1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số tác phẩm của Nam Cao dưới ánh sáng của phân tích diễn ngôn và dụng học

168 2,1K 24
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số tác phẩm của Nam Cao dưới ánh sáng của phân tích diễn ngôn và dụng học
Tác giả Vũ Văn Lăng
Người hướng dẫn GS TS Diệp Quang Ban
Trường học Học Viện Khoa Học Xã Hội
Chuyên ngành Ngôn ngữ học ứng dụng
Thể loại Luận án tiến sĩ ngữ văn
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 168
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số tác phẩm của Nam Cao dưới ánh sáng của phân tích diễn ngôn và dụng học

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HÀ NỘI – 2013

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

-VŨ VĂN LĂNG

MỘT SỐ TÁC PHẦM CỦA NAM CAO

DƯỚI ÁNH SÁNG CỦA PHÂN TÍCH DIỄN NGÔN

VÀ DỤNG HỌC

Mã số: 62.22.01.05

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

GS TS Diệp quang Ban

HÀ NỘI – 2013

Trang 3

Ý KIẾN NGƯỜI HƯỚNG DẪN Kính đề nghị cho phép nghiên cứu sinh bảo vệ luận án trước hội đồng.

Tôi đồng ý cho nghiên cứu sinh bảo vệ.

Người hướng dẫn Ngày tháng năm 2013

GSTS: Diệp Quang Ban

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêngtôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực vàchưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác Tác giả luận án

VŨ VĂN LĂNG

Trang 5

Tổng quan tình hình nghiên cứu

Phạm vi và đối tượng khảo sát

Phạm vi các vấn đề được khảo sát

Một số vấn đề thuộc cơ sở lí thuyết của Dụng học

Một số vấn đề thuộc cơ sở lí thuyết của Phân tích diễn

ngôn

Đối tượng khảo sát

Về việc chọn ngôn ngữ văn chương của Nam Cao

Về việc chọn truyện ngắn Chí Phèo và tiểu thuyết Sống

mòn

Một số nhận định của giới nghiên cứu văn học

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp Phân tích hội thoại

Phương pháp của Phân tích diễn ngôn

Giả thuyết nghiên cứu

Điểm mới của luận án

Bố cục của luận án

147789

101011

1215171718182020

Trang 6

Chương 1

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1.1 Vài nét về quá trình hình thành PTDN 21

1.1.2 Về các đề tài và vấn đề là đối tượng của PTDN 23

1.1.4 Phương pháp nghiên cứu của PTDN phê bình 30

1.2.1 Về các đề tài và vấn đề là đối tượng của Dụng học 35

1.2.2 Vấn đề “phương pháp luận” trong DH 35

1.2.3 Các cách tiếp cận “phối cảnh” trong DH 37

1.3 Mối quan hệ giữa Phương pháp nghiên cứu của

PTDN và của DH

44

Chương 2:

TRUYỆN CHÍ PHÈO TỪ CÁCH TIẾP CẬN

2.1 Bố cục chung của truyện Chí Phèo: truyện bắt đầu

từ đâu?

49

2.2 Bảy ngày đêm cuối cùng trong cuộc đời của Chí Phèo 56

2.3 Quan hệ thời gian tần số trong truyện ngắn Chí Phèo 60

2.4 Nhân vật và tầm quan trọng của các nhân vật trong

2.4.1 Mạng lưới nhân vật và quan hệ giữa các nhân vật 64

2.4.2 Bậc của tầm quan trọng của các nhân vật và cách đánh

dấu chúng để phân tích

64

2.5 Mô hình cấu trúc chung trong cách tổ chức một số 67

Trang 7

nhân vật trực tiếp liên quan đến lí/ bá Kiến

2.5.1 Về nhóm nhân vật thuộc giai đoạn ông Kiến làm lí

trưởng

67

2.5.2 Về nhóm nhân vật thuộc giai đoạn ông Kiến làm bá hộ 69

2.5.3 Đối chiếu tổng quát đặc trưng của từng đôi nhân vật 71

2.6 Phân tích lập luận trong truyện Chí Phèo 75

2.6.1 Lập luận trong các cuộc đối nhau của Chí Phèo bá

Kiến

75

2.7 Phân tích cách dùng ngôn ngữ của Nam Cao trong Chí

Phèo

82

2.7.1 Phân tích về việc có dùng/ không dùng quan hệ từ 82

2.7.2 Phân tích về việc sắp xếp trật tự từ ngữ trong chuỗi

liệt kê

84

2.7.4 Nhận xét về những cách dùng ngôn ngữ trên đây 86

2.8 Một số dấu hiệu kí hiệu học xã hội trong truyện Chí

Trang 8

CỦA PHÂN TÍCH DIỄN NGÔN VÀ DỤNG HỌC 95

3.1 Bố cục của Sống mòn và quan hệ thời gian trong

truyện

95

3.1.1 Về tuyến thời gian gắn với nhân vật Thứ trong quan

hệ với tuyến thời gian thể hiện trong truyện kể 96

3.1.2 Đối chiếu tuyến thời gian trong cuộc đời của Thứ với

trình tự thời gian được thể hiện trong truyện kể 102

3.1.3 Một số thời điểm cần xác định trong khoảng thời gian

Thứ có vợ và dạy học tại trường của Đích 103

3.2 Truyện kể trong Sống mòn bắt đầu từ đâu và kết

3.3.2 Phân định các lớp xã hội trong Sống mòn 107

3.3.3 Tổng kết năm lớp nhân vật trong Sống mòn 119

3.4.2 Lòng vị tha trong cách nhìn người của Thứ 114

3.5.1 Lập luận trong các cuộc bàn luận về việc học 117

3.5.2 Lập luận trong các cuộc bàn luận về quan hệ nam nữ 120

3.6 Phân tích cách dùng ngôn ngữ của Nam Cao

Trang 9

3.7.7 Một số dấu hiệu liên quan cách nhìn của tác giả 143

DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA NGHIÊN CỨU SINH 151

TỪ VIẾT TẮT

DH: Dụng học

PTDN: Phân tích diễn ngôn

PTDNPB: Phân tích diễn ngôn phê bình

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Đề tài luận án này thuộc loại ứng dụng các kết quả nghiên cứu củangôn ngữ học vào việc phân tích ngữ liệu văn chương Hướng nghiên cứu nàyđang được quan tâm trên thế giới, ở Việt Nam nó cũng đã được thực hiện trênmột số luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ với những đề tài cụ thể khác nhau

Đối với luận án này, lí do chọn đề tài này là sự chuyển hướng trongngôn ngữ học và trong nghiên cứu văn học trong những thập kỉ gần đây

1.1 Sự chuyển hướng trong nghiên cứu ngôn ngữ học

Trong tiến trình lịch sử nghiên cứu ngôn ngữ học từ đầu thế kỉ XX đếnnay có một sự thực là các kết quả nghiên cứu của ngôn ngữ học thường đượcchuyển dùng vào một số ngành khoa học xã hội khác, và trước hết và gần gũihơn cả là chuyển dùng vào việc nghiên cứu văn học Mấy mươi năm cuối thế

kỉ XX và đầu thế kỉ XXI, ngôn ngữ học chuyển sang lĩnh vực mới là nghiêncứu ngôn ngữ trong sử dụng Các kết quả nổi bật của giai đoạn mới này mộtbên là Dụng học (Pragmatics), và gần như đồng thời là Phân tích diễn ngôn(Discourse Analysis) và tiếp theo là Phân tích diễn ngôn phê bình (CriticalDiscourse Analysis) Các môn học mới này cùng một lúc tác động mạnh mẽđến văn học, nhất là trong việc phân tích ngôn ngữ văn chương Đườnghướng của Phê bình ngôn ngữ học là ứng dụng các kết quả của Dụng học vàthái độ phê bình mác-xít vào việc phân tích tác phẩm văn chương, để tìm đếncách nhìn của tác giả tồn tại trong tác phẩm (diễn ngôn) Người ta cho rằngtrong mọi diễn ngôn nghiêm chỉnh đều có thể truy đến cái ngọn nguồn ý thức

hệ của nó (đối với ngôn ngữ văn chương thì đó là cái ngầm ẩn đằng saunhững lời lẽ mang tính nghệ thuật, như là lớp “nguỵ trang” của ý thức hệ đó).Trong công trình nghiên cứu này chúng tôi chỉ dừng lại ở các cách nhìn cụthể của tác giả, không nâng lên thành ý thức hệ, vì qua một vài trường hợp cụthể chưa thể khẳng định cả một khuynh hướng chung

Trang 13

Mục tiêu mà các kết quả mới của ngôn ngữ học hướng đến kể từ saucấu trúc luận và kí hiệu học, tức là vài ba thập kỉ cuối thế kỉ XX đến nay, cóthể thấy được một cách khái quát trong cách chuyển trọng tâm của cách nhìn

đối tượng được nghiên cứu: Từ việc tìm hiểu ‘ngôn ngữ là cái gì’ (‘what

language is’) trong nửa đầu thế kỉ XX, tức là tìm hiểu chính bản thân hệthống ngôn ngữ, điều mà thế kỉ XIX chưa làm được, chuyển sang giải thích

‘ngôn ngữ là để làm gì’ (‘why language is’), nhằm tìm biết ý định của người

dùng ngôn ngữ và bằng cách dùng ngôn ngữ, để đạt được ý định đó

1.2 Sự chuyển hướng trong nghiên cứu văn học

Trước hết, tại Việt Nam, có thể nêu một nhận xét khái quát rằng việcnghiên cứu các tác phẩm văn chương từ giác độ phê bình văn học, từ nửa đầuthế kỉ XX trở về trước nhìn chung, thường chỉ được quan tâm theo kiểu đóngkín, với cách nhìn tác phẩm văn học như là một sản phẩm tự trọn vẹn (total)trong bản thân nó Thế nhưng có một tình hình ngược lại, các phương phápnghiên cứu văn học nói chung trên bình diện thế giới, trong đó có phê bìnhvăn học, đã từng chấp nhận các ảnh hưởng tích cực từ các kết quả nghiên cứu

của ngôn ngữ học, rõ nhất là các kết quả của cấu trúc luận ngôn ngữ học và

kí hiệu học trong giai đoạn từ những năm 60 thế kỉ trước cho đến nay (trong

văn học) Và gần đây người ta đã nói đến sự nối kết giữa ngôn ngữ học và

văn học thông qua Phê bình ngôn ngữ học (đặt trong quan hệ với tên gọi

quen thuộc Phê bình văn học vốn có từ lâu) [10, tr 1-10].

Cách ngôn ngữ học tìm hiểu ngôn ngữ theo hướng chuyển sang giải

thích ‘ngôn ngữ là để làm gì’ (như nói trên), với sự quan tâm đến “ý định”

và “cách sử dụng ngôn ngữ như thế nào” để đạt được ý định đó của ngườidùng ngôn ngữ có một hệ quả quan trọng đối với việc nghiên cứu diễn ngôn,

kể cả diễn ngôn nghệ thuật, nó gợi ra một sự chuyển biến theo hướng nghiên

cứu không phải chủ yếu là tìm hiểu ‘đúng là diễn ngôn có ý nghĩa gì’ (‘just

in what discourse means’), mà tìm hiểu xem ‘diễn ngôn có ý nghĩa đó bằng

cách nào’ (hay ‘có ý nghĩa như thế nào’— ‘how discourse means’)

Trang 14

Hướng nghiên cứu này khiến người phê bình phải chứng minh nhận xétcủa mình bằng những chứng cứ có mặt hoặc có thể suy diễn (discursive) được

từ ngữ liệu cụ thể, cùng với sự quan tâm thích đáng đến ngữ cảnh tình huống(context of situation) về phương diện vật lí (không gian, thời gian, đồ vật )

và về xã hội-văn hoá (tính cộng đồng, tập tục, thể chế )

Để làm rõ hơn sự chuyển biến kể trên, nếu nhắc lại phê bình văn họctrong giai đoạn trước để đối chiếu, có thể nhận ra rằng việc phê bình thời ấychủ yếu căn cứ vào các “ý” được diễn đạt sẵn trong tác phẩm qua các từ, cáccâu, các đoạn v.v , mà chưa đặt ra vấn đề các ý đó được tác giả của chúngdiễn đạt như thế nào (bằng từ ngữ nào, kiểu câu như thế nào, v.v để đạtđược hiệu quả diễn đạt theo như ý của tác giả đó, trong khi chúng có thể đượcdiễn đạt bằng những cách khác nhau) Phê bình trong văn học thời đó thườngphải là người giàu kinh nghiệm đến mức có thể dùng “trực giác” đã có thể

“cảm thụ” được các ý nằm sâu bên trong và bên dưới câu chữ của diễn ngôn.Phân tích diễn ngôn (PTDN) và dụng học (DH) không phủ định cách làm việc

đó, mà chỉ bổ sung cách phân tích việc sử dụng ngôn ngữ của tác giả bằngmột số thao tác có thể là đủ tin cậy, để tìm đến cách nhìn con người, nhìn thếgiới, tìm đến quan điểm của tác giả Tóm lại, PTDN và DH thiên về cách tìmchứng cứ ngôn từ trong cách dùng ngôn ngữ của tác giả để nhận ra thái độcủa tác giả, qua đó tìm đến những bài học sử dụng ngôn ngữ cụ thể từ tác giả

Cái mới của luận án là ở các thủ pháp phân tích và các kết quả phântích Ý nghĩa của thủ pháp phân tích là tính khả thi của việc sử dụng hướngnghiên cứu ngôn ngữ học hiện đại vào nghiên cứu ngôn ngữ văn chương Ýnghĩa của các kết quả phân tích, ngoài những điểm mới, rõ nhất là bằngphương pháp nghiên cứu mới này có thể góp phần khẳng định các nhận định

đã có một cách có cơ sở; và như vậy cũng là góp thêm vào phương pháp

phân tích tác phẩm văn chương một luồng gió mới từ phía ngôn ngữ học.

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu (lịch sử nghiên cứu)

Trang 15

Các công trình nghiên cứu, nhìn chung, được chia khái quát thành hailoại: nghiên cứu lí thuyết và nghiên cứu ứng dụng

2.1 Các công trình nghiên cứu lí thuyết có nguồn gốc từ nước ngoài

Về PTDN và DH, các công trình nghiên cứu lí thuyết ở nước ngoài đãkhá nhiều, không dễ kiểm điểm lại được Mặt khác các công trinh có tính chấtcốt lõi của hai lí thuyết này cũng đã được du nhập vào Việt Nam từ nhữngthập niên cuối thế kỉ XX dưới hình thức giới thiệu phần lí thuyết bằng tiếngViệt và dịch sang tiếng Việt Như vậy, đề cho gọn (có phần do sự khống chế

về số trang dành cho một luận án), chúng tôi xin điểm diện một số công trình

lí thuyết tiêu biểu của hai hướng nghiên cứu này đã được giới thiệu bằngtiếng Việt tại Việt Nam

2.1.1 Công trình nghiên cứu lí thuyết DH bằng tiếng Việt ở Việt Nam

Các công trình giới thiệu về lí thuyết DH tại Việt Nam có thể dễ tiếpcận, đã được chúng tôi đưa vào danh sách TÀI LIỆU THAM KHẢO cuốisách Để khỏi lặp lại, ở đây chúng tôi xin dẫn các tài liệu chính gồm có các sốđặt trong ngoặc vuông sau đây của TÀI LIỆU THAM KHẢO (không dẫn têntài liệu đầy đủ):

a Đỗ Hữu Châu – Bùi Minh Toán (1993), số [14]; Đỗ Hữu Châu

(2000) số [15] và (2001) số [16]

b Nguyễn Đức Dân (1996), số [19] và (1998), số [20].

c Hoàng Phê (1989 và in lại 2003), số [62].

d Yule G Dụng học (1996), dịch Việt và in 2002, số [89]

2.1.2 Công trình nghiên cứu phương pháp PTDN bằng tiếng Việt

Các công trình bàn về PTDN tại Việt Nam có thể dễ tiếp cận, gồm:

a Diệp Quang Ban, (2002), số [5], (2009, in lại 2012), số [9].

b Brown G – Yule G Phân tích diễn ngôn (Dịch Việt của Trần Thuần

2002), số [13]

c Nguyễn Hoà, (2003), số [35], và (2006) số [36]

Trang 16

d Nunan D., Dẫn nhập Phân tích diễn ngôn (Dịch Việt của Hồ Mỹ

Huyền và Trúc Thanh, Diệp Quang Ban hiệu đính, 1997, số [61]

e Trần Ngọc Thêm (1985, in lần hai 1999, số [72], (1996) số 73] và

(1996), số [74] (1) Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt Nxb Khoa học xã

hội Hà Nội (in lần thứ hai 1999 Nxb Giáo dục)

2.2 Về công trình nghiên cứu ứng dụng về DH và PTDN ở Việt Nam

Các nội dung lí thuyết về DH và về PTDN được nhanh chóng ứng dụngvào việc nghiên cứu ngữ liệu tiếng Việt và ngữ liệu đối chiếu Việt ngữ-ngoạingữ, với tư cách các công trình nghiên cứu bậc tiến sĩ và thạc sĩ Tuy chỉ vàichục năm lại đây, nhưng số công trình nghiên cứu bậc tiến sĩ và thạc sĩ đã lớnđến mức khó kiểm soát hết được, trong đó có một thực tế là số đơn vị là cơ sởđào tạo tiến sĩ và thạc sĩ trong nước mỗi năm một tăng

Vì lẽ đó, sau đây chúng tôi chỉ nêu định hướng chung của việc nghiêncứu DH và PTDN trong một số công trình nghiên cứu đã có

2.2.1 Về công trình nghiên cứu ứng dụng DH ở Việt Nam

Các công trình nghiên cứu bậc tiến sĩ và thạc sĩ chung quanh các vấn

đề về Dụng học của ngôn ngữ Việt và đối chiếu tiếng Việt với tiếng nướcngoài (nhiều nhất là tiếng Anh) đến nay đã đạt đến số lượng không kiểm soáthết được Vì lí thuyết DH không phải là nội dung chính của luận án này,chúng tôi xin liệt kê một số nội dung thường được nhắc đến sau đây

- Trước hết là về các tiểu từ tình thái của tiếng Việt, đây là một lĩnhvực có thể nói là cực kì phức tạp của tiếng Việt, bởi số lượng của chúngkhông nhỏ, ý nghĩa của chúng khá mơ hồ mà lại có tầm quan trọng không thểkhông tính đến trong giao tiếp Không ít khi một lời nói vi phạm tính lịch sựchỉ vì dùng tiểu từ tình thái không thích hợp

- Về các kiểu câu phân loại theo mục đích nói tiếng Việt và cách sửdụng chúng, đáng chú ý nhiều nhất là kiểu câu nghi vấn, tiếp theo là kiểu câucầu khiến, vì hai kiểu câu này liên quan đến đối tác theo kiểu trực tiếp giữangười tạo lời với người nhận lời, đồng thời lại thêm tính trực tiếp về thời gian

Trang 17

và không gian giao tiếp Kiểu câu nghi vấn, cầu khiến, có lẽ một phần do tínhtrực tiếp vừa nói, cũng là đối tượng được nghiên cứu khá nhiều trong cáccông trình nghiên cứu đối chiếu tiếng Việt – ngoại ngữ

- Về kiểu câu phủ định và cách sử dụng, chúng cũng xuất hiện khánhiều trong lĩnh vực đối chiếu Việt – ngoại ngữ

- Về hành động nói trong một số lĩnh vực thuộc đời sống xã hội, nhưmua bán ở chợ, lời khen, lời chê thu hút chú ý của nhiều công trình nghiêncứu trong nhiều năm gần đây

- Về hành động nói thuộc phạm trù liên nhân, như chào, cảm ơn, xinlỗi, chủ yếu được nghiên cứu theo cách đối chiếu tiếng Việt và ngoại ngữ

2.2.2 Về công trình nghiên cứu ứng dụng PTDN ở Việt Nam

Về PTDN, số lượng công trình nghiên cứu bậc tiến sĩ và thạc sĩ chưanhiều bằng về DH, nhưng trên thực tế cũng đã đến mức khó kiểm soát được

Để dễ hình dung về tình hình nghiên cứu PTDN nói chung, trước hết có thểliệt kê một số nội dung thường được đề cập liên quan đến PTDN như sau:

- Những vấn đề về liên kết và mạch lạc trong văn bản

- Những vấn đề về quan hệ thời gian, quan hệ nguyên nhân trong tácphẩm văn chương

- Những vấn đề về lập luận trong các diễn ngôn nghị luận và phần nàotrong tác phẩm văn chương

- Những vấn đề trong ngôn ngữ “thể chế”, cụ thể là trong một số kiểuvăn bản hành chính-công vụ, thương mại

- Những vấn đề về quan điểm giới tính trong sử dụng ngôn ngữ

- Những vấn đề liên quan đến sự phân biệt ngôn ngữ nói/ ngôn ngữ viết

Số luận án tiến sĩ trong nước được thực hiện theo hướng của PTDN màchúng tôi tiếp cận được, gồm có:

(1) Phan Thị Ai 2011, Những vấn đề về mạch lạc văn bản trong bài làm văn của học sinh phổ thông.

Trang 18

(2) Trần Thị Vân Anh 2008, Mạch lạc trong Truyện Kiều của Nguyễn Du.

(3) Trần Xuân Điệp 2002, Sự kì thị giới tính trong ngôn ngữ qua cứ liệu tiếng Anh và tiếng Việt.

(4) Nguyễn Thị Hà 2010 Khảo sát chức năng ngôn ngữ văn bản quản

lí nhà nước qua phương pháp phân tích diễn ngôn (PTDN ngôn ngữ thể chế)

(5) Võ Lí Hoà 2004, Tìm hiểu văn bản tóm tắt và phương pháp tóm tắt văn bản.

(6) Hổ Mỹ Huyền 2007, Ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết.

(7) Nguyễn Thị Hường 2010, Tìm hiểu một số kiểu mạch lạc trong các thể loại văn bản hành chính-công vụ (PTDN ngôn ngữ thể chế)

(8) Lương Đình Khánh 2007, Phương thức liên kết nối và quan hệ nghĩa giữa các phát ngôn.

(9) Bùi văn Năm 2010, So sánh phương thức nối trong văn bản tiếng Việt và tiếng Anh.

(10) Nguyễn Thị Việt Thanh 1997, Hệ thống liên kết lời nói tiếng Việt (11) Nguyễn Phú Thọ 2008, So sánh các biện pháp liên kết từ vựng trong văn bản tiếng Việt và tiếng Anh.

(12) Nguyễn Xuân Thơm 2001, Các yếu tố ngôn ngữ trong đàm phán thương mại quốc tế (Anh-Việt đối chiếu)

(13) Phạm Văn Tình 2001, Phép tỉnh lược và ngữ trực thuộc tỉnh lược trong văn bản liên kết tiếng Việt.

(14) Hồ Ngọc Trung 2010, Phép thế trong tiếng Anh (trong sự liên hệ với tiếng Việt).

Nhìn tổng quát, các công trình nghiên cứu trên quan tâm chưa đượcnhiều đến cách sử dụng ngôn ngữ trong các phong cách chức năng khác nhau

3 Phạm vi và đối tượng khảo sát

3.1 Phạm vi các vấn đề được khảo sát

Trang 19

Dụng học (DH và Phân tích diễn ngôn (PTDN) có thể ứng dụng vàoviệc nghiên cứu ngôn ngữ thuộc các lĩnh vực khác nhau trong đời sống xãhội, trong đó có ngôn ngữ văn chương Các vấn đề thuộc về lí thuyết của DH

và PTDN, trong thời điểm hiện nay, có quan hệ chặt chẽ với nhau Cụ thể làtrong DH không thể tránh các vấn đề thuộc về PTDN và ngược lại

3.1.1 Một số vấn đề thuộc cơ sở lí thuyết của Dụng học

Dụng học ra đời trước PTDN, và PTDN cũng sử dụng kiến thức của

DH, vì vậy nội dung của DH được trình bày trước DH có nguồn gốc lí thuyếttrong học thuyết về hành động nói (speech act) của J I Austin, nhà triết họcphân tích tính người Anh và cũng được chia sẻ ở Mĩ Trong lí thuyết về DH,phần liên quan đến cách tổ chức hội thoại và đơn vị hội thoại còn có mộtnhánh hình thành sau ở Thuỵ Sĩ-Pháp (x trong [14] và [16]) Nét riêng chủyếu của nhánh Thuỵ Sĩ-Pháp là dùng thuật ngữ “tham thoại” (intervention,vốn có nghĩa là “tham luận”), thay cho “lượt lời” (turn) hay “bước thoại”(move) của giới nghiên cứu Anh-Mĩ Thuật ngữ tham thoại lấy mặt nghĩa làmtrọng, trên cơ sở đó một tham thoại có thể có độ dài trùng với một lượt lời,

mà cũng có thể ngắn hơn hoặc dài hơn một lượt lời Lượt lời lấy sự chuyểngiao lần nói giữa người nói 1 (SP1) với người nói 2 (SP2) làm cơ sở (x trong[9]), cho nên có tính công nghệ cao hơn và tiện dụng hơn thuật ngữ thamthoại Vì vậy, thuật ngữ lượt lời được chọn dùng trong luận án này

Lí thuyết DH bao gồm nhiều vấn đề, trong đó có những vấn đề liênquan đến cuộc thoại như:

- Vấn đề hành động nói (Speech Act, cũng dịch “hành vi ngôn ngữ”)

- Vấn đề sự cộng tác của những người tham gia cuộc thoại

- Vấn đề về các kiểu ý nghĩa trong lời nói chứa hành động nói, như tiềngiả định, hàm ý hội thoại

- Vấn đề về phép lịch sự và những vấn đề khác liên quan đến văn hoá.Các nội dung này cũng được dùng như một bộ phận trong PTDN

3.1.2 Một số vấn đề thuộc cơ sở lí thuyết của Phân tích diễn ngôn

Trang 20

PTDN ra đời lúc đầu như là một phần tiếp theo của ngôn ngữ học cấutrúc, và cái tên PTDN do Z Harris – nhà cấu trúc luận Mĩ – đưa ra [9, 149].Ban đầu người ta cố gắng sử dụng bộ thuật ngữ nghiên cứu câu của cấu trúcluận vào nghiên cứu diễn ngôn (đơn vị trên bậc câu), nên có tên gọi “cú phápvăn bản”, “ngữ pháp văn bản”, nhưng qua ngót 30 năm vẫn không có kết quả.

Mãi cho đến năm 1979 trở đi, người ta mới nhận ra rằng diễn ngôn làđơn vị thuộc về nghĩa, không thuộc về cấu trúc như đơn vị câu, cho nênkhông thể dùng bộ thuật ngữ của việc nghiên cứu câu vào việc nghiên cứudiễn ngôn được Cho đến nay, trong việc nghiên cứu PTDN có những vấn đề

về lí luận và về phương pháp được đặt ra nhưng chúng vẫn chưa đủ tư cách

của một lí thuyết hoàn chỉnh, nó chỉ được thừa nhận như là một cách tiếp cận

(approach), và được định nghĩa như sau:

PTDN là “một cách tiếp cận phương pháp luận đối với việc phân tích

ngôn ngữ bên trên bậc câu, gồm các tiêu chuẩn (criteria) như tính kết nối (connectivity), hiện tượng hồi chiếu (anaphora), v.v ” (dẫn theo [9, 158]).

Một định nghĩa cụ thể hơn đã được dẫn ra như sau:

“PTDN là đường hướng tiếp cận tài liệu ngôn ngữ nói và viết bậc

trên câu (diễn ngôn/ văn bản) từ tính đa dạng hiện thực của nó, bao gồm các mặt ngôn từ và ngữ cảnh tình huống, với các mặt hữu quan thể hiện trong khái niệm ngôn vực (register) mà nội dung hết sức phong phú và đa dạng (gồm các hiện tượng thuộc thể loại và phong cách chức năng, phong cách cá nhân, cho đến các hiện tượng xã hội, văn hoá, dân tộc)” [9, 158].

Cũng cần ghi nhận thêm rằng đối tượng thực hành của PTDN rất rộng,bao gồm các hiện tượng thuộc ngữ âm, từ-ngữ, đến cách diễn đạt lời thành cáccâu cụ thể; các phương diện nghiên cứu cũng khá đa dạng, từ các kiểu nghĩatường minh đến không tường minh (tiền giả định hàm ý), cho đến các chứcnăng của lời (các kiểu hành động nói) Các nội dung thực hành vừa nêu khôngbắt buộc phải khai thác tất cả và đồng đều đối với mọi diễn ngôn Chúng được

Trang 21

sử dụng có lựa chọn theo kiểu thích hợp một cách nổi trội cho những điểm cótác dụng giải thích được nhiều cho việc thâm nhập vào từng diễn ngôn cụ thể

Các nội dung lí thuyết và thực hành nêu trên được dùng làm cơ sở cho

việc phân tích hai diễn ngôn được chọn là Chí phèo và Sống mòn của nhà văn

Nam Cao

3.2 Đối tượng khảo sát

Đối tượng khảo sát là truyện ngắn Chí Phèo và tiểu thuyết Sống mòn

của Nam Cao Đây là hai tác phẩm khác nhau về thể loại Sự khác nhau về thểloại này là điểm được quan tâm trong việc lựa chọn, vì chúng có thể đòi hòinhững cách tiếp cận có phần khác nhau và các kết quả có thể không hoàn toàngiống nhau

Truyện ngắn Chí Phèo, về mặt số lượng có độ dài khiêm tốn (chỉ hơn

30 trang, tr 69-101, trong [25]), về mặt nội dung có kịch tính cao, thiên nhiều

về hành động, và sự việc cụ thể được diễn đạt súc tích, mối quan hệ giữa

hành động và tâm lí của nhân vật là trực tiếp và dễ nhận biết, sự việc

diễn biến tập trung trong một không gian hẹp, thời gian khá ngắn, với cácnhân vật có tính cách rõ ràng Nhờ vậy việc phân tích thuận lợi, dễ xác nhận

Tiểu thuyết Sống mòn có số trang đáng kể (hơn 200 trang, tr 132-344,

trong [26]), ngoài sự việc cụ thể, các hành động còn đậm nét tâm lí và triết lí

của nhân vật, hơn nữa mối quan hệ giữa hành động và tâm lí của nhân vật

được diễn đạt gián tiếp qua nhiều lời văn, có khi cách xa nhau Các sự việc,

các tính cách nhân vật vừa phức tạp, vừa trải dài trong không gian và thờigian khá rộng Cho nên trong việc phân tích cần liên kết các sự việc có khicách xa nhau đó mới có thể nhận ra được cách thể hiện của tác giả

3.2.1 Về việc chọn ngôn ngữ văn chương của Nam Cao

Việc chọn ngôn ngữ văn chương làm đối tượng nghiên cứu trongtrường hợp này chỉ giản đơn là vì ngôn ngữ văn chương được coi là nơi tậptrung tinh hoa của ngôn ngữ dân tộc trong từng thời kì Mặt khác, nhà vănNam Cao được chọn là vì sự nghiệp văn chương của ông đã khép lại, và quan

Trang 22

trọng hơn là đã được xếp hạng cao một cách thống nhất trong dư luận chungcủa văn đàn Việt Nam

3.2.2 Về việc chọn truyện ngắn Chí Phèo và tiểu thuyết Sống mòn

Tác phẩm Chí Phèo và Sống mòn được chọn với những lí do sau đây.

b Về đề tài

Về mặt đề tài, hai tác phẩm này có nội dung khác biệt nhau và rất tiêu

biểu đối với thời điểm chúng ra đời Đề tài trong Chí Phèo (ghi cuối truyện:

Tháng 2-1941) là cuộc sống nông thôn trước 1945, khi mà mâu thuẫn giữa địachủ và người “không có một tấc đất cắm dùi” đã lên đến tột độ Nam Cao đãtập trung mâu thuẫn này vào nhân vật lí/ bá Kiến và Chí Phèo, qua đó đã tạo

ra được cái tấn bi kịch về thể xác, cái chết thể xác của cả hai do Chí Phèo

gây ra một cách bất ngờ, ngoài sức tưởng tượng của mọi lớp người trong cái

xã hội bé nhỏ là làng Vũ Đại đó!

Đề tài của Sống mòn (ghi cuối truyện: Ngày 1-10-1944) là cuộc sống

của lớp tiểu tư sản trí thức đang lớn lên của thời ấy Họ cố học hành tốn nhiềutiền của của cha mẹ, tiêu hao hầu hết công sức của bản thân, để rồi cuối cùngchẳng làm được việc gì xứng đáng với của ấy, công ấy Hơn nữa, cái ý chí,cái tư tưởng làm thay đổi cuộc sống của xã hội đương thời bằng sức học của

họ cũng chẳng những không được thực hiện mà còn tiêu ma! Đây lại là tấn bi

kịch về tâm lí cho lớp trí thức tiểu tư sản “chưa nở đã tàn” thời ấy

c Về thời gian, không gian và lớp xã hội trong tác phẩm

Trang 23

Xét theo tuyến thời gian, hai tác phẩm đều ra đời vào giai đoạn cuối

của thời kì trước Cách mạng Tháng Tám 1945 Đặc điểm của thời kì này là sự

hư hoá cao độ của bộ máy chính quyền nửa phong kiến-nửa thực dân Về phíatác giả, Nam Cao chưa có điều kiện tiếp nhận ảnh hưởng của ý thức hệ cáchmạng và đường lối đấu tranh giai cấp của tổ chức cách mạng thời kì đó

Về mặt không gian, chỗ khác nhau là không gian của Chí Phèo là làng

quê của vùng đất khá tiêu biểu, Sống mòn có không gian “nửa tỉnh nửa quê”.

Hai nơi này là “chỗ tồn tại” chung cho tuyệt đại đa số người bình dân ViệtNam thời bấy giờ

Thời gian và không gian nói trên được phản ánh một cách trung thực

trong hai tác phẩm được chọn: Chí Phèo cho thấy sinh hoạt phân cực sang hèn của cư dân làng quê, Sống mòn là cuộc đời của tiểu trí thức với mâu

thuẫn giữa ước vọng và hiện thực ở nơi “nửa tỉnh nửa quê” thời ấy

Về lớp xã hội thì trong Chí Phèo khác hẳn với trong Sống mòn.

- Trong truyện ngắn Chí Phèo rõ nhất là lớp chức dịch cường hào và

lớp cùng đinh (bần cùng hoá) của làng quê, lớp trước nô dịch lớp sau

- Trong tiểu thuyết Sống mòn nổi trội là lớp tiểu tư sản trí thức là giáo

chức Liên quan đến họ có lớp dân quê ngoại thành (nửa tỉnh nửa quê) Nhìnchung, số phận của lớp tiểu tư sản trí thức này là bế tắc trong cái khung cảnh

xã hội được phản ánh trong tác phẩm

3.2.3 Một số nhận định của giới nghiên cứu văn học

Từ khá lâu, giới nghiên cứu văn học đã quan tâm nhiều đến Nam Cao

và hai tác phẩm Chí Phèo, Sống mòn Sau đây là một số ý kiến khá tiêu biểu.

a Về Nam Cao

Nam Cao là một trong những cây bút mà tài năng đã được nhiều ngườibàn đến Các ý kiến về Nam Cao được rút ra từ các nghiên cứu khái quát vềnghệ thuật ngôn từ nói chung và những bài viết nhỏ

Trang 24

- Nguyễn Đình Thi 1956 đã nêu hình ảnh khái quát về Nam Cao: “Nhàvăn mảnh khảnh như thư sinh ăn nói ôn tồn nhiều khi đến rụt rè, mỗi lúc lại

đỏ mặt, mà kỳ thực mang trong lòng một sự phản kháng mãnh liệt” [75, 21]

- Nguyễn Đăng Mạnh 1983 có nhận xét về Nam Cao và được TrầnĐăng Suyền dẫn lại: “Nam Cao là người hay băn khoăn về vấn đề nhân phẩm,

và thái độ khinh trọng đối với con người Anh thường dễ bất bình trước tìnhtrạng con người bị lăng nhục chỉ vì bị đầy đoạ vào cảnh nghèo đói cùngđường Nhiều tác phẩm xuất sắc của anh đã trực diện đặt ra vấn đề này và anhquyết đứng ra minh oan, chiêu tuyết cho những con người bị miệt thị mộtcách bất công” [67, 118]

- Ý kiến của Nguyễn Huy Tưởng 1987 cũng được Trần Đăng Suyểnnhắc lại: “ trong khi giao thiệp, chúng ta còn thấy phảng phất ở Nam Caongười bạn hiền lành giản dị, hay đỏ mặt, thỉnh thoảng cười chua chát, một vàidây dưỡng của ảnh hưởng Pháp, một thái độ dè dặt đến thành nhút nhát, đắn

đo đến thành nghi kỵ, ít nói đến thành lạnh lùng” [67, 20]

- Phương Lựu nói đến cách viết cụ thể của Nam Cao mà ông gọi là “hôứng”: “Khi nghe Chí Phèo đâm bá Kiến và tự đâm mình chết luôn, Thị Nởnhìn xuống bụng của mình và trước mặt thị hiện ra cái lò gạch – như đã xuấthiện ở đầu tác phẩm, Nam Cao muốn nói kiếp người Chí Phèo vẫn còn tiếpdiễn” [54, 168-169]

- Nguyễn Hoành Khung 1978 nêu nhận xét về Nam Cao và được TrầnĐăng Suyền dẫn lại: “Nam Cao ít khi lôi cuốn người đọc bằng một cốt truyệnhấp dẫn, ly kỳ, đầy kịch tính – điều mà nhiều nhà tiểu thuyết coi là quan trọnghàng đầu – mà thường hướng họ theo chiều sâu suy nghĩ” [67, 45]

- Hà Minh Đức 1976 viết: “Nam Cao muốn tìm đến sự thật Với tấmlòng yêu thương cực độ những lớp người và những cảnh đời đau khổ, với sựcăm giận xót xa đến cháy lòng trước bao ngang trái, bất công của chế độ cũ”[25, 6-7]

Trang 25

- Trần Đăng Suyền nói về Nam Cao trong một chuyên luận: “NamCao phản kháng gay gắt trật tự xã hội đương thời bóp nghẹt sự sống chânchính của con người ” và ông đã “thẳng bước giữa cái trục chính của conđường lớn của chủ nghĩa hiện thực” [67, 21-22]

b Về tác phẩm Chí Phèo và Sống mòn

Chung quan tác phẩm Chí Phèo có những lời bình luận như sau

- Hà Minh Đức cho biết Chí Phèo là một người trong “Một bộ phận

nông dân còn bị đẩy sâu hơn nữa vượt khỏi ranh giới cuối cùng để rơi vàovòng tội lỗi, thành những kẻ phẫn chí đến liều lĩnh.” [25, 9] Và vốn “Họ lànhững nạn nhân nhưng rồi cũng trở thành kẻ mù quáng gây tội lỗi” [25, 9]

Và “Nam Cao đã vạch mặt bọn lý dịch cường hào, thi nhau hà hiếp, nhũngnhiễu dân nghèo.” [25, 10]

Nhận xét về cách viết của Nam Cao qua nhân vật Chí Phèo, Hà MinhĐức cho rằng tác giả đã “Lạm dụng những yếu tố ngoa dụ một cách sắc sảo

và lạnh lùng làm cho nhiều trang viết như thiếu đi sự thông cảm tiếc thương.”[25, 14]

- Về truyện Chí Phèo, Trần Đăng Suyền viết: “Trong sáng tác của Nam

Cao, truyện ngắn Chí Phèo là tác phẩm duy nhất miêu tả trực tiếp mâu thuẫnxung đột giai cấp gay gắt, căng thẳng, quyết liệt giữa người nông dân laođộng lương thiện với bọn địa chủ, cường hào, ác bá ở nông thôn” [67, 64]

Tác phẩm Sống mòn cũng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm

- Nhận xét của Hà Minh Đức về lớp nhân vật chính “tiểu tư sản” trong

Sống mòn như sau: “Các nhân vật tiểu tư sản thường nặng về suy nghĩ hơn

hành động Chất tâm lý của họ thống nhất với trạng thái tâm hồn của tác giảnên dễ tạo nên sự nhất quán, ít có tình trạng chắp vá khiên cưỡng Chất tâm lý

phát triển nhiều khi quy định đến cấu tạo của tác phẩm như trong Sống mòn.

Cấu tạo của Sống mòn vừa đi sát vào sườn cốt truyện vừa gắn liền với dòngtâm lý nhân vật vận động chậm chạp trong vòng luẩn quẩn Nam Cao rất sâusắc và tinh tường về tâm lý nhân vật Trong các nhà văn hiện thực thời kỳ

Trang 26

trước cách mạng, Nam Cao là nhà văn có nhiều đóng góp về miêu tả tâm lý

và khả năng phản ánh hiện thực qua tâm trạng” [25, 43]

- Với Sống mòn, Trần Đăng Suyền đã viết: “Sự thực thì qua những tác phẩm xuất sắc của mình (trong đó có kiệt tác Sống mòn), Nam Cao đã đem

đến những cách tân lớn lao đối với nền văn xuôi nghệ thuật Việt Nam trướcCách mạng, góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy và hoàn thiện quá trìnhhiện đại hoá nền văn học dân tộc” “Nam Cao là nhà văn đã đánh dấu ý thứcnghệ thuật của dòng văn học hiện thực phê phán (1930-1945) đi từ tự phátđến hoàn toàn tự giác” [67, 39]

Các ý kiến dẫn trên đủ cho thấy tầm vóc của nhà văn Nam Cao và tầm

cỡ của Chí Phèo, Sống mòn trên văn đàn trong giai đoạn cuối (1940-1945),

một trong ba giai đoạn của chủ nghĩa hiện thực phê phán ở Việt Nam

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Chí Phèo và Sống mòn đã được nhiều nhà nghiên cứu văn học xem xét

từ quan điểm phê bình văn học Việc ứng dụng cách tiếp cận của PTDN và

DH để nghiên cứu ngôn ngữ nghệ thuật thuộc về “phê bình ngôn ngữ học”

[10, 1-10], nó có những thủ pháp riêng được thực hiện nhằm mục đích làm

rõ các nội dung chứa đựng trong tác phẩm trên cơ sở các chứng cứ ngôn ngữ có mặt trong tác phẩm Các nội dung này thuộc về nhiều mặt, như nội

dung sự việc được trình bày, tính cách và cách nhìn của nhân vật, tình huốngvật lí và tình huống xã hội-văn hoá liên quan đến đề tài tác phẩm, và cả quanđiểm và bút pháp của tác giả

Để làm được những việc như vậy, nhiệm vụ của người nghiên cứu

không chỉ là căn cứ vào từ ngữ trong tác phẩm và chỉ dừng lại ý nghĩa sẵn có của từ ngữ, mà quan trọng hơn là còn phải “suy diễn” một cách có

cơ sở từ các từ ngữ có mặt đó để tìm đến các nội dung trên, khi chúng

không được gọi tên một cách trực tiếp trong tác phẩm Theo đó, ngoài nhữngkết quả mới, một số kết quả thu được có thể trùng với kết quả đã có của giớiphê bình văn học

Trang 27

Điều cần ghi nhận là các kết quả đạt được từ PTDN vẫn có phần khácđáng kể: đó là cách phân tích dựa chắc trên cơ sở ngôn từ của tác phẩm trongngữ cảnh tình huống cụ thể của chúng và sử dụng cách suy diễn, cách biệnluận để tìm đến các nguyên do vững chắc của các sự kiện Đây cũng là cáchlàm việc của người đọc hiểu, lí giải một diễn ngôn cụ thể cần phân tích.

Mặt khác, cách tiếp cận của PTDN và DH đối với các mặt cụ thể được

đề cập trong hai tác phẩm này không thể hoàn toàn giống nhau, vì Chí Phèo

là truyện ngắn, Sống mòn là tiểu thuyết, như đã nói trên đây

Cụ thể hơn có thể nêu lên những nét khác biệt lớn như sau:

- Truyện ngắn Chí Phèo, về mặt số lượng có độ dài khiêm tốn (chỉ hơn

30 trang, trong [25, tr 69-101]), kịch tính cao, về mặt nội dung thiên về hành

động và sự việc cụ thể được diễn đạt súc tích, mối quan hệ giữa hành động

và tâm lí của nhân vật là trực tiếp dễ nhận biết, triển khai tập trung trong

một không gian, thời gian hữu hạn, với các nhân vật tính cách rõ ràng Nhờvậy việc phân tích thuận lợi, dễ xác nhận

- Tiểu thuyết Sống mòn, về mặt số lượng có số trang đáng kể (hơn 210

trang, trong [26, tr 132-344]), ngoài hành động và sự việc cụ thể, còn đậm

nét tâm lí và triết lí của nhân vật, hơn nữa mối quan hệ giữa hành động và

tâm lí của nhân vật được diễn đạt gián tiếp qua nhiều lời văn, có khi cách

xa nhau Các sự việc, tính cách nhân vật vừa phức tạp, vừa trải dài trong

không gian và thời gian khá rộng Cho nên việc phân tích Sống mòn khó khăn hơn Chí Phèo, cần có những biện pháp khác, có khi cần liên kết các sự việc

thành tuyến mới có thể nhận ra được các ý tinh vi mà tác giả muốn diễn đạt

5 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp được đề cập sau đây đối với PTDN và DH đều lànhững phương pháp làm việc cụ thể đã từng được sử dụng vào các diễn ngôn

cụ thể và đã giới thiệu trong các công trình nghiên cứu về lí thuyết PTDN và

DH Trong luận án này các phương pháp liên quan đến lí thuyết gồm có Phântích hội thoại (ra đời sớm hơn) và Phân tích diễn ngôn

Trang 28

5.1 Phương pháp Phân tích hội thoại

Một số phương pháp cụ thể của DH thường được dùng trong PTDNliên quan đến các nội dung sau đây:

- Phân tích cách diễn đạt “hành động nói” (trong hội thoại), phát hiệncâu ngôn hành, ngôn hành hàm ẩn, hành động nói trực tiếp và gián tiếp

- Nguyên tắc cộng tác hội thoại (có 4 phương châm: Lượng: nói ralượng tin cần và đủ; Chất: có nội dung chân thực; Quan hệ: nội dung đó làthích hợp với lần sử dụng đó; Cách thức: cách diễn đạt phải rõ ràng)

Các phương châm này liên quan đến phương pháp của phân tích Hội thoại

và PTDN như sau: Một lời nói bình thường đúng và tường minh về nghĩa phảiđược thực hiện với đầy đủ các phương châm trên Nếu người phân tích (hayngười nghe) nhận là rằng người nói đưa ra một lời nói khó hiểu hoặc không thểhiểu ngay được thì lời đó có thể thuộc một trong hai trường hợp sau đây: (a)Hoặc là người nói đã “vô tình” sử dụng sai một phương châm nào đó, nên đã gâynên tình trạng nan giải vừa nêu; (b) Hoặc là người nói đã “cố ý” không tuân theomột phương châm nào đó, nhằm tạo ra một phát ngôn “bất bình thường”, như tạo

ra một ý hàm ẩn (hàm ý) nào đó, trong trường hợp này người phân tích phải cókiến thức liên quan các kiểu ý nghĩa như tiền giả định, hàm ý hội thoại, lập luận,tính lịch sự, thì có thể giải mã được các ẩn ý Chẳng hạn, hai người bạn đang nóichuyện bình thường, bỗng một người đưa ra một câu nói “lạc đề” (không đúng

“tiền giả định”), và khi đó người nghe mới nhận ra đang có một người quen kháctiến đến Câu “lạc đề” đó có thể vì tính lịch sự hay vì một lẽ nào đó không khóhiểu (người nghe giải mã được ngay) mà phải xuất hiện

5.2 Phương pháp của Phân tích diễn ngôn

Phương pháp chung thường được sử dụng của PTDN là phân tích ngữliệu trong mối quan hệ chặt chẽ với ngữ cảnh tình huống (contextualsituation) và phân tích nghĩa của lời nói (gồm cả chức năng của lời nói làhành động nói của DH)

Trang 29

Ngữ cảnh tình huống được phân biệt khái quát thành hai loại: a) Ngữcảnh vật lí, quan tâm đến không gian, thời gian, con người, con vật, đồ vật,cảnh vật; (b) ngữ cảnh xã hội-văn hoá, quan tâm đến các lớp xã hội, phongtục tập quán, tín điều xã hội, thể hiện qua các kí hiệu học xã hội.

Việc phân tích nghĩa của lời nói gồm phân tích nghĩa từ ngữ, nghĩa củacâu, liên kết câu, nghĩa hình tượng, và chức năng của lời như trong Phân tíchhội thoại, vì diễn ngôn ở đây cũng bao gồm cả diễn ngôn có chứa hội thoại

Trong PTDN và DH, việc phân tích một diễn ngôn (văn bản) thường sửdụng không phân biệt rạch ròi các phương pháp làm việc thuộc PTDN vàthuộc DH, vì tất cả các chúng đều thường cùng xuất hiện trong diễn ngôn

Ngoài hai loại phương pháp có tính chất chuyên môn trên, luận án cũng

sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học chung thông dụng

6 Giả thuyết nghiên cứu

Từ những điều nêu trên, công việc nghiên cứu hai tác phẩm này đượcgiả định thực hiện theo các hướng sau đây

- Tìm hiểu bố cục (hay ‘kết cấu’) của từng tác phẩm trong quan hệ vớidiễn biến thời gian thực của các sự kiện được phản ánh trong tác phẩm

- Xác lập các quan hệ giữa các nhân vật như là ngữ cảnh xã hội-vănhoá trực tiếp của nhân vật và nhóm người

- Nêu chức năng của các nhân vật tiêu biểu khi cần (chức năng củanhân vật được hiểu theo cách của Propp (x [9, 46])

- Phát hiện các kiểu quan hệ về ý nghĩa giữa các bộ phận khác nhau, kể

cả ở bậc câu trong từng tác phẩm, cụ thể là các quan hệ với ngữ cảnh tìnhhuống, nếu chúng có giá trị giải thích nghĩa cho các sự kiện trong tác phẩm

- Các lời thoại trong các cuộc thoại được phân tích theo cách “Phântích hội thoại” của hướng Mĩ (được giới thiệu trong [9, 82-89])

- Phát hiện và phân tích các kiểu lập luận có vai trò giải thích nghĩa nổitrội trong tác phẩm

Trang 30

- Phát hiện các ngôn từ giữ vai trò ‘kí hiệu học xã hội’ được phản ánhtrong từng tác phẩm.

- Giải thuyết các từ ngữ, các cách tổ chức câu có giá trị diễn đạt caođược tác giả sử dụng trong tác phẩm

Các nội dung nghiên cứu nêu trên có thể được thực hiện tách rời hoặcphối hợp tuỳ từng trường hợp cụ thể Trình tự ứng dụng các nội dung nghiêncứu trên có thể thay đổi tuỳ thuộc vào cách tổ chức của từng văn bản cụ thể

Muốn thực hiện mục tiêu trên, PTDN không chỉ dừng lại ở việc khảosát tổng thể diễn ngôn và qua một số tài liệu diễn đạt trong diễn ngôn để đưa

ra những điều khái quát, mà còn phải tính đến tất cả các mặt có giá trị giảithích nghĩa cho diễn ngôn theo các căn cứ có tính chất lí thuyết sau đây

– Cách nhìn của người sản xuất diễn ngôn đối với con người và thế giới(nhân sinh quan và thế giới quan), cơ sở để nhận biết ý thức hệ của tác giả

– Trình độ của người sản xuất diễn ngôn, giúp xác nhận tài năng sửdụng ngôn ngữ của tác giả

– Nơi và lúc diễn ngôn được tạo ra liên quan đến tập quán xã hội, quan

hệ xã hội, thời thế chung của xã hội , giúp nhận ra những thuận lợi và nhữngkhống chế trong cách diễn đạt của người tạo lập diễn ngôn Việc khảo sát ởphương diện này cũng giúp phát hiện các dấu hiệu của kí hiệu học xã hội,phản ánh đặc trưng của từng xã hội cụ thể

– Đối tượng tiếp nhận hay là sự phân phối diễn ngôn, cho biết diễnngôn được tạo ra nhằm chuyển đến đối tượng nào là chính Điều này cho thấycách viết của người tạo diễn ngôn có thể thay đổi đối với những đối tượngtiếp nhận khác nhau, nhằm vào khả năng tiếp nhận của họ

7 Điểm mới của luận án

Trên cơ sở các định hướng nghiên cứu nêu trên, nội dung của luận ánhướng đến các điểm mới sau đây, nhìn chung trong hai tác phẩm và khôngđồng đều như nhau trong hai tác phẩm:

a Làm rõ bố cục cụ thể của tác phẩm

Trang 31

b Nêu các lớp nhân vật và các quan hệ của họ trong từng tác phẩm.

c Nêu đặc điểm cụ thể trong tính cách của một số nhân vật trung tâm

d Phân tích một số hiện tượng liên quan đến bút pháp của tác giả, như:

- Cách dùng từ ngữ, dùng kiểu câu có nghệ thuật cao

- Dùng lập luận có nhiều giá trị giải thích nghĩa

- Dùng các phương thức liên kết nghĩa hồi chiếu/ khứ chiếu có giá trịgiải thích nghĩa một cách cần thiết

- Dùng cách miêu tả sự việc theo lối “dự báo”

e Ghi nhận một số dấu hiệu kí hiệu học xã hội của thời đại

f Ghi nhận một số dấu hiệu liên quan đến cách nhìn của tác giả

8 Bố cục của luận án

Ngoài phần MỞ ĐẦU và KẾT LUẬN , luận án được tổ chức từ ba chương:

Chương 1: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA PHÂN TÍCH DIỄN NGÔN VÀ DỤNG HỌC.

Chương 2: TRUYỆN CHÍ PHÈO TỪ CÁCH TIẾP CẬN CỦA PHÂN TÍCH DIỄN

NGÔN VÀ DỤNG HỌC

Chương 3: TIỂU THUYẾT SỐNG MÒN TỪ CÁCH TIẾP CẬN CỦA PHÂN TÍCH

DIỄN NGÔN VÀ DỤNG HỌC.

Chương 1 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA PHÂN TÍCH DIỄN NGÔN VÀ DỤNG HỌC

Trong chương này, các vấn đề về hệ thống lí thuyết của phân tích diễnngôn (PTDN) và dụng học (DH) không được nhắc lại một cách đầy đủ, nhưngvẫn được sử dụng ở những chỗ có thể, vì những lẽ sau đây:

- PTDN chưa được công nhận là một hệ thống lí thuyết hoàn chỉnh.Hơn 20 năm sau khi phân môn “Phân tích diễn ngôn” đã được nhiều nhànghiên cứu đầu tư công sức, hai nhà nghiên cứu Gilbert Weiss và RuthWodak đến năm 2003 vẫn còn nhận định một cách dè dặt: “Chúng tôi gợi ýdùng khái niệm một “trường” (“school”) cho PTDN phê bình (phần tiếp tục

Trang 32

của PTDN – VVL), hay là một “cương lĩnh” (“programme”) mà nhiều nhànghiên cứu thấy là hữu ích và họ có thể đến được với nó” [7, 49].

- Trong Dụng học, một số vấn đề lí thuyết hoàn chỉnh đã được giớithiệu và được dùng rộng rãi ở Việt Nam Khởi đầu là lí thuyết về “hành độngnói” (cũng dịch “hành vi ngôn ngữ”, của J Austin, và J.R Searle), các líthuyết về hội thoại, về “Nguyên tắc cộng tác” của P Grice với các phươngchâm hội thoại), về “lập luận”, về “tính lịch sự”

Các nội dung của Chương 1 này chủ yếu tập trung vào vấn đề phương

pháp nghiên cứu của hai lĩnh vực PTDN và DH Riêng PTDN do còn xa lạViệt Nam, quá trình hình thành của nó cũng được giới thiệu một cách sơ lược

1.1 Phương pháp nghiên cứu của PTDN

1.1.1 Vài nét về quá trình hình thành PTDN

Từ “diễn ngôn” đã từng được ghi nhận như sau: “ diễn ngôn đã được

đề cập dưới một hình thức khác từ xa xưa, rồi thông qua cái cầu nối ngôn ngữhọc đích thực, và cuối cùng, bằng các truyền thống nghiên cứu ngôn ngữ,hiệp lực với các ngành khoa học khác trong giai đoạn phát triển hiện đại, đểhình thành một phân môn mới – phân tích diễn ngôn” [9, 147-148]

Và: “ cho đến nay các nhà nghiên cứu nhận ra hai giai đoạn trongquá trình nghiên cứu diễn ngôn Ở giai đoạn đầu người ta thường dùng thuậtngữ “ văn bản” và hiểu văn bản cũng như câu , nên sử dụng cách tiếp cận vàcác công cụ lí thuyết của việc nghiên cứu câu theo quan điểm cấu trúc hìnhthức vào việc nghiên cứu văn bản; nó được gọi là giai đoạn của “các ngữpháp văn bản” Ở giai đoạn thứ hai, văn bản được hiểu là đơn vị của nghĩa, ,

nó được nghiên cứu bằng cách tiếp cận riêng; từ đó cái tên “ phân tích diễnngôn” được chọn thay cho “ ngữ pháp văn bản” PTDN là một bộ phậntrong một ngành lớn hơn được gọi là “ngôn ngữ học văn bản” [9, 148]

Một phần cụ thể của “Ngôn ngữ học văn bản” xuất hiện ở Việt Nam từ

1985 với công lao của nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm, bằng quyển “Hệthống liên kết văn bản tiếng Việt” (in lại 1999) PTDN được giới thiệu vào

Trang 33

Việt Nam đến nay đã gần 20 năm, bắt đầu từ Dẫn nhập phân tích diễn ngôn

của David Nunan 1993 (bản dịch Việt 1997, Nhà xuất bản Giáo dục ấn hành).Sau đó các tài liệu nghiên cứu và dịch ra đời, và được nhiều người quan tâm

Tên gọi “Phân tích diễn ngôn” đã có từ giữa thế kỉ trước (với Z Harris

từ 1952, dẫn theo [9, 149]), và PTDN cũng đã phát triển qua hai chặngđường Giai đoạn đầu mất ngót ba mươi năm người ta tìm kiếm con đườngsao chép cách nghiên cứu ngữ pháp câu vào nghiên cứu diễn ngôn, cho nên

có tên gọi “ngữ pháp văn bản” Giai đoạn sau được tính từ khoảng 1979, khitrên bình diện thế giới người ta ngộ ra rằng diễn ngôn là đơn vị thuộc vềnghĩa, không phải là đơn vị thuộc về bậc cấu trúc của ngôn ngữ (đơn vị cấutrúc lớn nhất về mặt tổ chức của ngôn ngữ là câu đơn), cho nên tên gọi “ngữpháp văn bản” cũng không còn cơ sở tồn tại Về việc này, De Beaugrandeviết: “Khoảng năm 1979, khi mà “ngữ pháp văn bản mất đi cương vị trungtâm của nó – không phải do ngộ nhận – chúng tôi đã quyết định tổ chức các

số tạp chí bàn về văn bản chung quanh bảy tiêu chuẩn dùng cho “văn bản

tính” (textuality) ” (Thuật ngữ textuality về sau được nhiều nhà nghiên cứu hiệu chính lại bằng texture, tên mới này được dịch tiếng Việt bằng “mạng

mạch” trong [9, 265])

Tuy ra đời đã lâu, nhưng PTDN vẫn chưa được thống nhất thừa nhận là

có tư cách một lí thuyết hoàn chỉnh [9, 162], một mặt vì thuật ngữ “lí thuyết”

có thể hiểu theo những cách khác nhau, mặt khác, bản thân các vấn đề đượcPTDN đề cập không làm thành một hệ thống thuần nhất và chặt chẽ, như hệthống ngôn ngữ Lí do thứ hai này cũng dễ hiểu, vì đối tượng của PTDN làđơn vị nghĩa, nhưng không phải là nghĩa bên trong hệ thống ngôn ngữ, mà lànghĩa liên quan cả với thái độ của con người và đời sống đa diện của xã hội

Vì lẽ đó, điều được tìm hiểu trước hết là các “đề tài và vấn đề được bộ mônPTDN quan tâm”, và tiếp theo là các “phương pháp nghiên cứu của PTDN”

1.1.2 Về các đề tài và vấn đề là đối tượng của PTDN

Trang 34

Dưới hình thức khái quát, PTDN được hiểu là “cách thức phân tíchngôn ngữ đối với những cấu tạo ngôn ngữ lớn hơn câu, bao gồm những hiệntượng như liên kết, mạch lạc, quy chiếu, chủ định, nhằm lí giải diễn ngôn

từ nhiều phương diện” [5, 73] Định nghĩa về PTDN này vừa nêu đối tượngnghiên cứu của PTDN là “những cấu tạo ngôn ngữ lớn hơn câu”, vừa nêu một

số nội dung của việc nghiên cứu diễn ngôn với tư cách là những đề tài, vấn đề

mà PTDN có nhiệm vụ giải quyết, tuy vẫn còn rất sơ lược

Thực ra, các đề tài, vấn đề được PTDN quan tâm không phải cùng mộtlúc hiện rõ mà chúng hình thành dần dần trong quá trình nghiên cứu diễnngôn Cho đến 1983 mới có một tài liệu lần đầu tiên “tập hợp” được các nộidung mà PTDN đề cập Trong quyển sách viết chung của G Brown và G.Yule (in lần đầu 1983 và trong 4 năm, đến 1991 được in lại 9 lần), một quyểnsách không ai làm PTDN có thể bỏ qua, hai nhà nghiên cứu này đã ghi nhận:

“Trong quyển sách này chúng tôi đã cố gắng tập hợp một số thành phần cần

có cho việc kiến tạo nên cái cách mà con người sử dụng ngôn ngữ để ngườinày giao tiếp với người kia Chúng tôi đã đặc biệt chú ý đến những thànhphần nổi trội được đề cập trong các tài liệu nghiên cứu Chúng tôi đã cố gắng

chỉ ra rằng trong thời điểm hiện tại, người làm phân tích diễn ngôn mới

chỉ hiểu được phần nào những thành phần thậm chí đã được nghiên cứu nhiều nhất Có một khuynh hướng nguy hiểm trong các nhà nghiên cứu đã

được khẳng định cũng như tron sinh viên, là hi vọng rằng một đường lối tiếpcận nào đó sẽ tạo ra đước “ chân lí” cho một vấn đề Việc quá dễ dàng là đưa

ra những tuyên bố quá chung chung và quá mạnh mẽ Chúng tôi đã cố gắngchỉ ra rằng một số trong các ý tưởng thông thái đã được khẳng định trong lĩnhvực phân tích diễn ngôn có thể soi sáng một số phương diện của quá trình

(tạo ra) diễn ngôn và của việc sử dụng ngôn ngữ, nhưng cũng chỉ ra rằng tất

cả các cách tiếp cận thậm chí còn mở ra nhiều hơn những khoảng trống trong sự hiểu biết của chúng ta” [9, 165] (Chúng tôi in đậm)

Trang 35

Và hai nhà nghiên cứu này cũng xác định công việc của mình đã làmtrong Kết luận” của quyển sách: “Chúng tôi chỉ thảo luận một số trong nhữngvấn đề trọng yếu Chúng tôi bỏ trống nhiều phương diện trong ngôn ngữ của

diễn ngôn được quan tâm trong các dòng ngôn ngữ học chính thống Chúng

tôi đã tập trung vào những vấn đề liên quan đến sự quy chiếu và liên quan đến các đề tài chung của mạch lạc và tính trọng yếu” [9, 165].

Như có thể thấy, sách này là một công trình tập hợp được các kết quảnghiên cứu PTDN của vài chục năm đầu tính đến đầu thập kỉ 80 Các nội

dung (x [9, 164]) được thảo luận trong sách thể hiện trong Mục lục gồm có :

1 Dẫn luận: các hình thái và các chức năng của ngôn ngữ

2 Vai trò của ngữ cảnh trong việc lí giải (hiểu diễn ngôn)

3 Đề tài và việc biểu hiện nội dung của diễn ngôn

4 “Cấu tứ” (“ Staging” ) và việc biểu hiện cấu trúc của diễn ngôn

5 Cấu trúc tin

6 Bản chất của quy chiếu trong văn bản và trong diễn ngôn

7 Mạch lạc trong việc lí giải diễn ngôn

Các chương sách nêu trên là cơ sở lí thuyết của PTDN, nhưng cũng chỉ

là những mảng vấn đề, chưa phải là tất cả, chưa phải là một hệ thống lí thuyếttrọn vẹn, như các tác giả thừa nhận: “Chúng tôi bỏ trống nhiều phương diệntrong ngôn ngữ của diễn ngôn được quan tâm trong các dòng ngôn ngữ họcchính thống” Nói tóm lại, đó mới chỉ là những hướng tiếp cận của PTDN

1.1.3 Một số cách tiếp cận của PTDN

Sự ra đời của PTDN, như một bước ngoặc chuyển sang nghiên cứuviệc sử dụng ngôn ngữ, đã nhanh chóng thu hút chú ý từ nhiều phía Mỗi phíanghiên cứu hình thành cách tiếp cận trên cơ sở quan điểm lí thuyết của mình,

và chính sự đa dạng trong các cách tiếp cận giúp nhìn rõ hơn cái đối tượng

vốn phức tạp về bản chất là “diễn ngôn” này (Xin nhắc rằng, thuật ngữ diễn ngôn với tư cách “sản phẩm” trong việc sử dụng ngôn ngữ được hiểu rất rộng

Trang 36

bao gồm tất cả các dạng tồn tại của nó, có thể là chữ viết dưới mọi hình thức,

có thể âm thanh tự nhiên khi nói hay mọi hình thức ghi âm lời nói )

Trong cách nhìn khái quát, cách tiếp cận diễn ngôn “được quy thànhhai dạng: dạng coi trọng hình thức và dạng coi trọng ngữ cảnh PTDN dướidạng hình thức nhất của nó gắn liền với truyền thống logic/triết học của J.Searle và J L Austin, dạng ngữ cảnh hoá cao nhất của PTDN nối kết với líluận văn học hiện đại” [5, 73]

Ngày nay không ít đề tài và vấn đề của DH cũng được PTDN quan tâmnhư một bộ phận không thể tách rời, theo đó trong các cách tiếp cận củaPTDN sau đây, có mặt không ít đề mục thuộc về dụng học

Nhà nghiên cứu Nguyễn Hoà 2003 đã ghi lại 8 cách tiếp cận, được ônggọi là “đường hướng”, trong PTDN như sau (lược dẫn theo [35, 79-148])

(1) Đường hướng dụng học (pragmatics): “Đối tượng của dụng học là

ý nghĩa, ngữ cảnh và giao tiếp” Đường hướng này sử dụng các lí thuyết của

DH về hành động nói (J L Austin và J R Searle), về nguyên tắc cộng tác vàhàm ý hội thoại (H P Grice), và cả phép lịch sự (G Leech)

(2) Đường hướng biến đổi ngôn ngữ (language variation): Theo các

kiến thức ngôn ngữ học ở Việt Nam, đường hướng này coi trọng mặt “phongcách chức năng” của diễn ngôn, và chính tình huống bên ngoài ngôn ngữ(ngữ cảnh của tình huống – context of situation) quy định sự lựa chọn kiểungôn ngữ thích hợp Theo M.A.K Halliday, kiểu ngữ cảnh như thế này đượcgọi bằng “ngôn vực” (register, cũng dịch bằng “ngữ vực”) Cách phân tích cótính đến ngôn vực được gọi là “phân tích ngôn vực” (register analysis)

Phân tích ngôn vực dựa trên ý tưởng sau đây của Halliday 1964:

“Phạm trù ngôn vực được đưa ra để giải thích cho việc sử dụng ngôn ngữ.Khi hoạt động trong các ngữ cảnh khác nhau, ngôn ngữ sẽ biến đổi cho phùhợp với tình huống” [35, 91-92]

(3) Đường hướng ngôn ngữ học xã hội tương tác (interactional

socio-lingistics): Sự chú ý của đường hướng này tập trung ở mối quan hệ tác động

Trang 37

lẫn nhau giữa ngôn ngữ, văn hoá và xã hội Nói cách khác, ngôn ngữ đượcdùng trong một xã hội (xã hội lớn, hoặc nhóm nhỏ) xác định gắn bó chặt chẽvới chính xã hội đó và nền văn hoá của xã hội đó, cho nên ngôn ngữ chịu sựchi phối của cả hai Chẳng hạn như cách chào của các dân tộc khác nhau dùngcác ngôn ngữ khác nhau có những điểm không giống nhau, của các lớp xã hội

cụ thể khác nhau trong một cộng đồng ngôn ngữ cũng có thể khác nhau

(4) Đường hướng dân tộc học giao tiếp (ethnography of nication) cũng được gọi là dân tộc học nói năng (ethnography of speaking).

commu-D Hymes 1972 đã xây dựng một lược đồ gồm 8 yếu tố với các chức năngriêng, cùng nhau tạo thành quá trình của cuộc giao tiếp Cụ thể như sau:

- Môi trường (Setting), chỉ hoàn cảnh vật lí, nhận định chủ quan về sự

kiện/ cơ hội

- Tham thể (Participants), những người tham dự cuộc giao tiếp.

- Điểm đến (Ends) của việc giao tiếp của từng bên tham dự giao tiếp,

như hỏi, sai khiến, chào, than thở

- Chuỗi các hành động nói nối tiếp giữa các người tham dự (Act

sequence) trong một cuộc giao tiếp

- Cái chìa khoá (Key) là “cách thức nói năng”, “giọng điệu nói năng”

thể hiện trong lời người nói, nhờ nó mà người phân tích có thể nhận biết đượctất cả mọi thứ (tức là 7 yếu tố kia của lược đồ này) trong lời người đó nói ra

- Những gì có tư cách là công cụ (Instrumentalities) của cuộc giao tiếp,

như kênh giao tiếp (bằng lời hoặc phi lời, nói hay viết), các hình thức của lờinói lấy từ trong toàn bộ cách diễn đạt của cộng đồng (như hệ thống ngữ âm,

từ vựng, ngữ pháp, hệ thống chữ viết, chính tả của một ngôn ngữ cụ thể)

- Các chuẩn của sự tương tác (trao đổi lời) và của cách lí giải (Norms

of interaction & interpretation), được dùng như một hệ thống các niềm tinthuộc về văn hoá (phong tục, tập quán, tín ngưỡng), giúp cho người phát lời

và người tiếp nhận lời có được “cái chung” để hiểu nhau

Trang 38

- Thể loại (Genre) là các kiểu cách của diễn ngôn dùng trong các lĩnh

vực hoạt động khác nhau trong xã hội, các phong cách ngôn ngữ hiểu rộng

Tám chữ cái in đậm trong các từ Anh dẫn trên đây ghép lại thành từ

SPEAKING (sự nói năng).

(5) Đường hướng phân tích hội thoại (conversation analysis) là cách

tiếp cận sử dụng hệ thống thuật ngữ của phân tích hội thoại Theo J McH.Sinclair và R M Coulthard 1975 (có khác với trường phái Pháp-Thuỵ Sĩ),thuộc khuynh hướng Mĩ-Anh, cấu trúc một cuộc thoại gồm các bậc sau đây,

kể từ lớn đến nhỏ [9, 84-85]):

- Cuộc thoại hay cuộc tương tác (conversation/ interaction)

- Phiên giao dịch (transaction)

- Trao đáp (exchange)

- Bước thoại (move) (cũng có người gọi là lượt lời: turn at talk)

- Hành động nói (act) (Được coi là đơn vị cơ sở của cuộc thoại, khôngphải câu có tư cách đơn vị cơ sở của cuộc thoại)

(6) PTDN trong tâm lí học xã hội (discourse analysis in social

psychology) trước hết là hướng ứng dụng PTDN vào việc nghiên cứu tâm lí

xã hội: “ mục đích của phân tích diễn ngôn trong tâm lí học xã hội là ứngdụng những ý tưởng của phân tích diễn ngôn trong nghiên cứu tâm lí xã hội”[35, 122-123] J Potter 1977 đã đưa ra cách hiểu một chức năng của PTDNtrong tâm lí học xã hội như sau: “Phân tích diễn ngôn có nhiệm vụ nghiêncứu diễn ngôn như là các văn bản và lời trò chuyện (talk) trong thực tiễn xãhội Điều đó có nghĩa là [ (lược bỏ 4 dòng)] diễn ngôn là công cụ tương tác;phân tích diễn ngôn trở nên sự phân tích hành động của con người” [35, 124]

(7) Đường hướng giao tiếp giao văn hoá (cross-cultural

communica-tion) là đường hướng có nhiều ý nghĩa đối với việc học và dạy ngoại ngữ Bởi

lẽ như N Fairclough nhận xét: “kiểu diễn ngôn và trật tự diễn ngôn khônggiống nhau xét từ nền văn hoá này đến nền văn hoá khác” [35, 132] Điều đókhiến cho: “Hầu hết những hiểu lầm của chúng ta đối với người khác không

Trang 39

phải do ta không có khả năng nghe người ta nói, hoặc không tiếp thu đượccấu trúc cú pháp mà người ta nói, hoặc không hiểu những từ người ta sửdụng Mà do một khó khăn rất cơ bản trong giao tiếp đó là chúng ta thườngkhông hiểu được ý định giao tiếp của người nói” (x [35, 133])

(8) Phương pháp PTDN tích hợp (integrated)

Tích hợp trong cách dùng ở đây không có nghĩa là “hỗn hợp” mà làhợp nhất các phân tích của từng hợp phần (component) có khả năng phối hợptốt với nhau thành một chỉnh thể đối với một diễn ngôn cụ thể được phân tích,nghĩa là các hợp phần có thể biến động đối với những diễn ngôn khác nhau

Từ chỉnh thể các phân tích này có thể rút ra được một/ những nhận định có cơ

sở vững chắc Như vậy có nghĩa là cho phép dùng những cách tiếp cận kểtrên, và những cách tiếp cận khác nữa, để phân tích một diễn ngôn, rồi dùngtất cả hay một số phân tích nào đó để hướng đến những nhận định cụ thể

Chẳng hạn, các kết quả phân tích sau đây có thể kết hợp với nhau:

- Đối với từ ngữ, câu được sử dụng trong một diễn ngôn, phân tích vềcách hiểu chúng (quan điểm đối với thế giới, đối với nhân sinh)

- Đối với khả năng sử dụng ngôn ngữ để diễn đạt các hành động nói đạthiệu quả cao (biết diễn đạt khôn khéo, dùng lời gián tiếp, dùng hàm ý, v.v )

- Đối với khả năng diễn đạt tính lịch sự (lịch sự/ thiếu/ không lịch sự).Trên cơ sở đó có thể kết luận về:

- Sự việc được nói trong diễn ngôn thuộc vùng đất nào, thời đại nào

- Những con người liên quan đến diễn ngôn thuộc lớp xã hội nào

- Phong tục, tập quán, các tín điều (văn hoá) ở đó thuộc thời đại nào

- Người nhận diễn ngôn thuộc lớp người nào

- Người tạo diễn ngôn là người như thế nào

Đây cũng là cách PTDN rất thông dụng và có thể diễn đạt lại như sau:Diễn ngôn được phân tích trong mối quan hệ chặt chẽ giữa ý nghĩa của bềmặt ngôn từ với ngữ cảnh của tình huống (context of situation) hữu quan.Trên thực tế, phương pháp chung thông dụng của PTDN là phân tích ngữ liệu

Trang 40

về mặt ý nghĩa của lời nói từ phía người nói và người nhận, và trong mốiquan quan hệ chặt chẽ với ngữ cảnh tình huống Hiểu chi tiết hơn là như sau:

a Phân tích nghĩa của lời nói gồm phân tích nghĩa từ ngữ, nghĩa củacâu, liên kết câu, nghĩa hình tượng, và cả nghĩa hàm ẩn như tiền giả định vàhàm ý hội thoại, những hiện tượng ngôn ngữ liên quan đến lịch sự, lập luậntrong diễn ngôn, xét từ phía người nói lẫn người nhận (người giải thích)

b Ngữ cảnh tình huống được phân biệt khái quát thành hai loại: (a)Ngữ cảnh vật lí, quan tâm đến không gian, thời gian, con người, con vật, đồvật, cảnh vật, v.v (b) Ngữ cảnh xã hội-văn hoá, quan tâm đến cộng đồng,lớp xã hội, thiết chế xã hội cụ thể, tín điều xã hội, phong tục tập quán v.v và

cả người tạo diễn ngôn, người nhận (giải thích) diễn ngôn

Hơn nữa, trong bước tiến của PTDN ngày nay, trong thực hành PTDN

có thể có mặt các yếu tố thuộc DH, như các yếu tố thuộc phân tích hội thoạivới các kiểu hành động nói Ngược lại, trong phân tích hội thoại cũng khôngloại trừ ngữ cảnh tình huống, tức là không loại trừ các yếu tố thuộc về PTDN

1.1.4 Phương pháp nghiên cứu của Phân tích diễn ngôn phê bình

a Sơ lược về sự ra đời của Phân tích diễn ngôn phê bình

Giai đoạn phát triển tiếp theo của PTDN trong khoảng vài thập kỉ gầnđây làm xuất hiện hướng làm việc mới được gọi là “Phân tích diễn ngôn phêbình” (viết tắt bằng PTDNPB) PTDNPB ra đời được ứng dụng vào việc phântích các diễn ngôn thuộc các thể loại khác nhau, kể cả diễn ngôn văn chương[9, 166-173] và [10, 1-10])

Do đối tượng nghiên cứu của PTDNPB rộng lớn như vậy, phương phápcủa PTDNPB cũng nhanh chóng trở thành tài sản chung cho cả PTDN

Giữa PTDNPB và PTDN cũng có chỗ khác nhau Thomas Huckin 1997– nhà chuyên môn trong lĩnh vực nghiên cứu diễn ngôn – đã chỉ ra 6 mặtchính làm cho PTDNPB khác với PTDN như sau (dẫn tóm lược theo [7, 48]):

(1) PTDNPB có tính nhạy cảm rất cao

Ngày đăng: 19/04/2014, 13:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

HÌNH 2.1:  Sơ đồ mạng lưới và quan hệ của các nhân vật trong Chí Phèo - Một số tác phẩm của Nam Cao dưới ánh sáng của phân tích diễn ngôn và dụng học
HÌNH 2.1 Sơ đồ mạng lưới và quan hệ của các nhân vật trong Chí Phèo (Trang 73)
BẢNG 3.1. ĐỐI CHIẾU CÁC KHOẢNG THỜI GIAN TRONG CUỘC ĐỜI CỦA THỨ - Một số tác phẩm của Nam Cao dưới ánh sáng của phân tích diễn ngôn và dụng học
BẢNG 3.1. ĐỐI CHIẾU CÁC KHOẢNG THỜI GIAN TRONG CUỘC ĐỜI CỦA THỨ (Trang 110)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w