khi TCTD nhận chiết khấu, tái chiết khấu, KH chuyển giao ngay GTCG, đồng thời làm thủ tục chuyển quyền sở hữu GTCG cho TCTD:
- Đối với GTCG phát hành theo hình thức chứng chỉ không ghi tên, KH trực tiếp giao GTCG cho TCTD
Đối với giấy tờ chứng nhận giá trị (GTCG) phát hành dưới dạng chứng chỉ có ghi tên, khách hàng cần giao chứng chỉ và thực hiện thủ tục chuyển nhượng quyền sở hữu GTCG cho tổ chức tín dụng (TCTD).
Đối với giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu (GTCG) phát hành dưới hình thức bút toán ghi sổ, khách hàng cần giao giấy chứng nhận quyền sở hữu và thực hiện thủ tục chuyển giao quyền sở hữu GTCG cho tổ chức tín dụng (TCTD).
Các tổ chức được phép thực hiện lưu ký theo quy định của pháp luật có thể thực hiện thủ tục chuyển giao giấy tờ có giá (GTCG) từ khách hàng (KH) sang tổ chức tín dụng (TCTD) KH và TCTD có thể ủy quyền cho tổ chức lưu ký thực hiện quyền sở hữu GTCG, đảm bảo tính hợp pháp và thuận tiện trong giao dịch.
TCTD sẽ thanh toán cho khách hàng số tiền mà họ được hưởng, và các thỏa thuận về chiết khấu, tái chiết khấu cần được lập thành văn bản, bao gồm hợp đồng chiết khấu và tái chiết khấu Văn bản này phải tuân thủ các quy định pháp luật và mẫu hợp đồng do Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam ban hành.
Khi khách hàng hoàn thành nghĩa vụ cam kết mua lại giấy tờ có giá (GTCG) trong trường hợp chiết khấu hoặc tái chiết khấu có thời hạn, tổ chức tín dụng (TCTD) sẽ tiến hành chuyển giao GTCG cùng quyền sở hữu cho khách hàng Việc này sẽ được thực hiện theo thủ tục pháp luật quy định và các điều khoản đã thỏa thuận trong hợp đồng chiết khấu, tái chiết khấu.
Xử lý vi phạm
TCTD và khách hàng có quyền thực hiện các biện pháp như phạt bồi thường thiệt hại, quyền truy đòi, khiếu nại, và khởi kiện đối với bên vi phạm, nếu có thỏa thuận giữa các bên hoặc theo quy định của pháp luật.
Khách hàng có trách nhiệm pháp lý về tính hợp pháp của Giấy tờ chứng minh quyền sở hữu (GTCG) khi chiết khấu tại tổ chức tín dụng (TCTD) Nếu có vi phạm, khách hàng có thể bị TCTD khiếu nại, khởi kiện và phải bồi thường thiệt hại cho TCTD.
TCTD có quyền quyết định chiết khấu GTCG theo quy định pháp luật để đảm bảo an toàn và hiệu quả, đồng thời tự chịu trách nhiệm về quyết định của mình TCTD cũng phải tuân thủ các thỏa thuận trong hợp đồng với khách hàng; nếu vi phạm, TCTD có thể bị khách hàng khởi kiện và phải bồi thường thiệt hại gây ra.
Tổ chức tín dụng (TCTD) có quyền yêu cầu khách hàng và các bên liên quan thanh toán số tiền chưa được thanh toán đối với giấy tờ có giá (GTCG), bao gồm cả tiền lãi tính từ ngày đến hạn thanh toán, chi phí truy đòi và các chi phí hợp lý khác theo quy định của Luật Các công cụ chuyển nhượng và các thỏa thuận giữa các bên.
1 Điều 13 Quy chế ban hành kèm theo QĐ số 1325/2004/QĐ-NHNN
Theo Điều 15 Nghị định 202/2004/NĐ-CP ngày 10/12/2004, hành vi cấp tín dụng dưới hình thức chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá khác không tuân thủ quy định pháp luật sẽ bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng.
ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG CHIẾT KHẤU GIẤY TỜ CÓ GIÁ CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG
Những lợi ích trong hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá của TCTD và định hướng phát triển
hướng phát triển Đối với tổ chức tín dụng
Chiết khấu mang lại lợi ích sinh lợi cho bên nhận, cho phép họ tận dụng nguồn vốn dư thừa để kiếm lãi hợp lý trong khi vẫn đảm bảo nhu cầu thanh khoản Các giấy tờ chiết khấu thường là ngắn hạn với thời gian chiết khấu cũng ngắn, giúp giảm thiểu rủi ro tín dụng Nếu bên được chiết khấu không thanh toán, tổ chức tín dụng có thể thu hồi tiền từ tổ chức phát hành khi đến hạn, nhờ đó giảm thiểu rủi ro cho các bên liên quan.
Khi doanh nghiệp gặp khó khăn về vốn tạm thời, chiết khấu chứng từ có giá (GTCG) trở thành một giải pháp hiệu quả để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh Vì GTCG không phải là tiền mặt, doanh nghiệp cần chờ đến hạn mới có thể thu hồi tiền Chiết khấu GTCG giúp giải quyết vấn đề thanh khoản, đảm bảo hoạt động kinh doanh diễn ra bình thường và doanh nghiệp vẫn có khả năng thu hồi GTCG của mình trong trường hợp chiết khấu có thời hạn.
Chiết khấu không chỉ gia tăng quan hệ tín dụng thương mại giữa các doanh nghiệp mà còn khuyến khích việc bán chịu Nhờ vào nghiệp vụ chiết khấu, doanh nghiệp có khả năng nhận tiền trước ngày đáo hạn của tờ thương phiếu, từ đó đáp ứng kịp thời nhu cầu tài chính.
Sự phát triển của 32 yếu tố này đã thúc đẩy quan hệ thương mại mở rộng, giúp quay vòng vốn nhanh chóng và linh hoạt Điều này dẫn đến sản xuất hàng hóa gia tăng và mang lại lợi nhuận cao hơn cho nền kinh tế.
Chiết khấu các GTCG không chỉ tạo ra sự đa dạng cho các hình thức cấp tín dụng mà còn giúp linh hoạt hóa nguồn vốn trong nền kinh tế, từ đó bôi trơn hoạt động sản xuất kinh doanh Hình thức cấp tín dụng này được coi là an toàn cho nền kinh tế, bởi khi ngân hàng cấp tín dụng qua chiết khấu thương phiếu, nguyên tắc hàng - tiền được đảm bảo Điều này có nghĩa là khi tiền được đưa vào lưu thông, sẽ luôn có một lượng hàng hóa tương ứng đang hoạt động, giúp giảm thiểu áp lực lạm phát.
Với nhu cầu vốn ngày càng tăng cho sản xuất kinh doanh, hoạt động cấp vốn của ngân hàng đã phát triển mạnh mẽ Chiết khấu giấy tờ có giá từ các tổ chức tín dụng (TCTD) trở nên nhanh chóng và đơn giản hơn so với cho vay truyền thống nhờ vào việc có sẵn chứng từ và tài sản đảm bảo Việt Nam, với thị trường mở cửa, thu hút nhiều ngân hàng nước ngoài, trong khi các ngân hàng trong nước cũng đang mở rộng mạng lưới hoạt động Theo số liệu từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tính đến 31/12/2011, cả nước có 5 ngân hàng thương mại nhà nước, 4 ngân hàng liên doanh, 35 ngân hàng thương mại cổ phần, 50 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 5 ngân hàng 100% vốn nước ngoài, 18 công ty tài chính, 12 công ty cho thuê tài chính và 915 tổ chức tín dụng hợp tác Do đó, hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá dự kiến sẽ ngày càng được áp dụng rộng rãi hơn.
Một số kiến nghị
Hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá (GTCG) đang ngày càng được các tổ chức tín dụng (TCTD) tại Việt Nam chú trọng, nhờ vào những lợi ích rõ rệt và định hướng phát triển trong tương lai Tuy nhiên, hiện tại, các ngân hàng và doanh nghiệp vẫn chưa hoàn toàn quen thuộc với quy trình này, điều này cần được cải thiện để tận dụng tối đa tiềm năng của chiết khấu GTCG.
Hoạt động chiết khấu hiện nay chưa phổ biến do thiếu các quy định pháp lý chi tiết, dẫn đến nhiều bất cập và tiềm ẩn nguy cơ tranh chấp, kiện tụng Để cải thiện tình hình, cần có sự thay đổi tích cực từ các cơ quan nhà nước và doanh nghiệp, ngân hàng Nhóm nghiên cứu đề xuất một số ý kiến nhằm thúc đẩy sự phát triển của hoạt động này.
Quy chế hiện hành về chiết khấu và tái chiết khấu GTCG thiếu điều khoản quy định quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng, dẫn đến sự mơ hồ trong việc xác định hành vi vi phạm và chế tài áp dụng Việc bổ sung các quy định này là cần thiết để các bên hiểu rõ phạm vi quyền lợi và nghĩa vụ của mình, từ đó nâng cao tính chặt chẽ và minh bạch trong hoạt động chiết khấu GTCG.
Theo phương thức chiết khấu và tái chiết khấu có thời hạn, khách hàng phải cam kết mua lại giấy tờ có giá đã chiết khấu Tuy nhiên, hiện chưa có quy định hay chế tài xử phạt đối với trường hợp khách hàng không thực hiện nghĩa vụ này, điều này ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động của các tổ chức tín dụng Vì vậy, cần bổ sung quy định cụ thể về mức phạt khi khách hàng không thực hiện cam kết mua lại.
Vẫn còn mập mờ trong quy định về quyền sở hữu giấy tờ có giá trong chiết khấu và tái chiết khấu có thời hạn Theo Quy chế chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng, TCTD chỉ có quyền sở hữu hợp pháp và hưởng toàn bộ quyền lợi khi hết thời hạn cam kết mua lại mà khách hàng không thực hiện nghĩa vụ Trong khi đó, Bộ Luật Dân sự quy định bên mua vẫn có quyền sở hữu tài sản trong thời hạn chuộc lại, nhưng bị hạn chế quyền định đoạt Sự mâu thuẫn giữa hai quy định này có thể dẫn đến khó khăn trong việc phân xử khi xảy ra tranh chấp.
Hy vọng trong tương lai không xa, những vấn đề xoay quanh nghiệp vụ này sẽ được pháp luật chú trọng, điều chỉnh cụ thể và chi tiết hơn