Nghiên cứu hành vi văn minh đô thị của thanh niên thành phố Hồ Chí Minh
Trang 1HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ THỊ LINH TRANG
NGHIÊN CỨU HÀNH VI VĂN MINH ĐÔ THỊ
CỦA THANH NIÊN THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Tâm lý học chuyên ngành
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS TRẦN QUỐC THÀNH
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi và tôi chịu trách nhiệm hoàn toàn về nội dung của luận án này trước Hội đồng
Trang 3TrangLời cam đoan
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN TÂM LÝ HỌC VỀ HÀNH VI VĂN MINH
ĐÔ THỊ CỦA THANH NIÊN
07
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi văn minh đô thị của thanh niên 45
CHƯƠNG 2
TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
57
CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG BIỂU HIỆN HÀNH VI VĂN
MINH ĐÔ THỊ CỦA THANH NIÊN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ
Trang 43.5 Một số biện pháp kích thích việc thực hiện hành vi văn minh đô thị của
thanh niên thành phố Hồ Chí Minh
135
Trang 5Bảng 2.1: Độ tin cậy của thang đo 65
Bảng 2.3: Cách cho điểm các câu hỏi trong phiếu trưng cầu ý kiến 75
Bảng 3.2: Nguồn tìm hiểu để nhận biết văn minh đô thị, HVVMĐT 87Bảng 3.3: Nhận thức về HVVMĐT trong mối quan hệ với người khác 88Bảng 3.4: Nhận thức về HVVMĐT trong quan hệ với bản thân 89Bảng 3.5: Nhận thức về HVVMĐT trong quan hệ với môi trường 90Bảng 3.6: Thái độ chung đối với việc thực hiện HVVMĐT 92Bảng 3.7: Thái độ đối với hành vi thuộc nhóm quan hệ với người khác 93Bảng 3.8: Thái độ đối với hành vi thuộc nhóm quan hệ với bản thân 94Bảng 3.9: Thái độ đối với hành vi thuộc nhóm quan hệ với môi trường 95Bảng 3.10: Động cơ nói chung khi thực hiện HVVMĐT 96Bảng 3.11: Ứng xử khi đèn tín hiệu giao thông đỏ lên 97
Bảng 3.14: Ứng xử khi thấy người bẻ hoa trong công viên 99Bảng 3.15: Động cơ thực hiện hành vi thuộc nhóm quan hệ với người khác 100Bảng 3.16: Động cơ thực hiện hành vi thuộc nhóm quan hệ với bản thân 101Bảng 3.17: Động cơ thực hiện hành vi thuộc nhóm quan hệ với môi trường 102Bảng 3.18: Mức độ biểu hiện HVVMĐT trong mối quan hệ với người
khác theo điểm trung bình
103
Bảng 3.19: Mức độ thực hiện HVVMĐT thể hiện trong mối quan hệ với
chính bản thân
110
Bảng 3.20: Mức độ biểu hiện HVVMĐT của thanh niên TPHCM thuộc
nhóm quan hệ với môi trường
116
Bảng 3.22: Các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến HVVMĐT của thanh niên
TPHCM
121Bảng 3.23: các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến HVVMĐT của thanh 122
Trang 6Bảng 3.24: Biểu hiện HVVMĐT ở một số nơi cụ thể 123Bảng 3.25: So sánh nhận thức, thái độ và xu hướng hành vi của nhóm thực
nghiệm và nhóm đối chứng trước khi tác động
Biểu đồ 3.3: So sánh điểm trung bình động cơ thực hiện HVVMĐT của
thanh niên TPHCM theo 3 nhóm hành vi
102
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hành vi của con người trong các lĩnh vực hoạt động được nhiều nhà khoa học quantâm nghiên cứu Đặc biệt trong bối cảnh tính ứng dụng của tâm lý học ngày càngđược khẳng định và mang lại những kết quả rất tốt cho đời sống xã hội nói chung vàcho từng cá nhân nói riêng Những vấn đề xã hội đang được các chuyên gia phântích dưới nhiều góc độ khác nhau, trong đó góc độ tâm lý đang được chú ý nhiềuhơn Những cách thức lý giải về các loại hành vi phù hợp hoặc không phù hợp vớichuẩn mực xã hội được chú ý từ khía cạnh tâm lý học đang là một xu hướng ngàycàng rõ nét
Những hành vi cụ thể trên từng thể loại cần được đầu tư nghiên cứu một cách có hệthống để góp phần làm sáng tỏ các cơ sở tâm lý học của hành vi, những đặc trưngcủa các hành vi cụ thể để định hướng và thích ứng với sự biến đổi không ngừng vàrất đa dạng của xã hội đương đại Lý luận tâm lý học về hành vi văn minh đô thịđang rất cần được nghiên cứu để làm cơ sở cho việc đề xuất các phương phápnghiên cứu, phát động thực hiện nếp sống văn minh và hình thành các hành vi vănminh đô thị trong giai đoạn hiện nay Hành vi văn minh đô thị thể hiện trình độ vănhóa, thể hiện giá trị cá nhân, biểu thị các phẩm chất nhân cách của từng chủ thể,phản ánh lối sống của người dân đô thị và có ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc thựchiện các yêu cầu của một xã hội hiện đại, một xã hội công dân Tuy vậy, lý luận tâm
lý học về hành vi văn minh đô thị còn chưa được đề cập và nghiên cứu một cáchthỏa đáng Nghiên cứu hành vi văn minh đô thị dưới góc độ tâm lý học sẽ góp phầnlàm rõ cơ sở lý luận về sự hình thành, phát triển và biểu hiện của loại hành vi này.Nghiên cứu hành vi văn minh đô thị thực sự là vấn đề của tâm lý học hiện đại Văn minh là thước đo cơ bản của một xã hội hiện đại Một đô thị hiện đại, trước hết
đô thị ấy phải là đô thị văn minh Văn minh đô thị không phải tự nhiên hình thành
mà nó được xây dựng từ nỗ lực và quyết tâm của những người sống trong đô thị đó,được khơi nguồn từ ý thức người dân trong cộng đồng Lãnh đạo thành phố Hồ ChíMinh đã xác định: “Sử dụng các biện pháp tổng hợp với nhiều hình thức sinh động
để giáo dục, thực hiện nếp sống văn minh” [61,tr 84] Hiện nay việc nhận thức về
Trang 9văn minh đô thị, nếp sống và hành vi văn minh đô thị của các đối tượng công dânchưa được nghiên cứu một cách cơ bản để có cơ sở đánh giá và đề xuất các biệnpháp xây dựng các hành vi văn minh đô thị phù hợp, đặc biệt là đối với giới trẻ Sốlượng người nhập cư vào thành phố Hồ Chí Minh sinh sống có khuynh hướng giatăng hàng năm, điều này càng làm cho thành phố “giãn” ra về mặt địa lý, đông nhânkhẩu hơn, phố phường chật chội hơn, các nếp sinh hoạt càng được yêu cầu cao hơn.Hàng ngày có thể nhận thấy sự bức xúc của nhiều người khi chứng kiến cảnh chenlấn xô đẩy ngột ngạt tại các bến tàu, bến xe, nhà ga, cảnh xả rác bừa bãi tại các nơicông cộng, cảnh lớn tiếng trong đêm khuya Đặc biệt trong các dịp lễ hội như Tếtnguyên đán, ngày lễ giải phóng đất nước hay ngày Quốc khánh, lễ Noel việcnhiều người thoải mái thể hiện sự tự do vô tổ chức qua các hành vi cá nhân, vớinhững thói quen vốn có trong sinh hoạt ở nông thôn, tại nơi tôn nghiêm, nơi côngcộng đã làm bức tranh văn minh đô thị càng trở nên lộn xộn hơn nữa Những diễnbiến mới về phát triển kinh tế - xã hội, tăng trưởng dân số cũng như tốc độ đô thịhoá gần đây đã làm cho những bất bình đẳng ngày càng gia tăng, sự bất bình đẳngngay trong nội bộ một đô thị cũng đang ngày càng trở thành mối quan tâm củanhiều nhà nghiên cứu, nhiều nhà hoạt động thực tiễn Với tốc độ phát triển đô thịhiện tại, nếu không nhanh chóng xác định cách sống phù hợp để đáp ứng yêu cầucủa xã hội mới thì sự phát triển chắc chắn sẽ gặp những trở ngại nhất định
Những kết quả nghiên cứu về hành vi văn minh đô thị sẽ giúp các cơ sở đào tạo, các
cơ quan thông tin, truyền thông vận dụng thực hiện chức năng của mình có hiệu quảtrong vấn đề xây dựng, rèn luyện hành vi văn minh đô thị cho các đối tượng côngdân Nghiên cứu và đề xuất hệ thống biện pháp xây dựng hành vi văn minh đô thị ởthành phố Hồ Chí Minh không chỉ hướng tới việc xây dựng một nếp sống đô thịhiện đại mà còn có ý nghĩa tích cực tác động, ảnh hưởng đến sự chuyển biến trênnhiều lĩnh vực khác của thành phố trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội Xâydựng thành phố Hồ Chí Minh trở thành một thành phố văn minh hiện đại và đậm đàbản sắc dân tộc không chỉ là nguyện vọng của cư dân thành phố mà còn là một cơ
sở vững chắc để tiến hành hiện đại hóa, văn minh hóa các thành phố khác trên cảnước
Trang 10Thanh niên là lực lượng nòng cốt của xã hội, là những người rất nhạy bén với sựmới mẻ, là những người rất dễ thích ứng và thích ứng nhanh chóng với những thayđổi Đối tượng thanh niên ngày nay với các đặc điểm tâm - sinh lý phong phú, phứctạp thể hiện các hành vi văn hóa nói chung và hành vi văn minh đô thị nói riêngchưa thực sự thường xuyên và tạo ra một phong trào rộng khắp, do đó việc nghiêncứu hành vi văn minh đô thị của thanh niên rất cần thiết vì thanh niên có vai trò đặcbiệt trong việc thực hiện các chương trình hoạt động thực tế của xã hội
Tại thành phố Hồ Chí Minh, quận 1 là địa phương đầu tiên phát động việcthực hiện các hành vi văn minh đô thị, đã thực hiện đề án: “Xây dựng nếp sống vănminh đô thị trên địa bàn quận 1, thành phố Hồ Chí Minh” Ủy ban nhân dân quận 1
đã có những nhận xét hết sức đáng chú ý trong báo cáo sơ kết đề án này: “Vẫn còncác khu dân cư có tệ nạn xã hội, vẫn còn thái độ thiếu tôn trọng nhân dân ở cáccông sở, vẫn còn tình trạng kẹt xe gây tắc nghẽn giao thông do phóng nhanh vượt
ẩu, vẫn còn tình trạng khạc nhổ, xả rác ra đường và các hành vi khiếm nhã nơi côngviên, đặc biệt là đối với thanh niên Ý thức của một bộ phận dân chúng về giữ gìn
vệ sinh văn minh đường phố chưa cao, hiện tượng chèo kéo khách du lịch tranhmua, giành bán, lang thang ăn xin trên đường phố ở một vài nơi vẫn còn làm hạnchế kết quả thực hiện nếp sống văn minh đô thị trên địa bàn quận”
Xuất phát từ những lý do nêu trên, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu hành vi văn minh đô thị của thanh niên thành phố Hồ Chí Minh”
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận tâm lý học về hành vi văn minh đô thị, chỉ rõ thực trạnghành vi văn minh đô thị của thanh niên thành phố Hồ Chí Minh và những yếu tốảnh hưởng đến hành vi văn minh của họ Từ đó, đề xuất các biện pháp xây dựnghành vi văn minh đô thị của thanh niên thành phố Hồ Chí Minh theo hướng tíchcực
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Biểu hiện hành vi văn minh đô thị của thanh niên thành phố Hồ Chí Minh 3.2 Khách thể nghiên cứu
Trang 111120 thanh niên sống tại thành phố Hồ Chí Minh, (gồm học sinh, sinh viên,thanh niên địa bàn dân cư), 30 thanh niên được chọn làm nghiệm thể thực nghiệmtác động
4 Giả thuyết khoa học
Thanh niên thành phố Hồ Chí Minh nhận thức chưa rõ về hành vi văn minh đô thị,
có thái độ chưa tích cực về việc thực hiện hành vi văn minh đô thị và có động cơthực hiện hành vi văn minh đô thị chưa mạnh Biểu hiện hành vi văn minh đô thịcủa thanh niên thành phố Hồ Chí Minh trên 3 nhóm: quan hệ giữa thanh niên vớibản thân, quan hệ giữa thanh niên với người khác và quan hệ giữa thanh niên vớimôi trường ở mức độ trung bình
Nếu có biện pháp nâng cao nhận thức, xác định rõ giá trị bản thân, hình thành thóiquen văn minh đô thị và cải thiện điều kiện cơ sở vật chất tại nơi làm việc và nơicông cộng thì thanh niên thành phố Hồ Chí Minh sẽ thực hiện hành vi văn minh đôthị tốt hơn
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản của tâm lý học về hành vi, hành
vi văn minh đô thị của thanh niên
5.2 Đánh giá thực trạng mức độ biểu hiện hành vi văn minh đô thị của thanhniên thành phố Hồ Chí Minh, các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi văn minh đô thị của
họ
5.3 Đề xuất và tổ chức thực nghiệm biện pháp nhằm giáo dục và rèn luyệnhành vi văn minh đô thị của thanh niên thành phố Hồ Chí Minh
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
6.1 Về đối tượng nghiên cứu
Chỉ nghiên cứu hành vi văn minh ở đô thị của thanh niên trong mối quan hệ vớingười khác, với môi trường sống trực tiếp hàng ngày của thanh niên và với chínhbản thân thanh niên
6.2 Về địa bàn nghiên cứu
Trang 12Đề tài lựa chọn nghiên cứu thanh niên của 5 quận nội thành: 4 quận đại diện cho cácquận cũ của nội đô, 1 quận mới hình thành sau đổi mới và 2 huyện ngoại thành
6.2 Về khách thể nghiên cứu
Khách thể được giới hạn trong độ tuổi đầu thanh niên (16 - 22) Chọn mẫu tại cácquận, huyện đoàn Riêng khách thể thực nghiệm chọn lớp tập huấn kỹ năng sốngđược tổ chức cho thanh niên tại trường Đoàn Lý Tự Trọng - thành phố Hồ ChíMinh
7 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp luận nghiên cứu
7.1.1 Tiếp cận hoạt động - giá trị - nhân cách
7.1.2 Tiếp cận hệ thống
7.1.3 Tiếp cận liên ngành
7.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
7.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
7.2.2 Phương pháp phỏng vấn sâu
7.2.3 Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình
7.2.4 Phương pháp chuyên gia
7.2.5 Phương pháp quan sát
7.2.6 Phương pháp thực nghiệm tác động
7.2.7 Xử lý số liệu bằng thống kê toán học, trợ giúp bằng phần mềm SPSS
8 Đóng góp mới của luận án
8.1 Đóng góp mới về mặt lý luận
Làm phong phú thêm lý luận tâm lý học về hành vi và hành vi văn minh đô thị củathanh niên thể hiện trong ứng xử với môi trường sống, với những người xung quanhnơi công cộng và với chính bản thân mình Hành vi văn minh ở đô thị là hành vi thểhiện trình độ văn hóa của chủ thể, là cơ sở để xây dựng phong cách ứng xử giữa conngười với hiện thực chung quanh
Trang 13Cung cấp một số thông tin, tư liệu để hỗ trợ các nhà quản lý xã hội, các nhà giáodục, các cán bộ đoàn thể tham khảo trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mìnhtrong công tác thanh niên Kết quả nghiên cứu góp phần giúp các cơ sở giáo dụcthanh thiếu niên nói chung trong công tác tuyên truyền, vận động để hình thành vàcủng cố hành vi văn minh đô thị của thanh niên và trong các khóa đào tạo, bồidưỡng cán bộ đoàn, cán bộ hội tại trường Đoàn Lý Tự Trọng thành phố Hồ ChíMinh nói riêng.
9 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, phụ lục và danh mục các tài liệu thamkhảo, luận án được kết cấu thành 3 chương
- Chương 1: Cơ sở lý luận tâm lý học về hành vi văn minh đô thị
- Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
- Chương 3: Kết quả nghiên cứu thực trạng và thực nghiệm các biểu hiện hành
vi văn minh đô thị của thanh niên thành phố Hồ Chí Minh
Trang 14CHƯƠNG 1NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN TÂM LÝ HỌC
VỀ HÀNH VI VĂN MINH ĐÔ THỊ CỦA THANH NIÊN
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài
Những nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến hành vi văn minh đô thị có 3 hướngnghiên cứu chính như sau: hướng nghiên cứu về hành vi của thanh niên và những hệquả của các hành vi lệch chuẩn của thanh niên, hướng nghiên cứu về hành vi vănminh của con người và của thanh niên nói riêng và hướng nghiên cứu về các hành
vi của con người và của thanh niên trong cuộc sống đô thị ngày nay
1.1.1.1 Hướng nghiên cứu về hành vi của thanh niên và những hệ quả của
các hành vi lệch chuẩn.
Tác giả Michael Rulter trong công trình “What do we mean by “Antisocialbehavior” and “Young people”?” đã trình bày nhiều quan điểm về các hành vichống đối xã hội của những người trẻ tuổi, đặc biệt là thanh niên Tác giả đặt ranhững câu hỏi và lý giải về hiện tượng chống đối xã hội này Tại sao thanh niên lại
có những hành vi chống đối xã hội? Thanh niên hiện nay, họ là ai? Họ đang sốngtrong một hệ thống xã hội như thế nào? Làm thế nào để thay đổi hành vi của thanhniên trong vấn đề này? Công trình này đã khẳng định rằng “các hành vi chống đối
xã hội của thanh niên xuất phát từ các yếu tố xã hội là chủ yếu, từ sự bất bình đẳngtrong mối quan hệ giữa người và người trong xã hội” [ 86]
Các tác giả Loeber và Hay của Viện nghiên cứu tâm thần Phương Tây nước Mỹ chorằng, những hành vi lệch chuẩn của thanh niên, những hành vi thiếu kềm chế củagiới trẻ phần lớn là do ảnh hưởng của môi trường sống, của những nhóm bạn hoặcnhững tác động tiêu cực từ cộng đồng hoặc ngay cả gia đình mà thanh niên đó sinhsống” [ 82]
Tác giả Spiros Tzelepis của Hội nghiên cứu Tâm lý học bang New York nước Mỹ
đã phân tích trong công trình “According to youth Risk behavior servey” nhiều vấn
đề cụ thể về các hành vi bạo lực của học sinh, sinh viên “Trong toàn nước Mỹ đã
Trang 15có trung bình 14.8% học sinh, sinh viên từng đánh nhau gây thương tích Nhìnchung, nam sinh viên (20%) có nhiều khả năng gây hấn và đánh nhau hơn so vớihọc sinh nữ (8,6%) Sự khác biệt có ý nghĩa về vấn đề này cũng được xác định chohọc sinh da trắng và gốc Tây Ban Nha và tất cả các nhóm lớp”[97].
Tác giả Diah Wisenberg Brin với bài “Internet changing young people’s thinkingand behavior” trên tạp chí HP Magazin nước Anh cho rằng các phương tiện truyềnthông hiện đại đã góp phần làm thay đổi nhận thức và hành vi của giới trẻ, đặc biệt
là internet, phương tiện làm thế giới xích lại quá gần nhau trên mọi phươngdiện”[74]
Nhóm tác giả thuộc khoa Giáo dục, đại học Cambrige với công trình nghiên cứu
“Hỗ trợ hành vi xã hội cho thanh niên” đã phân tích các hành vi của thanh niên dướigóc độ của nhà sư phạm và đề xuất một số cách thức hỗ trợ hành vi của thanh niêntrong các cộng đồng và trong việc thực hiện các chương trình xã hội, tình nguyện.[69]
Tác giả Kent E Portney của Đại học Boston, Mỹ đã giới thiệu và phân tích sâu sắc
về các hành vi chính trị của những người trẻ tuổi ngày nay Sau khi giới thiệu vềhành vi chính trị, tác giả cho rằng “Ngày nay sự tham gia các hoạt động chính trịcủa người trẻ được nhìn nhận như là một hiện tượng thông thường nhưng hiện nay,việc tham gia các hoạt động chính trị của giới trẻ có khác khá nhiều so với giới trẻtrước đây, đặc biệt là trong vấn đề thực hiện quyền của một cử tri khi tham gia cáccuộc bầu cử, dù ở cấp nào cũng vậy” [80]
Liabo Kristin, Joanna Richardson, nhóm tác giả của “Child and Adolescent MentalHealth Center” của Anh trong công trình nghiên cứu “Conduct Disorder andOffending Behavior in Young People” đã trình bày các tài liệu và một số kỹ thuật,phương pháp tiếp cận điều trị đối với rối loạn hành vi trẻ vị thành niên và ngườiphạm tội trẻ tuổi Các tác giả cũng phản ánh một cái nhìn tổng quan của tình trạngnày bao gồm các tiêu chí để chẩn đoán rối loạn hành vi, và các dịch vụ cho thanhthiếu niên Theo các tác giả này thì “các rối loạn và hành vi vi phạm ở những ngườitrẻ tuổi là vấn đề hết sức phức tạp cần có sự hỗ trợ và giải quyết của nhiều cơ quanvới những giải pháp đa dạng”[84]
Trang 16Trong công trình nghiên cứu “The theory of planned behavior applied to youngpeople's use of social networking Web sites” tác giả Pelling EL thuộc QueenslandUniversity of Technology, Australia đã nhận định rằng “Nhìn chung, việc sử dụngmạng xã hội bị ảnh hưởng bởi thái độ, quy phạm, và các yếu tố thuộc về bản sắc củacon người nói chung và giới trẻ nói riêng Việc phát hiện vấn đề này có thể được sửdụng để thiết kế các chiến lược nhằm mục đích để thay đổi mức độ sử dụng hoặckhuynh hướng gây nghiện mạng xã hội của giới trẻ.”[89] Tác giả Marthairvine củaĐại học Chicago, Mỹ cho rằng “Nhiều nhà quản lý và những người khác tại nơi làmviệc từ lâu đã cho rằng sinh viên đại học gần đây thường nói đến những kỳ vọngcao bất hợp lý đối với tiền lương sau khi ra trường và họ cũng không muốn cónhững lời chỉ trích đối với họ Rất nhiều trong số họ có một sự tự tin rằng chúng tôimuốn điều chúng tôi có, họ đã tự tin thái quá” [85] Nhà tâm lý học Jeffrey Arnett,một giáo sư nghiên cứu ở khoa tâm lý học tại Đại học Clark ở Massachusetts cũngnói “Nghiên cứu tuổi trẻ ngày nay như nghiên cứu "tuổi trưởng thành mới nổi",một thuật ngữ đã được đặt ra để mô tả khoảng thời gian từ 18 tuổi đến 29 khi nhiềungười trẻ đang tìm kiếm vị thế của họ một cách mạnh mẽ và đầy tự tin” [68]
Trong công trình nghiên cứu “Young Adults' Information Behavior: What WeKnow So Far and Where We Need to Go from Here” của nhóm tác giả Denise E
Agosto, Advisory Board Member đăng trên “Journal of Research on Libraries and
Young Adults” University Illinois, Mỹ đã có những nhận xét rất cụ thể về các nhu
cầu thông tin của thanh niên thể hiện qua các hành vi thu nhận, xử lý thông tin.Nghiên cứu này cho rằng, “thanh niên thường thiếu kiến thức nguồn, kiến thức nền
và thiếu kiến thức tình huống, một số thanh niên né tránh các thông tin về mình vàmột số thanh niên rơi vào tình trạng quá tải thông tin” [74]
Luận án tiến sĩ “Media influence on deviant behavior in middle school” của tác giảAdrian D Pearson thuộc North Carolina University cho rằng “Hiện đang có nhiềucâu hỏi phải được trả lời: Tại sao nhiều hành vi lệch lạc của giới trẻ Mỹ có khuynhhướng gia tăng trong vòng mười đến mười lăm năm qua? Có một mối tương quannào giữa sự gia tăng phương tiện truyền thông đến việc thực hiện các hành vi nàykhông?” Luận án này đề cập đến những tác động tiêu cực từ các phương tiện truyềnthông đến các hành vi chống đối xã hội, truyền thông như một yếu tố quan trọng
Trang 17góp phần làm các học sinh nghĩ đến việc chống đối xã hội và gây rối Luận án cũngcung cấp một cách tổng quan về các yếu tố khác được xác định trong vấn đề này, đó
là việc thiếu sự hỗ trợ của gia đình, một số học sinh ít có lòng tự trọng và ít có sựkiểm soát từ bên ngoài [ 63]
1.1.1.2 Hướng nghiên cứu về hành vi văn minh của con người nói chung và
của thanh niên nói riêng
Tác giả Anton Chekhov trong “A Life in Letters” đã đề xuất 8 tiêu chí để xác định
hành vi của người văn minh:
- Họ tôn trọng con người như một cá nhân, luôn luôn khoan dung, nhẹnhàng, lịch sự và tuân theo các qui định đã được xác lập
- Họ có lòng từ bi đối với người khác ngoài những người ăn xin và nhữngcon mèo Trái tim của họ bị lay động về những gì đang nhìn thấy bằng mắt thườnggây cho họ sự xót xa
- Họ tôn trọng tài sản của người khác, và do đó trả nợ khi đến hạn
- Họ không quanh co, không nói dối ngay cả trong vấn đề tầm thườngnhất Nói dối với một người nào đó là xúc phạm họ, họ cư xử trên đường phố nhưkhi họ ở nhà
- Họ không hạ mình xuống để gây được cảm tình của người khác
- Họ không bắt chước, sao chép hành vi của người nổi tiếng
- Họ tự hào về tài năng của mình nếu họ có tài
- Họ không sống bản năng.[ 65]
Ralph S Marston, Jr với bài viết “Civilized behavior” trong Daily Motivator 2004
đã cho rằng: “Để cho nền văn minh được chứng minh, chúng ta phải thực hành lịch
sự, tôn trọng hành vi của người khác để được người khác tôn trọng lại”[91]
Nhóm tác giả trong tác phẩm “Rules for civilized behavior” đã khẳng định “Khithực hiện một hành vi được cho là văn minh, người ta phải lưu tâm đến giá trị củahành vi đó trong nhận thức của mình, sau đó họ phải lựa chọn cách ứng xử phù hợpvới mình”[97] Các tác giả cho rằng những hành vi văn minh được các cá nhân thựchiện lúc nào cũng phụ thuộc vào sự hiểu biết, về trình độ lượng giá vấn đề của cánhân đó trong một tình huống cụ thể
Trang 18Tác giả Lucinda Holdforth trong cuốn sách “Why Manners Matter: The Case ForCivilized Behavior in a Barbarous World” đã trình bày và phân tích khá sâu sắc vềnhững ứng xử văn minh trong một tình huống bất thường hoặc “không văn minh”.Tác giả cho rằng, người ta phải lịch sự với người khác vì ứng xử lịch sự với ngườikhác như là một nhu cầu của mình vậy Không nên có cách suy nghĩ và ứng xử kiểunhư: Tôi muốn làm những gì tôi muốn cho tôi mặc dù có thể làm cho bạn lâm vàocảnh khốn cùng.”[83] Đề cập đến các hành vi văn minh dưới góc nhìn văn hóa -tâm lý, tác giả cho rằng “Hành vi văn minh là cách thức cư xử hiện đại, là triết lýcủa các nhà tư tưởng về cuộc sống hiện đại”.[83]
Tác giả Jame Mann trong tác phẩm “Civilized behavior – Truth to power” khi phêbình các hành động của chiến tranh có nhận xét rằng “Một hành vi nếu mâu thuẫnvới hành vi văn minh thì không thể nói đó là một hành vi yêu nước được”[78] Còntác giả Keith Thomas trong “Toward civilized behavior” đề cập đến hành vi vănminh như là nói đến mối quan hệ và ứng xử giữa Người với Người, trong đó cáchành vi thông thường như ăn uống, thích ứng với môi trường được thực hiện nhưthế nào để người khác không cảm thấy lố bịch [81] Đối với tác giả ItzkoffSeymour W trong “The making of the civilized mind” thì đề cập đến hành vi vănminh như là một hành vi có tính trí tuệ cao [77]
1.1.1.3 Hướng nghiên cứu về hành vi của con người trong đô thị ngày nay
Samual P Huntingtion với “Civilizations and the recreating of world order”[Penguin group] cho rằng “Hành vi văn minh tại đô thị phụ thuộc vào môi trường và
có tác động đến môi trường, mối quan hệ giữa hành vi văn minh và môi trường rấtđặc biệt.”[96] Milgram Stanley trong bài viết “What are the differences betweenurban and rural behavior?” mô tả các hành vi văn minh trong môi trường đô thị bắtđầu từ sự thay đổi lối sống, nếp sống, đặc biệt là đối với mối quan hệ ứng xử giữangười với người trong môi trường đô thị [76]
Tập thể tác giả trong công trình nghiên cứu “Siences fairs projecters” đề cập đến vaitrò rất quan trọng của “tự ý thức bản thân” trong quá trình hình thành các hành vivăn minh, lối sống văn minh ở đô thị [95]
Tác giả Ahmed A L Mahbub Uddin trong “Weber’s perspective on the city andculture” cho rằng những yếu tố văn hóa có ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành
Trang 19những khuôn mẫu ứng xử, những khuôn mẫu ứng xử này quay lại ảnh hưởng đếnviệc duy trì các giá trị văn hóa.[66]
Công trình nghiên cứu “Suicidal Behavior in Urban American Indian” của tác giảFreedenthal S của hiệp hội nghiên cứu tự tử Mỹ “The American Association ofSuicidology” năm 2004 cho rằng, những người tự tử trẻ tuổi ở đô thị thường có vấn
đề về tâm lý và phần lớn mang màu sắc lạm dụng [73]
Tác giả SE McKinney trong nghiên cứu qua đánh giá xếp loại ABC giáo viêntrường phổ thông “Managing Student Behavior in Urban Classrooms: The role ofTeachers” đã nhận định rằng, muốn quản lý hành vi, ứng xử của học sinh trong lớphọc theo các chuẩn mực thì người giáo viên phải am hiểu những diễn biến tâm lý
và các tình trạng xã hội khác từ phía gia đình, bè bạn của học sinh” [98]
Có thể nhận thấy rằng, các khuynh hướng nghiên cứu trên đây của các tác giả nướcngoài có đề cập đến hành vi của thanh niên dưới góc nhìn tâm lý học, văn hóa họcnhưng phần lớn ở dạng mô tả và trình bày những thông tin trong nghiên cứu thựctiễn Những hành vi văn minh được các tác giả nước ngoài trình bày khá chi tiết trêncác bình diện ứng xử của con người nhưng cũng mang tính khái quát, chưa phântích cụ thể mối quan hệ giữa các chủ thể với hiện thực chung quanh Những hành vitrong môi trường đô thị hiện đại được các tác giả nước ngoài phân tích khá rõ, đặcbiệt là những tác động khách quan đến các hành vi văn minh Đây cũng là cơ sở đểtham khảo nghiên cứu vấn đề văn minh đô thị hiện nay và hành vi văn minh đô thịcủa thanh niên hiện nay cho luận án
Ở Việt Nam, có thể lưu ý đến 2 hướng nghiên cứu: hướng nghiên cứu về hành vi,hướng nghiên cứu về hành vi văn minh đô thị
1.1.2.1 Hướng nghiên cứu về hành vi
Ở Việt Nam, tác giả Phạm Minh Hạc đã có công trình “Hành vi và hoạt động”khẳng định phương pháp tiếp cận hoạt động – nhân cách, định hướng cho nghiêncứu tâm lý học lý luận và ứng dụng ở Việt Nam Những vấn đề lý luận về hành vicủa mỗi trường phái tâm lý học còn nhiều điều khác nhau tùy thuộc vào cách tiếpcận, do đó việc định hướng nghiên cứu từng loại hành vi cụ thể của con người có sự
Trang 20khác nhau, hệ thống các cách thức điều khiển, thích ứng hành vi cũng sẽ khác nhau.[12]
Trong lĩnh vực tâm lý học ứng dụng, các hành vi được xem xét là những biểu hiệnbên ngoài chịu sự tác động từ những động cơ bên trong với những công trình nghiêncứu về hành vi tổ chức, hành vi tiêu dùng, hành vi khách hàng, hành vi tài chính,hành vi tội phạm, hành vi tình dục Đặc biệt gần đây các tác giả Việt Nam đã cónhiều quan tâm đến hành vi tiêu dùng và hành vi khách hàng Một số công trìnhnghiên cứu về hành vi tiêu dùng ở Việt Nam đã tham khảo ý tưởng về lý thuyết “tàichính hành vi” khi cho rằng “Tài chính hành vi” là một hệ lý thuyết kinh tế đòi hỏiphải hiểu và dự đoán được những ẩn ý trong hệ thống thị trường tài chính của việcđưa ra những nhận định và quyết định cụ thể [23] Bằng cách hiểu hành vi của conngười và cơ chế tâm lý khi đưa ra các quyết định tài chính, những mẫu tài chínhchuẩn có thể được nâng cao để phản ánh và giải thích tốt hơn thực tế phát triển củathị trường ngày nay “Tài chính hành vi” là một bộ phận của các môn học về tàichính, các nội dung này là cơ sở giúp con người hiểu và dự đoán được các dấu hiệucủa hệ thống thị trường tài chính để có các quyết định tâm lý “Tài chính hành vigần như bao gồm cả hành vi con người và hiện tượng thị trường và sử dụng các kiếnthức có được từ ngành tâm lý học và lý thuyết tài chính” [94]
Cũng trong xu thế ứng dụng tâm lý học hành vi, tác giả Nguyễn Như Chiến với luận
án tiến sĩ “Nghiên cứu hành vi chấp hành luật giao thông đường bộ của học sinhtrung học cơ sở khi tham gia giao thông” đã có những phân tích khá rõ nét về diễnbiến hình thành và biểu hiện hành vi tham gia giao thông của học sinh nói riêng vàcon người xã hội nói chung Luận án của tác giả Nguyễn Như Chiến đã chỉ ra thựctrạng hành vi chấp hành luật giao thông đường bộ của học sinh trung học cơ sở(THCS) khi tham gia giao thông dựa trên số liệu thu được từ nhiều nguồn thông tinkhác nhau; phân tích các yếu tố tâm lý, xã hội ảnh hưởng đến hành vi chấp hànhluật giao thông của học sinh THCS Các phân tích, so sánh được tiến hành theonhiều chiều cạnh khác nhau như: theo biến số lớp học, theo giới tính, theo học lực,hạnh kiểm của học sinh, theo khu vực trường… đã làm rõ được các mức độ chấphành, những sai phạm luật giao thông của học sinh.[4]
Trang 21Tài liệu tham khảo Tạp chí Giáo dục mầm non tháng 2/2008 với chuyên đề “Giáodục hành vi văn hóa cho trẻ” không chỉ đề xuất những yêu cầu cho trẻ mà cho cảngười lớn, cho thầy cô giáo để ứng xử có văn hóa với những hành vi văn hóa Cáccông trình nghiên cứu trên đây đã có những phân tích khá chi tiết về những vấn đề
lý luận về hành vi, cơ cấu hành vi, những yếu tố ảnh hưởng đến hành vi của từngđối tượng, đặc biệt phác thảo thực trạng thực hiện hành vi với những nội dung đadạng
1.1.2.2 Những nghiên cứu về hành vi văn minh đô thị
Việc nghiên cứu những vấn đề tâm lý văn hóa, tâm lý đô thị ở Việt Nam chưa đượckhai phá và đầu tư thỏa đáng, ngoài những nghiên cứu về giao tiếp, về tâm lý cộngđồng, tâm lý học về hành vi tiêu dùng những nghiên cứu hành vi văn hóa, vănminh nói chung, hành vi văn minh đô thị vẫn còn khá ít ỏi
Ở Việt Nam, vấn đề nếp sống thị dân và văn minh đô thị đã được nhiều tác giả đềcập trong các công trình nghiên cứu, các bài báo và các ý kiến phát biểu của nhiềunhà nghiên cứu thực tiễn dưới nhiều góc độ khác nhau Đặc biệt khi Hội đồng nhândân (HĐND) thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM) lấy năm 2008 và tiếp tục năm 2009
là năm thực hiện nếp sống văn minh đô thị thì vấn đề càng được quan tâm nhiềuhơn, rộng hơn và sâu sắc hơn Có thể nói rằng các công trình nghiên cứu trongnước đã mở ra nhiều hướng tiếp cận để tiếp tục nghiên cứu môi trường đô thị đangcàng ngày càng định hình rõ nét hơn ở TPHCM nói riêng và cả nước nói chung Cácnghiên cứu trong nước tuy rất đa dạng và hết sức phong phú nhưng có thể khái quáttrên các vấn đề sau đây:
- Một số nội dung, khái niệm về nếp sống văn minh, thực trạng nếp sống xãhội hiện nay Nhiều nghiên cứu nêu những bức xúc cần giải quyết trong xây dựngnếp sống văn minh, xác định hệ chuẩn mực nếp sống văn minh trong giai đoạn mới.Một số lý luận về xây dựng nếp sống văn minh trong bối cảnh hiện nay và dự báo
về nếp sống đô thị của dân tộc Việt đến năm 2020 Những hệ chuẩn mang tính quitắc của nếp sống văn minh đô thị - những vấn đề đặt ra trong việc xây dựng nếpsống văn minh đô thị Các tác giả trong nước cũng đề cập đến những thay đổi bộmặt của đô thị Việt Nam trong những năm qua dẫn đến những thay đổi về cáchsống, về lối sống để thích nghi với “xã hội mới” Trong xu hướng này có đề tài khoa
Trang 22học của tác giả Hà Học Hợi “Một số vấn đề lý luận về xây dựng nếp sống văn minh.Xây dựng nếp sống văn minh trong bối cảnh dân tộc và thời đại hiện nay” năm
2003 Cũng trong năm này, công trình nghiên cứu “Nghiên cứu, xây dựng chươngtrình giáo dục nếp sống văn minh thí điểm trên truyền hình” của tác giả NguyễnNghĩa Trọng thuộc Ban Tư tưởng văn hoá Trung ương đã được nghiệm thu và đưavào ứng dụng Ngoài ra còn có đề tài của tác giả Nguyễn Thế Cường năm 2002
“Xây dựng trật tự đô thị TPHCM từ cách tiếp cận văn hóa xã hội” nói lên được một
số khía cạnh của những hành vi bảo đảm trật tự đô thị
- Khuynh hướng nghiên cứu về việc điều chỉnh chính sách quản lý đô thịtrong tình hình mới, từ việc điều chỉnh qui hoạch hạ tầng đến qui hoạch dân cư vàcác khu vực chuyên biệt khác, từ việc hình thành các khu đô thị tự phát đến việcđịnh hướng phát triển đô thị có sự kiểm soát Nhiều tác giả cũng đề cập đến khảnăng quản lý đô thị của Việt Nam để đề xuất các giải pháp quản lý đô thị phù hợp,trong đó có đề cập đến việc hình thành lối sống mới, hình thành các thói quen sinhhoạt ở đô thị và trở thành hành vi văn minh đô thị “Sự thay đổi chức năng từ đô thịhành chính sang đô thị kinh tế - chính trị - văn hóa, kết hợp với việc mở rộng diệntích cùng xu thế nhà cửa phố xá được tổ chức, xây dựng hiện đại hơn, hệ thống giaothông hoàn thiện hơn dẫn đến việc hình thành một tiền đề vật chất quan trọng để cáctầng lớp dân cư đô thị thiết kế một sinh hoạt kiểu mới và hình thành các thói quenứng xử mới ở đô thị, điều đó như sự đan xen hiển nhiên giữa nền văn minh nôngnghiệp và văn minh công nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa đất nước.”[33].Cũng trong hướng này tác giả Trần Ngọc Khánh đã phân tích các yếu tố văn hóaảnh hưởng đến hành vi ứng xử của con người trong xã hội hiện đại, xã hội đang đôthị hóa mạnh mẽ với đề tài “Văn hóa đô thị và vấn đề đô thị hóa từ thực tiễn đờisống văn hóa của TPHCM.”
- Khuynh hướng đề cập đến những vấn đề nhận thức về một thành phố pháttriển năng động, đông dân với những nhận định về hiện trạng và hướng phát triểntrong tương lai của TPHCM Những định hướng, giải pháp quy hoạch đúng đắn vàkhả thi cho thành phố để TPHCM trở thành một thành phố văn minh – hiện đại –văn hóa tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc Những phương pháp tiếp cận mớimang tính hệ thống nhằm cải tiến hệ thống qui hoạch và quản lý đô thị trong thời kỳ
Trang 23chuyển đổi (gắn với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN))nhằm hướng tới sự phát triển bền vững của thành phố, trong đó yếu tố con ngườiđóng vai trò là hạt nhân chủ thể Trong khuynh hướng này có đề tài “Xác định cácluận cứ cho các giải pháp kiến trúc - quy hoạch xây dựng TPHCM văn minh - hiệnđại - văn hóa tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc” của tác giả Lưu Trọng Hải năm2001.
- Khuynh hướng nói đến sự chuyển động đô thị hóa ngày càng mạnh mẽcùng những việc chỉnh trang qui hoạch đô thị ngày càng dồn dập trong giai đoạnphát triển đô thị hiện nay của TPHCM đưa ra những vấn đề cần giải quyết của việcphát triển đô thị tại TPHCM nhằm định hướng cho việc xây dựng tính nhân văn vàbền vững của thành phố Những thay đổi giá trị sống như là điều tất yếu, trong đó
có sự thay đổi về lối sống, nếp sống; sự phân tầng xã hội, sự xã hội hóa lối sốngngày càng mạnh mẽ và do vậy các yếu tố văn hóa của lối sống, nếp sống, hành vivăn minh hiện đại càng phải được coi trọng Hướng nghiên cứu này có đề tài của tácgiả Tôn Nữ Quỳnh Trân “Vấn đề phát triển đô thị bền vững tại TPHCM và nhữngkinh nghiệm từ một số thành phố lớn ở Đông Nam Á.”
- Những nghiên cứu, bài viết hoặc các bài phát biểu của các vị lãnh đạo, quản
lý nhà nước về môi trường đô thị, về việc thực hiện nếp sống văn minh đô thị…Một số bài viết phê phán mạnh mẽ lối sống vô tổ chức, thiếu văn minh của một bộphận cộng đồng dân cư Những nghiên cứu và bài viết đề cập đến các giải phápchung và khái quát về việc vận động cư dân, vận động cộng đồng tham gia quản lý
xã hội và ủng hộ cho chủ trương hình thành chính quyền đô thị với lối sống mới.(Đời sống thị dân: văn minh đô thị bắt đầu từ đâu? Tác giả Nguyễn Minh Hòa.)
“Phát triển văn hoá đồng bộ, tương xứng với phát triển kinh tế để tạo dựng sự pháttriển đô thị bền vững - Trường hợp TPHCM” của tác giả Trần Trọng Đăng Đàn.Tạp chí Khoa học chính trị, 2005
Tóm lại, vấn đề hành vi văn minh đô thị đã được các nhà khoa học trong vàngoài nước tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau, trong đó đề cập đến định nghĩahành vi văn minh, ảnh hưởng của các yếu tố văn hóa đến việc hình thành những ứng
xử văn minh, những biểu hiện của nếp sống văn minh đô thị Các tác giả cũng đềcập đến những tác động tích cực lẫn tiêu cực từ sự phát triển đô thị ngày càng nhanh
Trang 24chóng đối với việc hình thành các thói quen mới, những hành vi đáp ứng yêu cầumới của xã hội phát triển Tuy nhiên việc nghiên cứu sự hình thành những hành vivăn minh đô thị trong những bối cảnh, hoàn cảnh hoặc địa phương cụ thể chưa được
đề cập một cách rộng rãi, các mức độ thực hiện hành vi văn minh đô thị của cácnhóm dân cư cụ thể chưa được xem xét chi tiết
Về phương diện tâm lý học, việc nghiên cứu hành vi văn minh đô thị của một đốitượng cụ thể nào từ trước đến nay vẫn còn khá mới và chưa có công trình nàonghiên cứu về vấn đề này Đề tài “Nghiên cứu hành vi văn minh đô thị của thanhniên TPHCM” sẽ cụ thể hóa vấn đề này không phải dưới góc độ văn hóa - xã hộihọc mà chủ yếu trên bình diện tâm lý học
ra được những sản phẩm đặc trưng cho cử động hành vi Cử động hành vi khôngphải là phản ứng sinh lý học, vì vậy phải nghiên cứu hành vi tổng thể bằng conđường riêng với các yếu tố trung gian của chủ thể trong sơ đồ S - R Trong lúc đó,K.Hull (1884-1953) lại cho rằng: hành vi là cử động có thể làm cho các nhu cầu của
cơ thể được thỏa mãn, là hành vi do các biến số nhu cầu cơ thể và môi trường ngoài
cơ thể tạo nên, tuy nhiên hành vi này vẫn nằm trong mối liên hệ trực tiếp S - R.[13]Thông qua kết quả các thực nghiệm của mình, B.F.Skinner đã phát biểu: “cường độcủa hành vi tạo tác tăng lên nếu hành vi (tác động) được kèm theo kích thích củng
cố Sự củng cố trong bộ máy khái niệm của B.F.Skinner, hai khái niệm chủ yếu làphản ứng tạo tác và củng cố hành vi Không có củng cố trực tiếp thì không thể cóhành vi tạo tác Có củng cố là có sự xuất hiện phản ứng Xác suất xuất hiện phảnứng, tần số, và cường độ phản ứng hoàn toàn tùy thuộc vào củng cố và cách củng
cố Theo B.F.Skinner, hậu quả hành vi – những cái củng cố - là các lực kiểm soátrất mạnh mẽ, vì vậy mà kiểm soát được củng cố thì sẽ kiểm soát được hành vi
Trang 25Nhà tâm lý học J.Mid (1863-1931) làm việc ở đại học tổng hợp Chicago, một trungtâm của tâm lý học chức năng đã tính đến tính độc đáo quyết định luận hành vi conngười J.Mid gọi đó là thuyết hành vi xã hội Theo ông, cần chấp nhận hành độngcủa nhóm có một ý nghĩa đặc biệt, nghĩa là có tính biểu tượng – “cử chỉ có ý nghĩa”hay “vận động có biểu cảm” Chỉ có khi đặt mình vào vị trí của người khác, mỗingười mới hiểu được suy nghĩ cũng như những phản ứng của họ Gần hơn nữa đó làquá trình giao tiếp, con người có thể nhận ra chính họ là ai? Chủ thể trong mắtngười khác như thế nào? Và từ đó, mỗi người hiểu ra bản thân mình là gì trong cáinhìn của chính mình
A Adler (1870 - 1937) là nhà tâm lý học người Áo với thuyết tâm lý học cá nhâncho rằng tất cả hành vi của con người đều chịu ảnh hưởng bởi xã hội Nhân cáchthống nhất với hoàn cảnh và môi trường xã hội A.Adler vẫn cho vô thức bản nănghay năng lượng tâm hồn là những cơ chế của tính tích cực, xung đột và bảo vệ.Theo A.Adler, con người luôn muốn hơn người khác, khi có nhược điểm trong lĩnhvực này lại siêu đẳng trong lĩnh vực khác Đó là cơ chế bù trừ xuất phát từ động cơ
xã hội Những sự bù trừ này phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó yếu tố xã hội cótính chất quyết định Ở đây, Adler đã quá thổi phồng tính chất bù trừ trong conngười, mà không thấy vai trò của hoạt động con người [29]
Dưới góc nhìn khoa học, có thể cho rằng ngày nay, các nhà nghiên cứu có thể kếthừa những vấn đề hợp lý trong quan điểm của các tác giả trước đây để đề xuấtnhững vấn đề mới Sự kế thừa này có ý nghĩa trong quá trình nghiên cứu sự hìnhthành hành vi của các đối tượng ngày nay, trong đó có hành vi văn minh đô thị,trong đó có giải pháp tập luyện để hạn chế những tác động của bản năng, sự hòanhập vào các mối quan hệ xã hội để thích ứng với tính văn minh trong một đô thịphát triển
Theo A Maslow, hành vi của con người không chỉ gồm các hành vi quan sát được
mà là những phản ứng không quan sát được, những trải nghiệm chủ quan của conngười Nếu tâm lý học hành vi lấy điều kiện bên ngoài làm nguyên tắc quyết địnhcho hành vi con người thì phân tâm học lấy điều kiện bên trong làm nguyên tắcquyết định Động cơ chính trong cuộc đời là khuynh hướng tự thể hiện mình,
Trang 26khuynh hướng này là bẩm sinh và không ngừng thúc đẩy con người hướng đến hoạtđộng, thể hiện hành vi giúp họ tự khẳng định mình.[18]
Qua xem xét lý luận về hành vi của các trường phái trong tâm lý học phương Tây,các trường phái này đều có những điểm hợp lý, họ đã khắc phục được cách nhìnduy tâm về hành vi người, đã có những đóng góp tích cực cho việc nghiên cứu hành
vi con người Tuy vậy lý luận của các trường phái này vẫn chưa hoàn toàn lý giảiđược một cách đầy đủ những vấn đề cốt lõi về hành vi con người Trình bày cácquan điểm của những trường phái trên nhằm hiểu thêm về những vấn đề cần bổsung cho nghiên cứu về hành vi, luận án sẽ kế thừa những giá trị tích cực và hợp lý
để tiếp tục nghiên cứu về hành vi văn minh đô thị của thanh niên ngày nay
L.X Vygotsky với bài báo nổi tiếng “Ý thức là vấn đề của tâm lý học hành vi” đượcxem là cương lĩnh đầu tiên của lý thuyết về tâm lý học hoạt động đã xác định hành
vi là “cuộc sống” là “lao động” là “thực tiễn” nghĩa là phải hiểu hành vi là hoạtđộng với đơn vị của nó là hành động trong cuộc sống, tâm lý, ý thức[18]
Đặc biệt chú ý đến luận điểm của A.N.Leonchiev khi cho rằng, trong bản thân ýthức có cái “nghĩa” và cái “ý” Quan điểm này rất quan trọng khi xem xét hành vithích ứng của con người trong xã hội Điều này giúp chúng ta giải thích các hành viphức tạp của con người trước các lựa chọn nhất định, trong đó có hành vi văn minh
đô thị, hành vi mà chủ thể phải hết sức cố gắng lựa chọn là phải làm gì trong tìnhhuống cụ thể
Như vậy, có thể nói các nhà Tâm lý học hoạt động đều có chung một quan điểm chorằng: ý thức là chức năng tâm lý cấp cao chỉ có ở người và hành vi đặc trưng củacon người là hành vi do ý thức định hướng, điều khiển, điều chỉnh Hành vi vănminh đô thị là hành vi có ý thức, được chủ thể thực hiện trong điều kiện chủ thể xácđịnh được mình là ai, hành vi được thực hiện trong hoàn cảnh nào Có thể xem cáchtiếp cận hành vi của các nhà Tâm lý học hoạt động là nền tảng để kế thừa và tiếp tụcnghiên cứu Dưới góc độ nghiên cứu của đề tài, người nghiên cứu đồng quan điểm:hành vi của con người là hành vi có ý thức Tính có ý thức của hành vi con ngườithể hiện ở chỗ: trước khi thực hiện hành vi con người có suy nghĩ, con người nhậnthức được hoàn cảnh và sử dụng kiến thức, kinh nghiệm của mình để hình thành
Trang 27nên các mô hình tâm lý của hành vi (kế hoạch thực hiện hành vi) Mô hình tâm lýnày sẽ trải dọc hành vi, định hướng, điều khiển hành vi
Từ những vấn đề lý luận của các trường phái tâm lý học về hành vi, luận án xâydựng khái niệm cụ thể về hành vi để có những luận cứ phân tích về hành vi vănminh đô thị với tư cách là khái niệm công cụ của luận án
Năm 1843, khi đưa ra khái niệm “tập tính học”, John Stuart Mill đã nói đến “hànhvi” như là một thói quen tập thành Khái niệm hành vi được bàn đến rất nhiều trongtâm lý học từ khi thuyết hành vi trở thành một trường phái tâm lý học, lấy hành vicon người làm đối tượng nghiên cứu [9, tr 34]
Theo A.N Leonchiev, “hành vi con người không phải là những phản ứng máy móccủa một cơ thể sinh vật mà hành vi phải được hiểu là hoạt động”[18, tr222] Cũngtrong khuynh hướng này, tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng “Hành vi là những biểuhiện bên ngoài của hoạt động và bao giờ cũng gắn liền với động cơ, mục đích”[18,tr222] Theo Hersey và Hard thì “Đơn vị cơ sở của một hành vi là một hành động.Toàn bộ hành vi là một chuỗi hành động” [41]
Tác giả Robert L Berger, Ronald C Federico, James T McBreen trong tác phẩm
“Human Hehavior - third Edition” thì cho rằng “hành vi được hiểu là những gì conngười hành động, mặt khác hành vi luôn chứa đựng nhận thức và cảm xúc của conngười đó” [93,tr 2] Tác giả Fred Dretske trong “Explaining Behavior” đã phân biệthành vi và những cử động của một con người, trong đó tác giả nhấn mạnh có hành
vi do các tác động bên ngoài nhưng có nhiều hành vi do các tác động bên trong cánhân [75,tr 2-9] Quan niệm của Fred Dretske rất gần với quan điểm của Leonchiev
và Phạm Minh Hạc về hành vi, xem hành vi như hoạt động hay là sự biểu hiện bênngoài của hoạt động
Tác giả Charles Zastrow và Karen K Kirst - Ashman trong tác phẩm
“Understanding Human behavior and the Social environment” đã mô tả “hành vicon người là những phản ứng từ kết quả tác động của các yếu tố sinh lý - tâm lý -
xã hội và môi trường của con người, hành vi không phải là một thao tác mà là mộttiến trình”[70,tr14] Tác giả John M Ivancevich và Michael T Matteson trongOrgaizational Behavior and Management cho rằng “hành vi của con người luônđược kích thích bởi những động cơ cụ thể, kích thích hành vi tức là phải kích thích
Trang 28động cơ” [79,tr 92] Nhóm tác giả chủ biên “Abnormal Psychology” cho rằng hành
vi không chỉ được tri giác như những phản ứng bên ngoài khi có các kích thích,muốn hiểu hành vi bất thường cần tìm kiếm những tác động từ bên trong cá nhânnữa”[92,tr 65]
Theo từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên thì “Hành vi là toàn bộ nói chungnhững phản ứng, cách cư xử biểu hiện ra bên ngoài của một người trong một hoàncảnh cụ thể nhất định”[42,tr 423] Cách hiểu này đề cập đến hoàn cảnh của sự xuấthiện hành vi và hành vi ở đây phải là những hành xử mà người khác có thể quan sátđược Trong từ điển Tâm lý học của tác giả Nguyễn Khắc Viện thì từ tiếng Anh
“Behavior” thường dùng trong các tài liệu tâm lý học có thể dịch sang tiếng Phápvới hai từ khác nhau là “compoterment” và “conduit”, qua tiếng Việt cũng thành hai
từ là “ứng xử” và “hành vi” trong đó từ “ứng xử” tương đương với từ
“compoterment”[62,tr 142] Theo từ điển Giáo dục học thì “Hành vi của con người
là hệ thống các hành động của một nhân cách có ý thức, trong đó thể hiện trước hếtnhững mối quan hệ của con người với môi trường xã hội”[35,tr 175]
Trên cơ sở phân tích, đối chiếu các quan điểm của nhiều tác giả và trên cơ sở
của tâm lý học hoạt động, có thể hiểu: Hành vi là sự ứng xử của chủ thể đối với môi
trường, đối với bản thân họ và đối với người khác do ý thức định hướng, điều khiển, điều chỉnh
Ngoài các cơ sở sinh lý học, hành vi của con người còn dựa trên các cơ sởtâm lý học và đây được xem là những vấn đề chủ yếu định hướng hành vi conngười Theo từ điển Tâm lý học (Vũ Dũng chủ biên) thì “Khái niệm cơ sở địnhhướng của hành động đã được nhà tâm lý học Xô Viết P.La Ganperin đề xuất trong
lý thuyết hình thành hành động trí tuệ theo giai đoạn Nội dung của cơ sở địnhhướng của hành động ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng của hành động Nếu có
cơ sở định hướng đầy đủ, hành động sẽ được thực hiện tốt trong một phạm vi cáctình huống.” [7,tr125] Cơ sở định hướng của hành động là một tập hợp các địnhhướng và chỉ dẫn cho chủ thể cụ thể
Cũng theo thuyết này thì có 3 dạng chính xây dựng sơ đồ cơ sở hành động tươngứng với 3 dạng hoạt động
Trang 29- Chủ thể không có được hệ thống đầy đủ các điều kiện nên buộc phải bổsung nó theo phương pháp “thử và sai” Do vậy cấu trúc đầy đủ của hành độngđược hình thành một cách chậm chạp và chủ thể cũng không nhận thức được nó mộtcách đầy đủ Trong trường hợp này, hành động rất dễ chịu ảnh hưởng của các tácđộng bên ngoài
- Chủ thể định hướng trên một hệ thống đầy đủ các điểm, vật chuẩn địnhhướng và trù tính đến toàn bộ hệ thống điều kiện thực hiện đúng hành động, bảođảm ngay từ đầu không có sai sót Trong sơ đồ này, cơ sở định hướng của hànhđộng hoặc là xuất hiện với dạng vốn sẵn có, hoặc được các chủ thể xác lập
- Định hướng đầy đủ của cá nhân không phải là vào điều kiện thực hiện mộthành động cụ thể nào đó mà là vào các đơn vị cấu thành và vào các qui luật liên kếtnhững đơn vị đó Cơ sở định hướng của hành động dạng này bảo đảm cho việc phântích một cách sâu sắc tài liệu nghiên cứu và hình thành động cơ nhận thức Nhữngđịnh hướng này xuất phát từ một số cơ sở tâm lý học cụ thể, những cơ sở thúc đẩyhành vi của con người trong các mối quan hệ xã hội
Bàn về việc thỏa mãn nhu cầu với tư cách là một yếu tố tạo nên động cơ hành
vi, H.Hipso và M.Phorvec đã cho rằng “Khác với động vật, những nhu cầu cơ thểcủa con người được thỏa mãn một cách gián tiếp chứ không phải trực tiếp”
“Phương tiện thỏa mãn là sản xuất ra những sản phẩm cần thiết cho cuộc sống trongđiều kiện hợp tác Thực tại đầu tiên và điều kiện tất yếu không thể thiếu của sự sốngcon người là lao động, sản xuất xã hội tiến hành trong xã hội Lao động là cội nguồncủa hành vi xã hội, vì thế hành vi xã hội là “được kích thích” từ bên ngoài và khôngnghi ngờ gì, tạo nên cơ sở con người” [ 40,tr 128]
Theo H.Hipso và Phorvec thì: “Bản chất xã hội của con người, cả hành vi xã hộicủa họ đều không thể chứa đựng sẵn những hành vi trong cấu trúc sinh vật học của
nó dưới dạng những cơ chế điều chỉnh có sẵn Có chăng thì có thể tìm sự thể hiệncủa cấu trúc bản chất xã hội này trong cấu trúc sinh vật học chung của con người.Song không thể cho rằng luận điểm này là trong quá trình phát sinh lúc đầu cấu trúcchung này hình thành, rồi lao động và hình thức xã hội của đời sống phát triển làhậu quả của cấu trúc chung Cả hai quá trình đều hình thành cùng nhau trong điềukiện ảnh hưởng lẫn nhau trong quá trình sinh ra con người” [40, tr 129]
Trang 301.2.2 Văn minh
Có khá nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, văn minh W Summer và A Kellercho rằng “Tổng thể những sự thích nghi của con người với các điều kiện sinh sốngcủa họ chính là văn hóa hay văn minh Những sự thích nghi này được bảo đảm bằngcon đường kết hợp những thủ thuật như biến đổi, chọn lọc và truyền đạt bằng kếthừa”[1,tr 16] Như vậy, với nhận định này, các tác giả đã đồng nhất văn minh vớivăn hóa
Xem xét nguồn gốc từ “văn minh”, người ta nhận thấy Văn minh là từ Hán - Việttrong đó “văn” là vẻ đẹp, “minh” là vẻ sáng, nó chỉ một trạng thái phát triển rực rỡcủa văn hóa Trong nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa, từ “văn minh” khôngphải là từ mới, vì trong Kinh Dịch, ở Quẻ Kiều, người ta đã đọc thấy hai chữ “vănminh” ở câu “ Hiện long tại điều thiên hạ hữu văn minh (nghĩa là như con rồng hiện
ra trên mặt cánh đồng, tức là lúc thiên hạ văn minh) Trong Kinh Lễ cũng có câu
“Tình thâm nhi văn minh” (nghĩa là lòng cảm động càng sâu thì vẻ ngoài mới sángtỏ)[1,tr 23] Nhiều tác giả cũng cho rằng “Văn minh” theo nghĩa hiện nay là dongười Nhật mượn trong kho từ vựng của Trung Quốc, dùng để dịch từ “civilisation”trong tiếng Pháp hay từ “civilization” của tiếng Anh Các từ này lại bắt nguồn từngữ căn La tinh là “civis” và từ ngữ căn này đã hình thành nên các từ có liên quannhư “civilis”(công dân) và civitas”(đô thị) Năm 1776, khi bộ Bách khoa từ điển củanhóm Diderot xuất hiện, Holbach là người biên soạn trực tiếp từ mục này, thuật ngữ
“civilization” mới được mọi người chấp nhận và sử dụng một cách phổ biến nhưhiện nay Theo đó, văn minh là trạng thái xã hội của một cộng đồng nhân loại đãđược khai hóa, đã tiến bộ và trái với trạng thái dã man hay bán khai Như vậy, vớiphân tích này, chúng ta có thể hiểu văn minh là phù hợp với sự phát triển, là nhữngnhân tố hiện đại, tiến bộ Cùng quan niệm này, tác giả người Mỹ W.Durant đã nhậnđịnh “Văn minh là trật tự xã hội gợi lên sự sáng tạo văn hóa, nó bắt đầu từ khi sựhỗn độn và tình trạng bất an chấm dứt”[1,tr24] Trong khi đó thì các tác giả từ nướcAnh định nghĩa “Văn minh là thời đại lý tưởng của văn hóa nhân loại, với đặc trưng
là hoàn toàn không còn tình trạng dã man và những hành vi phi lý Trong xã hội đó
đã có sự vận dụng toàn bộ những nguồn năng lực trí tuệ, vật lực và văn hóa của conngười, cũng như sự hoàn thiện đối với cá nhân con người Như vậy, theo dòng phân
Trang 31tích này, văn minh trước hết và cơ bản là khái niệm đặc trưng cho trình độ của conngười trong việc chiếm lĩnh thế giới nói chung “Văn minh là xã hội đã đạt tới mộttrình độ nhất định về lý tính và công bằng”[1,tr 25]
Theo từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học thì “văn minh là nền văn hóa đã đạttới một trình độ nhất định, với những đặc trưng riêng, tiêu biểu cho một xã hội rộnglớn, một thời đại hoặc cho cả nhân loại” Trong lúc đó Từ điển học sinh (nxb Giáodục HN 1971) thì “văn minh là trình độ phát triển cao của nền văn hóa tinh thần vàvật chất của xã hội loài người ở một giai đoạn nhất định” Trong tác phẩm “Cơ sởvăn hóa Việt Nam” tác giả đã cho rằng “Văn minh thể hiện một trình độ phát triểnnhất định của nền văn hóa, đặc biệt là trình độ phát triển có liên quan đến các giá trịvật chất và cả những tiến bộ kỹ thuật mà chính những hành động sáng tạo văn hóacủa cộng đồng người đã mang lại cho xã hội Văn minh chỉ những thành tựu hoạtđộng sáng tạo khoa học kỹ thuật, sáng tạo văn hóa tinh thần của con người”[1,tr24] Chúng ta nhận thấy khái niệm văn minh dùng để chỉ những giá trị vật chấthoặc tinh thần tiến bộ theo hướng xóa bỏ những lạc hậu, thấp kém, hướng tới sựphát triển, sự hoàn thiện Với bài báo “What is civilization?” thì văn minh đượctiếp cận khá đơn giản “Con người khác thú vật chỉ bởi có nền giáo dục, vốn có thểđược định nghĩa như là phương pháp chuyển giao nền văn minh”[76]
Trong từ điển Tiếng Việt của nhà xuất bản Thanh Hóa thì “Văn hóa là tổng thể nóichung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trìnhlịch sử” và “Văn minh là trình độ phát triển đạt đến một mức nhất định của xã hộiloài người, có nền văn hoá vật chất và tinh thần với những đặc trưng riêng” Vậyvăn hóa và văn minh giống và khác nhau như thế nào? Trước hết văn hóa và vănminh giống nhau là đều do con người sáng tạo ra trong tiến trình lịch sử, nhưngkhác nhau ở một số điểm Văn hóa là độ dày quá khứ, lịch sử, văn minh chỉ là mộtlát cắt trong lịch sử Nói đến văn hóa là nói đến năm tháng, nhiều thế kỉ, thiên niên
kỉ, nhiều triều đại, trải qua quá trinh tích lũy, sửa đổi bổ sung chứ không phải chốclát mà có được Nhưng văn minh lại thiên về những phát minh trong tiến trình pháttriển của nhân loại, giúp con người sống tốt hơn, sung sướng hơn, tiện lợi hơn.Văn hóa mang tính quốc gia, dân tộc riêng biệt còn văn minh lại mang tính chấttoàn cầu Văn hóa là đặc trưng cho một dân tộc, một quốc gia còn văn minh lại đặc
Trang 32trưng cho từng thời kì Văn minh là phương tiện bởi văn minh nói đến trình độ pháttriển của xã hội loài người, nói đến những tiến bộ của loài người, nhờ những phátminh, sáng chế mà con người có thể sống tốt hơn Văn hóa là ứng xử, không chỉ làgiữa con người với con người mà giữa con người với tự nhiên Văn hóa không cótiến bộ hay lạc hậu nhưng văn minh có tiến bộ và ngày càng tiến bộ Văn minh làtoàn bộ những phát minh của con người dựa trên quá trình tìm tòi và khám phá ra các
“quy luật của tự nhiên” Văn minh còn bao gồm toàn bộ “kỹ thuật sinh sống” và “tổchức xã hội” nhằm thiết lập nên những “thiết chế” xã hội mang tính hiện đại, giúpcho con người thực hiện được quyền sống, quyền tự do và quyền dân chủ của mỗi cánhân và cả cộng đồng - xã hội
Như vậy, với nhiều hướng tiếp cận khác nhau, nhưng khái niệm văn minh củanhiều tác giả đều có chung ý tưởng là: văn minh hướng đến sự thay đổi tích cực,văn minh là khái niệm phản ánh sự hiện đại, sự hợp lý, sự tiến bộ, sự hợp thời Văn minh thể hiện qua những cách thức thích ứng phù hợp các giá trị đương đại củacon người
Hành vi văn minh: Là sự ứng xử mang tính ý thức cao, tự giác cao, phù hợp
với chuẩn mực xã hội của chủ thể đối với công việc, người khác, với bản thân và đối với môi trường.
1.3 Văn minh đô thị và hành vi văn minh đô thị
1.3.1 Văn minh đô thị
Cuộc sống hiện nay vẫn còn có thể phân biệt về lối sống, nếp sống ở vùng đô thị vàvùng nông thôn hay vùng đang đô thị hóa Văn minh đô thị được hiểu là những giátrị tiến bộ, hiện đại, hợp lý, thuận lợi thể hiện trong cuộc sống của xã hội hiện đại
ở đô thị Văn minh đô thị là khái niệm chỉ các giá trị hướng đến những cách thức cư
xử đẹp đẽ, lịch sự, mang lại sự thuận lợi cho nhiều người trong môi trường xã hội
đô thị hiện đại
Ở một khía cạnh khác, trường phái Chicago hay trường phái “Sinh thái học nhânvăn” (Human ecology) trong những năm đầu thế kỷ XX, họ đặt trọng tâm nghiêncứu những biến đổi của xã hội khu biệt là đô thị phát triển ở Bắc Mỹ xoay quanh lốisống đô thị (nếp sống là một bộ phận) Nổi lên là Robert Erza Park qua tác phẩm
“Đô thị: những đề xuất cho việc nghiên cứu về hành vi của con người trong môi
Trang 33trường đô thị” (The City: suggestions for the investigation of human behavior in theurban environment”) trên tạp chí The American journal of Sociology vào năm 1916
“Nguồn gốc của thị dân; sự phân bố dân cư thành thị trên địa bàn; sự thích ứng củacác nhóm xã hội để hoà nhập vào xã hội đô thị hiện đại; những thay đổi trong đờisống gia đình, trong các thiết chế giáo dục, tín ngưỡng; vai trò của báo chí trongcông luận và dẫn dắt tình cảm của công chúng đô thị”[95] Ông cho rằng, việcnghiên cứu đời sống đô thị và văn hóa đô thị cần có những kỹ thuật và phương pháptiếp cận cụ thể, trực quan có mối quan hệ với môi trường cụ thể là đô thị bao gồmnhiều đối tượng nghiên cứu khác nhau: sự chi phối về các điều kiện sống từ cáctrung tâm đô thị, việc dịch chuyển - đổi máu đô thị đưa đến sự thay đổi hành vi của
cư dân đô thị, đan xen văn hóa - thích nghi các tầng lớp dân cư khác nhau ở đô thị.Song song đó là Wirth Louis với tác phẩm “Urbanism as a way of life”, ông xem
“Urbanism” là “lối sống đô thị” với khuôn mẫu văn hóa, cấu trúc xã hội, đặc trưng
đô thị luôn khác hẳn và căn bản với cộng đồng nông thôn khi những thói quen, hành
vi bị biến đổi khi tương tác với môi trường mới (đô thị) Ông nhấn mạnh “mưu cầulợi ích chủ yếu để đạt được mục đích cuối cùng của cư dân đô thị chính là quyền lợikinh tế” chính môi trường sống là những hành vi của những “bản ngã” cá nhânquyết định thông qua hoạt động lợi ích kinh tế là chủ yếu Từ đây, Wirth đúc kết hệthống chuẩn mực cuộc sống của đô thị chưa được xác định (bằng nhận thức chủquan đưa đến hành vi tiếp nhận có nhận định từ thế giới khách quan cần có nhữngkhuôn mẫu định vị)[102] Dân số quá đông, mật độ cư trú quá cao và tính chất xãhội khác biệt đã tạo ra một hệ thống bị chuyên biệt hóa, các thiết chế của hệ thống
đó cũng bị hình thức hóa Những thay đổi to lớn về cơ cấu và các thiết chế đã manglại những hậu quả nghiêm trọng cho thị dân Chính những việc nghiên cứu của ông
và trường phái Chicago bị phê phán mạnh mẽ bởi nó chỉ đúng ở một môi trườngnghiên cứu cụ thể chưa có đối chứng, so sánh ở phạm vi phổ quát rộng lớn hơn Từ
đó có thể cho rằng, không hẳn mục đích cuối cùng của cư dân đô thị chỉ là quyền lợikinh tế vì ở nông thôn, cư dân nông thôn cũng có những nhu cầu và đòi hỏi quyền
lợi kinh tế Vấn đề chính tạo nên sự khác biệt giữa ứng xử ở đô thị với nông thôn là
vấn đề từ sự khác biệt văn hóa nữa.
Trang 34Nhà tâm lý học Stanley Milgram với nhiều công trình nghiên cứu, đặc biệt là thínghiệm nổi tiếng năm 1961, nhằm giải mã hành vi cái “ác” của con người có bị chiphối bởi “lương tâm của mình” Ông cho rằng “dưới áp lực của mệnh lệnh và khikhông phải chịu trách nhiệm cá nhân, những người bình thường cũng có thể thựchiện việc làm gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và tính mạng người khác”.Chính nghiên cứu này của ông và các công trình khác có liên quan đến lối sống,hành vi thị dân: sự thờ ơ đến cộng đồng, hành vi cư dân đô thị không muốn dính líuđến người khác, duy trì quan hệ hời hợt, ngắn hạn, ẩn danh với người khác Chính
“dưới áp lực của mệnh lệnh và khi không phải chịu trách nhiệm cá nhân” mà khôngcần tới các tác động khác nên đôi khi cơ quan quản lý đô thị đã “kiểm soát xã hội đôthị” một cách chủ quan duy ý chí, phương hại đến lối sống, nếp sống của cư dân đôthị hoặc ngược lại Một mặt, ông lại cho rằng cộng đồng đô thị tạo nên “sự quá tải”cho tâm lý của thị dân Người dân thành thị tham gia vào các quan hệ hời hợt, đứt
đoạn, ngắn ngủi và thậm chí là phi nhân văn là do tính cách thích nghi với sự quá
tải tâm lý do quy mô, sự đông đúc và sự đa dạng tạo ra [87] Trong tác phẩm “TheMetropolis and mental life” George Simmel đã chỉ ra 3 đặc trưng có ảnh hưởng đếnnhân cách, tâm lý hành vi con người đô thị (thị dân): Quy mô dân số đô thị, mật độcủa đô thị, và tính phức tạp của đô thị
- Khả năng tự thích ứng của cư dân đô thị trước sự biến đổi lối sống quánhanh của đô thị (tự nhận thức để hòa nhập với môi trường đô thị trở thành thị dân)
- Khả năng “lọc” thông tin để ứng xử ở môi trường đô thị, trở thành một
“nếp sống” mới cho phù hợp
Tác giả Nguyễn Huỳnh Thanh cho rằng “Nếp sống đô thị là một trong những giá trịtinh thần của thị dân có đặc điểm hình thành không dễ dàng trong tiến trình đô thịhóa Bởi nếp sống đô thị là một giá trị tổng hợp, có trình tự về thời gian ra đời gầnnhư muộn nhất so với các giá trị vật chất và giá trị tinh thần khác, có ý nghĩa thước
đo trình độ của tiến trình đô thị hóa Tuy không tất yếu phải chờ một sự phát triểnchín muồi của hệ thống các giá trị vật chất cũng như sự phát triển thật cao của một
số giá trị tinh thần khác, song nếp sống đô thị cũng chỉ có thể bắt đầu được xâydựng trên những hạ tầng kinh tế - xã hội - kỹ thuật và thượng tầng kiến trúc nhấtđịnh trong tiến trình đô thị hóa Sau khi hình thành, với vai trò là một giá trị bậc
Trang 35cao, nếp sống đô thị sẽ chi phối, tác động trở lại và cùng với các giá trị khác, tạothành một hệ thống giá trị nội sinh của tiến trình phát triển đô thị bền vững”[50]
Từ đó có thể thấy: Văn minh đô thị là lối sống hướng đến sự thay đổi tích cực
trong sinh hoạt, đời sống ở đô thị Văn minh đô thị là khái niệm phản ánh sự hiện đại, sự hợp lý, sự tiến bộ, sự hợp thời của cuộc sống đô thị Văn minh đô thị thể hiện qua những cách thức thích ứng phù hợp các giá trị đương đại của người dân
đô thị.
1.3.2 Hành vi văn minh đô thị
1.3.2.1 Khái niệm hành vi văn minh đô thị
Hành vi văn minh đô thị (HVVMĐT) là một khái niệm tương đối mới khi xã hộingày nay được xem là một xã hội văn minh với những sự thay đổi nhanh chóng vềcác chuẩn giá trị và thói quen sinh hoạt Những ứng xử của cư dân đô thị trong một
xã hội văn minh được khá nhiều người quan tâm và đã có nhiều công trình nghiêncứu về nếp sống văn minh đô thị dưới nhiều góc độ như xã hội học, văn hóa học.HVVMĐT có xuất phát điểm từ các nhu cầu xã hội của con người, trong đó các nhucầu khẳng định giá trị và nhu cầu được tôn trọng được xem là những thúc đẩy mạnh
mẽ để cá nhân thực hiện nó Thông qua quá trình lao động, học tập, rèn luyện, cácnhu cầu này sẽ có điều kiện để thỏa mãn và lúc đó các HVVMĐT sẽ được hìnhthành góp phần làm cho hoạt động của cá nhân ngày càng phù hợp với chuẩn mực
xã hội HVVMĐT có khởi đầu là hành vi của người người sống trong môi trường
đô thị và chịu ảnh hưởng của lối sống thị dân, được hình thành qua nhiều giai đoạnlịch sử phát triển đô thị Văn minh đô thị được hiểu theo theo nghĩa là “văn minh” ở
“đô thị” Khi “văn minh đô thị” đã trở thành thói quen chung của mọi người thì nótrở thành “nếp sống” Như vậy, thực hiện HVVMĐT là xây dựng thói quen, lối ứng
xử văn minh ở đô thị
Trên cơ sở những phân tích về hành vi và văn minh đô thị, có thể hiểu rằng:
Hành vi văn minh đô thị là những ứng xử hiện đại, hợp lý, tiến bộ, hợp thời đối với cuộc sống đô thị của chủ thể đối với môi trường, với người khác và đối với bản thân thể hiện qua những hành động cụ thể phù hợp với các tiêu chuẩn văn minh, phù hợp với giá trị tiến bộ của xã hội đô thị hiện đại
1.3.2.2 Đặc điểm của hành vi văn minh đô thị
Trang 36HVVMĐT là những ứng xử cụ thể của cá nhân được thể hiện trên những hành độngphù hợp với các chuẩn mực hiện đại trong bất kỳ tình huống nào, trong bất kỳ môitrường nào Hành vi được cho là văn minh trong môi trường đô thị có một số đặcđiểm chủ yếu sau đây:
- Tính hợp pháp
HVVMĐT trước hết phải là những hành vi hợp pháp, đó là những hành vikhông đi ngược lại những qui định của pháp luật hay các qui định trong nội quihoặc qui chế hoạt động của cộng đồng Các cộng đồng dân cư hoặc các tổ chức xãhội đều có những qui định cụ thể về các tiêu chuẩn và giới hạn hoạt động trongphạm vi của mình nhưng tất cả những qui định đó đều phản ánh tính hợp pháp củacác dạng hoạt động, qua đó thể hiện tính hợp pháp của hành vi cá nhân trong môitrường hoạt động, thể hiện tính hợp pháp của hành vi văn minh trong môi trường đôthị hiện đại Những hành vi hợp pháp được hiểu là những ứng xử bắt buộc trongnhững trường hợp cụ thể được thể hiện trong các qui định trong cả bình diện tíchcực và không tích cực, nghĩa là có những hành vi được phép thực hiện và cả nhữnghành vi không được phép hoặc bị cấm trong những trường hợp cụ thể
- Tính lợi ích
HVVMĐT là những hành động của chủ thể được mọi người trong cộng đồngthừa nhận và đánh giá cao khi chủ thể thực hiện hành vi ấy phù hợp với các tiêuchuẩn văn minh, thể hiện sự hài hòa về lợi ích vật chất lẫn lợi ích tinh thần giữa cánhân và cộng đồng, giữa lợi ích cục bộ và lợi ích của toàn xã hội
- Tính cân bằng
HVVMĐT thể hiện sự hợp lý về mặt thao tác và cân bằng về mặt môitrường, đặc biệt là môi trường xã hội Môi trường xã hội đa dạng tác động đến cácchủ thể và chủ thể phải thích ứng với những tác động này nhưng không làm phá vỡmối quan hệ tích cực và biện chứng giữa các môi trường, không làm mất đi sựthống nhất về giá trị giữa các chuẩn mực chung thể hiện trong các giá trị của môitrường xã hội vi mô (gia đình, nhà trường, nhóm bạn, cộng đồng dân cư )
- Tính phù hợp
HVVMĐT luôn hướng đến sự hợp lý, phù hợp với kỳ vọng của xã hội vàphản ánh tính hiện đại trong cách thức ứng xử của mỗi cá nhân HVVMĐT là hành
Trang 37vi cá nhân nhưng bao giờ cũng chịu sự chi phối bởi mong đợi và áp lực của cộngđồng.
- Tính thẩm mỹ
HVVMĐT luôn hướng tới vẻ đẹp của con người, của xã hội, đó là nhữnghành vi đẹp cả về hình thức thể hiện lẫn đẹp về các giá trị bên trong nó
- Tính đại diện
HVVMĐT là những hành vi xã hội, là hành vi của nhóm xã hội, trong đó các
cá nhân thực hiện hành vi này thể hiện được tính đại diện của mình HVVMĐT củathanh niên là hành vi đại diện cho những người trong độ tuổi thanh niên phản ánhnhững đặc điểm tâm lý - xã hội của thanh niên và được thể hiện trong từng cá nhân.HVVMĐT là của mỗi cá nhân mang tính đặc trưng của hành vi xã hội, do đó chịuảnh hưởng của các đặc điểm tâm lý chủ quan của thanh niên, ảnh hưởng bởi kỳvọng, yêu cầu của xã hội đối với thanh niên
- Tính chuẩn mực
HVVMĐT là hành vi thể hiện và bảo đảm các chuẩn mực của hành vi.HVVMĐT với ý nghĩa là hành vi xã hội, là hành vi của một chủ thể được thể hiệntrong mối liên hệ với người chung quanh và chịu ảnh hưởng, chi phối bởi các chuẩnmực xã hội Chuẩn mực xã hội sẽ định hướng và điều chỉnh hành vi của con ngườikhi cá nhân thực hiện các hành vi trong cộng đồng hay trong một nhóm xã hội Sựsai lệch chuẩn hành vi cũng có nhiều mức độ khác nhau Thông thường có hai mức
1.3.2.3 Tiêu chí hành vi văn minh đô thị
- HVVMĐT là những hành vi được thực hiện một cách thường xuyên khôngphụ thuộc vào tính chất của tình huống hay của môi trường hoặc các yếu tố bấtthường nào khác HVVMĐT là những hành vi mang tính nhận thức cao
Trang 38- HVVMĐT là những hành vi thể hiện đặc điểm của người dân đô thị, phùhợp với các đặc trưng của đô thị, phù hợp với chuẩn mực luật pháp.
- HVVMĐT là những hành vi thể hiện văn hóa của chủ thể, phản ánh trình
độ văn hóa của chủ thể, không phụ thuộc vào các đặc tính xã hội cá nhân của chủthể, không phụ thuộc vào thành phần xuất thân của chủ thể
- HVVMĐT là những hành vi có tính tự giác cao
1.4 Hành vi văn minh đô thị của thanh niên
1.4.1 Khái niệm hành vi văn minh đô thị của thanh niên
Hành vi cá nhân là kết quả của sự tác động qua lại của các nhân tố chủ quancủa chủ thể và các nhân tố khách quan của môi trường Hành vi cá nhân luôn chứađựng sắc thái và tính chất, trình độ phát triển của xã hội Môi trường đô thị vớinhững đặc điểm sinh hoạt không giống khu vực nông thôn, các quan hệ đa chiềugiữa người với người dựa trên nền tảng của yêu cầu kỹ thuật, trên các ý tưởng thiên
về cá nhân, do đó sẽ ảnh hưởng quan trọng đến việc hình thành các thói quen ứng
xử cụ thể
Chủ thể của hành vi có thể là một cá nhân và có thể là một nhóm xã hội HVVMĐTcủa thanh nhiên là hành vi của thanh niên được biểu hiện thông qua hành vi cụ thểcủa các thanh niên phản ánh nhận thức, thái độ và ý chí của thanh niên Trong giớihạn của luận án, chỉ quan tâm đến HVVMĐT của thanh niên với tư cách là hành vicủa bản thân thanh niên thực hiện trong những hoàn cảnh khác nhau
Có thể nói, HVVMĐT của thanh niên là những hành vi của thanh niên sống ở môitrường đô thị, là những ứng xử phù hợp chuẩn mực văn minh đô thị giữa thanh niênvới chính bản thân mình, giữa thanh niên với người khác và giữa thanh niên với môitrường đô thị chung quanh
Với cách đặt vấn đề như trên, khái niệm được xác định rõ: Hành vi văn minh
đô thị của thanh niên là sự ứng xử mang tính ý thức cao, tự giác cao, phù hợp với chuẩn mực xã hội của thanh niên đối với người khác, với bản thân và đối với môi trường đô thị.
Hình thành hành vi là một quá trình lâu dài và quá trình này chịu sự ảnh hưởng bởinhiều yếu tố nhất định, trong đó có các yếu tố chủ quan (bên trong chủ thể: nhậnthức, thái độ, đặc điểm tâm lý - xã hội cá nhân,…) và yếu tố khách quan (bên ngoài
Trang 39chủ thể: môi trường, điều kiện sinh hoạt, hoàn cảnh xã hội,…) Như vậy HVVMĐTnói chung và HVVMĐT của thanh niên nói riêng được hình thành từ hiệu ứng tíchhợp của hành vi cá nhân và từ tác động của các định chế qui định hay những quiđịnh ép buộc từ các yếu tố bên ngoài cá nhân.
HVVMĐT của thanh niên là hành vi văn minh của thanh niên đang sinh sống tại đôthị, chịu ảnh hưởng bởi một số nét đặc thù của các đô thị trong sự phát triển kinh tế
- xã hội
1.4.2 Cơ sở xác định các hành vi văn minh đô thị của thanh niên
Xuất phát từ quan điểm tiếp cận hoạt động - nhân cách, có thể xác định và phân loạimột số HVVMĐT của thanh niên theo đối tượng của hoạt động và trên cơ sở cáctiêu chí đã được trình bày ở trên từ mức độ nhận thức rõ ràng, thái độ tích cực vàbiểu hiện bên ngoài cụ thể
Về mặt đối tượng, như trên đã đề cập, theo tác giả Samual P Huntington thì
“HVVMĐT phụ thuộc vào môi trường, tác động đến môi trường Mối quan hệ giữahành vi văn minh ở đô thị với môi trường rất đặc biệt” [96] Các tác giả củaGeorgetown trong “What are the differences between urban and rural behavior”cũng cho rằng: “Sự khác biệt giữa hành vi văn minh giữa nông thôn và thành thịphụ thuộc vào tính chất mối quan hệ giữa con người với môi trường, giữa cách thứccon người ứng xử với môi trường”[77] Ứng xử với môi trường là một trong nhữngtiêu chí để xác định chủ thể có văn minh hay không, trong đó có cả môi trường tựnhiên và môi trường xã hội Các tác giả của công trình “Urban vs rural behavior”được đăng trong “Siences fairs projecters” thì cho rằng “Vấn đề tự ý thức rất quantrọng, việc hình thành các hành vi văn hóa, văn minh của con người tại nông thônhay thành thị có ảnh hưởng rất lớn và rõ ràng của tự ý thức của mỗi cá nhân”[83].Trong một khía cạnh khác, các tác giả của tác phẩm “Understanding behavior in theenvironment” đặt vấn đề rằng “mối quan hệ ứng xử giữa người với người sẽ thiếtlập một hình thức sống động để con người hành động có văn hóa với nhau, hìnhthành những hành vi tích cực hướng tới sự hợp tác thân thiện”[71] C.Mac cho rằng
“Con người sinh ra không phải là một triết gia theo trường phái Phixtơ rằng conngười nhìn thấy bản thân như nhìn vào trong gương, thông qua những người khác,
Trang 40và chỉ khi nào con người đối xử với người khác như là một người giống với mìnhthì lúc đó nó mới đối xử với bản thân như là đối xử với một con người” [59,tr 57].Trong Từ điển Tâm lý học (Vũ Dũng chủ biên) “Hành vi đặc thù của cá nhân phụthuộc vào tính chất mối quan hệ qua lại với nhóm mà anh ta là thành viên, vàochuẩn mực nhóm, vào định hướng giá trị và sự ấn định vai Tính không thích hợpcủa hành vi (được thể hiện một phần ở chỗ nhân cách đánh giá quá cao các khảnăng của mình, tách rời ngôn ngữ và thực tiễn, làm suy giảm tính phê phán khi kiểmsoát việc hiện thực hóa các chương trình hành vi) thể hiện một cách tiêu cực trongmối quan hệ liên nhân cách”[8,tr 260]
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận như trên cùng với kết quả của việc thăm dò ý kiến sơ
bộ và ý kiến chuyên gia, người nghiên cứu chọn lựa một số HVVMĐT phản ánh đốitượng hoạt động của thanh niên và mang tính chất phổ biến trong thời kỳ đô thị pháttriển để nghiên cứu, từ đó tìm kiếm các biện pháp kích thích hình thành thói quencho thanh niên để trở thành những ứng xử văn hóa, văn minh trong hoạt động vàsinh hoạt hàng ngày của họ Những HVVMĐT của thanh niên được xem xét dướihình thức là những hành vi tự giác chấp hành các qui định về nếp sống văn minh, đó
là những hành vi có tính chất phổ biến và được nhắc đi nhắc lại nhiều lần Nghiêncứu HVVMĐT của thanh niên là nghiên cứu những hành vi cá nhân của các chủ thể
cụ thể, là những hành động, ứng xử quan sát được của những cá nhân nhất địnhtrong những cộng đồng nhất định
HVVMĐT là những ứng xử phù hợp với môi trường xã hội hiện đại và phát triển,
có rất nhiều yêu cầu về các HVVMĐT, có nhiều biểu hiện của HVVMĐT, trong đó
có thể xem xét trên ba biểu hiện cụ thể: Quan hệ giữa chủ thể với người khác, vớibản thân mình và với môi trường đô thị
1.4.3 Một số hành vi văn minh đô thị cụ thể của thanh niên
Thanh niên đô thị sống trên địa bàn dân cư và chịu tác động bởi nhiều yếu tố, lốisống của họ bị ảnh hưởng khá rõ từ môi trường chung quanh Ở đây lựa chọnnghiên cứu một số HVVMĐT đặc trưng của thanh niên thể hiện trong hoạt độnghàng ngày của họ như trong học tập, sinh hoạt cộng đồng và lao động nghề nghiệp.Các mức độ biểu hiện của các hành vi được xác định dựa trên các tiêu chí: mức độ