Quản lý hoạt động học tập của sinh viên theo hệ thống tín chỉ ở trường đại học Việt Nam
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Quá trình học tập của SV trong trường ĐH, ngoài việc lĩnh hội tri thức khoahọc, kiến thức ngành nghề, còn đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định nhâncách, phẩm chất nghề nghiệp tương lại của từng SV Xuất phát từ quan điểm xem
SV là trung tâm của quá trình đào tạo, đòi hỏi quy trình tổ chức đào tạo sao chomỗi SV có thể tìm được cách học thích hợp nhất của mình Các nhà giáo dục Bắc
Mỹ đã quan tâm tìm phương pháp giáo dục mới dựa trên cơ sở tiếp cận " lấy họcsinh làm trung tâm" với mong muốn phát huy năng lực sáng tạo của SV Về mặttriết học, ngày càng nhiều người chấp nhận phương pháp hướng trọng tâm vào SV
và sự ủng hộ của John Dewey1 đối với việc phát triển năng khiếu bản thân thôngqua quá trình học tập phù hợp với lợi ích cá nhân Các nhà nghiên cứu giáo dụcnhận thấy rằng, để SV có thể theo đuổi mơ ước và mục đích học tập thực sự,trường ĐH nên tạo cơ hội cho SV được phép lựa chọn môn học phù hợp vớichuyên ngành và khả năng của chính mình Hiểu rõ xu thế này, Hiệu trưởng Eliot2
là người khởi xướng hệ thống học tự chọn tại trường ĐH Harvard vào năm 1872.Ông quyết định thay thế hệ thống bài giảng cố định theo phương thức truyền thốngbằng rất nhiều lựa chọn cho SV Kết quả của việc được học tập theo phương thức
tự chọn chính là mô hình đào tạo theo HTTC Các lợi ích của HTTC Hoa Kỳchính là nhà trường và SV có được sự linh hoạt trong đào tạo nói chung và học tậpnói riêng Sinh viên có quyền được học theo tiến độ phù hợp với bản thân, đượcphép lựa chọn môn học thích hợp, được tích lũy kiến thức thông qua số lượng tínchỉ quy định Ngoài ra, SV có thể được chuyển chuyển ngành học, chuyển trường
và được công nhận số tín chỉ đã tích lũy Điều này càng phản ánh được lợi ích tolớn của HTTC đối với mục tiêu “học suốt đời” UNESCO khẳng định
Mô hình quản lý công tác SV ở các trường ĐH Bắc Mỹ và Châu Âu đượcduy trì một cách khoa học, hỗ trợ tối đa cho HĐHT của SV Sinh trong trường ĐHđược quản lý bởi đội ngũ CVHT trong việc lập kế hoạch học tập cá nhân, xác địnhmục tiêu học tập, lựa chọn ngành nghề phù hợp với khả năng, lựa chọn môn họccho ngành học đã chọn Trong quá trình học tập, SV nhận được sự hỗ trợ từ cáctrung tâm tư vấn khác nhau đối với việc bổ sung kiến thức ngành, phương pháphọc tập và kỹ năng tương ứng Trong môi trường học tập mở, đa dạng và linh hoạtnày, SV phải học cách tự học theo kế hoạch cá nhân dưới sự quản lý chung vàchịu trách nhiệm chính là CVHT
Do có nhiều ưu thế và phù hợp với yêu cầu của xã hội phát triển, HTTCtiếp tục được phát triển và lan rộng trên khắp thế giới, nhiều nước áp dụng HTTC
1 ( xem 125, tr 2)
2 ( xem 125, tr 2)
Trang 2trong trường đại học ở Bắc Mỹ như Canada, các nước Châu Á như Nhật Bản,Philipines, Hàn Quốc, Thái Lan…Yếu tố tích cực thúc đẩy việc du nhập HTTC cóthể liên quan tới việc các nước phát triển cân nhắc tìm kiếm một cấu trúc tương tựcho hệ thống GDĐH của mình Thực tiễn cho thấy, các trường ĐH trên thế giớithực hiện HTTC bởi nó vừa phù hợp với nhu cầu của người học và yêu cầu của thịtrường lao động, mặt khác nó tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động quản lý đàotạo của nhà trường cũng như học tập của SV Điều này có ảnh hưởng sâu sắc đếnGDĐH Việt Nam sau những năm đổi mới
Trong giai đoạn từ năm 1985, Việt Nam chuyển đổi nhanh từ nên kinh tế kếhoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước vàtheo định hướng XHCN Đứng trước bối cảnh đó, yêu cầu nguồn nhân lực đượcđào tạo trình độ ĐH cũng phải đáp ứng xu hướng hội nhập và quốc tế hóa, GDĐHcũng có những thay đổi để phù hợp với đổi mới Người học có trình độ ĐH cầnđược đào tạo nhằm đáp ứng yêu cầu về chất lượng Sinh viên tốt nghiệp thích nghivới sự thay đổi yêu cầu của xã hội và thị trường lao động, sự phát triển nhanhchóng của khoa học kỹ thuật Giáo dục đại học Việt Nam và ý tưởng đào tạo theoHTTC hình thành từ cuối thập niên 80
Để việc áp dụng đào tạo theo HTTC vào các trường ĐH Việt Nam một cách
có hiệu quả, cần có các nghiên cứu cụ thể về tính lịch sử, đặc điểm, tính chất củaGDĐH Việt Nam qua các thời kỳ Các nghiên cứu cần tập trung vào công tác quản
lý nhà trường, quản lý hoạt động giảng dạy của GV và HĐHT của SV sao cho phùhợp với đặc điểm của HTTC
Các nghiên cứu quốc tế để áp dụng HTTC trong các trường ĐH mới chỉ tậptrung phân tích các vấn đề chung đối với lịch sử phát triển của HTTC, đặc điểmcủa hệ thống, sự thích hợp đối với các nước đang phát triển Ở Việt Nam, nhiềunhà khoa học, quản lý giáo dục đã nghiên cứu về kinh nghiệm thế giới và thực tếđào tạo theo HTTC ở Việt Nam, về phương pháp dạy, học và đánh giá kết quả họctập trong học chế tín chỉ, về tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của sinh viên và giảngviên trong phương thức đào tạo theo HTTC Các tài liệu này chủ yếu tập trungnghiên cứu phân tích về những khó khăn trong công tác quản lý SV khi thực hiệnđào tạo theo HTTC, phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập của SVtrong đào tạo theo HTTC, chưa có các nghiên cứu về quản lý HĐHT của SV trongtrường ĐH theo HTTC
Để công tác quản lý trường ĐH áp dụng theo HTTC đúng như đặc điểmtính chất vốn có, cần hoàn thiện công tác quản lý HĐHT của SV phù hợp vớiphương thức đào tạo mới Vấn đề thực tiễn ở Việt Nam với câu hỏi đặt ra, khichuyển đổi phương thức đào tạo sang HTTC, công tác quản lý HĐHT của SVtrong các trường ĐH như thế nào.Vì vậy, nghiên cứu để tìm ra các giải pháp nhằm
Trang 3quản lý HĐHT của SV đang trở nên cần thiết và cấp bách nhằm hoàn thiện quytrình quản lý theo HTTC trong trường ĐH Việt Nam.
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận về triển khai đào tạo theo HTTC trên thế giới và ởViệt Nam, thực tiễn quản lý HĐHT của SV ở các trường ĐH Việt Nam đang thựchiện đào tạo theo HTTC Từ đó, đề xuất những giải pháp quản lý HĐHT của SVnhằm hoàn thiện công tác quản lý theo HTTC ở trường ĐH Việt Nam
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu: Hoạt động dạy học trong đào tạo theo HTTC ở trường
ĐH
Đối tượng nghiên cứu: Quản lý HĐHT của SV theo HTTC.
4 Giả thuyết khoa học:
Các giải pháp quản lý HĐHT của SV trong đào tạo theo HTTC ở trường ĐHViệt Nam nếu được thực hiện một cách khoa học và đồng bộ các chức năng quản lý từchỉ đạo đổi mới cơ bản nhận thức, xây dựng hệ thống quản lý, hoàn thiện quy chếhướng dẫn HĐHT của SV đến quản lý kế hoạch học tập của SV, bảo đảm điều kiệnCSVC cho HĐHT của SV sẽ góp phần hoàn thiện công tác quản lý theo HTTC ởtrường ĐH Việt Nam
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận án xác định những nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động học tập của sinh viên nóichung và hệ thống tín chỉ nói riêng
- Nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động học tập của sinh viên, phát hiệnnhững điểm thuận lợi và điểm yếu, nguyên nhân khách quan và chủ quan củathành công và hạn chế trong quản lý hoạt động học tập của sinh viên theo hệ thốngtín chỉ ở trường đại học Việt Nam
- Đề xuất các giải pháp chủ yếu quản lý hoạt động học tập của sinh viên theo
hệ thống tín chỉ ở trường đại học Việt Nam
- Khảo nghiệm và thử nghiệm một vài giải pháp quản lý hoạt động học tậpcủa sinh viên theo hệ thống tín chỉ ở một số trường đại học để kiểm nghiệm tínhtác dụng và hiệu quả của giải pháp
ĐH Vinh
Trang 4- Đối tượng khảo sát: Cán bộ quản lý đào tạo, cán bộ giảng dạy, cán bộ quản
lý sinh viên, sinh viên của một số trường đang thực hiện đào tạo theo hệ thống tínchỉ
Thời gian nghiên cứu: Năm 2010-2013
7 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
7.1 Đề tài áp dụng một số Phương pháp luận tiếp cận nghiên cứu sau đây:
-Tiếp cận theo lịch sử - logic cho phép nghiên cứu những vấn đề cơ bản của
sự hình thành và phát triển của HTTC trong những điều kiện lịch sử và theo nhữngmốc thời gian cụ thể, những mặt hạn chế và nguyên nhân và logic phát triển củaHTTC
-Tiếp cận mục tiêu là đích cần đạt tới, làm mốc để định hướng cho các hoạt
động quản lý dạy học, hướng tới sự phù hợp của việc quản lý HĐHT của SV trongtổng thể quản lý nhà trường khi áp dụng HTTC Những mục tiêu đó do các Nghịquyết của Đảng, của Chính phủ và các văn bản quy định trên nền tảng quy mô,chất lượng và hiệu quả của GDĐH Đồng thời, quản lý HĐHT của SV theo HTTCnhằm tạo điều kiện cho SV đạt được kết quả học tập tốt nhất thông qua việc tíchlũy kiến thức đúng, đủ số TC quy định, hình thành kỹ năng nghề nghiệp và nănglực học tập suốt đời
- Tiếp cận hệ thống cho phép xem xét các nội dung nghiên cứu quản lý dạy
học như một nhân tố trong hệ thống hoàn chỉnh và mối quan hệ tương tác giữa cácnhân tố Đối tượng nghiên cứu là các giải pháp quản lý HĐHT của SV và nhữngnhân tố ảnh hưởng, chi phối các đối tượng mà trong quá trình nghiên cứu các đốitượng buộc các nhà nghiên cứu phải đề cập được gọi là khách thể nghiên cứu,chính là công tác quản lý hoạt động dạy học trong đào tạo theo HTTC ở trường
ĐH
Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu, luận án sử dụng các phương pháp sau:
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu
7.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận:
- Nghiên cứu các văn kiện của Đảng, Nhà nước, các chỉ thị, nghị quyết củangành Giáo dục và đào tạo, các ngành khác và các công trình nghiên cứu, các tàiliệu khoa học có liên quan đến vấn đề nghiên cứu;
- Phân tích, tổng hợp các tài liệu, các công trình nghiên cứu về công tác quản
lý nhà trường, hoạt động dạy và học trong trường đại học… Từ đó, xây dựng cơ
sở lý luận của công tác quản lý hoạt động học tập của sinh viên trong đào tạo theo
hệ thống tín chỉ ở trường đại học
7.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
Trang 5- Tiến hành phân tích, đáng giá thực trạng của hệ thống đào tạo ĐH ViệtNam, thực trạng của việc học tập của sinh viên bao gồm cả giờ lên lớp và ngoàigiờ lên lớp trong các trường ĐH áp dụng đào tạo theo HTTC
- Phương pháp điều tra bằng phiếu để khảo sát thực trạng HĐHT của SV,quản lý HĐHT của SV đối với CBQL và GV; tìm hiểu tính cần thiết và tính khảthi của các giải pháp để đề xuất các nội dung quản lý HĐHT của SV theo HTTC ởtrường ĐH Việt Nam
- Phương pháp phỏng vấn nhằm tìm hiểu nhận thức của hiệu trưởng, phóhiệu trưởng, trưởng khoa và các giảng viên về quản lý HĐHT của SV trong đàotạo theo tín chỉ ở trường ĐH cũng như tác dụng, hiệu quả của công tác quản lý SV
đã được thực hiện ở một số trường ĐH
- Phương pháp nghiên cứu điển hình để nghiên cứu một số trường hợp của
SV trong học tập theo HTTC ở trường ĐH Việt Nam nhằm làm rõ hơn thực trạng
- Phương pháp phỏng vấn sâu giúp cho các số liệu đã khảo sát mang tínhkhách quan, trung thực
- Phương pháp chuyên gia: Tiến hành các cuộc tọa đàm với hiệu trưởng, phóhiệu trưởng, trưởng các khoa, trưởng phòng đào tạo, phòng công tác chính trị họcsinh sinh viên, phòng đảm bảo chất lượng giáo dục, phòng thanh tra để tìm hiểuthực trạng về tình hình quản lý hoạt động học tập của SV trong đào tạo theoHTTC ở trường đại học; Tập hợp, khai thác, tổng kết các kinh nghiệm thực tiễntrong việc quản lý HĐHT của SV trong đào tạo theo HTTC ở trường ĐH; Thamkhảo ý kiến của một số nhà khoa học về tính hợp lý và khả thi của các giải pháp đềxuất để quản lý HĐHT của SV trong trường ĐH áp dụng đào tạo theo HTTC
7.4.Phương pháp bổ trợ:
- Phương pháp thống kê toán học: Thống kê toán học để xử lý các số liệu vàkết quả nghiên cứu, tiến hành đánh giá thực nghiệm một số nội dung của hai giảipháp quản lý hoạt động học tập của sinh viên
- Phần mềm SPSS với công thức Kiểm định Chi-square (Chi-square Test):
Kiểm định Chi-square dùng để kiểm định sự độc lập của 2 biến phân loại ngẫu
nhiên Nếu xác suất nhỏ hơn 0.05 (5%, mức ý nghĩa) thì có thể kết luận 2 biến có
mối quan hệ Ngược lại, không có cơ sở để kết luận giữa 2 biến có mối quan
hệ.Chi- square Test xác định tính tác dụng hiệu quả của giải pháp thông qua ý kiến
nhận xét, đánh giá của hiệu trưởng, các cán bộ quản lý nhà trường và giảng viên
về việc nội dung giải pháp đề xuất
8 Luận điểm cần bảo vệ
- Chuyển HĐHT của SV các trường ĐH từ cách học theo niên chế sang cáchhọc theo HTTC là thực hiện bước đổi mới căn bản cách học theo hướng tư duy
Trang 6sáng tạo trong tự chọn lựa tích lũy kiến thức và hình thành cách học mới, thóiquen cho việc học suốt đời.
- Quản lý đào tạo theo HTTC là tạo sự sống động trong mọi HĐHT của SVtheo hướng mở, nâng cao tính tự chủ và sự chịu trách nhiệm về kết quả và chấtlượng học tập, nghiên cứu của từng SV trước bản thân, gia đình và xã hội
- Giải pháp quản lý đề xuất đảm bảo tính hợp lý và hiệu quả cao cho toàn bộquá trình HĐHT theo HTTC của sinh viên thông qua tăng tính tự lập, lựa chọnsáng tạo kiến thức và kỹ năng thực hành theo sở trường, nguyện vọng đáp ứng tốtnhất yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội
9 Những đóng góp mới của luận án
- Đề tài: Quản lý hoạt động học tập của sinh viên theo hệ thống tín chỉ ở trường đại học Việt Nam là đề tài có nội dung nghiên cứu mang tính cấp thiết,
đặc biệt trong xu thế đổi mới căn bản giáo dục đại học Việt Nam trong tiến trìnhhội nhập quốc tế hiện nay và phù hợp với chuyên ngành đào tạo
- Tên luận án và các nội dung nghiên cứu, các số liệu khảo sát, điều tra, kếtluận và 05 giải pháp đề xuất không trùng lặp với các công trình đã nghiên cứu trướcđó
- Phân tích làm rõ thực trạng công tác quản lý HĐHT của SV trong đào tạotheo HTTC ở các trường ĐH Việt Nam, chỉ ra những điểm mạnh, điểm yếu và cácnguyên nhân của thực trạng
- Đưa ra các nội dung cần thiết đối với công tác quản lý HĐHT của SV trongđào tạo theo HTTC ở các trường đại học Việt Nam Đồng thời, đưa ra 05 giải phápnhằm đổi mới và hoàn thiện công tác quản lý HĐHT của SV phù hợp với đào tạotheo quy trình mới theo HTTC ở trường ĐH Việt Nam
Về mặt lý luận
- Luận án đã phân tích được sự cần thiết, tính phù hợp của việc áp dụng quytrình đào tạo mới theo HTTC ở trường ĐH Việt Nam trong bối cảnh hiện nay củađất nước; đặc điểm, yêu cầu của HĐHT của SV theo HTTC; vị trí, vai trò củacông tác quản lý HĐHT của SV ở trường ĐH thực hiện đào tạo theo HTTC
- Luận án xây dựng bổ sung và làm phong phú cơ sở lý luận cho GDĐH, hệthống hóa các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quá trình hình thành và
áp dụng đào tạo theo HTTC ở các trường ĐH Việt Nam, đã đề ra được 5 giải phápquản lý HĐHT của SV trong đào tạo theo HTTC ở trường ĐH, xây dựng làmphong phú cho lý luận quản lý GDĐH nói chung và quản lý HĐHT của SV trongđào tạo theo HTTC ở trường ĐH Việt Nam
Về mặt thực tiễn
Trang 7- Luận án trình bày có hệ thống, khách quan và toàn diện về quá trình pháttriển của GDĐH Việt Nam sau thời kỳ đổi mới gắn liền với yêu cầu đổi mới quytrình đào tạo từ niên chế sang HTTC.
- Kết quả nghiên cứu của luận án là cơ sở để đổi mới công tác quản lý dạyhọc nói chung và hoàn thiện công tác quản lý HĐHT của SV trong quy trình đàotạo mới theo HTTC ở các trường ĐH Việt Nam
- Vận dụng vào quá trình đổi mới quản lý nhà trường, hoạt động dạy học, đặcbiệt đối với công tác quản lý HĐHT của SV trong đào tạo theo HTTC ở trường
ĐH VN
10.Cấu trúc của luận án
Ngoài Phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án được kếtcấu thành 3 chương
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ Ở
TRƯỜNG ĐẠI HỌC
Trang 81.1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
1.1.1 Nghiên cứu ở nước ngoài
1.1.1.1 Các nghiên cứu về hệ thống tín chỉ và đào tạo theo hệ thống tín chỉ
O Regel đã thực hiện một công trình nghiên cứu về “Đào tạo theo hệ thốngtín chỉ trong giáo dục đại học, hiệu quả và sự thích hợp đối với các nước đang pháttriển” Tác giả cho rằng việc nỗ lực áp dụng HTTC vào Hoa Kỳ có ảnh hưởng đếncác nước đang phát triển trong việc mong muốn chuyển đổi hệ thống đào tạo ĐHtại nước họ Sự thay đổi cần thiết này không chỉ xuất phát từ nhu cầu của SV vàcác trường ĐH nhằm tạo điều kiện chuyển đổi SV giữa các trường, mà sự thay đổinày được hiểu như là một yêu cầu đòi hỏi của xã hội phát triển “ Nhân tố chínhthúc đẩy việc thay thế chương trình giảng dạy truyền thống là nhu cầu cần thiếtđối với một hệ thống linh hoạt hơn và phù hợp hơn với nhu cầu đương thời” [125, tr 3]
Tuyên bố Bologna là bản thỏa thuận được Bộ trưởng phụ trách giáo dục đạihọc của 29 nước trong và ngoài Liên hiệp Châu Âu ký kết tại Hội nghị ở Bologna(Ý) ngày 19/6/1999 Tuyên bố này đánh dấu một bước ngoặt trong sự phát triểncủa giáo dục đại học Châu Âu, nhanh chóng được hưởng ứng Theo thống kê tạiHội nghị Bergen (Na Uy) ngày 19-20/5/2005, đã có 40 nước xin gia nhập vàonhóm giáo dục đại học Châu Âu và ký tên vào bản tuyên bố này [17, tr 5]
Bahram Bekhradnia đã tiến hành nghiên cứu về “Nhận định chung về quátrình tích lũy và chuyển đổi tín chỉ, Tuyên bố Bologna” Báo cáo này mô tả vàđánh giá hệ thống tích lũy và chuyển đổi tín chỉ như một phương tiện giúp conngười học tập suốt đời, đồng thời gia tăng sự tham gia học tập của các thành phầntrong xã hội Hệ thống này cũng giúp cho Châu Âu đạt được mục tiêu huy động vàgia tăng số lượng SV trong cộng đồng các trường đại học Châu Âu Chuyển đổitín chỉ cho phép SV chuyển sang học ngành khác, hoặc chuyển sang học trườngkhác, công nhận khối lượng kiến thức đã học của sinh viên [115, tr 7]
Hệ thống tín chỉ ra đời từ thế kỷ XIX ở Hoa Kỳ Về mặt lịch sử, hệ thốngGDĐH của Hoa Kỳ được mô phỏng theo mô hình của các nước Châu Âu, đặc biệt
là mô hình của Anh và Đức Mô hình GDĐH của Anh đã được Hoa Kỳ áp dụng,đồng thời mô hình này chi phối các tổ chức, tiêu chuẩn và chương trình giảng dạyGDĐH của Hoa Kỳ cho đến giữa thế kỷ 19 Sau đó, GDĐH của Hoa Kỳ chịu ảnhhưởng của hệ thống giáo dục Đức khi hoạt động nghiên cứu được đưa vào trường
ĐH như là hoạt động chính và khi GDĐH phát triển mạnh mẽ Thời điểm này, hệthống GDĐH Hoa Kỳ đón nhận sự thay đổi nhanh chóng “Vào năm 1872, hiệutrưởng Eliot đã có sáng kiến đưa ra một hệ thống lựa chọn ở Viện ĐH Harvard.Ông thay đổi hệ thống chương trình đào tạo cứng nhắc cổ điển bằng một sự lựachọn ngày càng rộng rãi các môn học đối với SV” [125, tr2]
Trang 9Hiệu trưởng trường ĐH Harvard là người khởi xướng hệ thống học tự chọn.Ông quyết định thay thế hệ thống bài giảng cố định theo phương thức truyền thốngbằng rất nhiều sự lựa chọn cho SV Ông cho rằng việc nỗ lực áp dụng HTTC vàoHoa Kỳ có ảnh hưởng đến các nước đang phát triển trong việc mong muốn chuyểnđổi hệ thống đào tạo ĐH Sự thay đổi cần thiết này không chỉ xuất phát từ nhu cầucủa SV và các trường ĐH nhằm tạo điều kiện chuyển đổi SV giữa các trường, mà
sự thay đổi này được hiểu như là một yêu cầu đòi hỏi của xã hội phát triển Nhân
tố chính thúc đẩy việc thay thế chương trình giảng dạy truyền thống là nhu cầu cầnthiết đối với một hệ thống linh hoạt hơn và phù hợp hơn với nhu cầu đương thời
Cary J Trexler đã có một nghiên cứu về “Hệ thống tín chỉ tại các trường đạihọc Hoa Kỳ, lịch sử phát triển, định nghĩa và cơ chế hoạt động” Ông cho rằng
“Một nhân tố sống còn của HTTC Mĩ là hệ thống tự chọn môn học Hệ thống môn
tự chọn bắt đầu ở ĐH Harvard trong những năm 1880 nhằm khích thích sự tò mò,ham học của SV Hầu hết các trường ĐH đã đi theo con đường này của Harvard vàthay đổi chương trình được tiêu chuẩn hóa của họ thành hệ thống tự chọn” [36, tr62]
Đồng thời với việc áp dụng đào tạo theo HTTC, các trường ĐH chuyển từchương trình đào tạo tiêu chuẩn hóa cho tất cả SV thành hệ thống môn học tựchọn, hệ thống này cho phép SV được quyền quyết định chọn môn học tùy theothế mạnh và sự quan tâm của mình Sự phát triển các chuyên ngành là một trongnhững điểm xác định cấu trúc tổ chức của hệ thống các trường ĐH Hoa Kỳ, trong
đó, chuyên ngành là một chương trình đào tạo được kết cấu chặt chẽ trong mộtlĩnh vực khoa học cụ thể gồm nhiều tín chỉ lựa chọn khác nhau
So với Hoa Kỳ, hệ thống chuyển đổi TC ở Châu Âu là một HTTC đánh giáviệc học của SV trên cơ sở khối lượng công việc của mỗi HĐHT ECTS khôngquy định cụ thể về tổ chức đào tạo, nhưng có ý nghĩa trong việc tạo điều kiện cho
SV các nước trong khối được đổi ngành học hoặc chuyển trường dễ dàng (Phụ lục 2)
Có thể xem việc ĐH Harvard áp dụng hệ thống chương trình tự chọn đượccấu thành bởi các môdun mà mỗi SV có thể lựa chọn là sự kiện đánh dấu điểmmốc khai sinh HTTC Đầu thế kỷ 20, HTTC được áp dụng rộng rãi trong cáctrường ĐH của Hoa Kỳ Sau đó, nhiều nước lần lượt áp dụng HTTC trong hệthống GDĐH như các nước Bắc Mỹ, các nước Châu Á như Nhật, Philipines, TháiLan, Malaixia, Trung Quốc
1.1.1.2 Các nghiên cứu hoạt động học tập của sinh viên trong hệ thống tín chỉ
Tuyên bố Bologna có một trong những mục tiêu chính đề ra là thiết lập mộtđơn vị tín chỉ chung để đánh giá khối lượng học tập của các giáo trình được dạy ởcác trường ĐH Tuyên bố Bologna đưa ra hệ thống chuyển đổi TC Châu Âu(ECTS) ECTS là hệ thống chuyển đổi TC nhằm xác định việc học tập của SV trên
Trang 10cơ sở khối lượng công việc của mỗi HĐHT Hệ thống này được Cộng đồng cácnước Châu Âu thành lập nhằm tạo điều kiện cho SV các nước trong khối dễ dàngchuyển đổi trường tại nước ngoài ECTS được thiết kế nhằm các mục tiêu:(i) Giúp
SV trong nước và quốc tế dễ dàng hiểu và so sánh các chương trình học tập; (ii)Tạo điều kiện trao đổi SV và chuẩn hóa bằng cấp; (iii) Hỗ trợ các trường ĐH tổchức và rà soát các chương trình học; (iv) Dễ dàng thích nghi với nhiều chươngtrình và phương thức chuyển tiếp; (v)Thu hút SV từ các châu lục khác đến học tậptại châu Âu [107, tr 34]
Theo định nghĩa, ECTS là một HTTC đánh giá việc học của SV trên cơ sởkhối lượng công việc của mỗi HĐHT (theo học một giáo trình, một kỳ thực tập ở
xí nghiệp hay phòng thí nghiệm, viết một luận văn) Một SV toàn phần được tính
là dành cho HĐHT của mình khoảng từ 1500 đến 1800 giờ một năm học, kể cả giờnghe giảng, giờ làm bài tập có hướng dẫn, giờ thực tập trong phòng thí nghiệm ởcác môn khoa học thực nghiệm và giờ học riêng ở nhà Giá trị chung của một tínchỉ ECTS được ấn định theo chuẩn mực là SV đó sẽ đạt được trong một năm họckhoảng 60 tín chỉ Tính trung bình, mỗi ECTS đòi hỏi từ 25 đến 30 giờ làm việc.Bằng cử nhân sẽ được cấp cho SV đạt 180 ECTS Mỗi HĐHT sẽ được nhà trườngđịnh sẵn bằng một bội số của ECTS Như vậy, ECTS là một hệ thống chuyển đổi
TC nhằm xác định việc học tập của SV trên cơ sở khối lượng công việc của mỗiHĐHT
Như vậy, ECTS là hệ thống chuyển đổi TC nhằm đánh giá việc học của SVtrên cơ sở khối lượng công việc của mỗi HĐHT Hệ thống chuyển đổi tín chỉ Châu
Âu không quy định cụ thể về tổ chức và quản lý đào tạo, đây là điểm khác biệt với
mô hình đào tạo theo HTTC của Hoa Kỳ Tuyên bố Bologna và nghiên cứu củaBahram Bekhradnia về ECTS tập trung chủ yếu đánh giá khối lượng học tập của
SV, đánh giá hệ thống tích lũy và chuyển đổi tín chỉ Hệ thống này tạo điều kiệnthuận lợi cho tất cả mọi người có thể học tập suốt đời thông qua việc tích lũy hoặcchuyển đổi tín chỉ
Frances L Hoffman đã thực hiện một nghiên cứu về quản lý GDĐH, đàotạo theo tín chỉ, kiểm định ở Hoa Kỳ và Việt Nam Với nghiên cứu so sánh này,Frances L Hoffman đã cung cấp cho độc giả trên toàn thế giới hiểu hơn về HTTCHoa Kỳ và bối cảnh áp dụng vào Việt Nam Bà đã đưa ra một góc nhìn về GDĐHHoa Kỳ với 4 đặc điểm (i) Phi tập trung, đa dạng, nhiều sứ mạng và do địa phươngquản lý; (ii) Thích ứng cao đối với SV; (iii) SV là trung tâm và (iv) hoạt độngnghiên cứu là trung tâm Đây là một trong những tài liệu rất có ích cho các trường
ĐH, các nhà quản lý nghiên cứu và áp dụng đào tạo theo HTTC [ 40, tr 13]
1.1.1.3 Các nghiên cứu về quản lý hoạt động học tập của sinh viên theo hệ thống tín chỉ
Trang 11Charles T Towley đã tổng kết mô hình quản lý nhà trường ở ĐH NewMexico (Hoa Kỳ) dựa trên nguyên tắc cùng quản lý điều hành để đưa ra các quyếtđịnh liên quan đến công tác đào tạo Bốn vấn đề quan trọng được đề cập liên quanđến quản lý GDĐH đó là (i) Giới khoa học cần có mức độ tự chủ cao, tự do họcthuật là điều kiện tối cần thiết đối với học giả; (ii) Tổ chức hoạt động quản lý vàđáp ứng được các nhu cầu xã hội là hết sức quan trọng; (iii) Trường ĐH cần phảiquan tâm tới đội ngũ giảng dạy, nghiên cứu và sinh viên và (iv) Cùng quản lý đảmbảo được tính tự chủ trong các quyết định liên quan đến đào tạo Hoạt động giảngdạy và học tập trong trường ĐH đòi hỏi phải có sự hợp tác cùng làm việc của GV
và SV, biến quá trình dạy học thành một quá trình trao đổi giữa các cá nhân vớinhau Hoạt động học tập của SV trong HTTC được đề cập như một hoạt động củangười cộng tác với GV, đồng thời SV cần phải tự xây dựng, khám phá mở rộng vàkiến tạo kiến thức cho bản thân Sinh viên đến trường để học tập và trưởng thànhthông qua sự hướng dẫn của GV [32, tr 3]
Nhiều nghiên cứu quốc tế được thực hiện trong những thập kỷ 90, thời kỳnày có rất nhiều trường ĐH trên thế giới áp dụng HTTC Các nghiên cứu này vớimục đích giúp cho người đọc hiểu rõ về lịch sử ra đời của HTTC tại Hoa Kỳ, địnhnghĩa về HTTC, những khái niệm liên quan, cách tổ chức đào tạo theo HTTC…cũng như hiệu quả của việc thực hiện đào tạo theo HTTC Tuy nhiên, các nghiêncứu này không bao gồm các thông tin liên quan đến quản lý GDĐH, quản lý nhàtrường cũng như quản lý các HĐHT của SV
1.1.2 Nghiên cứu ở trong nước
1.1.2.1 Các nghiên cứu về hệ thống tín chỉ và đào tạo theo hệ thống tín chỉ
Đào tạo theo HTTC là một phương thức đào tạo khá mới mẻ ở Việt Nam.Bắt đầu từ năm 1995, được sự chỉ đạo của Bộ GD&ĐT, một số trường dần chuyểnđổi phương thức đào tạo từ niên chế học phần sang HTTC Để có thể rút ngắn thờigian và thực hiện đào tạo theo HTTC có hiệu quả, Bộ GDĐT đã chủ động tổ chứcnhiều hội thảo chuyên đề về HTTC Những hội thảo này đã cung cấp số lượng lớnthông tin về ý nghĩa, lợi ích của quy trình đào tạo theo hệ HTTC Các trường ĐHvừa tiếp nhận thông tin từ Bộ GDĐT, vừa chủ động tìm các cơ hội tiếp cận trựctiếp với các trường ĐH và chuyên gia, học giả từ Hoa Kỳ, Canada, Châu Âu đểtìm hiểu thêm về hình thức đào tạo mới mẻ này Rất nhiều đoàn cán bộ, các nhàhoạch định chính sách, các lãnh đạo trường ĐH đã đến thăm, học tập kinh nghiệmtại các trường ĐH ở Hoa Kỳ với mong muốn hiểu rõ hơn về quy trình đào tạo theotín chỉ Theo đó, các hợp tác quốc tế giữa các trường ĐH Việt Nam và Hoa Kỳđược thiết lập nhằm hỗ trợ các trường ĐH Việt Nam tiến nhanh hơn trong xu thếhội nhập Các Quỹ Văn hóa giáo dục tích cực tham gia vào một loạt các chươngtrình GDĐH để thúc đẩy sự đóng góp có hiệu quả của các học giả quốc tế
Trang 12Nhiều nhà khoa học, quản lý giáo dục đã nghiên cứu các khía cạnh củaHTTC Hoa Kỳ, so sánh với điều kiện thực tiễn ở Việt Nam, rút ra được những bàihọc kinh nghiệm cho trường hợp Việt Nam áp dụng đào tạo đại học theo HTTC
Nguyễn Kim Dung có báo cáo khoa học tại Hội thảo Đào tạo theo tín chỉ về
“Đào tạo theo HTTC: Kinh nghiệm thế giới và thực tế ở Việt Nam” Bài viết trìnhbày một số kinh nghiệm của thế giới trong việc xây dựng và phát triển hệ thốngđào tạo theo tín chỉ Các mô hình chuyển đổi tín chỉ cũng được giới thiệu cùng vớicác chức năng và ưu điểm của chúng Tiếp theo là các kinh nghiệm của Việt Namtrong việc áp dụng hệ thống chuyển đổi tín chỉ trong đào tạo và các ưu khuyếtđiểm của hệ thống này cũng được phân tích làm rõ.[99, tr 56]
Bộ GDĐH và Dự án Giáo dục đại học 2 phối hợp tổ chức Hội thảo Đào tạotheo HTTC tại Đại học Cần Thơ năm 2010 Tại Hội thảo này, ngoài các báo cáotham luận của một số trường ĐH về kinh nghiệm triển khai đào tạo theo HTTC,
Vụ Giáo dục đại học và nhóm chuyên gia đã trình bày 3 nội dung chính của báocáo Phần 1 cung cấp tổng quan về đào tạo theo HTTC, mô tả sự tiến triển, ưuđiểm, nhược điểm của HTTC và kinh nghiệm áp dụng tại một số nước đang pháttriển Phần 2 tập trung phân tích quá trình chuyển đổi quy trình đào tạo trong cáctrường ĐH và CĐ từ niên chế sang HTTC Phần 3 và 4 phân tích thực trạng củaviệc triển khai đào tạo theo HTTC, các vướng mắc kiến nghị từ các trường, giảipháp và khuyến nghị để giải quyết các vướng mắc nhằm phát triển phương thứcđào tạo này trong toàn hệ thống GDĐH.[17, tr18]
1.1.2.2 Các nghiên cứu hoạt động học tập của sinh viên trong hệ thống tín chỉ
Hoạt động học tập của SV là một vấn đề được quan tâm trong trường ĐH
Có nhiều công trình nghiên cứu về học tập của các tác giả, các nhà nghiên cứu như
Vũ Văn Tảo " Dạy cách học", Phan Trọng Luận " Tự học - Một chìa khoá vàngcủa giáo dục", Nguyễn Kỳ " Phương pháp giáo dục lấy người học làm trung tâm".Những công trình nghiên cứu này cũng đã khẳng định vai trò thiết yếu của HĐHTcủa SV trong trường ĐH Bản chất của hoạt động học là việc của mỗi cá nhân, củangười học trong tính cách riêng của người đó Trong việc truyền đạt tri thức vàhọc tập, việc dạy một môn học hoặc kỹ năng tiếp thu được – người học vừa là chủthể và vừa là mục đích cuối cùng của quá trình Cùng với sự phát triển cách mạngkhoa học và kỹ thuật, khoa học giáo dục đã chuyển từ quan điểm dạy học “lấyngười dạy làm trung tâm”, chuyển sang quan điểm “lấy người học làm trung tâm”
… Thực chất là chuyển từ chỗ “lấy việc dạy làm trung tâm” sang “lấy việc học làmtrung tâm” [ 79, tr 42]
Hoạt động học tập theo hệ thống niên chế được tổ chức thực hiện theo kếhoạch chung của nhà trường, SV học tập theo thời khóa biểu và thời gian biểu cụ
Trang 13thể, SV học tập trong một tập thể lớp cố định từ khi bắt đầu nhập học đến khi kếtthúc khóa học
HTTC làm tăng tính mềm dẻo của chương trình đào tạo và tăng cường tínhchủ động và khả năng linh hoạt của SV trong quá trình học tập Bất cứ kỹ năng cụthể và kỹ thuật hiện đại nào cũng trở nên lạc hậu rất nhanh Vì vậy, thay vì đượcđào tạo những kiến thức kỹ năng cụ thể, SV cần phải được trang bị những kiếnthức kỹ năng cơ bản của chuyên ngành, SV phải thành thạo trong các kỹ năngmềm để thích nghi và hòa nhập tốt vào môi trường làm việc năng động Nói cáchkhác, yêu cầu của phương thức đào tạo thay đổi, SV phải "học cách học" HTTCcho phép SV được chuyển đổi ngành học, trường học, được công nhận các tín chỉ
đã tích lũy
Eli Mazur & Phạm Thị Ly đã thực hiện một nghiên cứu so sánh hệ thốngHTTC Hoa Kỳ và gợi ý hướng đi cho GDĐH Việt Nam Trong đó, HĐHT của SVđược phân tích hướng đến sự chủ động và được phát huy tối đa tính tích cực trongviệc tự chọn theo học một số môn học, tích lũy tín chỉ để tốt nghiệp, cũng có thểchuyển đổi giữa các trường với một số điều kiện nhất định “Thực tế, SV nhữngtrường này hầu như không được lựa chọn các môn học, bởi vì không phải lúc nàonhà trường cũng có sẵn GV cho các môn học tự chọn đó Hơn nữa, việc áp dụngHTTC hiện tại ở Việt Nam cũng không cho phép SV chọn môn học ở khoa khácnhau trong trường, cho dù những môn này có liên quan đến lĩnh vực chuyên ngànhcủa họ Kết quả là điểm khác nhau duy nhất giữa những trường đang áp dụngHTTC và những trường chưa áp dụng, SV được phép học theo tiến độ của họ, cóthể tốt nghiệp trước hạn hoặc sau hạn một vài năm [39, tr86]
Lâm Quang Thiệp là một trong những người đã viết nhiều tài liệu, báo cáo
về đào tạo theo HTTC Báo cáo khoa học “Về phương pháp dạy, học và đánh giákết quả học tập trong học chế tín chỉ ” đã làm sáng rõ lý luận và phương pháp dạy,học và đánh giá kết quả học tập trong đào tạo theo HTTC Bản chất của tín chỉ là
cá thế hóa việc học tập trong một nền GDĐH cho số đông Các triết lý làm nềntảng cho học chế tín chỉ là “giáo dục hướng về người học” và “giáo dục đại họcđại chúng” Theo đó, phương pháp dạy và học theo tín chỉ sđược quan niệm mộtcách tổng quát, học là quá trình tự biến đổi mình và làm phong phú thêm bằngcách chọn, nhập và xử lý thông tin [21, tr19]
1.1.2.3 Các nghiên cứu về quản lý hoạt động học tập của sinh viên theo hệ thống tín chỉ
Ban Liên lạc các trường ĐH và CĐ Việt Nam đã tổ chức Hội thảo khoa họcnăm 2008 về “ Quản lý sinh viên trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ” Tại Hội thảonày, rất nhiều nhà khoa học, nhà quản lý giáo dục trình bày các báo cáo khoa họcliên quan đến công tác quản lý SV trong đào tạo theo HTTC Nguyễn Quang Giao
Trang 14bàn về những khó khăn trong công tác quản lý SV khi thực hiện đào tạo theoHTTC Ninh Quang Thăng tham gia hội thảo với bài “Phân định trách nhiệm trongtác quản lý sinh viên” Trần Văn Chính có tham luận về công tác quản lý sinh viêntrong đào tạo theo HTTC Phương pháp học tập và quản lý học tập của SV trongđào tạo theo HTTC được Ngô Doãn Đãi khái quát đầy đủ Ông cho rằng phươngpháp học tập của SV phụ thuộc vào quan điểm của người thầy đối với người họcnhư những đối tượng đào tạo Ông cho rằng có ba yếu tố chính để quản lý học tậpcủa SV: (i) Đề cương môn học của thầy; (ii) Đánh giá thường xuyên trong quátrình đào tạo và thay đổi nội dung thi, kiểm tra và (iii) Cách đánh giá kết quả mônhọc Một số góp ý rất thiết thực để quản lý HĐHT của SV đó là (i) Không nênquản lý việc học tập của SV bằng các biện pháp kiểm tra hành chính hoặc công tác
tư tưởng; (ii) Nên nghiên cứu kinh nghiệm của các nước phát triển, tổ chức traođổi rộng rãi trong đội ngũ CBQL, cán bộ giảng dạy để có những nhận thức mới, từ
đó có ý tưởng mới và (iii) Khi áp dụng kinh nghiệm của các nước cần tránh suynghĩ máy móc mà phải sáng tạo, tìm ra những giải pháp phù hợp với điều kiện củaViệt Nam.[22, tr 6]
Đặng Xuân Hải cũng đã có nhiều bài báo về tín chỉ như “Đào tạo theo hệthống tín chỉ ở Việt Nam: vấn đề và thực tiễn triển khai”; “ Về tính tự chủ, tự chịutrách nhiệm của sinh viên và giảng viên trong phương thức đào tạo theo học chếtín chỉ” Ông rất quan tâm đến các vấn đề thực tiễn ở Việt Nam với câu hỏi đặt ra,khi chuyển đổi phương thức đào tạo sang học chế tín chỉ, đó là sẽ quản lý SV nhưthế nào và đánh giá lao động đối với GV như thế nào Điều này phụ thuộc vàoquan điểm về tự chủ và tự chịu trách nhiệm của người học và người dạy trong họcchế tín chỉ Với sự đánh giá cụ thể đối với khái niệm tự chủ, tự chịu trách nhiệmtrong trường đại học, các giải pháp/ điều kiện được nêu ra để có thể thực hiệnđược vấn đề trên [48, tr 36]
Trường ĐH Xây dựng là một trong những trường ĐH đầu tiên phía Bắcthực hiện quản lý đào tạo theo HTTC Trường đã chủ trì triển khai đề tài nghiêncứu (2008-2009) về cải tiến công tác quản lý và nâng cao chất lượng đào tạo theoHTTC Mục tiêu của đề tài tập trung nghiên cứu để áp dụng những nội dung cơbản trong Nghị quyết của Chính phủ Việt Nam về đổi mới GDĐH Việt Nam giaiđoạn 2006-2020, đề án đổi mới GDĐH Việt Nam và lộ trình chuyển sang đào tạotheo HTTC để đánh giá quá trình quản lý đào tạo ở trường ĐH Xây dựng Đồngthời, đề tài đề xuất các giải pháp nhằm phát huy những mặt mạnh và khắc phụcnhững bất cập trong các khâu của quá trình tổ chức quản lý đào tạo theo tín chỉ.Nhóm tác giả đánh giá hiện trạng của công tác xây dựng đội ngũ, công tác sinhviên, công tác xây dựng cơ sở vật chất và công tác tổ chức và quản lý đào tạo.Thực tế nghiên cứu tại trường ĐH xây dựng cho thấy „sau hơn 15 năm thực hiện
Trang 15đào tạo theo HTTC, việc quản lý HĐHT của SV trong đào tạo theo tín chỉ vẫnđang trong quá trình được điều chỉnh để phù hợp“.[76, tr 81]
1.1.3 Các nội dung cần tiếp tục nghiên cứu để áp dụng tại trường đại học Việt Nam
Qua nghiên cứu một số các tài liệu về đào tạo theo HTTC Hoa Kỳ và Hệthống chuyển đổi tín chỉ Châu Âu cho thấy, chủ yếu các tài liệu nghiên cứu về lịch
sử ra đời của HTTC mục đích ban đầu của hệ thống này trước yêu cầu thay đổicủa nền kinh tế xã hội thời bấy giờ Hệ thống tín chỉ đem lại cho SV và nhà trường
sự linh hoạt hơn trong nội dung của khóa học, tạo tiền để cho việc các cơ sở đàotạo công nhận chương trình của nhau và cho phép trao đổi SV giữa các trường, cácquốc gia, cho phép SV có thể thay đổi môn học theo khả năng và điều kiện của cánhân Điều này cần thiết do nền kinh tế hiện đại yêu cầu về lực lượng lao độngthay đổi rất nhanh Các kiến thức nghề nghiệp được học trong trường ĐH sẽ lạchậu nhanh chóng Thay vì trường ĐH chỉ cung cấp cho SV kiến thức chuyênngành, SV vừa phải lĩnh hội kiến thức, vừa phải học cách chủ động trong học tập,hay nói cách khác, học để biết cách học Sinh viên cần phải tự xây dựng kế hoạchhọc tập, thành thạo trong các “kỹ năng mềm” mà bất cứ môi trường làm việc nàocũng yêu cầu Tuy nhiên, các nghiên cứu này đề cập đến các vấn đề về quản lý đàotạo, như hệ thống tự chọn các môn học, việc thực hiện chương trình đào tạochuyên ngành, đề cương môn học… Các nội dung về quản lý HĐGD và học tậptheo HTTC chưa được đề cập đến
Quản lý HĐHT của SV là một trong những công tác trọng tâm củatrường ĐH Đào tạo theo niên chế hay đào tạo theo HTTC thì SV vẫn là đối tượngcủa hoạt động giảng dạy Tuy vậy, trong đào tạo theo HTTC, SV đóng vai tròtrung tâm và tự họ chuyển đổi từ đối tượng thụ động sang đối tượng chủ động.Sinh viên chủ động tự thiết kết lộ trình tích lũy kiến thức, lựa chọn chương trìnhhọc, cách thức học phù hợp với chính mình Vì vậy, quan điểm SV là nhân vậttrung tâm trong nhà trường càng được khẳng định Trước đây, các trường ĐH ViệtNam thực hiện đào tạo theo niên chế SV được học tập theo kế hoạch do nhàtrường lập từ đầu năm học, bao gồm thời gian, môn học cố định, phương phápgiảng dạy chủ yếu „ thầy đọc, trò chép“, hình thức tổ chức dạy học chủ yếu họctập trung trên lớp Do vậy, SV được quản lý theo lớp SV, công tác quản lý HĐHTcủa SV được thực hiện theo các hoạt động thường xuyên, cố định theo kế hoạchnhư kiểm tra nề nếp sinh hoạt, học tập, điểm danh, kiểm tra kiến thức theo bàiđịnh kỳ Thực tế HTTC có rất nhiều đặc điểm khác biết so với niên chế, trường
ĐH linh hoạt trong việc giảng dạy, SV chủ động học tập theo tiến độ cá nhân, SVđược lựa chọn môn học phù hợp với năng lực và sở trường Như vậy, cách quản lý
SV theo kiểu niên chế không còn phù hợp Trường ĐH cho phép SV lựa chọn mônhọc, bổ sung hoặc liên thông Mỗi SV có kế hoạch học tập sao cho đạt được mục
Trang 16tiêu học tập cá nhân SV không chỉ thay đổi phương pháp học tập mà cách lập kếhoạch học tập, thời gian học tập, kỹ năng tự học, các sinh hoạt đều phải thay đổi.
Nhiều trường ĐH còn lúng túng khi xử lý những vấn đề phát sinh trong công tác quản lý SV nói chung, công tác quản lý HĐHT của SV nói riêng Hệ thống văn bản quy phạm, quy chế hướng dẫn về quản lý HĐHT của SV trong đào tạo theo HTTC chưa hoàn thiện, công tác xây dựng bộ máy và hệ thống quản lý HĐHT của
SV trong HTTC chưa rõ Nhà trường vẫn đang tiến hành quản lý SV học tập thông qua lớp SV, trong khi SV chủ yếu học ở lớp tín chỉ Việc SV chọn nhầm môn học, không hiểu biết để đăng ký thi hoặc thi lại, đăng ký học không đủ số TC quy định xảy ra thường xuyên Điều này dẫn đến công tác quản lý HĐHT của SV trong HTTC hiện tại còn bất cập, cần thiết phải có giải pháp cụ thể để phù hợp.
Một số nghiên cứu về tín chỉ Hoa Kỳ áp dụng vào Việt Nam cũng chỉ tậptrung vào phân tích khó khăn, thuận lợi và các yêu cầu cần phải đạt được khichuyển đổi quy trình đào tạo từ niên chế sang tín chỉ Hầu hết chưa có nghiên cứunào phân tích đánh giá liên quan đến công tác quản lý HĐHT của SV trong đàotạo theo HTTC Nhận thức được tầm quan trọng cũng như tính thời sự của đề tài,tác giả đã xin ý kiến các nhà quản lý giáo dục, các chuyên gia và các thầy cô giáohướng dẫn, thực hiện nghiên cứu về “Quản lý hoạt động học tập của sinh viêntrong đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở trường đại học Việt Nam” Để đạt được mụcđích nghiên cứu, tác giả thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về hoạt động học tập, quản lý hoạt động học tập của SV theo HTTC ở trường đại học.
- Nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động học tập của SV, phát hiện những điểm mạnh và điểm khó khăn, nguyên nhân khách quan và chủ quan của thành công và hạn chế trong công tác quản lý HĐHT của SV trong đào tạo theo HTTC ở các trường ĐH Việt Nam.
- Đề xuất những giải pháp chủ yếu quản lý hoạt động học tập của SV trong đào tạo theo HTTC, góp phần nâng cao chất lượng học tập của sinh viên.
- Khảo nghiệm một vài giải pháp quản lý hoạt động học tập của SV theo HTTC ở một số trường ĐH để kiểm nghiệm tính hợp lý và khả thi cũng như đánh giá thực nghiệm tác dụng và hiệu quả của nội dung một số giải pháp.
1.2 LÝ LUẬN QUẢN LÝ TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÀ HỆ THỐNG TÍN CHỈ
1.2.1 Quản lý nhà trường
Trong nghiên cứu khoa học về quản lý, có rất nhiều quan niệm về quản lýdựa trên những cách tiếp cận khác nhau Thuật ngữ quản lý có thể hiểu là hoạtđộng của chủ thể quản lý tác động một cách có tổ chức, có định hướng đến mộtđối tượng nhất định nhằm điều chỉnh quá trình xã hội và hành vi của con người đểduy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng bị quản lý theo những mục tiêu đã
Trang 17đặt ra.Trong những tài liệu, giáo trình về quản lý, quản lý giáo dục nói chung,quản lý nhà trường nói riêng, quản lý hoạt động dạy học là một trong những nhiệm
vụ cơ bản bên cạnh những nhiệm vụ khác như nội dung, chương trình, phươngpháp giảng dạy, cơ sở vật chất… Đó là những hoạt động mà bất cứ nhà quản lýgiáo dục nào cũng phải thực hiện khi triển khai qui trình quản lý trong giáo dục
Theo Bùi Minh Hiền và các tác giả: Quản lý xã hội lấy tiêu điểm là quản lýgiáo dục (giáo dục là quốc sách hàng đầu) thì quản lý giáo dục phải coi con người
là nút bấm (quản lý nhà trường làm nền tảng) và quản lý nhà trường phải lấy quản
lý việc dạy học là khâu cơ bản, việc dạy học phải xuất phát (từ) và hướng (vào)người học [45, tr210]
Khái niệm quản lý nhà trường dựa trên khái niệm quản lý giáo dục Cácnghiên cứu cho thấy, quản lý nhà trường được xem xét dưới hai góc độ:
- Quản lý giáo dục ở cấp độ vĩ mô (Quản lý giáo dục) được hiểu là nhữngtác động tự giác (có ý thức, mục đích, có kế hoạch, có hệ thống và hợp quy luật…)của chủ thể quản lý giáo dục đến tất cả các mắt xích của hệ thống giáo dục nhằmthực hiện có chất lượng và hiệu quả việc tổ chức, huy động, điều phối, giám sát vàđiều chỉnh, … các nguồn lực (Nhân lực, vật lực, tài lực và thông tin) để hệ thốnggiáo dục vận hành đạt được mục tiêu phát triển giáo dục Quản lý nhà trường đượchiểu theo nghĩa hoạt động của các cơ quan quản lý giáo dục như Bộ GDĐT, sởGDĐT, … và các cấp chính quyền từ trung ương đến địa phương đối với một cơ
Ở cấp độ vi mô, quản lý nhà trường được hiểu theo nghĩa hoạt động củachủ thể quản lý của một cơ sở giáo dục đối với các hoạt động giáo dục của cơ sởgiáo dục mà họ được giao trách nhiệm quản lý Chủ thể quản lý ở đây được hiểu làhiệu trưởng hoặc giám đốc, những người có chức vụ tương đương
Quản lý nhà trường là một bộ phận trong quản lý giáo dục “Nhà trường là
tổ chức giáo dục mang tính quyền lực nhà nước-xã hội, trực tiếp làm công tác giáodục và đào tạo, thực hiện việc giáo dục và cho thế hệ trẻ và đội ngũ nhân lực xãhội Nhà trường là tế bào cơ sở, chủ chốt, là khách thể cơ bản của tất cả các cấpquản lý, lại vừa là một hệ thống độc lập, tự quản của xã hội, do đó quản lý nhàtrường nhất thiết vừa phải có tính nhà nước, vừa có tính xã hội [98, tr 156]
Trang 18Theo Trần Kiểm, Quản lý nhà trường thực chất là việc xác định vị trí củamỗi người trong hệ thống xã hội, là quy định, chức năng, quyền hạn, nghĩa vụ,quan hệ cùng vai trò xã hội của họ mà trước hết là trong phạm vi nhà trường với tưcách là một tổ chức xã hội [64, tr259]
Quản lý nhà trường thực chất là quản lý con người Trong nhà trường, GV
và SV vừa là đối tượng, vừa là chủ thể quản lý Giữa các chủ thể quản lý này có sựliên kết chặt chẽ bởi cơ chế hoạt động của những tính quy luật khách quan của xãhội - nhà trường, và bởi hoạt động chủ quan, hoạt động quản lý của chính bản thân
GV và SV Với tư cách là đối tượng quản lý, họ là đối tượng tác động của chủ thểquản lý (Hiệu trưởng) Với tư cách là chủ thể quản lý, họ là người tham gia chủđộng tích cực vào hoạt động quản lý chung và biến nhà trường thành hệ tự quản lý
Vậy, quản lý nhà trường được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, cómục đích, có kế hoạch, có hệ thống và hợp quy luật) của chủ thể quản lý nhàtrường (Hiệu trưởng) đến khách thể quản lý nhà trường (Giáo viên, nhân viên,người học…) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả các hoạt động giáo dục
và hoạt động dạy học của nhà trường đạt tới mục tiêu giáo dục
1.2.2 Hệ thống tín chỉ
1.2.2.1 Hệ thống tín chỉ
Theo Cary J Trexler, “Hệ thống tín chỉ là một cách miêu tả tính chất hệthống một chương trình giáo dục bằng cách gắn đơn vị tín chỉ vào các thành tố bộphận của chương trình Tín chỉ trong giáo dục Hoa Kì dựa trên số giờ lên lớp củasinh viên và điểm số mà sinh viên đạt được trong môn học ấy” [36, tr60]
Cary J Trexler cho rằng: “Hệ thống tín chỉ trong các trường ĐH Hoa Kỳđòi hỏi phải hoàn toàn thường là 120 TC trong vòng 4 năm để có một bằng ĐH.Điều này tương đương với 15 TC mỗi học kỳ … Tín chỉ phản ánh toàn bộ khốilượng công việc, cả trong và ngoài lớp học Một bài giảng tiêu biểu là 3 TC, trong
đó có 3 giờ lên lớp mỗi tuần (thường là 3 lần/ tuần, mỗi lần 50 phút), cùng với 6-9giờ làm việc ngoài lớp học (1 giờ trong lớp đòi hỏi 2-3 giờ chuẩn bị và tự học bênngoài lớp học) Như vậy tổng số khối lượng công việc của 1 TC là 3-4 giờ ( kếthợp cả giờ lên lớp và giờ làm việc ngoài lớp học)” [36, tr60]
Như vậy, hệ thống tín chỉ là bảng liệt kê:(i) Số tín chỉ được quy định chomỗi môn học, cụ thể số giờ lên lớp học lý thuyết, thực hành cho mỗi môn họctrong 1 tuần kéo dài suốt 1 học kỳ; (ii) Số tín chỉ cần tích lũy để đạt một văn bằng;(iii) Số lượng các môn học và phương thức tổ hợp các môn học để tích lũy số tínchỉ cần cho một văn bằng
Theo Eli Mazur & Phạm Thị Ly: “ở cấp độ bề mặt, hệ thống đào tạo theotín chỉ của Hoa Kỳ là một cơ cấu quản lý đơn giản để tính toán quá trình học tậpcủa SV cho đến lúc tốt nghiệp”.[39, tr64]
Trang 19HTTC cung cấp cho các nhà quản lý một công cụ để phân tích hoạt độngcủa nhà trường Nhà trường dùng đơn vị giờ tín chỉ để xây dựng các mức học phí,phân bổ nguồn lực về cơ sở vật chất và con người, phân tích năng suất của từng cánhân giảng viên và của từng khoa Đồng thời, HTTC cung cấp một thước đo chonăng suất lao động của 1 GV HTTC cho phép thực hiện nội dung đào tạo linhhoạt Sinh viên được quyền thay đổi chuyên ngành, chương trình học, chuyển từtrường này sang trường khác thông qua hệ thống chuyển đổi tín chỉ Sinh viên cóthể tự đo lường được tiến độ học tập của mình.
1.2.2.2 Tín chỉ
Theo O Regel, “Tín chỉ là đơn vị mà trường ĐH dùng để đo khối lượnghọc tập Số tín chỉ của một môn học là số giờ lên lớp của một môn trong tuần chomột học kỳ” [125, tr3]
Arthur Levine cho rằng: “Tín chỉ là một số đo định lượng theo thời gianđược gán cho các môn học hoặc các hoạt động học tập tương đương với môn học”.[16, tr 74]
Quy chế 43 quy định: Tín chỉ được sử dụng để tính khối lượng học tập củasinh viên Một tín chỉ được quy định bằng 15 tiết học lý thuyết; 30-45 tiết thựchành, thí nghiệm hoặc thảo luận; 45-90 giờ thực tập tại cơ sở; 45-60 giờ làm tiểuluận, bài tập lớn hoặc đồ án, khóa luận tốt nghiệp Đối với những học phần lýthuyết hoặc thực hành, thí nhiệm, để tiếp thu được một tín chỉ SV phải dành ít nhất
30 giờ chuẩn bị cá nhân Hiệu trưởng các trường quy định cụ thể số tiết, số giờ đốivới từng học phần cho phù hợp với đặc điểm của trường [6, tr 2]
Như vậy, tín chỉ được tính qua số giờ làm việc thực sự của người học, baogồm cả số tiết lên lớp (nghe giảng, thực nghiệm….) và số giờ ngoài lớp (thực tập,
tự học, tự nghiên cứu, chuẩn bị đồ án, …) 1 tín chỉ được quy định bằng 45 giờ làmviệc của người học Khái niệm tín chỉ có hai ý nghĩa: (i) là đơn vị để đo khốilượng của các học phần; và (ii) xác định khối lượng lao động học tập của ngườihọc Tín chỉ là đơn vị đo khối lượng lao động học tập trung bình của người học,gồm (i) thời gian học tập trên lớp, (ii) thời gian học tập trong phòng thí nghiệm,thực tập, thực hành, hoặc thực hiện các công việc liên quan đến học tập được quyđịnh trong đề cương môn học, (iii) Thời gian tự học ngoài giờ lên lớp, chuẩn bịbài, tìm tài liệu
1.2.2.3 Đơn vị tín chỉ
C James Quann cho rằng: “Tín chỉ học tập là một đại lượng đo toàn bộphần thời gian bắt buộc của một SV bình thường để học một giáo trình cụ thể.Thời gian toàn phần gồm 3 thành tố: (i) thời gian lên lớp; (ii) thời gian ở phòng thínghiệm, studio, thực tập hoặc các phần việc khác đã được quy định ở thời khóa
Trang 20biểu; (iii) và thời gian dành cho đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề, viết hoặcchuẩn bị bài” [16, tr 37]
Theo Cary J Trexler: “Đơn vị tín chỉ có nghĩa tương tự như thuật ngữ giờtín chỉ Một hình thức tiêu chuẩn hóa việc tính đếm thời gian của khóa học”[36, tr 61]
Như vậy, một đơn vị TC được hiểu tương đương với ba giờ làm việc của
SV đối với một giờ học trên lớp, hai giờ tự học hoặc thực hành trong phòng thínghiệm, hoặc ba giờ tự nghiên cứu được tích lũy đánh giá và cuối môn học trongmột học kỳ
Quy chế 43 quy định về khối lượng học tập tối thiểu mà mỗi SV phải đăng
ký trong mỗi học kỳ như sau: “(a) 14 tín chỉ cho mỗi học kỳ, trừ học kỳ cuối khóahọc, đối với những sinh viên được xếp hạng học lực bình thường; (b) 10 tín chỉcho mỗi học kỳ, trừ học kỳ cuối khóa học, đối với những sinh viên đang trong thờigian bị xếp hạng học lực yếu; và (c) Không quy định khối lượng học tập tối thiểuđối với sinh viên ở học kỳ phụ” Quy định về đăng ký khối lượng học tập tối đađối với SV đang trong thời gian bị xếp hạng học lực yếu: “SV đang trong thời gian
bị xếp hạng học lực yếu chỉ được đăng ký khối lượng học tập không quá 14 TCcho mỗi học kỳ”
Như vậy, SV ở các trường ĐH Việt Nam được công nhận tốt nghiệp khitích lũy đủ số học phần quy đinh cho chương trình đào tạo ĐH với số TC 180 TCđối với khóa ĐH 6 năm; 150 TC đối với khóa ĐH 5 năm và 120 TC đối với khóa
ĐH 4 năm và có đủ các điều kiện thỏa mãn các yêu cầu về kết quả rèn luyện vàhọc tập theo quy định
2 quí, một tiến trình giảng dạy 50 phút/ tuần trong suốt 16 tuần ( thường là 15 tuầnhọc và 1 tuần thi) được ấn định là một giờ tín chỉ của học kì 2 quí ” [16, tr 37]
Theo Quy chế 43, “một tiết học được tính bằng 50 phút”
Như vậy, ở Việt Nam, giờ tín chỉ tương đương với 50 phút và gọi là 1 tiếthọc Hiệu trưởng các trường ĐH quy định số tiết, số giờ đối với từng môn học chophù hợp
1.3 HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ
1.3.1 Hoạt động học tập của sinh viên
Trang 21Trong quá trình dạy học ĐH tồn tại sự tương tác của ba yếu tố: người dạy,người học và đối tượng dạy học Đối tượng của hoạt động dạy là hoạt động họccủa chính bản thân người học Người học vừa là khách thể của hoạt động dạy vừa
là chủ thể của hoạt động học Xem xét hệ thống giáo dục trước đây, SV được nóiđến trong hoạt động dạy học như là một khách thể Khách thể này chịu sự tác độngcủa chủ thể - người dạy Người dạy chủ động quyết định mục tiêu, nội dung vàphương pháp tác động đến người học, người học trở nên thụ động chịu sự tác độngcủa người dạy Hướng tác động chính từ người dạy đến người học
Hoạt động dạy và hoạt động học có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, thể hiện
ở mối quan hệ tương tác giữa các thành tố: mục tiêu, nội dung, phương pháp củahoạt động dạy và hoạt động học Hoạt động học, trong đó có hoạt động nhận thứccủa SV có vai trò quyết định kết quả dạy học “ Học là quá trình tương tác giữa cáthể với môi trường, kết quả là dẫn đến sự biến đổi bền vững về nhận thức, thái độhay hành vi của cá thể đó”.[79,tr15]
Để hoạt động học có kết quả thì hoạt động dạy của GV phải xuất phát từlôgíc của khái niệm khoa học, xây dựng công nghệ dạy học, tổ chức tối ưu hoạtđộng cộng tác của dạy và học, thực hiện tốt các chức năng của dạy cũng như củahọc Đây là khâu cơ bản để tiếp tục hoàn thiện công tác quản lý hoạt động học của SV
Theo góc độ tâm lí học, học tập thường quan tâm nhiều đến mục đích vàđộng cơ của nó “Do tác động của hoạt động dạy học nói riêng, quá trình đào tạonói nhung, sinh viên, khi mới vào trường đại học, … từ chỗ chưa yêu nghề đếnchỗ yêu nghề, găn bó ới nghề nghiệp tương lai mà mình đã chọn;… từ chỗ chưanhận thức được mục đích đào tạo dần dần hiểu được đầy đủ, sâu sắc mục đích,nhiệm vụ học tập, rèn luyện nói chung, đối với từng bộ môn nói riêng;” [46, tr 39]
Dưới góc độ lí luận dạy học ĐH, N.V Cudomina coi “Học tập là loại hoạtđộng nhận thức cơ bản của sinh viên được thực hiện dưới sự hướng dẫn của cán
bộ giảng dạy Trong quá trình đó, việc nắm vững nội dung cơ bản các thông tin màthiếu nó thì không thể tiến hành được hoạt động nghề nghiệp tương lai” [84, tr 89]
Học tập là việc học có chủ ý, có mục đích định trước, được tiến hành bởimột hoạt động đặc thù – hoạt động học, nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân Đặctrưng của học tập nhằm thỏa mãn một nhu cầu nhất định, được kích thích bởi động
cơ học và được thực hiện bởi một hoạt động chuyên biệt: hoạt động học với nộidung, phương pháp và phương tiện riêng HĐHT có thể được thực hiện theo nhiềuhình thức phong phú
Từ quan điểm về học tập nói trên, chúng ta có thể nhận thấy đó là một hoạtđộng mà chủ thể chính là người học, tri thức và kỹ năng chính là đối tượng của nó.Việc tiếp nhận tri thức, kỹ năng được diễ ra theo cơ chế nhập tâm Quá trình đó
Trang 22diễn ra trên cơ sở hoạt động của hệ thần kinh, cấu trúc của nó bao gồm các giácquan, nơ ron thần kinh và não Mỗi bộ phận này có những chức năng khác nhau.
Nguyễn Thạc- Phạm Thành Nghị cho rằng, “Hoạt động học tập ở đại học làmột loại hoạt động tâm lý được tổ chức một cách độc đáo của SV nhằm mục đích
có ý thức là chuẩn bị trở thành người chuyên gia phát triển toàn diện sáng tạo và
có trình độ nghiệp vụ cao” [84, tr 90]
Charles Towley cho rằng, SV đến trường ĐH để học tập và trưởng thành.Trong đào tạo theo HTTC, SV và GV là những người cộng tác của nhau Trongmối quan hệ này, SV vừa là người cộng tác, vừa là người kiến tạo kiến thức Sinhviên học tập thông qua việc tạo ra những mối liên hệ, và khám phá ra những mốiliên hệ đó Sinh viên chủ động xây dựng, khám phá, biến đổi và mở rộng kiến thứccủa mình Để khuyến khích SV thực hiện việc học tập có hiệu quả, GV cần nỗ lựcphát huy năng lực của mình Quá trình dạy học đòi hỏi phải có sự hợp tác tốt, GV
và SV phải cùng nhau làm việc, biến quá trình đào tạo thành một quá trình trao đổigiữa các cá nhân với nhau.[32, tr39]
Hoạt động học tập của SV là hoạt động lĩnh hội tri thức Khi tiến hànhHĐHT, SV không chỉ tiếp nhận kiến thức chuyên ngành thụ động từ người thầy
mà họ cần chủ động trong quá trình học tập Sinh viên tiến hành hoạt động nhậnthức mang tính chất nghiên cứu trên cơ sở tư duy độc lập sáng tạo HĐHT của SVmang tính tự giác, tích cực, chủ động HĐHT được hình thành và tổ chức mộtcách có khoa học thông qua công tác tổ chức quản lý giáo dục của nhà trường
Hoạt động học tập theo HTTC bao gồm cả hoạt động học tập chính thức vàhoạt động học tập không chính thức Hoạt động học tập chính thức diễn ra ở trongtrường học, có mục đích, nội dung, phương pháp và hình thức theo đúng quy địnhcủa Bộ GDĐT thông qua các quy chế, thông tư hướng dẫn Hoạt động học tậpkhông chính thức bao gồm nhiều hình thức và mức độ như tự nghiên cứu không cóhướng dẫn, học thông qua trao đổi, hội thảo khoa học
1.3.2 Mục tiêu học tập
Theo Cary J, Trexler "Mục tiêu học tập theo HTTC là những tri thức và kỹnăng cụ thể mà SV sẽ đạt được trong một môn học hay một chương trình học cụthể" [36, tr 60]
Jim Cobbe cho rằng, "Mục tiêu chủ yếu của việc áp dụng HTTC phải làđem lại cho SV và nhà trường sự linh hoạt nhiều hơn trong nội dung của khóa học,làm cho việc cập nhật nội dung chương trình đào tạo thành ra dễ dàng hơn vànhanh chóng hơn bằng cách cho phép các cá nhân có thể thay đổi các môn học(thêm hoặc bớt, hoặc cập nhật các môn, và cho phép các trường nhanh chóng điềuchỉnh số sinh viên trong từng ngành mà họ đào tạo" [59, tr 3]
Trang 23Vậy, mục tiêu của đào tạo theo HTTC chính là đem lại cho nhà trường và
SV sự linh hoạt hơn trong nội dung, chương trình đào tạo, tăng tính chủ động tíchcực của SV trong quá trình lĩnh hội tri thức Quá trình học tập trong trường ĐH,
SV được trang bị các kiến thức, kỹ năng cần thiết để đáp ứng yêu cầu nhân lực caocủa thị trường lao động Đào tạo theo HTTC đưa hệ thống GDĐH Việt Nam tiếpcận và hội nhập với GDĐH thế giới Ngoài việc đáp ứng mục tiêu chung về họctập, đào tạo theo HTTC cho phép SV chủ động trong việc tích lũy kiến thức và kỹnăng nghề nghiệp, các kỹ năng mềm trong cuộc sống Sinh viên tốt nghiệp đápứng được các yêu cầu của xã hội về tính thích ứng cao của cá nhân trong môitrường hiện đại, toàn cầu hóa
1.3.3 Kế hoạch học tập
Theo Từ điển tiếng Việt: “Kế hoạch là toàn bộ những điều vạch ra một cách
có hệ thống và cụ thể về cách thức, trình tự, thời hạn tiến hành những công việc dựđịnh làm trong một thời gian nhất định với mục tiêu nhất định” [104, tr624]
Kế hoạch là một tiến trình ấn định mục tiêu và xác định biện pháp tốt nhất
để thực hiện được mục tiêu đó Thiếu kế hoạch thì con người không làm chủ đượcthời gian và khó đạt được mục tiêu đã định Do đó, lập kế hoạch giúp chúng ta cómục tiêu rõ ràng, có các biện pháp phù hợp để thực hiện mục tiêu đó một cách tốtnhất
Việc lập kế hoạch học tập là xây dựng một thời gian biểu cụ thể, hợp lý đểđạt được kết quả học tập trong khoảng thời gian nhất định Mỗi sinh viên, tùy theohoàn cảnh và nhu cầu của mình, có một kế hoạch học tập riêng, có thể thay đổi khicần, nhưng điều quan trọng là phải tuân thủ kế hoạch đã đặt ra
Đào tạo theo HTTC cho phép SV học theo nhịp độ cá nhân, phù hợp vớiđiều kiện thực tế Thay vì SV học tập theo kế hoạch năm học cố định của nhàtrường như trong đào tạo theo niên chế, SV có thể học theo tiến độ, kết quả họctập là khối lượng kiến thức được tích lũy và tính theo số lượng tín chỉ Vì vậy,trong đào tạo theo HTTC, kế hoạch học tập của SV là một phần quan trọng quyếtđịnh quá trình và kết quả học tập của SV cũng như giúp SV đạt được mục tiêu họctập của mình Xây dựng và thực hiện kế hoạch học tập là công việc cần thiết đốivới SV trong quá trình học tập trong trường đại học Nhờ có kế hoạch học tập mà
SV có thể xác định mục tiêu học tập của mình ngay từ đầu, chủ động trong việcđăng ký thời gian cho các môn học bắt buộc, lựa chọn các môn học tự chọn theođúng quy định Học tập và làm việc theo kế hoạch giúp SV biết cách phân phốithời gian một cách hợp lý để việc học đạt hiệu quả tối đa
1.3.4 Phương pháp học tập
Phương pháp là một thành tố quan trọng của quá trình hoạt động Mục đích
và nội dung hoạt động được xác định thì phương pháp hoạt động đóng vai trò
Trang 24quyết định đến chất lượng hoạt động Đecacto R (1596-1650), một đại diện củatriết học Pháp thế kỷ XVII đã nói: “Không có phương pháp người tài cũng mắclỗi, có phương pháp người bình thường cũng có thể làm được công việc phithường”
Theo Ngô Doãn Đãi, phương pháp học tập của SV phụ thuộc rất nhiều vàoquan điểm của người thầy đối với người học như những đối tượng được đào tạo.Trong bất kỳ quá trình dạy học nào cũng tồn tại sự tương tác giữa ba yếu tố: ngườidạy, người học và đối tượng dạy học Nếu người dạy xem SV là khách thể trongquá trình dạy thì vai trò tiếp nhận kiến thức của SV là thụ động Thầy sẽ sử dụngcác phương pháp đọc, miêu tả, giải thích, SV sẽ nghe, ghi chép và học thuộcnhững nội dung của bài giảng Ngược lại nếu người thầy xem SV như chủ thể củahoạt động học, SV lại rơi vào tình trạng tự học, thiếu định hướng, dẫn dắt củathầy, thiếu tính hệ thống và khoa học Phương pháp học tập của SV phụ thuộc vàomục tiêu giảng dạy mà người thầy đặt ra Nếu người thầy chỉ chú ý đến mục tiêucung cấp kiến thức ở mức nhận thức, SV cũng sẽ chỉ hướng tới mục tiêu tươngứng, cố gắng ghi chép và học thuộc những nội dung bài giảng của thầy Nếu mụctiêu giảng dạy của thầy chú ý tới tác động thái độ và hình thành kỹ năng, SV lậptức cần phải trang bị cho mình phương pháp học tập có hiệu quả, phù hợp với mụcđích của thầy, từ đó hình thành năng lực cần thiết cho nghề nghiệp tương lai [21, tr8]
Lâm Quang Thiệp có ý kiến, trong đào tạo theo HTTC, "Ba tiêu chí quantrọng cần dựa vào để chọn một hệ phương pháp dạy và học cho từng trường hợp
cụ thể: (i) Tiêu chí cần thể hiện bao quát nhất là dạy cách học; (ii) Phẩm chất cầnphát huy mạnh mẽ là tính chủ động của người học; (iii) Công cụ cần khai thác triệt
để là công nghệ thông tin truyền thông mới" Phương pháp học tập trong đào tạotheo HTTC đa dạng, phong phú hơn so với đào tạo theo niên chế Khối lượng họctập của SV được xác định rõ, để có một giờ trên lớp học tập, SV phải có hai- bagiờ tự học, tự nghiên cứu ngoài lớp Các nghiên cứu về phương pháp dạy họctrước đây tập trung vào dạy học trên lớp Tuy nhiên, đối với đào tạo theo HTTC,nhiều phương pháp học tập được áp dụng do có nhiều hình thức dạy học mới.[21, tr 18]
Trong đào tạo theo HTTC, phương phương pháp học tập của SV cần đượchướng tới sự chủ động hướng tới kiến thức, hình thành kỹ năng nghề nghiệp Sinhviên cần được trang bị phương pháp tư duy thông qua bài giảng có nội dung theochủ đề, có tính chất lập luận, tổng hợp Giảng viên hướng dẫn SV cách tìm kiếm,nắm bắt thông tin liên quan đến môn học Sinh viên có thể tìm tư liệu, thông tin hỗtrợ cho học tập thông qua nhiều nguôn như mạng internet, các hoạt động ngoạikhóa, các bài thực hành thí nghiệm trong phòng thí nghiệm hoặc các cơ sở thựctập Đây chính là dạy cách học cho SV, thúc đẩy SV học tập chủ động để chiếmlĩnh tri thức
Trang 251.3.5 Phương tiện và hình thức học tập
Phương tiện dạy học là tập hợp những đối tượng vật chất kỹ thuật và sảnphẩm của khoa học công nghệ được huy động vào quá trình dạy học, được GV sửdụng để điều khiển hoạt động nhận thức của SV Đồng thời, phương tiện dạy họcđược xem là một thành tố trong cấu trúc của quá trình dạy học Nếu tiếp cận cấutrúc hoạt động dạy học trên cơ sở mối quan hệ biện chứng của cặp phạm trù mụcđích và phương tiện thì các phương tiện chủ yếu để thực hiện mục đích dạy học(theo nghĩa rộng: không chỉ là vật chất, kỹ thuật dạy học mà còn có cả các điềukiện chung về yếu tố con người, thông tin và xã hội) (35, tr 117)
Đối với SV, phương tiện học tập là giúp họ lĩnh hội tri thức, rèn luyện kỹnăng, kỹ xảo Các phương tiện học tập gồm các dụng cụ thí nghiệm, tài liệu, máytính, máy chiếu… Ngoài ra, các yếu tố liên quan đến hệ thống thông tin dạy học
và môi trường dạy học cũng như các yếu tố khách quan có tác động đến mục tiêuphát triển nhà trường cũng chính là phương tiện học tập của SV Khoa học kỹthuật ngày càng phát triển thì phương tiện học tập càng hiện đại, góp phần nângcao hiệu quả học tập của SV
HTTC yêu cầu phương tiện học tập đa dạng, phong phú Với đặc điểmmang tính chủ động và linh hoạt cao trong quá trình học tập, SV cần có phươngtiện liên lạc với nhà trường một cách nhanh chóng và thông suốt thông qua hệthống mạng internet hiện đại và máy tính nối mạng SV có thế ngồi bất cứ đâu đểđăng ký học, thi và nhận được ngay thông tin phản hồi
Theo Nguyễn Phúc Châu, hình thức tổ chức dạy học là các tổ chức quátrình dạy học phù hợp với mục đích, nội dung, chương trình nhằm đạt tới chấtlượng và hiệu quả dạy học cao.[35, tr 116]
Hình thức học tập được xác định tùy thuộc vào những mối quan hệ của cácyếu tố cơ bản như: (i) dạy học có tính chất tập thể hay cá nhân; (ii) Mức đội hoạtđộng độc lập của HS trong quá trình chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng; (iii) Phươngthức hướng dẫn, tổ chức và điều khiển HĐHT của SV; và (iv) địa điểm thời gianhọc tập Trong trường ĐH, tồn tại ba hình thức dạy học cá nhân, nhóm và tập thể.Các hình thức tổ chức học tập chủ yếu gồm trên lớp, thảo luận và tự học
Hình thức tổ chức dạy học trong HTTC là cách thức tổ chức thực hiện cácHĐGD của GV và học tập của SV tương ứng với cách tổ chức chương trình mônhọc/ bài học, trong đó coi trọng khâu tự học, năng lực tự nghiên cứu, thực hành,thực tập và các kỹ năng mềm Hình thức tổ chức dạy học phù hợp với yêu cầu đàotạo theo HTTC, giúp SV thực hiện việc học tập trong trường ĐH nhằm tích lũy đủkhối lượng kiến thức, đủ số tín chỉ để đạt được văn bằng ĐH Có các hình thức tổchức giờ tín chỉ như sau:
Trang 26- Dạy, học trên lớp: hoạt động dạy học trên lớp, chủ yếu các giờ lý thuyết, hướngdẫn chung về bài tập, tổ chức thảo luận theo chủ đề và có sự hướng dẫn của GV,các hoạt động khác theo yêu cầu của GV được nêu trong đề cương bài giảng.Trong đào tạo theo HTTC, GV nên đặt ra các vấn đề lớn, câu hỏi liên quan đến nộidung bài giảng trước khi giảng nhằm lôi cuốn sự tập trung sự chú ý của SV Bằnghình thức này, SV chủ động trong nhận thức bài giảng, đồng thời là động lựckhuyến khích SV muốn khám phá, chiếm lĩnh tri thức Sau đó, GV có thể sử dụngcác hình thức tổ chức dạy học khác như chia nhóm thảo luận, mô phỏng hoặcnghiên cứu trường hợp.
- Dạy, học thực hành, thực tập: chủ yếu là hoạt động dạy, học trong phòngthực hành, thí nghiệm, SV làm các bài thực hành thí nghiệm có sự hướng dẫn của
GV, kỹ thuật viên nhằm bổ sung/ làm rõ các kiến thức được học qua các môn học.Các hoạt động thực hành, thực tập đóng vai trò rất quan trọng trong việc biếnnhững lý thuyết thành thực tiễn sinh động Thông qua những giờ thực tế này, SV
có dịp tiếp cận với những yêu cầu cụ thể, thực hành nhưng thao tác nghề nghiệpliên quan đến chuyên môn
-Tự học, tự nghiên cứu ngoài lớp: Trên lớp, GV giới thiệu các vấn đề, nộidung chính, cơ bản cốt lõi Ngoài giờ liên lớp, SV tự học tập, bổ sung kiến thức,
kỹ năng cần thiết để hỗ trợ việc học tốt hơn Tự học, tự nghiên cứu có thể thôngqua cá nhân, hoặc theo nhóm
Ngoài ra, các hoạt động tập thể sinh hoạt văn hóa, thể thao được các đoànthể như Hội Sinh viên, Đoàn thanh niên, tổ chức góp phần hình thành và pháttriển các năng lực, kỹ năng cần thiết cho SV, giúp họ hoàn thiện mình, tự tin tronghọc tập và trong cuộc sống Hoạt động học tập của SV muốn được diễn ra phải cómôi trường học tập thích hợp Môi trường học tập có ảnh hưởng từ môi trườngquốc tế trong xu thế hội nhập và phát triển, môi trường xã hội gồm các yếu tố kinh
tế, văn hóa, gia đình và cộng đồng, môi trường nhà trường gồm như sự hướng dẫncủa GV; có sự phối hợp của các bạn về chia sẻ kinh nghiệm học tập, cùng học tậpnghiên cứu; có sự đảm bảo về điều kiện CSVC của nhà trường như đủ phòng họclớn, học nhóm, phòng học chuyên đề; có các phương tiện học tập phù hợp với yêucầu bài học; có thư viện hiện đại đủ tài liệu học tập, tài liệu tham khảo ; đảm bảo
hạ tầng CNTT, mạng, máy tính phục vụ cho việc học tập và tra cứu tài liệu
HTTC cho phép SV chủ động trong quá trình học tập, tự chọn các môn học
và chủ động đăng ký thời gian học tập phù hợp với điều kiện cá nhân Để HĐHTcủa SV được thực hiện đúng theo đặc điểm của HTTC, SV cần được cung cấp môitrường học tập thuận lợi, từ việc nhà trường tổ chức được lớp môn học được lựachọn đến việc thời gian dạy học đa dạng phong phú Đáp ứng được đặc điểm nàycủa HTTC giúp tạo ra tính tích cực học tập của SV Theo Thái Duy Tuyên "Tính
Trang 27tích cực học tập của SV là tập hợp các hoạt động nhằm làm chuyển biến vị trí củangười SV từ đối tượng tiếp nhận tri thức sang chủ thể tìm kiếm tri thức để nângcao hiệu quả học tập" Điều này giúp cho SV nuôi dưỡng ý thức tự học tập, tựnghiên cứu, hình thành kỹ năng học tập suốt đời Do được chủ động trong học tập
từ tiến độ đến lựa chọn môn học nên HĐHT của mỗi SV không giống nhau Vìvậy, SV phải có kế hoạch học tập riêng của cá nhân Để kế hoạch học tập của cánhân đúng và phù hợp với mục đích học tập, HTTC phải có hệ thống cố vấn họctập Cố vấn học tập giúp đỡ hướng dẫn SV xây dựng và thực hiện kế hoạch họctập, lựa chọn môn học phù hợp, đúng và đủ theo yêu cầu của ngành đào tạo
1.3.6 Đặc điểm hoạt động học tập của sinh viên theo hệ thống tín chỉ
Trước đây, khi áp dụng theo hình thức niên chế, SV sinh hoạt theo một lớp
cố định từ ngày đầu tiên đến khi tốt nghiệp trường ĐH Nhà trường quản lý tập thể
ổn định này trong suốt khóa học Lớp SV được duy trì từ khi nhập học đến lúc tốtnghiệp để triển khai các hoạt động có liên quan đến học tập, rèn luyện Ở cáctrường ĐH Việt Nam đang thực hiện đào tạo theo tín chỉ đang duy trì hai hìnhthức quản lý học tập SV, đó là lớp sinh hoạt và lớp học phần/ TC Lớp sinh hoạtđối với SV cùng khóa tuyển, lớp học phần/TC đối với SV đăng ký học theo từnghọc phần Lớp học phần/ TC duy trì theo từng học phần, lớp tồn tại ngắn theođúng thời gian của học phần Nghiên cứu so sánh HĐHT của SV ở hai hình thứcđào tạo, chúng tôi nhận thấy có một số đặc điểm sau:
1.3.6.1 Nội dung học tập: Áp dụng đào tạo theo niên chế, SV học tập theo học
kỳ, mỗi năm có 2 học kỳ Sinh viên có thời khóa biểu cho từng học kỳ, theo họcnhững môn học do Phòng Đào tạo của trường sắp xếp Sinh viên kết thúc học kỳthông qua các bài kiểm tra liên quan đến môn học đã học Đối với đào tạo theo tínchỉ, SV chủ động lựa chọn môn học, số lượng môn học phù hợp với điều kiện của
cá nhân Khối lượng kiến thức được phân chia thành các mô đun, tính bằng tín chỉ.Sinh viên hoàn thành số tín chỉ quy định được công nhận kiến thức đã tích lũy
1.3.6.2 Phương pháp, phương tiện và hình thức học tập: So với đào tạo theo
niên chế, SV học theo HTTC áp dụng phương pháp, phương tiện và hình thức họctập phong phú hơn Đối với đào tạo niên chế, SV sinh hoạt theo lớp sinh viêntrong toàn bộ thời gian học tập ở trường ĐH, thời gian học tập hầu hết diễn ra trênlớp, phương pháp dạy học chủ yếu là “thầy đọc, trò chép” Ngoài giờ lên lớp, SVhọc bài cũ, làm bài tập do GV yêu cầu Khi chuyển sang học tập theo HTTC, thờigian trên lớp nghe giảng ít, GV chủ yếu giới thiệu nội dung chính của môn học,
SV được yêu cầu học tập theo nhóm, thảo luận theo chủ đề Để có thể thực hiệncác hình thức học tập này, SV phải chủ động trong việc tìm kiếm kiến thức liênquan đến môn học thông qua nhiều nguồn, tham khảo sách báo ở thư viện, tìm tưliệu thông qua internet, tìm hiểu thực tiễn bằng các chuyến đi thực tế
Trang 281.3.6.3 Thời gian học tập: Yêu cầu đào tạo theo niên chế, SV dành phần lớn thời
gian trên lớp, trung bình mỗi tuần SV lên lớp khoảng 30 tiết Số thời gian chuẩn bịbài và dành cho các hoạt động khác ngoài giờ lên lớp ít Giảng viên thường giaobài tập về nhà yêu cầu SV hoàn thành bài tập, do vậy, họ không chủ động trongviệc tìm kiếm, bổ sung kiến thức đối với nội dung môn học Sinh viên học theotừng học kỳ, mỗi năm hai học kỳ Sinh viên lên lớp theo năm học, tốt nghiệp sau
từ 4-5 năm học tùy theo quy định mỗi trường đại học Khi chuyển sang hình thứcđào tạo theo HTTC, thời gian học trên lớp của SV ít hơn, cách tính khối lượng họctập của SV rõ ràng hơn, một tiết lên lớp sẽ có hai tiết chuẩn bị bài Nội dung bàigiảng, phương pháp giảng bài của GV cũng thay đổi Thời lượng giảng bài có hạn,
GV chỉ tập trung vào các nội dung chính, hướng dẫn khối kiến thức chính, GV cầndành nhiều thời gian hơn trong việc hướng dẫn SV cách tìm tài liệu liên quan đếnmôn học Sinh viên có các hình thức ngoài giờ lên lớp phong phú hơn như họcnhóm, thảo luận nhóm, bài tập nhóm… Sinh viên cần tích lũy đủ số tín chỉ,khoảng từ 120 -140 tín chỉ, để tốt nghiệp đại học
1.3.6.4 Kế hoạch học tập: HTTC yêu cầu HĐHT của SV diễn ra một cách chủ
động, sáng tạo Do được tự chọn môn học và thời gian học tập, SV cần xây dựng
kế hoạch học tập cá nhân phù hợp với kế hoạch đào tạo chung của nhà trường vàđáp ứng yêu cầu của bản thân về năng lực và điều kiện Kế hoạch học tập cá nhânbao gồm mục tiêu học tập, danh sách các môn học, thời gian học tập và kế hoạch
tự đánh giá việc học của bản thân để điều chỉnh HĐHT nhằm đạt mục tiêu đề ra
Do điều kiện kinh tế xã hội khác nhau, dẫn đến đặc điểm của hai hệ thốngđào tạo niên chế và tín chỉ khác nhau Hình thức đào tạo theo niên chế phù hợp vớimôi trường quản lý kế hoạch hóa tập trung, SV học tập theo chương trình, kếhoạch đã định sẵn Chỉ tiêu ngành đào tạo được Bộ GDĐT phân bổ cho các trường
ĐH, SV sau khi tốt nghiệp được phân công công tác Xã hội phát triển, ngànhnghề chủ yếu do xã hội quy định, theo thời gian, có nhiều nghề mới xuất hiện, cómột số nghề không còn tồn tại theo đúng nghĩa Hình thức đào tạo theo HTTC chophép các trường ĐH linh hoạt hơn trong quá trình đào tạo, cho phép SV có thể họctập theo tiến độ phù hợp với cá nhân, SV có thể thay đổi ngành học trong thời gianhọc nếu thấy mình không có khả năng hoặc xã hội ít trọng dụng Do vậy, áp dụngtheo HTTC, SV cần chủ động hơn trong việc lập kế hoạch và thực hiện kế hoạchhọc tập
1.4 QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN THEO HỆ THỐNGTÍN CHỈ
1.4.1 Quản lý hoạt động học tập của sinh viên
Trong trường ĐH, hoạt động quản lý bao gồm nhiều nội dung như quản lýđội ngũ, quản lý SV, quản lý tài chính, cơ sở vật chất, quản lý các hoạt động giảng
Trang 29dạy, học tập, hoạt động xã hội, hoạt động văn hóa thể thao Trong đó, dạy học
và giáo dục trong sự thống nhất với nhau là hoạt động trung tâmcủa nhà trường Vì vậy quản lý nhà trường thực chất là quản lýquá trình sư phạm của GV, hoạt động học tập – tự giáo dục của
SV, diễn ra chủ yếu trong quá trình dạy học
Quản lý HĐHT giúp SV thực hiện đồng bộ các các yếu tố: mục tiêu, nộidung, phương pháp học tập Đồng thời, quản lý HĐHT của SV bao gồm quản lýthời gian và chất lượng học tập, quản lý tinh thần thái độ của SV Quản lý HĐHTcủa SV không chỉ giới hạn trong phạm vi giảng dạy, giáo dục SV trên lớp, trongnhà trường mà bao gồm một loạt các hoạt động khác nhau như các hoạt độngngoài giờ lên lớp, tham gia các câu lạc bộ, ngoại khóa, thực hành, thực tập, thamquan, giao lưu, tự học, tự nghiên cứu
Trong HTTC, công tác quản lý HĐHT của SV được thực hiện bởi tập thểquản lý bao gồm lãnh đạo nhà trường, GV và CVHT thông qua các phòng banchức năng và khoa đào tạo Dựa vào kế hoạch năm học, nhà trường thực hiện côngtác quản lý HĐHT của SV bằng bộ máy quản lý có sự hỗ trợ của công cụ pháp lý
để chỉ đạo hoạt động học tập trên lớp, ngoài giờ lên lớp, các hoạt động ngoại khóaliên quan Bên cạnh đó, SV cần xây dựng kế hoạch học tập của cá nhân theo mụctiêu học tập được xác định theo danh mục môn học đã lựa chọn và thời gian tiến
độ phù hợp Như vậy, SV không những là đối tượng quản lý của chủ thể quản lý,
SV còn là chủ thể tự quản lý HĐHT của cá nhân thông qua việc xây dựng, thựchiện và tự kiểm tra HĐHT thông qua kế hoạch học tập của mình
1.4.2 Lập kế hoạch và hướng dẫn sinh viên lập kế hoạch học tập trong hệ thống tín chỉ
1.4.2.1 Lập kế hoạch quản lý hoạt động học tập của sinh viên trong hệ thống tín chỉ
Theo Đoàn Thị Thu Hà, có nhiều cách hiểu về chức năng lập kế hoạch.Chúng ta biết rằng, quản lý có bốn chức năng cơ bản, đó là lập kế hoạch, tổ chức,chỉ đạo và kiểm tra Lập kế hoạch là quá trình xác định mục tiêu và lựa chọn cácphương thức để đạt được các mục tiêu đó [47, tr 333]
Lập kế hoạch quản lý HĐHT của SV nhằm giúp SV thực hiện HĐHT ởtrường ĐH đạt mục tiêu học tập đề ra Lập kế hoạch quản lý công tác đào tạo nóichung và HĐHT của SV trong HTTC nói riêng là công việc của ít nhất hai chủ thểquản lý Nhà trường lập kế hoạch chung để thực hiện công tác quản lý đào tạochung trong toàn đơn vị, bao gồm quản lý HĐGD trong việc thực hiện mục tiêu,nội dung chương trình, phương pháp, hình thức tổ chức, CSVC và thiết bị dạy học,đánh giá kết quả dạy học
Trang 30Giáo viên chủ nhiệm và CVHT lập kế hoạch để quản lý trực tiếp HĐHTcủa SV cùng khóa học và mỗi SV Quy chế 42 quy định về công tác tổ chức, quản
lý HĐHT và rèn luyện của SV: “Theo dõi, đánh giá ý thức học tập, rèn luyện củaHSSV; phân loại, xếp loại HSSV cuối mỗi học kỳ hoặc năm học; tổ chức thi đua,khen thưởng cho tập thể và cá nhân HSSV đạt được thành tích cao trong học tập
và rèn luyện xử lý kỷ luật đối với HSSV vi phạm quy chế, nội quy” Để quản lýHĐHT của mỗi SV và tập thể lớp SV, GVCN cần lập kế hoạch quản lý trực tiếpHĐHT của SV cùng khóa học và mỗi SV Kế hoạch quản lý HĐHT của SV gồmmục tiêu chung về đào tạo của trường ĐH, mục tiêu cụ thể của SV đối với nhiệm
vụ học tập, thời gian và phương thức đánh giá ý thức học tập, rèn luyện của SV.Căn cứ vào kế quả đánh giá về ý thức học tập và rèn luyện, GVCN có kế hoạchphân loại, xếp loại SV theo định kỳ, đề xuất và tổ chức thi đua khen thưởng theo
kế hoạch chung của toàn trường
Trong đào tạo theo HTTC, vai trò của CVHT rất quan trọng Quy chế 43quy định về sinh viên đăng ký nhập học có nêu “ Sau khi xem xét thấy đủ điềukiện nhập học, phòng đào tạo trình Hiệu trưởng ký quyết định công nhận ngườiđến học và sinh viên chính thức của trường và cấp cho họ: (a) Thẻ sinh viên; (b)
Số đăng ký học tập; và (c) Phiếu nhận cố vấn học tập” Cố vấn học tập lập kếhoạch giúp đỡ SV trong việc lựa chọn, đăng ký các môn học theo quy định Đồngthời, CVHT thường xuyên theo dõi SV trong quá trình học tập ở trường, động việc
hỗ trợ SV kịp thời khi có yêu cầu nhằm giúp SV học tập và tích lũy số TC đủ vàđúng theo yêu cầu của chuyên ngành
Đào tạo theo HTTC cho phép SV chủ động trong học tập phù hợp với điềnkiện cá nhân Mỗi SV có một kế hoạch học tập cá nhân, có lộ trình cho việc họctập như lựa chọn môn học từ danh mục tự chọn phù hợp với năng lực và sở trường
để đạt được mục đích học tập Vì vậy, Trường ĐH, GV và CVHT cần có kế hoạchquản lý HĐHT của SV nhằm giúp SV đạt được mục tiêu học tập
1.4.2.2 Hướng dẫn sinh viên lập kế hoạch học tập
Lập kế hoạch học tập là một trong những kỹ năng quan trọng nhằm giúp
SV đạt được mục tiêu học tập Do tính chất linh hoạt của HTTC, SV có thể họctheo nhịp độ cá nhân, vì vậy, mỗi SV đều phải có kế hoạch học tập cá nhân Sinhviên lập kế hoạch cho từng năm học, cho cả khóa học, bao gồm các môn học bắtbuộc, các môn học tự chọn, thời gian phù hợp cho việc đăng ký học tập các môn học
Trường ĐH cần tổ chức hướng dẫn cho SV để SV làm quen với việc lập kếhoạch học tập cá nhân thông qua các cuộc tập huấn ngay thời điểm SV mới vàotrường Đồng thời, CVHT hướng dẫn SV lập kế hoạch học tập cụ thể của cá nhân.Khi SV xây dựng được kế hoạch học tập thì tư duy quản lý của bản thân có hệ
Trang 31thống để dự đoán được các tình huống có thể xảy ra Sinh viên sẽ biết cách phốihợp mọi nguồn lực cá nhân, tổ chức để tạo nên sức mạnh tổng hợp để có thể đạtđược mục tiêu học tập của mình
1.4.3 Tổ chức bộ máy quản lý hoạt động học tập của sinh viên
1.4.3.1 Bộ máy nhân sự
Quản lý SV là công việc của nhiều bộ phận trong trường ĐH: Quản lý việchọc của SV; quản lý học vụ, quản lý về ý thức, thái độ, quản lý tài chính Cáctrường ĐH có hai quan điểm về công tác quản lý SV Đối với quan điểm quản lýtheo phân chia số lượng SV, công tác quản lý SV được chuyển về các khoa Đốivới quan điểm quản lý SV theo chức năng, các công tác này phụ thuộc vào nộidung quản lý sẽ được đưa về các khoa, phòng ban chức năng
Hệ thống tổ chức quản lý SV trong trường ĐH gồm hiệu trưởng, đơn vị phụtrách công tác SV và các khoa, trung tâm đào tạo, GVCN và lớp SV Trong đó:
(i) Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm chính chỉ đạo công tác sinh viêntrong trường; Tổ chức chỉ đạo việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng,pháp luật của Nhà nước, các quy định của Bộ GD-ĐT, ngành, địa phương trongcông tác SV, bảo đảm công bằng, công khai, minh bạch và dân chủ trong công tácSV; Quản lý SV về các mặt học tập và rèn luyện, tình hình tư tưởng và đời sống;Bảo đảm các điều kiện để phát huy vai trò của tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh,Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam và Hội Sinh viên Việt Nam trong công tácSV
(ii) Phòng Công tác chính trị học sinh sinh viên (CTCT HSSV) là đơn vịtham mưu cho Ban Giám hiệu nhà trường trong chỉ đạo và chịu trách nhiệm chínhtrong tổ chức triển khai công tác SV trong toàn trường Tùy theo số lượng của SV,Phòng CTCT HSSV phân công cho chuyên viên phụ trách công tác SV các khoađào tạo
(iii) Khoa đào tạo là đơn vị trực tiếp quản lý toàn diện SV và triển khai cáchoạt động học tập và rèn luyện SV thông qua giáo viên chủ nhiệm, Chi đoàn vàlớp SV, lớp học phần (môn học)
(iv) Giáo viên chủ nhiệm được nhà trường phân công phụ trách lớp SV đểhướng dẫn các hoạt động của lớp SV Giáo viên chủ nhiệm theo dõi đánh giá toàndiện về học tập và rèn luyện của SV, kết hợp với Đoàn Thanh niên và Hội sinhviên động viên SV của lớp tham gia các phòng trào đoàn thể, rèn luyện và tudưỡng đạo đức, phát triển các kỹ năng để hướng nghiệp trong tương lai
(v) Cố vấn học tập được nhà trường phân công tư vấn SV về lựa chọn mônhọc, lập và thực hiện kế hoạch học tập, đăng ký học – thi Đồng thời, CVHT luôntheo dõi SV trong quá trình học tập, hỗ trợ khi cần sự giúp đỡ đối với đổi mônhọc, đăng ký thi hết môn
Trang 32(vi) Lớp sinh viên được tổ chức bao gồm những SV cùng ngành, nghề,khóa học và được duy trì ổn định cả khóa học Lớp sinh viên được sắp xếp để tổchức, quản lý về thực hiện các nhiệm vụ học tập, rèn luyện, các hoạt động đoànthể, các hoạt động xã hội, thi đua, khen thưởng, kỷ luật Ngoài ra, đối với cáctrường đang áp dụng đào tạo theo tín chỉ, những SV đăng ký học cùng một họcphần/ môn học được sắp xếp vào lớp học phần/tín chỉ theo từng học kỳ
(vii) Lớp học phần/tín chỉ là lớp của SV cùng đăng ký một môn học, cócùng thời khóa biểu của môn học trong cùng một học kỳ Tập thể SV của lớp họcphần/TC cử ra đại diện để hỗ trợ công tác quản lý lớp do GV giao và các hoạtđộng tự quản trong giờ học
Do tính chất của đào tạo theo HTTC cho phép SV chủ động lựa chọn vàđăng ký môn học theo thời gian và nội dung phù hợp, sẽ không còn tồn tại các lớphọc ổn định, thay vào đó sẽ có các lớp chuyên ngành, lớp học phần "Công tácsinh viên phải được coi như một mảng công tác tổ chức của nhà trường: quản lýngười học" (i) Quản lý học tập thông qua việc theo dõi thường xuyên kết quả họctập bởi GV hay CVHT, và thông qua các sản phẩm học tập như bài tập, đồ án, dự
án … tiến tới quản lý và đánh giá theo hồ sơ học tập (ii) Quản lý SV thông quanhóm học tập, các diễn đàn, các hội SV, tổ chức đoàn thanh niên [80, tr75]
Để thực hiện tốt việc quản lý HĐHT của SV trong đào tạo theo HTTC ởtrường ĐH, công tác tổ chức bộ máy quản lý SV cần tập trung vào hoàn thiện bộmáy quản lý SV Hệ thống quản lý SV cần được tổ chức một cách khoa học vàphù hợp với quy trình quản lý đào tạo mới theo tín chỉ, đảm bảo tính tích cực vàchủ động của người học, tính linh hoạt của chương trình đào tạo, tính liên thônggiữa các ngành học và các khối ngành
1.4.3.2 Công cụ pháp lý
(i) Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật
Quản lý HĐHT của SV trong HTTC ở trường ĐH phải tuân thủ đúng cácchủ trương chính sách của Đảng, Chính phủ, cụ thể là Luật Giáo dục và Luật Giáodục đại học, các văn bản dưới luật của Nhà nước, các quy chế của ngành, cácchính sách GDĐH và các quy định hiện hành của mỗi trường ĐH Hiện nay, côngtác đào tạo ĐH được thực hiện theo Quy chế 43, áp dụng cho các trường ĐH ápdụng theo HTTC bao gồm các nội dung về tổ chức đào tạo; kiểm tra và thi họcphần; xét và công nhận tốt nghiệp Công tác sinh viên các trường ĐH được thựchiện theo Quy chế 42 Đây là Quy chế áp dụng chung đối với học sinh sinh viêncác ĐH, học viện, trường ĐH, CĐ và trung cấp chuyên nghiệp hệ chính quy, do
đó, các trường ĐH thực hiện đào tạo theo HTTC cũng thực hiện theo nội dung củaquy chế này Tuy nhiên, thực hiện đào tạo theo HTTC có những đặc điểm riêngđối với SV như cho phép SV lựa chọn môn học, chủ động về thời gian học tập Vì
Trang 33vậy các quy định quản lý HĐHT của SV cần phải đáp ứng đặc điểm này Công tácquản lý HĐHT của SV trong HTTC ở trường ĐH yêu cầu phải có hệ thống vănbản pháp quy liên quan Ngoài các văn bản hiện hành về quản lý hoạt động dạyhọc trong việc thực hiện mục tiêu, nôi dung chương trình, kế hoạch dạy học,trường ĐH cần phải có kế hoạch và chỉ đạo tổ chức theo dõi đánh giá các hoạtđộng cụ thể để có thể quản lý HĐHT của SV trong HTTC.
(ii) Tổ chức bộ máy hỗ trợ
(a) Tổ chức hệ thống cố vấn học tập
Theo Charles Towley: “ Tại trường ĐH Bang New Mexico, sinh viên đạihọc ở tất cả các trường thành viên, trừ ngành Kỹ Thuật, đều nhận được sự tư vấn
từ các cố vấn của trung tâm tư vấn ” [32, tr 2]
Quy chế 43 quy định đối với SV nhập học được nhận thẻ SV, sổ đăng kýhọc tập và phiếu nhận CVHT Cố vấn học tập là khái niệm khá mới mẻ đối vớiGDĐH Việt Nam CVHT giúp SV chọn lựa, bổ sung hoặc bỏ/ thay thế các mônhọc do SV chưa có đủ kiến thức và kinh nghiệm để chọn các môn phù hợp chochuyên ngành của mình Việc áp dụng đào tạo theo HTTC dẫn đến việc lịch họcchồng chéo nhau và có rất nhiều môn học (trong các học kỳ), nên SV phải tìm cácmôn học thay thế CVHT tư vấn SV lựa chọn các môn học thay thế phù hợp, phântích và tư vấn cho SV cách lựa chọn tối ưu nhất về chương trình học tập, các mônhọc thay thế và kiểm tra điều kiện tốt nghiệp
Điểm khác của đào tạo theo HTTC so với đào tạo theo niên chế học phần
đó là chính là hệ thống CVHT Trước đây, lớp học được tổ chức theo năm họctuyển sinh, việc quản lý SV được thực hiện thông qua lớp SV và GVCN Trongđào tạo theo HTTC, hệ thống CVHT thường được tổ chức ở trường ĐH gắn vớicác ngành đào tạo Hệ thống CVHT giúp SV biết cách xây dựng kế hoạch học tậpphù hợp với mục tiêu đào tạo của trường ĐH và mục tiêu học tập cá nhân, giúp SVtrở thành những người học tự định hướng thông qua việc dạy cho họ biết cách xâydựng kế hoạch học tập hướng đến niềm đam mê học thuật, nghề nghiệp và khátvọng cá nhân Cố vấn học tập phải là người am hiểu quá trình, kế hoạch đào tạocủa ngành học, phải hiểu rõ về mặt chuyên môn, để tư vấn cho SV có một lộ trìnhphù hợp trong quá trình học tập
(b)Tổ chức cung cấp thông tin cho sinh viên trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ
Đào tạo theo HTTC thay đổi hình thức cơ bản so với phương thức đào tạotruyền thống Thay vì SV theo đuổi việc học tập của mình thông qua kế hoạchthống nhất và trong một tập thể ổn định trong suốt các năm học ĐH, trong đào tạotheo HTTC, SV cần tích lũy đủ đúng số lượng tín chỉ yêu cầu để tốt nghiệp ĐH.Sinh viên cần học những tín chỉ bắt buộc và được lựa chọn một số tín chỉ không
Trang 34bắt buộc Để có thể đăng ký học những tín chỉ tự chọn, SV cần được cung cấpthông tin đầy đủ liên quan đến việc học tập.
- Sổ tay hướng dẫn học tập SV là một trong những hình thức cung cấp thông tinhữu ích cho SV Những thông tin liên quan đến đào tạo như tuyển sinh, ngành đàotạo, học phí, các quy định, quy chế cần được thể hiện trong số tay hướng dẫn họctập SV Ngoài ra, Sổ tay hướng dẫn học tập SV có các thông tin hướng dẫn quytrình đào tạo, nội dung chương trình đào tạo, danh sách các môn học và các quyđịnh về thủ tục đăng ký học phần, thi kiểm tra
- Hướng dẫn học tập thông qua Website Tại đây, các thông tin liên quan đến SV,
GV, đề tài khoa học, hoạt động đoàn thể như Hội sinh viên, Đoàn thanh niên đượcđăng tải đầy đủ
(c) Tổ chức đăng ký khối lượng học tập: Sinh viên có thể đăng ký học tập qua
mạng hoặc bằng phiếu đăng ký học tập
- Đăng ký qua mạng: Website và phần mềm đăng ký học, thi hỗ trợ SV đăng kýtrực tuyến và đăng ký nội bộ tuân thủ các điều kiện tiên quyết, điều kiện trước sau,điều kiện song hành, đăng ký học lại, học nhanh tiến độ Sinh viên đăng ký họctập qua mạng bằng cách truy cập vào cổng SV (portal) qua mạng internet Hệthống sẽ hiển thị điểm trung bình của học kỳ trước của SV, tổng số TC được đăng
ký trong học kỳ tiếp theo Sinh viên chọn những lớp học phần mình muốn họctrong học kỳ Sinh viên cần phải sử dụng công cụ kiểm tra xung đột để tránh cácxung đột về học phần tiên quyết, học phần song hành, kiểm tra trùng lịch học, thicủa lớp học phần đã chọn Sau khi đã loại trừ các yếu tố xung đột, lịch đăng kýhọc của SV sẽ được chấp nhận
- Đăng ký bằng phiếu đăng ký học: Phần mềm tự động xác lập phiếu đăng ký họccho mỗi SV dưới dạng các ô đánh dấu và có thể nhận dạng được Sinh viên sửdụng Phiếu đăng ký học do phòng Đào tạo cung cấp, điền thông tin đầy đủ và gửi
về phòng Đào tạo Hệ thống phần mềm dùng công nghệ nhận dạng để xử lý số liệu
và xét phiếu đăng ký học Việc đăng ký học tập bằng phiếu đăng ký cũng cần chú
ý đến các xung đột về học phần tiên quyết, học phần song hành, …
Trong HTTC, SV được phép chủ động đăng ký khối lượng học tập Thờigian đăng ký môn học thường vào đầu năm học đầu tiên và cuối mỗi học kỳ cholần đăng ký môn học trong học kỳ mới Việc đăng ký môn học phải tuân thủ theocác bước được quy định trong Sổ đăng ký học tập Các quy định liên quan đếnđăng ký khối lượng học tập, bổ sung, rút bớt học phần, đăng ký học lại, học cùnglúc 2 chương trình… Sinh viên cần hiểu rõ các thông tin về chuyên ngành mìnhtheo học, ngoài những môn học bắt buộc, họ phải lựa chọn một số môn phù hợpvới chuyên ngành và khả năng (năng lực lĩnh hội và tư duy) của mình, phù hợpvới điều kiện thực tế về thời gian
Trang 351.4.4 Lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động học tập của sinh viên theo hệ thống tín chỉ
1.4.4.1 Chỉ đạo hoạt động học tập của sinh viên theo hệ thống tín chỉ
(i) Chỉ đạo hoạt động học tập của sinh viên trên lớp theo hệ thống tín chỉ
Lãnh đạo là một trong những khái niệm quan trọng nhất trong khoa học
về tổ chức - nhân sự Đó là một quá trình ảnh hưởng mang tính xã hội trong đólãnh đạo tìm kiếm sự tham gia tự nguyện của cấp dưới nhằm đạt mục tiêu của tổchức Lãnh đạo là quá trình gây ảnh hưởng và dẫn đắt hành vi của cá nhân haynhóm người nhằm hướng tới mục tiêu của tổ chức Lãnh đạo được miêu tả là “mộtquá trình ảnh hưởng xã hội cái mà một người có thể tìm kiếm sự giúp đỡ và hỗ trợcủa những người khác nhằm đạt được thành công cho một mục tiêu chung" Lãnhđạo là quá trình chủ thể quản lý định ra chủ trương, đường lối, mục đích, tính chất,nguyên tắc hoạt động và vận hành các hoạt động đó bằng việc liên kết, liên hệ vớingười khác, động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mụctiêu của tổ chức trong các điều kiện của môi trường nhất định
Trong quản lý giáo dục, chức năng lãnh đạo được thể hiện tập trung ở laođộng chủ thể của các chủ thể quản lý trong bộ máy quản lý giáo dục các cấp và ởlao động đứng đầu của trường ĐH Công tác chỉ đạo HĐHT của SV trên lớp theoHTTC được Hiệu trưởng thực hiện theo quy định chung của toàn ngành, đượcHiệu trưởng thể chế hóa thành văn bản, quy định thuộc cấp trường ĐH Để thựchiện chức năng lãnh đạo, chủ thể quản lý HĐHT của SV theo HTTC phải biết sửdụng phương pháp lãnh đạo khoa học và biết đưa ra quyết định quản lý thích hợp
để định hướng tính chất hoạt động và điều khiển hoạt động nhà trường một cách cóhiệu quả
Trong HTTC, đối với mỗi học phần, SV là thành viên của các nhóm làmviệc dưới sự quản lý và hướng dẫn của GV Hoạt động học tập của SV được tổchức giờ lên lớp để quản lý thông qua lớp SV và lớp học phần/lớp tín chỉ
Theo Ninh Quang Thăng "Lớp sinh hoạt đối với những sinh viên cùng khóatuyển có thể ví như cắt ngang, còn các lớp học phần là cách cắt dọc trong việcphân chia sinh viên trong công tác quản lý " Thông qua các hình thức tổ chức lớp
để nhà trường quản lý giờ lên lớp của SV cho phù hợp Thời gian học tập của SVtrên lớp chiếm 30%, khoảng thời gian còn lại cho các hoạt động khác hỗ trợ họctập như tự học, tìm tài liệu, làm bài tập … Thời gian trên lớp ít, hình thức tổ chứclớp học thay đổi, đa dạng và phong phú hơn Điều này dẫn đến công tác quản lýgiờ lên lớp của SV gặp nhiều khó khăn hơn Quan điểm của các chuyên gia vềHTTC, đào tạo theo HTTC đồng nghĩa với việc tăng tính chủ động tích cực của
SV trong học tập Để giờ học trên lớp được tổ chức có hiệu quả, GV cần xây dựng
kế hoạch giảng dạy chi tiết và thực hiện chương trình giảng dạy nghiêm túc, sáng
Trang 36tạo, áp dụng các hình thức tổ chức dạy học mới, duy trì được không khí làm việctích cực, thực hiện đánh giá SV theo quá trình giảng dạy trên lớp [22, tr35]
(ii) Chỉ đạo hoạt động tự học của sinh viên ngoài giờ trên lớp theo hệ thống tín chỉ
Hoạt động tự học là hoạt động nhận thức mang tính chất nghiên cứu Tựhọc là hoạt động có mục đích của con người, là điều cần thiết trong quá trình tiếpnhận tri thức Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng: "Tự học là tự mình động não, suynghĩ, sử dụng trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…) và có khi cả cơ bắp(khi phải sử dụng công cụ), cùng các phẩm chất của mình rồi cả động cơ, tìnhcảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như tính trung thực, ý chí tiến thủ, khôngngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học) để chiếm lĩnh mộtlĩnh vực hiểu biết nào đó " [82, tr65]
Hoạt động tự học có sự nỗ lực tích cực của SV, là hoạt động sáng tạo trong
nhận thức của SV Bản chất của tính tích cực độc lập nhận thức là sự chuẩn bị về
mặt tâm lý cho hoạt động tự học Sự chuẩn bị này là tiền đề quan trọng cho HĐHT
có mục đích, cho sự tự điều chỉnh và đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quảcao… Tính độc lập nhận thức là năng lực, nhu cầu học tập và tính tổ chức học tậpcho phép học sinh tự học Hoạt động tự học của SV ngoài giờ trên lớp được tổchức linh hoạt và đa dạng Nhà trường cần tạo điều kiện giúp SV nhận thức đượcvai trò của tự học, từ đó hình thành và phát triển nhu cầu tự học của các em Một
số các biện pháp để tổ chức hoạt động tự học của SV được áp dụng như: GV bồidưỡng cho các em phương pháp tự học ngoài giờ lên lớp, nêu các yêu cầu về kiếnthức kỹ năng cần đạt được cho SV trong đề cương bài giảng; CVHT trợ giúp SVxây dựng kế hoạch học tập bao gồm danh sách môn học tự chọn, danh mục các tàiliệu tham khảo; Có các biện pháp kiểm tra thường xuyên kiến thức tự học của SV;Các đơn vị trong trường phối hợp đảm bảo cho hoạt động tự học của SV đượcthực hiện
Trong đào tạo theo HTTC, hoạt động tự học chiếm phần lớn thời gian của
SV Theo quy định, để có thể tham gia một giờ học tập trên lớp có sự hướng dẫncủa GV, SV cần có từ 2-3 giờ tự học chuẩn bị bài ngoài giờ lên lớp Nội dung hoạtđộng tự học của SV gồm kiến thức liên quan đến môn học Sinh viên cần đọc cáctài liệu do GV giới thiệu trên lớp, trong bản đề cương môn học, tìm tài liệu, tiềnhành thực hành thí nghiệm liên quan đến môn học Đây là hoạt động tự học có sựhướng dẫn của GV Ngoài ra, SV còn có thể khám phá tri thức mới thông qua cáchình thức khác như tự tìm tư liệu, học hỏi qua bạn – nhóm làm việc, học kinhnghiệm từ các hoạt động khác
1.4.4.2 Phát triển chương trình và cung cấp tài liệu phục vụ cho hoạt động học tập của sinh viên
Trang 37Theo Frances Hoffman “Hệ thống tín chỉ tự chọn được giới thiệu để thựchiện vào cuối thế kỷ 19 ở Bắc Mỹ vì kiến thức và số lượng môn học đều được mởrộng nên cần phải cung cấp cho SV nhiều sự lựa chọn trong nội dungmôn học” [120,tr20]
Chương trình giáo dục do Bộ GDĐT ban hành quy định mục tiêu, nội dung,phương pháp và cách thức đánh giá kết quả giáo dục Chương trình giáo dục đượcxây dựng với nhiều cấp độ: chương trình giáo dục cấp độ quốc gia, của ngành học,bậc học, cấp học, môn học… Phát triển chương trình đào tạo là nhiệm vụ quantrọng của ngành giáo dục và của mỗi trường ĐH Chuyển sang HTTC, yêu cầutrường ĐH cấu trúc lại và đổi mới chương trình HTTC cho phép SV lựa chọn cácmôn học nên yêu cầu chương trình đào tạo có danh sách nhiều môn học thay thế.Nhà trường cần chuẩn bị sẵn sàng các nguồn lực để đáp ứng yêu cầu này như độingũ GV, các chương trình lựa chọn, sách giáo khoa, địa điểm lớp học
Đề cương bài giảng của GV đóng vai trò quan trọng trong HĐHT của SV,đưa ra các yêu cầu cụ thể, chi tiết về kế hoạch bài giảng cho tất cả các học phần,các chương các bài của môn học, bao gồm những mục tiêu học tập và kế hoạchhành động (mục tiêu cụ thể, nội dung thương ứng, hoạt động dạy học, phươngpháp giảng dạy, hình thức tổ chức dạy học) nhằm đạt được mục tiêu đó Giảngviên nêu rõ phần giáo trình và tài liệu tham khảo mà SV phải đọc tham khảo trướckhi lên lớp Sinh viên phải nắm chắc được các kiến thức này mới có thể tham giagiờ học trên lớp có hiệu quả Vì vậy, một trong những yêu cầu quan trọng khitrường đào tạo theo HTTC đó là hệ thống thông tin tài liệu phải cập nhật, phongphú Các tài liệu liên quan đến các môn học được GV giới thiệu thông qua đềcương môn học Ngoài ra, nguồn tài liệu phong phú trên mạng cũng được SV sửdụng triệt để Khác với hình thức đào tạo theo niên chế, trong đào tạo theo HTTC,
SV chủ động học tập, xem tự học là chính Do vậy, GV cần thiết phải hướng dẫn
SV cách thức chiếm lĩnh thông tin, chọn và sàng lọc và sử dụng Nếu SV không có
kỹ năng chọn lọc thông tin, sẽ dễ rơi vào tình trạng khủng hoảng thừa thông tin,không nhận được thông tin có ích cho việc học tập
1.4.4.3 Chỉ đạo việc phối hợp các lực lượng giáo dục và đoàn thể xã hội trong quản lý hoạt động học tập của sinh viên
Nhà trường thực hiện công tác quản lý đối với các HĐDH như quản lýthực hiện các mục tiêu, nội dung chương trình, phương pháp, hình thức tổ chứcdạy học, CSVC và thiết bị Quản lý môi trường dạy học là một yêu cầu cần thiết,gồm phối hợp các tổ chức đoàn thể và các lực lượng giáo dục trong trường để xâydựng tập thể sư phạm nhà trường thực hiện nhiệm vụ giảng dạy, xây dựng tập thể
SV tự quản để thực hiện mục tiêu giáo dục
Trang 38Trong hệ thống các trường ĐH, phong trào Đoàn thanh niên – Hội Sinhviên hoạt động khá tích cực Đoàn tập hợp được những sinh viên tích cực học tập,tham gia vào các hoạt động của các đoàn thể Dưới sự lãnh đạo của Đoàn thanhniên, sinh viên tham gia các hoạt động ngoại khóa, các phong trào văn hóa, thểdục thể thao, văn hóa, văn nghệ, công tác xã hội làm phong phú các hoạt động củasinh viên Đoàn thanh niên đi đầu trong các phong trào thi đua học tập tốt, Đoànquan tâm chú ý đến kết quả phấn đấu học tập của sinh viên Tổ chức Đoàn thanhniên tạo ra được môi trường sinh hoạt gần gũi với học tập, kích thích hoạt độnghọc tập đạt kết quả tốt trong các đối tượng của Đoàn Hội Sinh viên đã phát độngnhiều phong trào tiêu biểu hỗ trợ cho quá trình chuyển đổi mô hình đào tạo như
Hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng học tập, Mô hình đào tạo kỹ năng mềmcho SV … Các hoạt động này góp phần thúc đẩy quá trình nhận thức của SV với
hệ thống đào tạo thay đổi, trang bị cho SV các kỹ năng cần thiết để thích nghi vớiphương thức đào tạo mới
1.4.4.4 Tạo lập các điều kiện bảo đảm cơ sở vật chất & phương tiện học tập của sinh viên
(i) Cơ sở vật chất, trang thiết bị thí nghiệm
Cơ sở vật chất là một trong những yếu tố quan trọng của quá trình dạy học,
là điều kiện không thể thiếu được trong nhà trường Đầu tư mạnh và khai thác triệt
để CSVC cho HĐDH và quản lý đào tạo được coi là giải pháp ưu tiên trong đàotạo theo HTTC Quản lý đào tạo theo HTTC không chỉ làm tăng tính mềm dẻo,linh hoạt của quy trình đào tạo, mà còn tăng cường tính chủ động, tự học, tựnghiên cứu của SV Môi trường CNTT tốt, trang thiết bị phục vụ cho đổi mới nộidung phương pháp dạy học, phòng thí nghiệm, thực hành có đủ thiết bị yêu cầu sẽ
hỗ trợ hầu hết công tác quản lý học tập và giảng dạy một cách có hiệu quả
Đào tạo theo HTTC cần nhiều không gian và diện tích xây dựng cho hoạtđộng học tập hơn cho các hình thức tổ chức học tập theo lớp nhỏ, nhóm thảo luận,phòng chờ cho sinh viên giữa các lớp học phần, phòng đọc, nơi để thực hiện cácbài tập, chuẩn bị các chuyên đề Các trường ĐH cần sắp xếp hệ thống văn phòng
để các GV, CVHT làm việc với SV, các trung tâm hỗ trợ SV Sinh viên cần nhiềukhông gian để thực hiện các hoạt động tự học như ở thư viện, ở giảng đường Cáctrường cần có những định hướng ưu tiên đầu tư cho xây dựng hệ thống thư việnhiện đại, mở rộng và nâng cấp hệ thống thư viện điện tử, tăng diện tích sử dụngcủa thư viện
Đổi mới phương pháp dạy học cho phù hợp với quy trình đào tạo mới luônluôn phải được các trường ĐH chú trọng quan tâm hàng đầu Thực tế ở một số cáctrường ĐH thực hiện đào tạo theo HTTC cho thấy, việc chuyển sang đào tạo theoHTTC đòi hỏi có sự thay đổi toàn diện trong công tác quản lý và đào tạo, đồng
Trang 39thời làm thay đổi mạnh mẽ về phương pháp dạy của GV và phương pháp học của
SV theo hướng tích cực Để đảm bảo các điều kiện cho việc đổi mới phương phápdạy học trong quy trình đào tạo mới, nhà trường cần có kế hoạch đầu tư cho cácphương tiện dạy học, triển khai rộng rãi các ứng dụng ICT cho hoạt động dạy họctheo hướng tích cực hóa Các phòng học có đủ phương tiện kỹ thuật, phòng học đachức năng, các phòng được trang bị máy chiếu, máy tính… là các yêu cầu cầnthiết cho đổi mới phương pháp
Trong trường ĐH thực hiện đào tạo theo HTTC, SV được chủ động trong quátrình học tập nhằm phát triển năng lực cá nhân về học tập và nghiên cứu, cáctrường ĐH cần tạo mọi điều kiện cho hệ thống phòng thí nghiệm được khai thác
có hiệu quả và sử dụng thời gian hợp lý Thiết bị thí nghiệm phải phù hợp với nộidung chương trình giảng dạy Nhà trường cần đảm bảo đủ số lượng giáo viênhướng dẫn thực hành và cán bộ kỹ thuật cho các phòng thí nghiệm để hỗ trợ SVthực hành thí nghiệm Các vật tư tiêu hao và hóa chất thí nghiệm cần được cungcấp đầy đủ, kịp thời
(ii) Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hoạt động học tập của sinh viên theo hệ thống tín chỉ
Ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) vào quá trình giảngdạy và học tập thể hiện quan điểm tích cực trong việc đổi mới công nghệ để nângcao chất lượng GDĐH Đào tạo theo HTTC không chỉ là một hướng đi mới phùhợp mà còn yêu cầu thay đổi cả về phương pháp tổ chức, quản lý HĐDH của thầy
và trò trong trường ĐH
Theo Phan Huy Phú “Mỗi trường cần phải xây dựng một mô hình tin họchóa tổng thể từ những bước đầu tiên và có một định hướng rõ ràng cho việc thựchiện tin học hóa đó: định hướng về nền tảng công nghệ, định hướng về đào tạonhân lực … Khi đã có mô hình tổng thể và định hướng rõ ràng, mỗi trường nênxây dựng cho mình một lộ trình thực hiện tin học hóa phù hợp” [101, tr18]
Việc ứng dụng những phát triển của CNTT được xem là một công cụ quantrong trong việc quản lý hoạt động dạy, hoạt động học và quản lý SV Đào tạotheo niên chế, trường ĐH thường có phần mềm quản lý đào tạo gồm các lĩnh vực:tuyển sinh, quản lý SV, chương trình đào tạo, thời khóa biểu, quản lý điểm, họcbổng – học phí, khen thưởng kỷ luật Thực tế, ít trường ĐH có phần mềm tổng thểquản lý đào tạo gắn liền với cá nhân từng SV Quản lý đào tạo niên chế bằng phầnmềm thường đáp ứng một số yêu cầu chung theo mức thống kê kết quả học tậpcủa SV, lớp SV, khóa học, học bổng, học phí… Hầu hết SV chưa có tài khoản cánhân để có thể đăng nhập vào hệ thống, xem điểm hoặc tra cứu thông tin về họctập… Khi chuyển sang đào tạo theo HTTC cần phải áp dụng triệt để các ứng dụngCNTT trong quản lý đào tạo và quản lý HĐHT của SV Ngoài những lĩnh vực
Trang 40chung như tuyển sinh, học bổng, học phí, điểm thi, … phần mềm quản lý đào tạotheo HTTC còn phải đáp ứng được các yêu cầu liên quan đến TC như đăng kýkhối lượng học tập, các nguyên tắc đối với thời điểm đăng ký (sớm, bình thường,muộn), khối lượng học tập tối thiểu, tối đa cho mối SV, các điều kiện tiên quyết,song hành… Mỗi SV cần có 1 tài khoản học tập, thường là địa chỉ e mail của cánhân Việc phân quyền sử dụng trong hệ thống đào tạo cũng là một yêu cầu bắtbuộc khi sử dụng phần mềm quản lý đào tạo theo HTTC Ngoài các phân quyềnquản lý về thông tin, GV sẽ được cấp quyền sử dụng đối với việc truy cập thôngtin liên quan đến môn học, điều chỉnh đề cương giảng dạy… Sinh viên chỉ đượcphép truy cập để nhận các thông tin liên quan đến học tập, thông báo thay đổi lịchhọc, môn học, địa điểm học, các cảnh báo về đáp ứng điều kiện học – thi
Áp dụng CNTT hỗ trợ cho công tác quản lý đào tạo theo HTTC đảm bảotính khoa học Tổ chức tốt công tác quản lý đào tạo là một trong những yếu tốquan trọng để đảm bảo chất lượng và nâng cao chất lượng giảng dạy và học tậptheo HTTC Bằng phần mềm quản lý đào tạo, việc quản lý HĐHT của SV trở nênnhanh chóng và chính xác Sinh viên có thể đăng ký học, thi vào bất cứ thời giannào và ở bất cứ đâu, có thể tìm hiểu thông tin liên quan đến học tập như thời khóabiểu, hình thức và địa điểm tổ chức lớp học Đây cũng là một trong những điềukiện tiên quyết để áp dụng thành công việc chuyển đổi từ phương thức đào tạo từniên chế sang đào tạo theo HTTC
1.4.4.5 Chỉ đạo đánh giá kết quả học tập của sinh viên
Đánh giá kết quả học tập của SV là khâu cuối cùng của quản lý HĐHT.Đánh giá kết quả học tập của SV để biết (i) Sự đáp ứng mục tiêu môn học; (ii)Tính hiệu quả của hoạt động dạy học; (ii) Khả năng lĩnh hội kiến thức kỹ năng thái
độ của SV; (iii) Sự phù hợp của phương pháp giảng dạy; (iv) Cách tiến hành bàihọc tiếp theo
Theo Nguyễn Công Khanh, “ Ở trường ĐH nước ngoài đào tạo theo HTTC,mỗi môn học thường sử dụng kết hợp cả hai cách tiếp cận: đánh giá quá trình vàđánh giá kết quả” [101, tr 28]
Có nhiều lý do cụ thể để đánh giá việc học tập của SV và tổ chức đánh giáthông qua chức năng quản lý, chức năng giảng dạy và chức năng nghiên cứu Đốivới chức năng quản lý, mục đích đánh giá chung là để xếp lớp, cấp chứng chỉ, để
đủ điều kiện thăng tiến Đối với chức năng giảng dạy, đánh giá để minh chứng cho
sự tiến bộ
Chỉ đạo đánh giá kết quả học tập nhằm xem xét sự đáp ứng của mục tiêumôn học, phản ánh thành tích học tập của SV Chỉ đạo đánh giá kết quả học tậpcủa SV thông qua các tiêu chí sau: (i) Số tín chỉ của các học phần mà SV đăng kýhọc vào đầu mỗi học kỳ ; (ii) Điểm trung bình chung học kỳ là điểm trung bình có