Nghiên cứu thực trạng dạy-học môn Đạo đức y học trong đào tạo bác sĩ tại các trường Đại học Y và đánh giá kết quả can thiệp thử nghiệm
Trang 1Lê Thu Hòa
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG DẠY-HỌC MÔN ĐẠO ĐỨC Y HỌC TRONG ĐÀO TẠO BÁC SĨ TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y VÀ ĐÁNH GIÁ
KẾT QUẢ CAN THIỆP THỬ NGHIỆM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
Hà Nội - 2013
Trang 2Lê Thu Hòa
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG DẠY-HỌC
MÔN ĐẠO ĐỨC Y HỌC TRONG ĐÀO TẠO BÁC SĨ TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y VÀ ĐÁNH GIÁ
KẾT QUẢ CAN THIỆP THỬ NGHIỆM
Chuyên ngành Vệ sinh xã hội học và tổ chức y tế
Trang 3Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy hướng dẫn khoa học của tôi trong luận án này:
- PGS.TS Nguyễn Đức Hinh, Hiệu trưởng trường Đại học Y Hà Nội
- PGS.TS Lê Thị Tài, Phó trưởng bộ môn Giáo dục sức khỏe, Viện đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng, trường Đại học Y Hà Nội.
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS Phạm Thị Minh Đức, nguyên Trưởng bộ môn Giáo dục y học, trường Đại học Y Hà Nội Cô đã hết lòng giúp đỡ và dìu dắt tôi từ lúc ban đầu cho tới ngày hôm nay.
Tôi xin được gửi lời cảm ơn trân trọng đến TS Nguyễn Thị Bạch Yến – Điều phối Dự án; PGS.TS Nguyễn Văn Hiến-Trưởng nhóm Dự án trường Đại học
Y Hà Nội và Ban Điều phối Dự án “Xây dựng các đơn vị đào tạo và tư vấn trong tám trường Đại học Y phục vụ cho công tác đào tạo nguồn nhân lực, góp phần phát triển ngành y tế Việt Nam” Dự án đã hỗ trợ học bổng và kinh phí giúp tôi hoàn thành khóa học nghiên cứu sinh và thực hiện đề tài nghiên cứu này.
Tôi xin được gửi lời cảm ơn đến PGS.TS Nguyễn Minh Sơn-Điều phối Dự án; TS Lê Minh Giang trong Dự án “Xây dựng năng lực nghiên cứu khoa học xã hội phòng chống HIV/AIDS” đã hỗ trợ một phần kinh phí giúp tôi thực hiện đề tài nghiên cứu này.
Tôi xin được cảm ơn:
- Các thầy, cô là Trưởng nhóm Dự án, Điều phối viên Đơn vị Đào tạo và
Tư vấn Giáo dục y học tại các trường ĐHY Hà Nội, ĐHY Hải Phòng, ĐHY Thái Nguyên, ĐHY Thái Bình, ĐHY Huế, Khoa Y-ĐH Tây
Nguyên, Khoa Y-ĐHYD Thành phố Hồ Chí Minh, ĐHYD Cần Thơ đã nhiệt tình giúp đỡ tôi tổ chức nghiên cứu tại các trường
- Ban Giám Hiệu trường ĐHY Hà Nội và ĐHY Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành nghiên cứu
- GS Merrilyn Walton, Khoa Y tế công cộng, Đại học Y, Đại học Sydney
và Tổ chức Học Mãi, đã có nhiều góp ý cho tôi trong thời gian hoàn thành luận án
- Giảng viên và cán bộ các bộ môn Giáo dục y học và Kỹ năng tiền lâm sàng, Lý luận chính trị, Y xã hội học, Y đức và Y xã hội học trường Đại
Trang 4nghiên cứu cùng chúng tôi.
Tôi xin được bày tỏ sự tri ân tới các thầy, cô tại Trường Đại học Y Hà Nội; các bạn bè và đồng nghiệp đã luôn động viên và hỗ trợ tôi trong những năm tháng qua
Con luôn ghi nhớ và biết ơn Gia đình đã yêu thương, chăm sóc và động viên con trong suốt cuộc đời.
Hà Nội, tháng 1 năm 2013
Lê Thu Hòa
Trang 5Tôi xin cam đoan luận án này là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Tất cả số liệu và kết quả thu thập được trong nghiên cứu này là trung thực, và chưa được công bố bởi bất kỳ ai.
Hà Nội, tháng 1 năm 2013
Người cam đoan
Lê Thu Hòa
Trang 6Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt trong luận án
Danh mục các bảng và biểu đồ
ĐẶT VẤN ĐỀ ……… 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN ……… 3
1.1 Khái quát lịch sử phát triển của đạo đức y học …………
1.1.1 Định nghĩa đạo đức và đạo đức y học ………
1.1.2 Các yếu tố chi phối đạo đức và đạo đức y học…………
1.1.3 Một số mốc thời gian quan trọng trong lịch sử phát triển của đạo đức y học ………
1.2 Bốn nguyên lý cơ bản của đạo đức y học ……….
1.2.1 Tôn trọng quyền tự chủ ………
1.2.2 Lòng nhân ái ………
1.2.3 Không làm việc có hại ………
1.2.4 Công bằng ………
1.3 Đạo đức y học trong đào tạo y khoa ……….
1.3.1 Khuyến nghị dạy-học đạo đức y học của các tổ chức quốc tế và một số quốc gia ………
1.3.2 Đào tạo ĐĐYH tại các nước trên thế giới và Việt Nam … 1.3.3 Kết quả nghiên cứu về dạy-học đạo đức y học tại các nước trên thế giới và Việt Nam ………
3 3 4 6 13 14 14 15 16 17 17 21 39 CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU … 44 2.1 Đối tượng và thời gian nghiên cứu ………
2.2 Phương pháp nghiên cứu ………
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu ………
2.2.2 Cỡ mẫu ………
44 44 44 44
Trang 72.3.1 Mục tiêu 1 Nghiên cứu thực trạng dạy-học đạo đức y học
trong đào tạo bác sĩ tại tám trường Đại học Y năm học
2009-2010 ………
2.3.2 Mục tiêu 2 Đề xuất chương trình, tài liệu, phương pháp dạy-học, phương pháp lượng giá môn Đạo đức y học …
2.3.3 Mục tiêu 3 Đánh giá kết quả can thiệp thử nghiệm tại hai trường Đại học Y Hà Nội và Đại học Y Thái Nguyên …
2.4 Kỹ thuật và công cụ thu thập số liệu ………
2.4.1 Kỹ thuật và công cụ thu thập số liệu cho nghiên cứu mô tả thực trạng ………
2.4.2 Phương pháp sử dụng cho đề xuất giải pháp can thiệp … 2.4.3 Kỹ thuật, công cụ thu thập số liệu cho nghiên cứu can thiệp thử nghiệm ………
2.5 Các bước thực hiện nghiên cứu ………
2.6 Sai số và khống chế sai số ……….
2.7 Xử lý và phân tích số liệu ………
2.8 Đạo đức trong nghiên cứu ……….
2.9 Sơ đồ nghiên cứu ………
48 49 49 50 50 51 51 52 55 56 56 57 CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ……… 59
3.1 Thực trạng dạy-học đạo đức y học trong đào tạo bác sĩ tại tám trường Đại học Y năm học 2009-2010 ………
3.1.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu ………
3.1.2 Hiểu biết của sinh viên và nguồn thông tin về Đạo đức y học ………
3.1.3 Chương trình, tài liệu, phương pháp dạy-học và phương
pháp lượng giá môn Đạo đức y học tại tám trường Đại học Y
59 59
60
Trang 8Đạo đức y học ………
3.2 Chương trình, tài liệu, phương pháp dạy-học, phương pháp
lượng giá môn Đạo đức y học ……….
3.2.1 Chương trình và tài liệu môn Đạo đức y học …………
3.2.2 Phương pháp dạy-học môn Đạo đức y học ………
3.2.3 Phương pháp lượng giá môn Đạo đức y học …………
3.3 Kết quả can thiệp thử nghiệm tại hai trường Đại học Y Hà
Nội và Đại học Y Thái Nguyên ………
3.3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu ………
3.3.2 Hiểu biết của sinh viên và nguồn thông tin về Đạo đức
7575
76768491
4.1 Thực trạng dạy-học đạo đức y học trong đào tạo bác sĩ tại
tám trường Đại học Y năm học 2009-2010 ………
4.1.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu ………
4.1.2 Hiểu biết của sinh viên và nguồn thông tin về Đạo đức y
học ………
4.1.3 Chương trình, tài liệu, phương pháp dạy-học và phương
pháp lượng giá môn Đạo đức y học tại tám trường Đại học Y …
4.1.4 Mong muốn của sinh viên và giảng viên về dạy-học Đạo
đức y học ………
4.2 Chương trình, tài liệu, phương pháp dạy-học, phương pháp
lượng giá môn Đạo đức y học ………
9696
96
99
103
107
Trang 94.2.3 Phương pháp lượng giá môn Đạo đức y học ……….
4.3 Kết quả can thiệp thử nghiệm tại hai trường Đại học Y Hà Nội và Đại học Y Thái Nguyên ………
4.3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu ………
4.3.2 Hiểu biết của sinh viên và nguồn thông tin về đạo đức y học ………
4.3.3 Chương trình và nội dung dạy-học môn Đạo đức y học
4.3.4 Phương pháp dạy-học ………
4.3.5 Phương pháp lượng giá………
4.4 Một số hạn chế của nghiên cứu ………
110 110 110 111 112 124 133 138 KẾT LUẬN ……… 139
KHUYẾN NGHỊ ……… 141
DANH MỤC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN VỚI ĐỀ TÀI ……… 142
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 143
PHỤ LỤC ……… 154
Trang 10DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
Trang 11DANH MỤC BẢNG TRONG LUẬN ÁN
tả
59
trong môn Đạo đức y học
70
trong môn Đạo đức y học
72
sinh viên
88
DANH MỤC BIỂU ĐỒ TRONG LUẬN ÁN
Trang 12Biểu đồ 3.2 Phương pháp lượng giá môn Đạo đức y học tại tám trường 65
Đạo đức y học
66
kiến của giảng viên và sinh viên
68
truyền thống nghề Y; Lý tưởng, lời thể y học; Nguyên lý cơ bản của đạo đức y học
77
sĩ-bệnh nhân; Quan hệ bác sĩ-đồng nghiệp; Quan hệ bác sĩ-xã hội, cộng đồng
78
truyền thống nghề Y; Lý tưởng, lời thề y học; Nguyên lý cơ bản của đạo đức y học vào thực hành lâm sàng
79
bác sĩ-bệnh nhân; Quan hệ bác sĩ-đồng nghiệp; Quan hệ bác sĩ-xã hội, cộng đồng vào thực hành lâm sàng
80
Trang 14Trách nhiệm cao cả của các nhân viên y tế là chăm sóc sức khỏe conngười, vì lợi ích chung của cộng đồng và xã hội Từ nhiều năm nay, các tổ chứcquốc tế nói chung và y học nói riêng trên thế giới như Hội Y học Thế giới, Liênhiệp quốc, Hội đồng Điều dưỡng quốc tế, Tổ chức Y tế Thế giới, Tổ chức quốc
tế về Giáo dục-Khoa học-Văn hóa… đã phê chuẩn, tuyên bố và điều chỉnh nhiềuquy định liên quan đến các nguyên lý và tiêu chí đạo đức trong thực hành và
nghiên cứu y học như Quyền con người; Thực hành y học tốt; Trách nhiệm chuyên môn và quan hệ với đồng nghiệp của người điều dưỡng; Quyền của người bệnh … [69],[70],[78],[90][106],[111],[112],[123]
Ở Việt Nam, năm 1955 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết trong ‘Thư gửi Hội nghị cán bộ y tế’ rằng “Lương y như từ mẫu” [16] Năm 1989, Quốc hội Việt Nam đã thông qua ‘Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân’ [25] và Bộ Y tế đã đưa ra quy định về việc thực hiện ‘12 điều y đức’ [4] Mặc dù đây là một trong những
tiêu chuẩn quan trọng của người thầy thuốc được nhà nước và xã hội quan tâm,nhưng cho đến nay, bên cạnh những thành tựu mà ngành y học Việt Nam đã đạtđược trong nhiều năm qua, thì y đức vẫn còn là một vấn đề rất cần được cải thiện
để phù hợp với sự phát triển của y học thực hành và đáp ứng mong đợi của cộngđồng
Nghiên cứu về đạo đức y học trên thế giới đã được thực hiện tại nhiềunước ở khắp các châu lục, trong nhiều lĩnh vực như: thực hành lâm sàng; nghiêncứu khoa học; đào tạo y khoa Các nghiên cứu đều khuyến nghị sự cần thiếtphải đào tạo về đạo đức y học cho sinh viên trong chương trình chính khóa tạicác trường Đại học Y [55],[57],[60],[63],[76],[84],[86]
Tại Việt Nam, kết quả nghiên cứu của đề tài cấp Bộ “Nghiên cứu thực
Trang 15trạng nhận thức và thực hành y đức của bác sĩ ở ba tuyến bệnh viện huyện, tỉnh
và trung ương” cho thấy: với 321 sinh viên của năm trường Đại học Y trong
nghiên cứu, chỉ có 18,9% sinh viên năm thứ ba và 9,4% sinh viên năm thứ sáu
được học môn Đạo đức y học tại trường 98,7% sinh viên trả lời “Cần và rất cần được học Đạo đức y học trong chương trình chính khóa” Với 704 bác sĩ đang
làm việc tại 14 bệnh viện trong nghiên cứu, hiểu biết về đạo đức y học của các
bác sĩ rất chung chung và 86,9% bác sĩ cho rằng “Cần thiết đào tạo lại đạo đức
y học cho nhân viên y tế” [23].
“Chương trình đào tạo bác sĩ đa khoa” tại các trường Đại học Y của Việt Nam có môn học “Tâm lý và y đức” [1] Nhu cầu học tập đạo đức y học của sinh
viên và các bác sĩ là bằng chứng đã được chứng minh qua nghiên cứu Vậy, đạođức y học đã được dạy-học như thế nào tại các trường Đại học Y? Liệu các sinhviên y khoa có được đào tạo đầy đủ về đạo đức y học trước khi tốt nghiệp haykhông? Để trà lời những câu hỏi này, đòi hỏi phải có những nghiên cứu riêng
về đạo đức y học
Từ yêu cầu cấp thiết này, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu thực
trạng dạy-học môn Đạo đức y học trong đào tạo bác sĩ tại các trường Đại học Y và đánh giá kết quả can thiệp thử nghiệm” với ba mục tiêu:
1 Mô tả thực trạng dạy-học đạo đức y học trong đào tạo bác sĩ tại tám trường Đại học Y năm học 2009-2010.
2 Đề xuất chương trình, tài liệu, phương pháp dạy-học và phương pháp lượng giá môn Đạo đức y học.
3 Đánh giá kết quả can thiệp thử nghiệm tại trường Đại học Y Hà Nội và Đại học Y Thái Nguyên.
Trang 16CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 Khái quát lịch sử phát triển của đạo đức y học
Đạo đức y học luôn gắn liền với người thầy thuốc Không một ngành nàođược nhắc nhiều đến vấn đề đạo đức nghề nghiệp như ngành y và được gọi theo
một danh từ riêng là “Y đức” Từ những năm trước công nguyên, Hyppocrate,
ông tổ của ngành y đã có lời thề nổi tiếng nói đến những tiêu chí đầu tiên về đạođức trong thực hành nghề y [77]
1.1.1 Khái niệm đạo đức và đạo đức y học
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam:
“Đạo đức là một trong những hình thái sớm nhất của ý thức xã hội, bao gồm những chuẩn mực xã hội điều chỉnh hành vi con người trong quan hệ với toàn
xã hội” [31].
Theo Hội Y học thế giới:
“Đạo đức là sự nghiên cứu về giáo lý – sự phản ánh một cách thận trọng, hệ
thống và sự phân tích các quyết định lương tâm và hành vi, trong quá khứ, hiện tại hoặc tương lai” [124].
Đạo đức là mặt giá trị của việc ra quyết định và hành vi của con người.Ngôn ngữ của đạo đức bao gồm các danh từ như “quyền”, “nghĩa vụ”, “đức hạnh”, “lương tâm”, “thiện”, “ác”, “công bằng”… và các tính từ như “tốt”, “xấu”,
của hành vi và ra quyết định của con người Nghiên cứu đạo đức là nghiên cứu
về nhiều vấn đề tổng hợp với rất nhiều nhánh nghiên cứu nhỏ, trong đó có đạođức y học
“Đạo đức y học là nhánh nghiên cứu đề cập đến vấn đề đạo đức trong thực hành y học” [124].
Học tập và nghiên cứu về đạo đức y học giúp cho sinh viên y khoa nhận
Trang 17thức được các tình huống phức tạp, khó khăn và đề cập cho sinh viên về cách cư
xử theo nguyên lý và lẽ phải Đạo đức y học cũng có ảnh hưởng quan trọng trongmối liên quan của bác sĩ với xã hội và đồng nghiệp và trong thực hiện các nghiêncứu y học [70],[71],[113],[124]
1.1.2 Các yếu tố chi phối đạo đức và đạo đức y học
1.1.2.1 Chế độ chính trị, luật pháp
Đạo đức được duy trì trong một cộng đồng phải phù hợp với chế độ chínhtrị của cộng đồng đó Chế độ chính trị của mỗi nước thể hiện bằng các văn bảnpháp quy như Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh
Hiến pháp của mỗi quốc gia có ảnh hưởng nhiều đến nền tảng đạo đứctrong xã hội Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992,điều 30, chương 3 quy định:
“Nhà nước và xã hội bảo tồn, phát triển nền văn hóa Việt Nam: dân tộc, hiện đại, nhân văn; kế thừa và phát huy những giá trị của nền văn hiến các dân tộc Việt Nam, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; phát huy mọi tài năng sáng tạo trong nhân dân” [22].
Các bộ Luật trong Hiến pháp quy định riêng cho từng lĩnh vực và cónhững tiêu chí đề cập đến vấn đề đạo đức Ở Việt Nam, liên quan đến lĩnh vực yhọc và đạo đức trong ngành y có Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân, Luật Hoạtđộng chữ thập đỏ, Luật Bảo hiểm y tế, Luật Khám chữa bệnh, Pháp lệnh về hànhnghề y dược tư nhân [25],[26],[27],[28],[29],[30]
1.1.2.2 Phong tục, tập quán, dân tộc
Mỗi cộng đồng dân cư, mỗi dân tộc đều có phong tục, tập quán của mình
Đó là những giá trị văn hóa lâu đời được lưu giữ và bảo tồn đến ngày nay, kếthợp với văn hóa hiện đại theo sự phát triển của quốc gia và thế giới Giá trị vănhóa của mỗi dân tộc thể hiện qua các quy định bằng văn bản và không văn bản
về đạo đức con người Theo thời gian, phong tục tập quán của mỗi dân tộc cũng
Trang 18có những thay đổi, do vậy cũng có những thay đổi về chuẩn mực đạo đức củadân tộc đó.
1.1.2.3 Tuổi
Đạo đức cũng liên quan đến tuổi Có thể nói mỗi thế hệ trong cộng đồngngoài việc thừa hưởng những giá trị đạo đức từ thế hệ trước, sẽ có những giá trịđạo đức riêng cho bản thân mình Thế hệ những người cao tuổi sẽ có những hiểubiết và hành vi về đạo đức khác với lớp người trẻ tuổi trong cùng xã hội
1.1.2.4 Giới tính
Đạo đức chịu ảnh hưởng của giới, mặc dù sự khác biệt này không nhiều.Giới nam có những định hướng, hành vi thể hiện về đạo đức ít nhiều khác vớigiới nữ Nói chung, những chuẩn mực đạo đức mà cộng đồng đòi hỏi đối với nữgiới thường khắt khe hơn so với nam giới
1.1.2.5 Nghề nghiệp
Nghề nghiệp chi phối khá nhiều đến đạo đức Mỗi ngành nghề đều cónhững quy định riêng về đạo đức, như đạo đức của người thầy thuốc, đạo đứccủa nhà giáo, đạo đức trong quân đội, đạo đức của luật sư
1.1.2.6 Đào tạo và tự đào tạo
Đạo đức của một con người được hình thành qua nhiều giai đoạn:
- Gia đình: là nơi dạy đầu tiên về đạo đức cho mỗi công dân, ngay từ lúcmới ra đời Gia đình nề nếp, có giáo dục là những bài học đạo đức đầu tiênđứa trẻ được học
- Trường phổ thông: Đạo đức được dạy từ năm đầu tiên đi học (lớp 1) chođến hết lớp 12 Nhà trường phổ thông rất quan tâm đến rèn luyện đạo đứcchung cho học sinh để trở thành con ngoan, trò giỏi, người
công dân tốt của xã hội
Trang 19- Trường Đại học: là nơi dạy đạo đức nghề nghiệp Sinh viên của các trườngĐại học Y cần được học đạo đức y học trong chương trình đào tạo Sinhviên được học tập và rèn luyện đạo đức y học dựa trên nền tảng đạo đứcnói chung mà họ có được từ gia đình và từ nhà trường phổ thông.
- Xã hội: đạo đức của mỗi người còn chịu ảnh hưởng bởi môi trường sống
và xã hội nói chung Đây chính là quá trình tự đào tạo đạo đức của mỗicon người Tự đào tạo có thể mang lại kết quả tốt hoặc không tốt tùy theonhận thức, tư duy và hành động của mỗi cá nhân
1.1.3 Một số mốc thời gian quan trọng trong lịch sử phát triển của đạo đức
y học
Đạo đức y học đã có lịch sử khoảng 2500 năm trong nghề y, tính từ thờiHyppocrate Theo dòng phát triển của lịch sử y học, khái niệm đạo đức y họcdần được hoàn thiện và ngày càng được quan tâm Các tổ chức y học quốc tế vàtại các quốc gia lần lượt phê chuẩn và công bố các quy định về đạo đức trongthực hành y học và chăm sóc sức khỏe cộng đồng Nhưng trước khi có nhữngquy định này, trong thập kỷ 20-40 của thế kỷ XX đã có những cuộc thử nghiệmlâm sàng liên quan đến vấn đề đạo đức y học
1.1.3.1 Những thử nghiệm trong nửa đầu thế kỷ XX và chiến tranh thế giới thứ II
Nghiên cứu Tuskegee: năm 1928, người ta phát hiện thấy khoảng 25% trong số hơn 2000 người Hoa Kỳ gốc Phi ở Nam Mỹ bị bệnh giang mai Một số nhà nghiên cứu ở Dịch vụ y tế công cộng (Hoa Kỳ) đã thực hiện một nghiên cứu tiến cứu về ảnh hưởng của bệnh giang mai không được điều trị đến đời sống của đối tượng nghiên cứu Các đối tượng tham gia nghiên cứu không được thông báo về việc họ đã bị giang mai và cũng không được điều trị bệnh này Trong thời gian nghiên cứu, đã có khoảng
50 người đề nghị được điều trị bệnh giang mai, nhưng Dịch vụ y tế công cộng đã ngăn cản không cho họ được điều trị vì sợ ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu Đến năm 1943, khi Dịch vụ Y tế công cộng sử dụng
Trang 20Penicilline điều trị giang mai, thì những đối tượng của nghiên cứu này vẫn không được dùng thuốc Nghiên cứu này bị phát hiện và đưa lên báo chí năm 1972 Nghiên cứu Tuskegee bị đánh giá là “một trong những ví
dụ khủng khiếp nhất về nghiên cứu mà không hề có sự quan tâm đến các nguyên lý về đạo đức y học” [104].
Josef Mengele (1911-1979) là bác sĩ tại trại tập trung Auschwitz của phát xít Đức từ năm 1943 Josef Mengele có biệt danh là “Thiên thần báo tử”, chuyên thực hiện những cuộc thí nghiệm trên tù nhân, đặc biệt là những cặp sinh đôi Mengele đã tiêm hóa chất vào máu của các trẻ em xem có làm thay đổi màu mắt không; tiêm thử nghiệm tác dụng của các loại thuốc mới; làm đông lạnh người tù cho đến chết; nhốt người tù vào phòng hơi ngạt; tạo ra các thương tổn khác nhau; ghép xương, ghép chi Nhiều cặp trẻ sinh đôi đã bị Mengele cắt và ghép tay để tạo ra những cặp sinh đôi dính nhau Mengele thực hiện cả các thử nghiệm thuộc về thể chất lẫn tâm lý, những phẫu thuật thử nghiệm được thực hiện hoàn toàn không có gây mê Mengele cho truyền máu từ cá thể này sang cá thể khác trong cặp sinh đôi; tiêm các mầm bệnh gây chết vào các cơ thể thí nghiệm; phẫu thuật chuyển đổi giới tính; lấy bỏ các tạng; thụ tinh loạn luân (cùng huyết thống) Mengele đã thực hịên thí nghiệm trên khoảng
3000 cặp sinh đôi tại trại Auschwitz trong chiến tranh thế giới thứ hai Chỉ một vài cặp sinh đôi trong số 3000 cặp còn sống sót và sau 50 năm họ
đã kể lại câu chuyện của mình Cho đến bây giờ, những cặp sinh đôi này vẫn không biết và không được giải thích về những thử nghiệm và thuốc
mà họ bị bắt buộc tham gia Sau chiến tranh thế giới thứ hai, các bác sĩ phát xít Đức tham gia những thử nghiệm này đã bị bắt và bị kết án là tội phạm quốc tế Tòa án quốc tế về tội phạm chiến tranh đã tuyên bố rằng việc vi phạm đến con người đã quá trầm trọng đến mức không có kết quả tuyệt vời nào từ những thử nghiệm đó có thể biện minh cho cách mà họ đã làm [46].
Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, nhân loại hết sức phẫn nộ khi phát hiệnnhững thử nghiệm tàn bạo với con người tại các trại tập trung của phát xít Đức.Tại các cuộc họp của nhiều tổ chức quốc tế về y học và ngoài y học, đại diện củacác nước thống nhất cần phải có những quy định cụ thể về nhân quyền và thựchành y học, nghiên cứu y học có liên quan đến con người Vấn đề đạo đức y họcbắt đầu được xem xét một cách nghiêm túc
Trang 211.1.3.2 Sự hình thành và phát triển các hướng dẫn và quy định về đạo đức y học trên thế giới và Việt Nam
Trên thế giới
Sau chiến tranh thế giới thứ II, năm 1947, các tổ chức quốc tế đã họp tạiNuremberg, một thành phố ở miền nam nước Đức để thảo luận về các thử
nghiệm y học dưới thời phát xít Đức “Luật Nuremberg” là văn kiện quốc tế đầu
tiên về đạo đức trong nghiên cứu y sinh học có sử dụng con người Luật nàynhấn mạnh đến quyền lợi của người tham gia nghiên cứu và nghĩa vụ của người
làm nghiên cứu “…Thử nghiệm liên quan đến con người cần phải có sự tự nguyện đồng ý của đối tượng tham gia…” [97].
Năm 1948, Đại hội đồng Liên hợp quốc tuyên bố “Quyền con người” “… Mọi người có quyền được hưởng cuộc sống phù hợp với sức khỏe và hạnh phúc của bản thân và gia đình bao gồm ăn, mặc, nhà ở, chăm sóc y khoa…” [68] Quyền con người của Liên hợp quốc đã nêu cao Quyền tự chủ của mỗi người, đặc
biệt là trong các hoạt động liên quan đến sức khỏe của chính bản thân họ
Năm 1953, Hội đồng Y học đa khoa của Anh đã đưa ra những tiêu chí cụ
thể liên quan đến đạo đức trong “Thực hành y học tốt” đối với các bác sĩ làm
việc trong các cơ sở chăm sóc sức khỏe Quy định này được bổ sung gần đâynhất vào năm 2006 và đã đề cập đến những yêu cầu về đạo đức nghề nghiệp đối với
mối quan tâm hàng đầu của mình: bác sĩ phải có năng lực, cập nhật kiến thức
và kỹ năng, thiết lập và duy trì mối quan hệ tốt với người bệnh và đồng nghiệp…” [71].
Năm 1953, Hội đồng Điều dưỡng Quốc tế (ICN) thông qua “Quy tắc
Trang 22quốc tế về y đức dành cho điều dưỡng viên” Quy tắc này được bổ sung gần đây
nhất vào năm 2005 Như vậy, đạo đức nghề nghiệp không chỉ dành riêng cho bác
sĩ mà còn cho điều dưỡng và các nhân viên y tế khác “…Điều dưỡng cần phải tôn trọng quyền con người, bao gồm các quyền về văn hoá, quyền được sống và lựa chọn, quyền tự chủ và được cư xử tôn trọng” [78].
Năm 1964, Hội Y học Thế giới tuyên bố “Tuyên ngôn Helsinki Các nguyên tắc đạo đức trong các nghiên cứu y học có liên quan đến con người”
(được sửa đổi gần nhất là năm 2008) Tuyên ngôn quy định đạo đức và tráchnhiệm của người thực hiện các nghiên cứu khoa học y học
Trách nhiệm của bác sĩ khi tham gia vào các nghiên cứu y học là bảo vệ cuộc sống, sức khỏe, phẩm chất, giá trị, quyền tự quyết, sự riêng tư và bảo mật thông tin cá nhân của đối tượng nghiên cứu [123].
Năm 1981, “Quyền của người bệnh” được Hội Y học Thế giới đề cập đến
11 quyền lợi của người bệnh khi cần được chăm sóc sức khỏe Quyền của ngườibệnh được sửa đổi gần đây nhất tại Hội nghị lần thứ 47 tháng 10/2005
Người bệnh trưởng thành có năng lực tâm thần có quyền đồng ý hoặc từ chối đối với bất kỳ quá trình chẩn đoán và điều trị nào Người bệnh có quyền được biết các thông tin cần thiết để tự đưa ra quyết định [119].
Hội đồng Liên hợp quốc năm 1982 đã công bố “Nguyên lý của đạo đức y học” trong bảo vệ sức khỏe con người “ Kêu gọi tất cả các quốc gia đưa Nguyên lý của đạo đức y học vào thực hiện cùng với các giải pháp hiện có, phổ biến rộng rãi, đặc biệt là trong các viện, trường y…” [69].
Hội các Tổ chức Khoa học Y học Quốc tế (CIOMS) do Tổ chức Y tế Thế
giới và UNESCO thành lập Năm 1993, CIOMS ra hướng dẫn “Các quy định quốc tế về đạo đức cho các nghiên cứu y sinh học có liên quan đến con người”, văn bản này được sửa đổi gần đây nhất năm 2002 “…Tất cả các đề cương nghiên cứu có sử dụng con người phải được đệ trình để phê duyệt tính khoa học
Trang 23và sự chấp nhận đạo đức bởi một hoặc nhiều hội đồng duyệt khoa học và đạo đức” [59].
Tổ chức Y tế Thế giới năm 1994 đã tuyên bố:
Mục đích chính của dạy-học đạo đức y học là để đảm bảo bác sĩ nhận thức được những tình huống đạo đức trong mọi quyết định trong suốt cuộc đời làm nghề… Sinh viên y khoa cần có năng lực phân tích liên quan đến những xung đột và các vấn đề về đạo đức…[114].
Hội Y tế công cộng Hoa Kỳ công bố “Quy định đạo đức trong y tế công cộng” (2002) trong đó, “Y tế công cộng cần đạt được những thành tựu vì sức khỏe cộng đồng với sự tôn trọng quyền của các cá nhân tại cộng đồng” [44].
Năm 2005, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Thế giới (UNESCO)
ra “Tuyên ngôn về Y sinh học và Quyền con người”:
Việc áp dụng những kiến thức khoa học, thực hành y học và những công nghệ liên quan, trực tiếp hay gián tiếp mang lại lợi ích cho người bệnh, đối tượng nghiên cứu và các tác động khác phải được tăng cường tối đa và bất kỳ một nguy cơ nào phải được giảm xuống tối thiểu [106].
Tại Việt Nam
Tại Việt Nam, từ hàng trăm năm trước danh y Hải Thượng Lãn Ông
(1724-1791) đã dạy học trò theo học nghề thuốc“Chín điều y huấn cách ngôn”
để “…Chớ nên vì giàu sang hay nghèo hèn mà nơi đến trước, chỗ đến sau hoặc bốc thuốc lại phân biệt hơn kém ” [14].
Năm 1948, trong “Thư gửi hội nghị quân y”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết “Người ta có câu: “Lương y kiêm từ mẫu”, nghĩa là một người thầy thuốc đồng thời phải là một người mẹ hiền” [15] Đến bức thư gửi “Hội nghị cán bộ
y tế” năm 1955, Người đã viết:
Thương yêu người bệnh Người bệnh phó thác tính mệnh của họ nơi các cô
các chú Chính phủ phó thác cho các cô các chú việc chữa bệnh tật và giữ sức khỏe của đồng bào Đó là một nhiệm vụ rất vẻ vang Vì vậy, cán bộ cần phải thương yêu săn sóc người bệnh như anh em ruột thịt của mình, coi họ đau đớn cũng như mình đau đớn "Lương y phải như từ mẫu", câu nói ấy rất đúng [16].
Trang 24Năm 1989, Quốc hội Việt Nam thông qua “Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân Việt Nam” Luật quy định “Thầy thuốc phải có y đức, có tinh thần trách nhiệm, tận tình cứu chữa người bệnh; chấp hành nghiêm chỉnh các quy định chuyên môn ” [25].
Năm 1996, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra Nghị
quyết “Định hướng chiến lược công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân đến năm 2000 và 2020” Nghị quyết nêu rõ “Tiêu chuẩn hóa các yêu cầu về đạo đức
và về chuyên môn đối với những người hành nghề Y – Dược [12].
Năm 1996, Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Quyết định về “12 điều Y đức” quy định về “Tiêu chuẩn đạo đức của người làm công tác y tế”
Y đức là phẩm chất tốt đẹp của người làm công tác y tế, được biểu hiện ở tinh thần trách nhiệm cao, tận tuỵ phục vụ, hết lòng thương yêu chǎm sóc người bệnh, coi họ đau đớn như mình đau đớn Y đức phải thể hiện qua những tiêu chuẩn, nguyên tắc đạo đức được xã hội thừa nhận [4]
Năm 2008, Bộ Y tế ban hành “Quy chế tổ chức và hoạt động của Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu y sinh học”, được sửa đổi vào năm 2012.
Trước khi triển khai, tất cả các nghiên cứu y sinh học với đối tượng nghiên cứu
là con người tại Việt Nam đều phải được xem xét, đánh giá về đạo đức trong nghiên cứu theo các quy định hiện hành và quy chế này [8],[10].
Năm 2012, Bộ Y tế và Hội Điều dưỡng đã công bố “Chuẩn đạo đức nghề nghiệp của điều dưỡng viên”.
Bảo đảm an toàn cho người bệnh; Tôn trọng người bệnh và người nhà người bệnh; Thân thiện với người bệnh và người nhà người bệnh; Trung thực trong khi hành nghề; Duy trì và nâng cao năng lực hành nghề; Tự tôn nghề nghiệp;
Bộ Y tế cũng đã ban hành “Thông tư hướng dẫn về thử thuốc trên lâm sàng” (2012), trong đó nêu rõ “Người tham gia thử thuốc trên lâm sàng phải được tuyển chọn theo đúng các nguyên tắc về đạo đức y học trong nghiên cứu y sinh học” [11].
Trang 25Quốc hội và Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản đề cập đến
đạo đức của người cán bộ y tế như: Pháp lệnh hành nghề y dược tư nhân; Luật Hoạt động chữ thập đỏ; Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác; Luật Phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS); Luật Bảo hiểm y tế, Luật Dược…[25],[26],[27], [28],[29],[30] Năm 2009, Quốc hội thông qua “Luật Khám chữa bệnh” Luật quy định về “Nguyên tắc trong hành nghề khám bệnh, chữa bệnh”:
Bình đẳng, công bằng và không kỳ thị, phân biệt đối xử đối với người bệnh Tôn trọng quyền của người bệnh; giữ bí mật thông tin về tình trạng sức khỏe và đời
tư được ghi trong hồ sơ bệnh án.
Kịp thời và tuân thủ đúng quy định chuyên môn kỹ thuật
Ưu tiên khám bệnh, chữa bệnh đối với trường hợp cấp cứu, trẻ em dưới 6 tuổi, người khuyết tật nặng, người từ đủ 80 tuổi trở lên, người có công với cách mạng, phụ nữ có thai [30].
Lịch sử của đạo đức y học được phát triển và hoàn thiện dần qua từng thời
kỳ thăng trầm của các quốc gia và thế giới nói chung Từ sau chiến tranh thế giớithứ II, vấn đề quyền con người đã được nhấn mạnh và bắt đầu khởi nguồn chocác hướng dẫn quốc tế về đảm bảo tôn trọng quyền con người và phải có đạo đứctrong mọi nghiên cứu y học có liên quan hoặc không liên quan đến con người.Những tuyên bố về tiêu chuẩn trong thực hành chăm sóc sức khỏe đã quy địnhrất cụ thể về trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền hạn của nhân viên y tế trong mọihoạt động chăm sóc sức khỏe con người Việt Nam đã có cơ sở pháp lý là các bộLuật với những nội dung liên quan đến đạo đức nghề y mà mỗi nhân viên y tếphải có trách nhiệm thực hiện Nhìn lại khái quát lịch sử, chúng ta có thể thấyđạo đức y học phát triển ngày càng hoàn thiện theo xu hướng tôn trọng conngười hơn, công bằng hơn và tốt đẹp hơn
1.2 Bốn nguyên lý cơ bản của đạo đức y học
Trang 26Nhiều tác giả đã viết về các nguyên lý của đạo đức y học như BeauchampL.T và Childress F.J (1977), Engelhardt H.T (1986), Mitchell K.R (1996),Kerridge I (1998), Laurence D.J (2007) … [50],[81],[84],[93] NhưngBeauchamp L.T và Childress F.J là hai tác giả đầu tiên đã tách riêng thành bốnnguyên lý một cách chi tiết và rõ rệt từ năm 1977 Có thể nói rằng Beauchamp
L.T và Childress F.J đã nâng tầm lý luận về đạo đức y học lên thành “nguyên lý học” (principlism) và khởi nguồn cho các lý luận trong y
văn và dạy-học đạo đức y học theo nguyên lý học [83],[93],[110],[113],[124]
Đến năm 1978, sau khi phát hiện sự thật về “Nghiên cứu Tuskegee”, Vụ Sức khỏe-Giáo dục và Hạnh phúc của Hoa Kỳ đã công bố “Báo cáo Belmont”
về “Các nguyên lý đạo đức và hướng dẫn bảo vệ con người là đối tượng trong các nghiên cứu” Lần đầu tiên, một tổ chức cấp liên bang của Hoa Kỳ đã đề cập đến ba nguyên lý của đạo đức y học: “Tôn trọng con người; Lòng nhân ái; Công bằng” “Báo cáo Belmont” được sửa lại vào năm 1979 Đến năm 1991, báo cáo này được chỉnh sửa thành “Các quy định cơ bản để bảo vệ con người trong các nghiên cứu y học” của Hoa Kỳ [61].
Bốn nguyên lý cơ bản của đạo đức y học được sử dụng rộng rãi trong yvăn và dạy-học cho sinh viên y khoa trên toàn thế giới theo khuyến nghị của các
tổ chức y học quốc tế và quốc gia Hội Y học Thế giới (2009) nhấn mạnh:
Nguyên lý học đặc biệt có ảnh hưởng đến các quyết định về đạo đức ngày nay, đặc biệt là ở Hoa Kỳ Bốn nguyên lý gồm: tôn trọng quyền tự chủ, lòng nhân ái, không làm việc có hại và công bằng đã được công nhận là có vai trò quan trọng nhất trong việc ra quyết định về đạo đức trong thực hành y học [124].
Tổ chức Y tế Thế giới (2009, 2010) giới thiệu 7 chủ đề cơ bản và 7 chủ đềchuyên sâu trong dạy-học Đạo đức y học cho sinh viên y khoa, trong đó chủ đề
cơ bản số 1 là “Giới thiệu về đạo đức y học” với nội dung:
Định nghĩa đạo đức y học; Vai trò quan trọng của đạo đức trong thực hành y học; Lịch sử đạo đức y học; Nguyên lý của đạo đức y học…”[110],[113].
Trang 271.2.1 Tôn trọng quyền tự chủ (Respect for autonomy)
Quyền tự chủ (Autonomy) được ghép nghĩa từ gốc Hy lạp autos (tự bản thân)
và nomos (luật lệ, phép tắc), có nghĩa là có quyền tự do, tự xác định rõ quyền lợi
và tự do mong muốn [50] Hay nói cách khác, quyền tự chủ của một người làquyền được đưa ra quyết định dựa trên sự thu nhận thông tin, hiểu biết kiến thức
và năng lực tự chịu trách nhiệm của bản thân [19]
Tôn trọng quyền tự chủ là công nhận quyền của một người được đưa ra ý kiến, lựa chọn, quyết định và hành động dựa trên những giá trị cá nhân và đức tin của mình [50].
Nguyên lý này được phát triển trên cơ sở đạo đức chung là con người cóquyền không bị can thiệp khi đưa ra những quyết định về chính bản thân họ.Trong chăm sóc sức khỏe, tôn trọng quyền tự chủ bao gồm nhiều nội dung, đòihỏi người thầy thuốc phải quan tâm và tìm kiếm sự đồng ý của người bệnh trướckhi tiến hành bất kỳ một hoạt động chăm sóc y khoa nào cho họ [70],[71]
- Tôn trọng quyền lợi tốt nhất của người bệnh
- Tôn trọng quyền tự quyết định và quyền từ chối điều trị của người bệnh
- Bảo mật thông tin của người bệnh
- Trung thực Không được lừa dối
- Thể hiện khả năng giao tiếp tốt giữa bác sĩ-người bệnh
- Cung cấp thông tin cho người bệnh
- Tìm kiếm sự đồng ý, sự lựa chọn của người bệnh [58],[71].
“Tôn trọng quyền tự chủ” là nguyên lý quan trọng nhất trong bốn nguyên lý của
đạo đức y học
1.2.2 Lòng nhân ái (Beneficence)
Đạo đức trong nghề y đòi hỏi không chỉ tôn trọng người bệnh và hạn chế
Trang 28tối đa những tổn hại, mà người thầy thuốc còn có trách nhiệm quan tâm đến chấtlượng cuộc sống của người bệnh Những hành động mang lại lợi ích này được
gọi là “lòng nhân ái"
Lòng nhân ái được định nghĩa là làm việc tốt, có lòng vị tha, làm những điều tốt đẹp, mang lại hạnh phúc cho người khác [50]
Trong nghề y, lòng nhân ái không đơn giản là làm việc theo nhiệm vụ hay
theo lòng tốt của mình Có lòng nhân ái là khi bác sĩ không chỉ làm việc với
danh dự và niềm tự hào của bản thân mà còn vì một xã hội tốt đẹp, vì hạnh phúccủa tất cả mọi người, trong đó có bản thân bác sĩ [124]
Đảm bảo lợi ích nhiều hơn nguy cơ
1.2.3 Không làm việc có hại (Nonmaleficence)
Nguyên lý “Không làm việc có hại” được phát triển theo câu nói nổi tiếng gốc Hy lạp “primum non nocere (– Above all do no harm)”, nghĩa là “Trên hết, không làm điều gì có hại” [50] Nguyên lý “Không làm việc có hại” được Beauchamp L.T và Childress F.J tách riêng khỏi nguyên lý “Lòng nhân ái” vì nhiều vấn đề trong y sinh học cần phải cân nhắc đến cả hai: “có lòng nhân ái”
và phải “không gây hại” cho người bệnh [50].
Để tăng tối đa lợi ích và giảm thấp nhất tác hại cho người bệnh, bác sĩ cần:
- Tích cực cập nhật kiến thức và kỹ năng để đảm bảo chất lượng dịch vụ đang cung cấp.
Trang 29- Không được làm bất kỳ điều gì có hại tới cuộc sống, sức khỏe, giá trị cá nhân, nhân phẩm của người bệnh
- Phải biết được rõ ràng về lợi ích và nguy cơ gây tai biến trước khi cung cấp bất
kỳ một thăm dò, trị liệu nào.
- Thận trọng trước bất kỳ một trị liệu nào, loại bỏ hoặc dừng trị liệu khi nhận
thấy có bất kỳ nguy cơ nào lớn hơn lợi ích cho người bệnh [19],[71].
1.2.4 Công bằng (Justice)
Công bằng đề cập đến khái niệm đối xử hợp lý, đúng đắn, không thiên vị [50].
Trong y học, công bằng mang ý nghĩa là các quyền lợi và dịch vụ y tế tiêu chuẩnđược cung cấp một cách thích hợp nhất cho bất kỳ thành viên nào trong xã hộikhi cần được chăm sóc y khoa [50]
Công bằng là một tiêu chí quan trọng trong chăm sóc sức khỏe
- Công bằng trong phân chia các nguồn nguyên liệu hiếm: máu, huyết tương
- Công bằng trong Quyền con người, không phân biệt đối xử, không kỳ thị.
- Công bằng trong các khía cạnh có liên quan đến sự chấp nhận của luật pháp:
tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật [71].
Công bằng trong chăm sóc y khoa không có nghĩa là mọi người bệnh phảiđược chăm sóc giống nhau
được chăm sóc sức khỏe Dù là người giàu hay người nghèo.
thiết và theo nhu cầu của bản thân
Trang 301.3 Đạo đức y học trong đào tạo y khoa
1.3.1 Khuyến nghị dạy-học đạo đức y học của các tổ chức quốc tế và một số quốc gia
Dạy học đạo đức y học cần kết hợp dạy về kiến thức cũng như về kỹ năng vàthái độ Mỗi lĩnh vực đào tạo đòi hỏi các phương pháp dạy-học và lượng giákhác nhau Chương trình đạo đức y học cơ bản phải bao gồm cả phần kiến thức
cơ bản về đạo đức y học và các chủ đề đạo đức chuyên sâu [113]
Tuy nhiên sinh viên y khoa cần được đào tạo những gì về đạo đức y học,phương pháp dạy-học như thế nào, và ai là người dạy-học, lại là những vấn đềđang còn nhiều tranh luận, chưa đi đến thống nhất Mỗi quốc gia lại có nhữngquy định cụ thể về dạy-học đạo đức y học, thậm chí mỗi trường lại có chươngtrình và nội dung đào tạo có những điểm khác nhau
Tuy còn nhiều tranh luận, nhưng tất cả các tuyên bố của các hội nghề nghiệp
quốc tế hay tại từng nước đều thống nhất ở một số điểm chung, rằng “…đạo đức
y học là một nội dung quan trọng, cần được đào tạo trong chương trình chính khóa cho sinh viên y khoa” Đào tạo đạo đức y học giúp sinh viên nhận thức và
hiểu biết về tầm quan trọng của đạo đức trong thực hành y học, và biết cách làmthế nào để đưa ra quyết định đối với các vấn đề đạo đức trong lâm sàng vànghiên cứu khoa học [65],[71],[113],[122],[124]
Trong suốt hơn ba thập kỷ qua, đạo đức y học nổi bật lên như một lĩnh vực ưutiên trong đào tạo y khoa tại các trường Đại học Y Nhiều vấn đề tác động đếnđạo đức y học như các yếu tố từ phía khoa học, công nghệ (những tiến bộ vượtbậc trong kỹ thuật y học, phẫu thuật nội soi và can thiệp, chăm sóc tích cực…);
từ phía cơ sở đào tạo là các trường đại học (sự thay đổi về chiến lược, mục tiêuđào tạo, phương pháp dạy-học, phương pháp lượng giá, vai trò của người
Trang 31học…); từ phía cộng đồng (thay đổi mô hình bệnh tật, phát triển dân trí…) đã đòihỏi phải có những đổi mới trong đào tạo y khoa, đặc biệt là đạo đức nghề nghiệp.
Năm 1999, Hội Y học Thế giới đã tuyên bố về “Giải pháp kết hợp Đạo đức y học và Quyền con người vào chương trình đào tạo của các trường Y trên tòan thế giới” và “…khuyến nghị mạnh mẽ tới các trường Y trên toàn thế giới rằng dạy-học Đạo đức y học và Quyền con người là khóa học bắt buộc trong chương trình đào tạo…” [116].
Tổ chức Y tế Thế giới năm 2001 trong “Hướng dẫn đảm bảo chất lượng đào tạo y khoa cơ bản cho khu vực Tây Thái Bình Dương” đã yêu cầu “Sinh viên khi tốt nghiệp Đại học Y phải có năng lực thực hành an toàn, có đạo đức và hiệu quả … để trở thành những bác sĩ độc lập” [109].
Tuy vậy, Tổ chức Y tế Thế giới cũng như Hội Giáo dục y học khu vực ĐôngNam Á-Thái Bình Dương cũng nhận thấy hoạt động dạy và học môn Đạo đức yhọc ở các trường y của các quốc gia còn nhiều khó khăn và cần được tăng cường
để góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe và dự phòng bệnh tật
Tổ chức Y tế Thế giới – văn phòng khu vực Đông Nam Á, năm 2009 công bố
“Các chủ đề dạy đạo đức y học cho sinh viên đại học” đã nhấn mạnh tầm quan
trọng của đạo đức y học đối với sinh viên y khoa
Quyết định trong chăm sóc sức khỏe không chỉ phụ thuộc vào kiến thức lâm sàng và kỹ thuật, mà còn phụ thuộc vào kiến thức về đạo đức y học….Mục đích của các chủ đề này là giúp sinh viên nhận thức được tầm quan trọng của sự nhạy cảm với các vấn đề đạo đức trong thực hành lâm sàng hàng ngày và phát triển khả năng cân nhắc tốt các vấn đề đạo đức đối với người bệnh và đối tượng trong nghiên cứu [110].
Năm 2009, Hội Y học Thế giới giới thiệu cuốn “Cẩm nang đạo đức y học ”
Đạo đức luôn luôn là một thành phần cần thiết của thực hành y học… Nghiên cứu về đạo đức y học là để chuẩn bị cho sinh viên y khoa nhận thức được các tình huống phức tạp và xử trí theo nguyên lý và lẽ phải Đạo đức y học cũng rất quan trọng trong mối tương tác giữa bác sĩ và xã hội, với đồng nghiệp, và trong nghiên cứu khoa học [124].
Trang 32Năm 2010, Tổ chức Y tế Thế giới đưa ra “Hướng dẫn giảng viên dạy-học đạo đức y học cho sinh viên tại các trường Đại học Y khu vực Tây Á-Thái Bình Dương” Hướng dẫn nhấn mạnh:
Đạo đức y học là một trong những thành phần quan trọng nhất của đào tạo y khoa Với ngôn ngữ cơ thể, nếu học tập các môn khoa học nền tảng được coi là
“cái đầu”, thực hành kỹ năng được coi như “bàn tay”, thì học tập về y nghiệp
và y đức giống như “trái tim” Do đó, đạo đức y học là “trái tim” của thực hành y học và điều này cần được nhấn mạnh và nhắc lại nhiều lần cho sinh viên
y khoa [113].
Vậy, nếu coi trường Đại học Y là nơi tạo nên người bác sĩ trong tương lai, thì
dạy-học đạo đức y học chính là cung cấp cho người bác sĩ tương lai “trái tim”
để con người đó có thể hoạt động, suy nghĩ, thực hành không chỉ theo lý trí, kiếnthức đã có, mà còn như một con người có trái tim, tình cảm và lòng nhân ái đốivới đồng loại
Bên cạnh những tuyên bố về tầm quan trọng của đào tạo đạo đức y học chosinh viên y khoa của các tổ chức quốc tế Các hội nghề nghiệp tại nhiều quốc gia
đã đưa ra các quy định cụ thể cho nước mình
Hội đồng Y học đa khoa của Vương quốc Anh trong “Bác sĩ tương lai” đã
khuyến nghị rằng sinh viên khi kết thúc chương trình đào tạo y khoa phải:
… có kiến thức và sự hiểu biết về các vấn đề đạo đức và luật pháp liên quan đến thực hành y khoa và có năng lực hiểu biết và phân tích các vấn đề đạo đức cũng như các vấn đề của người bệnh , gia đình người bệnh , xã hội để đi đến quyết định [70].
Tuyên bố của “Hội Giảng viên đạo đức y học và luật trong các trường Đạihọc Y của Anh”:
Đạo đức y học cần để tăng cường những mục tiêu chung của giáo dục y học, nhằm tạo ra các bác sĩ là những người bảo vệ và chăm sóc sức khỏe của cộng đồng với sự công bằng, tôn trọng, tự chủ và quyền lợi của mọi người [58].
Trang 33Theo các giảng viên dạy đạo đức y học và luật pháp trong các trường Đại học
Y tại Anh, khi dạy-học đạo đức y học cho sinh viên y khoa, cần phải đạt được 6mục tiêu:
- Đảm bảo rằng sinh viên hiểu được nguyên lý và các giá trị đạo đức để làm cơ
sở vững chắc cho thực hành lâm sàng tốt
- Giúp sinh viên suy nghĩ nghiêm túc về các vấn đề đạo đức
- Đảm bảo rằng sinh viên hiểu biết về những nghĩa vụ nghề nghiệp của bác sĩ đã
được quy định
- Cung cấp cho sinh viên kiến thức và sự hiểu biết về quy trình pháp lý và trách
nhiệm luật pháp thích hợp của bác sĩ thực hành để giúp họ thực hành nghề nghiệp hiệu quả và ít nguy cơ nhất
- Khuyến khích sinh viên không chỉ thích thú tham gia các cuộc tranh luận trí tuệ
về đạo đức y học và luật pháp mà còn nhận thức được rằng trong thực hành và
ra quyết định lâm sàng của bác sĩ luôn có những vấn đề liên quan đến đạo đức
và luật pháp
- Giúp sinh viên hiểu rằng các vấn đề đạo đức và luật pháp đưa ra không chỉ là
những tình huống vượt quá mức bình thường trong y học mà còn xuất hiện hàng ngày trong thực hành lâm sàng [58].
Hội Y học Australia tuyên bố trong “Mục đích và mục tiêu đào tạo y khoa cơ bản” rằng:
Sinh viên khi tốt nghiệp đại học cần phải có kiến thức và hiểu biết về các nguyên
lý đạo đức liên quan đến chăm sóc sức khỏe và trách nhiệm về mặt luật pháp của ngành y” và “đánh giá được sự kết hợp của vấn đề y đức liên quan đến cuộc sống và cái chết của con người, bao gồm cả việc phân bổ các nguồn nguyên liệu hiếm trong y học [48].
Hội Y học Hoa Kỳ trong “Các nguyên lý đạo đức y học” đã khuyến nghị:
Nghề y là nghề cống hiến bản thân theo những tuyên bố đạo đức y học đã phát triển trước hết là vì lợi ích của người bệnh Bác sĩ phải nhận thức trách nhiệm đối với người bệnh , và hơn thế là trách nhiệm đối với xã hội, với các nhân viên y tế khác và với bản thân Những nguyên lý đạo đức y học này là những chuẩn mực về đạo đức cần thiết đối với bác sĩ [43].
Tại Việt Nam, “Quy chế tổ chức bệnh viện” năm 1997 của Bộ Y tế:
Nghiêm chỉnh thực hiện quy chế bệnh viện, đặc biệt về quy định y đức theo lời dạy của Bác Hồ “Lương y phải như từ mẫu” [5].
Trang 34Năm 2001, Bộ Y tế ban hành “Quy định về chế độ giao tiếp trong các cơ
sở khám chữa bệnh” yêu cầu các nhân viên y tế phải có kỹ năng giao tiếp tốt
trong hoạt động chuyên môn
Giao tiếp trong các cơ sở khám, chữa bệnh được thể hiện bằng lời nói, thái độ
và hành vi văn hóa trong mối quan hệ giữa thầy thuốc và nhân viên y tế với người bệnh, người nhà người bệnh và mối quan hệ đồng nghiệp [6].
Năm 2007, trong “Chỉ thị về việc nâng cao chất lượng khám bệnh, chữa bệnh cho nhân dân”, Bộ Y tế quy định “Nâng cao y đức trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh Công tác giáo dục y đức cho cán bộ y tế phải được thực hiện thường xuyên…” [7].
Để các nhân viên y tế, đặc biệt là các bác sĩ có đạo đức nghề nghiệp tốt thìhoạt động đào tạo đạo đức y học trong chương trình chính khóa cho sinh viênngay tại các trường Đại học Y là thực sự thích hợp và cần thiết Đạo đức y họccòn dạy cho sinh viên y khoa về khía cạnh nhân văn và đạo đức của nghề nghiệp,không chỉ nhằm mục đích nâng cao hiểu biết cho sinh viên về nghĩa vụ, quyềnhạn, trách nhiệm của bác sĩ trong hoạt động chuyên môn, mà còn giúp sinh viênđịnh hướng đúng đắn về thái độ trong nghề nghiệp và hiểu biết về các quy địnhliên quan đến Luật pháp Việt Nam và quốc tế
1.3.2 Đào tạo đạo đức y học tại các nước trên thế giới và Việt Nam
1.3.2.1 Chương trình môn học
Trên thế giới
Đào tạo đạo đức y học trong chương trình chính khóa sớm cho các sinh viên
y khoa là một phương pháp hiệu quả để trang bị kiến thức cơ bản về đạo đứcnghề nghiệp cho sinh viên Học đạo đức y học giúp sinh viên nhận thức đúngđắn về hành vi, thái độ trong thực hành chuyên môn, giao tiếp với người bệnhvànghiên cứu khoa học y học [48],[100],[125]
Trang 35Tuy nhiên, chương trình đạo đức y học khác nhau tại từng trường và từngquốc gia Từ năm 1974, đạo đức y học đã bắt đầu được giảng tại Hoa Kỳ Đếnnăm 1990, tất cả 123 trường Đại học Y của Hoa Kỳ đã đưa đạo đức y học vàochương trình đào tạo chính thức [75],[79],[98]
Theo sự khuyến cáo của Hội đồng Y học đa khoa Anh, năm 1984 các trườngđào tạo ngành Y của Anh đã bắt đầu đào tạo đạo đức y học cho sinh viên y [51],[58]
Những nhà giáo dục y học ở các nước này đã nhận thấy rằng nếu tổ chứcthành một khóa học riêng lẻ, tách biệt về đạo đức y học trong chương trình đàotạo thì không hoàn toàn thích hợp để đạt được mục đích đào tạo, và cuối cùng,
họ đề nghị kết hợp các loại hình khác nhau: Các học phần về đạo đức y học lồng ghép trong suốt chương trình đào tạo y khoa; Khóa học riêng về đạo đức y học và các học phần lồng ghép trong chương trình; Nhiều khóa học hoặc seminar kết hợp với các vòng lâm sàng
Điểm chung của các loại hình chương trình này là để phát triển nền tảng kiếnthức và kỹ năng phân tích cho sinh viên trước khi đi bệnh viện và tiếp tục đượcphát triển thông qua kinh nghiệm tích lũy khi học lâm sàng [58],[80]
Năm 1989, một nghiên cứu được thực hiện với các sinh viên và giảng viên tạicác trường Đại học Y của London (gồm Nottingham, Southampton, King’sCollege) Tại các trường này, các khóa học đạo đức y học không được giảngthường xuyên, và không phải tất cả sinh viên y khoa năm cuối đều được học vềđạo đức y học Thời lượng rất khác nhau, từ 1-2 giờ dến 24 giờ [51]
Tại 91 trường Đại học Y của Hoa Kỳ và Canada năm 2004, chương trình
dạy-học đạo đức y dạy-học theo ba hình thức: Khóa dạy-học về đạo đức y dạy-học trước khi đi lâm sàng; Khóa học về đạo đức y học trong các năm đi lâm sàng; Khóa học ngoại khóa Khóa học bắt buộc cho sinh viên năm 3 luân khoa lâm sàng là dạy
Trang 36đạo đức y học lồng ghép trong các vòng lâm sàng chính như Nội, Nhi, Sản, Tâmthần, Ngoại [84].
Hội các trường y tế công cộng châu Âu (ASPHER) năm 2010 đã điều tra tại
82 trường y tế công cộng về dạy-học đạo đức y học Đạo đức y học đã được đưa
vào chương trình chính thức như một một học riêng, hoặc một khóa học cơ bản
về đạo đức y học, hoặc các nội dung lồng ghép trong nhiều môn học khác [42].
Tại Australia, dạy-học đạo đức y học là lồng ghép với dạy lâm sàng theo các
mô hình: Dạy đạo đức y học tại bệnh phòng; Dạy đạo đức y học tại phòng giảng
và giao ban; Thảo luận về y đức trong các seminar về lâm sàng; Câu lạc bộ báo chí về đạo đức y học [48].
Năm 2010, Tổ chức y tế thế giới đề nghị tổ chức dạy học đạo đức y học gồmnhiều bộ môn tham gia như Giáo dục y học, Y pháp, Y tế công cộng, Dược vàcác bộ môn lâm sàng Tổng thời lượng là 21 giờ, bao gồm 15 giờ lý thuyết và 6giờ thảo luận trên lâm sàng hoặc cộng đồng [110],[113]
Xu hướng chung của nhiều quốc gia trên thế giới là chương trình đạo đức
y học theo nhiều hình thức kết hợp: Khóa học riêng cho đạo đức y học trong các năm đầu y khoa; Các khóa học đạo đức y học kết hợp với các môn học lâm sàng; Các khóa học ngoại khóa Hình thức tổ chức kết hợp này phù hợp với
khuyến cáo của các tổ chức y học quốc tế và cần có sự tham gia của nhiều giảngviên từ nhiều môn học khác nhau
Tại Việt Nam
Thời kỳ trước 1945, Trường Y Đông Dương (tiền thân của trường Đại học
Y Hà Nội ngày nay) không có môn Đạo đức y học, nhưng nhà trường đã có những hoạt động hướng đến đạo đức nghề nghiệp như môn “Quy chế hành nghề” (dạy cách hành xử cho phù hợp pháp luật, quy chế chuyên môn và đạo
đức thầy thuốc); tất cả bác sĩ khi ra trường cần đọc lời thề tốt nghiệp [30] Trong
Trang 37những năm tiếp theo, tại nhiều trường Đại học Y của Việt Nam vẫn chưa có mônhọc riêng cho đạo đức y học Những bài giảng về đạo đức nghề nghiệp được dạycho sinh viên thường được lồng ghép vào một số môn học Đến năm
2001,“Chương trình đào tạo bác sĩ đa khoa” đã có môn “Tâm lý và y đức” [1].
Thời lượng dành cho Y đức (Đạo đức y học) tại các trường từ 10-15 giờ, do đómôn học này thường được giảng cùng với một số môn khác như Tâm lý y học,
Tổ chức và quản lý y tế, Giáo dục sức khỏe… và chưa hình thành môn học riêngcũng như chưa lồng ghép giảng dạy vào lâm sàng [18] Học phần Y đức thườngđược các trường Đại học Y phân bổ với thời lượng tối đa là 1 học trình, nên họcphần này chưa thể tính điểm thi riêng như một môn học độc lập, mà vẫn thichung và tính điểm chung cùng với học phần Tâm lý y học
Nhận thức được sự cấp bách về đào tạo đạo đức y học tại các trường Đạihọc Y, năm 2002, trường Đại học Y Hà Nội đã cử giảng viên sang nghiên cứu tàiliệu và học tập cùng các chuyên gia giảng đạo đức y học của trường Đại học Y-Đại học Sydney, Australia Từ năm 2004, Trường Đại học Y Hà Nội là trường
đầu tiên dạy-học đạo đức y học cho sinh viên y khoa theo “Nguyên lý học”
1.3.2.2 Nội dung dạy-học
Trên thế giới
Tại nhiều nước trên thế giới như Hoa Kỳ, Australia, Anh, Canada,Singapore…, đào tạo đạo đức y học là nội dung bắt buộc trong chương trìnhchính khóa cho sinh viên y khoa Nội dung dạy-học về đạo đức y học khá phongphú và được học trong toàn khóa học
Có thể nói Miles H.S và cộng sự đã có bài tổng quan y văn đầu tiên về đạođức y học từ năm 1989, trong đó nêu rất nhiều nội dung đạo đức cần phải đượcgiảng cho sinh viên:
- Lý luận về đạo đức và nhân quyền: Khái niệm cơ bản về đạo đức y sinh học…
Trang 38- Đạo đức chuyên sâu: Luật đạo đức y học; Chất lượng sống của người bệnh ; Nhiệm vụ điều trị cho người nhiễm HIV; Lòng nhân ái; Quyền lợi và trách nhiệm của bác sĩ; Nạo phá thai; Trẻ sơ sinh và khuyết tật; Xung đột mẹ và thai nhi; Quyền trẻ em; Thụ tinh nhân tạo; Từ bỏ hỗ trợ sự sống; Cái chết không đau đớn…
- Quan hệ với đồng nghiệp: Đồng nghiệp xấu; Đạo đức trong tư vấn và làm việc nhóm; Tư vấn y học và hội đồng đạo đức
- Quan hệ bác sĩ-người bệnh : Quyền tự chủ và cá nhân; Mối liên quan giữa các nguy cơ, lợi ích và người bệnh ; Tìm kiếm sự đồng ý…
- Sinh viên y khoa: Khám phá quan hệ giữa sinh viên và người bệnh ; Vai trò của sinh viên y khoa
- Học thuật y học ; Đạo đức trong nghiên cứu
- Các vấn đề xã hội: Y học dự phòng, các khái niệm về sức khỏe và bệnh tật; Luật pháp và chăm sóc sức khỏe; Chiến tranh hạt nhân…[91].
Các hội nghề nghiệp từng quốc gia đã có những khuyến cáo về nội dung đạo đức
y học cần đào tạo cho sinh viên Tại Canada, Hội đồng y học đã đưa ra một danhmục các vấn đề đạo đức y học cần phải được học, đó là:
- Bảo mật: Quyền được bảo mật của người bệnh ; Quyền truy cập thông tin của người bệnhkhi đang điều trị, với sự đồng ý của người bệnh …
- Chấp thuận cho thăm dò hoặc điều trị: Lấy lời đồng ý bằng lời nói hoặc văn bản; Thông báo lựa chọn, về các yếu tố nguy cơ và lựa chọn thay thế; Từ chối hoặc rút lại lời đồng ý
- Nói sự thật: Quyền người bệnhđược biết thông tin; Mở thông tin thích hợp; Cấm lan truyền thông tin sai lạc…
- Phân bổ nguồn lực; Phân bổ công bằng các ngùôn lực chăm sóc sức khỏe; Thận trọng trong sử dụng các nguồn lực chăm sóc sức khỏe…
- Đạo đức trong nghiên cứu; Quy định về đạo đức trong nghiên cứu; Xung đột quyền lợi…
- Quan hệ bác sĩ-người bệnh : Trách nhiệm và giới hạn chuyên môn; Xung đột quyền lợi; Quyền của bác sĩ và quyền của người bệnh …
- Các chủ đề đạo đức chuyên sâu: Cái chết không đau đớn; Bác sĩ hỗ trợ cho người bệnhtự tử; Xung đột quyền lợi mẹ và thai ; Kỹ thuật kế họach sinh sản;
Mô thai nhi; Nạo phá thai; Xét nghiệm gen
Trang 39- Hồ sơ y khoa: Trách nhiệm gìn giữ hồ sơ y khoa; Truy cập và mở thông tin từ
hồ sơ ykhoa; Quyền sở hữu và chuyển nhượng hồ sơ y khoa; Sử dụng hồ sơ y khoa theo yêu cầu của tòa án….[90].
Tuyên bố của “Hội giảng viên dạy đạo đức y học và luật của các trường Đại học
Y tại Anh” đã giới thiệu nội dung dạy-học đạo đức y học, bao gồm:
- Sự đồng ý và từ chối điều trị: Tôn trọng quyền tự chủ; Năng lực đồng ý; Điều trị không có sự đồng ý và đồng ý ủy quyền; Cung cấp thông tin cho người bệnh
- Giao tiếp tốt trong quan hệ lâm sàng: Trung thực, hợp tác trong thực hành lâm sàng;
- Bảo mật và thực hành lâm sàng tốt: Mở thông tin: quyền lợi của cộng đồng và
cá nhân…
- Nghiên cứu y học: Các ví dụ trong quá khứ và hiện tại về lạm dụng trong nghiên cứu y học; Sự khác biệt giữa người bệnhvà người tình nguyện khỏe mạnh
- Quá trình sinh sản của con người: Cân nhắc đạo đức và pháp lý về mô/phôi thai; Nạo thai: yêu cầu pháp lý và cân nhắc về việc sử dụng mô từ những thai nạo hút …
- “Di truyền học mới”: Điều trị và nghiên cứu nhiễm sắc thể và tế bào gốc: tranh luận về đạo đức và luật pháp; Nhân bản: vấn đề đạo đức trong nhân
bản sinh học; Trẻ em; Tôn trọng quyền trẻ em…
- Sự sống, cái chết, hấp hối và tử vong: Chăm sóc giảm đau, và chất lượng cuộc sống và thực hành chăm sóc tốt: Cố gắng về đạo đức trong điều trị kéo dài sự sống; Từ chối và hủy bỏ điều trị kéo dài sự sống
- Ghép tạng: vấn đề về đạo đức và luật pháp;
- Mối quan hệ sinh viên-người bệnh
- Các quyền: Mối liên hệ giữa các quyền, nhiệm vụ và trách nhiệm; Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người; Tầm quan trọng của khái niệm quyền con người đối với đạo đức y học; Quyền và công bằng trong chăm sóc sức khỏe [58].
Từ năm 2000, “Hội Giảng viên dạy đạo đức y học và Luật tại các trường Y củaAustralia và New Zealand” đã có chương trình cơ bản về đạo đức y học trong 10trường đại học của Australia và New Zealand, bao gồm:
- Kiến thức: Chương trình cơ bản về kiến thức đạo đức y học phải bao gồm phần
lý thuyết nền tảng đạo đức và các chủ đề chuyên môn về đạo đức Học tập về các khái niệm nền tảng và nguyên lý đạo đức là kiến thức cần thiết và quan
Trang 40trọng để tiếp cận và áp dụng đạo đức trong các tình huống lâm sàng: Nguyên lý
cơ bản của đạo đức y học; Thỏa thuận đồng ý; Tôn trọng quyền tự chủ, quyền
cá nhân; Chính sách của chính phủ Mối quan hệ bác sĩ-người bệnh , sự đồng cảm, đồng ý và từ chối điều trị…
- Kỹ năng đạo đức y học cần dạy cho sinh viên gồm 3 lĩnh vực: nhận thức đạo đức y học, lập luận đạo đức y học, và thực hành đạo đức y học
- Thái độ: thông qua mối quan hệ bác sĩ-người bệnh , quyền lợi của đồng nghịêp
thông qua mối quan hệ chuyên môn, và quyền lợi của chính sinh viên: Trung thực, đáng tin cậy; Đồng cảm và lòng nhân ái; Tôn trọng gía trị của người bệnh
; Tôn trọng đồng nghiệp; Trách nhiệm nghề nghiệp với cộng đồng và toàn cầu…[48].
Nghiên cứu tại nhiều quốc gia cũng cho thấy nội dung dạy-học phong phú vềđạo đức y học Năm 1994, Miyasaka M và cộng sự đã nghiên cứu tại 100/206trường y ở Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Mông Cổ, Hàn Quốc,Philippines, Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Singapore, Srilanka, Australia, NewZeland Nội dung dạy-học bao gồm nhiều chủ đề:
Trách nhiệm của bác sĩ
Quyền của người bệnh Thỏa thuận đồng ý Bảo mật thông tin cho người bệnh Nói sự thật cho người bệnhvề chẩn đoán và điều trị
Nạo phá thai Phòng tránh thai Kiểm soát dân số Thụ tinh ống nghiệm
Chăm sóc trẻ em Quyền của trẻ em
Chăm sóc người tàn tật
Lạm dụng thuốc Nghiện rượu
AIDS
Rối loại tâm thần Tự tử
Giả dược, tác dụng phụ của thuốc
Nghiên cứu trên con người Nghiên cứu trên động vật Quyền của động vật Công nghệ gen Ghép tạng
Các vấn đề liên quan đến luật pháp [94].
Năm 2002, Dubois M.J và cộng sự đã thực hiện nghiên cứu tại 87 trường ycủa Hoa Kỳ: