Luận văn : Một số biện pháp khai thác cái đẹo trong thơ trữ tình Xuân Diệu
Trang 1Xuân Diệu là nhà thơ tiêu biểu cho phong trào Thơ Mới giai đoạn 1930
- 1945 Ông hoàng của thơ tình ấy đã đốt lòng ham muốn của mình thànhngọn lửa tình yêu không bao giờ tắt Trớc sau, Xuân Diệu luôn luôn thểhiện cái tôi trữ tình khao khát giao cảm của một tâm hồn cô đơn, của một
tấm lòng "đìu hiu nh dặm khách" Thơ ông đã thể hiện một quan điểm
mới mẻ và độc đáo về cái đẹp Cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu là sựkết tinh cái đẹp của tinh thần dân tộc và cái đẹp của thời đại Vẻ đẹp conngời và cuộc sống trần thế đã khơi nguồn cho mọi cảm hứng sáng tạotrong thơ ông Chính điều đó đã góp phần nâng cao và khẳng định vị trílớn lao của Xuân Diệu trong nền văn học Việt Nam thế kỉ XX
Cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu là cái đẹp của lý tởng thẩm mỹ,bắt nguồn từ sự phong phú, hội nhập trong hồn thơ muôn hình vạn trạng
của sự sống, những say đắm tha thiết cha từng có ở chốn "nớc non lặng lẽ này" Đó là cái đẹp của sự trau chuốt nghệ thuật, thể hiện qua những ph-
ơng thức phản ánh cuộc sống một cách nhuần nhuyễn có sự kết hợp Đông
- Tây, kim - cổ và tạo nên một phong cách "mới nhất trong các nhà Thơ Mới" Cái đẹp mang tính lịch sử xã hội là cái đẹp khơi dậy ý thức cá nhân
của cái tôi độc đáo trong thơ trữ tình Xuân Diệu 1930 - 1945 Cái đẹp cósức mạnh cản hoá và làm say đắm lòng ngời mọi thế hệ
Tác phẩn của Xuân Diệu chiễm số lợng khá lớn trong chơng trình vănlớp 11 nhng việc đánh giá thơ trữ tình Xuân Diệu cũng cha thống nhất vàmới chỉ là những định hớng ban đầu Vì thế để hớng cho học sinh tiếp cận
và tìm hiểu cái hay cái đẹp của thơ trữ tình Xuân Diệu trong nhà trờng đạthiệu quả cao là vấn đề khá phức tạp đối với ngời thầy
Hiện nay, do yêu của cải cách, môn văn cần phải có sự đổi mới về
ph-ơng pháp dạy - học văn nói chung và giảng dạy thơ trữ tình Xuân Diệu ởnhà trờng THPT nói riêng nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục t tởng và giáodục thẩm mỹ cho học sinh Bởi vậy, thơ trữ tình Xuân Diệu đ ợc đa vàoTHPT đều là những tác phẩm độc đáo cả về nghệ thuật và nội dung, có
Trang 2nhiều điểm mới lạ trong cách cảm nhận về cuộc sống, trong cách biểuhiện về con ngời Do đó, dạy học thơ trữ tình Xuân Diệu không phải là dễ,
đặc biệt hớng học sinh cảm nhận đợc cái đẹp trong thơ ông là một điềukhã phức tạp, đòi hỏi ngời thầy phải dày công nghiên cứu, phải tìm tòinhững biện pháp thích hợp, những kỹ năng cần thiết trong quá trình giảngdạy
"Một số biện pháp khai thác cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu dạy ở
nhà trờng THPT hiện nay"
Tuy nhiên, với phạm vi hạn hẹp của một luận văn tốt nghiệp, chúng chỉ
có ý đinh bớc đầu tìm hiểu và định ra phơng hớng khai thác với mục đíchphục vụ cho việc dạy học Thơ Mới nói chung và khai thác cái đẹp trongthơ trữ tình Xuân Diệu nói riêng ở nhà trờng trung học phổ thông nhằmnâng cao hiệu quả và chất lợng học tập của học sinh
II lịch sử vấn đề
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, chúng tôi đã tìm hiểu và tiếp thunhững công trình nghiên cứu mỹ học, lý luận văn học và phơng pháp dạyhọc văn để khẳng định phạm trù cái đẹp, đặc biệt là cái đẹp trong thơ trữtình Xuân Diệu dạy ở nhà trờng THPT hiện nay
1 Tìm hiểu một số công trình nghiên cứu cái đẹp với t cách là một phạm trù cơ bản của mỹ học
Để khẳng định phạm trù cái đẹp trong sự vận động đa dạng của ý thứcthẩm mỹ, chúng tôi đã tìm thấy tập luận văn nổi tiếng của Tsecnsepxki :
"Quan hệ thẩm mỹ của nghệ thuật đối với hiện thực" (1855) Tập luận văn
này nghiên cứu cái đẹp trong mối quan hệ với hiện thực cuộc sống
Tsecn-sepxki đã khẳng định: "Cái đẹp là sự sống Một sinh thể đẹp là qua chúng,
ta nhìn thấy cuộc sống đúng theo quan niệm của ta.".
Cuốn "Nguyên lý mỹ học Marx - Lênin" (1963) của Viện Hàn Lâm
khoa học Liên xô đã đề cập tới cái đẹp của hình tợng nghệ thuật, của nộidung và hình thức trong các loại hình và thể loại nghệ thuật
Các công trình "Cái đẹp - một giá trị" (Đỗ Huy), "Mỹ học Marx - Lê nin" (Vũ Minh Tâm), "Đẹp" ( Vũ Kiêu), "Tìm hiểu mỹ học Marx - Lê nin" (Hoài Lam) cho rằng cái đẹp trong tác phẩm văn học chính là cái sự phản
Trang 3ánh cuộc sống sinh động, trân thực Cái đẹp đó "Gắn với chiều sâu thẳm vốn chứa đựng ý nghĩa rõ ràng, vốn mang tính khát vọng yêu cầu giải
đáp".
Dựa vào những định hớng nêu trên, bản luận văn sẽ tập trung tìm hiểu
và khai thác cái đẹp theo quan niệm cái đẹp là một chỉnh thể thống nhấthài hòa mang tính thẩm mỹ trong mối quan hệ giữa nội dung và hình thức
nghệ thuật, trong đó chú trọng những "thông tin thẩm mỹ" có sức lay động
lòng ngời
2 Tìm hiểu một số công trình nghiên cứu về thơ Xuân Diệu
Xuân Diệu - "một hiện tợng đặc biệt của thơ ca Việt Nam"` 1 Nói đếnXuân Diệu tức là nói đến thi sĩ đã thực sự mang đến cái hay, cái đẹp, cáimới cho Thơ Mới, khẳng định sự thắng lợi của Thơ Mới Bởi vậy, Xuân
Diệu đã "lọt vào mắt xanh" của rất nhiều nhà nghiên cứu:
Nghiên cứu về giai đoạn sáng táp của nhà thơ trớc và sau Cách mạngTháng Tám (1945) có các công trình của Hà Minh Đức, Mã Giang Lân,Thép Mới, Vũ Ngọc Phan
Nghiên cứu về cái đẹp trong nội dung thơ Xuân Diệu có các công trìnhcủa: Thế Lữ, Hoài Thanh, Phan Cự Đệ, Nam Chi, Nguyễn Đăng Mạnh,Nguyễn Hoành Khung
Nghiên cứu về cái đẹp trong nghệ thuật thơ Xuân Diệu có các côngtrình: Thế Lữ, Lu Trọng L, Hoài Thanh, Vũ Quần Phơng
Nhìn chung, các tác giả đều khẳng định giá trị và nét đẹp độc đáo củathơ trữ tình Xuân Diêu, đồng thời đề cao giá trị nhân bản, niền khát khaogiao cảm với đời, ý thức cá nhân đợc phát triển cao độ và những cách tânnghệ thuật lớn lao trong thơ ông Tuy nhiên, còn ít công trình nghiên cứuthơ Xuân Diệu một cách qui mô mà chủ yếu là những bài viết ngắn, tuỳtheo cảm hứng của nhà nghiên cứu, và chỉ dừng ở nghiên cứu, giới thiệutác giả tác phẩm, đánh giá phẩm bình về t tởng nghệ thuật, cảm xúc trongthơ trữ tình Xuân Diệu Một số ngời còn có cái nhìn cha đúng về cái đẹp
trong quan điểm sống của Xuân Diệu Vĩnh Xơng trong "Tạp chí đất Việt" (tháng 4 - 1986), Uyên Thao trong "Tạp chí giáo dục phổ thông" (số 72 năm 1960) và Phan Cự Đệ trong "Phong trào Thơ Mới" (Nhà xuất bản KHXH - 1982) cho rằng: "Thái độ tha thiết và sự vội vàng gấp gáp trong thơ Xuân Diệu là biểu hiện của tình yêu vị kỉ và phủ nhận cuộc đời"
3 Tìm hiểu một só công trình nghiên cứu về phơng pháp dạy học thơ
trữ tình Xuân Diệu ở nhà trờng THPT.
Trang 4Mấy năm gần đây " vấn đề Xuân Diệu" đã đợc nhiều ngời nhắc đến,
đặc biệt đã có một số công trình nghiên cứu về phơng pháp giảng dạy thơtrữ tình Xuân Diệu ở trờng phổ thông ở những công trình nghiên cứu này,các tác giả đã đề cập đến việc khai thác cái đẹp thuộc hình thức cũng nhcái đẹp trong nội dung, t tởng của thơ trữ tình Xuân Diệu:
Cuốn "Dạy văn, dạy cái hay cái đẹp" của Nguyễn Duy Bình (NXB
- GD Hà Nội - 1983)
Cuốn "Cảm thụ văn học, giảng dạy văn học" của Phan Trọng Luận
(NXB GD Hà Nội - 1983)
Cuốn "Thơ với lời bình" của Vũ Quần Phơng (NXB - GD - 1990)
Cuốn "Những bài văn hay và khó" của Nguyễn Đăng Mạnh, Trần
đến ở nhiều góc độ nhng việc khai thác cái đẹp trong thơ trữ tình XuânDiệu thì ít ngời chú ý đến Bài luận văn này chúng tôi mạnh dạn đa ramột số quan điểm và một số biện pháp khai thác cái đẹp trong thơ trữ tình
Xuân Diệu dạy ở nhà trờng THPT , đồng thời lấy t tởng "Mỹ học là đạo
đức học trong tơng lai" (M Goorki) 1 làm kim chỉ nan cho các luận điểmcủa mình
III Phạm vi đề tài
- Thơ trữ tình Xuân Diệu có trữ lợng đồ sộ và "đề tài Xuân Diệu" cũng là
đề tài phong phú gợi nhiều sự tìm tòi, suy nghĩ, đánh giá Phải nói với số
l-ợng thơ đồ sộ (hơn 500 bài thơ tình), Xuân Diệu thực sự là "ngôi sao sáng trên bầu trời văn học Việt Nam" (Nguyễn Bùi Vợi)
Nhng trong phạm vi luận văn này, chúng tôi chủ nghiên cứu các bài thơcủa Xuân Diệu đợc tuyển chọn trong chơng trình lớp 11 THPT ( sách chỉnh
lý 2000) và đề xuất các biện pháp khai thác cái đẹp trong các bài thơ đótheo quan điểm của phơng pháp dạy học văn mới Đồng thời tiến hànhthực nghiệm ở một bài thơ cụ thể
Trang 5- Đối tợng nghiên cứu:
+ Quá trình dạy học ba bài thơ: "Vội vàng", "Đây mùa thu tới", "Thơ duyên".
+ Học sinh tiến hành thực nghiệm: Lớp 11 A3, 11 A1 THPT NinhGiang - Hải Dơng
+ Học sinh lớp 11 Văn, Toán trờng Năng khiếu Hải Dơng
IV Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
1 Mục đích:
Chúng tôi tiến hành luận văn này mong muốn góp sức mình vào quátrình tìm ra con đờng, cách thức dạy học thơ trữ tình Xuân Diệu ở trờngtrung học phổ thông đạt hiệu quả cao, cụ thể hoá những phơng pháp dạyhọc văn nói chung vào việc dạy học thơ trữ tình Xuân Diệu nhằm giúp họcsinh nhận thức một cách sâu sắc thơ trữ tình Xuân Diệu Ngoài ra, ngờiviết còn nhằm:
- Tìm hiểu cái hay, cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu với t cách
là một chỉnh thể thống nhất, toàn vẹn giữa nội dung đẹp và hình thức
đẹp
- Xây dựng và phát triển khuynh hớng nghiên cứu "hiện tợng Xuân Diệu" từ góc độ mỹ học
2 Nhiệm vụ của đề tài:
Trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết về cái đẹp, nghiên cứu cái đẹp trongthế giới nghệ thuật thơ trữ tình Xuân Diệu nói chung và thể hiện cụ thểtrong ba bài thơ đợc tuyển chọn trong chơng trình
lớp 11, ngời viết mong muốn tìm ra những phơng pháp, biện pháp dạy họcthơ phù hợp với từng bài nhằm nâng cao hiệu quả dạy thơ trữ tình XuânDiệu ở trờng phổ thông
Trên cơ sở nghiên cứu các biện pháp khai thác cái đẹp trong thơ trữ tình
Xuân Diệu, tác giả luận văn muốn soạn thể nghiệm bài "Vội vàng" với
mục đích để dạy học sinh theo định hớng của đề tài, giúp cho họ thực sựhiểu đợc cái hay cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu, nhận thức con ngờiXuân Diệu trong cuộc sống, qua đó nhận thức đợc quan niệm đầy tínhnhân sinh trong t duy thơ Xuân Diệu trớc cánh mạng Cũng từ đó chúng tôitiến hành đánh giá kết quả thực nghiệm và rút ra những cái đợc và ch a đọccủa đề tài
v phơng pháp nghiên cứu
Trang 6Để tiến hành bản luận văn này, chúng tôi tập trung vào hai phơng phápchính:
1 - Phơng pháp thống kê, phân loại qua việc đọc tài liệu, đồng thờiphân tích và tổng hợp thành các luận điểm, luận chứng cụ thể
2 - Phơng pháp thực nghiệm trong dạy học văn Chúng tôi đã sử dụngphiếu thăm dò để khảo sát kết quả học tập thơ Xuân Diệu của học sinhsau đó phân loại, đánh giá
Mặt khác, chúng tôi tổ chức những buổi trao đổi kinh nghiệm với giáoviên phổ thông về việc giảng dạy thơ trữ tình Xuân Diệu Đồng thời, chúngtôi thử thiết kế một bài dạy thơ trữ tình Xuân Diệu theo hớng đã đề ra
Trang 7Phần nội dung
ChơngI: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của
việc nghiên cứu đề tài
A Cơ sở lý luận
I Cái đẹp và các hình thức biểu hiện của cái đẹp
1.Quan niệm về cái đẹp
F M Poteveky đã viết: "Nhu cầu về cái đẹp và về sự sáng tạo thể hiện
vẻ đẹp đó gắn bó keo sơn với con ngời, không có nó, có thể con ngời sẽ không còn muốn sống trên đời".
Cái đẹp là cái thẩm mĩ tích cực là phạm trù lớn nhất của lý luận mĩhọc Mỗi ngời có quan niệm khác nhau về cái đẹp, song xét về phạm vi
đúng sai thì lại khác:
Trong cuốn "Tìm hiểu mĩ học Marx - Lê nin", Hoài Lam đã khẳng
định: "Với t cách là cái thẩm mĩ, cái đẹp là bất kỳ một sự vật hay hiện ợng toàn vẹn cụ thể, cảm tính nào có nội dung phù hợp với nội dung qui luận phát triển tất yếu khách quan của xã hội và thế giới, và hình thức thể hiện nó ngày càng tơng ứng với nội dung đó bao nhiêu, nó càng đẹp hơn bấy nhiêu Cũng có thể nói rằng cái đẹp là cái thẩm mĩ có chứa đựng trong bản chất của nó những khả năng phát triển tiến bộ, nói chung của xã hội và thế giới" 1
t-Theo B A.E Ren - Groxx : "Cái đẹp đó là cái xinh hơn hết, cái xinh nhất Khái niệm này đợc sử dụng để đánh giá một đối tợng hay một hiện t- ợng nào đó nói chung" 2
Theo "Nguyên lý Mỹ học Mác Lê nin": "Khi đánh giá thẩm mĩ các sự vật của hiện thực nh là những cái đẹp, chúng ta không chỉ tính tới chuyện hình thức của chúng có tơng ứng với nội dung mà nội dung phải có nghĩa tích cực nếu không thì cho dù có sự tơng ứng của hình thức với nội dung, một hiện tợng nh vậy, nhìn chung không phải là đẹp" 3
Nh vậy, cái đẹp bao giờ cũng thể hiện một cách cụ thể sinh động sựvận động của hiện thực vơn tới lý tởng
Cái đẹp tồn tại trong cả tự nhiên và xã hội, trong hoạt động vật chất vàtinh thần của con ngời Do có tính chất tổng hợp nh vậy nên việc địnhnghĩa cái đẹp chỉ mang tính chung nhất rồi đợc cụ thể hoá vào từng lĩnhvực biểu hiện của cái đẹp Đẹp là cái ở đó có sự tơng ứng của một hình
1 Hoài Lam, Tìm hiểu mỹ học Mác Lênin - NXB Văn hoá, Hà Nội 1979, T197
2 B.A.E.Ren.Groxx Mỹ học, khoa học diệu kì, NXB Văn hoá, Hà Nội, 1984, T77
3 Hoài Lam, Nguyên lý mỹ học Mác Lê Nin - NXB SGK Mác Lê nin, Hà Nội, 1984, T57
Trang 8thức đợc cảm thụ cảm tính cụ thể với một nội dung tích cực thể hiện thông
qua hình thức đó M G Tsecnsepxki nói: "Cái đẹp là cuộc sống", phải hiểu
ông không chỉ đề cập đến nguồn gốc cái đẹp nằm trong bản thân thực tại
mà Tsecnsepxki còn lu ý chúng ta chỉ có thể coi một hiện tợng cụ thể là
đẹp nếu ở đó đặc tính của cuộc sống đợc biểu hiện rực rỡ và đầy đủ
2 Các hình thức biểu hiện của cái đẹp
2.1 Cái đẹp trong tự nhiên
"Biết ngạc nhiên và cảm xúc trớc cái đẹp trong thiên nhiên là một năng khiếu quí giá của con ngời" Trong cái đẹp tự nhiên, ngời ta thấy rằng vẻ
đẹp của phong cảnh thiên nhiên và cơ thể con ngời là những biểu hiện kỳdiệu nhất của Tạo hoá Chất liệu tự nhiên đẹp đẽ biết chừng nào! Con ng ờithổi vào thiên nhiên tính chất huyền diệu ma thuật Thiên nhiên trở nên
đẹp vô cùng khi con ngời đến với nó bằng cảm xúc trái tim V G
Bielimxki từng nói: "Cảm xúc về cái kiều diễm là một điều kiện làm nên phẩm giá con ngời"1 Con ngời trở thành ngời đánh giá thẩm mỹ và hiện t-
ợng tự nhiên trở thành đối tợng của đánh giá đó "Những hiện tợng nào trong tự nhiên trực tiếp hay gián tiếp gợi lên, toát lên hay gắn bó với sự sống, sự tiến bộ của xã hội và thế giới đểu đợc coi là những cái đẹp trong
tự nhiên"2 Thiên nhiên càng ngày càng mang dấu ấn con ngời đợc nhân
tính hoá Nắm đợc qui luật cái đẹp con ngời trở thành "bà đỡ" thiện nghệ
cho cái đẹp tự nhiên và cái đẹp trong cuộc sống
Công cuộc xây dựng tự nhiên giàu đẹp phục vụ con ngời vừa là biểu
hiện thực sự của văn minh, vừa là bản thân cái đẹp "một cái đẹp to lớn, mới mẻ và gắn liền với hạnh phúc con ngời" 3
2.2 Cái đẹp trong xã hội
Cái đẹp trong xã hội chủ yếu đợc xét trên hai lĩnh vực cái đẹp trong đấutranh với thiên nhiên (lao động sản xuất) và cái đẹp trong đấu tranh xã hội
* Cái đẹp trong lao động sản xuất:
Đó là cái đẹp của lao động sáng tạo và xây dựng tự nhiên Cái đẹptrong sản xuất gồm những con ngời đẹp trong cải tạo thiên nhiên và cải tạobản thân Con ngời đẹp là con ngời bằng khả năng thể lực và tinh thần dộivào sản xuất, tạo năng suất cao và sản phẩm đẹp
Lao động không những là bản thân cái đẹp mà còn là nguồn sức mạnhvô tận tạo ra con ngời cao đẹp lẫn đất nớc đẹp giàu
*Cái đẹp trong đấu tranh xã hôi
Cái đẹp quan trọng nhất trong xã hội là cái đẹp của sự giải phóng con
ngời, chống lại cái bảo thủ, lạc hậu "Cái đẹp trong xã hội là những con
1 V,G Bielinxki - "Phê bình văn học " - trích theo Phan Tiến Dũng - TCVH số 7 năm 1984
2 3 Hoài Lam , sdd - trang 207 và 210.
3
Trang 9ngời, hiện tợng và quá trình cụ thể toàn vẹn, sinh động Cái đẹp trong xã hội là cái thẩm mĩ tích cực xét theo lập trờng của sự tiến bộ lịch sử" 1
Hoạt động theo qui luật cái đẹp, nắm đợc rõ qui luật độc đáo này, làmsao chú trọng, suy xét đúng mức quan hệ của mình với những ngời khác,mối liên hệ và sự lệ thuộc vủa nình vào tự nhiên, xã hội mà cả với chínhmình Sống và sáng tạo theo qui luật của cái đẹp đó là con ngời chânchính, con ngời viết hoa
2.3 Cái đẹp trong nghệ thuật
Cái đẹp là yếu tố thẩm mĩ đóng vai trò hàng đầu trong nghệ thuật vàhoạt động nghệ thuật Nghệ thuật mài giũa, trau dồi cái cảm xúc thẩm mĩcủa con ngời và xây dựng phán đoán thẩm mĩ có tính khách quan Cái đẹptrong nghệ thuật không đơn thuần là cái đẹp trong cuộc sống đợc phản ánh
mà "cái đẹp trong nghệ thuật là sự tái hiện và phản ánh một cách sáng tạo cái đẹp trong tự nhiên và trong cuộc sống xã hội" 2
Cái đẹp trong nghệ thuật là cái đẹp của cuộc sống đợc phản ánh vào tácphẩm chỉ có đợc khi nghệ sĩ có nhận thực đúng đắn về cái đẹp đó và có tàinăng nghệ thuật cần thiết để phản ánh chân thực nó
Nếu khoa học biểu đạt chân lý bằng khái niệm, thì nghệ thuật biểu hiện
cái đẹp bằng hình tợng thông qua hệ thống chất liệu của "sản phẩm nghệ thuật" Hình tợng của mỗi loại hình nghệ thuật đợc cấu thành từ các yếu tố
nghệ thuật nh: màu sắc, đờng nét trong hội hoạ hay âm điệu, giai điệu hoà
âm, trong âm nhạc và từ ngữ, hình ảnh trong văn học Vì vậy bức tranhcủa Tề Thạch Bạch,
bản Xônát ánh trăng của Bethôven, Tháp Epphé, Chùa Một Cột hay hình ợng Anna Karênina có những đặc trng khác nhau
t-Cái đẹp trong nghệ thuật là bất tử, "nghĩa là nghệ thuật biến vẻ đẹp thành vĩnh cửu, giữ gìn, nâng niu nó cho tất cả mọi ngời bắt nó phải sống hàng thế kỷ mang lại niềm vui cho mọi ngời" 3
Cái đẹp trong nghệ thuật là sự thống nhất biện chứng giữa nội dung đẹp
và hình thức đẹp Nội dung đẹp là: "Nội dung của lý tởng sống đợc chiếu sáng một cách sâu sắc và lấp lánh, góp phần định hớng hoạt động con ng-
ời Hình thức đẹp là hình thức tổ hợp cấu trúc và vật chất - cái bản chất bên trong của nội dung một ngoại hình có sức cuốn hút mĩ cảm" 4
Cái đẹp trong nghệ thuật có sức mạnh lạ kỳ, nó xua tan cảm giác nhạtnhoà nhàn chán, nó mài sắc t duy và giác quan của ta, nó giáo dục bồi d-ỡng năng lực cảm thụ thế giới, nó giúp ta tự hoàn thiện bản thân Tiếng hát
1 Hoài Lam Sđd - trang 219
2 I.U.Bôrep - Những phạm trù mỹ học cơ bản - Trờng ĐHTH Hà Nội - 1974, T274
3 B.A.Ren.Groxx - sdd - T89
4 Mỹ học Mác Lê nin
Trang 10thần kỳ của mụ phù thuỷ Xiêcxe và các tiên quỷ ám ảnh ta trên eo biển
Uyliat và Ôđixê, bản dơng cầm tuyệt mỹ của "chú dế sau lò sởi" với "ánh trăng mảnh dẻ " va vào cửa kính giúp nhân loại có thiên tài Môza
Nhìn chung, cái đẹp trong nghệ thuật có sức mạnh tổng hợp giá trị mỹhọc và đạo đức, triết học, chính trị, khoa học Cái đẹp luôn hiện hữu trong
thế giới con ngời trong đời sống nội tâm phong phú Nói nh Gocki "Con ngời bản tính vốn là nghệ sĩ ở mọi nơi nó đều bằng cách này hay cách khác đa cái đẹp vào đời sống của mình Cảm hứng trong sự thể hiện, sáng tạo cái đẹp khởi nguồn t duy ở con ngời mọi thời đại" 1
II Cái đẹp trong thơ và cái đẹp trong thơ trữ tình XuânDiệu
1 Cái đẹp trong thơ
Cái đẹp trong thi ca hội tụ những phẩm chất u tú nhất, tuyệt mĩ nhất
của các loại hình nghệ thuật "Những nghệ thuật khác không có năng lực nói với chúng ta dù ta là một phần trăm cái mà thi ca nói với chúng ta Sở
dĩ có những điều chỉ nói đợc bằng thơ" 2 (Maiacôpxki) là do sức mạnh tối
cao nhờ vào đặc trng thể loại
Về nội dung, thơ gắn liền với đời sống tinh thần và nhu cầu bộc bạch
chia sẻ tình cảm của con ngời "Thơ là tiếng lòng" (Ngô Giang Tiệp), "Thơ chỉ vang ra khi trong ta cuộc sống đã tràn đầy" (Tố Hữu) Cái đẹp trong
thơ chính là cái đẹp của sự phong phú đa dạng, các biến thái tình cảm,những rung động chân thành sâu thẳm mọi khát vọng hoàn thiện bắt nguồn
từ cuộc sống làm giàu cho cuộc sống ấy là lý tởng đẹp, cảm xúc đẹp, t ởng, lẽ sống đẹp Sự xúc tích hàm ẩn và tinh tế của lòng ngời không đâudiễn đạt đợc bằng thơ
t-Về nghệ thuật, hình tợng thơ đợc xây dựng bằng ngôn ngữ và những chi
tiết nghệ thuật theo một trật tự nhất định, "vang lên nhạc điệu khác thờng",
"ngôn từ và trật tự là một cặp nhảy hoàn mĩ chẳng chịu rời nhau nửa ớc"3 Từ những đặc trng này, hình tợng thơ bao giờ cũng khơi gợi những
b-"khoái cảm thẩm mĩ " độc đáo và diệu kỳ đối với ngời đọc.
2 Quan hệ thẩm mỹ của nghệ thuật đớivới hiện thực - Tsecnxepxki - Sdd - T120
3 Eliô - "Tìm một định nghĩa cho thơ" - Mã Giang Lân - TCVH số 12 - 1995
Trang 11một cách trực tiếp Tính chất cá thể hoá của cảm nghĩ và tính chất chủ quan hoá của sự thể hiện là những dấu hiệu tiểu biểu của thơ trữ tình" 4
Về nội dung, thơ trữ tình có đối tợng phản ánh hẹp, nó là trạng thái tâmhồn tình cảm của con ngời đợc bày tỏ một cách trực tiếp Cái sự kiện của
đơì sống hiện thực đợc thơ trữ tình phản ánh một cách gián giếp thông quatâm trạng của tác giả Cái đẹp trong thơ trữ tình chính là cái đẹp của thếgiới nội tâm của thi nhân đợc bộc bạch và gửi gắm trong những hình ảnhthơ Đó là cảm xúc trữ tình đợc thăng hoa, là quan điểm trữ tình đẹp đẽ thểhiện năng lực thẩm mỹ độc đáo của cái tôi trữ tình nhà thơ
Về hình thức, thơ trữ tình đợc xây dựng bởi một hệ thống ngôn ngữmang tính chất cá thể rõ rệt và thể hiện chính xác trạng thái tâm hồn củathi sỹ Ngôn ngữ thơ trữ tình tạo nên giọng điệu trữ tình có dấu ấn phongcách riêng biệt, đó là cái đẹp độc đáo của thể loại này
Nh vậy, khám phá cái đẹp trong thơ trữ tình là đi vào khám phá cái đẹptrong nội dung và hình thức toàn vẹn của thơ trữ tình
3 Cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu
3.1 Cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu là cái đẹp của hồn thơ và
lý tởng thẩm mĩ vì con ngời và sự sống
3.1.1 Cảm xúc thẩm mĩ và hồn thơ phong phú trong thơ trữ tình XuânDiệu
Cái đẹp trong thơ trữ tình là cái đẹp của những tinh hoa cuộc sống
đợc "chng cất" qua cảm xúc thẩm mỹ của nghệ sĩ.
Cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu có sức hấp dẫn mãnh liệt đốivới bạn đọc trớc hết ở tính bộc bạch chân tình ở độ nồng nàn của cảmxúc thời gian - hiện tại, khác với sức hấp dẫn gợi từ cảm xúc thời gianquá khứ của Chế Lan Viên hoặc cảm xúc không gian của Huy Cận Vìcảm xúc luôn gắn với hiện tại mà hiện tại luôn biến đổi nên Xuân Diệuluôn giữ cho cảm xúc của mình một chất tơi mới, sống động
Cảm xúc thời gian - hiện tại trong thơ trữ tình Xuân Diệu đợc biểuhiện trong thế giới đa dạng và tinh tế của tuổi trẻ và tình yêu Thơ trữtình Xuân Diệu nói lên nhiều cảnh ngộ và ngõ ngách của nội tâm,nhiều trạng huống của tình cảm, có những câu ăn sâu vào máu thịt baothế hệ và thấm thía nh đức tin
Có bao nhiêu cung bậc tình yêu ngoài đời thì có bấy nhiêu thể hiện
trong thơ Xuân Diệu chúng đợc tinh chế qua thứ xúc cảm "khi buồn cũng nh khi vui, ngời đề nồng nàn tha thiết" (Thế Lữ) Từ tình yêu đơn phơng (Yêu, Nớc đổ lá khoai), đến đồng cảm (Mời yêu, Đa tình), từ tình đầu, (Tình thứ nhất, Xuân đầu), đến tình kiếp sau (Vô biên, Giục
4 Lê Bá Hán (Chủ biên) - Từ điển thuật ngữ văn học - NXB - ĐHQG Hà Nội 1999
Trang 12giã), từ lúc gần gũi (Phải nói, Rạo rực), đến khi chia ly (Xa cách, Bên
ấy bên này), bao giờ Xuân Diệu cũng yêu ngấu nghiễn cái màu mỡ của cuộc sống Tất cả những vui, buồn, yêu, ghét, hờn giận, nhớ nhung ấy
có thể hợp thành cuốn từ điển tình yêu giá trị Cái đẹp phong phú này làmột đặc trng của thơ trữ tình Xuân Diệu
Thơ trữ tình Xuân Diệu không những giàu có về cảm xúc mà còn đadạng trong những cảm nhận tinh tế những biến thái tinh vi của ngõ
ngách tâm trạng Vì Xuân Diệu có "cái mà ngời ta gọi là một tâm hồn Tôi sẵn sàng lặn dò mọi điều huyền bí, những cái ấy làm giàu nội tâm" 1 Hồn Xuân Diệu lắng nghe bớc đi của thời gian (Đây mùa thu tới), hoà nhập cùng thiên nhiên, vũ trụ (Thơ duyên), và mở rộng lòng mình để tận hởng cuộc sống, (Vội vàng) bao giờ ông cũng tỏ ra là ngời "nghe thấu sự mơ hồ nh đã thạo dò ra những điều tinh tế" 2
Đặc biệt Xuân Diệu không dừng ở kiểu nghe, nhìn, và xúc cảm củathơ ca truyền thống, ông cảm nhận thế giới bằng tất cả ngũ quan và tâm
linh vô thức Ta sẽ thấy "nhạc" và "gió" có "mùi": (Huyền diệu), ánh trăng lạnh nhờ vào cộng hởng cảm giác (Nguyệt cầm) Từ cái vô hình
mơ hồ nhng hiện hữu trong cảm nhận:
"Không gian nh có dây tơ
Bớc đi sẽ đứt động không hờ sẽ tiêu"
(Chiều)
cho đến phút giây đồng vọng từ kỉ niệm và tâm thức:
"Làm sao định nghĩa đợc tình yêu
Có nghĩa gì đâu, một buổi chiều
Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạtBằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu"
(Vì sao)
điều đó chứng tỏ một thụ cảm "mới nhất trong các nhà Thơ Mới", nó
đem lại cho hồn thơ phong phú của Xuân Diệu chất trữ tình quyến rũ lạlùng
Nh vậy cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu nghiêng về cái đẹp củacảm xúc thẩm mĩ và đời sống nội tâm hơn là cái đẹp của phẩm chất trítuệ nh thơ Chế Lan Viên hoặc một số nhà thơ khác Chiều vận độngcủa hệ cảm xúc này tạo nên đặc trng hình tợng thơ trữ tình Xuân Diệu
sẽ đợc đề cập ở phần sau
3.1.2 Lý t ỏng thẩm mĩ trong thơ trữ tình Xuân Diệu
Con ng ời là chuẩn mực của cái đẹp
1 Xuân Diệu "Một tâm sự thi sỹ" - TCVH số 1 - 1983
2 Thế Lữ - Tựa Thơ thơ - Trích "Xuân Diệu Thơ và Đời" - NXB Văn học
Trang 13Thơ trữ tình Xuân Diệu luôn cháy lên niềm khát khao giao cảm với đời.Ngọn lửa rừng rực niềm yêu sống, giao hoà tâm linh và ham muốn tận h-ởng hạnh phúc tuyệt diệu nơi hạ giới T tởng nghệ thuật này xét đến cùng
là một cách thức chiếm lĩnh thế giới một quan điểm về thế giới " Một bầu nhiệt huyết đối với cái đẹp của cuộc sống con ngời, là t tởng thấm nhuần tình cảm thẩm mĩ" 1
Nguyên nhân sâu xa của niểm khát khao giao cảm ấy chính là lý tởngthẩm mĩ của một cá thể muốn tồn tại trọn vẹn ý nghĩa trong đời sống
Danh từ "lý tởng" phát sinh từ tiếng cổ Hy Lạp, biểu thị khái niệm của
con ngời về sự hoàn thiện, con ngời hoàn thiện và xã hội hoàn thiện Trong
ý thức con ngời, lý tởng là ớc mơ, "là mục đích đặc trng cho phơng hớng tổng quát vơn lên trong cuộc sống của con ngời đó"(E Gromốp).
Cái đẹp - lý tởng phần lớn phụ thuộc vào quan niệm Một nguyên tắc
mĩ học cơ bản của Xuân Diệu là lấy cái đẹp giữa tình yêu và tuổi trẻ củacon ngời làm chuẩn mực cho vẻ đẹp của thế giới vạn vật
Từ cổ chí kim, thơ ca thờng thiên về cái đẹp thiên nhiên và cuộc sống:
"Thơ xa yêu cảnh thiên nhiên đẹpMây gió trăng hoa tuyết núi sông"
(Hồ Chí Minh - Thiên Gia Thi) Hàn Mặc Tử coi thơ ca cấu thành từ bốn yếu tố của cái đẹp: "trăng, hoa, nhạc, hơng" Nhng Xuân Diệu lại đa ra một nguyên tắc mĩ học rất
mới có giá trị nhân bản lớn lao, đó là cái đẹp gắn bó với con ngời
Xuân Diệu đã gắn sự vận động của tạo hoá theo hoạt động và ý thứccủa con ngời Mọi lao động và sáng tạo nghệ thuật đều vì con ngời, chỉ có
vẻ đẹp của con ngời mới xứng đáng là trung tâm mĩ học "Con ngời là kiểu mẫu và kích thớc - để đo lờng vạn vật" Protagôrax Quan niệm lấy con ng-
ời làm tiêu chuẩn cho cái đẹp bắt nguồn từ thời Phục Hng, Sexpia cũng
từng thốt lên: "Kỳ diệu thay là con ngời - Thật là vẻ đẹp của thế gian, kiểu mẫu của muôn loài" (Hamlet - Hồi II - Cảnh II).
Đối với Xuân Diệu, con ngời là cốt lõi của mọi cảm hứng thẩm mĩ với
động lực thúc đẩy mạnh mẽ tình yêu trần thế Lý tởng thẩm mĩ trong thơ
ông gắn liền với lẽ sống tiến bộ của nhà thơ
Thơ trữ tình Xuân Diệu là cái tôi của Thơ Mới vùng vẫy trong sự bế tắccủa thời đại, mang nét đẹp buồn bã tinh tế của cổ nhân Nó đậm nồngnhững sầu đau, xa cách, chia lìa, buồn tủi, nhng vẫn lấp lánh ý thức và t t-ởng của nhà thơ Trong khi Thơ Mới nói riêng, chủ nghĩa lãng mạng nóichung phủ nhận hiện tại hoặc hớng tới tơng lai thì lý tởng của XuânDiệu không đâu xa chính là con ngời giữa thực tại Có ngời thoát tục nhập
1 Nguyễn Đăng Mạnh - "Dẫn luận nghiên cứu tác gia văn học" - Giáo trình ĐHSP 1993 - T110
Trang 14vào cảnh tiên (Thế Lữ), có kẻ đắm vào mộng - trăng (Hàn Mặc Tử) Chỉ
Xuân Diệu đủ nhiệt huyết và bản lĩnh tìm trong "phút huy hoàng, phút họp mặt" và "những thời khắc" vẻ đẹp con ngời Lý tởng độc đáo này đa Xuân Diệu tới vị trí xứng đáng trong nền văn học nớc nhà "Xuân Diệu là một ngời của đời một ngời giữa loài ngời Lầu thơ của ông xây dựng trên đất của một tấm lòng trần gian"1, ông đã không trốn tránh mà lại còn quyếnluyến cõi đời, và lời nguyền ớc của ông có bao nhiêu sức mạnh:
"Ta ôm bó tay ta làm rắnLàm dây da, quấn quýt cả mình xuânKhông muốn đi mãi mãi ở vờn trầnChân hoá rễ để hút mùa dới đất"
(Thanh niên)
Cách mạng đến giải phóng sự tù đọng của t tởng Thơ Mới thơ trữ tìnhXuân Diệu trở nên ấm nóng reo vui khi tìm đợc mái nhà đích thực là nhândân, tổ quốc Vẫn là vẻ đẹp của chiều sâu cảm xúc nhng càng mạnh mẽ trở
về cội nguồn, xây dựng đất nớc
Trớc cách mạng là "Thơ Thơ" (1938) "Gửi hơng cho gió" (1945), sau
Cách mạng là cái đẹp trong đấu tranh và lao động của con ngời mới xâydựng XHCN Trớc là nét đẹp mềm mại uyển chuyển sau là chất sống khẻkhoắn mộc mạc Trớc sau Xuân Diệu đều nhất quán để thơ đi vào cuộc
sống và "đem chất sống thực tế vào thơ"2 Nói nh Hà Minh Đức: "Cái đẹp trong thơ là sự thống nhất thẩm mĩ giữa những phẩm chất của thực taị khách quan với cái đẹp trong tâm hồn nhà thơ"3 Nh vậy, lý tởng thẩm mĩ
đã giúp nhà thơ thực hiện thiên chức sáng tạo theo qui luật cái đẹp bằng ýthức, cảm xúc và lẽ sống của mình Lý tởng thẩm mĩ đã tạo cho thơ XuânDiệu chất thơ tràn nhựa sống
Bản chất của cái đẹp là sự sống đ ợc sống lại nhiều tầng trong thơ trữ tình
Xuân Diệu
"Cái đẹp là cuộc sống" mà bản chất cuộc sống luôn vận động, hơn nữa,
Xuân Diệu coi con ngời giữa trần thế và hiện tại là tối cao nên bản chấtcái đẹp trong thơ trữ tình của ngời luôn vận động và đổi mới Cái gì sống
thì luôn biến hoá và "hoạt khí" kéo theo cái đẹp thì không có giới hạn và
không bao giờ cũ Đây là một hệ quả tất yếu của lý tởng thẩm mĩ nói trên
ý thức về sự đổi thay và có cái nhìn "xanh non biếc vờn", Xuân Diệu
coi cái đẹp phải là cái mới mẻ, "tơi nguyên" và "đầu tiên" Chúng có ý
nghĩa kết tinh sự chuyển vận của vạn vật, chúng lại thanh lọc và làm phongphú tâm hồn nhà thơ, chúng gắn với hơi thở nồng ấm mới mẻ của thời đại
1 Thế Lữ - Tựa Thơ thơ - Sđd
2 2 Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại" - Hà Minh Đức - NXB Giáo dục - 1997 - T54
3
Trang 15Chỉ có cái Mới mới đủ sức trẻ hoá và đáp ứng nhu cầu giao cảm khẩn thiếtcủa Xuân Diệu Niềm giao cảm sẽ trở nên phongphú linh diệu trong kho
báu tâm hồn của vạn ngời Chọn cái "tình thứ nhất", "đêm thứ nhất",
"xuân đầu", "rạo rực" Xuân Diệu có con mắt "tinh đời" đem lòng ràng buộc với vẻ đẹp "thanh tân" ấn tợng nhất trong đời ngời.
Xuân Diệu viết nhiều về mùa xuân và tuổi trẻ là nơi mới nhất trong đời
ngời Những gì mới mẻ cũng "ban sơ", "trinh bạch", những tình đầu cũng
"mới mẻ", "trai tơ", những buổi đầu cũng son trẻ êm ái những vẻ đẹp "ban sơ" cũng rạo rực say sa.
Hoa thứ nhất có một mùi trinh bạchXuân đầu mùa trong sạch vẻ ban sơ
Hơng mới thấm bền ghi nh thiết thạchLơng nguyên tiêu trời đất cũng chung mùi
(Tình thứ nhất) Cái mới mẻ, tơi nguyên đó chứng tỏ Xuân Diệu là nhà thơ "mới nhất trong các nhà Thơ Mới" và giải thích tại sao những ngời trẻ tuổi trẻ lòng
lại say mê thơ trữ tình Xuân Diệu đến thế
Tóm lại, trong lý tởng thẩm mĩ của Xuân Diệu, bản chất của cái đẹp là
sự sống Đặc biệt, với Xuân Diệu thì "nghệ thuật phản ánh cuộc sống nhng không phải phản ánh một cách tẩm thờng nhạt nhẽo mà "phản ánh một cách cao đẹp" (Trờng Chinh) từ tầm cao của lý tởng và có sự sáng tạo thẩm mĩ" 1
Tình yêu - trái tim thức đáp trong thơ trữ tình Xuân DiệuXuân Diệu đa ra một quan niệm mới mẻ về tình yêu là một cách khẳng
định lý tởng thẩm mĩ cao đẹp "Lần đầu tiên với Xuân Diệu văn học Việt Nam mới có đợc tình yêu thực sự là tình yêu" (Nguyễn Đăng Mạnh - Sđd).
Với Xuân Diệu tình yêu là sự giao cảm tâm linh lẫn thể xác để đa con ngờitới bến bờ mê đắm, mới lạ và thánh thiện
Lý tởng của tình yêu là sự giao cảm linh hồn nên rát sợ "xa cách"
"Trong say sa anh sẽ bảo em rằngGần thêm nữa thế vẫn còn xa lắm"
ở Xuân Diệu nỗi cô đơn tinh thần chuyển thành cảm giác cô đơn củanhục thể rất nhân bản, rất hùng tráng
"Trời xanh trêu nh chén xanh êmBiển đắng không nguôi nỗi khát thèmNên lúc môi ta kề miệng thắm
Trời ơi, ta muốn uống hồn em"
(Vô biên)
1 Nguyễn Duy Bình - Sdd - T40
Trang 16Tình yêu trong thơ ông cũng giản dị, đời thờng, đó là hạnh phúc đợcsống vì nhau và đợc bên nhau Xuân Diệu khẳng định chỉ có tình yêu giữacuộc đời thực sẽ mãi mãi xanh tơi, chỉ có tuổi trẻ con ngời là nguồn sốngdào dạt nhất:
"Vĩnh viễn chim ca, vĩnh viễn nắng cờiVĩnh viễn anh yêu em nh yêu sự thật
Và cây đời mãi mãi xanh tơiCây đời mãi mãi xanh tơi"
(Cây đời mãi mãi xanh tơi)
Lý tởng thẩm mĩ của Xuân Diệu bắt nguồn từ cuộc sống và làm giàucho cuộc sống Còn gì đáng hoan nghênh hơn khi t tởng của một nhà thơbảo vệ cho lẽ sống tiến bộ và phẩm chất cao đẹp của con ngời?
3.2 Thế giới nghệ thuật - một sức mạnh truyền cảm trong thơ trữ tình Xuân Diệu
3.2.1 Thiên nhiên và phụ nữ - hai hình t ợng kỳ diệu của cái đẹp tự nhiên trong thơ trữ tình Xuân Diệu
Lý tởng về cái đích của cuộc sống hoàn thiện khiến hình tợng conngời mới trong thơ trữ tình Xuân Diệu xoay quanh hai kiểu hình tợngthiên nhiên và phụ nữ Đây là hai biểu hiện kỳ diệu nhất của cái đẹpTối cao trong tự nhiên, qua thơ trữ tình Xuân Diệu lại có thêm sứcmạnh tối cao của đôi tay nghệ sỹ
Vẻ đẹp rất sinh động của ngời phụ nữ có cái gì khát khao mê đắmgiống nh chất men kích thích lý tởng về cái đẹp vốn sẵn trong chúng
ta Trong phạm vi đợc tinh lọc, ngời phụ nữ trong thơ trữ tình XuânDiệu có sự kết hơp giữa cái duyên dáng e ấp châu á với vẻ nồng đợm
châu âu Rung cảm trớc mùa thu (Đây mùa thu tới, Thu) đúng là chất
yêu kiều nhng khẳng định tình yêu nh nhu cầu là một táo bạo:
"Em nói trong thơ mẫy bữa ràySao mà bơm bớm cứ đùa bay
Ngời phụ nữ hiện lên ở những "điểm sáng" nh "nét mặt", "ánh mắt ngời yêu", vì đây là vẻ đẹp chân chính nhất của nhân vật "em".Đó là "Đôi mắt, nguồn mặn nồng tha thiết" (Đêm trăng đờng láng) , "đôi mắt đang nhìn anh say đắm" (Tơng t chiều), "đôi mắt ngời yêu ôi vực thẳm" (Xa cách)
Trang 17Những thanh sắc trần gian làm nên thế giới của "ngực nóng khúc đê mê", của "em đẹp khi em phồng nét ngực", của "tháng giêng ngon nh một cặp môi gần" Chi tiết nghệ thuật nhỏ nhng có sức khái quát nghệ thuật
cao
Thế giới tâm hồn của em cũngđợc Xuân Diệu khắc hoạ đầy đủ từ nét
mặt và con mắt buồn bã trong không gian "mây đen ám mặt mày" (Đây mùa thu tới, Tơng t chiều) đến nét rạng rỡ và nụ cời tơi trên gơng mặt em,
là sự phát triển của một quá trình "đi từ chân trời của một ngời đến chân trời của muôn đời ngời".
Cái đẹp của thiếu nữ trong thơ trữ tình Xuân Diệu không có cái hiện
thực của "tiên nga mơ mộng cảnh xa vời" (Thế Lữ) hay vẻ dân dã bắn bó với làng quê nh "em là cô gái trong khung cửi" (Nguyễn Bính) mà quyết
liệt không mơ hồ Càng về sau, nhà thơ càng đem cái đẹp chung của
những "cô gái mở đờng" (Tố Hữu), "cô giái xeo giấy" (Chế Lan Viên)
vào lý tởng thẩm mĩ của mình Xét đến cùng hình tợng những cô gái ấy làcái tôi Xuân Diệu nhập vai
Thiên nhiên trong thơ trữ tình Xuân Diệu tràn đầy hơi thở trẩn thế - tức
là thiên nhiên đợc ngời hoá Thiên nhiên đất trời là nơi để Xuân Diệu gửigắm lòng say mê cuộc sống và khát vọng tình yêu, ông ký thác vào đónhững tâm sự cô đơn rặng liễu mùa thu với nỗi buồn tang tóc, hàng câythay lá, mảnh trăng chia lìa đơn chiếu, góc phố nhỏ đìu hiu, đám mâybuồn u ám Có khi thiên nhiên dạt dào và tràn trể những dòng vận
chuyển, "gió vừa chạy, vừa rên, vừa tắt thở", "sắc hạ rụng rung rinh bốn phía hè", " nớc suối đã lờ đờ khép mắt"
Trong thế giới hình tợng "cơn gió lạ kỳ", " bông hoa ngàn vẻ" thì "vầng trăng" muôn vàn cánh thể hiện là biểutợng cho sự vĩnh cửu của cái đẹp và nghệ thuật Xuân Diệu viết nhiều về trăng bao quát tất cả "Trăng" "Hoa
đêm, Nguyệt cầm, Buồn trăng" "là "một cái đẹp, một lý tởng".
"Trăng vú mộng của muôn đời thi sĩ
Đa hai tay mơn trớn vẻ tròn đầy"
(Ca tụng)
Sức hấp dẫn độc đáo của thiên nhiên trong thơ trữ tình Xuân Diệu là cáigì đó vừa trần tục vừa gắn bó với con ngời lại bao hàm khát vọng lý tởng
Nhng "môi em, mắt em, nụ cời em , tâm hồn em" trở thành linh hồn và sinh
lực của thiên nhiên Những đất trời, cỏ cây, sông núi, thấm đợm vẻ đẹp đầysắc dục của ngời đàn bà lên hơng giữa tình yêu Đây là một đặc điểm độc
đáo của thi pháp thơ trữ tình Xuân Diệu
Nói tóm lại, thế giới nghệ thuật trong thơ trữ tình Xuân Diệu mang đặctính thẩm mĩ cao, những hình tợng thiên nhiên và phụ nữ thoả mãn nhu
Trang 18cầu hởng thụ cái đẹp trong cuộc đời Vẻ đẹp của ngời đàn bà trong sứmệnh và thiên chức của mình biểu tợng cho cái đẹp - hạnh phúc cao cả củanhân loại Nguồn gốc của xúc cảm thẩm mĩ do những hình tợng này manglại giúp ta nhìn thấy một quan niệm đúng về cái đẹp.
3.2.2 Hình t ợng cặp đôi - một quan điểm mĩ học r ợu cũ bình mới
Trong thế giới nghệ thuật thơ trữ tình Xuân Diệu, cái gì ở thế song
ph-ơng tph-ơng giao và hoà hợp cũng đọc coi là đẹp Đó là tâm thế đẹp Đơn giảnvì Xuân Diệu khát khao hạnh phúc lứa đôi và giao cảm linh hồn ông
muốn đặt bản thân và tâm thế "hớng về, ôm ấp, sẵn lòng ân ái" và đồng
cảm Khát vọng và tâm lý ấy đã phổ vào thơ trữ tình Xuân Diệu các kiểuhình tợng cặp đôi, cái gì cũng gọi đôi và cần có đôi
"Chiều mộng hoà thơ trên nhánh duyênCây me ríu rít cặp chim chuyền
Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá
Thu đến nơi nơi động tiếng huyền"
(Thơ Duyên)
Quan niện cái đẹp tồn tại ở thế song phơng, tơng ứng thực ra đợc hấpthụ từ nét đẹp truyền thống Những biểu tợng trong ca dao bao giờ cũng ởthế có đôi nh trăng với sao, trầu với cau, biển với thuyền
Tâm lý song phơng của ngời Việt ảnh hởng từ văn chơng đến ca vũ,kiến trúc, giao tiếp Nó thể hiện sự vững chãi - đầy đủ và khát vọng anbình trớc cuộc sống khó khăn
Trong sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa yếu tố cổ điển và hiện đại, Đông
và Tây trong thơ trữ tình Xuân Diệu, quan niệm về cái đẹp tơng giao ấy làcơ sở vững chãi cho một thế giới nghệ thuật đầy xuân tình và tràn đầy sứcsống Cái mới là cách bài trí hình ảnh, chi tiết và hình tợng nhịp nhàng t-
ơng giao trên trục cơ bản là quan hệ giao cảm diễn ra hai chiều quan hệ,
khách thể (thế giới) và chủ thể (cái tôi Xuân Diệu) "Cái đợc biểu hiện" là quan điểm mĩ học truyền thống, "cái biểu hiện" là hình ảnh, câu chữ, nhịp
điệu mang hơi thở thời đại
3.2.3 Cái đẹp độc đáo của ngôn ngữ hình ảnh và nhạc điệu trong thơ trữtình Xuân Diệu
"Nội dung có tính thẩm mĩ chỉ tồn tại trong hình thức sáng tạo độc đáo của nó"1 Thơ trữ tình Xuân Diệu có "cái đẹp bên trong" là những t tởng, quan
điểm lẽ sống và "cái đẹp bên ngoài" là ngôn ngữ chi tiết cấu trúc, nhạc
điệu có tác dụng quyết định đối với việc xây dựng hình tợng trong thơ
Ngôn ngữ thơ trữ tình Xuân Diệu có chiều sâu của t tởng và rung cảmthẩm mĩ có cái bay bổng của trí tởng tợng diệu kỳ, có tính chất Rađium cô
1 Nguyễn Duy Bình - Sđd - T59
Trang 19đọng, hàm súc, mang đậm dấu ấn cá nhân - Xuân Diệu Hệ thống từ ngữ củaXuân Diệu thiên về giá trị biểu cảm tinh tế bởi nhà thơ có sở tr ờng diễn tảnhững biến thái tinh vi Đó là hệ thống từ láy, từ tợng hình đạt tới độ giao hoàlinh diệu của trờng phái tợng trng Xuân Diệu a sử dụng từ ngữ gây cảm giácmạnh và chú ý phát huy khả năng cao độ của tính từ Hệ thống từ ngữ đắt giá
có sức khái quát cao độ sự phát triển của quá trình
Trong vờn sắc đỏ rũa màu xanh
Đã nghe rét mớt luồn trong gió
(Đây mùa thu tới)
Hệ thống từ ngữ có khả năng diễn tả đầy đủ các động tác mạnh bạo,bộc bạch nhiệt tình, hởng thụ, hăm hở cuống quýt
"Hãy sát đôi đầu hãy kề đôi ngựcHãy trộn nhau đôi mái tóc ngắn dài"
(Xa cách)
Cái riêng của giọng điệu thơ trữ tình Xuân Diệu có lúc da diết tiêu tao,
có lúc cô sầu đài các "Với những câu thơ ít lời, nhiều ý, súc tích nh đọng lại bao nhiêu tinh hoa Xuân Diệu là một tay thơ biết lam ta ngạc nhiên về nghệ thuật dẻo dai và cần mẫn" 1
Chất cảm xúc trữ tình độc đáo trong thơ trữ tình Xuân Diệu khiến hệthống hình ảnh luôn sáng tạo, sống động và độc đáo:
"Những luồng run rẩy, rung rinh lá
Đôi nhánh khô gầy xơng mỏng manh"
Nhạc điệu ấy đôi khi là tiếng sóng biển rì rào, cái dồn dập của nhịp thơ
nói đợc tình yêu đến độ sung mãn "Biển" hoặc sự vận động và tơng ứng
cuả các cặp hình tợng gọi đôi tạo đợc giọng điệu quyến rũ và một sức
mạnh chuyển vận vào bên trong tâm hồn (Thơ Duyên).
Thơ Xuân Diệu có đủ "ý, tình, hình, nhạc" (Mã Giang Lân) mà phần
nhạc tài hoa và quyến rũ
3.3 Giá trị của cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu
Nhìn chung, thơ trữ tình Xuân Diệu phát biểu một quan điểm mới mẻ
về cái đẹp đậm đà tính nhân văn và mang hơi thở thời đại Xuân Diệu
1 "Xuân Diệu - Một đời ngời, một đời thơ" - Thế Lữ - NXB Giáo Dục - 1993, T46
Trang 20khám phá cái đẹp trong đời sống nội tâm con ngời trên cơ sở tinh thần dântộc và sự thức tỉnh cái tôi Thơ Mới.
T tởng mĩ học trong thơ trữ tình Xuân Diệu đợc bắt nguồn từ truyền
thống dân tộc "trong ý thức của nhân dân, cái đẹp là cái bên trong, ở trong bản chất chứ không phải cái đẹp bên ngoài".(Guxep - Mỹ học
folclo)
Cái đẹp gắn với cái hữu ích (tốt gỗ hơn tốt nớc sơn), cái đẹp không rời phẩm chất đạo đức, (Cái nết đánh chết cái đẹp) Cái đẹp có sức mạnh
cản hoá lòng ngời
Trên cơ sở đó thơ trữ tình Xuân Diệu hấp thụ t tởng tiến bộ của thời đại
và đa quan điểm dân gian phát triển thêm một bậc Xuân Diệu luôn có ýthức rèn rũa hệ thống ngôn từ hình ảnh, nhạc điệu để hình tợng nghệ thuậttrong thơ ấy có giá trị thẩm mĩ cao Mỗi một tác phẩm thơ trữ tình XuânDiệu phải là một chỉnh thể thống nhất toàn vẹn giữa nội dung đẹp và hìnhthức đẹp
Cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu không phải là cái đẹp "ý niệm"
hay cái đẹp chỉ có trong cảm xúc đơn thuần mà là cái đẹp hiện hữu trongcuộc sống cái đẹp là sự sống chỉ có mảnh đất đẹp trần thế mới là nguồndinh dỡng vô tận cho cái đẹp trên trang thơ Nh vậy hạnh phúc của con ng-
ời thiết thực và thúc đẩy cuộc sống
B Cơ sở thực tiễn
I Dạy học văn nhằm phát huy chủ thể học sinh và chú
trọng giáo dục thẩm mỹ cho học sinh
1 Dạy học lấy học sinh làm nhân vật trung tâm
Bản chất của quá trình dạy học lấy học sinh làm nhân vật trung tâm là
hoạt động có tính chất nhân văn sâu sắc "Trong phơng pháp dạy học lấy học sinh làm nhân vật trung tâm toàn bộ quá trình dạy học đều hớng vào nhu cầu khả năng và lợi ích của học sinh bàn tiếp về dạy học lấy học sinh làm trung tâm" 1
" Việc coi học sinh là nhân vật trung tâm có nghía là phát huy chủ thể học sinh để tiếng nói của nhà văn khơi nguồn rung cảm ở các em chứ không phải là khách thể bị động chịu sự tác động của giáo viên thông qua phơng pháp dạy học thông tin - tái hiện Học sinh là mục đích của quá trình văn học, vừa là phơng tiện, con đờng đạt tới hiệu quả s phạm trong quá trình ấy" 2
Vì vậy ngời giáo viên đóng vai trò quan trọng trong việc hớng dẫn, tổchức, thiết kế hoạt động của học sinh để học sinh tiếp thu đợc cái hay, cái
đẹp của tác phẩm văn chơng Mỗi học sinh là một nhân cách đang hình
1 Trần Bá Hoành - TCNCGD số 8 - 1995
2 Phơng pháp dạy học Văn - NXb ĐHQG Hà Nội - 1996 - T46
Trang 21thành, ngời giáo viên phải biết khơi nguồn cảm xúc thẩm mỹ cho các em
từ đó hình thành nhân sinh quan tiến bộ cho mỗi em
2 Xoá bỏ bệnh xã hội học dung tục trong dạy văn
Mặt khác nhà trờng phổ thông của ta trong một thời gian dài vẫn còntồn tồn tại bệnh xã hội học dung tục cần phải đổi mới Đó là tình trạng họctập tác phẩn văn chơng biệt lập với phơng diện chức năng thẩm mĩ và giáodục, đồng thời thoát li hình tợng và nội dung khách quan khiến học sinhkhông thấy đợc vai trò chủ quan của tác giả, đánh mất thú học tập của các
em Học sinh không trực tiếp giao tiếp với tác phẩm, không thực sự rungcảm, không khí giảng văn nặng nề đơn điệu, thiếu rung cảm thẩm mĩ thiếusức truyển cảm thuyết phục Sức thuyết phục của văn chơng trớc hết chủyếu là bản thân tác phẩm văn chơng Tác phẩm văn chơng là nguồn pháttruyền cảm xúc thẩm mĩ đến cho học sinh Trong giờ học không ai thay thế
đợc tiếng nói của nhà văn vang lên từ tác phẩm Giáo viên chỉ là ng ời bạn
độc có kinh nghiệm, ngời truyền tin, ngời môi giới cho quá trình giao tiếp
3 Coi giáo dục thẩm mĩ cho học sinh là mục tiêu hàng đầu
Văn chơng là loại hình nghệ thuật ngôn từ, hiệu quả dạy văn là kết quảhình thành và phát triển nhân cách thẩm mĩ ở học sinh, hiệu quả dạy văn đ-
ợc đo bằng lắng đọng trong học sinh, song cũng cần có lao động thẩm mĩ.Trong nghị quyết đại hội IV của đảng cộng sản việt nam đề ra phơng h-
ơng "Tăng cờng giáo dục thẩm mĩ cho học sinh thông qua văn học nghệ thuật và các bộ môn khác, xây dựng quan điểm thẩm mĩ của chủ nghĩa Marx - Lênin, phê phán những quan điểm thẩm mĩ không vô sản, bồi dỡng năng lực thẩm mĩ thởng thức và sáng tạo văn học nghệ thuật tạo ra thị hiếu thẩm mĩ lành mạnh trong sáng phong phú" 1
Giáo dục thẩm mĩ đợc coi là hàng đầu trong cơ chế dạy học văn hiệnnay dựa vào một số chuẩn mực về rèn luyện năng lực thẩm mỹ Thẩm mỹ
là một yếu tố thuộc bản tính thơ văn dạy văn phải chú ý giúp các em có đợcnăng lực thẩm mĩ, rung cảm với cái hay cái đẹp của thơ văn và cái hay cái
đẹp trong cuộc sống, từ đó có khát vọng muốn có một lẽ sống đẹp, một
cuộc sống đẹp, góp phần xây dựng tạo nên cái đẹp trong cuộc sống (đẹp trong nội dung và đẹp ở hình thức biểu hiện)
Phải chú ý hớng dẫn khuyến khích các em thực sự sống đẹp ngay trong
đời sống học sinh của mình, dũng cảm đấu tranh, chống những cái xấutrong cuộc sống, kể cả đấu tranh chống thị hiếu không lành mạnh đua đòi
lố lăng trong bạn bè, trong xã hội
Nh vậy, thực chất của việc phát huy vai trò chủ thể học sinh trong cơchế dạy học văn hiện nay là làm sao kích thích các em trở thành những chủ
1 Nghị quyết Đại hội IV - NXB Sự thật Hà Nội - T19 - Tóm tắt theo TCNCGD số 12
Trang 22thể tích cực, tự giác trong việc cảm thụ cái hay, cái đẹp của tác phẩm vănchơng.
II Thực trạng việc dạy học thơ trữ tình Xuân Diệu hiện nay
1 Học sinh là chủ thể lĩnh hội thẩm mĩ tác phẩm thơ trữ tình Xuân Diệu.
1.1 Năng lực tiếp nhận cái đẹp.
Quá trình nhận thức của con ngời từ trực quan sinh động đến t duy trừutợng, từ cảm tính đến lý tính, từ hiện thực đến bản chất Đứng tr ớc cái đẹpcủa tác phẩm nghệ thuật chủ thể luôn lĩnh hội thông qua chủ quan Con đ-ờng lĩnh hội cái đẹp bao giờ cũng diễn ra qua sự hoạt động của cảm xúctình cảm chủ quan gắn liền với nhân sinh quan nhất định
Quá trình này chịu sự chi phối của năng lực thẩm mỹ cá nhân gắn liềnvới toàn bộ vốn tri thức chính trị, xã hội, văn hoá, kinh nghiệm sống.Không phải ai cũng hiểu đợc bản chất cái đẹp của hình tợng Kiều, mặc dù
từ cụ già tóc bạc đến đứa bé thơ đều đợc nghe Kiều, đọc Kiều và hiểuKiều
1.2 ảnh hởng của các yếu tố chủ quan và khách quan trong việc tiếp
nhận cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu
Năng lực tiếp nhận cái đẹp của con ngời đều phụ thuộc vào thẩm mỹcủa chính con ngời ấy Đối tợng giáo dục thẩm mỹ và lĩnh hội thẩm mỹ ởnhà trờng Trung Học phổ thông hầu hết ỏ lứa tuổi từ 14 - 18 Thơ trữ tìnhXuân Diệu dạy cho học sinh lớp 11 đang trong ngỡng nhận thức thế giới,hình thành thế giới quan và nhân cách
Học sinh ở lứa tuổi này có nhiều phát triển về nhận thức tâm lý, ý thứcmuốn tự thể hiện mình Đặc biệt đây là thời kỳ các em dễ xúc động trớcnhững hiện tợng khách quan mới lạ Lu luyến trớc cái đẹp Còn bồng bột
và cảm tính, học sinh sẽ có những đánh giá sai lệch do thiếu năng lực và
do nhiều lý do khách quan khác
Mặt khác, học sinh phổ thông là cá nhân của tập thể lớp, nên chịu ảnhhởng nhiều của thị hiếu tập thể Đặc biệt, trong cuộc sống hiện đại vớinhiều luồng văn hoá phức tạp ảnh hởng nhiều tới thị hiếu thẩm mỹ của các
em Song thời đại chúng ta cũng có nhiều điều kiện phát triển trí tuệ, conngời cá nhân của các em
Nh vậy, học sinh trong tình hình hiện nay, chịu tác động của nhiều yếu
tố chủ quan và khách quan mang tính thời sự Học sinh luôn phải đợc coi
là chủ thể thẩm mỹ lĩnh hội tác phẩm văn chơng nói chung và tác phẩmvăn thơ trữ tình của Xuân Diệu nói riêng Việc bồi dỡng năng lực thẩm mỹ
Trang 23cho học sinh là vô cùng quan trọng trong việc phát triển năng lực t duy vàthụ cảm nghệ thuật, góp phần hình thành nhân cách tiến bộ cho các em.
2 Thực trạng dạy học thơ tình Xuân Diệu
Trong quá trình thực tập tại trờng THPT Ninh Giang (Hải Dơng) chúngtôi đã tiến hành điều tra qua hình thức thực nghiệm và bài kiểm tra, traodồi kinh nghiệm với giáo viên để rút ra những nhận xét sau:
2.1 Về phía học sinh
Đối tợng điều tra: Học sinh lớp 11A3, 11A1
Nội dung điều tra: đa ra câu hỏi
2.1.1 ấ n t ợng và thái độ của học sinh về thơ trữ tình Xuân Diệu
Câu hỏi1: ấn tợng của em khi đọc thơ Xuân Diệu em có thích không?Vì sao?
* Kết quả điều tra:
- 40/50 học sinh khoảng 89% thích thơ Xuân Diệu vì thơ ông hay,mới lạ, thể hiện niềm khát khao sống, một tâm hồn mãnh liệt và vôcùng nhạy cảm
- 5/45 học sinh xấp xỉ 11% không thích thơ Xuân Diệu vì ông khóhiểu
* Nh vậy, học sinh có nhận thức về cái hay cái đẹp của thơ trữ tìnhXuân Diệu là khác nhau Song hầu hết các em đều có ấn tợng tốt về thơXuân Diệu và dễ rung động trớc cái đẹp trong nội dung và hình thứccủa thơ trữ tình Xuân Diệu
2.1.2 Năng lực cảm thụ và phân tích cái hay cái đẹp trong thơ trữ tìnhXuân Diệu
Câu hỏi 2: Học xong phần thơ trữ tình Xuân Diệu cái gì để lại trong em
ấn tợng nhất:
- Ngôn ngữ thơ
- Hình ảnh thơ
- Cảm xúc thơ
Vội vàng Thơ duyên Đây mùa thu
tới
1 Ngôn ngữ thơ 30/45 = 67% 22/45 = 49% 20/45 = 44%
2 Hình ảnh thơ 35/45 = 78% 27/45 = 65% 30/45 = 67%
3 Cảm xúc 40/45 = 89% 30/45 = 67% 25/45 = 55%Câu hỏi 3 Em hiểu nh thế nào về quan niệm sống của Xuân Diệu trong bài
thơ "Vội vàng"? Trong nhịp sống hiện nay, có nên quan niệm nh vậy không ?
Vì sao?
Trang 24phù hợp
Nên cânnhắc11A3 (Văn - NK
- Hải Dơng)
5/26 =19.2%
4/26 = 15.4% 9/26 =
30.8%
8/26 =34.6%11A1 (Toán - NK
điểm nào con ngời cần sống hết mình và quí trọng bản thân Bớc đầu tiếpxúc với các em cho thấy hiện nay học sinh tỏ ra biết quí trọng và đánh giá
đợc cái đẹp và có khả năng sáng tạo cái đẹp trong cuộc sống
2.1.3 Tình trạng học tập thơ trữ tình Xuân Diệu
Qua việc điều tra tình hình học tập và kết quả chung của học sinhchúng tôi nhận thấy các em đã có ý thức học tập thơ trữ tình Xuân Diệu.Tiếng nói tâm hồn của nhà thơ đã khơi những rung động sâu kín ở mỗi em.Song còn số ít học sinh cha tự giác tìm hiểu cái hay cái đẹp trong thơXuân Diệu, đặc biệt là thơ trữ tình của ông Có lẽ vì năng lực cảm thụthẩm mĩ còn hạn chế và t duy hình tợng cha cao Đây là nhiệm vụ của ngờithấy phải tìm ra những biện pháp thích hợp để kích thích hớng dẫn các emnhận ra đợc cái hay cái đẹp của hồn thơ độc đáo này
Hơn nữa, hiện nay có rất nhiều tài liệu hớng dẫn, sách tham khảo về tácgiả tác phẩm Xuân Diệu, nhng không phải cách hiểu nào cũng đúng Bởivậy, ngời thầy phải hớng dẫn các em tham khảo tài liệu thích hợp, tránhlạm dụng tài liệu dẫn tới thui chột khả năng tự giác t duy và cảm xúc thẩm
mĩ của học sinh
2.2 Về phía giáo viên và phơng pháp dạy văn
* Về phía giáo viên:
"Vấn đề giữ vững và nâng cao chất lợng dạy - học văn, điều đó chỉ đợc giải quyết vững chắc và cơ bản trên cơ sở một sự phức hợp nhiều lực l ợng
- nó không chỉ là việc riêng của các thầy cô giáo dạy văn, cũng không phải là việc riêng của nhà trờng hoặc của ngành giáo dục" 1 Món ăn tinhthần mà chúng ta đa tới cho các em trong giờ dạy văn có lẽ đã bị mất đi
quá nhiều cái hơng vị thực của chính văn chơng Sở dĩ nh vậy vì "chất lợng
1 Báo cáo tại Hà Nội - Chuyên đề Văn của SGD Hà Nội 1981
Trang 25giáo viên dạy văn còn nhiều điều đáng suy nghĩ Số lợng giáo viên khá giỏi chiếm khoảng 21% trung bình 72%, còn lại khoảng 5% thuộc yếu kém".2
Để nâng cao chất lợng dạy học văn ở nhà trờng hiện nay, ngời giáo viênphải có tâm huyết với nghề, phải tìm ra phơng pháp phù hợp, và đặc biệtphải có kiến thức phong phú chắc chắn
Đối với giáo viên ở Hà Nội hoặc một số thành phố lớn do điều kiệnkinh tế phát triển, ngời giáo viên có điều kiện học hỏi, tìm hiểu các kiếnthức mới, nên việc giảng dạy văn học nói chung thơ trữ tình Xuân Diệu nóiriêng có nhiều thuận lợi và chất lợng giảng dạy bớc đầu khả quan Đối vớigiáo viên ở một số trờng nông thôn thì hoàn toàn ngợc lại, một số ngời bỏ
nghề hoặc coi nghề nh nghề phụ Một mặt "số giáo viên ra trờng trong những năm gần đây vừa yếu về năng lực cảm thụ văn học, vừa yếu về nghiệp vụ s phạm, nên các giờ văn diễn ra nặng nề khô khan" 1
Có thể tổng quát rằng "thực tế dạy học văn ở trờng phổ thông cha đáp ứng đợc yêu cầu của cải cách giáo dục, đòi hỏi xã hội đối với môn học có lợi thế lớn trong việc hình thành các phẩm chất nhân cách cho thế hệ trẻ Các tác giả lo lắng hết sức cho rằng học văn theo kiểu cũ khiến thực trạng tình hình dạy học văn bi đát đến mức báo động"(Trần Ngọc Tăng - TCNCGD số 5 - 1995) Đây là những vấn đề cấp bách cần khắc phục
nhanh chóng
Hiện nay, tồn tại ba xu hớng khai thác cái đẹp của tác phẩm văn chơngnói chung và thơ trữ tình Xuân Diệu nói riêng:
1 Xu hớng duy mĩ: chú trọng phân tích cái đẹp qua hình thức ngôn
ngữ Giáo viên chỉ chú ý phân tích cái đẹp theo kiểu "tầm chơng trích cú"
mà không chú ý đến cái đẹp trong nội dung t tởng và học sinh còn thụ
động trong cảm nhận tác phẩm văn học
2 Xu hớng xã hội học dung tục: Chú trọng đến những vấn đề xã hội
đ-ợc thể hiện trong nội dung tác phẩm Giáo viên chỉ phân tích tác phẩmtheo cái mà tác giả miêu tả, thể hiện về xã hội mà cha đi vào cái hay cái
đẹp tác động tới t tởng tình cảm của học sinh
3 Xu hớng tổng hợp: Đã chú trọng khám phá cái đẹp của tác phẩmtrong chỉnh thể thống nhất toàn vẹn giữa nội dung đẹp và hình thức đẹp.Học sinh trở thành chủ thể thẩm mĩ, năng lực thẩm mĩ của các em đợc pháthuy Xu hớng này cũng khai thác cái đẹp trong mối quan hệ liên ngànhvới các ngành khoa học và nghệ thuật khác
* Về phơng pháp giảng dạy văn học hiện nay:
2 TCNCGD 1993
1 TCVH số 4 - Sđd
Trang 26Câu hỏi 4: Về phơng pháp giảng dạy thơ trữ tình Xuân Diệu hiện nay
có những thuận lợi và khó khăn gì với kết quả và hứng thú học tập mônvăn?
Cách giảng dạy của giáo viên hiện nay cha phù hợp với đặc trngmôn văn, cha tạo đợc hứng thú say mê ở học sinh Có nhiều giáoviên còn áp đặt ý kiến chủ quan của mình cho tác phẩm Ví dụ vềbài thơ vội vàng, nhiều giáo viên cho rằng đây là một bài thơ nói về
sự hởng thụ của con ngời trong tình yêu, tác giả kêu gọi mọi ngờihãy hiến dâng, sống hết mình cho tình yêu
Tuy nhiên cũng có một số trờng hợp giáo viên đã có phơng pháp thíchhợp để khai thác cái hay, cái đẹp của tác phẩm Giáo viên tìm tòi sáng tạocác biện pháp hữu hiệu để đa ra một quan niệm đúng về tác phẩm
Câu hỏi 5: Khi học thơ Xuân Diệu em đã tiếp cận thơ ông bằng cáchnào?
Đối tợng Đọc diễn
cảm
Giảngbình
Tranhluận vớibạn
Đọc bàinghiêncứu
Tự cảmnhận
Đàm thoạivới thầy11A3-
THPT
-Ninh
Giang
10/45 =22.2%
10/45 =22.2%
5/45 =11%
4/45 =9%
4/45 =9%
12/45 =26.6%
12/45 =22.6%
4/45 =9%
5/45 =11%
4/45 =9%
10/45 =22.2%
Qua bảng thống kê, chúng tôi thấy: Phần lớn học sinh cảm thấy hứngthú với các phơng pháp: Đọc diễn cảm, giảng bình và đàm thoại với thầy
Tóm lại: từ thực tế cảm nhận việc dạy học thơ trữ tình Xuân Diệu ,
chúng tôi thấy:
- Việc khai thác cái hay cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu khôngnhững phụ thuộc vào tác phẩm mà còn phụ thuộc vào phơng pháp, nănglực của giáo viên và năng lực tiếp nhận của học sinh
- Về năng lực giáo viên và học sinh đều có sự phân hóa nhất định Cógiáo viên khá giỏi, có khả năng hớng dẫn các em học tập nhng cũng cómột bộ phận giáo viên khả năng gợi mở cho học sinh còn kém
- Về phía học sinh, khoảng 80% học sinh có khả năng nhận thức đợccái hay cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu Còn khoảng 20% học sinh
Trang 27còn mù mờ hay cha có khả năng cảm nhận đợc văn học nói chung, thơ trữtình Xuân Diệu nói riêng
Nh vậy, từ những cơ sở lý luận và thực tiễn nêu ra ở trên này đã tạo tiền
đề vữmg chắc trong việc đề ra một số biện pháp khai thác cái đẹp trong thơtrữ tình Xuân Diệu sẽ đợc trình bày ở chơng sau
Chơng II: Một số biện pháp khai thác cái đẹp trong thơ trữ tình xuân diệu dạy ở trờng THPT hiện nay.
A.Cơ sở phơng pháp luận của việc đề xuất một số biện pháp khai thác cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu dạy
ở trờng THPT hiện nay
- Đề xuất một số biện pháp khai thác cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệudạy ở nhà trờng THPT hiện nay trớc hết phải căn cứ vào giá trị đích thực riêngbiệt của từng tác phẩm Cái đẹp tồn tại trong "thế giới nghệ thuật", "quan điểmnghệ thuật", trong "phong cách và tính sáng tạo văn học độc đáo" của XuânDiệu
- Suy nghĩ và chỉ ra những biện pháp khai thác cái đẹp trong thơ trữ tìnhXuân Diệu phải dựa vào hệ thống phơng pháp dạy tác phẩm văn chơng để tìm
và vận dụng phơng pháp thích hợp trong dạy, học tác phẩm Xuân Diệu
Những bài thơ trữ tình của Xuân Diệu đợc giảng trong chơng trình lànhững tác phẩm nghệ thuật chân chính có giá trị nghệ thuật cao, nên ngoàiviệc nhận ra cái đẹp trong từng tác phẩm để khai thác còn cần phải hớng dẫncác em đánh giá và thởng thức cái đẹp đó bằng sức nghĩ và xúc động của tâmhồn các em
Học sinh là ngời bạn đọc dới góc độ nhà trờng Thầy giáo phải biết conngời tinh thần của học sinh, phải thấy trình độ văn hoá của học sinh để đủ sức
tổ chức công việc dẫn dắt học sinh từng bớc lĩnh hội tác phẩm
B.Một số biện pháp cụ thể
Đề cập tới các biện pháp khai thác tác phẩm văn chơng nói chung, thơ trữtình Xuân Diệu nói riêng đã có một số ngời làm nh phần đầu luận văn chúngtôi đã thống kê Song vận dụng các biện pháp chung đó để đi vào tìm hiểu vàgiảng dạy thơ trữ tình Xuân Diệu dới góc độ mĩ học là một điều không đơngiản Vì thời gian và giới hạn của một luận văn tốt nghiệp chúng tôi chỉ bớc
đầu đề xuất một số biện pháp sau:
1.Đọc diễn cảm
Trang 28"Đọc diễn cảm là con đờng đúng đắn nhất hiểu đợc thực chất của tácphẩm Đọc diễn cảm là một kĩ năng cần thiết đối với con ngời có văn hoá"(1).Thật vậy "Con đờng đi vào tác phẩm nhất thiết phải bắt đầu từ đọc, gắn liềnvới đọc."(2) Đọc diễn cảm là một nghệ thuật.
Thực trạng dạy học thơ trữ tình Xuân Diệu hiện nay cho thấy các giờ vănchỉ tiến hành đọc để gây không khí Đọc phải đợc coi nh quá trình đồng cảmgiữa nhà văn - giáo viên - học sinh thông qua tác phẩm Sinh tử của giờ văn đ-
ợc quyết định bởi một giọng đọc truyền cảm hay không truyền cảm, và trongnhiều trờng hợp đọc tốt bài thơ (văn) là tiết giảng văn đã thành công tới mộtnửa
Đọc diễn cảm đặt ra yêu cầu là phải đọc đúng và đọc hay: "Đọc đúng là trung thành với nội dung ý nghĩa văn bản Đọc hay là phải biết phối hợp lao
động đọc của mình, biết phát huy u thế và chất giọng - nhấn mạnh hiệu quả nghệ thuật trong kết cấu âm thanh, nhạc điệu, ngôn ngữ tác phẩm" (3)
Nhiệm vụ của ngời đọc phải bắt đợc đúng nhịp điệu tâm trạng, cảm xúc
mà tác giả gửi gắm trong chữ nghĩa
Đối với thơ trữ tình thiên về cảm xúc, thiên về trực cảm và giàu nhạc tính
Do vậy nhịp thơ là sự thể hiện cảm xúc là "cái đẹp chủ yếu" trong các thiphẩm Nắm đợc đặc tính đó nhất là khi nắm đợc nhịp điệu thơ, chúng ta sẽ làmnổi bật đợc cái đẹp của cảm xúc mà nhà thơ gửi gắm
Cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu có những đặc trng riêng đã trình bày
ở chơng trớc Đó là cái đẹp của mạch cảm xúc trữ tình mang chất Xuân Diệukhi cuồng nhiệt đam mê, khi lắng đọng tâm tình, lúc khẽ khàng bâng khuâng,
mơ hồ Giáo viên cần hớng dẫn học sinh đọc vang lên những cảm thụ của mình về cái đẹp trong lý tởng thẩm mỹ, đời sống nội tâm phong phú, lối thụ
cảm độc đáo biểu hiện ở hình thức ngôn ngữ, nhạc điệu trong thơ trữ tìnhXuân Diệu
"Cảm xúc bắt đầu từ đọc và đợc duy trì phát triển trong quá trình đọc"(4).Thơ trữ tình Xuân Diệu biểu hiện xúc cảm do vậy nhịp điệu thơ là sự thể hiệncảm xúc rất quan trọng, nên việc nắm bắt đợc giọng thơ sẽ làm nổi bật đợccảm xúc thẩm mĩ của bài thơ Việc đọc diễn cảm sẽ làm cho ngôn ngữ thơ cựaquậy và thể hiện đúng bản chất của nó Nhng ngời đọc phải nắm đợc mạchcảm xúc chung của bài thơ Màu sắc hình ảnh cũng chứa đựng tâm lý của
nguời sáng tác Xuân Diệu nói "Cơn rung động về vần điệu âm thanh của nhà thơ cũng nằm trong sức rung động mạnh mẽ của cảm hứng sáng tạo".Và "việc
(1) V.P ổctôgôxki – Toạ đàm về công tác giảng dạy văn học.
(2) Phan Trọng Luận – Phơng pháp giảng dạy văn học – NXB ĐHQG HN – 1996 – T80.
(3 ) Phan Trọng Luận – Phơng pháp giảng dạy văn học – NXB ĐHQG HN – 1996 – T80.
(4) Phơng pháp dạy học văn T1.
Trang 29đọc văn chỉ có thể kết quả khi ngời đọc vang lên đợc cái chủ quan của tác giả, cái ý định của tác giả khi phản ánh" (1)
Thơ trữ tình Xuân Diệu đi theo hai mạch cảm xúc chính khi thì cuồngnhiệt đam mê, lúc lại lắng đọng nhẹ nhàng nên mỗi bài thơ có nhịp điệu khácnhau Bởi vậy giáo viên phải hớng dẫn học sinh có những giọng đọc thích hợp
để truyền thụ cái đẹp đến lòng ngời
"Vội vàng" thể hiện cảm xúc hối hả, vội vàng cuống quýt của cái tôi trữ
tình khát vọng trào dâng, một khát vọng sống hết mình, một ham muốn tận ởng cái đẹp của thiên đờng trần thế
h-"Tôi muốn tắt nắng điCho màu đừng nhạt nữa Tôi muốn buộc gió lạiCho hơng đừng bay đi"
Bởi vậy giọng đọc phải nắm "bắt đúng nhịp điệu thơ", ngắt theo nhịp thơ
nhanh chậm vừa phải thể hiện rung cảm và hiểu thấu độ nhân sinh của Xuân
Diệu Đọc "Vội vàng" nhất thiết phải bằng giọng điệu vừa đắm say, cuồng nhiệt vừa trào dâng cảm xúc hối hả, nuối tiếc cuống cuồng Giọng thơ "Vội vàng" là một khát vọng sống không chỉ gấp gáp đơn thuần mà còn tột cùng
của ham muốn cuộc sống trần thế Hiểu đợc cái đẹp của t tởng nhân sinh này
thì "tiếng đàn muôn điệu" của Xuân Diệu mới rung lên trong bạn những âm vang hối hả và nồng nhiệt Đọc "Vội vàng" phải bắt đúng cái thần của thơ, phải say nh Hoàng Cầm đọc "Bên kia sông Đuống"
Song trong "Vội vàng" có những mâu thuẫn nội tâm của tác giả nên khi
đọc ngời đọc cần có giọng đọc khác nhau:
ở
đoạn 1: Nổi bật ở ớc muốn sống hết mình, ớc muốn cuồng nhiệt háo hức
và hăm hở níu giữ thời gian lại Giọng đọc nhấn mạnh đ ợc cảm xúc đó từ các
từ "muốn" "đừng" "buộc" để thể hiện đợc khát khao, bồng bột trong trái timtrẻ trung, yêu đời
Tôi muốn/ tắt nắng điCho màu/ đừng nhạt mấtTôi muốn/ buộc gió lạiCho hơng/ đừng bay đi
Giọng đọc vừa sôi nổi ngắt nhịp 2/3 rõ ràng để nhấn mạnh ở những từ cócảm giác mạnh và có tính chất khẳng định của tác giả, âm điệu đều cho đếncuối câu để phát huy đợc tác dụng của các âm "i" nửa mở gợi đợc sự lan toảcủa hơng sắc, gợi đợc không gian rộng lớn mà tác giả muốn chế ngự Đọc
đúng mà đọc hay không phải là chuyện dễ dàng vì "tính chân thực của nghệ
(
Trang 30thuật hình thành trên cơ sở kinh nghiệm của nhà văn hoà hợp nhất trí với ngời
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi
Mỗi sáng sớm thần ru hằng gõ cửaTháng giêng ngon nh một cặp môi gầnTôi sung sớng// nhng vội vàng một nửaTôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân"
Sức sống ấy cần phải thoát ra ngoài, giọng đọc nên đắm say nh một nhu
cầu bộc bạch tâm tình Giọng đọc phải nhấn mạnh ở các từ "này đây" để
bật nổi thái độ của cái tôi trữ tình, của cảm xúc thẩm mỹ say sa hởng thụnhững tinh tuý của thiên đờng nơi trần thế Nhịp thơ trong đoạn thơ rất linh
hoạt, có lúc là 3/2/3 nhng ngay sau câu (Này đây/ hoa của đồng nội/ xanh rì) và (Và này đây/ ánh sáng chớp hàng mi; Tháng giêng ngon/ nh một cặp môi gần), và cuối đoạn giọng thơ trầm hơn "Tôi sung sớng/ nhng vội vàng một nửa Tôi không chờ/ nắng hạ mới hoài xuân" thể hiện sự tiếc nuối của
nhà thơ Bởi vậy ngời đọc cần bắt đúng mạch cảm xúc trên để truyền đếnngời đọc những tình cảm linh hoạt đó của tác giả
Đặc biệt ở câu 11 "Tôi sung sớng/ nhng vội vàng một nửa", cấu trúc câu
thơ đột ngột thay đổi, ở vế thứ nhất: giọng hào hứng say sa nhng đến vếthứ hai giọng lại trầm hẳn xuống Dấu chấm câu (.) mở ra hai thái độ, cầnhạ giọng tạo cảm giác hụt hẫng trong trái tim đang trào dâng sức trẻ
Tôi sung sớng/ Nhng - vội - vàng - một nửa
lý về thời gian - con ngời Ngời đọc cần ngắt nghỉ đúng những dấu ngắtcâu (,) ở bốn câu thơ đầu đoạn, đây là những câu thơ mang tính định nghĩa
1 M Gooki toàn tập Q15 - T116