Nghiên cứu những biểu hiện xúc cảm tiêu cực trong hoạt động học tập của học sinh tiểu học
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
- -LÊ MỸ DUNG
NGHIÊN CỨU NHỮNG BIỂU HIỆN
XÚC CẢM TIÊU CỰC TRONG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC
Chuyên ngành: Tâm lý học chuyên ngành
Mã số: 62.31.80.05
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐÀO THỊ OANH
Hà Nội -2013
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
*PGS TS Đào Thị Oanh- cô giáo hướng dẫn đã tận tình chỉ bảo, giúp
đỡ và động viên tôi hoàn thành luận án này.
*Ban Giám đốc, Ban chủ nhiệm, các Thầy, Cô giáo Khoa Tâm lý, Phòng đào tạo của Học viện Khoa học xã hội đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện trong suốt thời gian tôi học và hoàn thành luận án
*Ban Giám hiệu, các Thầy, Cô giáo và học sinh khối lớp 1 và 2 ở các trường Tiểu học tại Hà Nội (Cát Linh, Khương Mai, Mê Linh và Mễ Trì B)
và Đà Nẵng (Đoàn Thị Điểm, Dũng Sĩ Thanh Khê, Âu Cơ và Hòa Phú) đã tham gia, tạo điều kiện và nhiệt tình hỗ trợ tôi trong quá trình triển khai nghiên cứu đề tài.
*Các Thầy, Cô, Anh, Chị và các bạn đồng nghiệp ở Trung tâm Nghiên cứu Tâm lý học-Sinh lý lứa tuổi, Viện Nghiên cứu sư phạm đã
động viên và cung cấp những ý kiến, kinh nghiệm quý báu giúp tôi hoàn thiện luận án.
*Gia đình, người thân, bạn bè đã luôn bên cạnh tôi, cùng tôi chia sẻ
những khó khăn, giúp đỡ và khích lệ tôi trong quá trình thực hiện luận án.
Xin chân thành cám ơn!
Trang 3Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Tất cả số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì một công trình nào khác.
Hà Nội, ngày 10 tháng 12 năm 2013 Tác giả
Lê Mỹ Dung
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3
5 Phạm vi nghiên cứu 3
6 Giả thuyết khoa học 4 7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Đóng góp mới của luận án 5
9 Cấu trúc của luận án 6
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÚC CẢM TIÊU CỰC TRONG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC 7
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu xúc cảm tiêu cực trong hoạt động học tập của học sinh tiểu học 7
1.2 Xúc cảm 20
1.2.1 Một số quan điểm tiếp cận nghiên cứu về xúc cảm 20 1.2.2 Khái niệm “Xúc cảm” 25 1.2.3 Cấu trúc của xúc cảm 27 1.2.4 Phân loại xúc cảm 30 1.2.5 Ảnh hưởng của xúc cảm đến đời sống và hoạt động của con người 33 1.3 Xúc cảm tiêu cực trong hoạt động học tập của học sinh tiểu học 36
1.3.1 Xúc cảm tiêu cực 36 1.3.2 Hoạt động học tập của học sinh tiểu học 37 1.3.3 Đặc điểm phát triển tâm lý- xúc cảm của học sinh tiểu học 42 1.3.4 Khái niệm xúc cảm tiêu cực trong hoạt động học tập của học sinh tiểu học 45 1.3.5 Ảnh hưởng của xúc cảm tiêu cực đến hoạt động học tập của học sinh 46 1.4 Biểu hiện xúc cảm tiêu cực trong hoạt động học tập của học sinh tiểu học 47 1.4.1 Biểu hiện xúc cảm tiêu cực trong hoạt động học tập của học sinh tiểu học qua hành
vi phi ngôn ngữ 51
Trang 51.4.2 Biểu hiện xúc cảm tiêu cực trong hoạt động học tập của học sinh tiểu học qua hành
vi ngôn ngữ 54
1.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến xúc cảm tiêu cực trong hoạt động học tập của học sinh
tiểu học 57
Tiểu kết Chương 1 61
CHƯƠNG 2.TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU BIỂU HIỆN XÚC CẢM TIÊU CỰC TRONG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC 63
2.1 Tổ chức nghiên cứu 63
2.2 Phương pháp nghiên cứu 69
2.3 Tiêu chí đánh giá và thang đánh giá 73
Tiểu kết Chương 2 77
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU BIỂU HIỆN XÚC CẢM TIÊU CỰC TRONG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC 78
3.1 Thực trạng biểu hiện xúc cảm tiêu cực trong hoạt động học tập của học sinh tiểu học78 3.1.1 Kết quả tổng hợp về biểu hiện xúc cảm tiêu cực trong hoạt động học tập qua hành vi ngôn ngữ và hành vi phi ngôn ngữ của học sinh tiểu học 78 3.1.2 So sánh những biểu hiện xúc cảm tiêu cực trong hoạt động học tập qua hành vi ngôn ngữ và hành vi phi ngôn ngữ theo khách thể nghiên cứu 89 3.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến biểu hiện xúc cảm tiêu cực trong hoạt động học tập của học sinh tiểu học 103
3.3 Nghiên cứu điển hình về biểu hiện xúc cảm tiêu cực trong hoạt động học tập của học sinh tiểu học 111
3.4 Một số biện pháp tâm lý- giáo dục hạn chế xúc cảm tiêu cực trong hoạt động học tập ở học sinh đầu tiểu học 117
Tiểu kết Chương 3 135 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 137
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ 141
TÀI LIỆU THAM KHẢO 142
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ
Bảng 2.1 Đặc điểm khách thể nghiên cứu là học sinh (lớp 1 và lớp 2) 67
Bảng 2.2 Các nhóm điểm của thang đo trong bảng hỏi dành cho GV
và PHHS lớp 1 và lớp 2
75
Bảng 3.4 Nguyên nhân gây ra những biểu hiện xúc cảm tiêu cực trong
hoạt động học tập của học sinh tiểu học
82
và HS nữ (theo kết quả quan sát trên HS)
94
Bảng 3.9 XCTC trong HĐHT qua hành vi ngôn ngữ của HS ngoại
thành và HS nội thành (theo kết quả quan sát trên HS) 95
Bảng 3.10 XCTC trong HĐHT qua hành vi phi ngôn ngữ của HS ngoại
thành và HS nội thành (theo kết quả quan sát trên HS) 96
Bảng 3.11 So sánh các mặt biểu hiện XCTC trong HĐHT của HS ở Hà
Nội và Đà Nẵng (theo kết quả quan sát trên HS)
98
Trang 8Bảng 3.12 So sánh các mặt biểu hiện XCTC trong HĐHT của HS theo
kết quả học môn Toán và Tiếng Việt (kết quả quan sát trênHS)
101
Bảng 3.13 Nhóm yếu tố ảnh hưởng đến biểu hiện XCTC trong HĐHT
Bảng 3.14 Những yếu tố ảnh hưởng đến biểu hiện XCTC trong HĐHT
Bảng 3.15 Mối tương quan giữa các nhóm yếu tố với biểu hiện XCTC
trong HĐHT của HSTH
110
Bảng 3.16 Các câu trả lời phản hồi của người lớn thích hợp với các cấp
Trang 9DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
HS (lớp 1 và lớp 2) tiểu học theo ý kiến của GV
74
HS (lớp 1 và lớp 2) tiểu học theo ý kiến của PHHS
74
HS (lớp 1 và lớp 2) tiểu học theo kết quả quan sát HS 76
Biểu đồ 3.2 Mức độ các khía cạnh biểu hiện XCTC trong HĐHT của
HSTH (theo kết quả quan sát trên HS, ý kiến đánh giácủa GV và PHHS)
79
HS nữ (theo kết quả quan sát trên HS)
92
Biểu đồ 3.5 Mức độ biểu hiện XCTC trong HĐHT của HS ngoại
thành và HS nội thành (theo kết quả quan sát trên HS)
95
Biểu đồ 3.6 Mức độ biểu hiện XCTC trong HĐHT của HS ở gia đình
có hoàn cảnh kinh tế khác nhau (theo kết quả quan sáttrên HS)
99
Biểu đồ 3.7 Mức độ biểu hiện XCTC trong HĐHT của HS ở gia đình
có mô hình khác nhau (theo kết quả quan sát trên HS) 100
Trang 11có ý nghĩa hình thành cơ sở ban đầu cho sự phát triển toàn diện nhân cách của trẻ
em trong tương lai
Xúc cảm là một mặt quan trọng trong đời sống tâm lý nói chung và nhân cách của học sinh tiểu học nói riêng Trẻ em ngày nay đã khác trước rất nhiều Giờ đây
đã có đủ cơ sở để nói đến sự gia tốc sinh học, sự gia tốc tâm lý và sự gia tốc xã hội.Tuy nhiên, sự biến đổi xã hội diễn ra nhanh chóng khiến cho trẻ em ngày naythường xuyên phải đối mặt với những tình huống mới lạ, bất ngờ, mà đối với chúngthì đó là các khó khăn Cách thức ứng xử trong các tình huống đó sẽ để lại nhữngdấu ấn có tác động tích cực hay tiêu cực đến sự phát triển nhân cách sau này của trẻ.Kết quả của nhiều nghiên cứu xã hội học, giáo dục học, tâm lý học gần gây đã chothấy sự gia tăng các hiện tượng tiêu cực ở trẻ em như: bạo lực, hành vi xâm kích,biểu hiện trầm cảm … với độ tuổi xuất hiện lần đầu ngày càng giảm xuống Trẻ emhiện nay có xu hướng dễ cô đơn, dễ chán nản, dễ cáu giận và ương bướng hơn.Chúng cũng hay bị căng thẳng, lo lắng, bốc đồng và dễ gây hấn hơn [dẫn theo 41].Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho thấy, tỷ lệ trẻ em ở lứa tuổi họcđường có dấu hiệu rối nhiễu tâm lý chiếm hơn 20% tập trung nhiều vào các biểuhiện như lo âu, sợ hãi, trầm cảm Phụ huynh được chọn nghiên cứu thấy có con của
họ có 27,4% những rối loạn trong kì thi như đau đầu, mất ngủ, mệt mỏi [24]
Xúc cảm là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến kết quả học tập của học
Trang 12sinh, đặc biệt đối với học sinh tiểu học Một số nghiên cứu gần đây cho thấy: Học
sinh thường có biểu hiện “căng thẳng” (47%), “lo lắng” (39,5%), “hay hờn dỗi,khóc” (32,4% ở HS khối lớp 1), “cáu giận”(39,9%) hoặc “chán nản” (39,3%)trong học tập và có khó khăn trong việc kiềm chế xúc cảm Do trải nghiệm thấtbại trong học tập, khó khăn trong mối quan hệ với thầy cô, gia đình, bạn bè làmgia tăng ở học sinh những xúc cảm tiêu cực, điều này có ảnh hưởng trực tiếp đếnkết quả học tập và sự phát triển nhân cách của trẻ [4,5,6,7,12,15] Đúng nhưKaren Stone McCown khẳng định: “Cuộc sống xúc cảm của trẻ có ảnh hưởng lớntới việc học tập của chúng Phải khỏe về xúc cảm cũng giống như phải giỏi vềmôn Toán hay môn Văn vậy” [10] và Schutz và Lanehart (2002) đã viết khi đề
cập đến một vấn đề đặc biệt của xúc cảm trong giáo dục: "Xúc cảm liên quan mật
thiết đến hầu như mọi khía cạnh của quá trình giảng dạy và học tập, do đó, sự hiểubiết về bản chất của xúc cảm trong bối cảnh trường học là rất cần thiết" [101].Nhằm nâng cao hiệu quả học tập và chất lượng giáo dục ở tiểu học, đã cónhững công trình nghiên cứu chuyên sâu để rà soát, xác định những khó khăn củahọc sinh trong hoạt động học tập, tìm hiểu nguyên nhân và có các biện pháp dạyhọc và giáo dục nhằm khắc phục tình trạng trên Những nghiên cứu này thường chútrọng về giáo dục những phẩm chất cụ thể hoặc phương pháp giảng dạy những mônhọc cụ thể Tuy kết quả học tập và chất lượng giáo dục do nhiều yếu tố tác động,nhưng đối với cấp Tiểu học, yếu tố quan trọng nhất tác động đến chúng là xúc cảmcủa trẻ mà điều này ít được nghiên cứu ở Việt Nam có thể vì điều kiện hạn chế (như
kinh phí, thời gian, phương tiện kĩ thuật, sự kiên nhẫn…)
Tóm lại, xúc cảm là mặt quan trọng của nhân cách, phát triển xúc cảm tích cựctạo một nền tảng vững chắc cho sự phát triển của trẻ Ngược lại, nếu để rơi vào tìnhtrạng trầm cảm, căng thẳng, rối loạn tâm lý,… hậu quả để lại cho trẻ những dấu ấnnghiêm trọng có ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ, đồng thời cũng gây ra những
lo lắng, bức xúc trong xã hội Từ những ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn như
trên, đề tài “Nghiên cứu những biểu hiện xúc cảm tiêu cực trong hoạt động học tập
của học sinh tiểu học” đã được lựa chọn nghiên cứu
Trang 132 Mục đích nghiên cứu
Phát hiện thực trạng biểu hiện xúc cảm tiêu cực (XCTC) trong hoạt động họctập (HĐHT) của học sinh tiểu học (HSTH), trên cơ sở đó, đề xuất một số biện pháptâm lý- giáo dục hạn chế XCTC trong HĐHT ở HSTH
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Xây dựng cơ sở lý luận nghiên cứu biểu hiện XCTC trong HĐHT củaHSTH
3.2 Xác định thực trạng biểu hiện và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến biểuhiện xúc cảm tiêu cực của học sinh lớp 1 và lớp 2 ở giờ học trên lớp
3.3 Đề xuất một số biện pháp tâm lý- giáo dục hạn chế XCTC trong HĐHT ởhọc sinh đầu tiểu học
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Mức độ biểu hiện xúc cảm tiêu cực trong hoạt động học tập của học sinh đầutiểu học
4.2.Khách thể nghiên cứu: Khách thể nghiên cứu gồm 480 học sinh (HS) khối lớp 1
và lớp 2; 480 phụ huynh học sinh (PHHS) là cha mẹ của chính HS được nghiên cứu và
125 giáo viên (GV) đang giảng dạy HS ở các khối lớp 1 và 2 được nghiên cứu
5 Phạm vi nghiên cứu
5.1 Giới hạn về khách thể nghiên cứu
- Đề tài chỉ chọn nghiên cứu trên HS, GV và PHHS lớp 1 và lớp 2 ở 12 trườngTiểu học trong khu vực nội thành và ngoại thành thuộc địa bàn thành phố Hà Nội và
Đà Nẵng,vì đây là khối lớp rất quan trọng, trẻ vừa bước vào trường phổ thông, cónhiều vấn đề nhất về xúc cảm trong các khối lớp ở cấp tiểu học, nên chúng tôi lựachọn học sinh ở 2 khối này để nghiên cứu
- Đề tài chỉ chọn nghiên cứu trên HS phát triển bình thường (thể chất, tâmlý ) và đang theo học ở trong các trường tiểu học
5.2 Giới hạn về đối tượng nghiên cứu
+ Chỉ nghiên cứu những biểu hiện XCTC của HS lớp 1 và lớp 2 trong học tập ở
Trang 14giờ học trên lớp.
+ Chỉ nghiên cứu những biểu hiện ra bên ngoài của XCTC qua 2 hình thức: hành
vi phi ngôn ngữ (khuôn mặt, cử chỉ, điệu bộ) và hành vi ngôn ngữ
+ Chỉ nghiên cứu các khía cạnh tâm lý của xúc cảm tiêu cực (không nghiên cứukhía cạnh sinh lý của xúc cảm tiêu cực)
+ Chỉ đề xuất kiến nghị biện pháp chứ không tổ chức thực nghiệm biện pháp
5.3 Thời gian nghiên cứu: từ năm 2009 đến năm 2013
6 Giả thuyết khoa học
Những biểu hiện XCTC trong HĐHT của HSTH ở giờ học trên lớp được thểhiện khá rõ qua hành vi phi ngôn ngữ (khuôn mặt, cử chỉ, điệu bộ ) và hành vi ngônngữ Biểu hiện XCTC trong HĐHT của HSTH chịu ảnh hưởng bởi những yếu tốthuộc về bản thân HS (thể lực, tính cách, khí chất, ngôn ngữ, kinh nghiệm ứng xử,khả năng tiếp nhận, phẩm chất ý chí, ), thuộc về GV (cách ứng xử, phương pháp
và hình thức tổ chức giảng dạy, đánh giá, nội dung, thời lượng học tập ) và yếu tốthuộc về gia đình (mô hình gia đình, điều kiện kinh tế, sự quan tâm, cách ứng xửcủa cha mẹ với trẻ,…) Trong đó, yếu tố thuộc về giáo viên (cụ thể là ứng xử của giáoviên) có ảnh hưởng lớn nhất đến biểu hiện XCTC trong HĐHT của HSTH
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Hướng tiếp cận
- Tiếp cận hoạt động- nhân cách: Xúc cảm là thành phần cốt lõi của nhân
cách, theo nghĩa không thể tách rời quá trình động cơ hóa Biểu hiện của xúc cảmnằm trong hệ thống thái độ, hành vi như là những chỉ số của tính cách con ngườivới tư cách là một thuộc tính nhân cách Nguồn gốc của xúc cảm phụ thuộc vào thếgiới bên ngoài và bên trong chủ thể, xúc cảm nảy sinh và phát triển thông qua hoạtđộng Đối với HSTH, hoạt động học tập là hoạt động chủ đạo tạo ra cấu trúc tâm lýmới của nhân cách Vì thế, biểu hiện xúc cảm của HSTH được nghiên cứu thôngqua hoạt động thực tiễn của trẻ - hoạt động học tập Đề tài đánh giá thực trạng biểuhiện XCTC của HS thông qua các hoạt động trong giờ học ở trên lớp, các sản phẩmcủa hoạt động học tập, kết quả học tập của HS và nhận xét của GV, PHHS
Trang 15- Tiếp cận liên ngành: Xúc cảm là đối tượng nghiên cứu của Triết học, Sinh lý
học, Giáo dục học, Tâm lý học, Xã hội học, Tâm lý học thần kinh, Đạo đức học,Luật học Đề tài nghiên cứu biểu hiện XCTC trong HĐHT của HSTH, trong đónghiên cứu những biểu hiện XCTC có liên quan đến lứa tuổi, vì vậy đòi hỏi ngườinghiên cứu phải hiểu biết, có kiến thức của Tâm lý học nhân cách, Tâm lý học xúccảm và Tâm lý học phát triển Ngoài ra, để hạn chế XCTC trong HĐHT của HSTHcần đề xuất một số biện pháp tâm lý- giáo dục phù hợp, có nghĩa là sử dụng kết hợpkiến thức tâm lý giáo dục
7.2 Phương pháp nghiên cứu
7.2.1 Những phương pháp nghiên cứu lí luận
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu, văn bản
- Phương pháp chuyên gia
7.2.2 Những phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp điều tra viết
- Phương pháp phỏng vấn sâu
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình
- Phương pháp thống kê toán học
8 Đóng góp mới của luận án
8.1 Đóng góp về mặt lí luận
Luận án đã có những đóng góp mới về mặt lý luận như xác định rõ hơn kháiniệm xúc cảm tiêu cực, xúc cảm tiêu cực trong hoạt động học tập của học sinh tiểuhọc Danh mục gồm 18 biểu hiện XCTC trong HĐHT của HS lớp 1 và lớp 2 thểhiện qua hành vi ngôn ngữ và phi ngôn ngữ và các yếu tố ảnh hưởng đến nhữngbiểu hiện này Kết quả làm phong phú thêm lý luận về đặc điểm tâm lý- xúc cảmtrong hoạt động học tập của học sinh đầu tiểu học
8.2 Đóng góp về mặt thực tiễn
Luận án đã chỉ rõ được thực trạng mức độ biểu hiện XCTC trong HĐHT ở
Trang 16giờ học trên lớp qua hành vi ngôn ngữ và hành vi phi ngôn ngữ của học sinh tiểu học(lớp 1 và lớp 2), các yếu tố ảnh hưởng tới các biểu hiện này, đồng thời đề xuất 03biện pháp tâm lý - giáo dục khả thi trên cơ sở kế thừa và có bổ sung nhằm hạn chếXCTC trong HĐHT của HSTH Kết quả nghiên cứu của luận án có thể làm tài liệutham khảo để giảng dạy và học tập về xúc cảm của học sinh tiểu học trong cáctrường sư phạm và cho tất cả những đối tượng quan tâm ở nhà trường tiểu học (cán
bộ quản lý, giáo viên, phụ huynh học sinh)
9 Cấu trúc của luận án
- Danh mục công trình công bố
- Tài liệu tham khảo
- Phụ lục
Trang 171.1.1 Những nghiên cứu về xúc cảm tiêu cực của học sinh tiểu học ở nước ngoài
Trong lĩnh vực giáo dục, vấn đề nghiên cứu xúc cảm đã và đang thu hút nhiềucông trình nghiên cứu với quy mô khác nhau, cả trên bình diện lí luận lẫn trên bìnhdiện thực nghiệm Những nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực xúc cảm được thựchiện trên HS ở các cấp học khác nhau (từ trẻ mầm non đến HS trung học)
1.1.1.1.Những nghiên cứu về biểu hiện xúc cảm và xúc cảm tiêu cực trong hoạt động học tập ở nhà trường của học sinh
Năm 2000, tác giả Xinyin Chen (Trường Đại học Tây Ontario, Canada) và hu-li (Trường Đại học sư phạm Thượng Hải, Trung Quốc) đã công bố nghiên cứuthực hiện trong 2 năm về ảnh hưởng tâm trạng thất vọng tới sự thích ứng trường họccủa trẻ 12 tuổi ở Trung Quốc bằng phương pháp tự thuật, đánh giá của bạn bè, giáoviên và nghiên cứu hồ sơ Kết quả cho thấy, tâm trạng thất vọng của các em ổn địnhqua hai năm học Sự thất vọng có tác động âm tính tới kết quả học tập và tác độngdương tính tới khó khăn thích ứng của học sinh Các kết quả này gợi ý rằng, tâmtrạng thất vọng là một tín hiệu có ý nghĩa trong sự phát triển tâm lý- xã hội của trẻ
Bo-em Trung Quốc và vì vậy, nó đáng được các bậc cha mẹ, thầy, cô giáo và các nhàgiáo dục quan tâm [109]
Nghiên cứu điều tra mối quan hệ giữa khuynh hướng xúc cảm và thành tíchhọc tập của HS trung học Nội dung đánh giá gồm các yếu tố (a) năng lực học tập;(b) Các khuynh hướng xúc cảm và (c) các xúc cảm tiêu cực trải nghiệm trong cácnhiệm vụ liên quan đến trường học Kết quả nghiên cứu cho thấy vai trò hỗ trợ củayếu tố xúc cảm - xã hội là quan trọng nhất đối với thành tích học tập của HS chứ
Trang 18không phải là các mối quan hệ hay mục tiêu học tập [74]
Một nghiên cứu định tính cho thấy, HS trải nghiệm các xúc cảm đa dạng vàphong phú trong môi trường học tập Trong đó lo âu là biểu hiện xúc cảm thườngxuyên nhất trong học tập, nhưng nhìn chung, xúc cảm tích cực đã được biểu hiệnthường xuyên hơn so với các xúc cảm tiêu cực Ngoài ra, nghiên cứu định lượngdựa trên tự đánh giá của HS và sinh viên thông qua Bảng hỏi xúc cảm học tập(AEQ) cho thấy, HS trải nghiệm những xúc cảm học tập khác nhau, bao gồm thíchthú, hy vọng, tự hào, niềm tin, tức giận, lo lắng, xấu hổ, tuyệt vọng, và chán nản.Ngoài ra, các yếu tố như động cơ học tập, chiến lược học tập, nhận thức về nguồnvật liệu, tự điều chỉnh xúc cảm, thành tích học tập, cũng như tính cách và môitrường lớp học đều có ảnh hưởng đến xúc cảm học tập của HS [94]
Nghiên cứu kiểm tra tính ổn định và những thay đổi khác biệt cá nhân ở trẻ emtrong độ tuổi tiểu học về mức độ hiểu biết một số thành phần của xúc cảm bằngTrắc nghiệm Hiểu xúc cảm (TEC), theo tác giả Francisco Pons, Harris Paul L(2005), có sự không đồng đều về mức độ hiểu ở các thành phần khác nhau của xúccảm ở trẻ, sự khác biệt cá nhân về mức độ hiểu biết xúc cảm (đơn giản và phức tạp)
ở giai đoạn trước và sau thực nghiệm, tuy nhiên, sự hiểu biết này ở mỗi cá nhânmang tính ổn định [72]
Geunyoung Kim và cộng sự (2006) nghiên cứu vai trò của xúc cảm và điều
chỉnh hành vi bên ngoài của trẻ (từ lớp 3 đến lớp 6) Kết quả cho thấy, xúc cảm tiêucực, đặc biệt tức giận, luôn là một yếu tố quan trọng dự báo về các vấn đề hành vi ởtrẻ [75]
Nghiên cứu phân tích sự khác biệt giới tính về những biểu hiện xúc cảm của
HS lớp 5 trong môn toán dựa trên lý thuyết kiểm soát - giá trị của Pekrun (2000,2006) và sử dụng phương pháp tự báo cáo cho thấy, mặc dù nữ HS và nam HS đềunhận được điểm số môn Toán tương tự nhau, nhưng nữ HS tự đánh giá mức độthích thú và tự hào thấp hơn, trong khi mức độ lo âu, tuyệt vọng, xấu hổ lại cao hơncác HS nam Các phát hiện cho thấy rằng, nguyên nhân biểu hiện xúc cảm học toáncủa nữ HS là do sự tự ti và tự đánh giá về năng lực học toán thấp [95]
Trang 19Năm 2007, Hội đồng Nghiên cứu Giáo dục Úc thực hiện nghiên cứu nhằmđánh giá và phát triển các đặc điểm xúc cảm xã hội tích cực của HS (lứa tuổi trướctuổi học cho đến lớp 12) theo ngữ cảnh với các chương trình học khác nhau và hànhđộng tích cực của người lớn (cha mẹ/ GV) / bạn bè trong: (1) trường học, (2) giađình và (3) cộng đồng Kết quả nghiên cứu cho thấy: HS trải nghiệm khó khăn về
xúc cảm xã hội khác nhau Bảy trong mười HS nói rằng cảm thấy lo lắng Hai trong
mười HS nói em cảm thấy rất tuyệt vọng, chán nản và đã ngừng học trong một tuần.Một phần ba HS được nghiên cứu nói rằng, các em mất bình tĩnh khi bị người khácbắt nạt [91]
Một cách tiếp cận đa cấp đã được sử dụng trong nghiên cứu để phântích các mối quan hệ giữa môi trường lớp học và xúc cảm học toán của 1.623 HS từ
69 lớp học (lớp 5-10) Nghiên cứu cho thấy, bạn bè cùng lớp là một yếu tố quantrọng tác động đến xúc cảm học toán của HS Mức độ cạnh tranh, sự hỗ trợ bạn bètrong lớp học có ý nghĩa dự đoán xúc cảm học tập của HS [96]
Nghiên cứu của Stephen Nowicki & Marshall Duke về khả năng đồng cảm,được tiến hành trên HSTH đã xác nhận tính độc lập của sự đồng cảm đối với trí tuệhàn lâm thông qua mối tương quan giữa kết quả của trắc nghiệm PONS (do R.Rosenthal phác thảo) với kết quả thu được từ các trắc nghiệm trí thông minh, haykết quả của các kì thi trong trường Các HS thể hiện năng lực hiểu các xúc cảm nhờvào những tín hiệu không lời là những em yêu thích trường học và ổn định nhất vềmặt tâm lý; đó cũng là những em đạt được kết quả học tập tốt nhất, mặc dù mức trítuệ trung bình không cao hơn so với những em hiểu thông điệp không lời kém hơn.Kết quả này làm người ta nghĩ rằng việc làm chủ năng lực đồng cảm làm cho việchọc tập dễ dàng hơn, hoặc dễ thu hút sự yêu mến của các GV hơn [10,tr.178] Nhiều nghiên cứu khác đã cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa mức độ thiếukhả năng kiểm soát xúc cảm với các biểu hiện rối loạn hành vi khác nhau ở HS phổthông như: khuynh hướng sống thu mình lại, lo hãi và trầm cảm, thiếu tập trung, dễphạm tội và gây hấn Ví dụ, khi quan sát HSTH vào những ngày nhận học bạ, cácnhà nghiên cứu nhận thấy, những em nhận được điểm xấu hơn mong đợi thường có
Trang 20biểu hiện tâm lý nặng nề Những em tự nhận thấy bị điểm kém là do lỗi của bảnthân thường bị trầm cảm nhiều hơn so với những em cho rằng điều đó có thể sửađược Tương tự, nghiên cứu những HS bị bạn bè bỏ rơi cũng cho thấy mối tươngquan giữa cách suy nghĩ của trẻ với khuynh hướng trầm cảm của chúng: Những emcho rằng sự bỏ rơi đó là do lỗi của cá nhân mình thường dấn sâu vào sự trầm cảmhơn so với những em có suy nghĩ rằng mình có thể cải thiện được tình thế Cácquan sát lâu dài trên những HS này cũng cho thấy những bằng chứng về trầm cảmphát triển dần theo hướng trở thành một thái độ sống bi quan cùng với nhiều rốinhiễu hành vi khác khi đến tuổi trưởng thành (T Achenbach & Catherine Howell,Urie Bronfenbrenner, Judy Garber & cs ) [11].
Tiếp theo, các nghiên cứu mối quan hệ giữa trí tuệ xúc cảm (EI) và thành tíchhọc tập ở thanh thiếu niên Úc cho thấy: thành tích học tập tốt có mối tương quancao với tổng điểm EI; Cụ thể là có mối tương quan chặt giữa các thành tố của trắcnghiệm cho phép dự đoán kết quả học tập ở các môn học Nghiên cứu này đã đưa rakết luận: Sự phát triển của EI có thể cung cấp cơ hội lớn để cải thiện thành tích họctập và năng lực xúc cảm [86]
Goodfellow, Stephanie Nowicki, Stephen (2009) nghiên cứu mối quan hệ giữa
(a) khả năng nhận biết xúc cảm qua nét mặt và (b) năng lực xã hội và học tập ở trẻ
em độ tuổi tiểu học Kết quả nghiên cứu cho thấy, trẻ khó khăn trong việc xác địnhxúc cảm biểu hiện ở nét mặt có nhiều khả năng gặp khó khăn trong học tập và xãhội: cụ thể là khó khăn trong mối quan hệ với bạn bè ở các bé trai và khó khăn họctập ở bé gái Phát hiện cho thấy rằng kỹ năng tiếp thu không lời đóng một vai tròquan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội và hoạt động học tập của trẻ em[76]
Nghiên cứu trải nghiệm xúc cảm tại trường tiểu học, tác giả Francisco đề cậpđến xu hướng chính của nghiên cứu xúc cảm trong bối cảnh trường học và trình bàykết quả nghiên cứu khám phá đặc điểm trải nghiệm xúc cảm của HS liên quan đếncác hoạt động học tập khác nhau (trong khi học ở trên lớp, ở hoạt động nhóm/ làmbài tập, và trong thời gian thi/ kiểm tra) và mối liên hệ giữa trải nghiệm xúc cảm
Trang 21của trẻ (từ 8 và 11 tuổi) ở các môn học cụ thể [73].
Một hướng nghiên cứu khác nhằm xác định mối liên hệ giữa năng lực xúc cảm
xã hội và kỹ năng chú ý ở trẻ trước tuổi học với thành tích học tập của các em ở đầubậc tiểu học Kết quả chỉ ra rằng sự chú ý trong lớp mẫu giáo đóng vai trò quantrọng trong học tập ở trẻ, ngay cả sau khi chịu ảnh hưởng của giáo dục gia đình, thunhập gia đình, độ tuổi, giới tính, và kỹ năng tiếp thu từ vựng của trẻ Những pháthiện của nghiên cứu đã cung cấp hỗ trợ cho việc thực hiện các chương trình dựphòng, tập trung vào phát triển xúc cảm xã hội và phát triển chú ý với tư cách làmột chiến lược để cải thiện thành tích học tập ở trẻ nhỏ trong tương lai [97]
Tóm lại, qua các nghiên cứu cho thấy, có những xúc cảm tiêu cực (tức giận, lo lắng, xấu hổ, thất vọng, và chán nản) trong HĐHT của HSTH Những biểu hiện XCTC này nảy sinh do nhiều nguyên nhân từ phía bản thân HS (tính cách, tự đánh giá của bản thân, động cơ, chiến lược học tập, khả năng tự điều chỉnh xúc cảm) và môi trường lớp học
1.1.1.2 Nghiên cứu xây dựng các công cụ đánh giá xúc cảm, xúc cảm tiêu cực dành cho học sinh
Một biện pháp tự báo cáo đa chiều của xúc cảm ở trẻ em từ 8 - 12 tuổi “Tôicảm thấy như thế nào?" (HIF) được Tedra A Walden, Vicki S Harris và Thomas F
Catron (2003) xây dựng với một mô hình 3 yếu tố, bao gồm các tần số và cường độ
của: a/ “Xúc cảm tích cực”; b/ “Xúc cảm tiêu cực”; c/ “Kiểm soát xúc cảm tích cực
và tiêu cực” Kết quả thử nghiệm cho thấy giá trị trung bình ổn định theo chiều dọccho 120 trẻ em trong 2 năm Thang đo HIF có thể hữu ích trong việc tìm hiểu giữakích thích và điều chỉnh xúc cảm xã hội ở trẻ em tuổi đi học [104]
Tuy nhiên, rất hiếm các công cụ để đánh giá điều chỉnh xúc cảm trong suốt
thời thơ ấu và những năm giữa vị thành niên C.S Meyer đã xây dựng Thang tự
đánh giá điều chỉnh xúc cảm dành cho trẻ em và thanh thiếu niên (Emotion
Regulation Index for Children and Adolescents - ERICA) Cấu trúc của thang đánhgiá gồm 3 yếu tố: (1) kiểm soát xúc cảm , (2) tự nhận thức xúc cảm và (3) Phản ứngtình huống Ngoài ra, để giải quyết tình trạng thiếu các biện pháp thích hợp để đánh
Trang 22giá năng lực xúc cảm xã hội của trẻ em, Meyer và cộng sự đã xây dựng tiểu Thang
đo năng lực xúc cảm xã hội (Social-Emotional Competence Scale - IDS-SEK) gồm
4 thành tố:Nhận dạng xúc cảm (EE); Điều chỉnh xúc cảm (ER); Hiểu biết về cáctình huống xã hội (SV), và năng lực hoạt động xã hội (SH) Kết quả của nghiên cứucho thấy thang đo rất thích hợp để đo lường khả năng và sự thiếu hụt trong lĩnh vực
xã hội, tình cảm một cách đa chiều và có thể được sử dụng như là cơ sở của các can
thiệp cụ thể [89]
Nghiên cứu thích nghi Thang đánh giá xúc cảm học tập (Academic EmotionsQuestionnaire -AEQ) (Pekrun, Goetz, Perry, 2005) dành cho HS ở Philippines.Thang đo xúc cảm học tập được cấu trúc gồm 8 xúc cảm trong bối cảnh học tập: tứcgiận, lo lắng, chán nản, thích thú, hy vọng, tuyệt vọng, tự hào và xấu hổ Kết quả đãkhẳng định độ tin cậy và tính hiệu lực của thang đo Kết quả phân tích các yếu tốcho thấy, tức giận và lo lắng là 2 yếu tố có biểu hiện ở mức độ cao hơn trong 8 yếu
tố được đo Việc đo lường những gì HS cảm thấy trong lớp học có thể cung cấpthông tin có giá trị cho GV và cán bộ quản lý trường học do xúc cảm có ảnh hưởnglớn đến kết quả học tập của HS ở lớp học [99]
Nhìn chung, ở nước ngoài đã có những công cụ đánh giá tần số và cường độ của xúc cảm nói chung, XCTC nói riêng dành cho HSTH trong bối cảnh học tập ở nhà trường, đề tài có thể nghiên cứu và tham khảo trong nghiên cứu biểu hiện XCTC trong HĐHT của HSTH Việt Nam
1.1.1.3 Nghiên cứu xây dựng Chương trình giáo dục xúc cảm dành cho học sinh
Một lĩnh vực quan trọng khác trong nghiên cứu xúc cảm là xây dựng, triển khaimột số chương trình giáo dục xúc cảm hiệu quả cho HS Nhiều chương trình chuyênbiệt đã được xây dựng nhằm thay đổi hành vi rối nhiễu ở HS như: trầm cảm, rốiloạn ăn uống, bị bạn bè bỏ rơi, bỏ học, lạm dụng các chất kích thích (rượu, matúy…), gây hấn…Hiệp hội Nghiên cứu xúc cảm và xã hội tại trường Đại họcIllinois cho biết, hiện nay có nhiều chương trình rèn luyện trí tuệ xúc cảm đangđược hàng ngàn trường học ở Mĩ sử dụng Tương tự, có nhiều chương trình rènluyện kỹ năng kiểm soát xúc cảm đang được giảng dạy trong các trường ở khắp nơi
Trang 23trên thế giới Kết quả cho thấy, nhiều chương trình tỏ ra rất khả quan trong việc tăngcường các xúc cảm tích cực và hạn chế những biểu hiện xúc cảm tiêu cực, từ đó gópphần làm giảm thiểu các hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội ở trẻ em (như PATHSCurriculum; SESVP hay RRL….).
Chương trình SEL (Social emotional learning) được thiết kế để dạy HS kỹnăng xúc cảm- xã hội (Ratnesar, 1997), chủ yếu tập trung vào nhận thức xúc cảm,
kỹ năng xã hội và giải quyết vấn đề giữa các cá nhân Trong chương trình này, GVgiúp HS nâng cao hiểu biết xúc cảm của họ bằng cách dạy các kỹ năng giao tiếp phingôn ngữ (với 6 lĩnh vực: giai điệu âm thanh/ giọng nói, nét mặt, tư thế và cử chỉ,khoảng cách (không gian) giữa các cá nhân, nhịp điệu, thời gian, và phong cách) vàhuấn luyện xúc cảm (nhận biết xúc cảm của mình và của người khác, đọc và thểhiện xúc cảm thông qua kỹ năng giao tiếp phi ngôn ngữ); dạy kỹ năng xã hội (baogồm kỹ năng kết bạn và duy trì tình bạn, chia sẻ và làm việc hợp tác, kỹ năng làmhài lòng GV, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng đàm thoại, kỹ năng ra quyết định) và kỹnăng giải quyết vấn đề [71]
Trong cuốn sách "Teaching Social Emotional Skills at School and Home",
Linda K Elksnin cung cấp cho GV và phụ huynh các chiến lược giảng dạy pháttriển năng lực xúc cảm - xã hội cho trẻ em và thanh thiếu niên Tác giả hướng dẫncác phương pháp làm thế nào để dạy các kỹ năng xã hội-xúc cảm cho cá nhân HS,lớp học, toàn trường, bằng cách tích hợp trong chương trình giảng dạy học tập ở nhàtrường và gia đình, giúp trẻ hiểu và biết cách điều chỉnh xúc cảm, thiết lập và duytrì tình bạn, giải quyết các vấn đề xã hội và thành công trong trường học [85]
Gayle L Macklem đề cập đến các biện pháp can thiệp rất hữu ích nhằm phát
triển kỹ năng điều chỉnh xúc cảm ở trẻ gồm: giảm căng thẳng, dạy xúc cảm, môhình hóa, và giảng dạy trực tiếp các kỹ năng ứng phó Một số các chiến lược thíchứng được đưa ra là: lạc quan, giải quyết vấn đề, tiếp cận một cách tích cực, vàkhách quan Liệu pháp hành vi nhận thức (CBT) là một biện pháp can thiệp để cảithiện kỹ năng tự điều chỉnh xúc cảm ở trẻ [87]
Chương trình ('Learn Young, Learn Fair) giúp quản lý, ứng phó với căng thẳng
Trang 24lo lắng và trầm cảm ở trẻ lớp 5 và lớp 6 của Kraag, G (2009) Kết quả thực nghiệmcho thấy, sau khi điều chỉnh xúc cảm bằng nhận thức, có sự suy giảm đáng kể cáctriệu chứng căng thẳng và lo lắng ở HS Đây là một chương trình có giá trị để giảm
căng thẳng ở trẻ em [82]
Betty Rudd đã xây dựng nội dung và chương trình trợ giúp phát triển xúc cảmdành cho trẻ từ 4 đến 19 tuổi Tác giả đã thiết kế các hoạt động phù hợp với các giaiđoạn phát triển xúc cảm, dựa trên cơ sở lý thuyết và các kết quả nghiên cứu về xúccảm Chương trình phát triển xúc cảm được thiết kế linh hoạt, có tác động hỗ trợ và
phục hồi xúc cảm hiệu quả [64]
Tác giả Csóti, Márianna cung cấp các chiến lược phát triển các kỹ năng xúccảm- xã hội cho HS cả trong lớp học và trong nhà trường trong cuốn sách
“Developing Children's Social, Emotional and Behavioural Skills” Nội dung củacuốn sách đề cập đến các vấn đề: Tự nhận thức; Giao tiếp xã hội; Tương tác vớingười khác; Kỹ năng kết bạn; Kỹ năng quyết đoán và tự bảo vệ; Quản lý lo lắng vàtrầm cảm; Đối phó với sự thay đổi [67]
Chương trình Giáo dục xúc cảm PATHS (Promoting Alternative ThinkingStrategy) được Domitrovich, Greenberg, Cortes và Kusche phát triển các kỹ năngxúc cảm (xác định xúc cảm, hiểu xúc cảm và biểu hiện của xúc cảm) dành cho trẻ 6tuổi Kết quả thực nghiệm cho thấy, sau khi học Chương trình giảng dạy xúc cảm,
kỹ năng xúc cảm đã gia tăng ở một mức độ đáng kể và có tác dụng lâu dài về kỹnăng xúc cảm của trẻ em [100]
Bộ Giáo dục Anh đã giao nhiệm vụ cho GV các trường tiểu học phải phát triểncác kỹ năng xã hội và xúc cảm cho HS Chương trình dạy kỹ năng xúc cảm đã đượctriển khai đến 20.000 trường tiểu học thuộc 25 vùng ở nước Anh Trong mỗi nộidung giảng dạy của chương trình, HS sẽ được cổ vũ, khích lệ nói về những xúc cảmcủa các em và chơi một trò chơi "Hãy đoán xem mình đang cảm thấy điều gì?" HSđược dạy về cách đánh giá, ước lượng mức độ xúc cảm của mình và cách điềukhiển, chế ngự các xúc cảm của bản thân Chương trình thực sự quan trọng, đãhướng dẫn cho các em cách sống và cách biểu hiện những xúc cảm của mình
Trang 25Tóm lại, các công trình nghiên cứu về xúc cảm của HSTH ở nước ngoài khá đa dạng Các tác giả đã tiến hành các nghiên cứu theo các khía cạnh khác nhau của xúc cảm, xúc cảm tiêu cực trong nhà trường; đã thiết kế công cụ đánh giá xúc cảm, xúc cảm trong học tập; triển khai nghiên cứu thực trạng biểu hiện xúc cảm, XCTC trong bối cảnh nhà trường và xây dựng những chương trình giáo dục xúc cảm để cải thiện các kỹ năng xúc cảm của trẻ em Đề tài có thể kế thừa, học tập và phát triển các kết quả này vào nghiên cứu của mình
1.1.2 Những nghiên cứu về xúc cảm tiêu cực trong hoạt động học tập của học sinh ở Việt Nam
1.1.2.1.Những nghiên cứu về biểu hiện xúc cảm và xúc cảm tiêu cực trong hoạt động học tập ở nhà trường của học sinh
Ở Việt Nam, những cơ sở lý luận của xúc cảm (khái niệm, đặc điểm, quy luật)
và các đặc điểm xúc cảm của HSTH đã được một số tác giả như Phạm Minh Hạc,Trần Trọng Thủy, Nguyễn Quang Uẩn, Vũ Dũng, Nguyễn Văn Lũy, Bùi Văn Huệ,Phan Thị Hạnh Mai đề cập đến trong một số giáo trình [2], [13], [22], [47], [49],[56]
Trong nghiên cứu thực tiễn, ở Việt Nam tuy chưa có công trình nghiên cứuriêng về xúc cảm, XCTC trong HĐHT của HS, nhưng đã có một số công trình đềcập đến xúc cảm, XCTC như một khía cạnh trong những nghiên cứu về khó khănhọc tập, kỹ năng học tập, hứng thú học tập, động cơ học tập của HS [7], [15], [35].Công trình nghiên cứu của các tác giả Ngô Công Hoàn, Lê Thị Luận về biểuhiện xúc cảm ở trẻ với độ tuổi nhà trẻ, tuổi mẫu giáo đã cho thấy, mức độ nhận biếtcác loại xúc cảm ở bản thân cũng như ở người khác của trẻ còn thấp so với chuẩn,
và không đồng đều Trong đó, mức độ nhận biết xúc cảm của người khác thấp hơn
so với mức độ nhận biết xúc cảm của bản thân Từ đó, đã đề xuất các biện pháp tácđộng phù hợp để hướng dẫn cho trẻ biết nhận dạng chính xác các xúc cảm của bảnthân và của người khác, tạo điều kiện tối ưu hóa các mối quan hệ của trẻ [18], [29].Một hướng nghiên cứu khác, xúc cảm như động cơ học tập Kết quả nghiêncứu cho thấy, sự hứng thú học tập (yêu thích, say mê) ở HS lớp 1 và lớp 2 mới bước
Trang 26đầu được xuất hiện, nhìn chung không bền vững, còn mang tính tình huống rời rạc.Các em yêu thích, sung sướng vì được mang cặp sách mới, được học cô giáo mới,
có nhiều bạn, viết chữ đẹp, giải được bài toán Một số em khác lại sợ đến lớp, sợ hãikhi phải tiếp xúc với người lạ, sợ cô phạt… [54, tr.89-108]
Xúc cảm của HSTH trong hoạt động học tập khá đa dạng, bao gồm xúc cảmdương tính và xúc cảm âm tính Nghiên cứu hứng thú học tập của HS lớp 3 và lớp 4khi học môn Tiếng Việt cho thấy: HS có những biểu hiện thích học đọc, rất vui khiđọc và viết được bài thơ, bài văn hay Các em cảm thấy xúc động và khâm phục khiđọc các bài đọc có những tấm gương anh hùng bất khuất, cảm động, nhớ đến ông
bà, bố mẹ khi đọc các bài đọc với nội dung về quê hương, thích thú khi được họctheo nhóm, theo cặp đôi và tham gia các trò chơi HS không chỉ bộc lộ xúc cảmmãnh liệt đối với nội dung bài học, với hoạt động học tập hấp dẫn, mà còn rất yêuquý Cô giáo vì Cô dạy hay [4], [5], [6] Bên cạnh đó, HSTH (lớp 1, 3 và 5) cónhững khó khăn về mặt xúc cảm trong hoạt động học tập như: Lo lắng về hình ảnhbản thân trước mắt thầy/ cô giáo và bạn bè, sợ Cô giáo cho điểm thấp, Cô mắng, sợlàm bài không đúng, sợ bị Cô giáo và các bạn cười; lo sợ, rụt rè mỗi khi cô giáo gọilên bảng; cảm thấy căng thẳng; dễ cáu giận và chán nản, thất vọng khi gặp thất bạitrong học tập [7], [12], [14]
Kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Vui [59] và Phùng Thị Hằng [15]
về khó khăn học tập của HSTH là người dân tộc thiểu số (dân tộc Tày, Nùng,Mông, Dao, Cao Lan, Sán Chỉ, ) ở tỉnh Kon Tum và Thái Nguyên cho thấy: HSgặp khó khăn tâm lý trong học tập ở mức độ tương đối cao Những khó khăn tâm lýthể hiện ở nhận thức, kỹ năng học tập và đặc biệt là về xúc cảm (“lo sợ khi phải trảlời câu hỏi của GV”, “không thích thú với việc đến trường”, “chưa tích cực họctập”)
Kết quả nghiên cứu của các tác giả Phan Thị Mai Hương, Đào Thị Oanh vềxúc cảm của HS THCS cho thấy: Nhìn chung, trong cuộc sống, học sinh - thiếu niên
có biểu hiện xúc cảm tích cực là chủ yếu, tuy nhiên, ở các em, nhất là của học sinhnam có những biểu hiện XCTC như “thụ động”, “không muốn làm việc”, “không
Trang 27muốn động chân tay”, “đầu óc mụ mẫm”, “không tập trung được”… GV và cha mẹ
HS đều nhận thức được việc giáo dục xúc cảm cho HS là thực sự cần thiết nhưngcòn nhiều lúng túng trong các biện pháp giáo dục Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đếnkhả năng kiểm soát xúc cảm tiêu cực ở thiếu niên, trong đó có các đặc điểm nhâncách; hoàn cảnh hiện thực và sự ổn định tâm lý của con người [23], [38], [39] Các kết quả thu được trên HS Trung học về một số chỉ số phát triển tâm sinh lýcủa tác giả Trần Trọng Thủy, Nguyễn Huy Tú, Nguyễn Công Khanh và Trung tâmnghiên cứu Tâm lý học- Sinh lý lứa tuổi cho thấy điểm yếu của HS được nghiên cứuthể hiện rõ nét ở khả năng đồng cảm và khả năng kiểm soát xúc cảm của bản thân.Điều này đặt ra cho các nhà nghiên cứu và các nhà giáo dục sự tiếp tục quan tâmtìm ra những cách thức hiệu quả để giáo dục xúc cảm cho HS [26]
Điểm lại các công trình nghiên cứu cho thấy, một số biểu hiện của XCTC trong HĐHT của HSTH bao gồm: lo lắng về hình ảnh bản thân, sợ cô giáo, sợ bạn cười, dễ cáu giận và chán nản, thất vọng khi gặp thất bại trong học tập Đây sẽ là những gợi ý cho đề tài đi sâu tìm hiểu làm rõ hơn những biểu hiện và nguyên nhân gây ra XCTC trong HĐHT của HSTH
1.1.2.2.Nghiên cứu xây dựng và Việt hóa các công cụ đánh giá xúc cảm, xúc cảm tiêu cực dành cho học sinh
Ở Việt Nam, đánh giá xúc cảm trong học tập của HS vẫn chưa có một công cụriêng biệt Khía cạnh thái độ xúc cảm của HS được thiết kế như một nội dung đánhgiá của bảng hỏi, bảng phỏng vấn sâu hoặc phiếu quan sát giờ học [12], [15], [14].Trong khuôn khổ chương trình khoa học cấp Nhà nước KX-05, các tác giảTrần Trọng Thủy, Lê Đức Phúc, Nguyễn Huy Tú, Nguyễn Công Khanh đã Việt hóa
bộ công cụ MSCEIT, trong đó có tiểu thang đo đánh giá khả năng nhận thức, đánhgiá và biểu hiện xúc cảm Công cụ này đã được nhiều nhà nghiên cứu ở Việt Nam
sử dụng để đánh giá xúc cảm và trí tuệ xúc cảm ở HS, sinh viên và người trưởng thành [8], [21], [28], [55], [62]
Trong nghiên cứu về biểu hiện xúc cảm và kỹ năng đương đầu với xúc cảmtiêu cực của thiếu niên, tác giả Đào Thị Oanh đã sử dụng một số trắc nghiệm đã
Trang 28từng được dùng ở Việt Nam vào việc đánh giá biểu hiện xúc cảm tiêu cực của trẻ Cụthể là trắc nghiệm CAH của Nga, trắc nghiệm Corners của Mỹ và mẫu đánh giá củaK.K Platônốp và Dinchencô nhằm đánh giá các phản ứng xúc cảm và các trạng tháibiểu hiện ở HS trong giờ học và khi vui chơi [38], [50], [51]
Tác giả Dương Thị Hoàng Yến trên cơ sở vận dụng kết quả nghiên cứu xúc cảmcủa các tác giả Mỹ và lý luận về giáo dục nhân cách của HSTH đã xây dựng 8 tìnhhuống để yêu cầu HS lớp 4 mô tả những xúc cảm, hành vi thường xảy ra trong hoạtđộng trong cuộc sống hằng ngày [62]
Tóm lại, đề tài có thể nghiên cứu các công cụ đánh giá xúc cảm đã được Việt hóa và sử dụng tại Việt Nam để tham khảo và thiết kế bộ công cụ nghiên cứu những biểu hiện XCTC trong HĐHT của HSTH.
1.1.2.3.Nghiên cứu biện pháp hạn chế xúc cảm tiêu cực và xây dựng chương trình giáo dục xúc cảm dành cho học sinh
Xuất phát từ việc chuyển dạng hoạt động chủ đạo và những đặc điểm tâm sinh
lý của HS lớp 1, 2, các cán bộ nghiên cứu của Trung tâm Tâm lý học- Sinh lý lứatuổi đã đưa ra một vài con đường hình thành động cơ, hứng thú học tập cho các emnhư: Tổ chức hoạt động học tập dưới dạng “Học mà chơi, chơi mà học”; GV độngviên, khen ngợi HS liên tục trong mỗi tiết học; Trên cơ sở những nguyên tắc, quyđịnh đã thống nhất với học sinh để xây dựng nền nếp học tập ở lớp, ở nhà cho cácem; GV phối hợp cùng với phụ huynh thường xuyên theo dõi, kiểm tra việc thựchiện của các em [52, tr.89-108]
Trong luận án tiến sĩ “Ảnh hưởng của xúc cảm đối với hoạt động tư duy”, NgôCông Hoàn (1984) bằng thực nghiệm khoa học đã chứng minh: Dưới tác động của lờikhen, sự động viên… (xúc cảm tích cực) nghiệm thể (sinh viên) giải các bài tập có mức
độ khó khác nhau cho kết quả cao hơn, so với kết quả tác động bởi sự chỉ trích…(những xúc cảm tiêu cực) Hiệu quả bài tập thấp nhất khi không có những tác động xúccảm từ phía nhà nghiên cứu đối với nghiệm thể Như vậy, dưới tác động hợp lý các xúccảm tích cực, hiệu quả giải bài tập đều cao hơn, so với khi không có những tác động gì(im lặng để HS tự giải bài tập với các mức độ khác nhau) [16], [17]
Trang 29Một chương trình rèn luyện kỹ năng điều khiển xúc cảm cho HS THCS đãđược đề xuất với mục tiêu giúp các em nhận thức được trạng thái xúc cảm hiện tạicủa bản thân và của người khác; Kỹ năng tạo ra các neo xúc cảm tích cực; Loại bỏcác neo xúc cảm tiêu cực, thay thế bằng neo xúc cảm tích cực và kỹ năng thay đổingay tức thì xúc cảm hiện tại ở bản thân [36], [42].
Theo tác giả Lê Khanh và Dương Thị Hoàng Yến, giáo dục xúc cảm cho trẻcần tiến hành ngay từ tuổi thơ trong cuộc sống gia đình: những bài học hữu hiệunhất là do bố mẹ dạy cho Hiệu quả giáo dục về mặt xúc cảm- tình cảm của cha mẹhoàn toàn tùy thuộc vào chỗ họ hiểu và đáp ứng được nhu cầu phát triển của con,hòa hợp được với con bằng sự quan tâm và tình thương yêu vô hạn, hay trái lại,không biết đến và cũng không quan tâm đến nhu cầu ấy, chỉ biết quát tháo, đánhđập, đối xử với con một cách tùy tiện tùy theo tâm trạng từng lúc của mình [27],[61]
Một hướng nghiên cứu khác, tác giả Tạ Thị Ngọc Thanh, HS ngay từ tiểuhọc cần được học tập, rèn luyện những kỹ năng xã hội để cùng chung sống với mọingười và phát triển tốt nhất các khả năng của mình để thành đạt trong cuộc sống.Các kỹ năng cần dạy cho HS gồm: kỹ năng tiếp xúc cơ bản (cười, tiếp xúc bằngmắt, lắng nghe), kỹ năng tham gia/ tiếp cận, kỹ năng duy trì quan hệ (chia sẻ,chuyển hướng, hợp tác), kỹ năng kết bạn (bày tỏ cảm xúc, ra quyết định…), kỹnăng giải quyết xung đột, kỹ năng thấu/ đồng cảm, kỹ năng thông tin về nhu cầu và
ý tưởng; kỹ năng giữ kiên định Có thể dạy kỹ năng xã hội cho HS ở gia đình (quatấm gương của cha mẹ, trò chuyện, động viên khuyến khích, dạy trẻ trong các tìnhhuống xã hội…) và ở nhà trường theo quy trình gồm các bước (thảo luận, lựa chọn
kỹ năng để dạy, dạy kỹ năng, thực hành kỹ năng, ngừng lại và xem xét, xem xét vàphản ánh) [48]
Để điều chỉnh xúc cảm không mong muốn ở HS THCS, tác giả Võ ThịTường Vy, Nguyễn Phan Chiêu Anh đề xuất một số giải pháp nghiên về xu hướnghành động (như: sinh hoạt ngoài giờ, thể dục, văn nghệ, chia sẻ xúc cảm với bạn,…)nhằm giúp các em giải tỏa, chuyển đổi hoặc tạo ra xúc cảm mới phù hợp [60]
Trang 30Gần đây, một số trường tiểu học đã mở các lớp giáo dục kỹ năng sống choHSTH như trường Hoàng Gia đã mở Chương trình phát triển trí tuệ cảm xúc dànhcho độ tuổi từ 5 - 6 tuổi với mục tiêu giúp trẻ nhạy cảm hơn với những cảm xúc củamình và của người khác; Hiểu được ý nghĩa của cảm xúc của ngôn ngữ và ngôn ngữ
cơ thể; Nhạy cảm với những xúc cảm phức tạp trong giao tiếp hằng ngày; Hìnhthành cái nhìn lạc quan, cách suy nghĩ tích cực về các sự vật, hiện tượng, giúp tíchcực hóa tư duy; Biết thể hiện, kiềm chế cảm xúc của mình phù hợp với ngữ cảnh vàđối tượng giao tiếp Sử dụng các phương pháp trải nghiệm, tương tác, tích cực khámphá nhằm phát huy tiềm năng tối đa, tính tích cực của HS thông qua trò chơi, hoạtđộng nhóm
Tóm lại, các nghiên cứu về xúc cảm, xúc cảm trong hoạt động học tập của HS
đã được triển khai ở Việt Nam nhưng chưa nhiều và chưa toàn diện Những công trình này chủ yếu nghiên cứu lý luận, thích nghi một số công cụ đánh giá của nước ngoài, tìm hiểu thực trạng biểu hiện xúc cảm ở trẻ mầm non và HS cấp trung học
cơ sở, từ đó đề xuất một số biện pháp và khung chương trình rèn luyện xúc cảm như một nội dung của kỹ năng sống Các nghiên cứu này đã có những khai phá bước đầu trong một lĩnh vực mới mẻ song đầy triển vọng, tuy nhiên cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu về biểu hiện XCTC trong HĐHT của HSTH
1.2 Xúc cảm
Khái niệm xúc cảm sẽ được hiểu rõ và sâu sắc hơn nếu điểm qua một số quanđiểm lí luận về vấn đề xúc cảm và nghiên cứu xúc cảm Sau đây sẽ trình bày một sốquan điểm lí luận cơ bản đó
1.2.1 Một số quan điểm tiếp cận nghiên cứu về xúc cảm
* Cách tiếp cận phát sinh chủng loại
Cơ sở xuất phát của các lý luận này là xúc cảm của con người là kết quả mộtquá trình diễn biến liên tục chịu sự chi phối của các quy luật tiến hoá sinh vật vàmang đặc điểm sinh vật đảm bảo cho con người tiếp tục thích nghi với những nhucầu của xã hội Đại diện cho quan niệm này là C.Darwin và Van Hoof, S Chevalier,
F Izard Theo C.Darwin giải thích các hành động diễn cảm của con người và loài
Trang 31vật Theo ông, các phản ứng vận động thích nghi với điều kiện sống tạo nên cơ sởphát sinh những hành động diễn cảm đó [102].
* Cách tiếp cận mô tả, trải nghiệm
Quan niệm mô tả, trải nghiệm của xúc cảm là sự quan sát các biểu hiện củaxúc cảm, mô tả và phân loại chúng, giải thích lý do của sự phân nhóm các xúc cảm.Đại diện cho quan niệm này là W.Wundt và Schlosberg, P.E.Berlyne, D.B.Linsley.Quan niệm xuất phát là xem xét xúc cảm, tình cảm theo tình huống, nhu cầu
Spencer (1890) là một trong những người đầu tiên xem các xúc cảm lànhững số đo của ý thức Phát triển ý tưởng của Spencer, Wundt đã giả định rằng ýthức được mô tả bằng các xúc cảm có thể thể hiện bằng 3 số đo: Vui thích- khôngvui thích; Thư giãn - căng thẳng; Thanh thản - bồn chồn [1, tr.47]
Schlosberg bắt đầu nghiên cứu xúc cảm từ khi Woodworth (1938) đưa ramột hệ thống phân loại những biểu hiện nét mặt của xúc cảm Ông đã phân loại sựbiểu cảm nét mặt gồm 6 phần: 1/Yêu đương, hạnh phúc; 2/Ngạc nhiên; 3/Khiếp sợ;4/Căm giận, quả quyết; 5/ Kinh tởm; 6/Khinh bỉ [1, tr.49-51]
Theo quan điểm này mô tả, trải nghiệm của xúc cảm là sự quan sát các biểu hiện của xúc cảm Các tác giả đã xem xét xúc cảm, tình cảm theo tình huống, nhu cầu và phân loại sự biểu cảm nét mặt của một số XCTC gồm khiếp sợ; căm giận, khinh tởm, đề tài có thể tham khảo trong nghiên cứu.
* Cách tiếp cận phát sinh cá thể
Xuất phát từ quan niệm là các xúc cảm xuất hiện, phát triển và kết thúc cómối liên hệ chặt chẽ với tuổi đời và hiện tượng tâm lý khác như tri giác, trí tuệ, tínhcách Các tác giả cho rằng cần nghiên cứu xúc cảm qua sự biểu hiện và sự trảinghiệm trong quá trình phát triển cá thể Theo K.B.Bribges, R.A.Spitz và K.M.Wolfthì các loại xúc cảm như sợ hãi, vui mừng, sự hung hãn phát triển một cách dầndần và có sự phân hoá Lúc nhỏ tuổi xúc cảm xuất hiện từ trạng thái hưng phấn ít có
sự phân hoá và diễn ra theo trình tự, ví dụ: không hứng thú - hứng thú vào 2 thángtuổi; khó chịu, ghê sợ vào 6 tháng tuổi Trong quá trình sống, ảnh hưởng của môitrường xã hội đến xúc cảm ngày càng tăng lên
Trang 32* Cách tiếp cận trên bình diện tâm - sinh lý học
Lindsley (1951 - 1957) đã phát triển lí thuyết của mình về hoạt hoá các xúccảm và hành vi Theo ông, xúc cảm xuất hiện là do các kích thích bên ngoài có điềukiện hoặc các kích thích bên trong không điều kiện Những yếu tố kích thích nàyphóng ra các xung lượng làm hoạt hoá thân não; Từ đây, các xung được chuyển tớiđồi thị và tới vỏ não Cơ chế hoạt hoá này biến các xung lượng này thành hành vi cóđặc trưng của hưng phấn xúc cảm Thuyết của Lindsley không giải thích được bảnchất của những xúc cảm riêng biệt Mục đích của tác giả là gắn kết những điều kiệnxác định có trước, với những biến đổi trên bảng ghi điện não với các kích thíchđược quy định [1, tr.48]
W.James định nghĩa xúc cảm là sự tri giác những biến đổi của cơ thể Ôngchú ý tới mối liên hệ tác động lẫn nhau giữa xúc cảm với hệ cơ Hoạt động của hệ
cơ được xem là sự biến đổi của cơ thể Xúc cảm xuất phát từ những biến đổi cơ thểtrên cơ sở hệ cơ [46], [34], [79]
K.Langer giả định rằng xúc cảm được tạo nên từ những biến đổi trong cơquan nội tiết, thể hiện bằng những phản ứng của cơ thể
I.Canon đã phê phán James và Langer về cách giải thích về xúc cảm Bằngnghiên cứu tác giả đã chứng minh rằng: Nếu tách các cơ quan bên trong ra khỏi hệthần kinh trung ương thì hành vi xúc cảm sẽ không biến đổi; Những biểu hiện củacác chỉ số sinh lý như nhau khi xuất hiện những trạng thái xúc cảm khác nhau;Những biến đổi các chỉ số sinh lý nếu gây nên một cách nhân tạo, không làm xuấthiện những xúc cảm tương ứng; Phản ứng sinh lý như là kết quả của xúc cảm [46],[34], [79]
Ekman, Sorenson và Friesen (1969) cho rằng những biểu hiện trên nét mặt màcon người sử dụng để biểu thị xúc cảm có thể tham gia việc đưa ra những xúc cảm
ấy bằng cách cung cấp sự phản hồi đến não Giả thuyết phản hồi trên nét mặt theonghĩa này giống với tiếp cận James- Lange, nhưng James chú ý đến trạng thái sinh
lý chính cho rằng đây là nguyên nhân xúc cảm thì Ekman cho rằng tín hiệu xã hộingoại vi là nguyên nhân [34], [102], [79]
Trang 33* Cách tiếp cận trên cơ sở đánh giá ý nghĩa tình huống
Một số thuyết hiện đại xem xúc cảm về cơ bản như là phản ứng trả lời hay làmột phức hợp các phản ứng trả lời được quy định bởi các quá trình nhận thức
Trung tâm của tiếp cận nhận thức về xúc cảm là đánh giá (Frijda, 1993;Scherer, Schorr, & Johnstone, 2001; Smith, Haynes, Lazarus, & Pope, 1993) Tất cảcác nhà lý thuyết xúc cảm nhận thức (Frijda, 1986; Lazarus, 1991a; Ortony et al,1988; Roseman, 1984; Scherer, 1984a; Smith & Ellsworth, 1985; Weiner, 1986) xácnhận hai niềm tin sau đây liên quan đến nhau: (1) Nếu không có đánh giá về sựkiện, xúc cảm không xảy ra và (2) đánh giá là nguyên nhân gây ra xúc cảm, khôngphải là sự kiện
Theo M.Arnold (1960), xúc cảm nảy sinh như là kết quả của trình tự các sựkiện được mô tả bằng các khái niệm tri giác và đánh giá: Trước khi xúc cảm nảysinh, chủ thể phải được tri giác và đánh giá Trong phản ứng đáp lại sự đánh giá củađối tượng đang ảnh hưởng tới chủ thể tri giác sẽ làm nảy sinh xúc cảm [1, tr.53],[79, pp 344-345]
S.Schachter nghiên cứu mối quan hệ giữa xúc cảm và nhận thức cho rằng trigiác các sự kiện có tác dụng kích thích hay khơi gợi sự hưng phấn Về cơ bản,Schachter cho rằng, bối cảnh xã hội quyết định loại xúc cảm xảy ra (sợ hãi, giận
dữ, hạnh phúc, v.v…) trong khi các chỉ số sinh lý quyết định cường độ của phảnứng ấy (cá nhân cảm thấy mạnh đến mức nào) [1, tr.53-54], [46, tr.408], [34]
Averill (1980) xem xúc cảm là vai trò xã hội chuyển tiếp, liên quan đến cáchđánh giá tình huống của cá nhân Theo tác giả, vì xúc cảm cho phép một số hànhđộng xã hội diễn ra trong một bối cảnh được xã hội chấp nhận, thấu hiểu, nhưngmang tính chuyển tiếp vì người ta nghĩ rằng xúc cảm ở một người không phải làtrạng thái thường trực [34, tr.492]
R.S Lazarus (1980) cho rằng xúc cảm xảy ra bất kỳ khi nào một tình huốngđược xem là có liên quan với những quan tâm chính trong đời sống của cá nhân.Ông xem xúc cảm là phản ứng trả lời và định nghĩa 3 kiểu phản ứng xúc cảm: nhậnthức, biểu cảm và công cụ Các phản ứng nhận thức trả lời (các xúc cảm) về cơ bản
Trang 34đồng nghĩa với các cơ chế tự vệ, ví như sự dồn nén Những phản ứng biểu cảm trảlời về cơ bản được xem như là những biểu cảm nét mặt, còn những phản ứng trả lờicông cụ bao hàm những ký hiệu biểu trưng, các phương tiện hay các tập quán Cácphản ứng công cụ bao hàm các ký hiệu biểu trưng cũng có thể che đậy một xúcđộng không mong muốn Phản ứng xúc cảm của con người trong tình huống mớihoặc phức tạp không có những kích thích xúc cảm, phụ thuộc vào sự đánh giá ýnghĩa tình huống Theo Lazarus, một đánh giá thay đổi dẫn đến một xúc cảm thayđổi Nhìn chung đầu tiên, con người đánh giá mối quan hệ của họ với các sự kiệncuộc sống ("đánh giá cơ sở") và sau đó đánh giá tiềm năng của họ đối phó trong sựkiện đó ("đánh giá thứ cấp") [79, pp 346-350].
Weiner (1985) cũng xem xúc cảm là sự phát xuất từ quy kết của cá nhân đốivới tình huống Phản ứng ban đầu đối với mọi kích thích tạo xúc cảm bất kỳ theoWeiner chỉ liên quan đến việc liệu kích thích ấy có khó chịu hay không- liệu nó
“tốt” hay “xấu” Một khi đánh giá ban đầu xong, cá nhân mới xét đến điều gì lànguyên nhân dẫn đến sự kiện [34, tr.492], [107, pp.401-419]
Các tác giả theo quan điểm này đề cập đến cấu trúc của xúc cảm và nhấn mạnh sự đánh giá ý nghĩa tình huống là nguyên nhân gây ra phản ứng xúc cảm của con người, đề tài có thể xem xét và tham khảo quan niệm này trong nghiên cứu nguyên nhân nảy sinh biểu hiện XCTC trong HĐHT của HSTH.
* Cách tiếp cận trên cơ sở phản ánh tâm lý và hoạt động của não
Các nhà tâm lý học Mác xít dựa trên cơ sở lí luận này khẳng định tâm lý là kếtquả hoạt động của não, là sự phản ánh hiện thực khách quan đã đưa ra hai khuynhhướng tiếp cận vấn đề xúc cảm:
- Khuynh hướng thứ nhất là sự phản ánh: xúc cảm, tình cảm là một hình thứcphản ánh ý nghĩa của đối tượng đối với chủ thể
- Khuynh hướng thứ hai là mối quan hệ: xúc cảm, tình cảm là một hình thức
tích cực của mối quan hệ giữa con người với thế giới “ con người không thụ động
phản ánh hiện thực xung quanh mà tích cực tác động và nhận thức nó Cùng lúc đó con người rung cảm về mối quan hệ của mình với sự vật, hiện tượng của hiện thực
Trang 35khách quan”.
Hướng tiếp cận này khác hẳn các quan niệm đã trình bày ở phần trên Cácnhà tâm lý học Mác xít khẳng định xúc cảm, tình cảm không phải là một dạng phảnứng đặc biệt Xúc cảm, tình cảm là những biểu tượng tâm lý dựa trên cơ sở sinh lýhọc Xúc cảm không phải được sinh ra từ xung lực bản năng bên trong cơ thể, màxuất hiện từ mối quan hệ giữa con người với thế giới xung quanh Vì vậy tìm kiếmnguồn gốc của xúc cảm không phải trong vô thức mà trong sự thoả mãn nhu cầusinh lý và xã hội của con người
Theo quan niệm này, xúc cảm được hiểu là những rung động của con người
đối với các sự vật và hiện tượng có liên quan đến sự thoả mãn hay không thoả mãn nhu cầu của con người.
1.2.2 Khái niệm “Xúc cảm”
Theo Từ điển tiếng Anh Oxford (Oxford English Dictionary): “Xúc cảm như
một kích động, hay một rối loạn tinh thần tình cảm, đam mê, mọi trạng thái mãnh liệt hay kích thích” [dẫn theo 10, tr.496].
Tomkins, J Watson cho rằng “xúc cảm là phản ứng của cơ thể đối với nhữngtác nhân kích thích chuyên biệt” [dẫn theo 33], [dẫn theo 1, tr.81]
Theo S.T.Rubinstêin, K Platonov quan niệm xúc cảm là thái độ đối với các
đối tượng có liên quan đến nhu cầu của con người: “Toàn bộ thế giới xúc cảm –
tình cảm của con người về thực chất là toàn bộ thái độ của con người đối với thế giới và trước tiên là đối với những người khác trong cuộc sống và trong ấn tượng trực tiếp của cá nhân” [25, tr67], [43, tr43]
Daniel Goleman đã định nghĩa: “xúc cảm vừa là một tình cảm và các ý nghĩ,
các trạng thái tâm lý và sinh học đặc biệt, vừa là thang của các xu hướng hành động do nó gây ra” [10]
Oatley và Jenkins định nghĩa xúc cảm như sau: 1/ Một xúc cảm hình thành từ
sự đánh giá chủ định hay vô định của một người đối với một sự kiện liên quan đến một sự việc (một mục đích) đáng quan tâm Xúc cảm sẽ được cảm nhận một cách tích cực nếu điều quan tâm đó là một sự kiện thuận lợi và một cách tiêu cực nếu đó
Trang 36là sự kiện mang tính cản trở; 2/ Cốt lõi của một xúc cảm là sự sẵn sàng để hành động và thúc đẩy những dự định; một xúc cảm là tác nhân để bắt đầu một hay một
số hành động nào đó; 3/Một xúc cảm thường được trải nghiệm như một hình thức của trạng thái tinh thần, thường dẫn đến những hành động, phản ứng hay thay đổi của một con người [81, pp 95].
Ở Việt Nam, các nhà tâm lý học đưa ra nhiều khái niệm về xúc cảm, tuy nhiên
phần lớn đều dựa trên quan niệm về xúc cảm của Tâm lý học Hoạt động
Theo Vũ Dũng, “Xúc cảm là sự phản ánh tâm lý về mặt ý nghĩa sống động
của các hiện tượng và hoàn cảnh, tức mối quan hệ giữa các thuộc tính khách quan của chúng với nhu cầu của chủ thể, dưới hình thức những rung động trực tiếp” [9]
Tác giả Trần Trọng Thủy, Nguyễn Huy Tú, Đào Thị Oanh, Nguyễn Văn Lũy
cho rằng: "Xúc cảm là những rung động thể hiện thái độ đối với hiện thực, có liên
quan đến sự thỏa mãn hay không thỏa mãn nhu cầu của cá nhân" [31, tr.758], [41],
[47], [49], [54]
Nguyễn Quang Uẩn định nghĩa: “Xúc cảm – tình cảm là những thái độ thể
hiện sự rung cảm của con người đối với sự vật, hiện tượng có liên quan tới nhu cầu
và động cơ của họ” [56, tr.159].
Trong đề tài nghiên cứu về “Những biểu hiện xúc cảm và những biện pháp
giáo dục xúc cảm cho trẻ từ 1 – 3 tuổi”, tác giả Ngô Công Hoàn cho rằng: “Xúc
cảm của con người là những rung động khác nhau, nó mang tính chất chủ quan, độc đáo của con người đối với hiện thực khách quan và đối với chính bản thân mình Trong hiện thực khách quan, các sự vật hiện tượng tồn tại một cách sinh động xung quanh chúng ta hoặc trong chúng ta, đó chính là nguồn gốc của xúc cảm, tình cảm Những sự vật hiện tượng đó tồn tại liên quan đến sự thoả mãn hay không thoả mãn nhu cầu nào đó của mỗi cá nhân”[18].
Nhìn chung, tuy xuất phát từ những quan niệm khác nhau khi bàn về kháiniệm xúc cảm, nhưng các tác giả ở trong nước và nước ngoài đều nhất trí rằng: Xúccảm phản ánh ý nghĩa của mối quan hệ giữa đối tượng với nhu cầu của chủ thể; Xúccảm bao gồm quá trình sinh lý- thần kinh và quá trình tâm lý của cá thể; Xúc cảm
Trang 37người rất phong phú, mang bản chất xã hội; Xúc cảm là phương thức thích nghi củacon người với môi trường
Những phân tích ở trên cho phép đề tài có thể khẳng định một quan niệm về
xúc cảm để dựa vào đó triển khai nghiên cứu, đó là:
Xúc cảm là những rung động thể hiện thái độ của chủ thể đối với đối tượng có liên quan đến sự thỏa mãn hay không thỏa mãn nhu cầu của cá nhân hoặc đáp ứng hay không đáp ứng những yêu cầu của xã hội và được thể hiện qua hành vi ngôn ngữ và hành vi phi ngôn ngữ (khuôn mặt, tư thế, cử chỉ điệu bộ)
Từ khái niệm này cho thấy, xúc cảm có các đặc điểm như sau:
- Có tính cảm nhận hay tính chủ quan, những nguyên nhân gây nên xúc cảmthường được chủ thể nhận thức rõ ràng
- Có tính yêu cầu, xúc cảm có liên quan đến sự thỏa mãn hay không thỏa mãnnhu cầu của cá nhân hoặc đáp ứng hay không đáp ứng những yêu cầu của xã hội
- Có tính bộc lộ, xúc cảm được thể hiện qua hành vi ngôn ngữ và hành vi phingôn ngữ (khuôn mặt, tư thế, cử chỉ điệu bộ)
1.2.3 Cấu trúc tâm lý của xúc cảm
Khi bàn về cấu trúc tâm lý của xúc cảm, một số nhà nghiên cứu khẳng địnhrằng loài người trải qua hai kiểu, hay hai trình độ xúc cảm: một là - nền tảng về mặtsinh học nên xúc cảm có tính bản năng và phổ biến, hai là - do con người tiếp thuđược trong điều kiện xã hội
Theodore Kemper (1987) tuyên bố chỉ có bốn xúc cảm được di truyền qua con đường sinh học là sợ hãi, giận dữ, buồn rầu và thỏa mãn và mỗi người đều trải quabốn xúc cảm này bởi bị quy định về mặt sinh học Các nhà nghiên cứu khác như
Trang 38Shaver, Schwarts, Kirson và O’Connor, 1987; Izard, 1991; Shaver, Wu, &Schwartz, 1992 không nhất trí với Kemper mà cho rằng bốn xúc cảm trên là các xúccảm nền tảng Bên cạnh đó, một số nhà nghiên cứu khác như Ekman và Davision(1994) không đồng ý với ý kiến cho rằng một số xúc cảm là nền tảng, còn một sốkhác là được học [108].
Từ quan sát của mình Arnold cho rằng trước khi xúc cảm nảy sinh, chủ thểphải được tri giác và nó đánh giá đối tượng tri giác trên cơ sở nhu cầu của mình.Chính sự phản ứng đáp lại sự đánh giá đối tượng đã ảnh hưởng tới chủ thể tri giáclàm nẩy sinh xúc cảm ở chúng như là sự chấp nhận hay bác bỏ, là sự thỏa mãn haykhông thoả mãn Như vậy theo Arnold, xúc cảm bao gồm ba thành tố là tri giác,đánh giá và nhu cầu
Trên cơ sở quan niệm của Arnold, năm 1972 R.S Lazarus và các cộng sự đãtrình bày một cấu trúc lý thuyết của xúc cảm, theo đó mỗi xúc cảm là một phản ứngđáp lại phức hợp gồm ba thành tố khác nhau [1, tr.56]: 1/Các tín hiệu hay kíchthích; 2/Sự đánh giá: được coi như là chức năng của bộ não mà nhờ đó cá thể đãđánh giá được tình huống kích thích so với nhu cầu của bản thân; 3/Một phản ứngphức hợp gồm ba loại phản ứng: phản ứng nhận thức, phản ứng biểu cảm và phảnứng phương thức (công cụ)
+ Loại phản ứng nhận thức là những cơ chế tự vệ như: dồn nén, từ chối
+ Loại phản ứng biểu cảm mà quan trọng nhất là biểu cảm ở nét mặt thường
chia ra hai kiểu: biểu cảm sinh vật và biểu cảm tự tạo (biểu cảm văn hóa)
+ Loại phản ứng phương thức (phản ứng công cụ) có chức năng thông báo,đưa ra tín hiệu về sự tồn tại, hiện diện một xúc cảm nào đó hoặc che đậy một xúccảm nào đó Loại phản ứng phương thức thể hiện ở những hành động phức tạp và
có hướng, chẳng hạn sự gây hấn và bỏ chạy
Một số nhà khoa học, trước hết là Darwin, Ekman và Tomkins cho rằng xúccảm được tạo bởi ba thành tố: 1/Cơ chất thần kinh chuyên biệt bị quy định, chế ước
ở bên trong; 2/Những phức hợp biểu cảm bằng nét mặt đặc trưng hay là những phứchợp biểu hiện thần kinh cơ; 3/Sự thể hiện chủ quan của hiện thực bên ngoài
Trang 39Các nhà khoa học này thống nhất rằng:
- Các cơ chế thần kinh - cơ của bộ mặt là cần thiết để thực hiện những biểuhiện xúc cảm và chúng giống nhau ở động vât và người
- Sự biểu hiện của bộ mặt con người giống với phản ứng của động vật bậc cao
- Biểu cảm bộ mặt là thuộc tính chung của loài, có nguồn gốc từ sự tiến hoáđộng vật
- Xúc cảm là một phương thức thích nghi của con người với môi trường [1,tr.70-93]
Phần lớn các nhà nghiên cứu tin rằng một phần hoặc tất cả xúc cảm được hìnhthành nên dưới ảnh hưởng của xã hội
Daniel Goleman, khi bàn đến cấu trúc của xúc cảm đã chỉ ra rằng: “có hàngtrăm xúc cảm với những kết hợp, những biến thể và những biến đổi của chúng.Những sắc thái của chúng trên thực tế nhiều đến mức chúng ta không có đủ từ đểchỉ” Ông đã chỉ ra một số xúc cảm rất thường được nhắc tới đối với một số thànhphần của chúng:
- Giận: Cuồng nộ, phẫn nộ, oán giận, nổi giận, bực tức, gay gắt, hung hăng, bấtmãn, cáu kỉnh, thù địch và có thể đạt tới độ tột cùng, thù hằn và bạo lực bệnh lý
- Buồn: buồn phiền, sầu não, rầu rĩ, u sầu, thương thân, cô đơn, ủ rũ, thất vọng vàtrầm cảm sâu
- Sợ: Lo hãi, e sợ, bị kích thích, lo âu, rụng rời, sợ sệt, rón rén, bải hoải, khiếphãi, khủng khiếp, ghê sợ, và khi trở thành bệnh lý là chứng sợ và chứng hoảng hốt
- Khoái: Sung sướng, vui vẻ, nhẹ nhõm, bằng lòng, rất hạnh phúc, khoái trá, hoan
hỉ, tự hào, khoái cảm, nhục dục, rung lên (vì vui), mê ly, hài lòng, sảng khoái,ngông, ngây ngất và ở mức độ tột cùng, tật mê si
- Yêu: ưng ý, tình bạn, tin cậy, dễ ưa, cảm tình, tận tụy, sùng kính, hâm mộ
- Ngạc nhiên: choáng váng, ngơ ngác, kinh ngạc
- Ghê tởm: Khinh miệt, coi thường, kinh tởm, chán ghét, phát ngấy
- Xấu hổ: ý thức phạm tội, phật ý, ăn năn, nhục nhã, hối tiếc
D Goleman, P.Ekman và một số nhà tâm lý học xem xét các xúc cảm theo các
Trang 40họ (familles) hay theo các chiều (dimensions) D Goleman cho rằng những xúc cảm tiêu cực nền tảng chính là: sợ hãi, giận dữ, buồn rầu, thỏa mãn, xấu hổ [10].
Trên cơ sở phân tích cấu trúc tâm lý của xúc cảm ở trên, đề tài đưa ra cấu trúc
tâm lý của xúc cảm bao gồm 3 thành tố:
- Tiếp nhận kích thích (đầu vào- từ môi trường hoặc từ bên trong cá nhân)
- Đánh giá của cá nhân về kích thích
- Hành vi biểu cảm (biểu hiện ra bên ngoài gồm hành vi ngôn ngữ và hành vi phi ngôn ngữ)
1.2.4 Phân loại xúc cảm
Một trong những vấn đề được quan tâm trong lí luận về xúc cảm là việc phânloại các xúc cảm, theo đó có khá nhiều cách phân loại khác nhau tùy theo các tiêuchí mà các tác giả đưa ra Dưới đây là một số phân loại chủ yếu
*Theo cấu trúc tầng bậc
C.E.Izard đưa ra Thuyết các xúc cảm phân hóa và cho rằng xúc cảm có cấutrúc tầng bậc bao gồm: Cấp bậc thứ nhất gồm mười xúc cảm nền tảng, đó là [1,tr.107-112]:
- Hồi hộp – xúc cảm tích cực được thể nghiệm thường xuyên nhất tạo động
cơ học tập, phát triển các kỹ xảo, kỹ năng và các khát vọng sáng tạo
- Vui sướng – là xúc cảm mong muốn tối đa, mặc dù không bắt buộc vàthường xuyên
- Ngạc nhiên – luôn là trạng thái ngắn ngủi, nó xuất hiện nhờ nâng cao độtngột của kích thích thần kinh do xuất hiện sự kiện bất ngờ nào đó
- Đau khổ, đau xót – là xúc cảm mà khi trải nghiệm con người nản lòng, cảmthấy cô độc, không tiếp xúc với người khác, tự thương thân
- Căm giận – là xúc cảm nền tảng mà việc kiểm soát sự biểu hiện của nó phải được chú ý đặc biệt trong qúa trình xã hội hóa, căm giận thúc đẩy sự tấn công
- Ghê tởm – thường biểu hiện cùng với căm giận; phối hợp với căm giận, sựcăm giận có thể kích thích hành vi phá hoại, ghê tởm thúc đẩy mong muốn “thoátkhỏi một người nào đó hay một cái gì đó”