hân tích, đánh giá việc tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu của ngành Dệt may Việt Nam DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 3 Chuyên ngành Kinh tế phát triển – K22 Thành viên 1 Vũ Minh Quân CH220288 2 Nguyễn Thị[.]
Trang 15 Dương Chu Toàn – CH220294
6 Dương Trung Nghĩa – CH220284
7 Trần Thanh Hải – CH220266
8 Đỗ Việt Hùng – CH220268
9 Nguyễn Thị Thùy Linh – CH220276
10 Trần Thanh Hải – CH220265
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
PHẦN I: LÝ LUẬN CHUNG 3
1 Khái niệm chuỗi giá trị, chuỗi giá trị toàn cầu 3
2 Bản chất của chuỗi giá trị dệt may toàn cầu 4
3 Mô hình chuỗi giá trị toàn cầu ngành dệt may 5
3.1 Công đoạn cung cấp nguyên liệu 5
3.2 Công đoạn sản xuất nguyên phụ liệu 6
3.3 Công đoạn sản xuất hàng may mặc 6
3.4 Công đoạn phân phối 7
3.5 Công đoạn marketing 8
4.Sự cần thiết của việc tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của ngành dệt may 8
PHẦN II: THỰC TRẠNG THAM GIA VÀO CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU CỦA NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM 10
1 Tổng quan về ngành dệt may Việt Nam 10
1.1 Cơ cấu tổ chức của ngành dệt may Việt Nam 10
1.1.1 Cơ cấu ngành dệt may theo hình thức sở hữu 10
1.1.2 Cơ cấu ngành dệt may theo những lĩnh vực hoạt động cụ thể 11
1.1.3 Cơ cấu theo khu vực lãnh thổ, vùng kinh tế 12
1.2 Đóng góp của ngành dệt may vào nền kinh tế quốc dân 12
1.3 Kim ngạch xuất khẩu và thị trường xuất khẩu chủ yếu của dệt may Việt Nam 13
1.3.1 Giá trị xuất khẩu của ngành dệt may Việt Nam 13
1.3.2 Thị trường xuất khẩu chính của dệt may Việt Nam 14
2 Sự tham gia của ngành dệt may Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu 15 2.1 Hoạt động cung cấp nguyên phụ liệu 15
2.1.1 Đối với nguyên liệu bông: 15
2.1.2 Đối với nguyên liệu tơ tằm 16
Trang 32.1.3 Đối với nguyên liệu sợi tổng hợp 17
2.2 Công đoạn sản xuất nguyên phụ liệu 18
2.2.1 Hoạt động kéo sợi 18
2.2.2 Hoạt động dệt, nhuộm và hoàn tất 19
2.3 Công đoạn sản xuất ngành dệt may 20
2.3.1 Công đoạn thiết kế 20
2.3.2 Công đoạn sản xuất 21
2.4 Công đoạn phân phối 22
2.4.1 Thị trường xuất khẩu 22
2.4.2 Hoạt động phân phối 23
2.5 Công đoạn marketing 24
3 Đánh giá việc tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu của ngành dệt may 25 3.1 Thành tựu 25
3.2 Hạn chế 26
3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 26
4 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của ngành dệt may Việt Nam 27
4.1 Nhân tố khách quan 27
4.2 Những nhân tố chủ quan 28
PHẦN III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM THAM GIA HIỆU QUẢ VÀO CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU 30
1 Xu hướng phát triển của ngành dệt may Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu 30
1.1 Mục tiêu phát triển 30
1.1.1 Mục tiêu tổng quát 30
1.1.2 Mục tiêu cụ thể 30
1.2 Định hướng phát triển ngành dệt may Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu 31
Trang 41.3 Đánh giá khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của ngành dệt may
Việt Nam 33
2 Một số giải pháp đề xuất nhằm nâng cao khả năng tham gia vào chuỗi giá trị dệt may toàn cầu của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam 36
2.1 Về phía chính phủ 36
2.1.1 Phát triển nguồn nguyên liệu thô (bông, tơ tằm và xơ sợi nhân tạo) 36
2.1.2 Thu hút đầu tư vào lĩnh vực sợi, dệt và nhuộm vải hoàn tất 37
2.1.3 Phát triển nguồn cung cấp phụ liệu 37
2.1.4 Phát triển khoa học công nghệ và nguồn nhân lực 37
2.2 Về phía hiệp hội dệt may Việt Nam 38
2.2.1 Tăng cường liên kết nội bộ ngành 38
2.2.2 Hỗ trợ bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp 39
2.2.3 Tăng cường hoạt động xúc tiến thương mại 39
2.3 Về phía doanh nghiệp 40
2.3.1 Đầu tư hoạt động thiết kế 40
2.3.2 Chuyển dần hoạt động sản xuất từ phương thức CMT sang FOB, ODM 40
2.3.3 Xây dựng phương thức quản lý doanh nghiệp có hiệu quả 40
2.3.4 Tạo nền tảng cho hệ thống phân phối sản phẩm 40
KẾT LUẬN 42
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đang trở thành
xu thế phổ biến trên thế giới, việc tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu cũng đã trởthành một quy luật tất yếu Mỗi một sản phẩm được tạo ra đều có giá trị bao gồmmột xâu chuỗi mắt xích nhiều giá trị kết nối tạo nên Trong bối cảnh hội nhậpquốc tế, từng mắt xích cụ thể trong quá trình sản xuất để tạo nên giá trị cuối cùngcủa một sản phẩm hoàn chỉnh đã vượt ra ngoài biên giới lãnh thổ một quốc gia,hoặc một sản phẩm thuần túy ra đời tại một địa phương cụ thể nhưng vẫn có thểmang giá trị toàn cầu
Ngành Dệt May là một trong những ngành xuất khẩu lâu đời trên thế giới,đồng thời là một trong những ngành có tính toàn cầu lớn nhất trong tất cả cácngành Trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa định hướng xuất khẩu,ngành Dệt May là ngành đi đầu, đóng vai trò then chốt cho sự tăng trưởng củanhiều quốc gia Ngành Dệt May Việt Nam với tốc độ tăng trưởng trung bình14,5%/năm giai đoạn 2008-2013 đã giúp Việt Nam trở thành một trong nhữngquốc gia có tốc độ tăng trưởng ngành dệt may lớn nhất thế giới Năm 2013,ngành dệt may Việt Nam là ngành có kim ngạch xuất khẩu đạt 17,9 tỷ USDđứng thứ hai sau dầu mỏ - khí đốt nhưng giá trị gia tăng và lợi nhuận thu đượcvẫn còn khá khiêm tốn, chưa mang lại giá trị gia tăng cao trong chuỗi giá trị dệtmay toàn cầu Sự tham gia chuỗi cung ứng dệt may toàn cầu của Việt Nam rấthạn chế ở khâu sản xuất, gia công mà vẫn chưa mở rộng sang được những khâukhác Nguyên nhân chính là nhiều doanh nghiệp dệt may chưa tự cung ứng đượcnguyên phụ liệu đầu vào mà phụ thuộc vào nhập khẩu, xuất phát từ sự non yếucủa ngành công nghiệp hỗ trợ dệt may trong nước Thêm vào đó, ngành cònthiếu nguồn nhân lực chất lượng cao và khả năng thiết kế thời trang hạn chếkhiến chúng ta chưa đủ khả năng cung cấp trọn gói sản phẩm nhằm tiến sâu vàochuỗi cung ứng dệt may toàn cầu
Trang 6Với đề tài “Phân tích đánh giá việc tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu của ngành dệt may Việt Nam”, nhóm 3 đã thực hiện nghiên cứu, phân tích,
đánh giá để từ đó đưa ra các giải pháp hữu hiệu để gia tăng giá trị trong chuỗi giátrị xuất khẩu dệt may Việt Nam, hy vọng nhận được sự góp ý của thầy và cácbạn để nghiên cứu hoàn chỉnh hơn
Trang 7PHẦN I: LÝ LUẬN CHUNG
1 Khái niệm chuỗi giá trị, chuỗi giá trị toàn cầu
Chuỗi giá trị, hay còn được biết đến là chuỗi giá trị phân tích, là mộtkhái niệm từ quản lý kinh doanh đã được Micheal Porter mô tả và phổ cập lầnđầu tiên vào năm 1985 trong một cuốn sách về phân tích lợi thế cạnh tranhcủa ông: “Chuỗi giá trị là chuỗi của các hoạt động của một công ty hoạt độngtrong một ngành cụ thể Sản phẩm đi qua tất cả các hoạt động của một công tyhoạt động một ngành nghề cụ thể Sản phẩm đi qua tất cả các hoạt động củachuỗi theo thứ tự và tại mỗi hoạt động sản xuất thu được một số giá trị nào đó.Chuỗi các hoạt động mang lại sản phẩm nhiều giá trị gia tăng hơn tổng giá trị giatăng của các hoạt động cộng lại”
Tiếp đó, nhà nghiên cứu Kaplins Rapheal đã đưa ra khái niệm về chuỗigiá trị trong phân tích toàn cầu hóa: “Chuỗi giá trị là cả loạt những hoạt độngcần thiết để biến một sản phẩm hoặc một dịch vụ từ lúc còn là khái niệm,thông qua các giai đoạn sản xuất khác nhau (bao gồm một kết hợp giữa sựbiến đổi vật chất và đầu vào các dịch vụ sản xuất khác nhau), đến khi phânphối đến tay người tiêu dùng cuối cùng và tái chế sau khi đã sử dụng” Vàmột chuỗi giá trị tồn tại khi tất cả những người tham gia trong chuỗi hoạtđộng để tạo ra tối đa giá trị cho chuỗi
Chuỗi giá trị có thể diễn ra trong một phạm vi hẹp nhưng cũng có thểdiễn ra ở phạm vi toàn cầu Chuỗi giá trị của một sản phẩm hay dịch
vụ diễn ra qua nhiều nước trên phạm vi toàn cầu thì chuỗi giá trị đó đượcgọi là chuỗi giá trị toàn cầu Theo cách nhìn này, các doanh nghiệp từ nhiềuquốc gia trên thế giới sẽ đóng vai trò như những mắt xích quan trọng và cóthể chi phối sự phát triển của chuỗi giá trị Việc phân tích hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp theo quan điểm chuỗi giá trị chính là một phươngpháp hữu hiệu để đánh giá tốt nhất năng lực cạnh tranh cũng như vai trò vàphạm vi ảnh hưởng của quốc gia trong chuỗi giá trị toàn cầu
Trang 8Trên thực tế, chuỗi giá trị toàn cầu chỉ là một cách tiếp cận mới, toàndiện hơn về phân công lao động quốc tế, nghĩa là bất kỳ doanh nghiệp nào cótham gia vào quá trình sản xuất một sản phẩm xuất khẩu đều có thể coi là đãtham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu Nhưng, tiếp cận phân công lao động quốc
tế theo chuỗi giá trị toàn cầu sẽ giúp các doanh nghiệp hiểu rõ hơn về vị trícủa mình trên thị trường thế giới, để có thể chủ động lựa chọn công đoạntham gia phù hợp nhằm đạt được lợi nhuận cao hơn
Khái niệm chuỗi giá trị dệt may toàn cầu: Chuỗi giá trị dệt may toàn cầu được hiểu là các công đoạn của quá trình sản xuất sản phẩm hàng may mặc trong chuỗi giá trị từ khâu khai thác, sản xuất nguyên liệu, thiết kế, gia công - sản xuất thành phẩm rồi phân phối tới các nhà bán buôn, bán lẻ…có
sự tham gia của các doanh nghiệp thuộc nhiều quốc gia trên thế giới.
2 Bản chất của chuỗi giá trị dệt may toàn cầu
Sản phẩm dệt may là một chuỗi giá trị bị ảnh hưởng bởi người mua,điều này có nghĩa là những khách hàng quốc tế (bán lẻ hoặc những công typhát triển thương hiệu) thường có vị thế trội hơn trong chuỗi giá trị Chuỗi giátrị toàn cầu hướng theo người mua bao gồm các nhà bán lẻ lớn, các nhàmarketing, các nhà sản xuất có thương hiệu mạnh có vai trò then chốt trongviệc hình thành mạng lưới sản xuất tập trung ở các nước xuất khẩu khác nhautrên phạm vi toàn cầu, đặc biệt là ở các nước đang phát triển
Trong chuỗi giá trị dệt may, các giai đoạn sản xuất nguyên liệu, kéosợi, dệt vải, nhuộm, in vải được gọi là nguồn nguyên liệu đầu vào Đây chính
là các ngành công nghiệp phụ trợ và có liên quan chặt chẽ đến ngành cắt may.Còn các giai đoạn cắt may phân phối hàng may được coi là công đoạn sảnxuất và phân phối sản phẩm Công đoạn này có vai trò tác động ngược trở lạicác công đoạn đầu và là động lực thúc đẩy các công đoạn đầu phát triển
Trên góc độ chuỗi giá trị dệt may toàn cầu: khâu thiết kế sản phẩmđược thực hiện ở các trung tâm thời trang nổi tiếng thế giới như Paris,London, Newyork,…Nguyên liệu chính được sản xuất tại Hàn Quốc, Trung
Trang 9Quốc, hoặc các phụ kiện khác được sản xuất tại Ấn Độ Khâu sản xuất giacông sản phẩm cuối cùng được thực hiện ở các nước có chi phí nhân công rẻnhư Việt Nam, Trung Quốc… Các sản phẩm dệt may hoàn chỉnh sẽ được đưa
ra bán trên thị trường bởi các công ty thương mại Trong chuỗi giá trị toàn cầuhàng dệt may, khâu có lợi nhuận cao nhất là thiết kế mẫu, cung cấp nguyênphụ liệu và thương mại Tuy nhiên dệt may Việt Nam chỉ tham gia vào khâusản xuất sản phẩm cuối cùng với hàm lượng giá trị gia tăng thấp nhất trongchuỗi giá trị Theo ước tính, khoảng 90% doanh nghiệp dệt may Việt Namtham gia vào khâu này của chuỗi giá trị dưới hình thức gia công Do đó, tuysản phẩm dệt may của Việt Nam được xuất đi nhiều nơi, có tên trong top 10nước xuất khẩu dệt may lớn nhất thế giới nhưng giá trị thu về rất thấp
3 Mô hình chuỗi giá trị toàn cầu ngành dệt may
Dệt may là ngành công nghiệp đặc trưng, chuỗi giá trị chủ yếu được tổchức theo 5 công đoạn chính: Công đoạn cung cấp nguyên liệu thô như sợitổng hợp và sợi tự nhiên; công đoạn cung cấp các phụ kiện như tơ, sợi từ cácnhà máy dệt; công đoạn sản xuất hàng may mặc, hình thành mạng lưới sảnxuất toàn cầu từ các nhà máy cho đến khi các nhà thầu phụ ở nhiều nước khácnhau; công đoạn xuất khẩu được hình thành bởi các đại lý thương mại vàmạng lưới marketing ở cấp độ bán lẻ
3.1 Công đoạn cung cấp nguyên liệu
Là khâu đầu tiên tạo giá trị cơ bản trong chuỗi giá trị hàng may mặc.Nguyên liệu cơ bản của ngành may mặc có thể được sản xuất dựa trên 2phương pháp cơ bản: Nguyên liệu tự nhiên là sản phẩm của ngành nôngnghiệp như sợi cotton, len và tơ tằm và nguyên liệu là sợi tổng hợp được sảnxuất từ dầu thô và khí tự nhiên
Công đoạn này tạo ra giá trị gia tăng thấp thứ hai (chỉ đứng sau côngđoạn sản xuất), tuy giá trị tạo ra không lớn so với tổng giá trị, nhất là khi sosánh với lượng giá trị hình thành bởi việc thương mại hóa, tuy nhiên đây làcông đoạn hết sức quan trọng đối với ngành dệt may Các nước hiện nay đang
Trang 10nắm giữ phần lớn công đoạn này trong chuỗi giá trị là Trung Quốc, Ấn Độ vàHàn Quốc với nguồn nguyên liệu đáp ứng đa dạng từ cao cấp tới bình dân,phù hợp với nhiều đối tượng khách hàng.
3.2 Công đoạn sản xuất nguyên phụ liệu
Dệt vải là một khâu quan trọng của công đoạn cung cấp nguyên phụliệu cho ngành may bao gồm 2 công đoạn chính là kéo sợi và dệt vải Cả haikhâu này đều có thể được thực hiện bởi mọi loại hình doanh nghiệp từ nhữngdoanh nghiệp siêu nhỏ đến những chi nhánh lớn hơn Tuy nhiên xu hướngchung đối với ngành dệt là vốn đầu tư cho các công ty lớn ngày càng trở nênquan trọng Sản phẩm của ngành dệt cũng có thể trở thành nguyên liệu đầuvào cho hoạt động sản xuất đồ nội thất, thảm cho các hộ gia đình cho ngànhmay hoặc các ngành công nghiệp khác để tạo nên chuỗi giá trị khác nhau tuynhiên thì may mặc vẫn là ngành sản xuất chủ yếu sử dụng nhiều nhất nguyênliệu của ngành dệt
Đối với sản phẩm may mặc, phụ liệu đóng vai trò liêu kết nguyên liệu,tạo thẩm mỹ cho sản phẩm Ngày nay số lượng chủng loại của phụ liệu ngàycàng phong phú, đáp ứng theo yêu cầu của từng loại sản phẩm dệt may Phụliệu trong ngành dệt may bao gồm chỉ may, vật liệu dựng, vật liệu cài và cácphụ kiện khác
3.3 Công đoạn sản xuất hàng may mặc
Trong chuỗi giá trị dệt may toàn cầu, các hãng sản xuất lớn của thế giớihay các nhà thầu phụ có thể áp dụng các phương thức sản xuất khác nhau phùhợp với năng lực của mình Các phương thức sản xuất áp dụng trong chuỗigiá trị của ngành dệt may như:
Gia công lắp ráp: là loại hình sản xuất dệt may dưới dạng các hợp đồngthầu phụ trong đó các nhà máy sản xuất hàng may mặc nhập khẩu toàn bộnguyên phụ liệu để sản xuất ra sản phẩm hoàn chỉnh Hoạt động sản xuất nàythường được tổ chức ở khu chế xuất – EPZs
Sản xuất theo hợp đồng trọn gói – OEM: đây cũng là một loại hình sảnxuất dưới dạng các hợp đồng thầu phụ Các hãng cung cấp sản xuất sản phẩmtheo thiết kế của khách hàng, nhà cung cấp và khách hàng không tham gia
Trang 11kiểm soát hoạt động phân phối Những nước tiêu biểu sản xuất theo hình thứcOEM là Hàn Quốc, Trung Quốc, Mehico Những nước này đã thâm nhập khásâu vào thị trường Hoa Kỳ trong lĩnh vực may mặc.
Sản xuất theo thương hiệu riêng – OBM: đây là loại hình sản xuất đượccải tiến dựa trên hình thức OEM, ở phương thức này các hãng sản xuất tựthiết kế và sử dụng bí quyết sản xuất của mình ký các hợp đồng cung cấphàng hóa trong và ngoài nước cho thương hiệu của mình Ở hình thức này,nhà sản xuất trong nước và người mua ở nước ngoài có mối quan hệ chặt chẽhơn Nhà sản xuất trong nước tham gia sâu hơn vào các công đoạn thượngnguồn và hạ nguồn của chuỗi giá trị
3.4 Công đoạn phân phối
Trong chuỗi cung ứng dệt may toàn cầu, hoạt động phân phối thường gắnliền với hoạt động xuất khẩu Hàng hóa được đưa ra thị trường: phần nhiềuđược xuất khẩu ra nước ngoài, phần còn lại quay trở lại phục vụ nội địa Hoạtđộng phân phối ở các thị trường khác nhau là khác nhau, phụ thuộc vào thóiquen mua sắm của người tiêu dùng
Minh họa kênh phân phối tại thị trường EU
Nhìn chung, trong chuỗi cung ứng dệt may toàn cầu, các hãng bán lẻlớn và các nhà buôn có ảnh hưởng, chi phối mạnh đến hoạt động phân phốisản phẩm Họ không trực tiếp làm ra sản phẩm, chỉ thực hiện hoạt động phân
Trang 12phối đến người tiêu dùng cuối cùng nhưng họ đóng vai trò quan trọng trongviệc định hướng và tác động đến chuỗi dệt may thế giới Họ nắm rõ nhu cầucủa những người tiêu dùng, cung cấp xu hướng thời trang cho các nhà thiết kếsản phẩm và nắm giữ hệ thống bán hàng, kênh phân phối trên toàn cầu Do
đó, các doanh nghiệp muốn tham gia vào hoạt động phân phối trong chuỗicung ứng dệt may toàn cầu phải thực sự có tiềm lực và tìm được thị trườngphù hợp cho sản phẩm của mình
3.5 Công đoạn marketing
Công đoạn marketing hàng may mặc thế giới thường được thực hiện ởkhâu bán lẻ và do các hãng bán lẻ chi phối Ở phân đoạn thượng nguồn củachuỗi giá trị hàng dệt may thế giới, các công ty sản xuất gián tiếp tiến hànhlập chi nhánh mua tại nước ngoài và các công ty thương mại sẽ chi phối toàn
bộ hoạt động marketing để đưa sản phẩm đến tay các nhà sản xuất, cung cấp
Ở phân đoạn hạ nguồn, các hoạt động xúc tiến thương mại được chú trọng đểđưa sản phẩm may mặc đến tận tay người tiêu dùng Mạng lưới marketing chủyếu được thực hiện thông qua các cửa hàng bách hóa tổng hợp, cửa hàngchuyên bán quần áo, dây chuyền thương mại quy mô lớn, dây chuyền giảmgiá
Các hãng bán lẻ, các công ty thương mại thông qua hoạt độngmarketing trực tiếp tìm hiểu nhu cầu của khách hàng, nhu cầu của người tiêudùng sản phẩm giúp cho nhà sản xuất thiết kế, thay đổi mẫu mã phù hợp vớithị hiếu, thời trang người tiêu dùng Đồng thời họ còn tiến hành tổ chức cáchội chợ hàng may mặc ở những khu trung tâm thương mại lớn trong và ngoàinước, tiến hành các hoạt động PR để quảng bá, giới thiệu sản phẩm, giúp xâydựng thương hiệu cho sản phẩm may mặc
4.Sự cần thiết của việc tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của ngành dệt may
Ngày nay cùng với quá trình toàn cầu hóa và tiến trình hội nhập củaquốc gia, ngành dệt may Việt Nam đang bắt đầu tiến sâu vào quá trình hộinhập quốc tế thông qua việc tham gia và không ngừng hoàn thiện chất lượng
Trang 13của một hoặc nhiều công đoạn của chuỗi giá trị dệt may toàn cầu Các doanhnghiệp Việt Nam rất cần vươn lên để phát triển và kiểm soát thượng nguồn,
hạ nguồn của chuỗi giá trị này, tham gia sâu rộng hơn vào lĩnh vực nghiêncứu & phát triển sở hữu trí tuệ, cùng với thương hiệu và thương mại Đóchính là sự lựa chọn tất yếu để thoát khỏi tụt hậu và lệ thuộc
Tham gia chuỗi giá trị toàn cầu là con đường để dệt may Việt Nam hộinhập quốc tế hiệu quả Quá trình này không chỉ có lợi cho các sản phẩm dệtmay Việt Nam mà còn góp phần nâng cao hình ảnh của các sản phẩm quốcgia nói chung, tiến tới bước cao hơn nữa là xúc tiến xây dựng thương hiệuquốc gia Khi năng lực cạnh tranh của từng sản phẩm, dịch vụ mạnh lên sẽthúc đẩy nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia Khi ngành dệt may thamgia mạnh mẽ vào chuỗi giá trị toàn cầu sẽ là động lực phát triển các ngànhliên quan như cung ứng nguyên phụ liệu, bán lẻ, phân phối tiêu dùng
Trang 14PHẦN II THỰC TRẠNG THAM GIA VÀO CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU CỦA
NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM
1 Tổng quan về ngành dệt may Việt Nam
Hiện nay ở nước ta ngành công nghiệp dệt may ngày càng có vai tròquan trọng trong nền kinh tế quốc dân Nó không chỉ phục vụ cho nhu cầungày càng cao và phong phú, đa dạng của con người mà còn là ngành giúpnước ta giải quyết được nhiều công ăn việc làm cho xã hội và đóng góp ngàycàng nhiều cho ngân sách quốc gia, tạo điều kiện để phát triển nền kinhtế.Trong những năm gần đây ngành công nghịêp dệt may đã có những bướctiến vượt bậc và đóng góp ngày càng lớn cho sự tăng trưởng của nền kinh tế
1.1 Cơ cấu tổ chức của ngành dệt may Việt Nam
1.1.1 Cơ cấu ngành dệt may theo hình thức sở hữu
Nhìn chung trong ngành dệt may Việt Nam, các doanh nghiệp và cơ sởsản xuất tư nhân áp đảo, chiếm tỷ trọng rất cao ( 84%), tiếp đó là các tậpđoàn, doanh nghiệp dệt may có vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (15%) Cácdoanh nghiệp nhà nước hầu như có vai trò rất nhỏ trong ngành (1%)
Trang 151.1.2 Cơ cấu ngành dệt may theo những lĩnh vực hoạt động cụ thể
Dệt may ở nước ta mới chỉ phát triển chủ yếu ở lĩnh vực may mặc(chiếm 70%), cùng với đó lĩnh vực dệt, đan cũng được chú ý tới, tuy nhiên sựphát triển của lĩnh vực này vẫn khá mờ nhạt, tỷ trọng trong tổng ngành chỉchiếm 17% Các lĩnh vực khác như se sợi, nhuộm và các ngành công nghiệpphụ trợ chiếm tỷ trọng rất nhỏ
Bảng 2.1 Cơ cầu ngành dệt may Việt Nam theo lĩnh vực
Se sợi
CN phụ trợ Nhuộm
Trang 161.1.3 Cơ cấu theo khu vực lãnh thổ, vùng kinh tế
Ngành công nghiệp may mặc tập trung chủ yếu tại hai khu vực kinh tếphía Bắc (30%) và đặc biệt là phía Nam (62%) Khu vực miền Trung và caonguyên chiếm tỷ trọng thấp (8%)
1.2 Đóng góp của ngành dệt may vào nền kinh tế quốc dân
Cùng với điện thoại và linh kiện, dệt may là ngành xuất khẩu chủ lựccủa Việt Nam trong những năm qua Năm 2013, sản phẩm dệt may Việt Namxuất khẩu đến hơn 180 quốc gia và vùng lãnh thổ với kim ngạch xuất khẩuđạt 17.9 tỷ USD, chiếm 13.6% tổng kim ngạch và 10.5% GDP cả nước Tốc
độ tăng trưởng dệt may trong giai đoạn 2008 – 2013 đạt 14.5% / năm đưaViệt Nam trở thành một trong những quốc gia có tốc độ tăng trưởng kimngạch xuất khẩu dệt may nhanh nhất thế giới
Hiện nay cả nước có khoảng 6.000 doanh nghiệp dệt may, thu hút hơn2.5 triệu lao động , chiếm khoảng 25% lao động của khu vực kinh tế côngnghiệp Việt Nam Theo số liệu của VITAS, mỗi 1 tỷ USD xuất khẩu hàng dệtmay có thể tạo ra việc làm cho 150 – 200 nghìn lao động, trong đó có khoảng
100 - 150 nghìn lao động trong ngành dệt may và 50 nghìn lao động trong cácngành công nghiệp phụ trợ
Trang 171.3 Kim ngạch xuất khẩu và thị trường xuất khẩu chủ yếu của dệt may Việt Nam
1.3.1 Giá trị xuất khẩu của ngành dệt may Việt Nam
Kim ngạch xuất khẩu dệt may Việt Nam tăng đều qua các năm và hiệntrở thành mặt hàng xuất khẩu có giá trị lớn thứ 2 của nước ta Năm 2013, kimngạch xuất khẩu dệt may Việt Nam đạt 17.9 tỷ USD, tăng 18.5% so với cùng
kì, chiếm 13.6% tổng kim ngạch xuất khẩu Việt Nam Nếu tính cả giá trị xuấtkhẩu xơ, sợi với 2.15 tỷ USD, tổng giá trị xuất khẩu dệt may và xơ, sợi năm
2013 đạt 20,05 tỷ USD, thấp hơn 1.15 tỷ USD so với nhóm hàng có kimngạch xuất khẩu lớn nhất là điện thoại và các loại linh kiện
Bảng 2.2 Kim ngạch xuất khẩu ngành dệt may Việt Nam
Năm Kim ngạch xuất khẩu ( tỷ
Trang 18Hình 2.4 Kim ngạch xuất khẩu ngành dệt may Việt Nam
Tăng trưởng
1.3.2 Thị trường xuất khẩu chính của dệt may Việt Nam
Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản và Hàn Quốc là 4 đối tác nhập khẩu hàng dệtmay lớn nhất của Việt Nam Năm 2013, tổng kim ngạch hàng dệt may xuấtsang 4 thị trường này đạt 15.3 tỷ USD, chiếm tới 85.5% tổng kim ngạch xuấtkhẩu hàng dệt may của cả nước Đặc biệt, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt mayvào thị trường Hoa Kỳ liên tục tăng mạnh qua các năm và đạt 8.6 tỷ USDtrong năm 2013, chiếm 48% tổng kim ngạch xuất khẩu của dệt may ViệtNam Đồng thời trong số các nhóm hàng của Việt Nam xuất sang thị trườngHoa Kỳ, hàng dệt may đứng đầu với tỷ trọng chiếm 38%
Trang 19Bảng 2.3 Cơ cấu xuất khẩu hàng dệt may vào các thị trường chính
2 Sự tham gia của ngành dệt may Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu 2.1 Hoạt động cung cấp nguyên phụ liệu
Tại Việt Nam hiện nay, hoạt động cung cấp nguyên liệu thô mới giớihạn trong hoạt động trồng bông, trồng dâu – nuôi tằm và xơ sợi tổng hợp.Trong đó, hoạt động trồng bông đang từng bước được cải thiện, hoat động sảnxuất xơ sợi tổng hợp mới đi vào hoạt động từ năm 2011 và hoạt động trồngdâu – nuôi tằm đang ngày càng bị thu hẹp
2.1.1 Đối với nguyên liệu bông:
Bông là nguồn nguyên liệu thiết yếu cho công nghiệp kéo sợi, dệt vải –yếu tố đầu vào của ngành dệt may Chất lượng bông quyết định một phần chấtlượng sợi và vải Hoạt động trồng bông phát triển theo hai hình thức chính là
Trang 20mô hình phân tán và mô hình tập trung; trong đó 80% diện tích trồng bôngphân tán trong các hộ nông dân Sản lượng bông 5 năm trở lại đây tăng trưởngchậm, gần như dậm chân tại chỗ.
Bảng 2.4 Sản lượng trồng bông qua các năm
2.1.2 Đối với nguyên liệu tơ tằm
Tơ tằm là nguồn nguyên liệu để làm lụa tơ tằm – một trong những chấtliệu được ưa chuộng trên thế giới Theo phương thức này, người sản xuất bắtđầu từ nuôi tằm tạo kén, sau đó tiến hành ươm tơ thành sợi tơ tằm, cuối cùng
là bước se sợi thành các loại vải khác nhau Ở nước ta, ngành dâu tằm là mộttrong những ngành truyền thống lâu đời và phụ thuộc nhiều vào điều kiện tựnhiên để phát triển Những vùng trồng dâu, nuôi tằm tập trung chủ yếu tại cáclàng nghề truyền thống tại Yên Bái, Thái Bình, Vĩnh Phúc, Quảng Nam, LâmĐồng…
Tuy nhiên, giống như ngành bông, hoạt động sản xuất nguyên liệu tơtằm gặp phải một số khó khăn nhất định Cụ thể là:
Trang 21 Diện tích trồng dâu phục vụ nuôi tằm đang dần bị thu hẹp do việc pháttriển các công trình xây dựng Các hộ trồng dâu sản xuất phân tán, chưa có sựphát triển tập trung theo mô hình trang trại quy mô lớn;
Khoa học kỹ thuật chưa được áp dụng trong sản xuất Từ việc kéo kén,ươm tơ đến xe tơ đều sử dụng phương pháp thủ công, thô sơ theo truyềnthống Do vậy, năng suất không cao mà chi phí lại tốn kém dẫn đến giá thànhsản phẩm khó cạnh trạnh trên thị trường;
Kén tằm sau khi được các hộ nông dân thu hoạch để tới nhà máy sảnxuất trải qua nhiều bên trung gian Mối liên kết hợp tác, hỗ trợ giữa doanhnghiệp và hộ nông dân chưa hình thành Doanh nghiệp khó tránh khỏi tìnhtrạng bị động phải nhập nguyên liệu từ nước ngoài
2.1.3 Đối với nguyên liệu sợi tổng hợp
Trước đây, Việt Nam phải nhập khẩu hoàn toàn sợi tổng hợp Bướcsang thời kỳ tăng tốc, ngành dệt may đã kết hợp với Tập đoàn Dầu khí quốcgia Việt Nam đầu tư 320 triệu USD xây dựng nhà máy sản xuất xơ polyesterÐình Vũ (Hải Phòng), công suất 175.000 tấn/năm Cùng với dự án xây dựngNhà máy sản xuất xơ Fomosa (Ðài Loan) tại KCN Nhơn Trạch, công suất60.000 tấn/năm, dự kiến đến 2015, sản xuất xơ trong nước sẽ đáp ứng được80-90% nhu cầu xơ của ngành dệt may
Từ ngày 20/7/2011, nhà máy sản xuất polyester Đình Vũ đón lô sảnphẩm đầu tiên Công suất của nhà máy có thể đáp ứng từ 30 - 40% nhu cầu xơsợi của thị trường trong nước Sản phẩm của Nhà máy xơ sợi Polyester Đình
Vũ hoàn toàn đủ điều kiện xuất khẩu và đủ sức cạnh tranh trong khu vực,cũng như trên thị trường quốc tế
Có thể thấy, đầu tư vào sản xuất sợi tổng hợp cần tới nguồn vốn lớn vàkhoa học công nghệ hiện đại Chính đặc điểm này đã hạn chế sự tham gia củacác doanh nghiệp dệt may vừa và nhỏ trong nước
Trang 222.2 Công đoạn sản xuất nguyên phụ liệu
2.2.1 Hoạt động kéo sợi
Kéo sợi là quá trình sử dụng nguyên liệu thô chuyển đổi thành xơ sợiphục vụ cho hoạt động dệt, nhuộm hoàn tất Ngành sợi Việt Nam có sự pháttriển nhanh chóng trong thời gian qua Những năm gần đây, Việt Nam là mộttrong rất ít quốc gia tại châu Á đã mở rộng hoạt động sản xuất của ngành kéosợi, với chỉ từ 2 triệu cọc sợi năm 2000 đã tăng lên hơn 5,1 triệu cọc sợi năm
2012 Kéo sợi là khâu thâm dụng đất đai nhà xưởng, đồng thời là một trongnhững hoạt động thâm dụng vốn nhất trong toàn bộ chuỗi cung ứng bởi chiphí mua sắm trang thiết bị, máy móc và công nghệ Hiện nay tại Việt Nam,các máy móc, trang thiết bị phục vụ cho ngành kéo sợi đều phải nhập khẩu từnước ngoài Phần lớn các doanh nghiệp sợi là những doanh nghiệp FDI vớitiềm lực tài chính mạnh Tuy nhiên, với xu hướng cung cấp dịch vụ trọn gói
từ thị trường thế giới và yêu cầu tăng tỉ lệ nội địa hóa của ngành, các doanhnghiệp dệt may trong nước đầu tư ngày càng nhiều hơn vào các dự án kéo sợi,điển hình là Tập đoàn Dệt may Việt Nam Số liệu thống kê dưới đây cho thấy
xu hướng tiếp tục phát triển của ngành kéo sợi Việt Nam
Bảng 2.5 Sản lượng ngành kéo sợi Việt Nam qua các năm
Số lượng sợi (cọc) 3.650.000 4.500.000 5.100.000 6.100.000
Sản xuất sợi từ bông và
polyester/tơ nhân tạo
(mét tấn)
Trang 23Hình 2.6 Kim ngạch xuất khẩu xơ sợi Việt Nam giai đoạn 2011 – 2013:
0 100 200 300 400 500 600 700 800
Nghìn tấn
2.2.2 Hoạt động dệt, nhuộm và hoàn tất
Hoạt động dệt, nhuộm và hoàn tất đòi hỏi trang thiết bị máy móc vàcông nghệ với yêu cầu và kỹ thuật cao hơn khâu kéo sợi Trái ngược với sựphát triển của ngành kéo sợi, ngành dệt, nhuộm và hoàn tất lại chưa phát triểnđược như mong đợi Mặc dù có vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguyênliệu đầu vào, sản lượng ngành dệt không đáp ứng đủ nhu cầu của ngành dệtmay Năm 2010, ngành dệt sản xuất khoảng 1,1 tỷ m2 sản phẩm dệt thoi, 150-200.000 tấn sản phẩm dệt kim và thực hiện nhuộm in hoàn tất khoảng 800triệu m2 nhưng mới chỉ đáp ứng được khoảng 20 – 30% nhu cầu trong nước.Bên cạnh sản lượng không đủ thì chất lượng vải dệt cũng chưa đáp ứng đượcyêu cầu về sản xuất hàng may mặc của các doanh nghiệp xuất khẩu mà mớichỉ phục vụ được phần nào thị trường nội địa
Hoạt động sản xuất phụ liệu cũng gặp khó khăn tương tự Khác vớinhững nguyên liệu chính như vải, sợi hàm lượng giá trị phụ liệu trong sảnphẩm may mặc là rất nhỏ, chỉ chiếm khoảng 2% giá trị sản phẩm Vì vậy, quy
mô đầu tư đòi hỏi phải rất lớn mới có thể mang lại hiệu quả cho doanhnghiệp Ngoài ra, công nghệ sản xuất, nguồn nhân lực, áp lực đáp ứng các tiêuchí về môi trường và đặc biệt là vấn đề vốn đang là những thách thức khôngnhỏ với các doanh nghiệp sản xuất phụ liệu trong nước bởi so với dự án may,
dự án sản xuất nguyên phụ liệu thường có tổng mức đầu tư cao gấp 5 lần