Truyền thông tôn giáo từ năm 1990 đến nay (qua nghiên cứu trường hợp Phật giáo và Công giáo)
Trang 1HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THÚY HÀ
truyền thông tôn giáo từ năm 1990 đến
nay (qua khảo sát trờng hợp phật giáo và
công giáo)
Chuyờn ngành : Tụn giỏo học
Mó số : 62.22.90.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TễN GIÁO HỌC
Người hướng dẫn khoa học: 1 TS NGUYỄN QUỐC TUẤN
2 PGS.TS PHẠM MINH SƠN
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu này là của riêng tôi; Các số liệu nêu trong luận án tiến sĩ là trung thực Những kết luận khoa học luận án tiến sĩ của tôi chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ
Nguyễn Thúy Hà
Trang 31.1.1 Các tư liệu, tài liệu liên quan gần đến đề tài luận án 61.1.2 Nguồn tư liệu liên quan trực tiếp đến đề tài luận án 8
1.2.1 Những vấn đề lý luận chung về truyền thông 91.2.2 Những vấn đề về truyền thông tôn giáo nói chung 131.2.3 Những vấn đề về truyền thông Công giáo và Phật giáo 161.2.4 Vấn đề thực trạng truyền thông tôn giáo ở Việt Nam 21
1.3 Những vấn đề nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án và định
1.3.1 Những vấn đề nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 241.3.2 Định hướng nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài luận án 26
Chương 2: TÔN GIÁO, CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM VÀ
2.1 Tôn giáo và quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà
2.1.2 Quan điểm, chính sách đối với tôn giáo của Đảng và Nhà
nước ta trong thời kỳ đổi mới đất nước 40
2.2.3 Chức năng của truyền thông tôn giáo 60
Chương 3: THỰC TRẠNG TRUYỀN THÔNG TÔN GIÁO CỦA ĐẢNG
VÀ NHÀ NƯỚC TA QUA KHẢO SÁT TRƯỜNG HỢP PHẬT
Trang 4cho cán bộ và chức sắc, tín đồ các tôn giáo thực hiện tốtquan điểm, chính sách, pháp luật về tôn giáo của Đảng và
3.1.2 Truyền thông tôn giáo đã góp phần tuyên truyền về công
tác tôn giáo, về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn
3.1.3 Truyền thông tôn giáo tích cực cổ vũ đồng bào các tôn
giáo đóng góp sức người, sức của xây dựng quê hươngđất nước, xây dựng đời sống văn hóa mới ở khu dân cư,
3.1.4 Truyền thông tôn giáo là vũ khí sắc bén để phản bác lại
những luận điệu xuyên tạc về tình hình tôn giáo và chínhsách tôn giáo ở Việt Nam của các thế lực thù địch 88
3.2 Hiệu quả truyền thông tôn giáo của Đảng và Nhà nước từ phương
diện đối tượng là tín đồ, chức sắc Phật giáo, Công giáo ở Hà Nội và
3.2.2 Thông tin về người Việt với truyền thông tôn giáo 94
3.2.5 Thông tin đánh giá về báo và tạp chí đưa tin về tôn giáo 1013.2.6 Thông tin đánh giá về truyền hình đưa tin về tôn giáo 105
3.3 Những khó khăn, hạn chế trong công tác truyền thông tôn giáo của
3.3.2 Đánh giá thực trạng công tác tuyên truyền 114
Chương 4: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ KHUYẾN NGHỊ NHẰM
NÂNG CAO HIỆU QUẢ TRUYỀN THÔNG TÔN GIÁO Ở
4.1 Những vấn đề đặt ra đối với truyền thông tôn giáo ở nước ta hiện nay 1184.1.1 Chủ thể truyền thông tôn giáo của hệ thống chính trị cần
nâng cao năng lực và trách nhiệm trong việc xây dựng, hoàn
thiện chính sách, pháp luật về tôn giáo phù hợp với tình hình
trong nước, quốc tế và đúng với quan điểm của Đảng 118
Trang 5đều của nhân dân ta 1194.1.3 Truyền thông tôn giáo đặt trong quá trình giải quyết mâu
thuẫn giữa sự chia rẽ dân tộc, chống phá chế độ của các thế
lực xấu, với việc tăng cường khối Đại đoàn kết toàn dân
4.1.4 Truyền thông tôn giáo của hệ thống chính trị luôn đòi hỏi sự
phối hợp thống nhất, chặt chẽ giữa các bộ, ngành, tổ chức,
nhưng hiện nay sự phối hợp đó còn lỏng lẻo, chồng chéo và
4.2 Khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của truyền
4.2.1 Đảng và Nhà nước cần có chiến lược quy hoạch phát triển
một hệ thống truyền thông tôn giáo của hệ thống chính trị
đủ mạnh, đáp ứng yêu cầu xã hội trong bối cảnh toàn cầu
4.2.2 Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước
đối với công tác truyền thông tôn giáo 1254.2.3 Đổi mới nội dung và hình thức truyền thông tôn giáo 1294.2.4 Bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ cán bộ, cộng tác viên, tuyên
truyền viên làm công tác truyền thông tôn giáo 137
Trang 6Biểu đồ 3.5: Thông tin về Phật giáo nói chung mà bản thân quan tâm 99
Biểu đồ 3.6: Thể loại, hình thức thông điệp về Phật giáo yêu thích
Biểu đồ 3.8: Đánh giá về việc đáp ứng nhu cầu thông tin về tôn giáo
nói chung trên báo và tạp chí phát hành ở địa phương 101
yêu thích trong các tờ báo, tạp chí 103
Biểu đồ 3.10: Đánh giá báo Đại đoàn kết, Giác ngộ đưa tin về tôn
Biểu đồ 3.11: Mức độ thường xuyên xem truyền hình trong tháng
Biểu đồ 3.18: Tôn giáo nói chung: Thể loại/ hình thức thông điệp
Biểu đồ 3.19: Đánh giá kênh truyền hình đưa tin về tôn giáo nói chung 111
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo, với 24 triệu người có đạo, chiếm27% dân số cả nước và đến nay đã có 13 tôn giáo, với gần 40 tổ chức tôn giáođược Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân và cấp đăng ký hoạt động Cáctôn giáo ở nước ta có gần 82.000 chức sắc và nhà tu hành; hơn 250.000 chứcviệc và trên 25.000 cơ sở thờ tự, cùng một hệ thống các học viện, trường đàotạo những người hoạt động tôn giáo chuyên nghiệp [18]
Từ khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng, Nhà nước ta có nhiềuchủ trương, chính sách đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho nhân dân
Để đưa chính sách, pháp luật tôn giáo của Đảng, Nhà nước vào cuộc sống, đồngthời phản ảnh kịp thời tình hình tôn giáo quốc gia và quốc tế, cũng như các hoạtđộng truyền đạo, hành đạo và quản đạo của chức sắc, tín đồ các tôn giáo ở nước
ta, công tác truyền thông tôn giáo đóng vai trò rất quan trọng
Những năm qua, công tác truyền thông tôn giáo đã được Đảng, Nhànước thường xuyên quan tâm Sự quan tâm đó được thể hiện ở nhiều phươngdiện, từ việc thành lập các tờ báo, tạp chí, mở rộng các phương tiện truyềnthông đại chúng, cho đến đa dạng hóa nội dung truyền thông tôn giáo Trong
đó, một số tôn giáo, như Phật giáo, Công giáo, cũng đã được Nhà nước chấpthuận cho ra báo, tạp chí của mình Các báo, tạp chí, phát thanh và truyềnhình đã đưa thông tin chính thống một cách nhanh chóng, chính xác đến mọiđối tượng, trong đó có hàng triệu đồng bào tôn giáo là người Việt Nam ởtrong và ngoài nước Chủ thể truyền thông, nhất là Đảng và Nhà nước, đãđịnh hướng dư luận trên lĩnh vực tôn giáo, giúp người dân có và không có tôngiáo nhận thức đúng đắn về thực chất của tình hình tín ngưỡng, tôn giáo; vềquan điểm, chính sách tôn giáo trước sau như một của Đảng và Nhà nước.Qua đó cũng góp phần quan trọng vào công tác đấu tranh chống những luậnđiệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực xấu lợi dụng vấn đề tôn giáo để chống
Trang 8phá cách mạng, góp phần củng cố khối Đại đoàn kết toàn dân tộc, vì mục tiêudân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh Nhờ vậy, đờisống tôn giáo đã có đóng góp không nhỏ cho sự phát triển của các lĩnh vựckinh tế, văn hoá, xã hội và chính trị thời kỳ đất nước đổi mới.
Tuy vậy, thực tiễn đa dạng của đời sống tôn giáo đã và đang yêu cầucông tác truyền thông tôn giáo nói chung và truyền thông về chính sách, phápluật tôn giáo nói riêng của hệ thống chính trị Việt Nam đã và đang đặt ra nhiềuvấn đề cần phải được quan tâm giải quyết cả về trước mắt cũng như lâu dài Đólà: nhận thức về truyền thông tôn giáo hiện nay cần nâng cao hơn nữa cả về tínhkhách quan khoa học và tính đảng; các vấn đề thông tin sao cho khách quan vàcập nhật hơn; các thông điệp cần chính xác, rõ ràng hơn; chất lượng nội dung vàhình thức thông tin, thông điệp phù hợp hơn, sớm đến với các tầng lớp, cộngđồng đối tượng cụ thể; các phương tiện truyền thông cần đa dạng, hiện đại hơn
và nhất là, đội ngũ cán bộ làm công tác truyền thông phải có phẩm chất và nănglực cao hơn nữa Mặt khác, công tác quản lý nhà nước đối với truyền thông tôngiáo của các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam, cũng phải được đổi mới cả về nộidung và phương thức quản lý, sao cho phù hợp với sự phát triển của trình độcông nghệ thông tin đương đại, cũng như phù hợp với sự biến đổi mau lẹ của đờisống tôn giáo trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay
Tình hình đó đặt ra yêu cầu đối với chủ thể lãnh đạo, quản lý xã hộinước ta là phải nghiên cứu thấu đáo vấn đề truyền thông tôn giáo, để làm cơ
sở khoa học trực tiếp cho việc hoạch định và thực thi chính sách tôn giáo,nhằm bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôngiáo của nhân dân, góp phần củng cố khối Đại đoàn kết toàn dân tộc
Những vấn đề đặt ra trên đây và những yêu cầu đối với công táctruyền thông tôn giáo của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thểchính trị - xã hội thuộc hệ thống chính trị Việt Nam, đã thực sự trở thànhnhững vấn đề cấp bách cả về lý luận và thực tiễn hiện nay
Trang 9Nhận thức nghiêm túc về điều đó, nghiên cứu sinh lựa chọn và triển
khai đề tài: "Truyền thông tôn giáo từ năm 1990 đến nay (qua khảo sát trường hợp Phật giáo và Công giáo)", làm đề tài luận án tiến sĩ chuyên
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích trên đây, luận án có nhiệm vụ:
- Khái quát những vấn đề chung về tôn giáo, chính sách tôn giáo vàtruyền thông, định nghĩa và nghiên cứu vấn đề về truyền thông tôn giáo ởnước ta hiện nay
- Khảo sát thực trạng truyền thông về tôn giáo của Đảng và Nhà nướcqua khảo sát về vai trò, vị trí, phương thức, nội dung và tính hiệu quả, kết quảđối với tín đồ, chức sắc Phật giáo và Công giáo, với tư cách là đối tượngtruyền thông tôn giáo của Đảng và Nhà nước
- Rút ra một số nhận xét về vấn đề nổi cộm đặt ra từ truyền thông tôngiáo của Đảng, Nhà nước và khuyến nghị có tính giải pháp đối với công táctruyền thông tôn giáo để đạt hiệu quả cao
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Tập trung làm rõ về trường hợp truyền thông tôn giáo với chủ thể là:(1) chủ yếu là các cơ quan truyền thông của Đảng và Nhà nước, (2) giáo hội
Trang 10Công giáo và Phật giáo, qua một số báo, tạp chí, kênh truyền thông; đối tượngtiếp nhận truyền thông là tín đồ, chức sắc tôn giáo, qua Phật giáo và Cônggiáo, từ việc họ tiếp nhận, đánh giá nội dung, hiệu quả truyền thông đó là vấn
đề tôn giáo, chính sách, pháp luật tôn giáo, chất lượng, hiệu quả truyền thông
và các phương tiện truyền thông
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về không gian, chủ yếu tập trung nghiên cứu vấn đề hiệu quả truyền
thông tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta, qua nhận thức của các đối tượng làtín đồ, chức sắc Phật giáo và Công giáo ở Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội
Về thời gian, nghiên cứu vấn đề truyền thông tôn giáo từ năm 1990
đến nay, khi có Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 16/10/1990, của Bộ Chính
trị, Về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của luận án, đó là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và những thành quả nghiên cứu lý luận đã đạtđược trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam và lĩnh vực truyền thông
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận án được triển khai trong sự vận dụng phương pháp luận của chủnghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; các phương phápnghiên cứu chuyên ngành tôn giáo học và liên ngành, như truyền thông học,
xã hội học, sử học, văn hóa học và chính trị học
5 Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận án
- Luận án xây dựng và phân tích khái niệm truyền thông tôn giáo dướigóc độ của khoa học liên ngành, đó là truyền thông học và tôn giáo học
- Luận án thông qua việc khảo sát xã hội học nhận thức của tín đồ, chứcsắc đạo Công giáo và Phật giáo để làm sáng tỏ chất lượng và hiệu quả củatruyền thông tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta
Trang 11- Luận án đề xuất khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quảcủa truyền thông tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta hiện nay.
6 Ý nghĩa thực tiễn của luận án
- Luận án là một đóng góp đáng kể, khi được sử dụng trong công táctôn giáo nói chung và công tác truyền thông tôn giáo nói riêng ở Việt Nam
- Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu
và giảng dạy bộ môn tôn giáo học và truyền thông học về tôn giáo tại các họcviện, các trường đại học khoa học xã hội ở nước ta
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo vàphụ lục, luận án có kết cấu chủ yếu gồm 4 chương, 13 tiết
Trang 12Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 TỔNG QUAN TƯ LIỆU, TÀI LIỆU VỀ TRUYỀN THÔNG TÔN GIÁO
1.1.1 Các tư liệu, tài liệu liên quan gần đến đề tài luận án
Các tư liệu, tài liệu liên quan gián tiếp đến đề tài luận án bao gồm cácsách chuyên khảo, kỷ yếu hội thảo, các bài đăng trong tạp chí chuyên ngành,các văn bản của Đảng và Nhà nước ta… mà tác giả đã tham khảo trong quátrình triển khai đề tài luận án Dưới đây là một số tư liệu, tài liệu tiêu biểu
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu cơ bản về tôn giáo đương đại,
tiêu biểu như: A Toffler (1990), Làn sóng thứ ba; Huntington (2001), Sự va
chạm của các nền văn minh; A Malreaux (2000), Sự quay trở lại của tâm thức tôn giáo và thế kỷ XXI là thế kỷ của tâm linh); Linda Woodhead (2011), Religions in the Modern World; GS TS Đỗ Quang Hưng (2010), Toàn cầu hóa tôn giáo - Khái niệm, biểu hiện và vấn đề đặt ra,…
Các công trình này, bên cạnh những dự báo về những biến đổi vôcùng to lớn của thế giới hôm nay và ngày mai, trong đó đã đưa ra những phântích sâu sắc, thuyết phục về tình hình tôn giáo nói chung và một số tôn giáolớn của thế giới, như đạo Công giáo, Hồi giáo… Đây thực sự là những khámphá mới, có nhiều giá trị về nhận thức và thực tiễn
Thứ hai, các tác phẩm nghiên cứu sâu về Phật giáo và Công giáo: Lưu
Bành (2002) Mười tôn giáo lớn trên thế giới; Dương Phượng Cương (2006),
Ba thị trường màu sắc tôn giáo Trung Quốc; Giác Dũng (2002), Lịch sử Phật giáo Nhật Bản; Lê Tâm Đắc (2010), Một số nhân vật tiêu biểu trong phong trào chấn hưng Phật giáo ở Châu Á cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX; Hoàng
Văn Chung (2011), bài Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo số 2, Giới thiệu về tôn
Trang 13giáo ở Hàn Quốc; Tòa Thánh Vatican (2010), Niên giám của Tòa thánh về số lượng và chất lượng đội ngũ giáo sĩ Kitô giáo trên thế giới…
Các công trình đó đã đi sâu nghiên cứu về Phật giáo và Công giáo trênthế giới và ở Việt Nam thời hiện đại Trong đó khẳng định: Công giáo có xuthế phát triển mạnh, thậm chí lấn át cả Phật giáo và sự thay đổi đáng kể về tổchức Giáo hội, trong đó cơ quan truyền thông được xem trọng Còn Phật giáo,nhất là ở Việt Nam, luôn được xem là gắn bó chặt chẽ với dân tộc, được coi lànhững di sản văn hóa quan trọng, cần được truyền thông quảng bá rộng rãi.Hoặc nguời Hàn Quốc, với tư duy cởi mở, khoan dung tôn giáo, đã liên tụcthu nhận tôn giáo nước ngoài và sáng tạo những tư tưởng tôn giáo cùng vớicách thực hành của riêng mình Các tác giả đều đi đến khẳng định, tôn giáo đãgóp phần hình thành nên diện mạo văn hóa hiện nay, vừa đa dạng, vừa sốngđộng, rất truyền thống và cũng không kém phần hiện đại, thể hiện ở mọi hoạtđộng, trong đó có hoạt động truyền thông
Thứ ba, các văn bản của Đảng và Nhà nước về tôn giáo và chính sách,
pháp luật tôn giáo, Đảng Cộng sản Việt Nam (1990), Nghị quyết số 24-NQ/TW
về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới; Đảng Cộng sản Việt
Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương
khóa VIII về xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc; Đảng
Cộng sản Việt Nam (1998), Chỉ thị số 37/ CT-TW của Bộ Chính trị về công
tác tôn giáo trong tình hình mới; Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa IX, về công tác tôn giáo;
Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2004), Pháp lệnh số 21/2004/PL-UBTVQH11,
Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo; Chính phủ (2005), Nghị định số 22/2005/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo; Chính phủ (2012), Nghị định số 92/2012/NĐ-CP quy định chi tiết
và biện pháp thi hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo.
Các văn bản trên đây mang tính định hướng, chỉ đạo, giải thích,hướng dẫn và giải quyết trong đời sống tôn giáo và đối với công tác tôn giáo
Trang 14của hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay Trong đó có những tư tưởng, quanđiểm chỉ đạo, đánh giá và hướng dẫn đối với ngành truyền thông của Đảng,Nhà nước ta về tôn giáo
1.1.2 Nguồn tư liệu liên quan trực tiếp đến đề tài luận án
Thứ nhất, những tài liệu về truyền thông nói chung
Nguyễn Ngọc Sơn (10/2006), Vài nét về hiện trạng truyền thông xã
hội tại Việt Nam; Phạm Minh Sơn, Nguyễn Thị Quế (2010), Truyền thông đại chúng trong công tác Thông tin đối ngoại của Việt Nam hiện nay, Nxb Chính
trị - Hành chính, Hà Nội; Nữ tu Mai Thành (2009), Tiến trình phát triển
ngành truyền thông điện tử, trang web: www.vietvatican.net.
Thứ hai, những tài liệu liên quan đến truyền thông tôn giáo nói chung.
Tiêu biểu là: Hoàng Thị Thùy Dương (2010), Hoạt động truyền thông về vấn
đề tôn giáo trên báo in Việt Nam hiện nay; Trần Lưu (2001), Báo chí hiện Việt Nam hiện nay với vấn đề tôn giáo- tín ngưỡng
Thứ ba, những tài liệu liên quan đến truyền thông tôn giáo của Đảng
và Nhà nước ta Có thể kể ra: GS Đặng Nghiêm Vạn (1998), Những vấn đề
lý luận và thực tiễn tôn giáo ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội;
Nguyễn Đức Lữ, chủ biên (2008), Lý luận về tôn giáo và chính sách tôn giáo
ở Việt Nam, Nxb Tôn giáo, Hà Nội; Đỗ Quang Hưng (2008), Vấn đề tôn giáo trong cách mạng Việt Nam lý luận và thực tiễn, Nxb Tôn giáo, Hà Nội; Ngô
Hữu Thảo (2012), Công tác tôn giáo từ quan điểm Mác - Lênin đến thực tiễn
Việt Nam, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội; Nguyễn Quốc Tuấn, chủ
nhiệm, (2012), Đặc điểm và vai trò của phật giáo Việt Nam ở thế kỷ 20, đề tài nghiên cứu khoa học
Thứ tư, những tài liệu liên quan đến truyền thông tôn giáo của Phật
giáo và Công giáo ở Việt Nam: Lại Trọng Bình (1996), Thử tìm hiểu những
tờ báo Công giáo hiện nay; Phạm Minh Đức (1997), Hiện trạng tình hình
Trang 15Đạo Công giáo Việt Nam hiện nay trên báo chính nghĩa và người Công giáo Việt Nam; Lê Đình Bảng (2009), Hành trình 100 năm báo chí Công giáo Việt Nam, Hà Nội, Nxb Tôn Giáo; Hòa thượng Thích Gia Quang (2/2013), Truyền thông - phương tiện hữu hiệu nhất truyền tải Chính pháp, Vietnamnet.vn;
Ngọc Lan (2009), Luân Lý Mạng, Báo Hiệp Thông (Bản tin của Hội đồng
Giám mục Việt Nam) số 51, 2008 và số 52; Hội đồng Toà thánh về Truyền
thông xã hội, Đạo đức trong Truyền thông, Roma, 2002, Số 1; Minh Thạch (2010), Diện mạo phiến diện của truyền thông Phật giáo Việt Nam hiện đại, Tập san Pháp luân 74; An Thư (2/2013), Truyền thông - "Phép nhiệm màu" để
Phật pháp đến với đại chúng, Vietnamnet.vn; Phạm Nhật Vũ (2010), Truyền thông Phật giáo Việt Nam sẽ làm gì?, website Kienthuc.net.vn;
Các công trình trên đã đưa ra quan niệm về truyền thông, truyền thôngđại chúng nói chung và vai trò của truyền thông trong xã hội hiện đại Nócũng đề cập tới truyền thông tôn giáo với chủ thể là các tổ chức tôn giáo ViệtNam và Đảng, Nhà nước ta Đồng thời cũng có các công trình luận bàn vềtruyền thông của các tôn giáo cụ thể, song chủ yếu là của Phật giáo và đạoCông giáo Một số tài liệu đó đã có những đánh giá về hiện trạng truyền thông
xã hội và truyền thông tôn giáo ở Việt Nam hiện nay
1.2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
1.2.1 Những vấn đề lý luận chung về truyền thông
Vấn đề lý luận cơ bản về truyền thông đã được nhiều công trìnhnghiên cứu, trở thành nền tảng lý luận cho việc nghiên cứu về truyền thôngtôn giáo Có thể kể đến những nghiên cứu sau:
- Giáo trình khoa học về truyền thông (2010), Học viện Báo chí và
Tuyên truyền Giáo trình này đã đưa ra các quan niệm, các định nghĩa vềtruyền thông nói chung, từ đó đi sâu luận giải về truyền thông học, với cácphân tích về nội hàm và ngoại diên khái niệm khoa học về truyền thông Đây
Trang 16là tư liệu có ý nghĩa là cơ sở trực tiếp để tác giả luận án kế thừa, phát triểnnhằm xây dựng khái niệm truyền thông tôn giáo.
- Tạ Ngọc Tấn (2001), “Truyền thông đại chúng”, NXB Chính trị
quốc gia Cuốn sách này nằm trong chương trình đào tạo bậc cử nhân chuyênngành quản lý tư tưởng - văn hóa của Học viện Báo chí và Tuyên truyền.Cuốn sách đã cung cấp cho người học những nhận thức cơ bản về một hệthống các khái niệm truyền thông và những vấn đề về truyền thông trong xãhội hiện đại; đưa ra những nguyên tắc lãnh đạo, quản lý, nhằm phát huyngành truyền thông ở Việt Nam hiện nay Đây là tư liệu có ý nghĩa địnhhướng, giúp cho nghiên cứu sinh có cơ sở kế thừa phát triển để định nghĩa,luận giải về nội hàm ngoại diên khái niệm truyền thông tôn giáo
- Ngọc Lan (2007), "Truyền thông Công giáo Việt Nam - Cơ hội hay
Thách đố?", Báo Hiệp Thông (Bản tin của Hội đồng Giám mục Việt Nam)
số 42, 43 Tác giả là nữ tu của đạo Công giáo, đã đánh giá đặc biệt cao về cácphương tiện truyền thông nói chung Theo tác giả, trong số những thành tựu quantrọng nhất mà loài người đạt được gần đây, thì sự phát triển nhảy vọt của kỹthuật truyền thông là một hiện tượng gây kinh ngạc và có những ảnh hưởngmạnh mẽ nhất Bên cạnh sự cải tiến không ngừng về tốc độ, dung lượng và tính
đa dạng, các phương tiện truyền thông tăng nhanh khả năng chuyển tải lẫnchất lượng kỹ thuật Những thay đổi ấy làm cho các phương tiện truyền thông
có khả năng lan xa và thấm sâu, làm thay đổi cả bản chất của xã hội cũng nhưđời sống tâm lý, các chuẩn mực văn hóa và những thói quen của con người
Từ đó, tác giả nhấn mạnh đến việc sử dụng các phương tiện truyềnthông phải đạt tới mục đích cao cả, khi đã dẫn ra tư tưởng của Giáo hoàngBênêđictô XVI: "Những công nghệ kỹ thuật như thế là một ân huệ đích thựccho nhân loại Bởi thế, chúng ta phải làm sao để những thuận lợi mà chúng manglại được phục vụ hết thảy mọi người và mọi cộng đồng, đặc biệt là những ngườinghèo túng và những người dễ bị thương tổn nhất." Tuy nhiên, phương tiện
Trang 17truyền thông cũng đặt ra rất nhiều thách đố cho con người Một thế giới ảođầy hấp dẫn đang đan xen với thế giới thực, gây nên những ảo tưởng dẫn đếnnhiều đổ vỡ và các vấn đề chưa từng có trước đây Tác giả khẳng định: kỹ thuậtcông nghệ tốt hoặc xấu, hoàn toàn tuỳ thuộc vào con người sử dụng Vậy,người sử dụng chúng phải tránh đưa ra những lời nói và hình ảnh làm mất phẩmgiá con người, và loại trừ những gì đang nuôi dưỡng lòng hận thù và sự bấtbao dung, những gì làm giảm giá vẻ đẹp và sự sâu kín của giới tính con người,những gì khai thác những người yếu đuối và những người dễ bị thương tổn
- TS Phạm Minh Sơn và PGS.TS Nguyễn Thị Quế (2010), Truyền
thông đại chúng trong công tác Thông tin đối ngoại của Việt Nam hiện nay,
Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội Công trình quan niệm "truyền thông" làmột hiện tượng xã hội phổ biến, một dạng hoạt động đặc thù của con người,tác động và liên quan đến mọi cá thể xã hội Truyền thông có rất nhiều quanniệm và định nghĩa khác nhau, tùy theo mỗi một góc nhìn Tác giả dẫn ra một
số quan niệm tương đối phổ biến, định nghĩa về truyền thông như sau:
+ Theo John R Hober (1954): truyền thông là quá trình trao đổi tưduy hoặc ý tưởng bằng lời
+ Martin P.Adelsm: truyền thông là quá trình liên tục, qua đó chúng tahiểu được người khác và làm cho người khác hiểu được chúng ta Đó là mộtquá trình luôn thay đổi, biến chuyển và ứng phó với tình huống
+ Quan niệm của Dean C.Barnlund (1964): truyền thông là quá trìnhliên tục nhằm làm giảm độ không rõ ràng để có thể có hành vi hiệu quả hơn
+ Theo Frank Dance (1970): truyền thông là quá trình làm cho cáitrước đây là độc quyền của một hoặc vài người trở thành cái chung của haihoặc nhiều người
+ Với S Schaehter: Truyền thông là một quá trình qua đó quyền lựcđược thể hiện và tính độc quyền tăng lên
Trang 18+ Còn Gerald Miler (1966): truyền thông về cơ bản quan tâm nhất đếntình huống hành vi, trong đó nguồn thông tin truyền nội dung tới người nhậnvới mục đích tác động đến hành vi của họ.
Từ đó, các tác giả định nghĩa: Truyền thông là một quá trình trao đổi
thông điệp giữa các thành viên hay các nhóm người trong xã hội nhằm đạt được sự hiểu biết lẫn nhau, nâng cao nhận thức, thay đổi thái độ, điều chỉnh hành vi theo hướng tích cực hóa đời sống thực tiễn [107, tr.7]
Theo các tác giả, truyền thông là một kiểu tương tác xã hội, ít nhất cóhai tác nhân tương tác lẫn nhau Dạng đơn giản, thông tin được truyền từngười gửi tới người nhận Truyền thông có cấu trúc gồm ba phần: nội dung,hình thức, mục tiêu và được chia thành các lĩnh vực khác nhau, như truyềnthông không bằng lời, truyền thông bằng lời và truyền thông biểu tượng.Truyền thông phát triển gắn liền với tiến bộ khoa học công nghệ
Nguyễn Văn Đệ (2011), Giới trẻ và truyền thông Công giáo
-Truyền thông báo chí và Intemid, bài thuyết trình tại Đại hội Giới Trẻ Giáo
tỉnh Hà Nội, http://tonggiaophanhue.net/home/index Tác giả đã tiếp cận đến:
Truyền thông là gì và phân tích về 03 yếu tố cấu thành truyền thông Một, chủ thể truyền thông và nội dung truyền thông Hai, phương tiện truyền thông,
vốn vô cùng phong phú, ngày càng tuyệt vời, kỳ diệu, vượt khỏi mọi trí tưởng
của nhiều người Ba, đối tượng và mục tiêu truyền thông, gồm: mọi thành
phần, tầng lớp xã hội, không phân biệt, giới hạn; đối tượng ưu tiên: giới tríthức, công nghệ, sinh viên học sinh, thương mại v.v Tác giả lưu ý đặc biệttới truyền thông khi đã đáp ứng, cung cấp, giúp cho trẻ thơ, thiếu nhi, họcsinh, sinh viên, nhưng cũng có nguy cơ gây ảnh hưởng tiêu cực, tai hại lớncho chúng nếu không được hướng dẫn, giúp phân biệt, lựa chọn cách khônngoan và hữu ích các chương trình muôn mặt của phương tiện truyền thông
Tác giả đã phân loại các loại hình phương tiện truyền thông dựa theotính chất và hình thức của nó Đó là: có nhiều loại hiện đại, với chất lượng và
Trang 19số lượng vô cùng phong phú; có loại truyền thông đơn giản, có loại phức tạp,
có loại bằng lời nói, có loại bằng cử chỉ, nét mặt, điệu bộ, diễn cảm, bằng biểutượng, qui định, qui ước với nhau; loại nghe, nhìn, xem cực nhanh, cực tốt;loại phổ biến, thông dụng, đáp ứng được mọi đối tượng, mọi trình độ; loại đặcbiệt được mọi người ưa thích, cách riêng các bạn trẻ, đang yêu, đó là điệnthoại cố định hay di động
Như vậy, đáng chú ý là, bàn về truyền thông nói chung không chỉ cócác học giả của "đời", mà còn có các nghiên cứu của chức sắc, tu sĩ tôn giáo
1.2.2 Những vấn đề về truyền thông tôn giáo nói chung
1.2.2.1 Nghị quyết, chỉ thị của Đảng và Nhà nước về truyền thông tôn giáo
- Đảng Cộng sản Việt Nam (1990), Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày
16/10/1990 về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới.
- Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ 5, Ban
Chấp hành Trung ương khóa VIII về xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Chỉ thị số 37/ CT-TW của Bộ Chính trị về công tác tôn giáo trong tình hình mới.
- Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy
Ban Chấp hành Trung ương khóa IX, về công tác tôn giáo, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội
- Ủy ban thường vụ Quốc hội (2004), Pháp lệnh số
21/2004/PL-UBTVQH11, Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo
- Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- Chính phủ (2012), Nghị định số 92/2012/NĐ-CP quy định chi tiết và
biện pháp thi hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo
Trang 20Các văn bản của Đảng và Nhà nước trên đây, phần nói về vấn đề tôngiáo, đều có đề cập tới chủ trương, nhiệm vụ, giải pháp của công tác tôn giáocần phải đưa chính sách, pháp luật tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta vàotrong đời sống xã hội; giáo dục, tuyên truyền, giải thích cho cán bộ, nhân dân
và cho chức sắc, tín đồ các tôn giáo Như vậy có thể thấy các văn bản vềchính sách, pháp luật tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta cũng đã đề cập tớivấn đề truyền thông tôn giáo Chính vì thế, việc này được nghiên cứu sinhnhận thức từ phương diện nó là truyền thông tôn giáo mà chủ thể truyền thông
là chủ thể lãnh đạo, quản lý xã hội
1.2.2.2 Các công trình khoa học về truyền thông tôn giáo
Các công trình đề cập tới vấn đề truyền thông tôn giáo, có thể kể ra:
- Đặng Nghiêm Vạn (1998), Những vấn đề lý luận và thực tiễn tôn
giáo ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
- Nguyễn Đức Lữ, chủ biên (2008), Lý luận về tôn giáo và chính sách
tôn giáo ở Việt Nam, Nxb Tôn giáo, Hà Nội.
- Đỗ Quang Hưng (2008), Vấn đề tôn giáo trong cách mạng Việt Nam
lý luận và thực tiễn, Nxb Tôn giáo, Hà Nội.
- Ngô Hữu Thảo (2012), Công tác tôn giáo từ quan điểm Mác - Lênin
đến thực tiễn Việt Nam, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội
Các tác phẩm trên có nội dung rất phong phú về vấn đề tôn giáo vàchính sách tôn giáo, như sự phát triển quan điểm, đường lối tôn giáo củaĐảng và Nhà nước ta từ 1945 đến nay; đề cập đến mối quan hệ giữa nhà nướcvới tổ chức Giáo hội tôn giáo; nội dung, bối cảnh quốc tế của vấn đề tôn giáo
ở Việt Nam thế kỷ XX; chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tôngiáo Trong đó, về các phương hướng và giải pháp giải quyết vấn đề tôn giáo,
các tác giả thường có yêu cầu về công tác truyền thông tôn giáo của Đảng và
Trang 21Nhà nước, coi đó là một nội dung quan trọng của quá trình lãnh đạo, quản lý
xã hội của Đảng và Nhà nước
Tất nhiên ở đây, vấn đề truyền thông tôn giáo chưa được các côngtrình luận giải với tính cách như là lý luận về truyền thông tôn giáo, mà chủyếu là từ góc độ vai trò của các phương tiện truyền thông đại chúng, của chứcnăng các cơ quan tuyên truyền, vận động quần chúng tín đồ, chức sắc tôn giáocủa hệ thống chính trị ở nước ta
- Nguyễn Ngọc Sơn (2005), Vài nét về hiện trạng truyền thông xã hội
Việt Nam, Niên Giám Giáo hội Công giáo Việt Nam, Nxb Tôn giáo, Hà Nội.
Là một linh mục Công giáo, tác giả đã có cái nhìn duy tâm về nguồn gốc củatruyền thông, khi cho rằng, truyền thông không chỉ là một nhu cầu tự nhiêncủa con người mà còn là một mầu nhiệm siêu việt của người tín hữu muốnbước theo Đức Giêsu Kitô Chính Ngài là nhà truyền thông đầu tiên và gươngmẫu đã trao ban cả con người như một thông điệp để thắt chặt mối tươngquan giữa Thiên Chúa với con người và vũ trụ vật chất Ngài đón nhận tất cảnhững gì của con người và vũ trụ vật chất tiềm ẩn trong đó, chỉ trừ tội lỗi, đểcho ta được tháp nhập vào thiên tính và trở nên một với Ngài
- Hoàng Thị Thùy Dương (2010), Luận văn "Hoạt động truyền thông
về vấn đề tôn giáo trên báo in Việt Nam hiện nay" Tác giả cho thấy mối quan
hệ giữa báo chí và đời sống tôn giáo ở nước ta Mối quan hệ này được thểhiện rõ trong việc tác giả phân tích hai tờ báo: báo Nhân dân và Tuổi trẻ, đãđưa lại một cách nhìn toàn diện và mới mẻ về vấn đề tôn giáo Từ đó làm chomỗi người nhận thức rõ ràng hơn về vai trò, nhiệm vụ, chức năng của báo chítrong việc phản ánh chân thực và sinh động đời sống của cộng đồng tín đồ,chức sắc các tôn giáo ở Việt Nam Tác giả yêu cầu những người có tráchnhiệm trong các tôn giáo nên ý thức được tầm quan trọng của truyền thông vàảnh hưởng của nó trong đời sống cộng đoàn cũng như cá nhân tín hữu
Trang 22- Nguyễn Văn Đệ (2011), Giới trẻ và truyền thông Công giáo
-Truyền thông báo chí và Intemid, bài thuyết trình tại Đại hội Giới Trẻ Giáo
tỉnh Hà Nội, http://tonggiaophanhue.net/home/index Theo tác giả, ThiênChúa đã truyền thông với con người ngay từ sáng thế và sẽ không ngừngtruyền thông với con người Đức Kitô là một người nhà truyền thông tuyệthảo, khi đã hoàn toàn đồng hóa mình mới những kẻ lãnh nhận truyền thôngcủa ngài và truyền đạt sứ điệp bằng lời nói, đồng thời bằng toàn bộ cách sốngcủa ngài Ngài sử dụng ngôn ngữ và hình ảnh bình dân mà người nghe thấyquen tai và quen thuộc trong cuộc sống hàng ngày mà họ có thể hiểu được.Truyền thông của ngài cũng mang tính đối thoại và lôi kéo người nghe vàocuộc Ngài làm cho thính giả phải động não suy tư, bày tỏ ý kiến, tham giavào cuộc đối thoại, chứ không phải là những con người thụ động lãnh nhận sứđiệp
- Học giả Thomas (2012), "Định hướng đến khái niệm truyền thông tôn
giáo: Việc sử dụng thuyết tiến hoá tôn giáo và khoa học", từ chỗ cho rằng, để
phân biệt giữa tôn giáo và một ngành khoa học cần chỉ ra các điều kiện cụ thể
để từ đó xác định được khoa học không bắt nguồn hay là một phần của tôngiáo, tác giả đã đưa ra 03 tiêu chí để phân biệt truyền thông đối tượng có tôngiáo với truyên thông phi tôn giáo Đó là: (1) Truyền thông tôn giáo mangtính ẩn dụ; (2) Truyền thông tôn giáo không gói gọn trong bất cứ hình thứcdiễn đạt theo nghĩa đen nào và (3) Việc xác định các tham chiếu ẩn dụ chỉ cóthể ngầm hiểu chứ không thể định nghĩa một cách rõ ràng
Đây là một gợi ý xuất phát từ vấn đề bản thể của tôn giáo theo quanđiểm thần học
1.2.3 Những vấn đề về truyền thông Công giáo và Phật giáo
1.2.3.1 Những vấn đề về truyền thông Công giáo
- Thánh Công Ðồng Chung Vaticanô II (tháng 12 năm 1963), Sắc lệnh
Về Các Phương Tiện Truyền Thông Xã Hội Inter Mirifica Sắc lệnh này nằm
Trang 23trong toàn bộ những nội dung canh tân, đổi mới của Công đồng Vatican II Nóquy định và giải thích nhiều về truyền thông Công giáo; về vai trò của cácphương tiện truyền thông xã hội Trong đó có nói về thực trạng các hoạt độngtruyền thông Công giáo theo Sắc lệnh này Như: Từ xưa đến nay, tại nhiềunơi những người Công giáo hoạt động trong lãnh vực truyền thông xã hộikhông những không được nâng đỡ, mà còn bị coi là những người mạo hiểm
và bê bối nữa Từ đó, Sắc lệnh này khẳng định: Bây giờ não trạng này phảiđược thay đổi hoàn toàn
- Hoàng Mạch Đoàn (2002), Công tác vận động giáo dân của tổ chức
cơ sở Đảng (cấp xã) ở đồng bằng Bắc bộ nước ta hiện nay, luận án Tiến sỹ
khoa học Lịch sử, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Tác giả đưa raquan niệm về nội dung, chất lượng công tác vận động đồng bào Công giáo.Nội dung cơ bản của công tác vận động giáo dân là: Tuyên truyền, giáo dục
về đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; tổ chức, hướngdẫn đồng bào Công giáo nâng cao nhận thức, trình độ văn hóa, khoa học; vậnđộng giáo dân tham gia tích cực các phong trào, xây dựng đời sống mới ở khudân cư, phòng chống các tệ nạn xã hội; cảnh giác phác hiện và chủ động đấutranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn lợi dụng tôn giáo của các thế lực thùđịch, bảo vệ lợi ích chính đáng của đồng bào Công giáo Như vậy, tác giả đãxem vấn đề truyền thông Công giáo như là một bộ phận rất quan trọng củacông tác vận động tín đồ Công giáo hiện nay
- Nguyễn Vinh Giang (05/11/2010), Linh mục và vấn đề truyền thông
hiện nay, http://tonggiaophanhue.net/home/index Tác giả, một linh mục, từ
việc nhận thức rằng, những thập niên cuối cùng của thế kỷ 20 và đầu thế ky
21 là sân khấu của những sự tân kỳ trong lĩnh vực kỹ thuật truyền thông, tớiviệc đặt ra nhu cầu khai thác các phương tiện truyền thông trong hoạt độngCông giáo Theo tác giả, các phương tiện truyền thông mới mẻ khai sinh
những gì mà người ta gọi là "những ngôn ngữ mới" và khơi nguồn cho Giáo
hội nhiều khả năng trong việc loan báo Tin Mừng, cũng như làm nảy sinh
Trang 24những vấn đề mục vụ mới đối với Giáo hội Và đây cũng chính là chủ trương
của Giáo hội Công giáo Đó là: tuy có mặt trái của internet, Giáo hội vẫn muốn chúng ta dấn thân vào internet Toàn thể Giáo hội, từ hàng giáo phẩm
đến giáo dân ngày càng ý thức được tầm quan trọng của những phương tiệntruyền thông Những khóa học, những bài thuyết trình, những cuộc gặp gỡ vềvấn đề truyền thông đã và đang được tổ chức ở nhiều nơi Linh mục đượckhuyến khích sử dụng các phương tiện truyền thông hiện đại, một nguồn tàinguyên phong phú, đắc lực giúp họ trong mục vụ và loan báo Tin Mừng
Nguyễn Văn Đệ (2011), Giới trẻ và truyền thông Công giáo
-Truyền thông báo chí và Intemid Tác giả giải thích về logic quá trình truyền
thông Công giáo, từ chủ thể truyền thông, mục đích truyền thông, phương tiệncho đến đối tượng và mục tiêu truyền thông Công giáo Về ảnh hưởng củatruyền thông Công giáo, tác giả khẳng định: Tự nó việc truyền thông, nộidung và phương tiện kỹ thuật truyền thông không hoàn toàn tốt mà cũngkhông hoàn toàn xấu, nó tuỳ thuộc vào cách người sử dụng và người tiếp thu,tùy điều kiện, môi trường thích hợp của mỗi người
Từ đó tác giả đưa ra các giải pháp giáo dục truyền thông Công giáo
đối với giới trẻ, như: Loan truyền Tin Mừng Chúa bằng mọi phương tiện.
Truyền thông Công giáo bằng nhiều loại hình xã hội tích cực hiệu quả và bổích, như: việc từ thiện, bác ái xã hội, trạm xá y tế, khám chữa bệnh, nhà tìnhthương; các cuộc thăm viếng úy lạo v.v Các loại hình văn hóa nghệ thuậtnhư: các buổi trình diễn thánh ca, kịch nghệ, thi thơ ca nhạc, các loại bănghình, video, sách báo Các loại hình thể dục, thể thao, cắm trại, hội chợ…, tất
cả đều có thể trở thành những phương tiện truyền thông để thông truyền Chúađến với mọi người và đưa mọi người về với Thiên Chúa
- Fidel Orendain, Thanh Huyền chuyển ngữ (23/01/2013), Giáo dục
truyền thông: Cộng đoàn, mâu thuẫn và truyền thông Tác giả đặt vấn đề cần
thiết phải có giáo dục truyền thông Giáo dục truyền thông không chỉ đơn
Trang 25giản là biết cách sử dụng những kỹ thuật mới mà còn bao gồm cả việc hiểubiết những thay đổi trong cách vận hành mà các truyền thông mới đang bày
ra Truyền thông không chỉ đơn thuần là những dụng cụ cho sứ vụ mà cònhình thành lối sống, lối suy nghĩ của chúng ta Vì thế, để điều tiết những ảnhhưởng tiêu cực và gia tăng tối đa những khía cạnh tích cực của truyền thông,cần phải có giáo dục truyền thông
Tác giả hướng tới việc vận dụng truyền thông trong việc giải quyết
các mâu thuẫn của cộng đoàn Công giáo Ở đây, bài học truyền thông là: hãy
học biết diễn tả ý kiến hoặc sự phản đối trong một cách thức mang tính xâydựng nhiều hơn và đối đầu ít hơn; hãy tìm thêm thông tin để làm cho quyếtđịnh được thực hiện tốt hơn Tác giả dẫn ra ý kiến của nhà khoa học xã hộiBoulding về các cách giải quyết mâu thuẫn bằng truyền thông: (1) Không truyềnthông = tránh; (2) Truyền thông kiểu quyền bính = chinh phục; (3) Truyềnthông đối thoại = giải pháp từng bước, bao gồm việc hòa giải và/hoặc dàn xếpvà/hoặc thưởng phạt Ông ca ngợi cách giải quyết theo kiểu thứ ba
1.2.3.2 Những vấn đề về truyền thông Phật giáo
- Minh Thạnh (2010), Truyền thông và sự phát triển tư tưởng Phật
giáo, Bài viết giới thiệu những đóng góp của truyền thông hiện đại đối với
hoạt động hoằng pháp, hỗ trợ tụ tập… của đạo Phật; đã làm rõ được vai tròcủa truyền thông hiện đại để đưa Phật pháp đến với đông đảo Tăng Ni Phật tử
và nhân sanh
- Minh Thạnh (2010), Diện mạo phiến diện của truyền thông Phật giáo
Việt Nam hiện đại, Tập san Pháp luân 74 Qua đây, diện mạo Phật giáo Việt
Nam phản ánh thông qua phương tiện truyền thông Phật giáo và tác độngmạnh mẽ nhất hiện nay là đĩa VCD, DVD, ngày càng khác xa với thực tế Phậtgiáo Việt Nam, khi mà những giảng sư nổi tiếng từ dĩa VCD có độ tuổikhoảng 40 - 50 tuổi, mà hiếm thấy dĩa thuyết pháp của các vị hòa thượng caotuổi Ghi nhận hiện trạng đó, tác giả mong điều chỉnh tình trạng này bằng việc
Trang 26hi vọng những vị hòa thượng, thượng tọa đạo cao đức trọng, kiến thức Phậthọc uyên thâm dành sự quan tâm cho việc hoằng pháp bằng kỹ thuật videohiện đại Nếu không, một diện mạo Phật giáo Việt Nam phiến diện qua truyềnthông Phật giáo sẽ là thiệt thòi chung đối với Phật giáo Việt Nam.
- Phạm Nhật Vũ (2010), Truyền thông Phật giáo Việt Nam sẽ làm gì?,
kienthuc.net.vn Tác giả thấy tính cấp thiết của sự hỗ trợ của truyền thôngtrong công tác quản lý, hoạt động của Giáo hội Phật giáo hiện nay trướcnhững biến động của xã hội hiện đại Là Phó Trưởng ban Thường trực Ban
Truyền thông Giáo hội Phật giáo Việt Nam, tác giả trả lời câu hỏi Truyền
thông Phật giáo Việt Nam sẽ làm gì? Đó là: định hướng đại chúng vào đúng
với những điều mà Đức Phật đã dạy; đề cao những giá trị, những truyền thôngtốt đẹp của đạo Phật; làm tốt việc tiếp nhận và cung cấp thông tin kịp thời tớicác ban, ngành của Giáo hội cũng như đến từng tăng ni, cư sĩ; giúp cho tất cảmọi người, cả người ở trong và ngoài Giáo hội, luôn giữ gìn được sự đoànkết, hòa hợp; thực hiện thật tốt công tác thông tin truyền thông để mọi ngườitrên thế giới đều hiểu rõ những diễn biến của đạo Phật tại Việt Nam và cungcấp thông tin chính xác, kịp thời để tránh sự phá hoại, gây chia rẽ giữa Nhànước và Phật giáo; bác bỏ những luận điệu của các thế lực xấu, tránh việc bịbôi nhọ, làm xấu hình ảnh của Tăng đoàn Đó chính là mục đích của truyềnthông Phật giáo
- Hòa thượng Thích Gia Quang (2/2013), Truyền thông - phương tiện
hữu hiệu nhất truyền tải Chính pháp, Vietnamnet.vn Tác giả dẫn lời Đức
Pháp chủ - Đại lão Hòa thượng Thích Phổ Tuệ, trong Thông điệp nhân Đại lễ
kỷ niệm 30 năm thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam 7-11-2011, đã nhấnmạnh tầm quan trọng của hoạt động truyền thông, rằng trong thời gian tới,Giáo hội cần quan tâm đúng mức đến công tác truyền thông các Phật sự trênmọi phương diện và coi đó là phương tiện hữu hiệu nhất để truyền tải Chínhpháp và văn hóa Phật giáo đến với cộng đồng xã hội, tạo nên sự phát triển bền
Trang 27vững và sự xương minh của đạo mạch trong lòng dân tộc Tác giả nhấn mạnh,
những hoạt động quan trọng của Giáo hội rất cần phải có các hoạt độngtruyền thông được thực hiện một cách chuyên nghiệp để đáp ứng nhu cầu vềthông tin của Tăng, Ni Phật tử, công chúng và xã hội
- An Thư (2/2013), Truyền thông - "Phép nhiệm màu" để Phật pháp đến
với đại chúng, Vietnamnet.vn Tác giả đánh giá về những thành công của hoạt
động truyền thông Phật giáo Việt Nam Công tác truyền thông của Giáo hộivới các hoạt động biên soạn, xuất bản kinh sách, làm báo, tổ chức hội chúng,diễn giảng, trang web Phật học, chương trình truyền hình, và các chương trình
đa phương tiện khác đã góp phần tích cực trong nỗ lực kế thừa và xây dựngtruyền thống khởi nguyên của Phật giáo: Tôn giáo hướng tới số đông, vì lợiích của số đông
Như vậy, với cả truyền thông Công giáo và Phật giáo, chúng ta thấy ởViệt Nam hiện nay, việc nghiên cứu về nó chủ yếu vẫn là của các chức sắc,nhà tu hành vốn được xem là đội ngũ trí thức của các tôn giáo này Còn từ độingũ nghiên cứu ngoài tôn giáo, điều này vẫn - chỉ đang được hy vọng vào thờigian tới
1.2.4 Vấn đề thực trạng truyền thông tôn giáo ở Việt Nam
- Nguyễn Ngọc Sơn (2005), Vài nét về hiện trạng truyền thông xã hội
Việt Nam, Niên giám Giáo hội Công giáo Việt Nam, Nxb Tôn giáo, Hà Nội.
Tác giả nắm vững về thực trạng hệ thống truyền thông của Việt Nam hiệnnay, khi đã cung cấp thông tin và số liệu tổng hợp được từ các sách báo chínhthức của nhà nước Các thông tin xếp theo từng mục: sách, báo, phim ảnh,phát thanh, truyền hình và Internet… và chia thành hai phần: phần đầu nóichung về Việt Nam, phần sau nói riêng về Giáo hội Việt Nam Tác giả saumỗi số liệu thường có đưa ra những đánh giá và giải pháp
Trang 28Về thực trạng truyền thông Giáo hội Việt Nam, tác giả dẫn ra số liệu
và nhận định rất phong phú Chẳng hạn: Truyền hình Công giáo, kể từ khi đàitruyền hình Đắc Lộ, do các linh mục Dòng Tên tại Sài Gòn điều hành, ngưnghoạt động vào năm 1975, Giáo hội Công giáo Việt Nam không còn nhữnghoạt động chính thức trong lĩnh vực truyền hình Tuy nhiên, người Công giáoViệt Nam vẫn có thể tác động gián tiếp lên các chương trình truyền hình củaNhà nước bằng cách nêu những ý kiến nhận xét về các chương trình ấy Họtác động tích cực hơn bằng cách cộng tác với các nhân viên của các đài truyềnhình để xây dựng những chương trình có giá trị về mặt đạo đức, nghệ thuật,văn hóa Tác giả nhận định: nên đào tạo cho tín hữu kỹ năng chọn lựa cácchương trình tốt và hay của các kênh truyền hình trong và ngoài nước, biết tổchức xem chung với nhau trong gia đình và điều độ khi xem truyền hình vìcác thành viên trong gia đình thường ở trong những căn nhà chật chội
- Báo cáo tổng kết hoạt động Phật sự nhiệm kỳ VI (2007-2012) của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, ghi rõ sự thực trạng phát triển của truyền thông
Phật giáo Việt Nam Điển hình là các tạp chí Văn hóa Phật giáo, Nghiên cứuPhật học; các tuần báo, như Giác Ngộ, Nội san Hoằng pháp (Hà Nội), Nội san
Vô Ưu (Đak Lak), Du lịch Tâm linh…; các trang báo điện tử của Trung ươngGiáo hội Phật giáo Việt Nam và đặc biệt là Phật giáo vừa có thêm kênh truyềnhình An Viên thường xuyên phát sóng về các hoạt động Phật sự
Nguyễn Văn Đệ (2011), Giới trẻ và truyền thông Công giáo
-Truyền thông báo chí và Intemid Tác giả lưu ý về thực trạng sử dụng các
phương tiện truyền thông ở nước ta hiện nay: 89% làng xã có truyền dẫn cáp
đồng, 95,9%, truyền dẫn cáp quang; số làng xã có thuê bao internet: 87%; giađình có điện thoại cố định: 65%, mật độ là 19,2 thuê bao/100 dân; điện thoại
di động bình quân toàn quốc là 37,5%; gia đình có máy thu thanh giảm chỉcòn 10,7%; gia đình có máy thu hình tăng 90,4%; gia đình sử dụng Internet30%; gia đình có máy tính cá nhân: 12,6% (Hà Nội 28%, Đà Nẵng 32%,
Trang 29Thành phố Hồ Chí Minh 44%; gia đình có nối mạng: 8,2% (Hà Nội 22%, ĐàNẵng 21%, Thành phố Hồ Chí Minh 33%; người dùng internet trong các giađình 14,6%).
- Nguyễn Quốc Tuấn, chủ nhiệm, (2012), đề tài: Đặc điểm và vai trò
của phật giáo Việt Nam ở thế kỷ 20 Đề tài đã phân tích về đặc điểm Phật giáo
Việt Nam thế kỷ XX cùng với vai trò nhiều mặt của tôn giáo này, trên cơ sởcủa một nguồn tư liệu khá phong phú Trong đó, các tác giả có đề cập tới việccác phương tiện truyền thông đại chúng của Nhà nước và của các tôn giáocũng như của Phật giáo, đã truyền thông về Phật giáo một cách thường xuyên,phong phú và sâu sắc Tuy nhiên, nó có nhu cầu phát huy hơn nữa trong tìnhhình hiện nay và sắp tới, được đặt ra cho cả Nhà nước và Giáo hội
- Thích Gia Quang (2/2013), Truyền thông - phương tiện hữu hiệu nhất
truyền tải Chính pháp, Vietnamnet.vn Tác giả đã đưa ra thực trạng truyền
thông Phật giáo, trong đó coi trọng đặc biệt đến kênh Truyền hình An Viên.AVG - Truyền hình An Viên thành lập ngày 15/8/2008, theo Giấy Chứngnhận Đăng ký kinh doanh do Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bình Dương cấp.Ban Thường trực Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam
đã quyết định để Ban Truyền thông kết hợp với AVG xây dựng các chươngtrình phát sóng trên Kênh truyền hình mang tên An Viên Đây là kênh truyềnhình được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp Giấy phép số 1883/GP-BTTTTngày 14/11/2011, và Giấy phép số 196/ĐKLK-BTTTT ngày 01/2/2012 chophép Đài Phát thanh và Truyền hình Bình Dương (BTV) và AVG - Truyềnhình An Viên liên kết sản xuất nội dung
- Truyền thông Phật giáo đang đứng ở đâu? (2013), thông tin về buổi
giao lưu của đại diện hơn 30 trang web Phật giáo, với 60 thành viên là cáctăng, ni, cư sĩ, phật tử tham dự tại nhà hàng chay Hương Nghiêm - B10 đườngTrường Sơn - Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, chiều ngày 31/01/2013 Qua
Trang 30đây chúng ta biết thực trạng truyền thông Phật giáo Việt Nam, trên mạngInternet, và những vấn đề đặt ra Đó là: hiện nay, trên Internet có hàng ngàntrang web, blogs có chủ đề liên quan đến Phật giáo bằng tiếng Việt, trong đó cókhoảng 250 trang web Phật giáo có cập nhật thông tin ở mức độ ngày, tháng,quý Trong đó, theo các công cụ tính chỉ số truy cập như Alexa, Google Analytic,Pandas… chưa có trang nào lọt vào TOP 1000 trang được truy cập nhiều nhất
ở Việt Nam Trang có chỉ số truy cập cao nhất, cũng chỉ có khoảng 3500 IPtruy cập mỗi ngày, trong số 250 trang web chỉ có khoảng 20 trang là có số truycập trên 100 IP mỗi ngày, khoảng 100 trang chỉ có 1-2 IP truy cập mỗi ngày, cábiệt có trang cả tháng không có IP nào truy cập Hoặc một vài tháng mới có mộtvài IP truy cập Qua đó, cho thấy về số lượng trang web, thì truyền thông Phậtgiáo không thua kém bất kỳ một tổ chức tôn giáo nào, đông về số lượng, ai aicũng thi đua làm trang web Nhưng với chỉ số truy cập như vậy, có khi chúng
ta chịu khó truyền thông bằng miệng có thể còn hiệu quả hơn
1.3 NHỮNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN
ÁN VÀ ĐỊNH HƯỚNG NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.3.1 Những vấn đề nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
1.3.1.1 Về những ưu điểm, những kết quả nghiên cứu mà luận án
sẽ kế thừa, tiếp tục phát triển
- Các công trình nghiên cứu về truyền thông nói chung, cơ bản đã làm
rõ về lý luận truyền thông, đó là nội hàm và ngoại diên khái niệm truyềnthông; phân loại truyền thông; phương tiện truyền thông; quá trình phát triểncủa truyền thông từ lịch sử đến đương đại; vị trí và vai trò ảnh hưởng củatruyền thông trong xã hội hiện đại Đây là một trng những cơ sở lý luận đểnghiên cứu sinh định nghĩa và làm rõ khái niệm "truyền thông tôn giáo"
- Vấn đề truyền thông tôn giáo nói chung cũng đã được Đảng và Nhànước ta chỉ đạo về mục tiêu, phương hướng hoạt động của truyền thông nói
Trang 31chung và truyền thông tôn giáo nói riêng, phù hợp với mục tiêu phát triển đấtnước theo định hướng xã hội chủ nghĩa và tuân thủ pháp luật Đây là cơ sởđịnh hướng cho tác giả khi nghiên cứu về truyền thông tôn giáo Việt Namhiện nay
- Vấn đề truyền thông Công giáo và Phật giáo đã được một số chứcsắc Phật giáo, Công giáo trình bày được nhiều nội dung lý luận và thực tiễnquan trọng, như vai trò của truyền thống đối với sự tồn tại và phát triển củacác tôn giáo; những vấn đề đặt ra đối với các tổ chức Giáo hội Công giáo,Phật giáo hiện nay; nét phổ biến, đặc thù và đơn nhất trong truyền thông củacác tôn giáo này Đây là tư liệu quý để nghiên cứu sinh làm đậm nét thêm vềthực trạng truyền thông tôn giáo ở nước ta hiện nay
- Vấn đề thực trạng truyền thông tôn giáo ở Việt Nam được các côngtrình của Công giáo và Phật giáo làm rõ chủ yếu từ những mô tả tình hình, sựkiện với khuôn khổ tôn giáo của mình Đây là tư liệu thực tế có nhiều giá trị
để tác giả luận án khai thác và khái quát mang tính lý luận
1.3.1.2 Về những vấn đề còn chưa được giải quyết thấu đáo cần phải tiếp tục nghiên cứu
- Các công trình còn chưa đưa ra được những nhận thức lý luận mới
và khác nhau về truyền thông tôn giáo, từ định nghĩa khái niệm, phân loại nó,các chủ thể truyền thông tôn giáo, nhất là chủ thể ngoài - không phải là người,
tổ chức tôn giáo, cho đến cơ chế, quy luật vận động trong mối quan hệ bênngoài và nội tại của truyền thông tôn giáo Đó là chưa nói, trên lập trường duytâm, các tôn giáo đã có những phân tích về truyền thông tôn giáo chưa phùhợp với thực tại khách quan vốn đa dạng và phong phú
- Về thực trạng truyền thông tôn giáo ở Việt Nam khá đa chiều, đadạng, song các công trình mới chỉ nêu ra một số số liệu về tình hình, dướidạng rất chung, hoặc dừng lại là những thông tin của chính tôn giáo của mình
Ở đây thiếu những khái quát có tầm lý luận; lại rất ít rút ra được nguyên nhân,
Trang 32bài học cũng như vấn đề đặt ra ở tầm lý luận, cũng như chưa đánh giá toàndiện và khách quan về vai trò, thực trạng, hiệu quả của truyền thông tôn giáo.
- Các công trình của Phật giáo và Công giáo, chưa đề cập nhiều tớivấn đề cơ cấu nội dung thông tin truyền thông của tôn giáo mình đối với lĩnhvực chính sách, pháp luật tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta hiện nay
- Các công trình còn thiếu vắng việc đề xuất giải pháp, kiến nghị sátthực nhằm phát triển truyền thông tôn giáo Việt Nam phù hợp với định hướngphát triển văn hóa dân tộc Việt Nam, phù hợp với quan điểm của Đảng, gópphần thúc đẩy sự thành công của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa ởnước ta
1.3.2 Định hướng nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài luận án
- Phân tích sâu hơn về sự hình thành và phát triển của phương diện lýluận về truyền thông tôn giáo, qua trường hợp Phật giáo và Công giáo
- Khảo sát đầy đủ hơn về thực trạng truyền thông tôn giáo ở Việt Namqua trường hợp truyền thông Phật giáo và Công giáo, để chỉ ra những thànhtựu, hạn chế, nguyên nhân của truyền thông tôn giáo của Đảng và Nhà nướcViệt Nam, cùng với việc rút ra những vấn đề đặt ra
- Đề xuất các quan điểm và khuyến nghị những phương hướng, giảipháp cơ bản nhằm đảm bảo chất lượng và hiệu quả truyền thông tôn giáo của Đảng
và Nhà nước ta; đồng thời đề xuất giải pháp định hướng về công tác quản lý nhànước đối với truyền thông của các tôn giáo, qua trường hợp Phật giáo và Công
giáo ở nước ta hiện nay
1.4 KHUNG PHÂN TÍCH LÝ THUYẾT
1.4.1 Câu hỏi nghiên cứu
Trang 33Với đề tài luận án: "Truyền thông tôn giáo từ năm 1990 đến nay qua
khảo sát trường hợp Phật giáo và Công giáo", nghiên cứu sinh xác định những
câu hỏi nghiên cứu sau:
Câu hỏi 1: Mối quan hệ giữa tình hình tôn giáo và chính sách, pháp luật
tôn giáo với truyền thông tôn giáo, ở Việt Nam, là mối quan hệ tất yếu và hữu cơ?
Câu hỏi 2: Chất lượng, hiệu quả của truyền thông tôn giáo của Đảng
và Nhà nước ta được quyết định bởi vai trò chủ thể truyền thông?
Câu hỏi 3: Vấn đề nâng cao chất lượng, hiệu quả truyền thông tôn
giáo của Đảng và Nhà nước ta hiện nay đỏi hỏi phải có các giải pháp cấp bách
và lâu dài như thế nào? Phải tác động ở những khâu, yếu tố nào là cơ bản?
1.4.2 Lý thuyết nghiên cứu
Để trả lời các câu hỏi trên đây và nhằm đến mục đích của đề tài luận
án, nghiên cứu sinh dựa vào những cơ sở lý thuyết như sau:
Thứ nhất: Dựa vào quan điểm lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo để nhận thức về đời sống tôn giáo, vớitính cách vừa là một hình thái ý thức xã hội và vừa là một thực thể xã hội, cómối quan hệ tất yếu với các lĩnh vực xã hội, mà ở đề tài này, chủ yếu là mốiquan hệ tôn giáo với đời sống chính trị và văn hóa tư tưởng của xã hội ViệtNam, được quy định bởi hoàn cảnh lịch sử cụ thể, đó là thời kỳ đổi mới đấtnước
Thứ hai: Dựa vào lý thuyết khoa học truyền thông để làm rõ về truyền
thông tôn giáo ở Việt Nam trong mối quan hệ bên trong và bên ngoài vớitruyền thông nói chung
Thứ ba: Dựa vào lý thuyết xã hội học tôn giáo để phân tích sự tác
động qua lại nhiều chiều, của các chức năng tôn giáo tới đời sống xã hội,thông qua các chủ thể truyền thông, với các phương tiện truyền thông, để
Trang 34rút ra những nhận xét, đánh giá về truyền thông tôn giáo của Đảng và Nhànước ta về phương diện tác động đến xã hội trực tiếp và gián tiếp.
Thứ tư: Dựa vào lý thuyết hệ thống cấu trúc để làm rõ vị trí, vai trò
của công tác truyền thông tôn giáo trong hệ thống công tác tôn giáo của hệthống chính trị và trong toàn bộ quá trình phát triển của xã hội Việt Nam dướithời kỳ đổi mới toàn diện đất nước
1.4.3 Giả thuyết khoa học
Xuất phát từ câu hỏi nghiên cứu, nghiên cứu sinh xây dựng một số giảthuyết như sau:
Một là, Đảng và Nhà nước ta ở mọi thời kỳ đều luôn luôn quan tâm
đến công tác tôn giáo và ngày nay cũng vậy, thể hiện ở chính sách, pháp luậttôn giáo đã có những đổi mới căn bản, mạnh mẽ về vấn đề tôn giáo Chính vìthế, đồng bào các tôn giáo đều hài lòng, yên tâm và phấn khởi trong thực hànhnhu cầu tự do tín ngưỡng, tôn giáo và trong các hoạt động kinh tế - xã hội
Hai là, Việt Nam là quốc gia đang phát triển, song trình độ và khả năng,
cũng như mức thụ hưởng về công nghệ thông tin truyền thông là phát triểnvượt bậc không thua kém các nước Vì thế, trong truyền thông tôn giáo cũngtrở nên sôi động, dân chủ, khách quan; hệ thống truyền thông tôn giáo củaĐảng, Nhà nước đã đáp ứng về cơ bản nhu cầu nhận thức, làm chuyển biếntích cực và rõ rệt tư tưởng, hành động của tín đồ, chức sắc các tôn giáo, nhất làcủa Công giáo và Phật giáo
Ba là, tương quan thực tế, hệ thống truyền thông tôn giáo của Đảng và
Nhà nước ta lại tỏ ra bất cập, có quá nhiều yếu kém, từ con người cho đếncông cụ truyền thông Vì thế, phải có giải pháp đổi mới căn bản, quyết liệt,tập trung cao nhất nguồn lực và điều kiện cho nó
Với các câu hỏi và các giả thuyết như trên, nghiên cứu sinh sẽ phảivận dụng một hệ thống các phương pháp, từ phương pháp luận chung nhất
Trang 35cho đến các phương pháp cụ thể của chuyên ngành, tôn giáo học, và liênngành khoa học.
1.5 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN
* Khái niệm thông tin
Khái niệm thông tin (information) thường được dùng với ba nghĩa:
Thứ nhất, thông tin là hoạt động truyền tải, chuyển giao tin tức từ
người này đến người khác và thường chỉ diễn ra một chiều, từ chủ thể phát tinđến chủ thể nhận tin Ở đây thông tin có nghĩa như truyền thông, đúng hơnchỉ là một dạng truyền thông cụ thể Các thông báo, chỉ thị, nghị quyết củađảng và Nhà nước cầm quyền phổ biến cho cấp dưới và người dân thực hiện,được coi là hoạt động thông tin Tin nhắn qua điện thoại, email của các công
ty dịch vụ hoặc cá nhân mà không có sự phản hồi cũng là thông tin
Thứ hai, thông tin là nội dung của thông điệp được truyền tải, được
mới lạ, hấp dẫn, hữu ích là những thông điệp có thông tin chuyển giao giữachủ thể phát tin và chủ thể nhận tin Một thông điệp rõ ràng, tin Một bài báongắn nhưng để lại ấn tượng mạnh nơi độc giả là một bài báo có thông tin.Ngược lại, một bài báo dài nhưng đọc xong không thấy điều gì mới lạ và hữuích thì đó là một bài báo không có thông tin
Thứ ba, thông tin là đối tượng, phương tiện và chất liệu của hoạt động
báo chí Thông tin là một trong những khái niệm hạt nhân của báo chí Nó cótầm quan trọng như khái niệm “hình tượng” trong lĩnh vực văn học, khái niệm
“hàng hoá” trong lĩnh vực kinh tế, khái niệm “vật chất” trong lĩnh vực triếthọc Ở đây thông tin có nghĩa như là tin tức Như vậy, thông tin là phươngthức, là phẩm chất, là đặc trung của hoạt động báo chí và truyền thông
* Khái niệm thông điệp
Thông điệp là nội dung thông tin được trao đổi từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận Thực chất, thông điệp là những tâm tư, tình cảm, mong
Trang 36muốn, hiểu biết ý kiến, đòi hỏi, kinh nghiệm sống, tri thức khoa học kỹ thuật
đã được mã hoá theo một hệ thống ký hiệu nào đó Hệ thống ký hiệu có ýnghĩa thực tế như là phương tiện để Việt hoá thông điệp Nó phải là hệ thốngđược cả bên phát và bên nhận cùng chấp nhận, cùng có chung cách hiểu.Trong đời sống xã hội loài người tồn tại nhiều hệ thống ký hiệu khác nhaunhư tiếng nói, chữ viết trong ngôn ngữ, hệ thống biển báo giao thông, hệthống các cử chỉ biểu đạt của con người, v.v [109, tr.8]
* Khái niệm truyền thông
Truyền thông có gốc từ tiếng Latinh là "communicare" nghĩa là biến
nó thành thông thường, chia sẻ, truyền tải Truyền thông thường được mô tảnhư việc truyền ý nghĩ, thông tin, ý tưởng ý kiến hoặc kiến thức từ một người,một nhóm người sang một người hoặc một nhóm người khác bằng lời nói,hình ảnh, văn bản hoặc tín hiệu
Vậy, truyền thông là sự trao đổi thông điệp giữa các thành viên hay
các nhóm người trong xã hội nhằm đạt được sự hiểu biết lẫn nhau [109, tr.8]
Truyền thông xã hội là một lãnh vực nghiên cứu chủ yếu các cáchthức mà thông tin có thể được truyền đi, nhận ra, hiểu biết, và tác động trênđời sống xã hội Thuật ngữ truyền thông đại chúng chỉ mọi phương tiệntruyền thông hướng đến công chúng Truyền thông đại chúng được hiểu
là một quá trình truyền đạt thông tin đến các nhóm cộng đồng đông đảo trong
xã hội thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng
Truyền thông là hoạt động có ý thức của con người Đó là quá trìnhtrao đổi hoặc chia sẻ thông tin, tình cảm, kỹ năng bằng một hệ thống ký hiệuquy ước nhằm tạo sự liên lạc với nhau để có thể dẫn tới những thay đổi trongnhận thức, thái độ, hành vi
Từ các quan niệm trên, tác giả luận án có một định nghĩa chung nhất
về truyền thông như sau: Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin,
tư tưởng, tình cảm… chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều
Trang 37người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân, nhóm, cộng đồng, xã hội
* Khái niệm nguồn phát
Nguồn phát là yếu tố mang thông tin tiềm năng và khởi xướng quá trình truyền thông Nói cách khác, nguồn phát là người hay nhóm người mang
nội dung thông tin muốn trao đổi với người hay nhóm người khác [109, tr.8]
* Khái niệm kênh truyền thông
Kênh truyền thông là sự thống nhất của phương tiện, con đường, cách thức chuyển tải thông điệp từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận [109, tr.9].
Những yếu tố tạo thành kênh truyền thông đồng thời qui định tính chất, đặcđiểm của nó Căn cứ vào các tính chất, đặc điểm cụ thể, người ta chia kênhtruyền thông thành các loại hình khác nhau như: truyền thông cá nhân, truyềnthông trực tiếp, truyền thông đại chúng, truyền thông đa phương tiện
* Khái niệm đối tượng tiếp nhận
Đối tượng tiếp nhận là các cá thể hay tập thể người tiếp nhận thông điệp trong quá trình truyền thông Cũng có thể nói, các cá thể hay nhóm
người tiếp nhận thông điệp là đối tượng tác động của truyền thông Hiệu quảcủa truyền thông được xem xét trên cơ sở những biến đổi về tâm lý, nhậnthức, thái độ và hành vi của đối tượng tiếp nhận, về cơ bản, nó phụ thuộc vàotính chất, qui mô, khuynh hướng của thông điệp [109, tr.9]
* Khái niệm tôn giáo (religion)
Ở phương Tây, khái niệm tôn giáo thường được dùng theo nghĩa rộng,bao gồm cả tín ngưỡng và tôn giáo mà Việt Nam đang quan niệm Trong sựphát triển của tôn giáo ở phương Tây, đạo Kitô được xem là đỉnh cao của sựphát triển tôn giáo, là tôn giáo có tổ chức (hay tôn giáo cơ cấu) còn các tôngiáo khác được gọi là tôn giáo sơ khai, là tà giáo, giáo phái Ở phương Đông,
Trang 38thường dùng chữ đạo để chỉ về tôn giáo, song đạo cũng có điểm khác với tôn
giáo Ở phương Đông, chữ đạo được hiểu thiên về ý nghĩa là con đường, cách
thức để đạt tới sự giải thoát (Đạo Phật) hay đạt được Nhân (Đạo Nho), đạt tới
cõi Tiên (Đạo Lão) Quan niệm tôn giáo là đạo đã tạo ra sự gắn bó tôn giáo
với đời sống xã hội trần thế, nhưng lại dẫn tới, trực tiếp hoặc gián tiếp, làngười theo đạo dễ tin theo một đạo nào đó, như đạo lạ, tôn giáo mới, trong khichưa hẳn đã biết đó là tà đạo hay chính đạo
Nhận thức về tôn giáo như trên, tôn giáo có kết cấu gồm: niềm tin,giáo lý, giáo lễ, giáo luật, tổ chức; có hiến chương, điều lệ không trái với hiếnpháp và được nhà nước công nhận [95, tr.16]
* Khái niệm tín ngưỡng (fait)
Theo nghĩa Hán Việt, tín ngưỡng là sự tôn kính vào một vị thần, mộtđấng siêu nhiên nào đó Ở góc độ này, tín ngưỡng và tôn giáo không có sựkhác biệt Tuy nhiên ở tín ngưỡng, niềm tin chưa được hệ thống thành lýthuyết, thành giáo lý, giáo lễ và đặc biệt chưa thành tôn giáo cơ cấu (tôn giáotheo nghĩa hẹp)
Ở Việt Nam thuật ngữ tín ngưỡng có hai cách hiểu: Thứ nhất: Ở bình
diện niềm tin, ý thức, tín ngưỡng và tôn giáo không có sự khác nhau về sự thể
hiện của niềm tin, do vậy, tín ngưỡng cũng là tôn giáo theo nghĩa rộng; Thứ
hai: Về cơ cấu tổ chức, tín ngưỡng chưa có đủ yếu tố để trở thành một tôn
giáo cơ cấu, do vậy có sự phân biệt tín ngưỡng và tôn giáo Theo cách hiểunày, ở nước ta hiện nay có rất nhiều tín ngưỡng, như: Thờ cúng Tổ Tiên, thờMẫu, thờ Thành Hoàng, [95, tr.15]
* Khái niệm mê tín
Theo thuật ngữ Hán - Việt, mê tín là niềm tin mê muội, thái quá, thườngđược gắn với người theo tín ngưỡng, tôn giáo và ở trường hợp này, niềm tintín ngưỡng, tôn giáo không phải là chính tín, có thể là sai lạc, trái với giá trị
Trang 39của tín ngưỡng và tôn giáo Như vậy, phân định mê tín với tín ngưỡng và tôngiáo là không dễ dàng, nếu không xuất phát từ giá trị của tín ngưỡng và tôngiáo và không xác định được hệ quả xấu của nó Một số người còn gắn thuậtngữ mê tín với thuật ngữ dị đoan thành mê tín dị đoan Dị đoan, theo nghĩaHán Việt, là khác (dị) mối (đoan) Theo đó, việc xuất phát từ một mối (tínngưỡng, tôn giáo nào đó) để chỉ về mê tín dị đoan đã làm cho việc nhìn nhận,ứng xử với tín ngưỡng và tôn giáo trở nên phức tạp Thuật ngữ mê tín cònđược dùng trong một số trường hợp khác, như mê tín tôn giáo, mê tín khoahọc, tuy nhiên không được dùng phổ biến
Để phân biệt mê tín dị đoan với các hình thức tín ngưỡng, tôn giáo,nhiều nhà nghiên cứu cho rằng: cần căn cứ vào trình độ và lợi ích của xã hội,lấy đó là mặt bằng xã hội để xác định Theo đó, những gì trái với lợi ích của
xã hội, gây thiệt hại cho chính những người tin theo mê muội và không phùhợp với trình độ tiến bộ chung, được nhìn nhận là mê tín [95, tr.17]
* Khái niệm hiện tượng tôn giáo mới
"Hiện tượng tôn giáo mới" có yếu tố của tín ngưỡng và tôn giáo song
nó được nhận thức theo một hướng khác với tín ngưỡng, tôn giáo hiện thời
Hiện tượng này có nhiều tên gọi Ở phương Tây thường dùng cụm từ Những
phong trào tôn giáo mới (les nouveaux mouvements religieux), hiện tượng tôn giáo mới, các giáo phái (les sectes), tôn giáo bồng bềnh (religieux
flottant), tôn giáo lờ mờ (religion diffuse) Ở nước ta, nó cũng được gọi với không ít tên, như: Giáo phái, hiện tượng tôn giáo mới, tôn giáo mới, đạo lạ,
tà giáo, tà đạo, tạp đạo, v.v
Nhà tôn giáo học hàng đầu Việt Nam, GS Đặng Nghiêm Vạn, đã chỉ
ra các biểu hiện để nhận diện "hiện tượng tôn giáo mới" và phân biệt nó vớitôn giáo truyền thống - chủ lưu Đó là:
Trang 40- Có thể là sự phân rẽ từ một tôn giáo chủ lưu, khi nó hiểu giáo lý vàChúa - Phật… theo ý riêng, nhiều khi vượt xa giáo lý, nhưng cũng có khi chỉrút ra một điểm, một nội dung ở trong giáo lý để tôn thờ.
- Có thể xoay quanh trục một tôn giáo có sẵn, nhào trộn, lắp rápnhững yếu tố tôn giáo khác, thường được hiểu một cách tầm thường hoá
- Có thể dựng lên từ một nhu cầu trần tục, rồi gắn vào "hương thơmtôn giáo", tạo nên một phong trào [125, tr.238-239]