Những thay đổi về kỹ thuật, chất liệu trong nghệ thuật sơn mài Việt Nam hiện đại
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
luËn ¸n tiÕn sÜ v¨n hãa häc
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
pgs nguyÔn l¬ng tiÓu b¹ch
Trang 2Lêi cam ®oan
T«i xin cam ®oan ®©y lµ c«ng tr×nh tæng hîp nghiªn cøu
do t«i lµm NÕu cã g× sai ph¹m t«i xin hoµn toµn chÞu tr¸ch nhiÖm.
Lª Thanh H¬ng
Trang 3Chương 1 SỰ PHÁT TRIỂN VÀ ĐỊNH HÌNH VỀ CHẤT LIỆU, KỸ THUẬT
CỦA NGHỀ SƠN CỔ TRUYỀN TRƯỚC NĂM 1925 10
Chương 2 NHỮNG THAY ĐỔI VỀ KỸ THUẬT, CHẤT LIỆU
TỪ NGHỀ SƠN CỔ TRUYỀN THÀNH SƠN MÀI HỘI HỌA 52
2.2 Những tìm tòi cải tiến kỹ thuật, chất liệu
2.3 Một số cách tân về phong cách trong hội họa sơn mài
2.4 Những thay đổi của sơn mài mỹ nghệ
Chương 3 NHỮNG THAY ĐỔI VỀ KỸ THUẬT, CHẤT LIỆU
CỦA NGHỆ THUẬT SƠN MÀI TỪ SAU “ĐỔI MỚI” 102 3.1 Bối cảnh chung của mỹ thuật Việt Nam sau “Đổi mới” 102 3.2 Những thay đổi về kỹ thuật, chất liệu của hội họa sơn mài 108 3.3 Thay đổi về kỹ thuật, chất liệu của sơn mài mỹ nghệ
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trên cơ sở những phát hiện khảo cổ học tìm thấy qua các cuộc khaiquật, chúng ta được biết, nghề sơn ở nước ta có từ thời kỳ văn hóa Đông Sơn(khoảng thế kỷ 6, 7 trước Công nguyên đến thế kỷ 1 sau Công nguyên) Trảiqua trên hai ngàn năm, nghề sơn đã đạt được đến trình độ hoàn hảo từ khâutrồng cây sơn, lấy nhựa sơn, rồi phân loại pha chế nhựa sơn đến kỹ thuật chếtác các loại sản phẩm (đồ thờ, đồ dùng trong hoàng cung và đồ gia dụng) Từnhững bước đi ban đầu chỉ mới dùng nhựa sơn như một thứ keo để hàn gắn,nhu cầu của cuộc sống xã hội đã dần hình thành nên các sản phẩm sơn mangđậm phong cách Việt
Suốt thời kỳ phong kiến Đại Việt, có thể thấy, kỹ thuật và chất liệu làmsơn ta không biến đổi nhiều; về sản phẩm nghề sơn cũng vậy Chưa bao giờ
nghề sơn lại có những biến đổi nhanh như thời gian gần đây Điều này không
chỉ thể hiện rõ ở lĩnh vực nghệ thuật chuyên nghiệp mà cả trong một số loạihình sản phẩm mỹ nghệ dân gian tại các làng nghề cũng có những biến đổi đểphù hợp với thị trường, đáp ứng thẩm mĩ đa dạng hơn Biến đổi để tồn tại vàphát triển là qui luật chung, sơn mài mĩ nghệ cũng buộc phải biến đổi ở nhiềukhía cạnh như: kỹ thuật sản xuất, chất liệu và mẫu mã sản phẩm, phương thứchoạt động nghề, đặc biệt là sự biến đổi trong tư duy hoạt động nghề, dẫn đếnnhững biến đổi sâu sắc về kinh tế, xã hội ở các làng nghề
Những biến đổi này có những ưu điểm, nhưng cũng không ít những bấtcập khiến những người quan tâm đến sơn mài Việt Nam phải suy nghĩ dù biết
Trang 5rằng đó là điều không thể tránh khỏi Trong rất nhiều sự biến đổi đó, điều đáng
phải suy nghĩ nhất chính là những biến đổi về kỹ thuật sản xuất và chất liệu sơn mài, bởi đây chính là việc còn hay mất một nền/di sản nghệ thuật sơn mài
truyền thống vốn đã đạt được những giá trị đáng tự hào Vì vậy, nghiên cứu vềbiến đổi kỹ thuật, chất liệu sơn mài sẽ cho chúng ta thấy được những gì đượcmất của nghệ thuật sơn mài sau những thăng trầm thời cuộc
Trong thời kỳ phong kiến, đặc biệt từ thế kỷ 17 trở đi nghề sơn pháttriển mạnh phục vụ trang trí nội thất các công trình tôn giáo tín ngưỡng vànội thất cung đình Từ những năm 30 của thế kỷ 20, những họa sĩ thuộc thế
hệ đầu của Trường Mĩ thuật Đông Dương, với việc tiếp cận và nắm vữngphương pháp tạo hình châu Âu, lại có ý thức quay về học tập và kế thừa nghệthuật tạo hình dân tộc, kế thừa truyền thống, để độc lập sáng tạo, có chíhướng xây dựng một nền mĩ thuật Việt Nam mang bản sắc dân tộc Từnhững bước đi ban đầu ấy đến nay sơn mài đã trở thành một chất liệu của hộihọa độc đáo ở Việt Nam
Trong nhiều thập kỷ qua, nghệ thuật sơn mài hiện đại Việt Nam đã cónhững bước tiến dài trong khám phá và xử lý những chất liệu mới Từ bảngmàu vàng - đỏ - đen được vẽ trực tiếp lên gỗ, của các nghệ nhân dân gian,các họa sĩ sơn mài hiện đại đã có những cách tân vượt bậc về kỹ thuật, chấtliệu để chuyển hóa từ một hình thức của mĩ nghệ trang trí thành một phươngtiện - một ngôn ngữ tạo hình, biểu đạt thế giới nội tâm của con người.Nghiên cứu về những biến đổi này để thấy được những sáng tạo và đóng gópcủa lớp họa sĩ sơn mài đầu tiên của Việt Nam
Nghệ thuật sơn mài với tư cách là đặc sản văn hóa của Việt Nam luôn
là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu, nghệ nhân, nghệ sĩ quan tâm nghiên
Trang 6cứu dưới nhiều góc độ Nhưng cho đến nay vẫn chưa có một công trình nàonghiên cứu một cách hệ thống về quá trình phát triển của kỹ thuật, chất liệu
và hiệu quả thẩm mĩ của những phát kiến này
Là một người đã tốt nghiệp trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam và làmluận văn thạc sĩ tại Viện nghiên cứu văn hóa, tôi nhận thấy đây là một vấn đềcần được tiếp cận nghiên cứu để thấy được biến đổi của nghề sơn trong dòngchảy của nghệ thuật và đời sống hiện đại Để từ đó, tìm ra những hiệu quảcủa sự biến đổi và hướng đi trong việc bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộctrong một lĩnh vực nghệ thuật và một lần nữa khẳng định sức sáng tạo vôcùng phong phú của những người nghệ sĩ, nghệ nhân Việt Nam
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn Những thay đổi về kỹ thuật,
chất liệu trong nghệ thuật sơn mài Việt Nam hiện đại làm đề tài luận án.
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Nghiên cứu những thay đổi về kỹ thuật và chất liệu của nghệ thuậtsơn mài Việt Nam qua các giai đoạn khác nhau để thấy được những yếu tốkhách quan và chủ quan dẫn đến những biến đổi đó, qua đó khẳng địnhnhững biến đổi trong nghệ thuật sơn mài là qui luật khách quan để tồn tại vàphát triển
2.2 Trình bày thành quả của nghệ thuật sơn mài từ khi là chất liệudùng để trang trí, tăng độ bền cho đồ vật, rồi trở thành chất liệu của nghệthuật tạo hình và ngày nay là chất liệu để làm hàng thủ công mỹ nghệ xuấtkhẩu để thấy được giá trị quí báu về mặt văn hóa, kinh tế - xã hội của nghệthuật này Ngoài ra, qua những phân tích về bất cập của những thay đổi về kỹ
Trang 7thuật, chất liệu của nghệ thuật sơn mài, luận án cũng muốn góp một tiếng nói
về vấn đề bảo tồn một nghệ thuật cổ truyền độc đáo của dân tộc
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Những chất liệu và kỹ thuật dùngcho việc chế tác các sản phẩm thủ công mỹ nghệ trong các làng nghề và cáctác phẩm sơn mài hội họa của các họa sỹ
- Phạm vi nghiên cứu: Những ứng dụng chất liệu, kỹ thuật của nghềsơn trong dân gian và trong các xưởng, trường nghệ thuật Đặc biệt tậptrung nghiên cứu giai đoạn từ năm 1925 đến nay, bởi đây là giai đoạnnghề sơn có nhiều biến đổi trong việc dùng chất liệu và kỹ thuật, nhiềuchất liệu mới được đưa vào ứng dụng (sơn Nhật, sơn điều ), nhiều kỹthuật mới được thực hành Điều này đã tạo nên một sắc diện mới cho nghềsơn truyền thống Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Để đạt được mục đích nghiên cứu, chúng tôi đã sử dụng phươngpháp nghiên cứu liên ngành và nghiên cứu điền dã nhằm bổ sung tư liệu thựcđịa về hiện trạng tại một số làng nghề tiêu biểu (Đình Bảng, Hạ Thái, Kiêu
Kỵ, Sơn Đồng,…); một số bảo tàng (Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Bảo tàngLịch sử Việt Nam); một số di tích còn lưu giữ được những sản phẩm nghềsơn truyền thống có giá trị cao và xưởng vẽ của một số trường nghệ thuật(trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam, trường Đại học Mỹ thuật côngnghiệp ) và xưởng vẽ của một số họa sỹ chuyên về nghề sơn, đã được côngchúng đánh giá cao về kỹ thuật và sáng tạo
Trang 84.2 Bên cạnh những phương pháp trên chúng tôi cũng áp dụngphương pháp thống kê, phân tích, mô tả, trên cơ sở đó tiến hành phân loại,tìm hiểu công nghệ chế tác và các loại hình sản phẩm đã từng sản xuất tại cáclàng nghề cũng như tranh sơn mài của các họa sĩ Sử dụng phương phápnghiên cứu tổng hợp và nghiên cứu so sánh, nhằm làm rõ những thay đổi cơbản giữa chất liệu và kỹ thuật cũ với kỹ thuật và chất liệu mới Công trìnhcũng sẽ tham khảo các công trình nghiên cứu đã được công bố Trên cơ sở đóhọc hỏi, tiếp nhận thành tựu, tiến hành phân tích, chứng minh để làm sáng tỏ
sự biến đổi về kỹ thuật và chất liệu của nghề sơn truyền thống
5 Đóng góp khoa học và thực tiễn của luận án
5.1 Luận án này đặt vấn đề nghiên cứu một cách tương đối toàn diện
và hệ thống những đặc điểm cơ bản của nghệ thuật sơn mài Việt Nam; khẳngđịnh vị trí, vai trò của sơn mài trong nền văn hóa Việt, để từ đó khai thác vàứng dụng những tiềm năng, tính ưu việt của nó trong xã hội hiện đại
5.2 Bản luận án khi được hoàn thành sẽ hệ thống hóa rõ nét sự biếnđổi, chuyển đổi của chất liệu, kỹ thuật nghề sơn qua từng giai đoạn trong lịch
sử Xác định rõ vai trò của các yếu tố trên trong việc ứng dụng, sáng tạo củacác nghệ nhân, nghệ sỹ và khẳng định đây là một trong những yếu tố căn bảntạo nên sức sống, bản sắc của nghề sơn truyền thống, nền tảng của sự hìnhthành nên ngành sơn mài hội họa Việt Nam
5.3 Luận án đồng thời cũng góp phần khẳng định thêm rằng: vậnđộng, biến đổi là quy luật khách quan, là yếu tố tạo nên sự đa dạng và pháttriển và đồng thời cũng đưa ra một vài kiến nghị nhằm bảo tồn nghệ thuậtsơn mài truyền thống cho hiện tại và tương lai
Trang 96 Bố cục luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận án được chialàm ba chương:
Chương 1 Sự phát triển và định hình về chất liệu, kỹ thuật của nghề
sơn cổ truyền trước năm 1925
Chương 2 Những thay đổi về kỹ thuật, chất liệu từ nghề sơn cổ
truyền thành sơn mài hội họa
Chương 3 Những thay đổi về kỹ thuật, chất liệu của nghệ thuật sơn
mài từ sau “Đổi mới”.
Trang 10
CHƯƠNG 1
SỰ PHÁT TRIỂN VÀ ĐỊNH HÌNH VỀ CHẤT LIỆU, KỸ THUẬT
CỦA NGHỀ SƠN CỔ TRUYỀN TRƯỚC NĂM 1925
1.1 Tổng quan về nghệ thuật sơn mài
1.1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Nghề sơn Việt Nam có một lịch sử lâu đời, sản phẩm nghề đã đónggóp một số lượng lớn hiện vật vào kho tàng văn hóa vật thể Việt Nam, nhưngviết về nghề sơn (trong thời kỳ phong kiến) và sự nghiên cứu về nghề sơnvẫn còn nhiều hạn chế và phiến diện
Trong suốt hàng nghìn năm phong kiến chúng tôi chưa tìm thấy tưliệu, công trình nào có mục đích viết riêng về nghề sơn Những tư liệu vềnghề sơn được viết trong nhiều thư tịch là do các sử gia, nhà nghiên cứu viết
về vấn đề khác, nhân đấy đề cập đến nghề sơn như một hiện tượng hay sựvật: chúng tôi xin nêu một vài ví dụ tiêu biểu
Trước hết phải kể đến bộ sử đầu tiên của Việt Nam, sách Đại Việt sử
ký toàn thư của Lê Văn Hưu và các sử gia Chủ đề của sách viết về lịch sử
chính trị của các triều đại phong kiến Việt Nam Khi viết về một sự kiện lịch
sử, mà qua đó tác giả nhắc đến sản phẩm của nghề sơn như đoạn: “Phép nhàTrần từ tôn thất đến quan ngũ phẩm đều được dùng kiệu ngựa và võng: tônthất kiệu hình đầu chim phượng sơn son Quan tướng quốc thì kiệu hìnhchim anh vũ sơn then”.[39,tr26]
Tiếp đến là sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi Đây là tác phẩm Nguyễn
Trãi viết địa chí quốc gia (viết xong vào năm 1435) Trong sách ông nhắc
Trang 11đến chất liệu sơn với tính chất là nhắc đến một sản phẩm địa phương quýhiếm, cùng một số sản phẩm khác như “huyện Sơn Vi có trĩ trắng, sơn, tơ”.
Muộn hơn nhưng cụ thể hơn là cuốn Bình Vọng Trần thị gia phả, là
gia phả của dòng họ Trần ở làng Bình Vọng, huyện Thường Tín, Thành phố
Hà Nội, sách có viết về cụ Trần Lư một thành viên xuất sắc của dòng họ này:người học hành đỗ đạt, có chức tước và trước tác, đồng thời cũng là ngườiđem nghề sơn về quê, được dân làng Bình Vọng ghi công, tôn làm đức tổnghề sơn của làng
Những người nước ngoài đến Việt Nam làm các công việc: ngoại giao,truyền giáo, buôn bán, họ viết sách mà nội dung chủ yếu đề cập đến nhiềuvấn đề xã hội, phong tục tập quán của Việt Nam thời phong kiến Trong đó
họ có nhắc đến cây sơn, việc chế biến nhựa sơn và đồ mỹ nghệ làm bằng chất
liệu sơn Tiêu biểu là cuốn Một chuyến du hành đến Đàng Ngoài năm 1688
của William Dampier có đoạn viết: “Sơn ở Đàng Ngoài là một thứ nhựalỏng, chảy ra từ thân hoặc cành của các cây Dân chúng ở nông thôn thu thậpmột lượng lớn đến nỗi ngày nào họ cũng đem hàng thùng đầy ra bán tại chợkinh đô, nhất là vào mùa có công việc Màu sắc tự nhiên của nó là màu trắng
và đặc như kem, nhưng ra không khí thì đổi thành màu đen nhạt Vì thế chonên những người ở nông thôn đem sơn ra tỉnh đều bọc sơn trong hai hay balần giấy hoặc lá để giữ cho màu sắc của nó được tươi tắn một cách tự nhiên”.Trong cuốn sách này ông đã có những nhận xét khách quan cho rằng nhựasơn Việt Nam thực sự là một chất liệu quí và nghề sơn thế kỷ 17 đã đạt đếntrình độ không thua kém gì Nhật Bản
Từ ngày hòa bình lập lại trên miền Bắc (1954), đặc biệt là từ năm 1960đến nay, những bài viết và công trình nghiên cứu về cây sơn, nghề sơn, sự rađời của thể loại sơn mài hội họa đã được nhiều tác giả thuộc nhiều lĩnh vực
Trang 12(kinh tế, văn hóa, thực vật) nhiều ngành khoa học (dân tộc học, văn hóa học,
mỹ thuật học ) tìm hiểu, viết bài, ghi hình và nghiên cứu ở nhiều góc độkhác nhau
Bài đăng trong các tạp chí chuyên ngành:
Các bài đăng trên tạp chí chuyên ngành về nghề sơn nói chung thườngviết về một địa bàn cụ thể mà tác giả có điều kiện khảo sát thực tế ví dụ như:
- Cây sơn và nghề trồng sơn trên đất Vĩnh Phúc tác giả Lê Tượng.
Trong bài viết này ông đi sâu vào việc giới thiệu cây sơn và nghề trồng sơn ởtỉnh Vĩnh Phúc
Chùm bài của tác giả Nguyễn Văn Chuốt:
- Hà Sơn Bình với truyền thống sơn mài.
- Đóng góp của nghệ nhân Hà Sơn Bình trong việc phát triển nghề thủ công mỹ nghệ.
Trong hai bài viết nêu trên, họa sỹ – nhà giáo Nguyễn Văn Chuốt vốn
là xã viên hợp tác xã sơn mài Hạ Thái đã đánh giá, giá trị nghề thủ công mỹnghệ sơn mài ở Hà Sơn Bình với nghề sơn truyền thống Việt Nam Bài viếtcũng đã cung cấp tư liệu về những nghệ nhân của nghề sơn mài trong đó có
cụ Đinh Văn Thành là người đã trực tiếp dậy nghề sơn mài cổ truyền cho cáchọa sĩ trường Mỹ thuật Đông Dương thời kỳ đầu
- Đồ sơn cổ truyền là bài nghiên cứu chuyên ngành mỹ thuật ứng dụng đăng trên tạp chí Nghiên cứu mỹ thuật của hai tác giả Nguyễn Du Chi và
Nguyễn Hoài Linh Bài viết như bức tranh mô tả một cách sơ lược toàn cảnhnghề sơn truyền thống Việt Nam qua những chứng cứ khảo cổ học, sách báo
và hiện vật tại các đình, chùa, bảo tàng
Trang 13- Về nghề sơn mài và sơn quang dầu ta tác giả Nguyễn Đức Cường đăng trên Tạp chí Văn hóa dân gian số 3 năm 1986, nói về cách pha chế và
cách sử dụng sơn quang dầu Bài viết mang tính chất tổng kết kinh nghiệmdân gian với những kiểm chứng thực hành của tác giả
- Sơn ta và nghề sơn truyền thống Việt Nam là cuốn kỷ yếu hội
thảo do Viện Nghiên cứu mỹ thuật tuyển chọn, ấn hành Cuốn kỷ yếu tậphợp nhiều bài viết với nhiều nội dung, nhưng có hai chủ đề chính là nói
về lịch sử và sự chuyển đổi từ thể loại sơn mài mỹ nghệ sang thể loại sơnmài hội họa
Bên cạnh những bài viết về nghề sơn là mảng những bài viết vềsơn mài hội họa được đăng trên các tạp chí chuyên ngành như “Nghệ
thuật sơn mài 30 năm qua”, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, của tác giả Phạm Văn Đôn; “Nét độc đáo của tranh sơn mài”, Tạp chí Mỹ thuật, của
tác giả Nguyễn Quang Hải, “Về khả năng diễn tả của sơn mài Việt Nam”,
Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, của tác giả Lê Kim Mỹ, “Về bước phát triển của tranh sơn mài”, Tạp chí Mỹ thuật của tác giả Sỹ Ngọc; “Tranh sơn mài Việt Nam”, Tạp chí Mỹ thuật, của tác giả Trần Đình Thọ’ “Họa sĩ Nguyễn Gia Trí với sơn mài và nghệ thuật tranh sơn mài của ông”, Tạp chí Mỹ thuật, của tác giả Trần Thức; “Đôi nét về tiến trình phát triển của tranh sơn mài Việt Nam”, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, của tác giả Đặng
Thanh Vân Những bài tạp chí trên đã nhận định, phân tích và tổng hợp
về các tác giả, tác phẩm của một giai đoạn sáng tác, về tiến trình pháttriển của tranh sơn mài cũng như vai trò, khả năng diễn tả của chất liệusơn mài, trình bày những đúc kết kinh nghiệm và những thành quả,những nét đặc trưng trong nghệ thuật thể hiện mang tính truyền thống củanghệ thuật hội họa sơn mài Việt Nam
Trang 14Nghề sơn qua báo chí
Nghề sơn đã được các phương tiện thông tin đại chúng (báo chí, đàitruyền hình, đài phát thanh) ở trung ương và các địa phương đề cập rất nhiều.Tuy vậy, do tính chất, chức năng của các phương tiện thông tin đại chúngnên chủ yếu tin, bài chỉ đưa các vấn đề như giới thiệu triển lãm sơn, hội chợlàng nghề, hoạt động của làng nghề, tôn vinh sản phẩm và làng nghề, nghệnhân, nghệ sỹ chứ không đi sâu vào nghiên cứu Nhưng những vấn đề màphương tiện thông tin đại chúng nêu lên cũng là yếu tố chúng tôi quan tâm đểxác định rõ và sâu hơn cho đề tài nghiên cứu
Tuy nhiên, những bài viết về tranh sơn mài trên báo chí lại là nhữngbài viết mà chúng tôi quan tâm tới, tiêu biểu có chùm bài của họa sĩ Sỹ Ngọc
đăng trên báo Văn nghệ, như “Tranh sơn mài Thác bờ của Nguyễn Tiến Chung, Nguyễn Văn Tỵ, Bùi Trang Chước”; “Tranh sơn khắc Thôn Vĩnh Mốc của Huỳnh Văn Thuận”; “Tranh sơn mài Tát nước đồng chiêm của Trần Văn Cẩn”; “Tranh sơn mài Qua bản cũ của Lê Quốc Lộc”; “Tranh sơn mài
Xô viết Nghệ Tĩnh của Phạm Văn Đôn, Nguyễn Đức Nùng, Nguyễn Sỹ Ngọc,
Huỳnh Văn Thuận, Trần Đình Thọ, Nguyễn Văn Tỵ”; Những bài viết đó làcủa một họa sĩ, ông đã đi sâu vào phân tích kỹ thuật và mỹ thuật của tranhsơn mài hội họa dưới con mắt nhà nghề và vì vậy đã giúp cho người viết luận
án hiểu sâu hơn về kỹ thuật vẽ tranh sơn mài
Các công trình nghiên cứu
Có khá nhiều các công trình “dài hơi” nghiên cứu về làng nghề sơntruyền thống được lưu trong các thư viện của các viện nghiên cứu, trường đạihọc và hội nghề nghiệp, chúng tôi có thể tham khảo một số như:
Làng nghề Sơn Đồng huyện Hoài Đức, Hà Tây của nhóm tác giả:
Trương Duy Bích, Nguyễn Thị Hương Liên (nơi lưu giữ: Hội văn nghệ dân
Trang 15gian Việt Nam, 2004), là công trình đi sâu vào nghiên cứu một làng nghề sơn
có truyền thống lâu đời và hiện vẫn đang tiếp tục làm nghề Các tác giả đãcho thấy sự biến đổi của làng nghề sơn Sơn Đồng dưới nhiều góc độ nhưbiến đổi về quy mô sản xuất, kỹ thuật, chất liệu, mẫu mã sản phẩm,… từ khihình thành cho tới hiện tại
Làng nghề sơn Bình Vọng và Hạ Thái của nhóm tác giả Trương Duy
Bích, Trương Minh Hằng (nơi lưu giữ: Thư viện Viện Nghiên cứu văn hóa,1993) Trong công trình này, dưới góc nhìn của người nghiên cứu văn hóadân gian, các tác giả đã trình bày kỹ càng về sự hình thành làng, sự hìnhthành nghề và sự biến đổi các nghề sơn trong diễn trình lịch sử
Nghề sơn truyền thống làng Hạ Thái, xã Duyên Thái, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây của tác giả Nguyễn Xuân Nghị (nơi lưu giữ: Thư viện
Viện Nghiên cứu văn hóa) Đây là một luận văn thạc sỹ văn hóa dân gian vàtác giả đã để nhiều công sức để đi sâu tìm hiểu kỹ càng sự hình thành vàvận động của một làng nghề sơn tiêu biểu của Hà Tây nói riêng và ViệtNam nói chung
Nghề sơn quang Cát Đằng truyền thống và biến đổi – luận án tiến sỹ
của Nguyễn Lan Hương, 2009 (nơi lưu giữ: Thư viện Viện Nghiên cứu vănhóa) Trong luận án này tác giả cũng đã đi sâu tìm hiểu sự hình thành làng,hình thành nghề cũng những sự vận động biến đổi của làng nghề ở nhiều mặtnhư những biến đổi về mô hình sản xuất, chất liệu, kỹ thuật
Các công trình trên đề cập tới làng và nghề làng cụ thể, nhưng đều có
xu hướng tiếp cận nghiên cứu làng nghề trong mối quan hệ tổng thể củanhiều thành tố văn hóa dân gian Trong đó nghề sơn là đối tượng chính.Nhiều vấn đề về nghề sơn của các làng nghề (lịch sử hoạt động nghề, kỹthuật nghề, sản phẩm nghề, hiệu quả kinh tế nghề), được các tác giả trình bày
và lý giải
Trang 16Nghề sơn truyền thống tỉnh Hà Tây luận án Tiến sỹ của Nguyễn Xuân
Nghị, 2008 (nơi lưu giữ: Thư viện Viện Nghiên cứu văn hóa) là công trìnhnghiên cứu về nghề sơn của một tỉnh; được đánh giá là tỉnh có nhiều làng nghềthủ công (trong đó có nghề sơn) nhất nước ta Trong góc nhìn văn hóa, tác giảđã nghiên cứu nhiều vấn đề tại các làng nghề sơn tiêu biểu của Hà Tây (làngnghề sơn Hạ Thái, làng nghề Sơn Đồng, làng nghề sơn Bối Khê, làng nghềsơn Duyên Trường ) và tác giả cũng đã dành số trang nhất định đề cập tới sựbiến đổi của chất liệu và kỹ thuật nghề trong lĩnh vực nghề thủ công mỹ nghệ
Sách viết về nghề sơn và tranh sơn mài
Kỹ thuật sơn mài (Nxb Văn hóa thông tin, tái bản lần 2, 2005) của tác
giả Phạm Đức Cường có tính chất như sách giáo khoa về nghề sơn mài,nhằm hướng dẫn học sinh khoa sơn mài các trường mỹ thuật và những ngườithực hành chế tác sản phẩm, sáng tác tác phẩm bằng chất liệu sơn Cuốn sáchcủa ông đã trình bày các kỹ thuật của nghề sơn truyền thống (kỹ thuật bảoquản nhựa cây sơn, kỹ thuật pha chế sơn sống thành sơn chín, ), bên cạnh
đó cuốn sách cũng đã hướng dẫn tỉ mỉ cách vẽ một bức tranh sơn mài theonhững kỹ thuật đã được các họa sĩ sơn mài nhiều thế hệ và của chính tác giảsau khi đã thực hành, sáng tạo đúc kết lại Trong cuốn sách của ông, chất liệu
để vẽ tranh sơn mài chủ yếu là chất nhựa cây sơn trồng ở Phú Thọ, vào thờiđiểm ông viết sách này họa sĩ vẽ tranh sơn mài cũng như người làm sơn mài
mỹ nghệ chưa biết dùng đến sơn Nhật, sơn cánh gián, vàng dùng trong tranhsơn mài cũng là vàng “4 con chín” và bạc là “bạc cựu” Cuốn sách của tácgiả Phạm Đức Cường cũng có thể xem như sự đánh dấu thời điểm “vàng”của nghệ thuật sơn mài Việt Nam hiện đại
Tiến sỹ Lê Huyên là người công tác lâu năm tại trường Đại học Mỹthuật công nghiệp, đã có một số bài viết thể hiện rõ xu hướng tiếp cận nghiên
Trang 17cứu nghề sơn trong góc nhìn lịch sử Ông là tác giả cuốn Nghề sơn cổ truyền Việt Nam, ở cuốn sách này tác giả đã tập trung nghiên cứu nghề sơn giai
đoạn từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX, qua các sản phẩm nghề được lưu giữ tạiđình, chùa, đền, miếu, phủ và một số làng nghề Thông qua hệ thống tư liệutrên tác giả đã xác định giá trị của nghề sơn trong kho tàng lịch sử văn hóanghệ thuật Việt Nam
Hội họa sơn mài Việt Nam của tác giả Quang Việt là công trình sưu
tập các tác phẩm sơn mài của nhiều họa sỹ Việt Nam Từ cơ sở các tác phẩmtác giả muốn giới thiệu một cách hệ thống với công chúng thành tựu củanghệ thuật sơn mài hội họa Việt Nam
Điểm lại các công trình trên để thấy chưa có công trình nào đi sâu vàonghiên cứu những biến đổi về kỹ thuật và chất liệu của nghệ thuật sơn màiqua từng giai đoạn Song đó thực sự là những tài liệu tham khảo rất có giá trịđối với người viết luận án
1.1.2 Giới thuyết một số thuật ngữ và khái niệm trong luận án
- Cây sơn và nhựa sơn: Nguyên liệu chính được sử dụng trong nghề
sơn truyền thống là nhựa sơn lấy từ cây sơn Cây sơn xưa kia vốn là loài câyhoang dại trồng ở rừng, trải qua nhiều đời, con người đã thuần hóa, trồng câysơn chuyên để khai thác nhựa và xếp cây sơn vào loại cây công nghiệp
Ở Việt Nam, cây sơn chủ yếu được trồng ở Phú Thọ, chất đất ở đâykhiến cho cây sơn có chất lượng nhựa tốt nhất và dễ trồng nhất Cây sơnđược trồng từ quả, bằng cách ươm hạt thành cây rồi trồng cây sơn non, thời
vụ tốt nhất để tra hạt sơn là vào các tháng tám, chín
Sau khi trồng khoảng hai đến bốn năm cây sơn được thu hoạch nhựa.Nhựa sơn thu hoạch liên tục trong cả năm nhưng thời điểm thu hoạch tốt nhất
Trang 18chủ yếu từ tháng năm đến tháng tám bởi lúc đó cây có rất nhiều nhựa Mỗicây sơn có thể cho nhựa liên tục từ 3 năm đến 7 năm.
Kinh nghiệm cổ truyền cho thấy rằng, việc thu hoạch sơn được làmchặt chẽ Muốn lấy nhựa sơn nhiều và không làm tổn hại đến cây trong thờigian cho nhựa, người ta dùng dao khắc lên vỏ cây hình chữ “V” cho tới lõi
gỗ Dụng cụ hứng nhựa sơn là vỏ trai, cắm vỏ trai vào gốc cây ở điểm dướichữ “V” để cho nhựa chảy vào đó
Nhựa sơn là một chất dẻo đặc biệt bằng thực vật, mang những tínhchất bền vững lâu dài, không bị các chất axit và chất kiềm ăn mòn, không bịảnh hưởng của nhiệt độ dưới 2000c, không bị nước và các chất lỏng khác làm
hư hại, cũng không bị hòa tan trong hầu hết các dung môi, và còn chống lại
sự xâm nhập của mọi thứ vi khuẩn Từ chất nhựa sống đó trải qua một quitrình chế biến (trình bày ở phần sau) sẽ tạo nên các loại sơn chín như sơnthen, sơn cánh gián, sơn quang , các loại sơn này là những nguyên liệu cơbản của nghề sơn cổ truyền
- Đồ sơn: Đồ sơn là khái niệm để chỉ những vật được bọc sơn bên
ngoài Đồ sơn có thể có cốt bằng các chất liệu khác nhau, trước kia cốt đồsơn chủ yếu là các vật liệu như đá, đồng, gỗ, mây, tre , hiện tại cốt của đồsơn đã mở rộng thêm các chất liệu mới như gốm, xơ dừa, giấy ép
Hiện tại chúng ta còn lưu giữ được rất nhiều những di vật đồ sơn trênmặt đất cũng như tìm được qua những cuộc khai quật khảo cổ Tìm hiểu kỹ,
mỹ thuật đồ sơn cũng là tìm hiểu trình độ người sáng tạo ra chúng trong lịch
sử, từ đó giúp chúng ta hiểu được phần nào đời sống tinh thần, kinh tế, xã hội
và tín ngưỡng tôn giáo của người dân Việt
Đồ sơn của Việt Nam trong quá khứ thường thấy ở những công trìnhtín ngưỡng như đình, đền, chùa tiếp đến các cung vua, phủ chúa, sau mới
Trang 19phát triển ra các nhà quan lại, và các nhà giàu Đồ sơn trước đây thườnggiới hạn trong một số dạng loại như tượng thờ, cửa võng, ngai, kiệu, bànthờ, hương án, đồ thờ nói chung, sau có thêm hương án, tủ quần áo, rươnghòm, hộp đựng trang sức Đa số các di vật đó (chủ yếu là những đồ sơnđược làm trong các thế kỷ 17, 18, 19), đạt đến độ hoàn hảo về kỹ thuật cũngnhư mỹ thuật
Màu sắc của đồ sơn truyền thống cũng giới hạn trong bốn màu đặctrưng là đen, đỏ son, vàng thếp và trắng do cẩn vỏ trai Cũng chính vì nhữngmàu cơ bản này mà dân gian đã có khái niệm “vàng son” để chỉ sự giàu sang,
xa xỉ
- Sơn ta là tên gọi đặt ra để phân biệt chất sơn truyền thống của Việt
Nam với sơn tây hay sơn công nghiệp là loại sơn du nhập từ bên ngoài, đượcpha chế bằng phương pháp công nghiệp Sơn ta chính là chất nhựa sơn đượckhai thác từ cây sơn sau khi pha chế theo phương pháp thủ công truyền thốngđược dùng để tạo tác lên đồ sơn
- Sơn mài: Về sự ra đời của danh từ “sơn mài” trong cuốn Hội họa sơn mài Việt Nam của tác giả Quang Việt đã viết:
Năm 1948, ngày 19 tháng 7, tại Chiến khu Việt Bắc, trong bảnthuyết trình trước Hội nghị Văn hóa Toàn quốc (“Ngày Văn Nghệ”),họa sĩ bậc thầy Tô Ngọc Vân (1906-1954) đã đề cập một cách cực kỳsôi nổi và hào hứng vấn đề “tranh sơn mài Việt Nam”, trong đó, ngay
ở lời mở đầu, ông đã đưa ra một định nghĩa: “Danh từ sơn mài (laque)
là một danh từ mới đặt mươi năm nay để chỉ một kỹ thuật trước kia gọi
là sơn ta nhưng đã biến hóa hẳn do nghệ thuật mài sơn”.[48, tr.5]
Như vậy “sơn mài” là khái niệm hình thành sau khi có tranh sơn màihội họa ra đời mà chủ đích là để chỉ kỹ thuật mài tranh của họa sĩ, kỹ thuật
Trang 20này đã giúp cho chất liệu sơn ta trở thành chất liệu của mỹ thuật Việt Nam.Trong thời gian gần đây khi việc vẽ tranh sơn mài của các họa sĩ có nhiềuthay đổi, cụ thể là một số họa sĩ không còn mài khi vẽ nữa, đã có có rất nhiều
ý kiến tranh luận xem có còn nên gọi là tranh sơn mài nữa không Tuy vậy,cho đến thời điểm hiện tại tất cả các bức tranh vẽ trên vóc sơn mài vẫn đượcgọi là “tranh sơn mài”
- Sơn mài hội họa/ tranh sơn mài: Sơn mài hội họa ra đời sau khi
trường Mỹ thuật Đông Dương thành lập năm 1925, sơn mài hội họa là kếtquả của những tìm tòi sáng tạo của lớp họa sĩ Việt Nam đầu tiên Với nhữngtên tuổi lớn như Nguyễn Gia Trí, Trần Quang Trân, Trần Văn Cẩn , họ đãcải tiến kỹ thuật, chất liệu sơn cổ truyền vốn là chất liệu chuyên dùng đểtrang trí những công trình kiến trúc cung đình, tôn giáo cũng như trang trí đồthờ và một số vật dụng trong những gia đình giàu có thành một chất liệu hộihọa độc đáo của Việt Nam
- Sơn mài mỹ nghệ/ tranh sơn mài mỹ nghệ là loại tranh thực sự định
hình sau sự ra đời của tranh sơn mài hội họa, về chất liệu cũng như kỹ thuật
là sự kế thừa của kỹ thuật và chất liệu của sơn mài hội họa Tuy nhiên, sơnmài mỹ nghệ là do thợ thủ công làm hàng loạt nên thường sử dụng mẫu mã
có sẵn được sáng tác riêng cho tranh mỹ nghệ, đây là loại sản phẩm làm hàngloạt giá thành rẻ hơn nhiều so với tranh sơn mài hội họa
- Sơn mài ứng dụng là thuật ngữ chỉ việc sơn mài được sử dụng vào
việc tạo nên nhiều loại sản phẩm phục vụ cuộc sống hàng ngày
Ở luận án này, có hai khái niệm cần được làm rõ là khái niệm nghệ thuật sơn mài Việt Nam và nghệ thuật sơn mài Việt Nam hiện đại
Về khái niệm nghệ thuật tạo hình Việt Nam hiện đại, có thể nói, tất cả
những người làm nghiên cứu mỹ thuật ở Việt Nam hiện nay đều coi năm
Trang 211925 với việc Trường Mỹ thuật Đông Dương được thành lập là năm mở đầucủa mỹ thuật Việt Nam hiện đại bởi những lý do sau: Cho tới đầu thế kỷ 20,
mỹ thuật Việt Nam vẫn trong tình trạng khuyết danh, Trương tiên sinh làm
tượng Quan Âm thiên thủ thiên nhãn nổi tiếng ở chùa Bút Tháp là trườnghợp duy nhất có ghi lại họ của mình trên tác phẩm Mặc dù trước năm 1925đã có một vài tác giả như họa sĩ Lê Văn Miến (hay Lê Huy Miến, 1873-1943), ông đã được triều đình Huế cử đi Pháp học tại trường Mỹ thuật Paris
Hiện tại ở Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam có treo hai bức của ông là Cụ Tú Mền và Bình văn; Họa sĩ Trương Văn Thủy nổi tiếng ở Hà Nội đã rất thành
công với tranh lụa, bưu thiếp và vẽ chân dung tại chỗ; Họa sĩ Lương Quang
Duyệt làm việc trong cung đình Huế đã để lại một số tác phẩm như Cối khê sơn (1900), Phong cảnh chùa Thiên Mụ, Cửa biển Tư Hiền (1904) và sáu
bức phong cảnh lăng tẩm vẽ bằng sơn dầu ở cung An Định Tuy vậy vàitrường hợp này không tạo lên một trào lưu mà phải đến sau khi trường Mỹthuật Đông Dương thành lập và đào tạo được một lớp họa sĩ nhà điêu khắctên tuổi Việt Nam với thực sự được xem như có một nền nghệ thuật tạo hình
Việt Nam hiện đại Như vậy, song hành với khái niệm nghệ thuật tạo hình Việt Nam hiện đại khái niệm nghệ thuật sơn mài Việt Nam hiện đại trong
luận án được tính bắt đầu từ thời điểm này, cho dù phải đến khoảng giữa thập
kỷ ba mươi của thế kỷ hai mươi tranh sơn mài hội họa Việt Nam mới ra đời.Trong luận án này khái niệm nghệ thuật sơn mài hiện đại bao trùm lên kháiniệm nghệ thuật sơn mài Việt Nam đương đại bởi khái niệm này nhằm nóiđến cuộc cách mạng về sơn mài và nó kéo dài đến hiện tại và có thể là cảtương lai nữa
- Nghệ thuật sơn mài Việt Nam trong luận án này bao gồm 2 loại hình:
nghệ thuật sơn cổ truyền của các nghệ nhân và các làng nghề và tranh sơnmài hội họa là sáng tác của các họa sĩ chuyên nghiệp
Trang 22Chữ Lacquer chỉ chung đồ dùng phủ sơn, chúng gồm các đồ thủ công
mỹ nghệ có tính trang trí cao, cốt (phần bên trong) thường bằng gỗ, mùn cưa
ép, hay mây tre đan, bên ngoài phủ sơn Còn cái mà ta gọi là Sơn mài thì cóthêm một bước là bước MÀI (nếu không mài, không thành sơn mài, mà còn
mài đi mài lại) thường chỉ dùng cho Tranh sơn mài Việt Nam Trong nội
hàm từ Lacquer Painting nay đã được dùng rất phổ biến lại không chứa từ
MÀI này, thành ra người ta “đổ đồng” với nhau Trên thực tế, nghề sơn (thủcông) và nghề vẽ tranh sơn mài khác nhau khá nhiều cả về công đoạn, vậtliệu và cách thực hiện
Ở trong ngành mỹ thuật, người ta có thể phân biệt rất rõ cái gì là đồsơn mỹ nghệ và cái gì là tranh sơn mài hội hoạ (thật ra còn có rất nhiều tranhsơn mài mỹ nghệ cũng thuộc bên đồ sơn mỹ nghệ)
Mọi người vẫn dùng chữ Lacquer painting để chỉ tranh sơn mài Tạicác trường Mỹ thuật, nói đến chữ này người ta nghĩ đến tranh vẽ sơn mài,nhưng, trên thị trường và ở các làng nghề sơn, khái niệm "tranh sơn mài"được “ám chỉ” rộng hơn rất nhiều
1.2 Nghề sơn truyền thống Việt Nam
1.2.1 Khái quát về lịch sử phát triển nghề sơn cổ truyền
Cư dân Việt cổ từ hơn 2500 năm trước đã biết cách lấy nhựa từnhững cây sơn mọc hoang dã để trám thuyền, phủ vật dụng để tăng độ bềnchắc Tuy không có tài liệu, thư tịch nào nói về việc này nhưng những hiệnvật khảo cổ đào được đã chứng minh cho điều đó Những hiện vật phát hiệnđược tương đối phong phú về chủng loại, hiện được lưu giữ ở Bảo tàngLịch sử
Cổ nhất trong những hiện vật khai quật được tìm thấy ở ngôi mộ cổ tạixã Vinh Quang, huyện Hoài Đức, Hà Nội (Hà Tây cũ), theo các nhà khảo cổ
Trang 23học thì ngôi mộ này ở khoảng thế kỷ 4 – 5 trước CN Trong mộ này đã tìmthấy một đoạn gỗ dài 2cm được sơn hai vòng, một vòng màu đỏ, một vòngmàu đen.
Trước đây Bảo tàng Lịch sử Việt Nam có trưng bày một hiện vật đượccác nhà khảo cổ học đã khai quật được năm 1961 ở Việt Khê (Thủy Nguyên,Hải Phòng), đó là một quan tài hình thuyền theo kiểu một thân cây khoétrỗng (gọi là mộ thuyền), có niên đại vào khoảng thế kỷ 3 – 4 trước CN Hiệnvật tìm thấy trong mộ, bên cạnh những đồ tùy táng bằng đồng, gốm, còn có
- Hai chiếc đục cán dài 5,5cm được sơn đen bóng;
- Ba đục bẹt có cán gỗ dài 6cm được sơn cẩn thận và có trang trínhững vòng tròn như cán giáo
- Bốn chiếc đục vũng, cán gỗ dài 5,7cm cũng được sơn đen bóng
- Hai cán của cái móc đồng (chiếc dài là 30cm) được sơn đen
Một miếng da thú có sơn bị vỡ vụn Trên mặt miếng da được sơn đenhai lớp và còn được vẽ những đường tròn đồng tâm bằng sơn màu đỏ gạchhoặc nâu xám Giữa các cụm vòng tròn có nạm miếng kim loại trắng [23,tr.48], (phụ lục 1.1)
Trang 24Đặc biệt nhất là ngôi mộ Đường Dù, xã Đông Sơn, huyện ThủyNguyên, Hải Phòng Ngôi mộ này có niên đại muộn hơn, vào khoảng thế kỷđầu CN Trong số đồ tùy táng có bộ đồ nghề làm sơn khá phong phú baogồm các loại: bút vẽ, bàn vặn sơn và bát đựng sơn.
Các nhà khảo cổ học đã khai quật trên 30 mộ có quan tài bằng gỗ đượcphủ sơn, có những ngôi mộ lớn như Vân Cát (Hà Nam), Dương Xá (Hà Nội),Hậu Lộc (Thanh Hóa)
Qua những hiện vật khai quật được cho thấy đồ sơn xuất hiện khá sớm
ở đồng bằng Bắc bộ vào khoảng thế kỷ 4 trước CN Xuất hiện sớm như vậynhưng suốt 1000 năm Bắc thuộc không tìm thấy dấu vết của đồ sơn ở ViệtNam, đây là khoảng trống lớn trong lịch sử phát triển nghề sơn Cho đến khiViệt Nam bắt đầu hình thành quốc gia phong kiến mới lại tìm thấy những tàiliệu nhắc đến nghề sơn, theo tác giả Lê Huyên cổ nhất là câu chuyện dã sử vềTrần Ứng Long, một tướng nhà Đinh (thế kỷ 10):
Trần Ứng Long là một tướng của Đinh Tiên Hoàng, có tài quân
sự và trí thông minh hơn người Trần Ứng Long được lệnh đem quân
đi đánh sứ quân Đỗ Cảnh Thạc đóng ở Đỗ Động (gần Bình Đà, huyệnThanh Oai bây giờ) Sau khi giao chiến, Đỗ Cảnh Thạc biết mìnhkhông thắng nổi bèn vượt sông bỏ chạy tháo thân Quân tướng củaTrần Ứng Long tiếp tục truy kích nhưng không thể vượt sông được.Tất cả thuyền bè trên sông bị Đỗ Cảnh Thạc sai phá hết Trần ỨngLong không nản, chỉ trong khoảng khắc nẩy ra một diệu kế hết sứcthông minh Trần Ứng Long cho quân sĩ chặt cây sơn ở bìa rừng, lấynhựa trộn với đất sét trát vào những chiếc thúng cái mượn của nhândân trong vùng Đoàn thuyền cốt tre trát sơn đó đã đưa quân sĩ của
Trang 25Trần Ứng Long qua sông an toàn Trận ấy, quân của Trần Ứng Longthắng vang dội.[23, tr 50,51].
Qua một số các dẫn chứng trên cho thấy việc dùng nhựa sơn phục vụcho đời sống của các cư dân Việt cổ đã có từ rất sớm, đó là cơ sở để nghềsơn mỹ nghệ hình thành và phát triển rực rỡ trong suốt một nghìn nămphong kiến
Sang đến thời xây dựng quốc gia phong kiến độc lập tự chủ, nghề sơnđã góp phần đáng kể vào việc xây dựng cung điện, đền thờ miếu mạo Thời
Lý – Trần (thế kỷ 11-14), là thời kỳ Phật giáo phát triển thịnh vượng ở ViệtNam Nhiều chùa tháp của triều đình và địa phương ra đời Nghề sơn cũng
nhờ đó mà phát triển để tô vẽ cho những kiến trúc Phật giáo này Sách Đại Việt sử ký toàn thư có đoạn viết:
- Năm Canh Thìn, Càn phù hữu đạo Năm thứ 2 (1040) (Tống,Khang định năm thứ 1) Mùa đông, tháng 10, mở hội La hán ở Long trì,đại xá thiên hạ, tha tội lưu, tha tội đồ và tha một nửa tiền thuế cho thiên
hạ Trước đây, vua sai thợ tạc hơn nghìn pho tượng Phật, vẽ hơn nghìnbức tượng Phật, làm bảo phướn hơn 1 vạn chiếc, đến đây công việcxong, làm lễ khánh thành [38, tr.217]
Cũng trong kỷ nhà Lý có đoạn:
- Mùa thu, tháng 8, quốc sư Minh Không chết (sư người xã Đàm
Xá, huyện Gia Viễn, phủ Trường Yên, rất linh ứng, phàm khi có thủyhạn tai hại gì, cầu đảo đều nghiệm cả Nay hai chùa Giao Thủy và PhảLại đều tô tượng để thờ) [38, tr.277]
Ngoài việc phục vụ cho các đồ thờ cúng thời kỳ này sơn còn đượcdùng phục vụ cho các đồ dùng của giai cấp thống trị và triều đình phong kiến
Trang 26nói chung Đó là những cáng võng, lọng, kiệu hoa, thậm chí cả quan tài lúcchết cũng được sơn.
Đến thời Trần các tôn thất và quan lại vẫn dùng các loại kiệu và màusơn được qui định chặt chẽ để làm tín hiệu phân biệt các cấp bậc quan lại.Năm 1976, các nhà khảo cổ học đã khai quật một ngôi mộ thời Trần ở xãPhạm Lễ (Hưng Hà, Thái Bình), quan sát phần nguyên vẹn của quan tài khaiquật được các tác giả cho biết: “Toàn bộ quan tài được sơn son thếp vànglộng lẫy Đề tài trang trí quan tài làm thành các giải ngang về các họa tiết:văn mây, hoa dây, mai rùa và chạm nổi hoa sen, hoa cúc ” [37, tr.324]
Đến cuối thời Trần đồ sơn đã phát triển nhiều không những ở các tầnglớp thống trị và quan lại mà còn cả trong quần chúng nhân dân, triều đình đã
ra sắc lệnh: “Cấm các quan không được dùng áo tay rộng chỉ được dùng tayhẹp, dân gian gặp ngày chay, ngày giỗ chỉ được dùng một chốc lát thôi Đồdùng không được bịt vàng sơn son ” [39, tr.216]
Qua một chi tiết trên cũng phần nào hình dung ra kỹ thuật chế tác sơnmài thời bấy giờ đã có sơn son thếp vàng và chất liệu này đã bắt đầu ứngdụng vào các vật dụng đời thường
Tuy vậy, so với các thời kỳ sau này thì đồ sơn thời Lý – Trần chưaphát triển mạnh mẽ và sâu rộng Đồ sơn cũng chỉ có mặt trong một số loạihình đơn giản, đơn điệu, chủ yếu là đồ thờ tự, hoặc là đồ tùy táng, quan tàicho tầng lớp vua, quan, quý tộc mà chưa xuống đến tầng lớp dân chúng Quamột số trích dẫn ở trên cũng có thể cho rằng đồ sơn trong thời kỳ này khôngphát triển được cũng là do tầng lớp thống trị đã đặt điều cấm đoán không chothường dân được sử dụng đồ sơn son thếp vàng
Sang thời Lê (thế kỉ 15 - 18), sau cuộc kháng chiến chống Minh thắnglợi, nhà Lê có nhiều điều kiện thuận lợi để mở mang phát triển kinh tế, văn
Trang 27hóa, giáo dục Đồ sơn thời này cũng có nhiều điều kiện để phát triển Sơnvẫn chủ yếu được sử dụng trang trí cung thất, đền đài, chùa tháp… như mộtbiểu tượng quyền uy, sang trọng, linh thiêng, cao quí Màu sơn trên một sốđồ vật cũng mang ý nghĩa đẳng cấp, thân phận mỗi con người dùng nó.Nhưng những qui định ngặt nghèo về đồ dùng bằng sơn, màu sơn của nhànước phong kiến không thể ngăn được tiến trình phát triển của nghề sơntrong dân gian [28, tr.49]
Đến thời Nguyễn, đồ sơn đã phát triển rộng rãi ở vùng đồng bằngBắc bộ Đồ sơn ở giai đoạn này phát triển mạnh về kỹ thuật, đặc biệt vềloại hình và nghệ thuật trang trí Thời kỳ nhà Nguyễn đặc biệt chú trọngviệc trùng tu đình chùa, miếu mạo, tô tượng, bổ sung các đồ thờ cúng bằngnhững vật phẩm được sơn (ảnh 1.2, 1.3) Trong mỗi ngôi chùa ở vùngđồng bằng Bắc bộ đồ thờ làm bằng sơn gần như chiếm tuyệt đối Có nhữngngôi chùa như chùa Mía (Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội), xây dựng vàothời kỳ này có hơn hai trăm pho tượng lớn nhỏ bằng các chất liệu khácnhau như đất, gỗ, đồng cùng nhiều chủng loại đồ thờ đều được sơn sonthếp vàng
Đồ sơn thời Nguyễn không chỉ phát triển ở trong các di tích kiếntrúc đình chùa mà nó còn phát triển rộng rãi trong nhân dân ở những giađình giầu có Những sản phẩm mà dân gian sử dụng được phủ sơn như:mâm, đũa, bàn, ghế, tráp đựng trầu cau, sập, tủ, tràng kỷ, ống hương (ảnh1.7, 1.8, 1.9, 1.10, 1.11)
Kỹ thuật đồ sơn thời Nguyễn cũng đã có những bước tiến đáng kể,sơn sống được pha với dầu trẩu tạo ra dầu sơn quang lên các sản phẩm đồsơn tạo cảm giác bóng và đẹp hơn Kỹ thuật thếp vàng cũng đã thịnh hành
ở thời Nguyễn
Trang 28Trong cuốn sách Một chuyến du hành đến Đàng Ngoài năm 1688,
William Dampier có nhắc đến đồ sơn ở miền Bắc Việt Nam (vào những nămcuối thế kỷ 17) như sau:
Những đồ sơn người ta làm ở đây không thua bất kỳ một loạisơn mài nào khác, ngoại trừ hàng Nhật Bản vốn được coi như là tốtnhất thế giới Chắc hẳn là tại gỗ bên ấy tốt hơn ở Đàng Ngoài nhiều vàngười ta không thấy gì khác nhau cho lắm trong nước sơn hay trongchất dầu đánh bóng [11, tr.86]
Cũng trong sách này ông Dampier cũng có nói rằng một ông thuyềntrưởng nước ngoài đã đem theo gỗ và thợ mộc đến Đàng Ngoài để đóng đồđạc cho ông ta rồi dùng sơn ta để phủ ra ngoài Với con mắt quan sát củangười nước ngoài đến Việt Nam, Dampier đã mô tả về kỹ thuật làm sơn tacủa thợ sơn Đàng ngoài như sau:
bởi vì họ quét nhiều lớp sơn, lớp nọ ra ngoài lớp kia nên bắtbuộc phải chờ cho lớp trước khô đi rồi người ta mới có thể quét lêntrên đấy một lớp sơn mới khác Màu sắc tự trở thành đen nhạt khingười ta đưa ra ngoài khí trời nhưng nhờ có dầu nhờn và các thứ thuốckhác mà người ta đem trộn vào đã làm cho màu sắc của vật dụng trởnên ấm hẳn lên Đến khi lớp cuối cùng đã khô thì họ mài đi cho phẳng
và làm cho nó trở nên bóng lộn như một tấm thủy tinh, chủ yếu bằngcách xát thật cẩn thận bằng nắm tay hoặc lòng bàn tay Họ có thể làmsơn với các sắc màu khác nhau và dùng nó để làm ra một thứ hồ dánđược cho là tốt nhất thế giới Loại sản phẩm này rất rẻ và bị nghiêmcấm xuất khẩu Họ cũng dùng sơn để làm véc-ni [11, tr 87]
Để phục vụ nhu cầu xã hội rộng khắp với rất nhiều đình chùa, đền,miếu, dinh thự, các làng nghề sơn đã ra đời ở khắp các xứ Đông, Nam, Đoài,
Trang 29Bắc, đâu đâu cũng có nghề sơn Xứ Đông có làng Hà Cầu (Đồng Minh, VĩnhBảo, Hải Phòng), nổi tiếng bởi hai nghề sơn và tượng Xứ Bắc có Đình Bảng(Tiên Sơn, Bắc Ninh) nổi danh bởi chất sơn then bóng mịn, không đâu bằng.Vùng sơn Nam Hạ có làng sơn quang Cát Đằng (nay thuộc Ý Yên, Hà Nam),sơn Nam Thượng có làng sơn Đông Mĩ, Thanh Trì, Hà Nội) Còn riêng vùng
Hà Tây (thuộc xứ Đoài xưa) mật độ các làng sơn khá dày đặc: Chuyên Mĩ,Bối Khê, Bình Vọng, Hạ Thái, Văn Giáp… [48, tr 132,133]
Từ thế kỷ 17 nghề sơn khá phát triển, phương thức làm việc chủ yếu làphát triển thành các làng nghề trong làng đó hầu như cả làng làm nghề, trongmỗi gia đình cả nhà làm nghề và truyền nghề theo phương thức cha truyềncon nối Mỗi một làng nghề sơn lại đi vào những lĩnh vực riêng như sơnquang, khảm trai, làm vóc Khởi đầu từ Bắc bộ, nghề sơn Việt Nam cũngtheo chân Chúa Nguyễn Nam tiến, hình thành nên những làng nghề nhưTriều Sơn, Địa Linh, Tiên Nộn (Huế), Tương Bình Hiệp (Bình Phước)
Bắt nguồn từ làng quê sau do triều đình có nhu cầu xây dựng kinh đôđã đón các hiệp thợ từ nông thôn ra kinh thành làm việc và dần hình thànhnên các phường, phố nghề sơn Tại Kinh thành Thăng Long vào khoảng cuốithế kỷ 16 đã xuất hiện một phường chuyên bán sơn sống và các đồ dùngbằng sơn cho nhân dân Đó là phường Nam Ngư mà ngày nay vết tích còn lại
là dãy phố Nam Ngư nối giữa hai phố Phan Bội Châu và Lê Duẩn PhườngNam Ngư là nơi hội tụ của các thợ sơn khắp nơi về đây, nhưng đông hơn cả
là dân của làng Bình Vọng (tên nôm là làng Bằng thuộc huyện Thường Tín,
Hà Nội)
Nghề sơn ở Bình Vọng, khởi phát từ thế kỷ 16, thế kỷ 17, 18 đã nổitiếng khắp các vùng xa gần Do yêu cầu và tính năng nghề nghiệp, người thợsơn luôn phải hành nghề theo phương thức lưu động Nhiều người đã mang
Trang 30nghề của làng đến các địa phương khác lập nghiệp, biến nơi đó trở thành quêhương thứ hai, nghề sơn Bình Vọng do đấy ngày càng được nhân rộng.Không kể vùng đồng bằng Bắc bộ, từ Thừa Thiên Huế đến các tỉnh thànhNam bộ như Sài Gòn, Bình Phước, Long An, nơi nào cũng có mặt thợ sơnBình Vọng Người thợ sơn Bình Vọng đã mang nghề đi truyền bá nhiều nơinhư vậy, nhưng ngay chính trên quê hương mình, nghề sơn cổ truyền nay đãthất truyền, không còn ai theo nghề xưa nữa.
Dấu tích huy hoàng một thời nay chỉ được ghi nhớ là quê hương củaTrần Lư, người mà phường Nam Ngư trước đây vẫn tôn thờ làm ông tổ nghềsơn của phường mình
Trần Lư sinh năm canh dần (1470), đậu tiến sĩ khoa nhâm tuất niênhiệu Cảnh Thống thứ năm (1502) Ông giỏi nghề sơn vẽ Có lần đi sứ bênTrung Quốc ông học thêm được kỹ thuật dùng sơn thếp vàng, thếp bạc nêntay nghề lại càng lão luyện Ông đã truyền lại cho làng nghề sơn nên về sauđược làng tôn thờ làm ông tổ nghề Vì làng Bằng kéo nhau ra lập nghiệp ởphường Nam Ngư nên Trần Lư trở thành ông Tổ nghề sơn của phường
Sang đầu thế kỷ 18, phường Nam Ngư có ông Đào Thúc Kiên là mộtthợ sơn có tiếng Gia phả họ Đào cho biết ông vốn người làng Thọ Vực (VănGiang, Hưng Yên), xuất thân làm nghề thợ nhuộm, sau ra phường Nam Ngưlàm nghề thợ sơn Trong dân gian thường lưu truyền câu chuyện về ông ĐàoThúc Kiên vẽ bức tranh mấy quả dưa do quan trung sứ trong triều ra đặt.Tính hay rượu nên ông say túy lúy, cứ lần lữa mãi, gần đến ngày hẹn ôngmới vẽ xong Tranh chưa kịp khô, ông phải hơ vội lên lửa Nào ngờ sơn gặplửa nứt rạn ra làm cho quả dưa được vẽ vàng nứt bở trông rất gợi cảm Nhờvậy, ông được tuyển chọn vào cung để trang trí nội điện
Trang 31Sau phường Nam Ngư, có phố Hàng Hòm vốn lúc đầu mở một số cửahiệu làm và bán hòm gỗ, rương, tráp, nhưng về sau chủ yếu là nhận sơn cáchòm tráp, rồi hoành phi, câu đối, cây đèn, ngai, bệ, khám thờ…người làmnghề sơn ở đây chủ yếu có quê gốc ở làng Hà Vĩ huyện Thường Tín, họ đãlập một ngôi đền thờ ông tổ nghề sơn Trần Lư Các đồ gỗ mộc được tiện gọttại phố Hàng Mành, đã được chuyển qua đem sơn tại phố Hàng Hòm Có thể
họ đã nhận sơn cả một số tượng và đồ thờ tại các đình làng và chùa chiền
Vào nửa cuối thế kỷ 18, khi hàng sơn có cơ hội được xuất sang cácnước Tây Âu, và thị trường sơn được mở rộng thì các cửa hàng chuyên bánđồ sơn lần lượt mọc lên ở nhiều nơi trong nội thành như: Hàng Khay, HàngHòm, Hàng Quạt, Hàng Mành, Tô Lịch đây cũng là thời điểm nghề sơn ởBình Vọng lan nhanh sang các vùng lân cận
1.2.2 Chất liệu truyền thống của nghề sơn
Nguyên liệu chính để làm đồ sơn là nhựa sơn Cây sơn Việt Nam thuộc giống Rhus succedenéa họ Anacrdiacea, được trồng chủ yếu trên vùng
trung du Bắc bộ Cây sơn được trồng bằng cách gieo hạt Thông thường, saukhi trồng khoảng 3 đến 4 năm cây sơn được thu hoạch nhựa Nhựa sơn thuhoạch liên tục trong cả năm Mỗi cây sơn có thể cho nhựa liên tục từ 3 đến 7năm, tùy thuộc vào việc chăm bón, thời tiết và chất đất của mỗi vùng
Nhựa sơn có nhiều đặc tính độc đáo nên đã sớm được sử dụng từ thời
xa xưa vào các việc thông thường trong đời sống hàng ngày Do có độ dínhcao và rất bền chắc, nhựa sơn được dùng như một thứ keo để hàn gắn gỗ, trenứa, hàn thúng mủng dùng đựng nước Do chịu được độ ẩm cao, người tadùng nhựa sơn quét lên đồ đạc bằng gỗ như bàn ghế tủ giường, rương hòmđựng quần áo, vừa bóng đẹp lại vừa tăng độ bền cho gỗ Ngoài ra, chất nhựasơn còn được sử dụng làm thứ véc-ni chống gỉ sắt, làm chất cách điện
Trang 32Việc thu hoạch sơn được tiến hành rất chặt chẽ Trước tiên, người tacùng dao khắc lên vỏ cây sơn cho tới lõi gỗ hình chữ "V" Sau đó, lấy vỏchai cắm dưới chữ "V" đó để hứng nhựa Nhựa sơn lấy tốt nhất là vào buổisáng khoảng 4 - 5 giờ Lấy nhựa sơn tránh mùa mưa hay khi trời nắng.
Khi nhựa sơn chảy vào vỏ chai hay đồ hứng, người ta dùng miếng mocau quét dồn nhựa sơn vào một cái "sải" Sải đựng sơn được đan bằng đồ trenứa và được phủ sơn kín các khe hở nan đan Nhựa sơn đựng trong sải phảiđược bịt kín
Nhựa sơn khi phơi ngoài trời sẽ chuyển từ mầu trắng nguyên gốc banđầu thành mầu nâu sẫm, rồi đen kịt và khô cứng lại, đóng vẩy hay tạo thànhmột lớp khô có mầu đen lóng lánh gọi là "sơn cháy" Sơn thu hoạch vềđựng trong bể hoặc sải đậy kín một thời gian để tách phần nước còn ngậmtrong sơn sẽ lắng xuống, sơn nhẹ nổi lên trên Phần sơn này sau đó đượcphân thành các loại tốt xấu riêng, chỉ người có kinh nghiệm mới gạn chắtchúng vào các sải theo đúng lớp một, vì mỗi lớp có tỉ trọng, độ dày mỏng,màu khác nhau
Sải sơn khi chưa gạn chắt, lớp trên cùng sẽ là lớp sơn "mật dầu", đượccoi là phần tinh túy nhất của sơn, trông hơi loãng, mầu mật mía hay nước vốiđặc Loại này rất khó khô hay không thể khô được nên thường dùng để phavào các loại sơn khác, chẳng hạn khi ngả sơn chín có thêm thành phần sơnmật dầu màu sẽ trong, đẹp và sâu Sơn nhiều mật dầu là loại sơn già, tốt, nếucàng ít thì đó là sơn non, kém chất lượng hơn
Sơn "giọi nhất" nằm dưới lớp sơn mặt dầu, cũng chứa một lượng dầucao (gọi là sơn 700 - 800) sơn màu vàng trong, trông tựa vàng thổ, dùng đểngả sơn chín, chế sơn cầm, sơn phủ hoàn kim, hoặc để lót nước cuối khi làm
Trang 33vóc Lớp thứ 3 gọi là sơn "giọi nhì" (còn gọi là sơn 60 - 700) đặc hơn sơn dọinhất, màu cũng vàng nhạt hơn, dùng để hom, hay sơn lót
Dưới cùng sát với nước lã là lớp sơn “giọi ba” (50 - 550), có độ đặchơn lớp sơn trên, màu vàng ngả trắng nên còn gọi là sơn bánh đúc Loại nàylượng nước nhiều nên nhanh khô, chỉ dùng vào việc đánh vải, bồi giấy hoặcthảo sơn mùn cưa vào mặt vóc Các loại sơn sau khi tách riêng, đều phải quakhâu lọc vắt trong vải xô để loại các sạn, cháy có trong đó rồi mới đựng vàosải Sải sơn được để ở nơi thoáng mát, kê cách mặt đất, nắp đậy sải sơn chạmsát mặt sơn và bám căng vào thành sơn để sơn không bị cháy
Đặc tính của sơn ta có tỉ lệ tương đối axit sunphuric (H2SO4), chịunhiệt tới 4000C, chịu ẩm, chịu axit, có độ giãn nở cao, chịu mài mòn, độ kếtdính cao Chuyển sang dạng sơn chín có độ bóng cao, trong và sâu Từ đặctính này, mà sơn chín như then và cánh gián chỉ kết hợp với các màu chịuaxit, chịu nhiệt như màu sa khoáng của chu sa, thần sa, bột ngà hoặc trắng ti-tan, màu gốc axit kim loại cũng có thể dùng được Đối với màu gốc kiềmdùng với sơn gây phản ứng làm sơn không khô, màu nào bị phân hủy trongaxit và nhiệt khi pha với sơn cũng bị mất màu
Chế biến nguyên liệu:
Từ nhựa cây sơn kể trên thường được gọi là sơn sống, chỉ dùng trongviệc gắn kết, sơn phủ các vật dụng thông thường, các nghệ nhân dân gian đãphân loại rồi dùng kỹ thuật “đánh sơn” (còn gọi là ngả sơn), pha chế làmbiến đổi tính chất, màu sắc của vật liệu cho ra đời các loại sản phẩm được gọi
là sơn chín Dưới đây là khái quát về quy trình chế tác các loại sơn chín:
Sơn cánh gián: Để ngả sơn cánh gián, người ta cho vào thúng
khoảng 2 kg sơn dọi nhất, dùng mỏ vầy (dụng cụ làm bằng gỗ) đánh liên tụctrong khoảng 20 tiếng đồng hồ Khi đánh sơn, người thợ phải miết mỏ vầy
Trang 34vào cạnh thúng, nghiền cho sơn dập ra Đánh sơn đều đều tay tốc độ ước tínhkhoảng 30 – 35 vòng/phút Khi thấy sơn sủi bọt, nâng mỏ vầy lên thấy sơnchảy mượt là được Để chắc chắn hơn, người ta thử sơn chín bằng cách lấythép sơn phết lên thanh tre rồi ủ vào buồng ẩm Khi sơn khô, nếu thấy mặtsơn nhẵn, không vết rạn nứt, không gợn cặn, màu bóng là được Nếu sơnchưa chín, cần tiếp tục đánh thêm.
Sơn then (đen): Để ngả sơn đen người ta thường dùng sơn giọi nhất
cho vào chảo gang hoặc lon sành rồi dùng thanh sắt đánh đều, khi đánhngười thợ luôn có ý miết thanh sắt xuống đáy chảo, với mục đích tạo ra masát cho thanh sắt mòn, các phân tử sắt tan, phai, hòa vào sơn Quá trình quay,xoay thanh sắt tạo nên một “phản ứng hóa học” để cho sơn có “màu đen”.Khi thấy sơn đã đủ độ đen cần thiết, người thợ trút sơn vào thúng, dùng mỏvầy đánh tiếp cho tới khi nào cảm thấy được thì dừng
Sơn quang: Sơn quang là thứ sơn chuyên dùng để phủ lên bề mặt sản
phẩm như: hoành phi, câu đối, ngai, khám, tráp, kiệu nhằm tạo nên hiệuquả bền, đẹp cho sản phẩm Để làm ra thứ sơn này người thợ dùng sơn chínđã được lọc kỹ, có chất sơn “mượt” rồi đem phối trộn với dầu trẩu theo tỷ lệ:
2 sơn + 1 dầu trẩu
Dầu trẩu: Trước khi mang pha, trộn với sơn được người thợ nghề phải
mang nấu dầu trẩu lên Khi dầu trẩu sôi, nổi hạt khoảng từ 10 đến 15 phút thìngười thợ kiểm tra bằng cách dùng que tre nhúng vào dầu rồi đem nhỏ lên bềmặt miếng kim loại phẳng, chờ khi giọt dầu nguội, người thợ lấy ngón taychấm nhẹ nếu thấy dầu bám theo và kéo thành sợi mảnh dài là được Tùytheo tính chất công việc, người làm nghề có thể đun lâu cho dầu đặc, sánh
Sơn son: Màu sơn son là màu chủ đạo trong trang trí kiến trúc cung
đình và tôn giáo, tín ngưỡng thời phong kiến Để chế sơn son theo kinh
Trang 35nghiệm truyền lại phải trộn 0,5kg sơn sống (loại 1 hoặc 2) với 0,25kg dầu
trẩu chín Đánh sơn son cũng được làm như các loại sơn khác Khi sơn chíntrộn nó với bột đá đỏ, còn gọi là thần sa Đá thần sa có trong những vỉa mỏ
đá Sơn Lộ, Quốc Oai, Hà Nội Thần sa được nghiền nhỏ nấu với nước bồ kếttrong vòng 2-3 giờ Quá trình đun, những tạp chất bị phân hủy, gạn nước bồkết đi, chất còn lại để nguyên trong 2 ngày, sơn sẽ lắng đọng ở dưới đáy rồi
bỏ những tạp chất đi, còn lại là bột sơn pha son vào đánh đều Tỉ lệ nhiều hay
ít son sẽ cho chúng ta màu của sơn đỏ đậm hay nhạt
Sơn thếp (cầm): Sơn thếp là loại sơn thường được quét lên bề mặt sản
phẩm trước khi thếp vàng hoặc bạc có tác dụng như chất keo dính Sơn thếpđược pha chế bằng cách trộn đều 0,5kg sơn giọi nhì với 0,5kg sơn giọi ba và0,3kg dầu trẩu chín Sau khi trộn đều cần lọc kỹ (cách lọc như đã nói trên) đểloại các tạp chất ra khỏi sơn Loại sơn này được sơn trên bề mặt sản phẩm,tức là sau khi đã làm xong phần lót việc phủ sơn cần dàn trải đều trên bề mặt,không được bỏ sót hoặc dày mỏng sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới việc dán vàng,dán bạc sau này Những sản phẩm nào cần thếp bạc, thếp vàng lên toàn bộsản phẩm như tượng chẳng hạn thì cần sơn hết
Sau khi sơn thếp, người ta đưa vào ủ cho sơn khô nhưng hơi dính, ngót
đi khoảng 3/4 là vừa Dùng bút lông đưa từng lá bạc, lá vàng mà đính vàomặt sơn thếp
Sơn phủ (kim hoàn): Việc phủ kim hoàn giúp tăng thêm màu cho
sản phẩm Để có nguyên liệu này người ta ngâm nghệ vào rượu, đôi khingâm hạt dành dành Khi những thứ đó thôi màu vào rượu thì đổ vào sơntrước khi đánh sơn
Sơn phủ hoàng kim chỉ được tiến hành sau khi sản phẩm đã được dán bạchoặc dán vàng Sơn phủ chỉ tiến hành sau một ngày dán bạc, vàng, sơn đã khô,
Trang 36kim loại đã bám chắc vào mặt sơn Sơn phủ không chỉ tạo ra độ óng ánh của kimloại mà còn tăng độ bền của sản phẩm Sau khi sơn phủ, bề mặt hiện vật chưa đẹpngay mà phải đợi một vài tháng sau, sơn phủ bay đi, độ ánh của vàng, bạc mớithật sự đẹp lung linh Loại sơn này cũng đòi hỏi qui trình chế biến như sơn thếp.
Về chất liệu cũng như sự hòa trộn sơn giọi nhì với dầu trẩu đã chắt lọc kỹ
Nhờ các lớp sơn này mà các lớp vàng, bạc không bị bong ra Hơn nữa,mặt đồ vật phẳng phiu hơn, bóng hơn, đậm màu hơn, bạc vàng sâu hơn
Kỹ thuật vặn sơn
Các loại sơn đã qua chế biến kể trên đều được gọi chung là sơn chín,trong tất cả các công đoạn chế biến ra các loại sơn chín khâu cuối cùng bao giờcũng là lọc sơn, đảm bảo để khi đưa sơn vào sản xuất là chất sơn trong, óngmượt, có vậy mới có được những sản phẩm đảm bảo chất lượng Những ngườithợ nghề lớn tuổi ở các làng nghề kể về quá trình lọc sơn (dân gian thường gọi
là vặn sơn) được truyền lại cho đến những năm 70 của thế kỷ 20 như sau: Đểvặn sơn cho hết cặn, sạn, người thợ nghề dùng vải bông đặt trên miệng bát haylon sành, hơi thụt xuống (người thợ gọi như vậy là làm bầu), trải trên mặt vảimột lớp bông rồi trút bát sơn vào lòng bầu Hai người thợ đứng ở hai đầu mảnhvải, cầm hai mép vải xếp chéo, sao cho thật kín mép, rồi xoắn hai đầu vải ngượcchiều nhau và buộc vào tay quay của bàn vặn cho sơn chảy ra Người thợthường phải lọc đi lọc lại như thế từ 2 đến 3 lần để được thứ sơn mượt và trong
Về mùa đông sơn chín thường hay sánh, đặc vì vậy trước khi lọc phải đun chosơn loãng ra Người thợ sơn thường phải đun sơn cách thủy chứ không đun trựctiếp trên lửa tránh trường hợp sơn bắt lửa (ngã lửa) sẽ khó khô
Vàng quì, bạc quì
Những sản phẩm sơn cao cấp đặc biệt là đồ thờ thường được thếpvàng, thếp bạc Thếp vàng, thếp bạc làm màu sơn trong hơn, ánh sáng trở nên
Trang 37lung linh huyền ảo luôn bóng, đẹp, đỡ xây sát, tăng độ bền, chắc, chống ẩmmốc Để dùng vàng và bạc vào ứng dụng trong các sản phẩm thủ công mỹnghệ phải qua một công đoạn chế tác sản phẩm từ vật liệu nguyên thành vậtliệu chuyên dụng Dưới đây chúng tôi xin trình bày qui trình chế biến ra vàngquì, bạc quì.
Nghề làm vàng quì, bạc quì (là những lá vàng, bạc dát cực mỏng)chuyên phục vụ riêng cho sơn mài chỉ có ở thôn Kiêu Kỵ, huyện Gia Lâm,
Hà Nội Đây là đầu mối sản xuất vàng quì và bạc quì cung cấp cho cả nước
Công nghệ làm bạc quì và vàng quì là công nghệ hoàn toàn thủ công,cực kỳ công phu và tỉ mỉ Để làm ra những lá vàng, bạc quì người ta phảithực hiện nhiều công đoạn khác nhau, đầu tiên là làm “giấy vỡ” (là giấy dùng
để dát mỏng vàng và bạc sau khi đã cán mỏng) Hiện nay nguyên liệu đượcdùng làm giấy vỡ thường là vỏ bao xi măng Giấy vỡ được cắt theo kíchthước 50x50mm, buộc thành bó rồi qua các công đoạn luộc, ép để nén xẹpxuống, rồi bó thành gói trong vải bố mỗi gói 320 tờ Khi gia công, một ngườithợ phải dùng búa sắt là loại búa 1kg – 1,5kg đập liên tục Trong khi đập,một tay đập, một tay giữ gói giấy, xoay liên tục để búa đập được đều Tiếptheo là công đoạn quét mực lên giấy vỡ Mực được chế từ muội nhựa thông,đốt lấy bồ hóng và hơ chảo gang hoặc nồi đất để thu muội Trộn đều muộithu được với keo da trâu và nước, bỏ hỗn hợp đó trong cối đá giã liên tụcbằng chày gỗ trong thời gian 6 -8 giờ cho đến khi màu đều và quánh Đemhỗn hợp lọc lấy nước mực rồi quét lên giấy vỡ, sấy khô, gói lại, đập nửa ngàyrồi lại tháo, sấy khô và vào mực Quá trình này được tiến hành trong 3 lần làxong giấy vỡ Giấy vỡ lúc này trơn đen, bóng láng, có thể vào vàng bạc
Sau khâu làm giấy vỡ đến khâu làm giấy quì Để làm giấy quì, người
ta cắt giấy gió thành mảnh vuông (40x40mm) Dấp nước, ép, đập, tách, hong,
Trang 38sấy trong 5 lần đến khi tờ giấy trơn bóng Cách thức làm cũng giống như làmgiấy vỡ Giấy quì tốt có thể dùng tới 15 – 18 lần mới phải thay
Vàng, bạc để làm quì người ta thường lấy vàng bốn con chín, đưa qua
máy cán, nung (ủ) lại cho dẻo Thường 1 chỉ vàng ta (3,75g) cán được mộtsợi dài 100mm, chiều rộng 8-10mm Cắt sợi vàng thành các miếng vuôngnhỏ 8x8mm, kẹp vào giấy vỡ: một miếng vàng – một tờ giấy vỡ, gói mỗi gói8.5 đồng cân bạc, vàng (khoảng 500 – 600 tờ), giã cho tới khi mỗi miếngvàng dát mỏng thành 50 x 50mm Ra giấy vỡ rồi cắt mỗi lá vàng vỡ thành 9mảnh nhỏ hình vuông (15 x15mm) Tiếp tục xếp các mảnh nhỏ này lên các
tờ giấy quì Gói 640 tờ vào một gói và đập trong một buổi với cách thức đậpcũng như đập vàng vỡ nhưng phải đều tay và chuẩn xác hơn, không đượcnghiêng, lệch búa cho đến khi thấy vàng được dát mỏng đến cỡ 35 x 35mm.Lúc này đến công đoạn ra vàng quì gọi là “trại” – “trại” bạc thật (Ag) – gọi làbạc cựu, hoặc thiếc (Sn) – gọi là bạc tân thì người trại chỉ cần ngồi trong nhà,
ở nơi khuất gió, còn trại vàng quì thì phải ngồi trên tấm nilông trong màn (vì
sợ gió thổi bay mất vàng sẽ không thu lại được), “trại” cũng dùng “bay” thép.Vàng, bạc quì được xếp vào các mảnh giấy gió 35 x 35mm, một tờ giấy –một tờ vàng Xếp 50 lá vàng thành 1 quì, rồi dùng giấy gió để bọc ngoài,dùng sợi giấy gió xoắn lại như xoắn dây rơm Thông thường một chỉ sẽ cho
ra được hai quì, mỗi quì 50 lá rộng 35 x 35mm
Việc thếp vàng làm tăng giá trị, nhưng cũng làm tăng giá hiện vật lênrất nhiều lần Cửa võng đình Thổ Hà (Bắc Giang) lộng lẫy làm nội thất rực
rỡ, tấm bia Thủy tạo đình miếu bi dựng năm 1692 cho biết năm này thếp
vàng cửa võng mất 200 quan tiền đúng bằng tiền công thợ làm cả ngôi đìnhmấy năm trước (1685 – 1686)
Trang 391.2.3 Kỹ thuật chế tác sản phẩm sơn truyền thống
Với một quá trình hình thành và phát triển lâu như vậy, nghề sơnViệt Nam đã đạt tới những kỹ thuật chuẩn mực, hoàn hảo để cho ra một sảnphẩm sơn chất lượng cao từ khâu khai thác sơn sống, sản xuất sơn chín, làmcốt, cho đến khâu sơn vẽ sản phẩm Đánh giá về kỹ thuật làm đồ sơn củaViệt Nam, tác giả Đào Duy Anh có viết:
Ta cũng nên nhắc qua đến nghề sơn là một nghề trọng yếu vốnthịnh lắm Cũng như nghề chạm gỗ, nghề sơn từ xưa đã dùng để trangsức nhà cửa, đồ thờ và đồ dùng Những tượng thần cùng là hương án,
lỗ bộ, hoành biển, đối bình ở đền chùa, cung điện hay là ở nhà riêng,thường sơn son thếp vàng rất lộng lẫy Thứ sơn ở nước ta, cũng nhưsơn Tàu và sơn Nhật, là một chất rất khó chế mà không đem chất sống
đi xa được Cho nên người Âu châu rất chuộng những đồ sơn của Áđông Đồ sơn của ta tuy không được tinh xảo như đồ Tàu đồ Nhật,song thỉnh thoảng cũng sản xuất được những đồ quí giá [1, tr.287]
Để có được một uy tín như vậy, những người thợ nghề sơn đã phải làmviệc cần mẫn, kiên trì suốt bao đời, đúc rút kinh nghiệm truyền lại cho concháu, mỗi một khâu trong công đoạn sản xuất đều được chú ý tỉ mỉ, chi tiết
Một sản phẩm đồ sơn truyền thống không chỉ cần có chất liệu sơnbên ngoài mà còn phải làm tốt phần cốt bên trong rồi mới sơn Trên thực tế,nếu phần cốt được chuẩn bị tốt thì khi thể hiện màu sắc sẽ rất thuận lợi và
có tác dụng làm cho các lớp màu trong, sâu và bền vững hơn Cốt mộc củađồ sơn có vai trò đặc biệt quan trọng, cốt phải là những chất liệu ít congvênh co ngót và độ khô kiệt, không mối mọt, được xử lí như phơi hoặcngâm lâu ngày, những loại nguyên liệu này thường là các loại gỗ mít, gỗvàng tâm, gỗ dổi, tre hoặc nứa đã được ngâm kỹ Một loại cốt khác như vải
Trang 40xô, vải lụa, giấy bản, bồi nhiều lớp với sơn Trước khi đem sơn người ta gắnchít cẩn thận các mối ghép, các lồi gỗ, bả đắp các điểm thiếu hụt gỗ, khắcphục các lỗi kỹ thuật của phần mộc hay chạm Điều này chứng tỏ ngườithợ sơn không chỉ làm công việc đơn thuần là kỹ thuật mà còn là người cótrình độ thẩm mỹ tốt Tiếp theo đó là nhiều nước sơn từ thô đến quét bả cẩnthận để khô đanh rồi mài nhẵn mịn bằng các loại đá ráp hoặc nhẵn tùy theoyêu cầu của mỗi nước sơn Viên đá mài được sửa hình dáng theo các yêucầu của sản phẩm tạo ra một cái cốt vóc vừa nhẵn mịn, vừa bền chặt, chuẩnxác về dáng vẻ.
Nguyên liệu dùng để trang trí như vàng, lá bạc, các sắc độ của màuson độc đáo, vỏ trai, vỏ trứng gà, trứng vịt Màu đen là màu tự thân của sơn.Sơn phủ lên mặt sản phẩm và để pha màu vẽ là những loại sơn tốt có độbóng cao, mặt sơn vàng óng trong như hổ phách được người thợ lựa chọnđấu ngả theo những kinh nghiệm lâu năm làm nghề Sau khi xong phần cốtvóc tiếp đến là phần trang trí, như sơn thếp vàng bạc, vẽ tô màu sắc, đườngnét, được những người thợ điêu luyện về kỹ thuật và có trình độ thẩm mỹtốt đảm nhiệm
Sản phẩm đồ sơn có rất nhiều dạng loại được thực hiện với những quytrình kỹ thuật khác nhau: Dưới đây chúng tôi xin trình bày kỹ thuật của một
số dạng loại tiêu biểu mà trong nó có những quy trình, kỹ thuật cơ bản
Kỹ thuật sơn tượng gỗ
Để làm một pho tượng thờ khâu đầu tiên là đục tượng sau đó người tatiến hành sơn Kỹ thuật làm sơn thếp mỗi làng nghề một khác, song tựuchung phải qua 6 công đoạn cơ bản là kẹt, bó, hom, lót, thí và hoàn thiện.Mỗi làng thường giỏi về một loại hàng, ví dụ như Sơn Đồng giỏi về hàngtượng, tượng thờ kể từ tạc, đắp, đến sơn thếp, Mai Động giỏi về hàng nét