Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh học và năng lực trí tuệ của học sinh miền núi từ 11 đến 17 tuổi tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ
Trang 2LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS TSKH Tạ Thúy Lan
HÀ NỘI - 2013
Trang 3Trang
MỞ ĐẦU……… 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU……… 4
1.1 KHÁI QUÁT VỀ CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN CỦA TRẺ EM 4
1.2 TUỔI DẬY THÌ CỦA TRẺ EM
1.2.1 Cơ sở lý luận về tuổi dậy thì
1.2.2 Các nghiên cứu về dậy thì
6 6 9 1.3 CÁC CHỈ SỐ HÌNH THÁI – THỂ LỰC CỦA TRẺ EM 11
1.3.1 Chỉ số hình thái - thể lực của trẻ em 11
1.3.2 Các nghiên cứu về chỉ số hình thái - thể lực của trẻ em Việt Nam 12
1.4 CÁC CHỈ SỐ CHỨC NĂNG CỦA TRẺ EM 16
1.4.1 Đặc điểm chỉ số chức năng của trẻ em 16
1.4.2 Các nghiên cứu về chức năng tuần hoàn của trẻ em Việt Nam 18
1.4.3 Các nghiên cứu về chức năng hô hấp của trẻ em Việt Nam 19
1.4.4 Các nghiên cứu về thời gian phản xạ cảm giác-vận động của trẻ em Việt Nam 21 1.5 NĂNG LỰC TRÍ TUỆ CỦA TRẺ EM 22
1.5.1 Trí tuệ của trẻ em 22
1.5.2 Trí nhớ ngắn hạn của trẻ em 25
1.5.3 Khả năng chú ý của trẻ em 26
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU… 30
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 30
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 30
2.1.2 Đặc điểm của người Mường và Sán Dìu ở tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ 30
2.2 C.ÁC CHỈ SỐ NGHIÊN CỨU 32
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 32
2.3.2 Phương pháp tính tuổi 32
2.3.3 Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu 32
2.3.4 Phương pháp nghiên cứu các chỉ số sinh học 33
2.3.5 Phương pháp nghiên cứu trí tuệ, trí nhớ và khả năng chú ý 37
2.3.6 Phương pháp xử lý số liệu 39
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 40
3.1 TUỔI DẬY THÌ CỦA HỌC SINH
3.1.1 Tuổi dậy thì của học sinh nữ
3.1.2 Tuổi dậy thì của học sinh nam
40 40 42 3.2 MỘT SỐ CHỈ SỐ HÌNH THÁI - THỂ LỰC CỦA HỌC SINH TỪ 11 - 17 TUỔI 43
3.2.1 Chiều cao đứng của học sinh 43
Trang 43.2.3 Vòng ngực trung bình của học sinh 49
3.2.4 Chỉ số BMI của học sinh 51
3.2.5 Chỉ số Pignet của học sinh 54
3.3 CÁC CHỈ SỐ CHỨC NĂNG CỦA MỘT SỐ HỆ THỐNG CƠ QUAN CỦA HỌC SINH TỪ 11 - 17 TUỔI 55
3.3.1 Một số chỉ số chức năng tuần hoàn của học sinh 55
3.3.2 Một số chỉ số chức năng hô hấp của học sinh 59
3.3.3 Thời gian phản xạ cảm giác - vận động của học sinh 69
3.4 NĂNG LỰC TRÍ TUỆ CỦA HỌC SINH TỪ 11 - 17 TUỔI 73
3.4.1 Chỉ số IQ của học sinh 73
3.4.2 Trí nhớ ngắn hạn của học sinh 77
3.4.3 Khả năng chú ý của học sinh 81
3.5 MỐI LIÊN QUAN GIỮA CÁC CHỈ SỐ NGHIÊN CỨU 82
3.5.1 Mối liên quan giữa các chỉ số thể lực và chức năng của học sinh 82
3.5.2 Mối liên quan giữa chỉ số IQ với trí nhớ ngắn hạn của học sinh 87
3.5.2 Mối liên quan giữa chỉ số IQ với khả năng chú ý của học sinh 88
3.5.3 Mối liên quan giữa chỉ số IQ với TGPX cảm giác – vận động của học sinh 89
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 92
4.1 TUỔI DẬY THÌ CỦA HỌC SINH 92
4.2 CÁC CHỈ SỐ HÌNH THÁI - THỂ LỰC CỦA HỌC SINH 94
4.3 CHỨC NĂNG TUẦN HOÀN, HÔ HẤP VÀ PHẢN XẠ CỦA HỌC SINH 103
4.3.1 Một số chỉ số chức năng tuần hoàn của học sinh 103
4.3.2 Một số chỉ số chức năng hô hấp của học sinh 105
4.3.3 Thời gian phản xạ cảm giác - vận động của học sinh 109
4.4 NĂNG LỰC TRÍ TUỆ CỦA HỌC SINH
4.5 MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA CÁC CHỈ SỐ
112 115 KẾT LUẬN 121
KIẾN NGHỊ 123
TÀI LIỆU THAM KHẢO 125
PHỤ LỤC p1
Trang 5Trang
Biểu đồ 2.1 Phân loại chỉ số BMI của trẻ em từ 2 đến 20 tuổi (theo WHO) 35
Biểu đồ 3.1 Đồ thị biểu diễn chiều cao đứng của học sinh theo tuổi, dân tộc và
giới tính 45 Biểu đồ 3.2 Đồ thị biểu diễn cân nặng trung bình của học sinh theo tuổi, dân tộc
và giới tính 48 Biểu đồ 3.3 Đồ thị biểu diễn VNTB của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính 50 Biểu đồ 3.4 Đồ thị biểu diễn dung tích sống của học sinh theo tuổi, dân tộc và
giới tính 62 Biểu đồ 3.5 Đồ thị phân tán mô tả mối quan hệ tuyến tính giữa VC và chiều cao
theo tuổi của học sinh 85 Biểu đồ 3.6 Đồ thị phân tán mô tả mối quan hệ tuyến tính giữa chỉ số IQ và thời
gian phản xạ thị giác – vận động của học sinh 90 Biểu đồ 3.7 Đồ thị phân tán mô tả mối quan hệ tuyến tính giữa chỉ số IQ và thời
gian phản xạ thính giác - vận động của học sinh……… 91
Trang 6Trang
Bảng 2.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu……… 33
Bảng 2.2 Phân loại thể lực theo chỉ số Pignet 34
Bảng 2.3 Phân loại mức trí tuệ theo hệ số thông minh (theo D Wechsler) 38
Bảng 3.1 Số lượng học sinh nữ có kinh lần đầu theo lứa tuổi và dân tộc 41
Bảng 3.2 Thời điểm học sinh nữ có kinh lần đầu 41
Bảng 3.3 Số lượng học sinh nam xuất tinh lần đầu theo lứa tuổi 42
Bảng 3.4 Thời điểm xuất tinh lần đầu của học sinh nam 43
Bảng 3.5 Chiều cao đứng trung bình của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính 44
Bảng 3.6 Cân nặng trung bình của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính 47
Bảng 3.7 Vòng ngực trung bình của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính 49 Error! Bookmark not defined Error! Bookmark not defined Bảng 3.8 Chỉ số BMI của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính……… 51
Bảng 3.9 Phân bố học sinh theo thể trạng, tuổi, dân tộc và giới tính 53
Bảng 3.10 Chỉ số Pignet của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính……… 54
Bảng 3.11 Tần số tim của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính 56
Bảng 3.12 Huyết áp tâm thu của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính 57
Bảng 3.13 Huyết áp tâm trương của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính 58 Bảng 3.14 Tần số hô hấp của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính 60
Bảng 3.15 Dung tích sống của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính 61
Bảng 3.16 Dung tích sống thở mạnh của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính 63
Bảng 3.17 Thể tích thở tối đa giây đầu của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính……… 65
Bảng 3.18 Chỉ số Tiffeneau của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính 66
Bảng 3.19 Chỉ số Gaensler của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính 67
Bảng 3.20 Chỉ số Demeny của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính 68
Bảng 3.21 Thời gian phản xạ thị giác – vận động của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính 70
Bảng 3.22 Thời gian phản xạ thính giác – vận động của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính 71
Bảng 3.23 Chỉ số IQ của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính 74
Trang 7Bảng 3.25 Trí nhớ ngắn hạn thị giác của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính 78
Bảng 3.26 Trí nhớ ngắn hạn thính giác hạn của học sinh theo tuổi, dân tộc
và giới tính 80
Bảng 3.27 Độ tập trung chú ý của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính 81
Bảng 3.28 Mức tăng các chỉ số thể lực và chức năng của học sinh từ 11 đến
17 tuổi 83
Bảng 3.29 Mô hình hồi quy tuyến tính giữa chiều cao với VC và tuổi của học sinh
Kinh 86
Bảng 3.30 Phương trình hồi quy các thông số chức năng phổi của học sinh 87
Bảng 3.31 Phương trình hồi quy tuyến tính giữa chỉ số IQ với TN ngắn hạn
của học sinh 88
Bảng 3.32 Phương trình hồi quy tuyến tính giữa chỉ số IQ với KNCY của
học sinh 88
Bảng 3.33 Phương trình hồi quy tuyến tính giữa chỉ số IQ với TGPX cảm
giác - vận động của học sinh 89
Bảng 4.1 Thời điểm có kinh lần đầu của học sinh nữ theo nghiên cứu của
Bảng 4.4 Cân nặng của học sinh theo nghiên cứu của các tác giả khác nhau 98
Bảng 4.5 Chỉ số BMI của học sinh theo nghiên cứu của các tác giả khác nhau 99
Bảng 4.6 Vòng ngực trung bình (cm) của học sinh theo nghiên cứu của các tác giả
Bảng 4.9 Dung tích sống (lít) của học sinh theo nghiên cứu của các tác giả khác nhau 106
Bảng 4.10 Thời gian phản xạ thị giác – vận động (ms) của học sinh theo
Trang 8Bảng 4.11 Thời gian phản xạ thính giác – vận động (ms) của học sinh theo
nghiên cứu của các tác giả khác nhau 111
Bảng 4.12 Trí nhớ ngắn hạn của học sinh theo các tác giả khác nhau 114
Bảng 4.13 Khả năng chú ý (điểm) của học sinh theo nghiên cứu của các tác giả
khác nhau 115
Bảng 4.14 Phương trình hồi quy về mối tương quan giữa dung tích sống
với tuổi và chiều cao của học sinh theo các tác giả khác nhau
117
Bảng 4.15 Phương trình hồi quy về mối tương quan giữa FVC với tuổi và
chiều cao của học sinh theo các tác giả khác nhau 118
Bảng 4.16 Phương trình hồi quy về mối tương quan giữa FEV 1 với tuổi và
chiều cao của học sinh theo các tác giả khác nhau 118
Trang 9MỞ ĐẦU
Nghiên cứu về mặt sinh học của con người là một hướng nghiên cứu cơ bản
và rất rộng lớn, đòi hỏi sự tham gia của nhiều nhà khoa học thuộc các chuyên ngành khác nhau như y học, sinh học, điều khiển học, hóa học, toán học… Trong thập kỉ
60 - 70 của thế kỉ XX, đã có 2 hội nghị tổng kết về hằng số sinh học người Việt
Nam được tổng hợp trong cuốn “Hằng số sinh học người Việt Nam” [76] xuất bản năm 1975, đã giúp ích rất nhiều và đến nay vẫn còn được dùng để làm tài liệu tham khảo cho nhiều công trình khoa học thuộc các chuyên ngành khác nhau Trong điều kiện đất nước ta đã và đang đổi mới, nhiều công trình nghiên cứu về các chỉ số sinh học và trí tuệ của trẻ em Việt Nam đã được tiến hành Kết quả nghiên cứu được trình bày trong các tạp chí, tài liệu chuyên ngành [9], [22], [35], [79], [80], [81] Đặc biệt là công trình nghiên cứu của các tác giả trong nhóm đề tài “Nghiên cứu đặc điểm sinh thể con người Việt Nam, tình trạng dinh dưỡng và các biện pháp nâng cao chất lượng sức khoẻ”, mã số KX - 07 - 07 do Lê Nam Trà làm chủ nhiệm đề tài [71], [72], [73], [74] và nhóm đề tài “Nghiên cứu các chỉ tiêu sinh học và trí tuệ của học sinh và sinh viên” do Tạ Thuý Lan làm chủ nhiệm đề tài [37], [38], [39], [40], [41] Các công trình nghiên cứu trên đã đóng góp rất nhiều vào việc xác định các chỉ số sinh học và trí tuệ của người Việt Nam cũng như việc hoạch định chiến lược giáo dục - đào tạo nguồn nhân lực tương lai của đất nước Tuy nhiên, số lượng các công trình nghiên cứu về chỉ số sinh học và năng lực trí tuệ của trẻ em chưa dàn trải đều trên các vùng miền của đất nước Trẻ em ở khu vực miền núi có những điều kiện phát triển về tầm vóc và trí tuệ vẫn còn nhiều khó khăn, đặc biệt là học sinh các dân tộc ít người Vì vậy, việc mở rộng phạm vi nghiên cứu nhằm cung cấp thêm số liệu về các chỉ tiêu hình thái - thể lực, chức năng sinh lí và năng lực trí tuệ của học sinh các dân tộc ở Việt Nam sẽ góp phần cung cấp các dữ liệu khoa học là cơ sở đề xuất các giải pháp đúng đắn trong hoạch định chiến lược, cải tiến phương pháp giáo dục, rèn luyện thể chất cho học sinh Vĩnh Phúc và Phú Thọ là hai tỉnh thuộc khu vực trung du miền núi, nơi có đồng bào thuộc nhiều dân tộc sinh sống, trong đó có dân tộc Kinh, Sán Dìu và Mường Chính vì vậy, việc xác định các chỉ tiêu sinh học và năng lực trí tuệ
Trang 10của học sinh một số dân tộc đang sinh sống tại hai tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ là
cần thiết Vì lí do này, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh
học và năng lực trí tuệ của học sinh miền núi từ 11 đến 17 tuổi tỉnh Vĩnh Phúc
và Phú Thọ” nhằm các mục tiêu sau:
1 Xác định tuổi dậy thì và một số chỉ số hình thái - thể lực, một số chỉ số chức năng (tuần hoàn, hô hấp, phản xạ) của học sinh từ 11 đến 17 tuổi ở tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ
2 Đánh giá một số chỉ số về năng lực trí tuệ của học sinh từ 11 đến 17 tuổi ở tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ
3 Xác định mối liên quan giữa các chỉ số hình thái thể lực với chỉ số chức năng hô hấp, giữa chỉ số IQ với thời gian phản xạ cảm giác - vận động, giữa chỉ số
IQ với độ tập trung chú ý và với trí nhớ ngắn hạn của học sinh từ 11 đến 17 tuổi ở tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ
Để đạt được các mục tiêu trên chúng tôi đã thực hiện các nhiệm vụ cụ thể sau đây:
- Xác định thời điểm dậy thì của học sinh dân tộc Kinh, Mường và Sán Dìu
từ 11 - 17 tuổi
- Xác định một số chỉ số hình thái - thể lực như chiều cao đứng (cm), cân nặng (kg), vòng ngực trung bình (cm), chỉ số Pignet và chỉ số BMI của học sinh dân tộc Kinh, Mường và Sán Dìu từ 11 - 17 tuổi
- Xác định các chỉ số chức năng tuần hoàn (tần số tim, huyết áp động mạch), chức năng hô hấp (tần số hô hấp, dung tích sống, dung tích sống thở mạnh, thể tích thở tối đa giây đầu, chỉ số Tiffeneau, chỉ số Gaensler, chỉ số Demeny) và thời gian phản xạ cảm giác - vận động (ms) của học sinh dân tộc Kinh, Mường và Sán Dìu từ
11 - 17 tuổi
- Đánh giá năng lực trí tuệ và một số chỉ số hoạt động thần kinh như chỉ số
IQ, trí nhớ ngắn hạn, khả năng chú ý của học sinh dân tộc Kinh, Mường và Sán Dìu
từ 11 - 17 tuổi ở tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ
- Nghiên cứu mối liên quan giữa các chỉ số hình thái - thể lực với các chỉ số chức năng, giữa chỉ số IQ với thời gian phản xạ cảm giác - vận động, giữa chỉ số IQ
Trang 11với trí nhớ ngắn hạn và khả năng chú ý của học sinh từ 11 - 17 tuổi dân tộc Kinh, Mường và Sán Dìu
Ý nghĩa khoa học của luận án là xác định được sự phát triển một số chỉ số hình thái - thể lực, chỉ số chức năng tuần hoàn, hô hấp, thần kinh, tuổi dậy thì và năng lực trí tuệ của học sinh các dân tộc Kinh, Mường và Sán Dìu đang học tại một
số trường phổ thông trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ Các số liệu trong đề tài có thể được dùng làm tài liệu tham khảo trong các công trình nghiên cứu và giảng dạy về đặc điểm phát triển của trẻ em lứa tuổi học đường nhằm nâng cao chất lượng công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, luận án này gồm 4 chương: Chương 1 Tổng quan tài liệu nghiên cứu; Chương 2 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu; Chương 3 Kết quả nghiên cứu; Chương 4 Bàn luận
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 KHÁI QUÁT VỀ CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN CỦA TRẺ EM
Một trong số những đặc điểm cơ bản của cơ thể con người là quá trình sinh trưởng và phát triển Hai quá trình này xảy ra liên tục từ lúc trứng mới thụ tinh cho đến chết Quá trình sinh trưởng và phát triển liên quan mật thiết với nhau Sinh trưởng là sự biến đổi về số lượng và kích thước tế bào, còn phát triển là sự tổng hợp các biến đổi liên tục về chất, những biến đổi về hình thái và chức năng của tất cả các cơ quan trong cơ thể từ khi sinh ra cho đến lúc chết Trong cơ thể trẻ em, quá trình sinh trưởng và phát triển diễn ra không đồng đều, có giai đoạn tăng trưởng nhanh xen kẽ với các giai đoạn tăng trưởng chậm Trong đó, mỗi giai đoạn đều có những đặc điểm về hình thái giải phẫu, chức năng sinh lí khác nhau Vì vậy, các nhà khoa học đã phân chia quá trình phát triển cá thể của trẻ em thành một số thời kì [2], [14], [45]
Dựa vào các dấu hiệu hình thái và nhân chủng, Bunak V.V (1965) phân chia quá trình phát triển của trẻ em thành các thời kì (theo [74]) Trong đó, trẻ em lứa tuổi 11 - 17 tuổi được xếp vào ba thời kì:
- Từ 11 - 12 tuổi thuộc thời kì tuổi thơ thứ hai
- Từ 13 - 16 tuổi (đối với nam) và 12 - 15 tuổi (đối với nữ) là thời kì dậy thì
- Từ 15 - 17 tuổi thuộc đầu giai đoạn vị thành niên
Năm 1965, các nhà khoa học của Viện Hàn lâm Sư phạm Liên Xô (cũ) phân chia các giai đoạn phát triển của trẻ em về cơ bản cũng gần giống Bunak V.V (theo [45]) Theo cách phân chia này thì trẻ em lứa tuổi 11 - 17 thuộc 3 nhóm:
- Nhóm thứ nhất, từ 11 - 12 tuổi (nam) và 11 tuổi (nữ) thuộc thời kì tuổi thơ thứ 2
- Từ 13 - 16 tuổi (nam) và 12 - 15 tuổi (nữ) là thời kì dậy thì
- Còn 17 tuổi (nam) và 16 - 17 tuổi (nữ) thuộc thời kì thanh niên
Ở Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu về giáo dục học, sinh học và y học đã lựa chọn cách phân chia thời kì phát triển của con người theo cách riêng Nguyễn Bát Can cho rằng, quá trình phát triển cá thể của con người có những thời kì khác nhau [4] Theo cách phân chia của ông, thì trẻ em từ 11 - 17 tuổi thuộc 2 nhóm sau:
Trang 13- Nhóm thứ nhất từ 11 - 14 tuổi thuộc thời kì nhi đồng
- Nhóm thứ hai từ 15 - 17 tuổi là thời kì thanh xuân
Các tác giả của Bộ môn Nhi khoa trường Đại học Y Dược Hà Nội cũng đưa
ra sơ đồ phân chia các giai đoạn phát triển cá thể của con người [2] Theo sơ đồ này, trẻ em từ 11 - 17 tuổi thuộc hai giai đoạn:
- Từ 11 - 12 tuổi thuộc giai đoạn học sinh lớp dưới
- Còn từ 13 - 17 tuổi là giai đoạn dậy thì
Tạ Thúy Lan và Trần Thị Loan cho rằng, cách phân chia của viện Hàn lâm
Sư phạm Liên Xô phù hợp với đặc điểm lứa tuổi của người Việt Nam và có thể ứng dụng trong hệ thống giáo dục trẻ em Việt Nam [45] Như vậy, trẻ em từ 11 - 17 tuổi thuộc 3 thời kì phát triển cá thể:
- Thời kì đầu từ 11 - 12 tuổi thuộc cuối thời kì học sinh nhỏ
- Từ 13 - 15 tuổi (nữ) và 13 - 16 tuổi (nam) là thời kì dậy thì
- Còn từ 15 - 17 tuổi là giai đoạn đầu của thời kì vị thành niên
Trong mỗi thời kì, sự phát triển của cơ thể có những đặc điểm riêng Cuối thời kì học sinh nhỏ có sự phân biệt giới tính về hình dáng và kích thước cơ thể Sự tăng trưởng về chiều cao diễn ra nhanh nhưng mức độ tăng trưởng ở nữ cao hơn ở nam Đến 11 tuổi nữ vượt nam về chiều cao và cân nặng, tạo thành điểm giao chéo thứ nhất của đường cong tăng trưởng [45]
Tuổi dậy thì của trẻ em có sự khác biệt giữa các vùng, giữa các cá thể và theo giới tính Dưới tác dụng của hoocmon testosteron, cơ thể trẻ em nam lớn nhanh
và xuất hiện các đặc tính sinh dục nam thứ phát, túi tinh và tuyến tiền liệt phát triển,
cơ nở nang, da thô dày Còn ở nữ, dưới tác dụng của hoocmon estrogen và progesteron, chuyển hóa của cơ thể tăng, cơ thể phát triển nhanh cả về chiều cao lẫn khối lượng Các cơ quan sinh dục như tử cung, vòi trứng, âm đạo, âm hộ, tuyến vú phát triển về kích thước và chức năng Trong giai đoạn này, mỗi năm chiều cao của trẻ em tăng thêm khoảng 5 - 8 cm, khối lượng cơ thể tăng 4 - 8 kg Mở đầu thời kì này là giai đoạn nhảy vọt đặc biệt của quá trình phát triển cơ thể Chiều cao của nam tăng nhanh và đến 13 - 14 tuổi vượt hẳn chiều cao của nữ tạo thành điểm giao
Trang 14chéo thứ 2 trên đường cong tăng trưởng Cuối thời kì dậy thì, kích thước cơ thể đạt
90 - 97% giá trị lớn nhất, các chức năng sinh lí cơ bản như hô hấp, tuần hoàn đã gần giống ở người trưởng thành [96]
Trong giai đoạn đầu vị thành niên, kích thước cơ thể và chức năng sinh lí của các cơ quan đã gần giống của người trưởng thành Trong giai đoạn này diễn ra sự hình thành, hoàn thiện cảm xúc, trí tuệ và nhân cách [81]
1.2 TUỔI DẬY THÌ CỦA TRẺ EM
1.2.1 Cơ sở lí luận về tuổi dậy thì
1.2.1.1 Dậy thì nam
Dậy thì là một thời kì có những biến động lớn về thể chất, chức năng, tâm lí
và đặc biệt là hoạt động chức năng của hệ thống sinh sản Ở trẻ nam, mốc để đánh dấu tuổi dậy thì bắt đầu đó là thể tích tinh hoàn tăng trên 4 ml, còn mốc để đánh dấu thời điểm dậy thì chính thức là lần xuất tinh đầu tiên Tuy nhiên, rất khó xác định chính xác về thời điểm xuất tinh lần đầu tiên vì các em ít để ý (thường là mộng tinh) Tuổi dậy thì hoàn toàn của nam khoảng 15-16 tuổi (đối với trẻ em Việt Nam) [2]
Những biến đổi trong thời kì dậy thì:Vào thời kì này, dưới tác dụng của hoóc môn sinh dục nam (testosteron) phối hợp cùng các hoóc môn tăng trưởng khác, cơ thể đứa trẻ phát triển nhanh, đặc biệt khối lượng cơ tăng nhanh Từ khi đứa trẻ sinh
ra, tuyến sinh dục nam (tinh hoàn) im lặng cho tới lúc này mới bắt đầu hoạt động Tinh hoàn bắt đầu sản sinh tinh trùng và bài tiết testosteron Dưới tác dụng của testosteron, cơ thể lớn nhanh và xuất hiện các đặc tính sinh dục nam thứ phát như dương vật to lên, túi tinh và tuyến tiền liệt phát triển, cơ nở nang, da thô dày, giọng nói trầm Đứa trẻ bắt đầu có khả năng hoạt động tình dục và sinh sản [32]
Cơ chế dậy thì: Trước kia, người ta cho rằng dậy thì là thời điểm tinh hoàn
“chín” Sau này khi phát hiện ra các hoóc môn hướng sinh dục của tuyến yên người
ta lại cho rằng nguyên nhân của dậy thì là “sự chín” của tuyến yên Ngày nay, với các thực nghiệm ghép tinh hoàn và tuyến yên của động vật non vào động vật trưởng thành người ta thấy cả hai tuyến đó đều có khả năng hoạt động như của động vật
Trang 15trưởng thành nếu có những kích thích phù hợp Không những thế, ngay cả vùng dưới đồi cũng có khả năng bài tiết đủ lượng GnRH Tuy nhiên, trong thực tế cả ba vùng này đều không hoạt động trong suốt thời kì từ sau khi sinh đến trước tuổi dậy thì vì thiếu một tín hiệu kích thích đủ mạnh từ các trung tâm phía trên vùng dưới đồi, mà ngày nay người ta thường cho rằng trung tâm đó chính là vùng limbic [32]
1.2.1.2 Dậy thì nữ
Sau khi trẻ gái ra đời, buồng trứng không hoạt động cho tới khi nhận được kích thích phù hợp từ tuyến yên Hai buồng trứng bắt đầu hoạt động, thể hiện bằng hoạt động sinh giao tử và bài tiết hoóc môn sinh dục nữ dẫn đến những thay đổi về thể chất, tâm lí, sự trưởng thành và hoàn thiện về chức năng sinh dục Thời kì phát triển và trưởng thành này được gọi là dậy thì [2]
Những biến đổi về cơ thể: Trong thời kì này cơ thể các em gái phát triển nhanh
về chiều cao cũng như khối lượng Cơ thể trở nên cân đối, mềm mại, thân hình có đường cong do lớp mỡ dưới da phát triển, đặc biệt ở một số vùng như ngực, mông, khung chậu nở rộng hơn Xuất hiện một số đặc tính sinh dục thứ cấp như hệ thống lông
mu, lông nách Tâm lí cũng có những biểu hiện thay đổi so với trước như xấu hổ khi đứng trước bạn khác giới, hay tư lự và ít nghịch ngợm hơn, ý tứ hơn trong cách cư xử [45]
Chức năng sinh giao tử của buồng trứng bắt đầu hoạt động Hàng tháng, dưới tác dụng của hoóc môn tuyến yên, các nang trứng nguyên thuỷ phát triển, có khả năng tiến tới chín và phóng noãn Như vậy từ thời kì này, các em gái bắt đầu có khả năng sinh con Tuy nhiên, vì chức năng của các cơ quan thuộc hệ thống sinh sản chưa phát triển thành thục nên chưa đủ khả năng mang thai, nuôi con vì vậy cần tư vấn cho các em cách ứng xử trong quan hệ với bạn khác giới, cách phòng tránh thai, phòng tránh các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục [58]
Chức năng nội tiết của buồng trứng thể hiện là buồng trứng bắt đầu tiết hoóc môn sinh dục estrogen và progesteron Dưới tác dụng của 2 hoóc môn này, chuyển
Trang 16hóa của cơ thể tăng, cơ thể phát triển nhanh, các cơ quan sinh dục như tử cung, vòi trứng, âm đạo, âm hộ, tuyến vú phát triển về kích thước và chức năng [32]
Một dấu hiệu đặc biệt quan trọng đánh dấu em gái đã dậy thì chính thức đó là xuất hiện kinh nguyệt hàng tháng Tất cả những biến đổi về cơ thể, tâm lí và hoạt động của hệ thống sinh sản đều do tác dụng của các hoóc môn hướng sinh dục của tuyến yên và các hoóc môn của buồng trứng Các dấu hiệu dậy thì ở nữ thường thể hiện rõ rệt hơn ở nam giới [60]
Thời gian xuất hiện dậy thì: Tuổi dậy thì không phải là một thời điểm mà là một khoảng thời gian có thể thay đổi theo từng cá thể nhưng thường kéo dài 3 - 4 năm Thời điểm bắt đầu dậy thì ở nữ thường được đánh dấu bằng biểu hiện tuyến vú bắt đầu phát triển Ở Việt Nam, thời điểm này thường vào lúc 8 - 10 tuổi Thời điểm dậy thì chính thức được đánh dấu bằng lần có kinh đầu tiên, ở người Việt Nam vào khoảng 13 - 14 tuổi [2], [32], [45]
Cơ chế dậy thì: Ở nữ, buồng trứng có khả năng bài tiết hoóc môn sinh dục, nhưng trong thực tế tuyến này không hoạt động cho tới tuổi dậy thì khi nhận được tín hiệu của hoóc môn hướng sinh dục từ tuyến yên Thời gian dậy thì chính là khoảng thời gian phát triển mối liên hệ giữa vùng dưới đồi - tuyến yên - tuyến sinh dục hoàn chỉnh [45]
Chu kì kinh nguyệt là sự biến đổi về cấu trúc, chức năng của buồng trứng dẫn tới sự chảy máu có chu kì do bong niêm mạc tử cung dưới tác dụng của các hoóc môn tuyến yên và buồng trứng Độ dài của chu kì kinh nguyệt là khoảng thời gian tính từ ngày bắt đầu hành kinh kì này đến ngày bắt đầu hành kinh kì sau Độ dài của chu kì kinh nguyệt ở phụ nữ Việt Nam thường là 28-30 ngày [16] Khoảng 2 ngày cuối cùng của chu kì, hoàng thể đột nhiên bị thoái hóa, nồng độ estrogen và progesteron đột ngột giảm xuống mức rất thấp Kinh nguyệt xuất hiện do sự giảm đột ngột nồng độ hai hoóc môn sinh dục nữ, đặc biệt là progesteron Do nồng độ hoóc môn giảm, niêm mạc tử cung bị thoái hóa tới 65% chiều dày Các động mạch xoắn co thắt do tác dụng của các sản phẩm được bài tiết từ niêm mạc bị thoái hóa, trong đó có prostaglandin Một mặt do các động mạch nuôi dưỡng lớp niêm mạc chức năng bị co thắt gây tình trạng thiếu máu, mặt khác do thiếu tác dụng kích thích của hoóc môn
Trang 17nên lớp niêm mạc này bắt đầu hoại tử đặc biệt là các mạch máu Kết quả là mạch máu
bị tổn thương và máu chảy đọng lại dưới lớp niêm mạc chức năng Vùng chảy máu lan rộng nhanh trong 24-36 giờ và lớp niêm mạc bị hoại tử sẽ tách khỏi tử cung Sau khoảng 48 giờ kể từ lúc xảy ra hiện tượng chảy máu, toàn bộ lớp niêm mạc chức năng bong ra [60]
1.2.2 Các nghiên cứu về dậy thì
Từ 1976 đến 1988, Đinh Kỷ, Lương Bích Hồng, Cao Quốc Việt, Nguyễn Nguyệt Nga và Nguyễn Thu Nhạn đã nghiên cứu những biến đổi của cơ thể ở lứa tuổi dậy thì trên một số lượng lớn học sinh tiểu học và THCS thuộc nhiều tỉnh, thành phố như Hà Nội, Hồ Chí Minh,Thái Bình, Hà Nam Ninh Các chỉ số được nghiên cứu là tuổi có kinh lần đầu, kích thước tinh hoàn, tuổi phát triển tuyến vú, lông mu, lông nách, xuất tinh lần đầu [34], [36], [58]
Năm 1989, Đào Huy Khuê và cs nghiên cứu trên 1.478 học sinh lứa tuổi 6
-17, trong đó có 750 nam và 728 nữ ở thị xã Hà Đông Kết quả cho thấy, tuổi có kinh lần đầu của nữ sinh Hà Đông là 13 năm 8,6 tháng, tuổi dậy thì chính thức của nam
là 15 - 16 Các dấu hiệu chính và phụ về tuổi dậy thì của nữ xuất hiện sớm hơn của nam từ 1 - 3 năm Tuy nhiên, đặc điểm phát dục biến động theo từng cá thể, các dấu hiệu sinh dục của tuổi dậy thì xuất hiện rải rác nhiều năm và ngay ở tuổi 17 vẫn có những học sinh chưa bước vào dậy thì chính thức hoặc chưa đạt mức người trưởng thành Các tác giả còn nhận thấy, tuổi trung bình có kinh lần đầu và các dấu hiệu sinh dục phụ ở nữ sinh Hà Đông đến sớm hơn so với nữ sinh và thiếu nữ nông thôn trước đây Có lẽ, điều này liên quan chặt chẽ đến điều kiện sống ở thành thị và sự phát triển kinh tế - xã hội tốt hơn qua các năm [31], [32]
Năm 1996, Phan Thị Sang đã nghiên cứu một số chỉ số sinh lí, sinh dục - kích thước nhân trắc với việc có kinh nguyệt ở nữ sinh thành phố Huế đã cho thấy, chiều cao đứng và cân nặng của nhóm nữ sinh đã có kinh nguyệt vượt trội hơn so với các
em chưa có kinh nguyệt cùng lứa tuổi Một kết quả nghiên cứu khác của tác giả cho thấy, tuổi có kinh lần đầu trung bình của các cô gái ở Huế trong thập kỉ 90 là 13,6
Trang 18Tác giả nhận định rằng, tuổi có kinh lần đầu của nữ sinh ngày càng xuất hiện sớm hơn so với trước [60]
Trong dự án nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh học người Việt Nam bình thường thập kỉ 90 thế kỉ XX, Cao Quốc Việt và cs nghiên cứu về tuổi dậy thì ở trẻ
em và các yếu tố ảnh hưởng Tác giả đưa ra nhận xét, tuổi dậy thì của các em gái thường đến sớm hơn so với của các em trai khoảng từ 1 - 2 năm Tuổi dậy thì của trẻ em trong thời điểm nghiên cứu đến sớm hơn so với các kết quả trong “Hằng số sinh học người Việt Nam” năm 1975 khoảng 1 năm [81]
Năm 1998, khi nghiên cứu sinh lí tuổi dậy thì của học sinh phổ thông các dân tộc ít người ở tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ, Nguyễn Quang Mai và Nguyễn Thị Lan đưa ra kết luận, tuổi có kinh nguyệt lần đầu của nữ là 14,3 và tuổi xuất tinh lần đầu của nam là 15,4 [56]
Năm 2002, Nguyễn Phú Đạt đã nghiên cứu sự phát triển dậy thì của 9.585 trẻ lứa tuổi 6 - 17 ở 5 tỉnh miền Bắc Việt Nam và nhận thấy, tuổi dậy thì trung bình của trẻ trai là 13 năm 5 tháng, của trẻ gái là 11 năm 10 tháng Theo tác giả, một số yếu tố ảnh hưởng đến tuổi dậy thì như: trẻ gái dậy thì sớm hơn trẻ trai, trẻ có cân nặng thấp dậy thì muộn, trẻ ở miền núi, nông thôn dậy thì muộn hơn so với trẻ ở thành phố [16]
Năm 2006, Đỗ Hồng Cường nghiên cứu trên học sinh trung học cơ sở các dân tộc ở tỉnh Hòa Bình đã đưa ra kết luận, tuổi dậy thì của nam dao động từ 13 năm 9 tháng đến 14 năm, tuổi dậy thì của nữ dao động từ 13 năm 4 tháng đến 13 năm 7 tháng Thời điểm dậy thì hoàn toàn của học sinh dân tộc Dao đến sớm hơn so với các dân tộc Mường, Kinh và Tày [6]
Theo số liệu trong cuốn “Các giá trị sinh học người Việt Nam bình thường thập
kỉ 90 - thế kỉ XX” (GTSH TK90), tuổi có kinh nguyệt lần đầu ở trẻ gái thay đổi theo vùng miền Ở Hà Nội, tuổi có kinh lần đầu của nữ là 13 năm 2 tháng, ở nông thôn là 14 năm, ở Huế là 13 năm 7 tháng, ở miền núi Thừa Thiên Huế là 14 năm 7 tháng, ở thị xã Đắc Lắk là 13 năm 5 tháng, ở miền núi Đắk Lắk là 13 năm 9 tháng [3]
Trang 19Như vậy, dậy thì là giai đoạn không chỉ liên quan với thay đổi các yếu tố bên trong cơ thể mà còn chịu ảnh hưởng nhiều của các yếu tố khác như giới tính, chủng tộc, môi trường sống Ở lứa tuổi dậy thì, trong cơ thể trẻ em diễn ra hàng loạt những biến đổi về hình thái, chức năng và tâm lí
1.3 CÁC CHỈ SỐ HÌNH THÁI - THỂ LỰC CỦA TRẺ EM
1.3.1 Chỉ số hình thái - thể lực của trẻ em
Thể lực gồm nhiều chỉ số phản ánh đặc điểm tổng hợp của cơ thể, có liên quan chặt chẽ với sức lao động và thẩm mĩ của con người Sự phát triển thể lực có liên quan tới quá trình thay đổi đặc điểm hình thái, chức năng của cơ thể con người trong đời sống cá thể, đặc trưng cho lứa tuổi, giới tính và chủng tộc Do đó, việc nghiên cứu thể lực ngày càng được đẩy mạnh cùng với sự phát triển của y - sinh học Các chỉ
số thể lực thường được nghiên cứu gồm cân nặng, chiều cao đứng, vòng ngực, vòng cánh tay, vòng đùi và các chỉ số như BMI, Pignet, Broca
Công trình đầu tiên trên thế giới nghiên cứu sự tăng trưởng một cách hoàn chỉnh
ở các lứa tuổi từ 1 đến 25 theo phương pháp cắt ngang là luận án tiến sĩ của Christian Friedrich Jampert - người Đức (theo [107]) Cũng trong thời gian này Philibert Guerneau de Montbeilard thực hiện nghiên cứu dọc trên con trai mình từ năm 1759 đến năm 1777, phương pháp này đã được áp dụng cho đến nay (theo [103])
Năm 1942, D’Arcy Thomson đưa khái niệm về tốc độ tăng trưởng vào nghiên cứu [88]
Rudolf Martin là người đặt nền móng cho nhân trắc học hiện đại qua hai tác phẩm nổi tiếng: “Giáo trình về nhân trắc học” và “Kim chỉ nam đo đạc cơ thể và xử lí thống kê” Trong các công trình này, ông đã đề xuất một số phương pháp và dụng cụ đo đạc một số kích thước của cơ thể, cho đến nay vẫn được sử dụng [112], [113] Sau đó, công trình khác của H.P.Bowditch ở Mĩ đưa ra chuẩn tăng trưởng của trẻ em Mĩ và lần đầu tiên sử dụng hệ thống bách phân vị trong nghiên cứu tăng trưởng (theo [72])
Năm 1977, Hiệp hội các nhà tăng trưởng học đã được thành lập, đánh dấu một bước phát triển mới cho việc nghiên cứu vấn đề này trên thế giới Năm 2007,
Trang 20WHO công bố chuẩn tăng trưởng của trẻ em học đường và người trưởng thành, là một mốc quan trọng cho các nghiên cứu ứng dụng các chỉ số hình thái để đánh giá tình trạng dinh dưỡng và phát triển thể lực của con người [108], [110]
Nhiều tác giả trong nghiên cứu của mình đưa ra nhận xét có sự khác nhau về tốc độ tăng trưởng các chỉ số thể lực giữa nam và nữ theo độ tuổi Trong giai đoạn
từ 7 - 10 tuổi nữ có tốc độ tăng trưởng cao hơn, còn từ 11 tuổi trở đi tốc độ tăng trưởng của nam nhanh hơn so với của nữ Các tác giả cũng đưa ra nhận xét về một
số nguyên nhân ảnh hưởng đến sự phát triển thể lực của trẻ em, chủ yếu là do chế
độ dinh dưỡng, môi trường và di truyền Dưới tác động của điều kiện sống và đặc điểm di truyền, sự phát triển về mặt hình thái và chức năng của cơ thể trẻ em ngày càng hoàn thiện theo tuổi [58], [86], [90]
1.3.2 Các nghiên cứu về chỉ số hình thái - thể lực của trẻ em Việt Nam
Cuốn “Hằng số sinh học người Việt Nam” (HSSH) [76] xuất bản năm 1975 do Nguyễn Tấn Gi Trọng chủ biên là công trình đầu tiên nêu ra khá đầy đủ các thông
số về hình thái - thể lực của người Việt Nam ở mọi lứa tuổi trong đó có nhóm tuổi
11 - 17 và là chỗ dựa đáng tin cậy cho các nghiên cứu sau này trên người Việt Nam Sau khi thống nhất đất nước (1975), các công trình nghiên cứu hình thái - thể lực đã được triển khai trên toàn quốc
Từ năm 1980 đến 1990, Thẩm Thị Hoàng Điệp nghiên cứu dọc trên 101 học sinh Hà Nội từ 6 - 17 tuổi đã đưa ra kết luận, chiều cao phát triển mạnh nhất lúc 12 tuổi ở nữ và 13 - 15 tuổi ở nam, cân nặng phát triển mạnh nhất lúc 13 tuổi ở nữ và
15 tuổi ở nam [17]
Năm 1991, Đào Huy Khuê nghiên cứu 36 chỉ tiêu kích thước về sự tăng trưởng và phát triển cơ thể của 1478 học sinh từ 6 - 17 tuổi ở Thị xã Hà Đông - Hà Sơn Bình đã cho thấy, trong thời kì phát triển tầm vóc từ 6 - 17 tuổi có những giai đoạn phát triển khác nhau và có liên quan tới giới tính [31]
Năm 1992, Nguyễn Văn Lực và cộng sự (cs) nghiên cứu về thể lực của học sinh từ 12 - 16 tuổi ở Bắc Kạn và trường An Ninh III đã cho thấy, trẻ em dân tộc Tày,
Trang 21Hmông và Kinh ở miền núi có chiều cao và cân nặng lớn hơn trẻ miền xuôi Trẻ em Hmông có cân nặng tương đương nhưng chiều cao đứng lại thấp hơn dân tộc Tày và Kinh [55]
Năm 1993, Đoàn Yên và cs trong nghiên cứu của mình đã đưa ra nhận xét, chiều cao đứng, cân nặng trung bình của người Việt Nam nhỏ hơn của người Âu, Mĩ
ở mọi lứa tuổi, nhịp độ tăng trưởng chậm Nữ bước vào thời kì tăng trưởng và ổn định sớm hơn nam Ở nữ tăng trưởng nhảy vọt về chiều cao xuất hiện lúc 12 - 13 tuổi
và cân nặng lúc 13 tuổi Còn ở nam, tăng trưởng nhảy vọt về chiều cao xuất hiện lúc
13 - 16 tuổi và cân nặng lúc 15 tuổi [82]
Năm 1993 - 1997, Trần Văn Dần và cs đã nghiên cứu các chỉ tiêu chiều cao, cân nặng, vòng ngực trung bình trên 13.747 học sinh từ 8 - 14 tuổi ở các địa phương
Hà Nội, Vĩnh Phú (cũ), Thái Bình Kết quả nghiên cứu đã cho thấy, so với dẫn liệu trong cuốn “HSSH” thì sự phát triển chiều cao của trẻ em từ 6 - 16 tuổi tốt hơn, đặc biệt là trẻ em thành phố và thị xã, nhưng sự tăng về cân nặng chỉ thấy rõ ở trẻ em
Hà Nội, còn ở ba khu vực nông thôn chưa thấy có sự thay đổi đáng kể Qua so sánh kết quả nghiên cứu của năm 1971 và năm 1993 các tác giả nhận thấy, sau hơn một thập kỉ, đối với học sinh Hà Nội có sự khác biệt rõ rệt về chiều cao và cân nặng Còn đối với học sinh Vĩnh Phú (cũ) thì về chiều cao có sự khác biệt rõ, còn về cân nặng chưa có sự khác biệt rõ So với học sinh nông thôn ở cùng một độ tuổi thì học sinh ở thành phố, thị xã có xu hướng phát triển thể lực tốt hơn [10], [11]
Năm 1993, Nghiêm Xuân Thăng đã tiến hành nghiên cứu 17 chỉ số hình thái như chiều cao, cân nặng, vòng ngực… của người Việt Nam từ 1 - 25 tuổi ở một số vùng Nghệ An và Hà Tĩnh Tác giả nhận thấy, sự phát triển chiều cao ở tất cả các
độ tuổi của cư dân vùng Nghệ Tĩnh thấp hơn so với cư dân vùng đồng bằng Bắc bộ
và ở tất cả các độ tuổi các kích thước của nam đều lớn hơn của nữ [62]
Năm 1990 - 1996, Trần Đình Long và cs nghiên cứu đặc điểm phát triển và một số yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển cơ thể của học sinh phổ thông tại một số trường ở Hà Nội Kết quả đã cho thấy, sự phát triển cơ thể của cả hai giới đều chậm lại rõ rệt từ 17 đến 18 tuổi [51], [52]
Trang 22Năm 1996, Phan Thị Sang khi nghiên cứu chiều cao và cân nặng của học sinh từ 9 - 17 tuổi cho thấy, cả hai chỉ số này của nữ sinh Huế đều tăng dần theo tuổi Ở lứa tuổi 11 - 15, chiều cao và cân nặng của nhóm nữ sinh đã có kinh nguyệt vượt trội hơn hẳn so với các em chưa có kinh nguyệt ở cùng lứa tuổi [60]
Năm 1996, Nguyễn Hữu Chỉnh và cs trong nghiên cứu của mình đã đưa ra nhận xét, dân cư ở Kiến An có các chỉ số nhân trắc tốt hơn so với các dẫn liệu trong
“Hằng số sinh học người Việt Nam” Các chỉ số nhân trắc của nữ phát triển nhanh hơn của nam ở thời điểm 10 - 11 tuổi, nhưng từ 14 đến 15 tuổi các kích thước này của nam bắt kịp và vượt hơn so với của nữ Sự khác biệt về mặt chủng tộc, điều kiện sống và quá trình rèn luyện thân thể là những yếu tố tác động đến thể lực của thanh niên [5]
Năm 1998, Nguyễn Quang Mai và cs nghiên cứu trên nữ sinh các dân tộc ít người ở tỉnh Vĩnh Phú đã cho thấy, đến 18 tuổi chiều cao và cân nặng trung bình của
nữ sinh dân tộc ít người thấp hơn so với nữ sinh vùng đồng bằng và thành thị Theo giải thích của các tác giả, nguyên nhân chủ yếu là do ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên, môi trường, chủng tộc và điều kiện kinh tế - xã hội [56]
Dự án “Các giá trị sinh học người Việt Nam bình thường thập kỉ 90 - thế kỉ XX” (GTSH TK90) do trường Đại học Y Hà Nội và Bộ Y tế thực hiện trên cả 3 miền Bắc, Trung, Nam bao gồm cả nông thôn, thành thị, miền núi và đồng bằng đã cho thấy kết quả về các chỉ số về nhân trắc, huyết học… Theo kết quả của dự án này, các chỉ số sinh học chịu ảnh hưởng của môi trường sống và yếu tố dân tộc [3]
Năm 1997, Nguyễn Yên và cs đã nghiên cứu trên các dân tộc Việt, Mường, Dao thuộc các nhóm tuổi 1 - 5 và nhóm tuổi 18 - 55 ở tỉnh Hà Tây (cũ) đã cho thấy, tầm vóc - thể lực của người Việt là tốt nhất, tiếp theo là của người Mường và sau cùng là của người Dao [83]
Âu Xuân Đôn (1998) nghiên cứu về đặc điểm hình thái của học sinh Khơ Me
ở An Giang từ 11 - 14 tuổi đã cho nhận xét, chiều cao đứng, cân nặng của học sinh Khơ Me tuy lớn hơn học sinh Vĩnh Phúc nhưng nhỏ hơn học sinh Hà Nội, còn các
Trang 23chỉ số như VNTB, vòng cánh tay, vòng đùi đều lớn hơn so với kết quả trong
“HSSH” [19]
Năm 2000, Đào Mai Luyến trong luận án tiến sĩ của mình đưa ra kết luận, hình thái - thể lực của người Êđê tốt hơn của người Kinh định cư ở Đăklăk Ông cho rằng, đây là điểm khác biệt mang tính dân tộc và do môi trường sống có ảnh hưởng nhất định đến khả năng tăng trưởng các chỉ số hình thái [54]
Năm 2002, Trần Thị Loan nghiên cứu trên học sinh Hà Nội từ 6 - 17 tuổi đã cho thấy, các chỉ số chiều cao, cân nặng của học sinh lớn hơn so với kết quả nghiên cứu của các tác giả từ những thập kỉ 80 trở về trước so với học sinh Thái Bình và
Hà Tây cùng thời điểm nghiên cứu [50]
Theo một số tác giả nhận định, tốc độ phát triển thể lực của nam và nữ khác nhau Từ 7 - 10 tuổi, tốc độ tăng trưởng chiều cao của nữ nhanh hơn so với của nam, nhưng từ 11 tuổi trở lên thì tốc độ tăng trưởng chiều cao của nam lại nhanh hơn so với của nữ Đây chính là nguyên nhân đã tạo ra điểm giao chéo tăng trưởng chiều cao lần thứ nhất và lần thứ hai lúc 11 và 14 tuổi [5], [34]
Trong thực tế, sự phát triển thể lực của trẻ em phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố và
là kết quả tác động qua lại giữa cơ thể với môi trường Các yếu tố môi trường và điều kiện sống đã tác động đến quá trình sinh trưởng và phát triển của trẻ em [16], [18], [31]
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về hình thái - thể lực của học sinh Việt Nam khá phong phú Tuy kết quả nghiên cứu trong các công trình có khác nhau ít nhiều, nhưng đều xác định được sự thay đổi của các chỉ số này theo lứa tuổi và theo giới tính Sự rèn luyện thể lực có tác động tốt đến chiều cao, cân nặng và một số vòng của cơ thể Các yếu tố xã hội ảnh hưởng đến sự phát triển của cơ thể đặc biệt là trong giai đoạn dậy thì Có sự khác biệt về các chỉ số hình thái - thể lực giữa nam và nữ, giữa trẻ em thành thị và nông thôn, giữa các địa bàn khác nhau cũng như giữa các dân tộc
Trang 241.4 CÁC CHỈ SỐ CHỨC NĂNG CỦA TRẺ EM
1.4.1 Đặc điểm chỉ số chức năng của trẻ em
1.4.1.1 Chức năng tuần hoàn của trẻ em
Hệ tuần hoàn cú chức năng cơ bản là mang mỏu giàu ụxi và chất dinh dưỡng
đi nuụi toàn bộ cơ thể và mang khớ cacbonic cựng những chất độc, chất cặn bó để thải ra ngoài Hoạt động của hệ tuần hoàn được thể hiện qua những chỉ số cơ bản như tần số tim và huyết ỏp động mạch
Tần số tim thay đổi theo lứa tuổi và theo trạng thỏi của cơ thể Vỡ vậy, việc nghiờn cứu tần số tim của trẻ em đó được nhiều tỏc giả tiến hành Cỏc kết quả nghiờn cứu cho thấy, tần số tim của trẻ em giảm dần theo tuổi Sự giảm tần số tim của trẻ em cú liờn quan tới hoạt động của nỳt xoang và cỏc dõy thần kinh ngoài tim [95]
Một số tỏc giả khi nghiờn cứu trờn trẻ em nhận thấy, huyết ỏp của trẻ em tăng dần theo tuổi nhưng tăng khụng đều Thời điểm huyết ỏp tăng nhảy vọt ở nữ
là lỳc 9 và 12 tuổi, ở nam là 9, 12 và 13 tuổi và cú sự khỏc biệt về huyết ỏp theo giới tớnh [50], [95]
1.4.1.2 Chức năng hụ hấp của trẻ em
Trong nghiờn cứu cỏc chức năng hụ hấp, cỏc tỏc giả thường sử dụng cỏc thụng số như cỏc thể tớch, dung tớch và lưu lượng thở để đỏnh giỏ chức năng thụng khớ phổi Cỏc chỉ số này thay đổi qua cỏc giai đoạn phỏt triển của cơ thể và phụ
thuộc mụi trường sống, nghề nghiệp
Từ năm 1952 -1968, cỏc tỏc giả Bernstein, Camphell và Cotes đó nghiờn cứu cỏc chỉ số núi trờn [84], [85], [87] Sang đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX, việc nghiên cứu chức năng phổi đã có những b-ớc thay đổi về chất Cỏc giỏ trị về VC, FVC, FEV1, chỉ số Tiffeneau và cỏc phương trỡnh hồi quy số đối chiếu của chỳng đều được Cộng đồng Than thộp chõu Âu và Tổ chức Y tế Thế giới thống nhất và được
sử dụng cho đến ngày nay [97]
Các nghiên cứu về các chỉ số chức năng phổi cho thấy, cỏc chỉ số này ở trẻ
em phụ thuộc vào sự phát triển của phổi và sự tăng trưởng của cơ thể Cỏc tác giả
Trang 25còn đưa ra nhận xét, dung tÝch sèng ë trÎ em t¨ng nhanh vµo thêi kú dËy th× Ở nam dung tÝch sèng t¨ng nhanh lóc 12 - 13 tuæi, cßn ë nữ vào lóc 11 - 12 tuæi Cã sù kh¸c biÖt vÒ dung tÝch sèng theo giíi tính vµ chØ sè nµy ë nam lu«n lớn h¬n so víi ë
nữ ThÓ tÝch khÝ l-u th«ng ë trÎ 11 - 12 tuæi bằng kho¶ng 280 - 350 ml, ë trÎ 12 - 14 tuæi kho¶ng 300 - 460 ml, ë trÎ 15 - 16 tuæi kho¶ng 300 - 560 ml [86], [87], [97]
1.4.1.3 Phản xạ cảm giác - vận động
Cảm giác là quá trình chuyển đổi năng lượng vật lí thành phản ứng của các
cơ quan cảm thụ, là sự phản ánh của hệ thần kinh đối với vật kích thích
Năm 1863, nhà sinh lí học người Nga Ivan Sechenov đã đưa ra khái niệm:
“Mọi hoạt động tinh thần kể cả các dạng phức tạp nhất, nếu xét về bản chất đều là các phản xạ” Ông cũng nhấn mạnh, trong sự hình thành phản xạ có cả hưng phấn
Theo hướng nghiên cứu sự phát triển của hoạt động phản xạ trong cơ thể, các nghiên cứu của Sfatklit (1947), Glebovski (1959), Krylov (1960) cho thấy, sự biến đổi của môi trường bên ngoài có ảnh hưởng tới phát triển hoạt động phản xạ của trẻ
em (theo [42]) Giai đoạn 11 - 13 tuổi ở nữ và 13 - 15 tuổi ở nam được coi là giai đoạn chuyển tiếp Ở giai đoạn này tốc độ phản xạ thường nhanh, cường độ phản xạ mạnh do quá trình hưng phấn chiếm ưu thế, còn giai đoạn từ 14 - 18 tuổi tốc độ phản xạ tương đối ổn định (theo [45])
Trang 26Như vậy, thời gian phản xạ biến đổi theo tuổi và theo giới tính Thời gian phản xạ phụ thuộc vào mức độ phát triển của hệ thần kinh và tốc độ dẫn truyền xung động thần kinh trên dây thần kinh
1.4.2 Các nghiên cứu về chức năng tuần hoàn của trẻ em Việt Nam
Các chỉ số chức năng của tim - mạch người Việt Nam được nghiên cứu từ rất sớm, cùng với các nghiên cứu về thể lực Các giá trị trong “Hằng số sinh học người Việt Nam” cho thấy, huyết áp động mạch thay đổi từ 11 - 17 tuổi và đưa ra một số yếu tố làm thay đổi huyết áp như vị trí đo, tư thế đo, thời điểm đo và giới tính [76] Tuy nhiên, sau hai hội nghị “Hằng số sinh học người Việt Nam” vào năm 1967 và 1972, các chỉ số này mới được nghiên cứu đầy đủ và mở rộng trên dân cư ở mọi miền đất nước trong các đề tài của nhiều tác giả [3], [7]
Năm 1993, Nghiêm Xuân Thăng nghiên cứu cư dân vùng Nghệ An, Hà Tĩnh thuộc nhóm tuổi 12 - 15 và 18 - 25 Kết quả cho thấy, tần số tim và huyết áp ở các độ tuổi đều chịu ảnh hưởng của khí hậu Tần số tim tăng theo sự tăng của nhiệt độ môi trường và biến đổi theo chu kì ngày, theo mùa, theo mức độ bức xạ và bị tính chất cuả lao động và trạng thái tâm lí chi phối [62]
Trần Đỗ Trinh và cs nghiên cứu một số chỉ số sinh học người Việt Nam thập
kỉ 90 đã đưa ra nhận xét, huyết áp tăng dần theo tuổi với mức tăng chậm nhất ở nhóm tuổi 15 - 19 và huyết áp của nam giới cao hơn so với của nữ giới [75]
Năm 1993, Đoàn Yên và cs nghiên cứu trên đối tượng 17 - 20 và 23 - 30 tuổi
đã cho thấy, tần số tim và huyết áp động mạch biến đổi có tính chất chu kì Huyết áp động mạch tăng đến 18 tuổi, sau đó ổn định đến 49 tuổi rồi lại tăng dần Còn tần số tim lại giảm dần cho đến 25 tuổi Huyết áp động mạch của người Việt Nam ở mọi lứa tuổi đều thấp hơn so với người Âu, Mĩ Ông còn đưa ra nhận xét, thời điểm kết thúc tăng huyết áp tâm thu ở nam lúc 18 tuổi, ở nữ là 17 tuổi Thời điểm kết thúc tăng huyết áp tâm trương ở nam lúc 14 tuổi và ở nữ là 15 tuổi Trẻ em từ 12 tuổi là mốc bắt đầu thể hiện sự phân biệt về giới tính, nữ có tần số tim lớn hơn so với của nam [82]
Trang 27Năm 1998, Nguyễn Văn Mùi tiến hành nghiên cứu trên đối tượng trẻ em từ 7
- 15 tuổi cho thấy, tần số tim của học sinh giảm dần theo tuổi còn huyết áp tâm thu và tâm trương tăng dần theo tuổi Tần số mạch của nam cao hơn so với của nữ ở lứa tuổi
từ 7 - 12, còn từ 13 - 15 không có sự khác biệt giữa nam và nữ về chỉ số này Huyết
áp tâm thu của nam từ 7 - 9 tuổi cao hơn so với của nữ Từ 10 - 15 tuổi không có sự khác biệt chỉ số này theo giới tính Huyết áp tâm trương của các em nam từ 7 -13 tuổi cũng lớn hơn so với của nữ [57]
Năm 2002, Trần Thị Loan trong nghiên cứu của mình cũng đưa ra kết luận, tần số tim của trẻ em giảm dần từ 6 - 17 tuổi, huyết áp tối đa và huyết áp tối thiểu của học sinh tăng dần theo tuổi và không có sự khác biệt về chỉ số huyết áp so với các đối tượng trẻ em trong nghiên cứu của các tác giả khác [49]
Năm 2007, Đỗ Hồng Cường cũng đưa ra kết luận, tần số tim của học sinh trung học cơ sở (THCS) các dân tộc Kinh, Mường, Thái và Tày đều giảm dần theo tuổi Huyết áp động mạch tăng dần theo tuổi, huyết áp động mạch của nữ cao hơn
so với của nam [7]
Năm 2006, Trần Trọng Thủy và cs nghiên cứu huyết áp tối đa và huyết áp tối thiểu của học sinh phổ thông từ 8 đến 20 tuổi Kết quả cho thấy, cả hai chỉ số này ở học sinh nông thôn đều cao hơn so với ở học sinh thành phố và vẫn thấp hơn so với chuẩn về huyết áp theo độ tuổi của Tổ chức Y tế thế giới [68]
Tóm lại, tần số tim và huyết áp động mạch là những thông số đã được nghiên cứu nhiều nhưng chưa được nghiên cứu đầy đủ trên đối tượng học sinh miền núi, đặc biệt là học sinh các dân tộc ít người
1.4.3 Các nghiên cứu về chức năng hô hấp của trẻ em Việt Nam
Ở Việt Nam, nghiên cứu về các chỉ số chức năng hô hấp đã bắt đầu từ khi hòa bình lập lại (1954) Đầu tiên là các nghiên cứu về VC, sau đó là các chỉ số khác Năm 1967, các nghiên cứu được tập hợp lại và công bố trong hội nghị “Hằng số sinh học người Việt Nam” với chỉ số chủ yếu là VC [76] Các nghiên cứu về VC
Trang 28được các tác giả gắn liền với sự biến đổi theo lứa tuổi và theo giới tính [3], [12], [15], [64], [82]
Năm 1975, cuốn “Hằng số sinh học người Việt Nam” đã đưa ra 19 chỉ số liên quan đến đặc điểm sinh lí hô hấp, trong đó dung tích sống đã được các tác giả nghiên cứu theo giới tính, theo lứa tuổi và theo chiều cao Nguyễn Tấn Gi Trọng và
cs đưa ra nhận xét, dung tích sống của trẻ em biến đổi tỉ lệ thuận với lứa tuổi, phụ thuộc vào chiều cao và giới tính Dung tích sống của trẻ em nam luôn cao hơn so với của trẻ em nữ ở tất cả các nhóm tuổi [76]
Năm 1993, Nghiêm Xuân Thăng nhận thấy, VC chịu ảnh hưởng của khí hậu, đạt giá trị cao nhất ở nhiệt độ 30 - 320
C và độ ẩm không khí khoảng 70 - 80%, VC của nam luôn cao hơn của nữ [62]
Năm 1993, Đoàn Yên và cs trong nghiên cứu của mình đưa ra nhận xét, VC tăng nhanh đến 19 tuổi sau đó ổn định ở cả hai giới So với người châu Âu và châu
Mĩ, VC của người Việt Nam luôn có giá trị nhỏ hơn [82]
Năm 1996, Trịnh Bỉnh Dy, Nguyễn Đình Hường và cs đưa ra 9 chỉ số thông khí phổi của người Hà Nội từ 11 đến 80 tuổi theo 4 nhóm tuổi với các chỉ số: dung tích sống thở mạnh, dung tích sống thở chậm, thể tích thở ra tối đa giây đầu, chỉ số Tiffeneau Các kết quả nghiên cứu được trích dẫn trong “Kết quả bước đầu nghiên cứu chỉ tiêu sinh học người Việt Nam” cho thấy, VC của trẻ em thay đổi nhiều trong quá trình phát triển cá thể, các chỉ số hô hấp ở nam luôn cao hơn ở nữ cùng độ tuổi và đến tuổi dậy thì các chỉ số này gần giống như ở người lớn Các chỉ số chức năng hô hấp của người Việt Nam đều thấp hơn so với của người châu Âu [15]
Lê Nam Trà, Nguyễn Văn Tường và cs (1994), nghiên cứu giá trị bình thường của các chỉ số chức năng phổi của cư dân tại Thanh Trì và Thượng Đình - Hà Nội trong
độ tuổi từ 12 đến 82 Khi so sánh các chỉ số này giữa nam và nữ trong độ tuổi 12 - 17, các tác giả đều cho thấy, có sự khác biệt giữa hai giới Các tác giả đã đưa ra phương trình hồi quy để tính số chuẩn của người bình thường [72]
Trang 29Năm 2002, Nguyễn Văn Mùi trong luận án của mình đưa ra kết luận, các thông số hô hấp của trẻ nam đặc biệt tăng nhanh lúc 14 - 15 tuổi và ở trẻ nữ tăng nhanh lúc 13 - 14 tuổi [57]
Trong cuốn “Các giá trị sinh học người Việt Nam bình thường thập kỉ 90 - thế kỉ XX” với đề tài “Nghiên cứu một số chỉ số hô hấp người Việt Nam bình thường” của Nguyễn Văn Tường và cộng sự đã đưa ra 13 chỉ số chức năng phổi trên
239 trẻ nam và 213 trẻ nữ độ tuổi từ 7 đến 15 [3]
Theo nghiên cứu của Trần Thị Loan trên học sinh Hà Nội, VC của học sinh tăng theo tuổi nhưng tốc độ tăng không đều Lứa tuổi VC của học sinh tăng nhanh nhất xảy ra cùng lúc chiều cao của các em tăng nhanh Từ 10 - 17 tuổi, VC của học sinh nam lớn hơn của nữ ngày càng rõ rệt [50]
Tóm lại, các nghiên cứu về các chỉ số hô hấp người Việt Nam cho thấy, các chỉ số hô hấp của người Việt Nam đều có giá trị thấp hơn so với người châu Âu, các chỉ số này của nam cao hơn so với của nữ và mang đặc điểm chủng tộc
1.4.4 Các nghiên cứu về thời gian phản xạ cảm giác - vận động của trẻ em Việt Nam
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu thời gian phản xạ cảm giác - vận động được nhiều tác giả quan tâm Năm 1993, Nghiêm Xuân Thăng nghiên cứu thời gian phản
xạ phân biệt màu sắc, âm thanh trong môi trường nóng khô và nóng ẩm đã cho kết luận thời gian phản xạ thay đổi theo nhiệt độ và độ ẩm của môi trường [62]
Năm 1997, Đỗ Công Huỳnh và cs nghiên cứu thời gian phản xạ cảm giác - vận động của thanh thiếu niên từ 6 - 18 tuổi khu vực Nam, Bắc sân bay Biên Hòa và
xã Vạn Phúc - Hà Đông đã đưa kết luận, thời gian phản xạ cảm giác vận động giảm dần từ 6 - 14 tuổi và ổn định từ 15 - 18 tuổi [28]
Năm 2002, Mai Văn Hưng nghiên cứu thời gian phản xạ cảm giác - vận động của học sinh và sinh viên từ 15 - 21 tuổi cho thấy, thời gian phản xạ tăng dần theo lứa tuổi và có liên quan với giới tính Tác giả còn đưa ra kết luận về mối tương quan giữa năng lực trí tuệ và thời gian phản xạ cảm giác - vận động là tương quan nghịch [25]
Trang 30Trần Thị Loan (2002) nghiên cứu thời gian phản xạ cảm giác - vận động của học sinh từ 6 - 17 tuổi ở quận Cầu Giấy - Hà Nội cho thấy, thời gian phản xạ cảm giác - vận động giảm dần theo tuổi từ 6 - 14 tuổi, ổn định từ 15 - 17 tuổi Thời gian phản xạ cảm giác - vận động của nam thấp hơn so với của nữ [48]
1.5 NĂNG LỰC TRÍ TUỆ CỦA TRẺ EM
1.5.1 Trí tuệ của trẻ em
1.5.1.1 Khái niệm về trí tuệ
Trí tuệ, tiếng Latin (Intellectus) nghĩa là hiểu biết, thông tuệ Theo từ điển tiếng Việt, trí tuệ là khả năng nhận thức lí tính đạt đến một trình độ nhất định Trí tuệ là khả năng hoạt động trí óc đặc trưng của con người [67]
Theo quan điểm hiện nay, trí tuệ là khả năng thích ứng của cá nhân Quan điểm này khá phổ biến và được nhiều nhà nghiên cứu tán thành Wechsler D cho rằng, trí tuệ là khả năng hoạt động có suy nghĩ, tư duy hợp lí, chế ngự được môi trường xung quanh Trí tuệ là khả năng xử lí thông tin để giải quyết vấn đề và nhanh chóng thích nghi với tình huống mới [106] Như vậy, trí tuệ có thể được coi là kết quả tương tác của con người với môi trường sống, đồng thời cũng là tiền đề cho sự tương tác ấy Theo Gardner H., trí tuệ bao gồm nhiều năng lực thích ứng khác nhau [91]
Nhiều nhà tâm lí học đã nghiên cứu mối liên quan giữa kết quả học tập và trí
tuệ và nhận thấy, năng lực trí tuệ và học tập có mối liên hệ chặt chẽ nhưng không
đồng nhất Trên thực tế, phần lớn học sinh có chỉ số IQ cao thì kết quả học tập cũng cao, song cũng có một số học sinh có chỉ số IQ cao nhưng kết quả học tập lại thấp
và ngược lại [47], [89], [101]
Như vậy, trí tuệ là năng lực của cá nhân được thể hiện trong các hoạt động giao tiếp, trong sự phán đoán và thông hiểu một cách đúng đắn sự vật, hiện tượng khách quan nhằm thích ứng tích cực với môi trường xung quanh Sự phát triển của trí tuệ là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và mỗi tác giả thường có quan điểm riêng L.X.Vygotski đã phân chia sự phát triển trí tuệ thành hai mức với cấu trúc khác nhau là trí tuệ bậc thấp và trí tuệ bậc cao Trí tuệ bậc thấp là những phản
Trang 31ứng trực tiếp, cụ thể và tức thời khi có những sự vật hiện tượng tác động trực tiếp lên các giác quan mà không có sự tham gia của ngôn ngữ cũng như các kí hiệu Trí tuệ bậc cao là những phản ứng mang tính chủ động trước các kích thích của đối tượng
do có sự tham gia của ngôn ngữ và kí hiệu, các công cụ tâm lí giữ vai trò quan trọng trong việc thực hiện các thao tác trí tuệ (theo [42])
Theo quan điểm của E.Thorndike, trí tuệ gồm nhiều nhân tố hay thành phần khác nhau Bất kì một hoạt động trí tuệ nào cũng chứa đựng một loạt nhân tố có tác động qua lại với nhau [104] Trên cơ sở đó, Sternberg R.J đã đưa ra thuyết 3 nhân
tố của trí tuệ là trí tuệ phân tích, trí tuệ sáng tạo, trí tuệ ngữ cảnh [101], [102] Từ những nghiên cứu về nhiều loại nghiệm thể thuộc nhiều nền văn hoá khác nhau, Gardner H đã đưa ra lí thuyết nhiều dạng trí tuệ gọi tắt là thuyết MI Theo thuyết này, tồn tại trí tuệ ngôn ngữ, trí tuệ âm nhạc, trí tuệ logic toán, trí tuệ không gian, trí tuệ vận động - cơ thể, trí tuệ cá nhân, trí tuệ xã hội [91]
Sự phát triển trí tuệ của trẻ em trải qua các giai đoạn khác nhau từ sơ sinh đến tuổi trưởng thành Quá trình này diễn ra không đều, không ổn định, mà thay đổi thường xuyên về nhịp độ và tốc độ Khả năng hoạt động trí tuệ của con người qua các giai đoạn phát triển có liên quan đến sự phát triển, trưởng thành và lão hóa của
hệ thần kinh Các chức năng của não bộ trưởng thành vào thời kì thanh thiếu niên Quá trình phát triển cũng như tốc độ lão hóa của hệ thần kinh phụ thuộc vào chế độ luyện tập và hoạt động của nó Như vậy, trí tuệ của con người gắn liền với sự phát triển, hoàn thiện hóa của hệ thần kinh, nó phụ thuộc vào lượng thông tin, tri thức mà con người thu nhận được Trong đó, yếu tố sinh học - di truyền là tiền đề vật chất, hoạt động cá nhân là động lực quyết định và môi trường - xã hội là yếu tố thúc đẩy
sự phát triển trí tuệ [101]
1.5.1.2 Các nghiên cứu về trí tuệ của trẻ em Việt Nam
Trước năm 1975, các công trình nghiên cứu về trí tuệ của người ở Việt Nam chưa được quan tâm nhiều, chỉ có số ít công trình được cán bộ trong ngành y sử dụng để chẩn đoán trí tuệ của bệnh nhân tâm thần ở bệnh viện Bạch Mai và bệnh viện nhi Thuỵ Điển [2]
Trang 32Từ cuối những năm 80 đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu trí tuệ của học sinh Việt Nam Kết quả nghiên cứu của các công trình cho thấy, có thể sử dụng test trí tuệ để chẩn đoán khả năng hoạt động trí tuệ của trẻ em Việt Nam [21], [33], [46], [53] [61], [78], [92], [93]
Năm 1989, Trần Trọng Thuỷ là một trong số những tác giả đầu tiên nghiên cứu
sự phát triển trí tuệ của học sinh Việt Nam Ông đã tìm hiểu sự phát triển trí tuệ bằng test Raven và đã nghiên cứu chiều hướng, cường độ và chất lượng phát triển trí tuệ của học sinh Ông còn đề cập đến mối liên quan giữa trí tuệ và học lực của học sinh [65]
Năm 1994, Trịnh Văn Bảo và cs nghiên cứu mối liên quan giữa yếu tố di truyền và sự phát triển trí tuệ của học sinh Kết quả nghiên cứu đã cho thấy, yếu tố
di truyền là tiền đề cho sự phát triển trí tuệ của học sinh [1]
Nguyễn Quang Uẩn cũng đề cập đến vai trò và sự tương tác của gen, văn hoá
và môi trường đối với sự phát triển trí tuệ con người [77]
Năm 1995, Tạ Thuý Lan và Võ Văn Toàn nghiên cứu trí tuệ của học sinh Tiểu học và Trung học cơ sở ở Hà Nội và Quy Nhơn bằng test Raven và điện não
đồ đã cho thấy, trí tuệ của học sinh phát triển theo lứa tuổi và năng lực trí tuệ của học sinh Quy Nhơn thấp hơn so với của học sinh Hà Nội Khả năng hoạt động trí tuệ của học sinh liên quan với quá trình hoàn chỉnh hoá điện não đồ thể hiện qua nhịp α tại thùy chẩm và nhịp β tại thùy trán [45], [70]
Năm 1996 - 2002, Trần Thị Loan nghiên cứu trí tuệ của học sinh thành phố Hà Nội và một số tỉnh bằng test Raven Kết quả nghiên cứu cho thấy, khả năng hoạt động trí tuệ của học sinh nông thôn thấp hơn so với học sinh Hà Nội, giữa học sinh nam và học sinh nữ không có sự khác biệt rõ rệt về mức độ hoạt động trí tuệ Sự phân bố học sinh theo các mức trí tuệ tuân theo quy luật phân bố chuẩn [46], [50]
Cùng năm 1996, Trần Thị Loan nghiên cứu mối quan hệ giữa năng lực trí tuệ
và học lực của học sinh phổ thông Kết quả đã cho thấy, trí tuệ và học lực của học sinh có mối tương quan thuận khá chặt chẽ [47]
Trang 33Tạ Thuý Lan và Mai Văn Hưng nghiên cứu trí tuệ học sinh Thanh Hoá và đã nhận thấy, năng lực trí tuệ của học sinh tăng dần theo tuổi và có mối tương quan thuận với học lực [39]
Một số tác giả nghiên cứu theo hướng này trên học sinh trung học phổ thông cũng thu được kết quả tương tự [92], [93] Đặc biệt năm 2002, Trần Thị Loan nghiên cứu trí tuệ của học sinh ở độ tuổi từ 6 đến 17 đã cho thấy, quá trình phát triển trí tuệ của học sinh diễn ra liên tục, tương đối đồng đều và không có sự khác biệt theo giới tính Năng lực trí tuệ có mối tương quan nghịch với chỉ số Pignet và tương quan thuận với chỉ số BMI nhưng mối tương quan này không chặt chẽ [50]
1.5.2 Trí nhớ ngắn hạn của trẻ em
1.5.2.1 Khái niệm về trí nhớ
Trí nhớ là hoạt động liên quan đến toàn bộ đời sống tâm lí của con người và
là một thành phần quan trọng của trí tuệ Trí nhớ của con người là một quá trình hoạt động phức tạp, có bản chất là việc hình thành các đường liên hệ thần kinh tạm thời, lưu giữ và tái hiện chúng Trí nhớ là sự tiếp nhận và tái hiện những sự vật, hiện tượng mà con người đã cảm giác, suy nghĩ và hành động Khi các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan tác động vào cơ thể sẽ tạo ra cảm giác Trên cơ sở những cảm giác đơn lẻ, bộ não phân tích và tổng hợp để cho tri giác trọn vẹn các sự vật, hiện tượng và để lại dấu vết của chúng trên hồi hải mã, thể hạnh nhân và vỏ bán cầu đại não Khả năng ghi lại, tái hiện ra trong trí óc những điều đã biết, đã trải qua gọi
là trí nhớ Điều quan trọng là những dấu vết này phải được tái hiện trong hoàn cảnh thích hợp [42], [66]
Về cơ chế hình thành trí nhớ có ba thuyết chính: thuyết phản xạ có điều kiện của I.P Pavlov, thuyết điều kiện hóa mà đại diện là B.F Skiner, thuyết phân tử của McConnell và Jacobson Các tác giả cho rằng, việc hình thành phản xạ có điều kiện
đã tạo nên “vết hằn” của trí nhớ và phản xạ có điều kiện là cơ sở sinh học của trí nhớ Trí nhớ được phát triển trong suốt thời kì thơ ấu, khối lượng ghi nhớ tăng lên, các quá trình ghi nhớ và tái hiện biến đổi và hoàn thiện dần theo lứa tuổi [98], [100]
Trang 34Trên thế giới, một số tác giả nghiên cứu về trí nhớ L.X.Vygotski (1930), A.N.Leonchiev (1931) nghiên cứu về ghi nhớ gián tiếp, A.A.Smirnov (1943) nghiên cứu về vai trò của hoạt động đối với trí nhớ, P.M.Sechenov (1952) nghiên cứu về cơ chế sinh lí của trí nhớ (theo [20])
1.5.2.2 Các công trình nghiên cứu trí nhớ của trẻ em Việt Nam
Ở Việt Nam cũng có nhiều tác giả nghiên cứu về trí nhớ trên học sinh và sinh viên Người đầu tiên nghiên cứu về trí nhớ ở Việt Nam là Phạm Minh Hạc Bằng thực nghiệm ông đã chứng minh được cả hai thuỳ của não (thuỳ trán và thuỳ đỉnh) đều tham gia vào sự lưu trữ thông tin, nhưng thuỳ đỉnh có vai trò quan trọng hơn [20]
Năm 1993, Nghiêm Xuân Thăng nghiên cứu về khả năng ghi nhớ của học sinh và sinh viên Nghệ Tĩnh từ 10 - 20 tuổi trong những điều kiện khí hậu khác nhau đã cho thấy, khả năng ghi nhớ của học sinh biến đổi theo sự biến động của nhiệt độ, độ ẩm, cường độ bức xạ và sự đối lưu không khí [62]
Năm 1994, Trịnh Văn Bảo nghiên cứu trí nhớ của học sinh lớp 6 của trường năng khiếu Marie Curie và trường phổ thông cơ sở Tô Hoàng, thành phố Hà Nội Tác giả đưa ra nhận xét, trí nhớ gần của nhóm học sinh năng khiếu tốt hơn so với nhóm học sinh bình thường và tồn tại mối liên quan giữa yếu tố di truyền với sự phát triển trí tuệ của học sinh [1]
Năm 2002, Trần Thị Loan nghiên cứu trí nhớ của học sinh từ 6 đến 17 tuổi ở quận Cầu Giấy (Hà Nội) đã cho thấy, khả năng ghi nhớ ngắn hạn của học sinh tăng dần theo tuổi, nhưng tăng không đều trong các năm Từ 6 đến 11 tuổi, khả năng ghi nhớ của cả nam lẫn nữ đều tăng nhanh Từ 11 đến 17 tuổi, khả năng ghi nhớ vẫn tiếp tục tăng nhưng với tốc độ chậm hơn, giữa nam và nữ không có sự khác biệt về khả năng ghi nhớ [50]
1.5.3 Khả năng chú ý của trẻ em
1.5.3.1 Khái niệm về khả năng chú ý
Chú ý là một trạng thái tâm sinh lí tham gia vào mọi quá trình hoạt động
Trang 35của cơ thể Chú ý được ví như một chiếc đèn pha chiếu rọi vào một vật nào đấy, với độ sáng khác nhau, sẽ mang lại kết quả soi sáng nhiều hay ít Khi đánh giá vai trò của chú ý nhà sư phạm học người Nga K.D Usinski cho rằng: “Chú ý chính là cánh cửa mà mọi vật của thế giới xung quanh muốn đi vào được tâm hồn mỗi con người đều phải đi qua nó” (theo [63]) Trong một thời điểm nhất định người ta chỉ có thể nhận thức được một số đối tượng hay hiện tượng nhất định Khi ta tập trung
tư tưởng để nhận thức những đối tượng hiện tượng này thì đồng thời phải bỏ qua những đối tượng, hiện tượng khác Sự tập trung tư tưởng để nhận thức một số đối tượng hay hiện tượng nào đó gọi là sự chú ý Như vậy, chú ý không phải là một quá trình tâm lí như những quá trình cảm giác, tri giác, tư duy mà là sự định hướng tích cực của con người vào một số đối tượng hay hiện tượng nhất định [23]
Chú ý là trạng thái tâm sinh lí tham gia vào mọi quá trình tâm lí tạo điều kiện cho một đối tượng hay một số đối tượng được phản ánh một cách tốt nhất Chú ý luôn
đi kèm với quá trình tâm lí khác Nó không tồn tại độc lập Nó cần cho các loại hoạt động của con người, từ lao động chân tay đến lao động trí óc Ở đâu và lúc nào không
có nó tham gia hoặc tham gia không đầy đủ thì kết quả của hoạt động giảm sút [20]
Muốn có được sự tập trung chú ý, não bộ phải làm việc theo nguyên tắc ưu thế Theo học thuyết của Pavlov, cơ sở sinh lí của chú ý là tạo ra “trung tâm hưng phấn tối ưu” trên vỏ não Trung tâm hưng phấn tối ưu có cường độ vừa phải nhưng lại bền vững nhất trong các điều kiện hoạt động hiện tại của cơ thể Theo quy luật cảm ứng qua lại, trung tâm này sẽ ức chế hoạt động của các nơron thuộc các vùng xung quanh [98]
Khi nghiên cứu về cơ chế sinh lí của não bộ, A.A Ukhtomski đã đưa ra học thuyết về “điểm ưu thế” Theo ông, điểm ưu thế có khả năng thu hút hưng phấn từ các vùng khác nhau của não bộ để phát triển và tồn tại và nó sẽ chiếm lĩnh được
“con đường chung cuối cùng” nên các phản xạ khác không thể hiện được Cơ sở sinh
lí của chú ý là phản xạ định hướng có lựa chọn Hoạt động thần kinh tuân theo năm nguyên tắc cơ bản, một trong số những nguyên tắc này là nguyên tắc ưu thế Sự chú ý tồn tại trên cơ sở hoạt động của nguyên tắc này Khi chú ý ở cường độ cao (sự tập
Trang 36trung cao độ) sẽ xuất hiện ổ hưng phấn cực đại (gọi là điểm ưu thế), nó sẽ chiếm ưu thế và lấn át các hưng phấn yếu hơn Điểm ưu thế được hình thành dưới tác động của các hoocmon, các chất hoá học và nhiều yếu tố khác Khi đã tồn tại một điểm ưu thế nào đó thì hiệu quả tác động của các kích thích tương ứng tăng lên rất nhiều, tạo ra được các phản ứng đặc trưng Nhờ hoạt động của não chỉ tập trung vào một ổ hưng phấn, nên con người mới có thể tập trung vào một mục đích xác định Đây chính là
cơ sở của sự chú ý Khi có sự chú ý cao độ thì hiệu quả công việc sẽ cao [105]
Hai học thuyết trên đã lí giải được căn bản cơ sở sinh lí của chú ý Khi ta chú
ý vào một đối tượng nào đó, thì lập tức một số trung khu trên vỏ não hưng phấn Tuy nhiên, khác với động vật, con người biết điều chỉnh sự chú ý của mình theo mục đích nhất định Nhờ có mục đích, con người hướng sự chú ý tới đối tượng nào
đó, duy trì và di chuyển chú ý sang một đối tượng khác có chủ định Như vậy, cơ chế xuất hiện điểm ưu thế trong chú ý có chủ định luôn có sự tham gia của hệ thống tín hiệu thứ nhất và hệ thống tín hiệu thứ hai [98]
Để xác định khả năng chú ý của con người, người ta thường dựa vào độ tập trung chú ý Sự tập trung chú ý là khả năng chỉ chú ý đến một phạm vi đối tượng tương đối hẹp cần thiết cho hoạt động Phạm vi các hoạt động chú ý càng hẹp thì sức chú ý càng tập trung Sự tập trung chú ý phụ thuộc vào độ tuổi, tuổi càng nhỏ thì sự tập trung chú ý càng kém [41] Ngoài ra, sự tập trung chú ý còn phụ thuộc vào nhu cầu của mỗi cá nhân, sức hấp dẫn của đối tượng, loại hình thần kinh Sự
phân phối chú ý là khả năng cùng một lúc chú ý đến nhiều đối tượng hay nhiều hoạt
động khác nhau một cách có chủ định Sự di chuyển chú ý là khả năng chuyển chú ý
từ đối tượng này sang đối tượng khác theo yêu cầu của hoạt động Sự di chuyển chú
ý thể hiện tính linh hoạt, mềm dẻo của hoạt động thần kinh, nó mang tính chất tích cực, chủ động, giúp con người thích ứng với sự thay đổi của môi trường Người có khả năng di chuyển chú ý nhanh, nhạy bén thì thích ứng nhanh, có thể bước vào hoạt động mới một cách chủ động và kịp thời [20]
Như vậy, chú ý giữ vai trò quan trọng trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người Chú ý là điều kiện để hoạt động nhận thức được diễn
Trang 37ra ở các cấp độ khác nhau, là nền tảng của hoạt động nhận thức
1.5.3.2 Các công trình nghiên cứu khả năng chú ý của trẻ em Việt Nam
Việc tìm hiểu và đánh giá khả năng chú ý của học sinh có vai trò rất quan trọng đối với giáo dục Sự phát triển của chú ý diễn ra rất phức tạp ở lứa tuổi học sinh Vì vậy, tìm hiểu diễn biến và quy luật phát triển của chú ý sẽ giúp người giáo viên tổ chức hoạt động dạy và học có hiệu quả hơn Trong những năm qua đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về khả năng chú ý trên các đối tượng khác nhau [26], [50], [62]
Năm 1993, Nghiêm Xuân Thăng qua nghiên cứu sự chuyển tiếp chú ý của học sinh đã nhận thấy, khả năng chuyển tiếp chú ý của học sinh năng khiếu nhanh hơn so với của học sinh bình thường nhưng không có ý nghĩa thống kê [62]
Lê Văn Hồng khi nghiên cứu về khả năng chú ý của học sinh THCS và
THPT đã cho rằng, sự phát triển chú ý của học sinh diễn ra rất phức tạp, chú ý có chủ định dần dần được hình thành, khối lượng chú ý tăng rõ rệt (theo [23])
Năm 2002, Trần Thị Loan nghiên cứu khả năng chú ý của học sinh từ 6 - 17 tuổi tại quận Cầu Giấy, Hà Nội Tác giả đã cho thấy, độ tập trung chú ý và độ chính xác chú ý tăng dần theo tuổi và không có sự khác biệt theo giới tính [50]
Mai Văn Hưng khi nghiên cứu khả năng chú ý của sinh viên một số trường
đại học phía Bắc Việt Nam từ 18 - 25 tuổi đã cho thấy, độ tập trung chú ý tăng dần
từ 18 - 19 tuổi sau đó giảm dần theo tuổi Khả năng tập trung chú ý của sinh viên nam cao hơn của sinh viên nữ ở cùng độ tuổi Tuy nhiên, mức độ giảm khả năng chú ý theo các lớp tuổi không có ý nghĩa thống kê [26]
Trang 38CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIấN CỨU 2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIấN CỨU
2.1.1 Đối tượng nghiờn cứu
Chỳng tụi đó tiến hành nghiờn cứu trờn 3691 học sinh cỏc dõn tộc Kinh, Mường và Sỏn Dỡu từ 11 đến 17 tuổi ở tỉnh Vĩnh Phỳc và Phỳ Thọ
Ở tỉnh Vĩnh Phỳc, chỳng tụi tiến hành nghiờn cứu trờn học sinh của trường Phổ thụng dõn tộc nội trỳ Lập Thạch và trường Trung học phổ thụng Lập Thạch
Ở tỉnh Phỳ Thọ, chỳng tụi tiến hành nghiờn cứu trờn học sinh của trường Phổ thụng dõn tộc nội trỳ Thanh Sơn, trường Phổ thụng dõn tộc nội trỳ Yờn Lập, trường Trung học phổ thụng Thanh Sơn, trường Trung học phổ thụng Yờn Lập, trường Trung học cơ sở Cao Mại, trường Trung học cơ sở Lõm Thao và trường Trung học phổ thụng Long Chõu Sa
Nguyên tắc chọn đối t-ợng: Chọn đối t-ợng nghiên cứu theo nguyên tắc hệ
thống vì trong một tr-ờng số l-ợng đối t-ợng nghiên cứu không nhiều Nguyên tắc này đ-ợc thực hiện nh- sau:
- Lập danh sách các học sinh theo vần ABC
- Tìm khoảng cách giữa các đối t-ợng nghiên cứu (k): k = Tổng số học sinh của từng tr-ờng/số l-ợng đối t-ợng nghiên cứu
- Chọn lựa đối t-ợng bằng cách bốc thăm ngẫu nhiên một số thứ tự Sau đú, chọn đối t-ợng bằng cách từ số thứ tự đó cộng thêm khoảng cách k
Cỏc đối tượng nghiờn cứu khụng cú bệnh mạn tớnh, khụng cú dị tật về hỡnh thể và tinh thần
2.1.2 Đặc điểm của người Mường và Sỏn Dỡu ở tỉnh Vĩnh Phỳc và Phỳ Thọ
Người Mường là một dõn tộc sống ở khu vực miền nỳi phớa Bắc Việt Nam
(1.268.963 người), cú mặt ở tất cả 63 tỉnh Người Mường cư trỳ ở Phỳ Thọ cú khoảng 184.141 người, chiếm 14 % dõn số toàn tỉnh và tập trung chủ yếu ở Thanh Sơn, Yờn
Trang 39Lập và một số xã thuộc huyện Thanh Thuỷ Người Mường làm ruộng từ lâu đời Nguồn kinh tế phụ đáng kể của gia đình người Mường là khai thác lâm thổ sản như nấm hương, mộc nhĩ, sa nhân, cánh kiến, quế, mật ong, gỗ, tre, nứa, mây, song Nghề thủ công tiêu biểu của người Mường là dệt vải, đan lát, ươm tơ Người Mường sống trong những ngôi nhà sàn truyền thống, tập trung thành từng chòm, từng xóm, ẩn khá kín dưới màu xanh của cây cối trồng quanh nhà Mỗi bản Mường thường có khoảng 30 nóc nhà Ngoài ruộng nước, người Mường còn làm nương rẫy, chăn nuôi gia đình, săn bắn, đánh cá, hái lượm và sản xuất thủ công nghiệp [30]
Người Sán Dìu là một dân tộc ít người (146.821 người) sinh sống ở miền
trung du của một số tỉnh miền Bắc Việt Nam, trong đó có tỉnh Vĩnh Phúc Người Sán Dìu chủ yếu làm ruộng nước, làm nương, soi và bãi Thêm vào đó, họ còn chăn nuôi, khai thác lâm sản, đánh bắt, nuôi thả cá, làm gạch ngói, rèn, đan lát… Từ lâu đời, người Sán Dìu đã sáng tạo ra chiếc xe quệt dùng trâu kéo để làm phương tiện vận chuyển Hình thức gánh trên vai hầu như chỉ dùng cho việc đi chợ Hàng ngày, người Sán Dìu dùng cả cơm lẫn cháo, đồ giải khát thông thường là nước cháo loãng Ngoài ra, họ còn hay uống rượu trongsinh hoạt [30]
2.2 CÁC CHỈ SỐ NGHIÊN CỨU
- Các chỉ số về hình thái - thể lực: Chiều cao đứng, cân nặng, vòng ngực
trung bình, chỉ số Pignet và chỉ số BMI
- Các chỉ số chức năng tuần hoàn: Tần số tim, huyết áp động mạch
- Các chỉ số chức năng hô hấp: Tần số hô hấp, dung tích sống (VC), dung
tích sống thở mạnh (FVC), thể tích thở tối đa trong giây đầu (FEV1), chỉ số Tiffeneau, chỉ số Gaensler, chỉ số Demeny
- Các chỉ số hoạt động thần kinh: Thời gian phản xạ (TGPX) thị giác - vận
động và thời gian phản xạ thính giác - vận động
- Tuổi dậy thì: tỉ lệ học sinh dậy thì theo tuổi, tuổi dậy thì của học sinh nam và nữ
Trang 40- Các chỉ số trí tuệ: Chỉ số IQ, khả năng chú ý, trí nhớ ngắn hạn thị giác, trí nhớ
ngắn hạn thính giác
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu
Sö dông ph-¬ng ph¸p nghiªn cøu c¾t ngang tæng thÓ (cross - sectional study) [24] Thời gian nghiên cứu từ tháng 1 năm 2006 đến tháng 12 năm 2011
2.3.2 Phương pháp tính tuổi
Muốn tính tuổi cần phải biết: Ngày, tháng, năm sinh của học sinh và ngày, tháng, năm điều tra Quy ước tính theo cách tính tuổi hiện nay đang được dùng trong tài liệu của Tổ chức Y tế Thế giới và ở nước ta [109] Ví dụ: 1 học sinh sinh ngày 13/7/1990 sẽ được coi là 16 tuổi trong khoảng thời gian từ 13/7/2006 -
13/7/2007 (kể cả hai ngày trên):
Từ sơ sinh đến 11 tháng 29 ngày (năm thứ nhất) tính là 0 tuổi
Từ 1 năm 11 tháng 29 ngày (năm thứ 2): tính là 1 tuổi
Từ 2 năm 11 tháng 29 ngày (năm thứ 3): tính là 2 tuổi…
Từ 17 năm 11 tháng 29 ngày (năm thứ 12): tính 17 tuổi
Như vậy, các học sinh lớp 6 hầu hết ở lứa tuổi 11, lớp 7 ở lứa tuổi 12, lớp 8 ở lứa tuổi 13,….đến lớp 12 ở lứa tuổi 17
2.3.3 Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu
Chúng tôi áp dụng phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu theo cách tính cỡ mẫu của “Dự án điều tra cơ bản các chỉ số sinh học người Việt Nam” [13]
Để kết quả thu được trên cỡ mẫu gồm n có thể đại diện cho toàn đám đông với một độ tin cậy thống kê chọn trước chúng tôi sử dụng công thức: