1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá hiệu quả kế hoạch huấn luyện VĐV bóng rổ trẻ lứa tuổi 11 - 13

173 1,6K 10
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá hiệu quả kế hoạch huấn luyện VĐV bóng rổ trẻ lứa tuổi 11 - 13
Tác giả Nguyễn Văn Hải
Người hướng dẫn GS.TS Lê Quý Phượng, TS Nguyễn Danh Hoàng Việt
Trường học Viện Khoa Học Thể Dục Thể Thao, Hà Nội
Chuyên ngành Huấn luyện thể thao
Thể loại Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 173
Dung lượng 1,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá hiệu quả kế hoạch huấn luyện VĐV bóng rổ trẻ lứa tuổi 11 - 13

Trang 1

VIỆN KHOA HỌC THỂ DỤC THỂ THAO

NGUYỄN VĂN HẢI

Trang 2

VIỆN KHOA HỌC THỂ DỤC THỂ THAO

NGUYỄN VĂN HẢI

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KẾ HOẠCH HUẤN LUYỆN VẬN ĐỘNG VIÊN BÓNG RỔ TRẺ LỨA TUỔI 11 – 13

Chuyên ngành: Huấn luyện thể thao

Mã số: 62.14.01.04

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1 GS.TS LÊ QUÝ PHƯỢNG

2 TS NGUYỄN DANH HOÀNG VIỆT

HÀ NỘI - 2013

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trình bày trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào

Tác giả luận án

Nguyễn Văn Hải

Trang 4

Danh mục ký hiệu viết tắt trong luận án

Danh mục các biểu bảng, hình, sơ đồ, đồ thị trong luận án

1.1 Đặc điểm môn bóng rổ qua các công trình nghiên cứu trong và

1.1.2 Đặc điểm thi đấu bóng rổ hiện đại 61.1.3 Tổng quan về các công trình nghiên cứu trong giảng dạy -

1.2 Cơ sở lý luận chung về giai đoạn chuyên môn hoá ban đầu

trong môn bóng rổ

121.2.1 Đặc điểm giai đoạn chuyên môn hoá ban đầu 121.2.2 Mục tiêu huấn luyện giai đoạn chuyên môn hoá ban đầu cho

1.4 Lập kế hoạch huấn luyện VĐV môn bóng rổ 251.4.1 Những nguyên lý cơ bản về lập kế hoạch 261.4.2 Phân loại kế hoạch huấn luyện 271.4.3 Phân chia thời kỳ huấn luyện quanh năm 31

Chương 2 Đối tượng, phương pháp và tổ chức nghiên cứu 41

Trang 5

2.1.2 Khách thể nghiên cứu 41

2.2.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu 412.2.2 Phương pháp phỏng vấn toạ đàm 422.2.3 Phương pháp quan sát sư phạm 422.2.4 Phương pháp kiểm tra sư phạm 43

2.2.7 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 58

2.3.1 Thời gian nghiên cứu 612.3.2 Địa điểm nghiên cứu 62

3.1 Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả huấn luyện về thể lực,

chuyên môn (kỹ thuật), tâm sinh lý cho VĐV bóng rổ trẻ lứa

tuổi 11- 13

63

3.1.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn lựa chọn hệ thống test đánh giá

trình độ thể lực, chuyên môn, tâm sinh lý cho VĐV bóng rổ

trẻ lứa tuổi 11- 13

63

3.1.2 Xác định tính thông báo của hệ thống test đánh giá trình độ thể

lực, kỹ thuật, tâm sinh lý cho VĐV bóng rổ lứa tuổi 11 - 13

81

3.1.3 Xác định độ tin cậy của hệ thống test đánh giá trình độ thể lực,

chuyên môn, tâm sinh lý cho VĐV bóng rổ lứa tuổi 11 - 13

81

3.1.4 Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá trình độ thể lực, chuyên môn

cho VĐV bóng rổ trẻ lứa tuổi 11 - 13

3.2.2 Đối chiếu kế hoạch huấn luyện soạn thảo thử nghiệm nêu

trên với thực trạng kế hoạch huấn luyện ở một số trung tâm

ở nước ta

101

Trang 6

3.3 Đánh giá hiệu quả kế hoạch huấn luyện VĐV bóng rổ trẻ lứa

tuổi 11- 13

110

3.3.1 Tổ chức kiểm tra sư phạm 1103.3.2 Ứng dụng các test, chỉ tiêu lựa chọn để đánh giá hiệu quả

thông qua theo dõi diễn biến thành tích của VĐV bóng rổ

qua các giai đoạn huấn luyện

110

3.3.3 Đánh giá hiệu quả huấn luyện thông qua hiệu quả tuyển

chọn VĐV sang giai đoạn chuyên môn hoá sâu

Trang 7

CLB - Câu lạc bộ

HLV - Huấn luyện viên

VH,TT&DL - Văn hoá, Thể thao và Du lịch

Trang 8

Thể loại Số Nội dung Trang

Bảng 1.1 Phân chia các mức độ tố chất thể lực theo các vị

trí thi đấu (theo tác giả Nguyễn Phi Hải)

18

1.2 Phân phối thời gian chương trình huấn luyện 19

3.1 Kết quả điều tra thực trạng việc sử dụng các test

trong đánh giá trình độ tập luyện cho VĐV bóng

rổ trẻ lứa tuổi từ 11 - 13 (n = 37)

Sau 77

3.2 Kết quả kiểm định hai lần phỏng vấn lựa chọn các

test đánh giá trình độ tập luyện cho VĐV bóng rổ trẻ lứa tuổi 11 - 13

Sau 80

3.3 Kết quả xác định độ tin cậy của hệ thống các chỉ

tiêu, các test nhằm đánh giá trình độ thể lực, chuyên môn, tâm sinh lý cho nữ VĐV bóng rổ trẻ lứa tuổi 11 - 13

Sau 81

3.4 Kết quả xác định độ tin cậy của hệ thống các chỉ

tiêu, các test nhằm đánh giá trình độ thể lực, chuyên môn, tâm sinh lý cho nam VĐV bóng rổ trẻ lứa tuổi 11 - 13

Sau 81

3.5 So sánh kết quả kiểm tra các chỉ số đánh giá trình

độ thể lực, chuyên môn theo từng lứa tuổi của nam VĐV bóng rổ trẻ (n = 19)

Sau 86

3.6 So sánh kết quả kiểm tra các chỉ số đánh giá trình

độ thể lực, chuyên môn theo từng lứa tuổi của nữ VĐV bóng rổ trẻ (n = 27)

Sau 86

3.7 Kiểm định kết quả kiểm tra các test đánh giá trình

độ thể lực, chuyên môn theo từng lứa tuổi của nam VĐV bóng rổ trẻ (n = 19)

Sau 86

3.8 Kiểm định kết quả kiểm tra các test đánh giá trình

độ thể lực, chuyên môn theo từng lứa tuổi của nữ VĐV bóng rổ trẻ (n = 27)

Sau 86

3.9 Tiêu chuẩn xếp loại trình độ thể lực, chuyên môn

theo từng nội dung của nam VĐV bóng rổ trẻ lứa tuổi 11

Sau 86

3.10 Tiêu chuẩn xếp loại trình độ thể lực, chuyên môn

theo từng nội dung của nam VĐV bóng rổ trẻ lứa tuổi 12

Sau 86

3.11 Tiêu chuẩn xếp loại trình độ thể lực, chuyên môn

theo từng nội dung của nam VĐV bóng rổ trẻ lứa tuổi 13

Sau 86

Trang 9

Bảng 3.12 Tiêu chuẩn xếp loại trình độ thể lực, chuyên môn

theo từng nội dung của nữ VĐV bóng rổ trẻ lứa tuổi 11

Sau 86

3.13 Tiêu chuẩn xếp loại trình độ thể lực, chuyên môn

theo từng nội dung của nữ VĐV bóng rổ trẻ lứa tuổi 12

Sau 86

3.14 Tiêu chuẩn xếp loại trình độ thể lực, chuyên môn

theo từng nội dung của nữ VĐV bóng rổ trẻ lứa tuổi 13

3.21 Tiêu chuẩn tổng hợp điểm xếp loại đánh giá trình

độ tập luyện cho VĐV bóng rổ trẻ lứa tuổi 11 - 13 873.22 Vai trò và thực trạng chương trình huấn luyện giai

đoạn chuyên môn hoá ban đầu cho VĐV bóng rổ trẻ (n = 11)

102

3.23 Kết quả tổng hợp chương trình huấn luyện cho

VĐV bóng rổ lứa tuổi 11 – 13 giai đoạn chuyên môn hoá ban đầu

103

3.24 Kết quả tổng hợp sử dụng chỉ tiêu, test đánh giá

cho VĐV bóng rổ lứa tuổi 11 – 13 giai đoạn chuyên môn hoá ban đầu

Sau 103

Trang 10

Bảng 3.25 Thực trạng sử dụng các bài tập phát triển trình độ tập luyện tại một số trung tâm bóng rổ 106

3.26 Tổng hợp kết quả kiểm tra đánh giá trình độ tập

luyện của VĐV bóng rổ

111

3.27 Kết quả kiểm tra các chỉ tiêu, test đánh giá trình độ

tập luyện qua các giai đoạn huấn luyện chuyên môn hoá ban đầu của nam VĐV bóng rổ lứa tuổi 11 - 13

Sau 112

3.28 Kết quả kiểm tra các chỉ tiêu, test đánh giá trình độ

tập luyện qua các giai đoạn huấn luyện chuyên môn hoá ban đầu của nữ VĐV bóng rổ lứa tuổi 11 - 13

Sau 112

3.29 Kết quả so sánh tự đối chiếu và nhịp độ tăng

trưởng của các test đánh giá trình độ tập luyện của nam VĐV bóng rổ lứa tuổi 11

Sau 112

3.30 Kết quả so sánh tự đối chiếu và nhịp độ tăng

trưởng của các test đánh giá trình độ tập luyện của nam VĐV bóng rổ lứa tuổi 12

Sau 112

3.31 Kết quả so sánh tự đối chiếu và nhịp độ tăng

trưởng của các test đánh giá trình độ tập luyện của nam VĐV bóng rổ lứa tuổi 13

Sau 112

3.32 Kết quả so sánh tự đối chiếu và nhịp độ tăng

trưởng của các test đánh giá trình độ tập luyện của

nữ VĐV bóng rổ lứa tuổi 11

Sau 112

3.33 Kết quả so sánh tự đối chiếu và nhịp độ tăng

trưởng của các test đánh giá trình độ tập luyện của

nữ VĐV bóng rổ lứa tuổi 12

Sau 112

3.34 Kết quả so sánh tự đối chiếu và nhịp độ tăng

trưởng của các test đánh giá trình độ tập luyện của

nữ VĐV bóng rổ lứa tuổi 13

Sau 112

3.35 Kết quả ứng dụng các test đánh giá theo phương

pháp xác định hệ số tuyển chọn cho VĐV bóng rổ lứa tuổi 11 – 13 năm 2010

114

Trang 11

MỞ ĐẦU

Từ xa xưa dưới các hình thức khác nhau, trò chơi bóng rổ đã xuất hiện

ở một số nước trên thế giới như: Ở Mêhicô có tên là Pok-Tapok; người Astek gọi là Ollamalituli Vào tháng 12/1891 Dr James Naismith (Mỹ) đã sáng tạo

ra trò chơi này và soạn thảo "Luật chơi bóng rổ" với 15 điều luật đầu tiên, đến nay vẫn được tiếp tục sử dụng

Bóng rổ được giới thiệu tại Thế vận hội Berlin vào năm 1936 Đến nay bóng rổ đã phát triển để trở thành một trong các môn thể thao phổ biến nhất trên thế giới cả về số lượng người tập luyện và chất lượng của các giải đấu Bóng rổ đã trở thành môn thể thao Olympic và luôn được thi đấu chính thức tại các kỳ đại hội Từ đó môn bóng rổ đã phát triển rộng rãi trên toàn thế giới, năm 1983 FIBA đã hợp nhất 157 Liên đoàn bóng rổ các quốc gia, đến năm

1987, FIBA đã bao gồm 168 nước thành viên [31], [61], [62]

Ở Việt Nam, môn bóng rổ du nhập vào từ thập niên 1930 ở các tỉnh thành như: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và chủ yếu là phát triển trong quân đội và của những người Hoa Hiện nay, bóng rổ đang thực sự phát triển mạnh tại các tỉnh thành như: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Sóc Trăng, Yên Bái, Quảng Ninh, Cần Thơ, Đà Nẵng, trong lực lượng vũ trang, các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học Chuyên nghiệp, Trung học Phổ thông

và Trung học Cơ sở… Bóng rổ đã chính thức được đưa vào hệ thống thi đấu quốc gia và đồng thời đưa vào chương trình giảng dạy của các trường Đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, trung học phổ thông và trung học cơ

sở Ngày 10/6/2005, Uỷ ban TDTT đã ban hành Luật bóng rổ gồm 2 phần 8 chương và 50 điều được áp dụng trong các cuộc thi đấu bóng rổ từ cơ sở đến toàn quốc và thi đấu Quốc tế tại Việt Nam [10], [51], [54]

Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, phong trào tập luyện và thi đấu bóng rổ đã đạt được những thành công nhất định, song bên cạnh đó vẫn

Trang 12

còn những tồn tại cần phải khắc phục, đặc biệt là các công trình nghiên cứu khoa học về bóng rổ vẫn còn ở mức độ hạn hẹp Các công trình nghiên cứu của tác giả Lê Nguyệt Nga [26], Đặng Hà Việt [54], Lưu Thiên Sương [33],

Phạm Văn Thảo [36], Lê Vũ Kiều Hoa [18], Lê Thế Hùng [21], Lê Thị Vân

Anh [1], Nguyễn Hữu Thiệp [37] và các tác giả khác từ kết quả cho thấy vấn

đề đánh giá kế hoạch huấn luyện VĐV bóng rổ chưa có tác giả nào quan tâm nghiên cứu Đặc biệt, hướng đánh giá hiệu quả kế hoạch huấn luyện VĐV bóng rổ trẻ lứa tuổi 11 – 13 không được các tác giả trong các trường không

chuyên về TDTT quan tâm nghiên cứu

Ở trong nước, môn bóng rổ được nhiều đối tượng tham gia tập luyện và cũng có nhiều trung tâm đào tạo VĐV năng khiếu, tuy nhiên chỉ có một số ít tác giả đã nghiên cứu về bóng rổ: Đinh Can [5], Nguyễn Văn Trung, Phạm Văn Thảo [41], Nguyễn Phi Hải [13] Ngoài ra còn có các tài liệu được các tác giả biên dịch như: "Huấn luyện bóng rổ hiện đại", biên dịch: Hữu Hiền [15]; "Bóng rổ", biên dịch: Trần Văn Mạnh [31]; Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Quốc Quân, Phạm Văn Thảo [40] Trong các cuốn sách, các tác giả

đã giới thiệu về cách chơi bóng rổ, phương pháp luận, lý luận cơ bản về giảng dạy, tuyển chọn và huấn luyện bóng rổ, song chưa đi sâu nghiên cứu về đánh giá hiệu quả kế hoạch huấn luyện VĐV bóng rổ trẻ ở nước ta

Đánh giá hiệu quả kế hoạch huấn luyện dưới góc độ chuyên môn bằng việc sử dụng các chỉ tiêu, chỉ số, test nằm trong quy trình theo dõi và điều khiển huấn luyện Cùng với xu thế phát triển bóng rổ hiện đại, việc không đánh giá được toàn diện những tác động của kế hoạch huấn luyện đến sự phát triển của VĐV sẽ là trở ngại lớn đối với các HLV Chính vì vậy, để đảm bảo việc kiểm soát những tác động của kế hoạch huấn luyện một cách khoa học và có hiệu quả,

chúng tôi lựa chọn đề tài: “Đánh giá hiệu quả kế hoạch huấn luyện VĐV bóng rổ trẻ lứa tuổi 11 - 13”

Trang 13

Mục đích nghiên cứu:

Biên soạn kế hoạch huấn luyện đối với VĐV bóng rổ 11 - 13 tuổi để đưa vào thử nghiệm và đánh giá hiệu quả thử nghiệm

Mục tiêu nghiên cứu:

Để thực hiện mục đích nghiên cứu nêu trên, chúng tôi giải quyết ba mục tiêu cơ bản sau:

Mục tiêu 1: Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả huấn luyện về thể

lực, chuyên môn (kỹ thuật), tâm sinh lý cho VĐV bóng rổ

Giả thuyết khoa học:

Đào tạo VĐV bóng rổ là quá trình điều khiển liên tục và nhiều năm thông qua kế hoạch huấn luyện Nếu cố định các nguyên nhân khách quan do tác động của HLV, cơ sở vật chất, chế độ đãi ngộ VĐV là không đổi thì kế hoạch huấn luyện chưa gắn kết chặt chẽ và khoa học với đánh giá trình độ tập luyện là nguyên nhân chính ảnh hưởng đến hiệu quả huấn luyện VĐV bóng rổ trẻ lứa tuổi 11 - 13 Một trong các giả thuyết đặt ra là kế hoạch huấn luyện VĐV bóng rổ trẻ lứa tuổi 11 - 13 hiện đang được các đơn vị áp dụng chưa được xây dựng khoa học, chưa có hệ thống chỉ tiêu, test đánh giá trình độ tập luyện tin cậy Điều này đã dẫn đến hiệu quả huấn luyện chưa đạt được như mong muốn, chưa đáp ứng được mục tiêu đào tạo VĐV bóng rổ đặt ra ở trẻ lứa tuổi 11 - 13

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Đặc điểm môn bóng rổ qua các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước

1.1.1 Đặc điểm chung môn bóng rổ

Bóng rổ là môn thể thao tập thể Trận đấu được tổ chức thi đấu đối kháng trực tiếp trên sân kích thước 28m x 15m giữa hai đội, mỗi đội 5 người trong thời gian 40 phút Mục đích của thi đấu bóng rổ là hạn chế tối đa đối phương ném bóng vào rổ của mình và cố gắng tối đa để đưa bóng vào rổ đối phương Kết quả cuối cùng của thi đấu bóng rổ rất đặc biệt: Điểm số rất cao (trung bình từ 80 – 85 điểm/trận đấu); Tần số thay đổi các kết quả trung gian lớn (trung bình cứ 30” thay đổi tỉ số 1 lần); Không có tỷ số hoà, tức không có tính chất thoả hiệp về trận đấu Để đạt được mục đích trên, cả đội bóng cần có

sự phối hợp thống nhất hành động của các thành viên nhằm thực hiện một nhiệm vụ chung [31], [52], [56], [60], [62]

Mỗi trận thi đấu bóng rổ diễn ra trong 4 hiệp, mỗi hiệp 10 phút không tính thời gian bóng chết Thời gian nghỉ giữa hiệp 1 – 2 và giữa hiệp 3 – 4 là 2 phút, giữa hiệp 2 – 3 là 15 phút Mỗi đội được quyền hội ý 2 lần (1 phút/lần) trong hiệp 1 – 2, 3 lần trong hiệp 4, và 1 lần trong từng hiệp phụ (mỗi hiệp phụ kéo dài 5 phút) [52], [56], [62]

Các hành động của mỗi VĐV trên sân có định hướng cụ thể tương ứng với các vị trí, các HLV, chuyên gia đã chia vị trí thi đấu của các cầu thủ là: Trung phong, tiền phong và hậu vệ [31], [59], [62]

Trung Phong: Các VĐV thường có chiều cao nhất trong đội, có thể lực tốt và sức bật tốt

Tiền phong: Các VĐV có chiều cao, nhanh nhẹn và sức bật tốt, cảm giác không gian và thời gian tốt, ném rổ tốt, biết đánh giá tình huống và tấn công kiên quyết, dũng cảm

Trang 15

Hậu vệ: Các VĐV có sức mạnh, linh hoạt và bền tối đa, khôn ngoan và thận trọng

Sân thi đấu bóng rổ được chia ra làm 3 khu vực gồm vùng bên ngoài vạch

3 điểm 6m75 (guards), khu vực nằm giữa vòng 3 điểm tới khu vực hình chữ nhật (forward) và khu vực trung tâm bên trong hình chữ nhật (center) Mỗi vị trí tương ứng với khu vực hoạt động chủ yếu của mỗi cầu thủ [62]

Hậu vệ ném xa (Shooting Guard) là cầu thủ có tố chất nhanh nhẹn để cản phá hiệu quả tiền phong đối phương, là cầu thủ chuyền bóng xa tốt nhất

và thường thực hiện ném rổ chuẩn xác ở cự ly ghi 3 điểm nhiều nhất Người chơi ở vị trí này cũng có thể chơi tốt ở vị trí tiền đạo phụ (small forward), người chơi cùng lúc 2 vị trí trong trận đấu được gọi là "Swingmen"

Hậu vệ điều phối bóng (Point Guard): Cầu thủ ở vị trí này được coi là nhạc trưởng khi phòng thủ và phát động tấn công nên cầu thủ này phải có tố chất, kỹ thuật chuyền bóng, dẫn bóng, giữ bóng và quan sát nhạy bén tốt nhất trong đội, người chơi ở vị trí này thường cầm bóng nhiều nhất trong đội từ phần sân của mình sang sân đối phương và điều khiển hướng tấn công của đội Cầu thủ ở này có thể hình nhỏ hơn các vị trí khác nhưng ngược lại họ rất nhanh nhẹn và xử lý bóng sắc sảo

Tiền phong phụ (Small Forward): Cầu thủ chơi ở vị trí này chiếm phần quan trọng như hậu vệ điều phối bóng trong đội bóng, chạy chỗ tạo khoảng trống rất linh hoạt Ném bóng tốt là khả năng cần có của vị trí này Đối với phòng thủ, vị trí này được xem là điểm chủ chốt Small forward là người chơi

1 đấu 1 hay nhất trong đội bóng và ném ở cự ly xa hay hơn người chơi vị trí tiền đạo chính nên cầu thủ chơi ở vị trí này bắt buộc phải cao to

Tiền phong chính (Power Forward) là người mạnh mẽ nhất trong tranh bóng và phòng thủ của trận đấu, chơi ở những vị trí cố định được HLV xác định theo đúng chiến thuật đặt ra Phần lớn là ghi điểm cận rổ hay tranh bóng

Trang 16

gần rổ, nhiệm vụ người chơi ở vị trí này là ghi càng nhiều điểm càng tốt, và người chơi vị trí này thường là người chơi gần nhất với Trung phong

Trung phong (Center) là cầu thủ cao to nhất đội, có chức năng chơi gần tương tự như tiền phong chính, nhưng tầm hoạt động và di chuyển thì hẹp hơn, với yêu cầu là tranh bóng tốt, khả năng ghi điểm ở vị trí cận rổ khi tấn công, cản phá các pha ném bóng gần rổ khi phòng thủ và phong tỏa vị trí gần

rổ không để đối phương tranh bóng ở phần sân nhà Ai chơi ở vị trí này được gọi là Bigman vì thể hình họ vừa cao và vừa to, ngược lại không cần đòi hỏi

tố chất nhanh nhẹn và kỹ thuật chơi bóng điêu luyện như các vị trí khác

1.1.2 Đặc điểm thi đấu bóng rổ hiện đại

Về khuynh hướng, xu thế của bóng rổ hiện đại được tác giả Iu M Portnova (1997) tổng kết chặt chẽ và đầy đủ qua việc phân tích, quan sát các giải thi đấu quốc tế [31] Kết quả cho thấy, các khuynh hướng của bóng rổ hiện đại phát triển theo các xu hướng sau: (1) Số lượng đội bóng có trình độ cao tăng nhanh, trình độ xích gần nhau; tâm lý thi đấu căng thẳng; tích cực, kết hợp hài hoà giữa tấn công và phòng thủ ở trình độ thể lực cao, kỹ thuật điêu luyện, chính xác và ổn định; (2) Trình độ cá nhân phát triển ở mức độ cao, kỹ thuật đa dạng, linh hoạt, tư duy chiến thuật toàn diện; (3) Trình độ chuẩn bị thể lực chuyên môn tốt: Sức bền, nhanh, mạnh Ưu tiên VĐV trẻ có chiều cao ổn định (tuổi trung bình 24 – 25 tuổi; chiều cao: Hậu vệ 200 – 202cm, tiền phong và trung phong 204 – 207cm); (4) Tận dụng tốt những tình huống thuận lợi trong tấn công và phòng thủ, sử dụng nhiều kỹ chiến thuật mới rất có hiệu quả

Kết quả phân tích về xu thế của bóng rổ hiện đại trong thời điểm gần đây cũng không có thay đổi nhiều và bao gồm 4 xu thế chính [54] Cụ thể như sau: (1) Ngày càng cao hơn; (2) Ngày càng nhanh hơn; (3) Ngày càng chuẩn xác hơn; (4) Tinh thông kỹ thuật

Trang 17

Hoạt động của cầu thủ trong thi đấu bóng rổ luôn có sự biến hoá đa dạng và thay đổi liên tục Kỹ thuật chơi trong bóng rổ là tổng hợp các động tác cho phép giải quyết có hiệu quả nhất các nhiệm vụ thi đấu cụ thể Trong thi đấu bóng rổ, chiến thuật tấn công và phòng thủ được chuyển đổi liên tục, nên các kỹ thuật trong bóng rổ thường được phân thành hai phần chính: Kỹ thuật tấn công và kỹ thuật phòng thủ Các kỹ thuật trong môn bóng rổ rất đa dạng, phong phú, phức tạp (cấu trúc động hình học và cấu trúc động học) Tần

số thay đổi các hoạt động trong thi đấu bóng rổ là 997 ± 183 (khoảng 2 giây thì có một thay đổi) [15], [31], [40], [57], [59], [60], [61]

Bóng rổ hiện đại là môn thể thao của những người khổng lồ, thể hiện ở cường độ vận động cao, hoạt động thi đấu rất căng thẳng, đòi hỏi VĐV phải huy động đến cực hạn khả năng chức phận của cơ thể và các tố chất nhanh - mạnh tối đa Mặc dù hoạt động thi đấu không liên tục song mật độ hoạt động

ở cường độ cao là rất lớn Số lần dừng ngẫu nhiên chiếm khoảng 22.25 ± 11.8 lần/trận, thời gian dừng ngẫu nhiên khoảng 25 – 40 giây/lần Vì vậy, các hoạt động trong thi đấu bóng rổ diễn ra kế tiếp nhau giữa hoạt động cường độ cao

và cường độ tối đa [31], [54], [60], [62]

Để có được thành tích bóng rổ như hiện tại và đào tạo được những VĐV xuất sắc, theo tác giả Cubutsôp thì các đội bóng rổ đã chú trọng cải tiến, nâng cao kỹ thuật và phương pháp huấn luyện, đặc biệt chú trọng công tác tuyển chọn [61] Còn ông Saiđơn (huấn luyện viên người Mỹ) cho rằng việc nâng cao trình độ bóng rổ là kết quả của sự phát triển rộng rãi môn bóng rổ trong quần chúng cộng với sự khoa học hóa trong tuyển chọn và huấn luyện [60] HLV bóng rổ giàu kinh nghiệm người Mỹ, Bob Kinight cho rằng: Bóng

rổ là môn thể thao có nhiều khả năng huấn luyện nhất và cũng có sự biến hoá

đa dạng nhất Tổng hợp các kỹ thuật, chiến thuật được chuẩn hoá để ứng

Trang 18

dụng trong giảng dạy - huấn luyện cũng cho thấy mức độ phức tạp của môn thể thao này [15], [40]

Qua các nhận xét trên của các chuyên gia bóng rổ có thể thấy rất rõ là các nước có nền bóng rổ mạnh rất chú trọng tới chương trình giảng dạy cho VĐV Ngày nay do sự tranh đua quyết liệt trong bóng rổ đã dẫn tới sự giành giật từng điểm trong toàn trận đấu, do vậy xu thế chung của các đội bóng rổ mạnh thế giới đã chú ý đến chương trình giảng dạy cho VĐV bóng rổ trẻ nắm được kỹ thuật điêu luyện, ý thức chiến thuật cao mà còn phải có tố chất thể lực, trạng thái chức năng cơ thể tốt, tâm lý thi đấu vững vàng và hình thể phù hợp với từng vị trí cầu thủ mới có thể đáp ứng được đòi hỏi của bóng rổ hiện đại Ví dụ, trên thế giới các đội nam lọt vào vòng chung kết, phần lớn đều có chiều cao trung bình là 1m96, nữ là 1m82, chạy 100m nam dưới 11 giây Bóng rổ Việt Nam những năm gần đây mặc dầu có sự phát triển tương đối tốt, song một thời gian dài bóng rổ Việt Nam tiến bộ chậm chỉ mấy năm nay, bóng rổ nước ta đã dần dần hồi phục và phát triển qua giải bóng rổ các đội mạnh toàn quốc Năm 1996 có 7 đội nam và 6 đội nữ tham gia, trong số các đội đó ta thấy chỉ có 2 đội nữ có các VĐV có độ tuổi trung bình là dưới

20, còn phần đông các VĐV nam đã quá tuổi và xuống thể lực Chiều cao của các VĐV bóng rổ nước ta nói chung rất thấp, hiệu quả thi đấu không cao, chưa có nhiều trận đấu tỉ số vượt quá 100 điểm

Thực vậy, trong công tác tuyển chọn, rất nhiều HLV chỉ mới dựa vào kinh nghiệm bản thân để tuyển chọn Từ hiện trạng đó, muốn phát triển được bóng rổ đuổi kịp trình độ các nước trong khu vực thì ngoài việc cần thúc đẩy

sự phát triển môn bóng rổ có tính quần chúng rộng rãi, còn cần phải đánh giá một cách chính xác hiệu quả của các kế hoạch huấn luyện Hiện nay, về tuyển chọn VĐV bóng rổ trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu Những nước có nền bóng rổ mạnh như: Mỹ, Nga, Pháp, Ý, Nam Tư, Trung Quốc…

Trang 19

đều đã nghiên cứu xây dựng cho mình một chương trình huấn luyện VĐV bóng rổ trẻ, trên cơ sở đó tuyển chọn đào tạo VĐV bóng rổ một cách khá hoàn chỉnh Ở nước ta đã có những chương trình đào tạo VĐV bóng rổ trẻ nhưng hầu hết các chương trình đó được xây dựng mà chưa có sự đánh giá khoa học về hiệu quả của chương trình

1.1.3 Tổng quan về các công trình nghiên cứu trong giảng dạy - huấn luyện bóng rổ

Vấn đề nghiên cứu hệ thống các bài tập ứng dụng trong giảng dạy - huấn luyện môn bóng rổ cho các đối tượng nghiên cứu khác nhau đã thu hút

sự quan tâm nghiên cứu của nhiều tác giả

Từ năm 2007 trở về trước mới chỉ có công trình nghiên cứu của tác giả

Lê Nguyệt Nga với đề tài "Nghiên cứu trình độ tập luyện của VĐV bóng rổ nam nữ cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh" [26]; Đặng Hà Việt trên VĐV cấp cao với đề tài "Xây dựng hệ thống bài tập phát triển sức bền chuyên môn cho VĐV đội tuyển bóng rổ nam quốc gia" [54]; trên đối tượng đội tuyển nữ quốc gia về khả năng hồi phục của tác giả Lưu Thiên Sương (2003) [33]; và của tác giả Phạm Văn Thảo về "Nghiên cứu lựa chọn chỉ số và xây dựng chỉ tiêu tuyển chọn ban đầu VĐV bóng rổ nữ Việt Nam lứa tuổi 12–13" [36]; Lê

Vũ Kiều Hoa (2007) về “Lựa chọn và ứng dụng hệ thống bài tập phát triển sức mạnh chuyên môn cho đội tuyển bóng rổ nữ quốc gia” [18]; Nguyễn Phi Hải (2008), “Ứng dụng máy móc chuyên môn nâng cao hiệu quả phòng thủ cho học sinh bóng rổ trường trung học phổ thông Mát-xcơ-va”, Luận án tiến sĩ [12]; Đinh Quang Ngọc (2011), "Nghiên cứu lý luận và thực tiễn huấn luyện nâng cao thể lực cho nam VĐV bóng rổ cấp cao Việt Nam" [27]; Tuy nhiên, các tác giả cũng chưa đi sâu vào đánh giá chương trình đào tạo VĐV bóng rổ

Với đối tượng là VĐV bóng rổ ở các trung tâm TDTT của các tỉnh, thành

có các tác giả: Lê Thế Hùng (2004) “Nghiên cứu xác định một số nội dung và

Trang 20

chỉ tiêu tuyển chọn VĐV bóng rổ nữ tỉnh Yên Bái lứa tuổi 13-14” [21], Lê Thị Vân Anh (2010) “Nghiên cứu bài tập phát triển sức mạnh tốc độ cho VĐV bóng

rổ nữ lứa tuổi 14 – 15 tỉnh Quảng Ninh” [1]; Bùi Duy Hiếu (2011) “Nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn đánh giá trình độ thể lực chuyên môn cho nữ VĐV bóng rổ

Hà Nội” [17]; Nguyễn Hữu Thiệp (2011), “Nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn tuyển chọn nữ VĐV bóng rổ trẻ vào giai đoạn huấn luyện ban đầu 9 - 11 tuổi tỉnh Yên Bái” [37] Kết quả nghiên cứu của các tác giả cho thấy, vấn đề đánh giá chương trình đào tạo VĐV bóng rổ cũng chưa có tác giả nào quan tâm nghiên cứu

Các tác giả: Lý Kế Cường (1998) [8], Đỗ Quốc Hùng (2002) [20], Nguyễn Thanh Ngọc (2004) [28], Nguyễn Hải Đường (2009) [10], Lê Mạnh Linh (2010) [25], Lý Thị Ánh Tuyết (2005) [50] chủ yếu nghiên cứu theo hướng hoàn thiện hệ thống bài tập, phát triển các tố chất thể lực trong giảng dạy môn bóng rổ hoặc ngoại khoá cho đối tượng sinh viên trong các trường cao đẳng, đại học, như vậy, hướng đánh giá hiệu quả chương trình đào tạo VĐV bóng rổ trẻ lứa tuổi 11 – 13 không được các tác giả trong các trường không chuyên về TDTT quan tâm nghiên cứu

Qua tìm hiểu các đề tài nghiên cứu nêu trên trong giảng dạy - huấn luyện bóng rổ của các tác giả, chúng tôi có một số nhận xét như sau:

Thứ nhất: Hầu hết các tác giả trong và ngoài nước có sự tương đồng

nhất định trong việc sử dụng hệ thống các bài tập thuộc các nhóm khác nhau nhằm phát triển các năng lực chuyên môn cho VĐV bóng rổ như: Các năng lực về kỹ - chiến thuật, các tố chất thể lực chuyên môn (sức nhanh, sức mạnh tốc độ, sức bền, khả năng phối hợp vận động)

Thứ hai: Việc đánh giá trong các giai đoạn huấn luyện cho các đối

tượng chủ yếu sử dụng các chỉ tiêu, các test để tuyển chọn và thải loại VĐV Các test đánh giá chủ yếu dưới góc độ sư phạm, chưa ứng dụng nhiều các test

Trang 21

có sử dụng phương tiện kỹ thuật tin cậy Đối với các đối tượng là VĐV, sinh viên chuyên sâu bóng rổ thì các bài tập, các test sử dụng trọng huấn luyện, kiểm tra kỹ chiến thuật, thể lực có tỷ lệ và mức độ ưu tiên như nhau Đối với các đối tượng là sinh viên không chuyên ngành TDTT thì tỷ lệ và mức độ ưu tiên của các bài tập, các test chủ yếu liên quan đến việc lựa chọn các bài tập bóng rổ để phục vụ huấn luyện kỹ - chiến thuật nâng cao thể lực chung và chuyên môn Trong công tác đánh giá từng giai đoạn huấn luyện bóng rổ, hầu hết các tác giả đều đề cập đến các nhóm chỉ tiêu, test sau đây:

Nhóm chỉ tiêu hình thái như: Chiều cao, cân nặng, dài sải tay, dài bàn tay, rộng bàn tay

Nhóm chỉ tiêu, test chức năng (tâm lý, sinh lý) như: Khả năng xử lý thông tin, sức bền thần kinh, khả năng phản xạ, công năng tim, test Wingate (công suất yếm khí tổng hợp, công suất yếm khí tối đa, chỉ số suy kiệt và năng lượng)

Nhóm các test thể lực như: Các test với tạ gánh, dây nhảy, bao cát để đánh giá sức mạnh các nhóm cơ chân tham gia di chuyển, các động tác bật nhảy, xuất phát di chuyển ở các vị trí khác nhau, ví dụ các test bật cao tại chỗ, bật xa tại chỗ, gánh tạ bật nhảy tại chỗ, bật nhảy xa một hoặc hai chân, nhảy dây tốc độ, lực bàn tay thuận, ngồi với, khả năng giữ thăng bằng khi nhắm mắt co một chân, Linoi Agility test, test linh hoạt 505 Các test về chạy, di chuyển: Cự ly ngắn 20, 30m, chạy con thoi, chạy zích zắc, chạy chữ T, dẫn bóng luồn cọc, dẫn bóng tốc độ

Nhóm các test chuyên môn: Dẫn bóng tốc độ 20m, dẫn bóng (s), di chuyển chuyền bóng tối đa trong 30 giây, dẫn bóng số 8 lên rổ 5 lần, di chuyển nhảy ném rổ trong 1 phút, trượt phòng thủ, test Suicides Drill, tại chỗ nhảy ném rổ 20 quả, tại chỗ ném rổ 20 quả

Trang 22

Quá trình huấn luyện VĐV bóng rổ cần kết hợp chặt chẽ giữa các chỉ tiêu, test đánh giá khác nhau và đánh giá hiệu quả kế hoạch huấn luyện phải gắn liền với rèn luyện các tố chất thể lực như sức mạnh, sức nhanh, linh hoạt, khéo léo, sức bền Tuỳ theo yêu cầu của mỗi loại năng lực và giai đoạn huấn luyện khác nhau, nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả của công tác giảng dạy - huấn luyện

1.2 Cơ sở lý luận chung về giai đoạn chuyên môn hoá ban đầu trong môn bóng rổ

1.2.1 Đặc điểm giai đoạn chuyên môn hoá ban đầu

Theo V.P Philin [30], Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn [39] thì giai đoạn chuyên môn hoá ban đầu thường ở hai năm đầu tiên sau khi trẻ em vào trường thể thao, là giai đoạn chuyên môn hoá cơ sở Vấn đề tuyển chọn ban đầu gắn với chuyên môn hoá ngày càng được chú ý Hệ thống huấn luyện có hiệu quả ở giai đoạn này quyết định phần lớn thành công của quá trình huấn luyện nhiều năm Ở giai đoạn chuyên môn hoá thể thao ban đầu cần dành ưu tiên cho huấn luyện thể lực toàn diện, kết hợp hữu cơ với huấn luyện cơ bản

và chuyên môn Cần tránh chuyên môn hoá quá hẹp, sớm, nó có thể nâng nhanh thành tích thể thao song lại có ít triển vọng về lâu dài

Theo L.P Matvêep đặc điểm chuyên biệt của quá trình tập luyện ở giai đoạn chuyên môn hoá ban đầu là: Hiệu quả cao của các lượng vận động được thể hiện ở chỗ lượng vận động tăng trưởng ít hơn nhiều so với ở các giai đoạn sau lại đi đôi với các mức tăng thành tích tương đối lớn; tính đều đặn tương đối của nhịp độ tăng hàng năm về khối lượng của lượng vận động tập luyện

và mức tăng trưởng thành tích thể thao; tác động tập luyện ít thể hiện tính đặc thù nhưng hiệu quả của chúng lại có phạm vi rộng, thể hiện ở khả năng

"chuyển" trình độ tập luyện khi sử dụng những phương tiện huấn luyện khác nhau có biên độ lớn hơn so với các giai đoạn sau [30]

Trang 23

Khi nghiên cứu xây dựng hệ thống đào tạo VĐV, các chuyên gia trong

và ngoài nước đã đi đến kết luận: Thành tích thể thao đỉnh cao chỉ đạt được khi những nền tảng của nó được xây dựng từ lứa tuổi thiếu niên, thanh niên [35], [38] Quá trình đào tạo VĐV có chủ đích và mang tính hệ thống hướng tới những thành tích thể thao cao nhất có ý nghĩa vô cùng to lớn

Khái niệm về quy trình huấn luyện nhiều năm được nhiều chuyên gia trong và ngoài nước đề cập theo những cách tiếp cận khác nhau, song đồng nhất về quan điểm

Điểm tương đồng của quá trình huấn luyện nhiều năm ở hầu hết các môn thể thao bao gồm việc đào tạo các VĐV từ lúc huấn luyện ban đầu ở lứa tuổi nhi đồng, thiếu niên và thanh niên cho tới khi trở thành các VĐV có trình

độ cao Quá trình huấn luyện đó được bắt đầu từ đào tạo cơ bản với nội dung toàn diện theo đặc thù của từng môn thể thao, cho tới việc huấn luyện chuyên môn hoá hẹp

Quá trình huấn luyện thể thao nhiều năm được Matvêép L P., chia làm

4 giai đoạn lớn: Giai đoạn chuẩn bị thể thao sơ bộ, giai đoạn chuyên môn hoá thể thao bước đầu hoặc chuẩn bị cơ sở, giai đoạn hoàn thiện sâu và giai đoạn

“tuổi thọ thể thao” Giai đoạn chuẩn bị thể thao sơ bộ thể thao thường bắt đầu

từ tuổi học sinh tiểu học Giai đoạn chuyên môn hoá bước đầu với mục đích tạo nền tảng toàn diện và chất lượng cho sự điêu luyện thể thao và những thành tích tương lai, đảm bảo sự phát triển hài hoà và cân đối của cơ thể, làm phong phú thêm kỹ năng, kỹ xảo vận động cho VĐV Giai đoạn chuyên môn hoá sâu là thời gian tập luyện tích cực nhất và đồng thời cũng là thời gian nảy

nở của những tài năng thể thao và chiếm lĩnh những đỉnh cao của thành tích thể thao Giai đoạn “tuổi thọ thể thao” là giai đoạn giảm sút theo lứa tuổi những khả năng chức phận và khả năng thích ứng của cơ thể [29]

Trang 24

Theo D Harre, quá trình huấn luyện nhiều năm của Cộng hoà dân chủ Đức trước đây được chia làm 2 giai đoạn huấn luyện khác nhau: Giai đoạn huấn luyện VĐV trẻ và giai đoạn huấn luyện VĐV cấp cao

Mục đích của giai đoạn huấn luyện VĐV trẻ nhằm tạo tiền đề chung và năng lực chuyên môn cho các VĐV để đạt thành tích thể thao cao nhất ở các giai đoạn kế tiếp Sự tích luỹ diễn ra liên tục với sự tăng dần tính chất chuyên môn hoá trong tập luyện Ở giai đoạn huấn luyện VĐV cấp cao, mục đích cao nhất là xây dựng các thành tích thể thao đỉnh cao trong quá trình huấn luyện chuyên môn hoá [14]

Theo D Harre thì cơ sở khoa học của sự phân chia quá trình huấn luyện thành các giai đoạn là các yếu tố xác định thành tích thể thao Trong mỗi giai đoạn huấn luyện cần xác định chính xác mục đích, nhiệm vụ, nội dung tập luyện tương ứng, tuổi đời không phải là tiêu chuẩn để phân chia giai đoạn VĐV có thể chuyển tiếp sang giai đoạn huấn luyện kế tiếp nếu họ đã đạt được những yêu cầu của giai đoạn huấn luyện trước đó

Vấn đề phân chia các giai đoạn huấn luyện nhiều năm đã được một số nhà khoa học Việt Nam đưa ra những quan điểm nhằm định hướng cho phù hợp với đặc điểm thể chất và thực tiễn huấn luyện VĐV ở Việt Nam

Dựa trên quan điểm của nhân tài học, tác giả Nguyễn Thế Truyền đã chia hệ thống huấn luyện nhiều năm thành 3 giai đoạn như sau: Giai đoạn phát hiện năng khiếu thể thao, giai đoạn đào tạo tài năng thể thao và giai đoạn bồi dưỡng nhân tài thể thao [45], [47]

Tác giả Phạm Danh Tốn đã chia quy trình huấn luyện nhiều năm thành

3 giai đoạn chính sau: Giai đoạn đào tạo ban đầu, giai đoạn hiện thực hoá tối

đa khả năng thể thao và giai đoạn duy trì tuổi thọ thể thao Trong đó mỗi giai đoạn lớn lại bao gồm 2 thời kỳ có mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể

Trang 25

Lê Văn Lẫm (1994) cũng cho rằng, quá trình huấn luyện nhiều năm có thể chia thành 3 giai đoạn: Giai đoạn đào tạo ban đầu, giai đoạn thực hiện tối

đa khả năng thể thao và giai đoạn duy trì thành tích thể thao

Qua phân tích và tổng hợp các quan điểm của các tác giả trong và ngoài nước về đặc điểm các giai đoạn của quy trình huấn luyện nhiều năm cho thấy: Quá trình huấn luyện VĐV diễn ra nhiều năm và được chia thành các giai đoạn huấn luyện cụ thể Việc phân chia này chỉ mang tính tương đối song nó luôn kế tiếp nhau và có tính kế thừa Để huấn luyện VĐV đạt được trình độ và thành tích đỉnh cao thì bắt buộc phải tuân thủ quy luật phát triển sinh học của

cơ thể để từ đó hoàn thành những mục đích, nhiệm vụ mà mỗi giai đoạn huấn luyện đã xây dựng trong quy trình huấn luyện Tuỳ theo các môn thể thao mà những tiêu chuẩn đặc trưng cho từng giai đoạn huấn luyện cũng khác nhau

Do kết quả phân tích về sự phân chia quá trình huấn luyện VĐV thành các giai đoạn cho thấy: Để đánh giá khả năng hoạt động thể lực, trình độ chuyên môn và tâm lý của VĐV phải căn cứ vào mục đích, nhiệm vụ của từng giai đoạn huấn luyện để xây dựng hệ thống các chỉ tiêu, các test đánh giá cho phù hợp và khoa học Vì vậy, đánh giá hiệu quả kế hoạch huấn luyện VĐV cần gắn liền với một giai đoạn huấn luyện cụ thể, tương đồng với môn thể thao Trong đó, việc sử dụng hệ thống chỉ tiêu, test đánh giá phải đảm bảo tính đồng bộ, khoa học và mang tính quyết định

Có nhiều tiêu chí để phân chia các giai đoạn huấn luyện, song quy luật phát triển sinh học tự nhiên của con người được coi là tiêu chí cơ bản Hay nói cách khác, hệ thống huấn luyện nhiều năm gắn liền với giới hạn tuổi của VĐV và tuổi đạt thành tích đỉnh cao của môn thể thao cụ thể Kết quả nghiên cứu của nhiều công trình khoa học cho thấy, giữa tuổi sinh học và tuổi khai sinh không bao giờ đồng nhất Sự cách biệt này bị chi phối chủ yếu bởi quá trình phát dục mang đặc tính di truyền và đặc tính cá thể được diễn ra theo

Trang 26

những đặc thù riêng ở mỗi con người trong quá trình phát triển thể chất [7], [44] Trong thực tiễn tuyển chọn và đào tạo tài năng thể thao hiện nay, tuổi sinh học được hầu hết các nhà chuyên môn sử dụng để phân nhóm tuổi trong quá trình đào tạo VĐV trẻ Tuy nhiên, do sự phức tạp trong đánh giá, thiếu vắng các phương tiện nên vấn đề này thực sự còn mới mẻ, chưa thể áp dụng một cách rộng rãi trong thực tiễn huấn luyện và tuyển chọn ở Việt Nam

Kết quả nghiên cứu phân tích dữ liệu cho thấy, việc phân chia nhóm tuổi tại các quốc gia có nền bóng rổ phát triển mạnh theo các chuyên ngành khoa học khác nhau có sự thống nhất, căn cứ vào nhóm tuổi thi đấu các giải quốc gia và quốc tế

Căn cứ vào các giai đoạn và nhiệm vụ huấn luyện, đối tượng nghiên cứu của đề tài nằm trong lứa tuổi chuyên môn hoá ban đầu là giai đoạn huấn luyện cơ bản, tạo tiền đề chung của từng bước phát triển năng lực chuyên môn, trình độ thể lực, tâm sinh lý cho VĐV

Những giới hạn tuổi của các vùng đạt thành tích thể thao trong môn bóng rổ là: Vùng thành tích cao ban đầu (nam: 18-21, nữ: 16-18), vùng khả năng tối ưu (nam: 22-25, nữ: 19-23), vùng duy trì kết quả cao (nam: 26-28, nữ: 24-25) Nghiên cứu độ tuổi của những VĐV và các nhà vô địch tham dự

17 đại hội Olympic từ 1896 đến 1972 cho thấy, độ tuổi đạt thành tích thể thao cao nhất của môn bóng rổ thì: Nữ là 22,6 và nam là 24) [39]

Theo V.P Philin phạm vi lứa tuổi bắt đầu giai đoạn chuyên môn hoá ban đầu ở môn bóng rổ, bóng chuyền là lứa tuổi 11 – 12 [30]

Martens Rainer (2004) đã phân chia các giai đoạn đào tạo VĐV bóng

rổ Tác giả xác định những điểm nhấn mạnh ở 4 giai đoạn khác nhau của đào tạo mà các VĐV đi qua, thực sự quan trọng đối với lợi ích của các cầu thủ trẻ

để giữ cho các giai đoạn trọng tâm khi lập kế hoạch đào tạo bóng rổ trẻ cụ thể là: [58]

Trang 27

6 - 10 tuổi: Tạo sự hứng thú và tìm hiểu những kỹ năng cơ bản

11 - 13 tuổi: Tính linh hoạt, đúng kỹ thuật, chuẩn bị cho đào tạo tăng trong huấn luyện bóng rổ

14 - 18 tuổi: Tăng cường đào tạo, đào tạo đặc biệt (ví dụ, trọng lượng),

sự cạnh tranh

Người lớn: Hoàn thiện

Theo Portnova thì huấn luyện chuyên môn hoá ban đầu được tiến hành

từ 11 – 13 tuổi với tổng số giờ là 416 giờ (lý thuyết: 18; thể lực chung: 126; thể lực chuyên môn: 65; kỹ thuật: 100; chiến thuật: 52; phối hợp kỹ - chiến thuật: 34; kiểm tra – đánh giá: 34 [31]

1.2.2 Mục tiêu huấn luyện giai đoạn chuyên môn hoá ban đầu cho VĐV bóng rổ

Theo V.P Philin ở giai đoạn chuyên môn hoá ban đầu cần dành ưu tiên cho huấn luyện thể lực toàn diện, kết hợp hữu cơ với huấn luyện cơ bản và chuyên môn Lúc này huấn luyện cơ bản thường chiếm 80 - 90% tổng khối lượng các bài tập, huấn luyện chuyên môn có thể chiếm 15 - 20% (ở nhiều môn huấn luyện chuyên môn có thể chiếm đến 40% tổng thời gian tập luyện)

Vì vậy cùng với các phương tiện huấn luyện thể lực chung ngay trong những năm đầu tiên tập thể thao cần đưa vào kế hoạch huấn luyện tổ hợp các bài tập chuyên môn nhằm phát triển các tố chất thể lực có ý nghĩa quan trọng trong môn thể thao chính Vì vậy, cần định hướng cho học sinh chuyên môn hoá trong một môn thể thao nhất định, song quá trình huấn luyện cần được xây dựng trên cơ sở phát triển toàn diện Trong các môn bóng cần dành thời gian tương đối lớn hơn cho huấn luyện kỹ thuật thể thao, vì VĐV cần nắm nhiều

kỹ năng, kỹ xảo vận động và kỹ thuật [30]

Theo tác giả Nguyễn Phi Hải thì những tố chất vận động của trẻ ở các

vị trí thi đấu khác nhau được hình thành và hoàn thiện phụ thuộc chặt chẽ vào

Trang 28

lứa tuổi và hiệu quả của hệ thống giáo dục được thay đổi theo quá trình phát

triển của trẻ lần lượt theo các giai đoạn Có thể phân ra ba mức độ của các tố

chất thể lực khi đánh giá VĐV theo từng vị trí (bảng 1.1) [13]

BẢNG 1.1 PHÂN CHIA CÁC MỨC ĐỘ TỐ CHẤT THỂ LỰC THEO CÁC VỊ TRÍ

THI ĐẤU (THEO TÁC GIẢ NGUYỄN PHI HẢI)

Mức độ các tố chất thể lực

Vị trí thi đấu

Trung phong Sức mạnh tốc độ Sức nhanh Sức bền chuyên môn

Hậu vệ bền chuyên môn Sức nhanh; Sức Sức mạnh tốc độ

Tiền phong Sức nhanh Sức bền chuyên môn Sức mạnh tốc độ

Như vậy ta thấy: Mục tiêu huấn luyện giai đoạn chuyên môn hoá ban

đầu cho VĐV bóng rổ được cụ thể hoá trong chương trình đào tạo VĐV bóng

rổ và những nội dung ấy đặt ra yêu cầu đối với VĐV về hình thái, chức năng,

thể lực và chuyên môn Vì vậy, mục tiêu huấn luyện giai đoạn chuyên môn

hoá ban đầu cho VĐV bóng rổ là huấn luyện toàn diện các tố chất thể lực và

có sự kết hợp hữu cơ giữa huấn luyện thể lực với chuyên môn cơ bản (Sức

nhanh; Sức mạnh tốc độ; Sức bền chuyên môn; Kỹ thuật) Các nội dung này

cần được thể hiện rõ trong bảng đặc tính của các chỉ tiêu, test đánh giá nhằm

đảm bảo tính đồng bộ giữa kế hoạch huấn luyện với quá trình đánh giá một

cách toàn diện

1.2.3 Chương trình và kế hoạch huấn luyện VĐV bóng rổ của một số

tỉnh

Căn cứ chương trình và kế hoạch huấn luyện VĐV bóng rổ của trường

trung cấp TDTT Yên Bái [43], trường TDTT - Sở VH,TT&DL Quảng Ninh

[42], Đoàn TDTT Phòng không Không quân [9], có một số nhận xét sau:

Trang 29

Chương trình và kế hoạch huấn luyện VĐV bóng rổ của các đơn vị được xây dựng đồng bộ và có khả năng ứng dụng vào thực tiễn cao Chương trình được xây dựng bao gồm các phần cơ bản: Giới thiệu, mục đích và nhiệm

vụ chung, phân phối thời gian huấn luyện, những nguyên lý chung để sắp xếp tập luyện, nhiệm vụ và biện pháp của chương trình, các điều kiện đảm bảo để thực hiện chương trình

Chương trình và kế hoạch huấn luyện VĐV năng khiếu môn bóng rổ của các đơn vị đã nêu rõ mục đích là đào tạo được các VĐV trẻ có đầy đủ các phẩm chất đạo đức cần thiết, có được những kỹ - chiến thuật cơ bản và tạo điều kiện để các em có thể tham gia thi đấu các giải trong và ngoài nước, đóng góp cho thể thao Quốc gia những VĐV ưu tú tham gia các giải thi đấu quốc tế Để giải quyết được mục đích đặt ra, các chương trình huấn luyện của các đơn vị đã đề ra các nhiệm vụ một cách toàn diện như: Giáo dục chính trị,

tư tưởng đạo đức cho VĐV; rèn luyện kỹ năng sống; trang bị, củng cố và hoàn thiện, kỹ chiến thuật; phát triển các tố chất thể lực (đặc biệt là thể lực chuyên môn) và các phẩm chất tâm lý cho VĐV; trang bị những kiến thức văn hoá xã hội

Chương trình và kế hoạch huấn luyện VĐV năng khiếu môn bóng rổ được thực hiện trong khoảng 7 – 8 năm và được chia làm 3 giai đoạn huấn luyện (bảng 1.2)

BẢNG 1.2 PHÂN PHỐI THỜI GIAN CHƯƠNG TRÌNH HUẤN LUYỆN

TT Các giai đoạn huấn luyện Lứa tuổi Số năm

1 Huấn luyện ban đầu Từ 8 đến 10 tuổi 2 – 3 năm

2 Huấn luyện chuyên môn hoá ban đầu Từ 11 đến 13 tuổi 3 năm

3 Huấn luyện chuyên môn hoá sâu Từ 14 đến 15 tuổi 2 năm

Trang 30

Trong đó giai đoạn huấn luyện chuyên môn hoá ban đầu nhằm mục đích bồi dưỡng cho các VĐV tham gia các giải trẻ trong nước, trên cơ sở đó phát hiện những VĐV có triển vọng đạt thành tích cao để tiếp tục bồi dưỡng

và nâng cao Tỷ lệ huấn luyện: Huấn luyện chung: Khoảng 30%; Huấn luyện

bổ trợ chuyên môn: Khoảng 25%; Huấn luyện chuyên môn: Khoảng 45%

So sánh với tỷ trọng khối lượng chung của lượng vận động tập luyện áp dụng cho giai đoạn chuyên môn hoá ban đầu của Philin là từ 45 – 50% [30], thì kế hoạch huấn luyện mà các đơn vị xây dựng là tương đối phù hợp

Nội dung kiểm tra và tiêu chuẩn đánh giá:

Hình thái chức năng: Chiều cao (cm), cân nặng (kg), vòng ngực trung bình (cm), chiều dài cánh tay (cm), chiều dài các ngón tay (cm), công năng tim, thông khí phổi

Trình độ chuẩn bị thể lực: Chạy tốc độ 20m (s), chạy tốc độ 30m (s), bật cao (cm), tại chỗ bật xa (cm), ép dẻo (cm), chạy 60m (s), chạy 800m (s), chạy 1500m (s), chạy xoay sở 28m x 5 (s), chạy con thoi (s)

Trình độ chuẩn bị kỹ thuật: Dẫn bóng tốc độ 28m x 2 lên rổ (s), dẫn bóng số 8 lên rổ 5 lần (s), ném phạt 30 quả (số quả vào rổ), kỹ thuật di chuyển chuyền bắt bóng kết hợp lên rổ (kỹ thuật), kỹ thuật dẫn bóng 28m x 2 quay

3600 (kỹ thuật), tại chỗ nhảy ném 20 quả (số quả vào), tại chỗ nhảy ném rổ cự

ly 5m, 30 lần (số lần vào rổ), di chuyển trong phòng thủ (s), kết quả ném cự ly gần (%), kết quả ném cự ly xa (%), kết quả chuyền bóng thành công (%), kết quả cắt bóng thành công (%), số lần mất bóng, số lỗi trong phòng thủ, kết quả bắt bóng bật bảng đội nhà hoặc đối phương (%), kết quả ném phạt (%)

Tuy nhiên, bên cạnh những điểm mạnh, chương trình và kế hoạch huấn luyện VĐV năng khiếu bóng rổ của các đơn vị còn tồn tại một số vấn đề cần được khắc phục như:

Trang 31

Hệ thống các test đánh giá chưa đồng bộ và toàn diện Đặc biệt là thiếu các test đánh giá về tâm sinh lý Các chỉ tiêu, các test đánh giá chưa cập nhật được kết quả của các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước

Hệ thống các chỉ tiêu, các test đánh giá chủ yếu dựa trên góc độ sư phạm và sử dụng các công cụ thường quy, chưa sử dụng các công cụ, phương tiện khoa học hiện đại để thu được số liệu chính xác và có độ tin cậy cao Việc đánh giá hiệu quả kế hoạch huấn luyện trong từng đơn vị còn tồn tại nhiều vấn đề như: Tỷ trọng huấn luyện đã đặt ra từ đầu song kết quả đánh giá lại mang tính tổng hợp từng điểm của từng chỉ tiêu, test mà mỗi VĐV đạt được Việc so sánh tác động của kế hoạch huấn luyện đến mỗi VĐV và tất cả toàn đội là rất khó đánh giá giữa các đơn vị có cùng mục tiêu, lứa tuổi, giai đoạn huấn luyện

Mặc dù lý luận về công tác huấn luyện chung và một số môn thể thao nói riêng đã được các nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu, song các vấn đề còn tồn tại nêu trên của môn bóng rổ ở Việt Nam thực

sự là vấn đề mới và cần được các nhà khoa học đầu tư nghiên cứu để hoàn thiện quy trình huấn luyện VĐV bóng rổ trẻ Đặc biệt là trong giai đoạn chuyên môn hoá ban đầu

1.3 Đặc điểm tâm sinh lý VĐV bóng rổ trẻ lứa tuổi 11 – 13

1.3.1 Đặc điểm huấn luyện tâm lý VĐV bóng rổ trẻ lứa tuổi 11 – 13

Yếu tố bắt buộc:

Ngày nay bóng rổ có tính đối kháng ngày càng quyết liệt Trong thi đấu khi hai đội có thể lực, kỹ thuật, chiến thuật ngang nhau thì yếu tố quyết định tới thắng bại chính là yếu tố tâm lý hay nói cách khác là hai đội phải thi đấu tâm lý với nhau, chính vì vậy yếu tố tâm lý trở thành một yêu cầu rất cao đối với VĐV VĐV phải kết hợp được các yếu tố về thể lực, kỹ thuật và tâm lý thật vững chắc trong tập luyện cũng như thi đấu VĐV có thể phát huy được sức

Trang 32

mạnh, hoàn thành được kỹ thuật hay phối hợp chiến thuật được hay không đều

do yếu tố tâm lý điều khiển Tâm lý của VĐV bóng rổ chuyên nghiệp đều có những ưu thế nhất định như: Khả năng tập trung tốt thể hiện được năng lực của bản thân trong những thời khắc quan trọng, trạng thái tâm lý ổn định, ý chí kiên cường, dũng cảm và có năng lực đọc được diễn biến của trận đấu Tất cả có

được là nhờ yếu tố tâm lý ổn định của VĐV [65], [71]

Yếu tố quan trọng:

Huấn luyện tâm lý là trở thành một yêu cầu không thể thiếu trong quá trình huấn luyện thể thao thành tích cao hiện đại, có vai trò rất lớn trong quá trình bồi dưỡng nhận thức trong tập luyện cũng như thi đấu cho VĐV Ngoài

ra tâm lý còn có tác dụng nâng cao tố chất thể lực, kỹ thuật, chiến thuật và khả năng tư duy của VĐV Yếu tố tâm lý giúp cho VĐV có thể vượt qua được những rào cản ngoại cảnh, tinh thần luôn luôn ổn định, khả năng tập trung tốt, tăng thêm niềm tin của VĐV đối với chiến thắng Một trạng thái tâm lý tốt sẽ góp phần không nhỏ trong việc phát huy năng lực của VĐV trong mỗi trận đấu Ở môn bóng rổ, tăng cường huấn luyện tâm lý có thể làm giảm bớt trạng thái căng thẳng trước thi đấu, gạt bỏ làm giảm tâm lý lo sợ và những yếu tố bất lợi của môi trường bên ngoài, từ đó nâng cao hiệu quả động tác và khả năng hoạt động của cơ bắp Trong những thời khắc quan trọng không những

có thể duy trì được trạng thái ổn định, ít mắc phải sai sót mà còn phát huy tối

đa sức mạnh tốc độ, kỹ chiến thuật để đạt được thắng lợi trong mỗi trận đấu [64], [65]

Một số điểm chú ý trong quá trình huấn luyện tâm lý cho VĐV bóng rổ

Huấn luyện tâm lý cho VĐV bóng rổ trẻ lứa tuổi 11 – 13 được thực hiện trong cả thời kỳ trước thi đấu, trong thi đấu và điều chỉnh tâm lý sau thi đấu Bắt buộc VĐV phải không ngừng hoàn thiện kỹ thuật, phải tìm ra được cách giải quyết hợp lý với những vấn đề phát sinh trong trận đấu Gạt bỏ được

Trang 33

cảm giác căng thẳng tâm lý sau thi đấu Quá trình hồi phục tâm lý cần phải có

sự giúp đỡ từ nhiều phía như là đồng đội, HLV, chuyên gia hoặc người thân

mà tránh không nên để VĐV tự hồi phục vì rất dễ dẫn tới những suy nghĩ chủ quan không thể tự giải quyết [32], [53], [63], [65], [66], [71]

Trong huấn luyện phải chú ý lượng vận động cho hợp lý, HLV sắp xếp nội dung phải từ dễ đến khó, từ nhỏ đến lớn từng bước phát triển chức năng sinh lý của cơ thể và đạt tới hồi phục vượt mức, không ngừng nâng cao khả năng chịu đựng của VĐV Đồng thời, huấn luyện phải chú ý đồng bộ cả về chức năng sinh lý và chức năng tâm lý cho VĐV vì hai chức năng này sẽ hỗ trợ nhau trong quá trình tập luyện cũng như thi đấu và khi VĐV có được một trạng thái tâm lý ổn định thì sẽ đảm bảo duy trì hưng phấn suốt trận đấu, tập luyện tích cực và tích lũy được nhiều kinh nghiệm và nâng cao được chức năng sinh lý, nhờ đó giúp cho quá trình tập luyện đạt kết quả cao [68], [69] Trong quá trình huấn luyện, HLV phải đặc biệt chú ý nâng cao cả chức năng sinh lý và tâm lý cho VĐV Huấn luyện kỹ chiến thuật phải tuân theo quy luật thay đổi tâm lý của VĐV khi thi đấu [53], [67]

độ năng lực của mình vì tâm lý chuẩn bị chưa tốt và ảnh hưởng rất lớn tới kết quả trận đấu Trạng thái tâm lý của VĐV trong thi đấu biến đổi rất khác nhau, nên cần phải căn cứ vào tình hình thực tế cụ thể và thường xuyên theo dõi tâm

lý của VĐV để nắm bắt hiểu được những quy luật biểu hiện tâm lý của VĐV,

từ đó tìm ra phương pháp động viên, khích lệ hay khắc phục trạng thái tâm lý

Trang 34

cho phù hợp và đạt hiệu quả cao Những nghiên cứu về huấn luyện tâm lý cho VĐV bóng rổ và áp dụng các phương pháp huấn luyện tâm lý vào thực tế từng giai đoạn, từng thời điểm sẽ làm cho VĐV có thể tự điều chỉnh được trạng thái tâm lý của mình, từ đó nâng cao hiệu quả tập luyện và thi đấu, hình thành trạng thái tâm lý tốt nhất sẵn sàng và luôn chủ động trước mọi biến đổi trong thi đấu, giúp VĐV phát huy tối đa được năng lực của mình

1.3.2 Cơ sở sinh lý của huấn luyện thể thao thanh thiếu niên

Đặc điểm quan trọng của công việc huấn luyện thể thao cho thanh thiếu niên là quá trình huấn luyện diễn ra trên một cơ thể còn đang trưởng thành và phát triển Trong huấn luyện thể thao đối với thanh thiếu niên thường tồn tại khái niệm tâm - sinh lý lứa tuổi Đặc điểm tâm - sinh lý lứa tuổi được xem xét một cách hữu cơ trong toàn bộ quá trình huấn luyện, nhất là huấn luyện thể thao cho thanh thiếu niên [77]

Trong huấn luyện thể thao thanh thiếu niên cần phải đặc biệt lưu ý đến

sự phù hợp giữa lượng vận động tập luyện và thi đấu với mức độ phát triển tâm - sinh lý của các em Cơ thể thanh thiếu niên, nếu tập luyện nóng vội, rút ngắn giai đoạn, sử dụng các bài tập chuyên môn hạn hẹp cũng có thể gây ra những ảnh hưởng xấu Vì vậy những bài tập phát triển toàn diện, với lượng vận động tối ưu phải được ưu tiên sử dụng trong các kế hoạch huấn luyện thể thao thanh thiếu niên [76]

Khả năng vận động của cơ thể thanh thiếu niên cũng tuân theo những đặc điểm lứa tuổi Quá trình mệt mỏi của VĐV thanh thiếu niên cũng phụ thuộc vào đặc điểm lứa tuổi được thể hiện ở hai mặt Thứ nhất, trong giai đoạn mỏi mệt khả năng vận động nói chung cũng như những chỉ số riêng như tần số động tác, sức mạnh, độ chuẩn giảm rõ nếu so với người lớn Thứ hai

là, mệt mỏi ở thanh thiếu niên xuất hiện ngay cả khi môi trường bên trong của

cơ thể mới chỉ có những biến đổi tương đối nhỏ

Trang 35

Lứa tuổi còn ảnh hưởng tới cả tính chất của quá trình hồi phục sau vận động Sau tập các bài yếm khí thời gian ngắn thì phục hồi khả năng vận động, các chức năng sinh lý và dinh dưỡng ở trẻ em xảy ra nhanh hơn so với người lớn Nhưng sau các bài tập kéo dài như phát triển sức bền, các VĐV thanh thiếu niên lại hồi phục chậm hơn so với người lớn [77]

Nhận xét:

Đặc điểm quan trọng của công tác huấn luyện thể thao cho VĐV trẻ là quá trình huấn luyện diễn ra trên cơ thể trẻ còn đang trong quá trình trưởng thành và phát triển, nên điều đó làm cho công tác huấn luyện càng trở nên khó khăn và phức tạp Vì thế, để huấn luyện đạt được thành tích đòi hỏi HLV phải nắm vững các đặc điểm lứa tuổi cũng như áp dụng chúng phù hợp với mục tiêu và nội dung huấn luyện

Trong huấn luyện thể thao cho VĐV trẻ không chỉ cần chú ý tới đặc điểm sinh lý mà còn phải quan tâm tới yếu tố tâm lý Sự kết hợp hoàn hảo tâm – sinh lý lứa tuổi với lượng vận động phù hợp sẽ góp phần thúc đẩy quá trình sinh trưởng, phát triển của các em diễn ra tốt hơn, đồng thời cũng là yếu tố quan trong quyết định thành tích tập luyện và thi đấu của các em

Với cơ thể thanh thiếu niên, tập luyện nóng vội, “đốt cháy giai đoạn” không những không đạt được thành tích thể thao mà còn gây ra những ảnh hưởng xấu tới sự phát triển bình thường của các em Vì thế những bài tập phát triển toàn diện, với lượng vận động tối ưu phải được ưu tiên sử dụng trong kế hoạch huấn luyện cho VĐV trẻ

1.4 Lập kế hoạch huấn luyện VĐV môn bóng rổ

Kế hoạch giảng dạy và huấn luyện là một hệ thống các dự định có cơ sở khoa học và thực tiễn nhằm định hướng và điều khiển quá trính giảng dạy, huấn luyện Việc lập kế hoạch là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất nhằm đảm bảo sự phát triển liên tục, giải quyết tất cả các mục tiêu của công

Trang 36

tác giảng dạy, huấn luyện Lập kế hoạch là quá trình định hướng, chuẩn bị phương tiện cho quá trình huấn luyện Dựa vào đó mà HLV có thể làm việc với VĐV, điều chỉnh quá trình huấn luyện cho phù hợp với thực tế, phù hợp với sự phát triển thành tích thực sự của VĐV và của cả đội

1.4.1 Những nguyên lý cơ bản về lập kế hoạch

Huấn luyện VĐV bóng rổ từ lúc mới học đến khi trở thành VĐV có đẳng cấp cao là một hệ thống nhất trong đó các bộ phận thành phần của nó liên quan với nhau và việc đạt thành tích được xác định cụ thể Lập kế hoạch

là một trong những điều kiện quan trọng nhất đảm bảo sự phát triển liên tục thành tích của quá trình huấn luyện các VĐV trong nhiều năm Lập kế hoạch dựa trên cơ sở các nguyên tắc chung và các phương pháp được sử dụng trong

hệ thống huấn luyện thể thao, là chức năng điều khiển không chỉ với nội dung huấn luyện mà còn đối với hệ thống điều khiển quá trình hoạt động này

Nhiệm vụ cơ bản của lập kế hoạch là xác định mục đích các nhiệm vụ của chương trình huấn luyện các đội và các phương thức thực hiện những mục đích này Đối với bóng rổ cũng như đối với nhiều môn bóng khác, đặc điểm tiêu biểu là tính chất thi đấu tay đôi với đội đối phương, nên đòi hỏi phải hoàn thiện không chỉ khẳ năng phối hợp cá nhân mà cả khẳ năng phối hợp đồng đội Do những đặc điểm ấy nên thời gian giành cho quá trình tập luyện - học tập được phân chia cũng tùy theo đối tượng tập luyện

Trong bóng rổ số ngày giành cho thi đấu nhiều hơn so với các môn thể thao khác Vì vậy, tỷ lệ giữa số ngày giành cho tập luyện và cho thi đấu trong chu kỳ năm là khoảng 3:1 Việc hình thành các chương trình huấn luyện tổng hợp có mục tiêu cho phép kết hợp một cách chặt chẽ hơn tất cả các mặt huấn luyện VĐV bóng rổ Các chương trình này chi phối những vấn đề về điều chỉnh kế hoạch, về phương pháp huấn luyện và các vấn đề khác nhau

Trang 37

Lập kế hoạch huấn luyện các đội bóng rổ và riêng từng VĐV dựa trên những cơ sở quy luật khách quan chung về huấn luyện Trong số các quy luật

đó có sự thống nhất giữa huấn luyện chung và chuyên môn, tính liên tục của quá trình tập luyện, phương hướng đạt thành tích tối đa, mối liên quan của tính tuần tự và xu hướng đạt đến lượng vận động giới hạn, tính làn sóng diễn biến số lượng vận động chu kỳ

Trong khi lập kế hoạch cần phải phân tích kế hoạch trước đó, các nhiệm vụ của nó, nội dung và mức độ thực hiện, các sai sót đã mắc Cần phải tính đến khả năng tạo ra những tiền đề để giải quyết có kết quả các nhiệm vụ trong các thời kỳ huấn luyện tiếp theo Trong mỗi kế hoạch tiếp theo những yêu cầu đối với các VĐV cần được tăng lên

Khi lập kế hoạch huấn luyện cần đảm bảo những yêu cầu: Tính toán các nhiệm vụ và điều kiện làm việc; Tính cụ thể, khả năng có thể và biến hóa; Tính kế thừa và tính triển vọng

1.4.2 Phân loại kế hoạch huấn luyện

Trong huấn luyện VĐV bóng rổ tồn tại hai phần kế hoạch: Kế hoạch đồng đội và kế hoạch cá nhân, hai phần này có sự liên quan chặt chẽ với nhau

Kế hoạch đồng đội gồm: Kế hoạch dài hạn - trong thời gian 4 năm, kế hoạch hàng năm - một năm, kế hoạch tác chiến theo giai đoạn và theo thời kỳ tập trung

Việc lập kế hoạch tổng hợp đòi hỏi phải xây dựng chương trình tổng hợp có mục tiêu Chương trình nhằm giải quyết các vấn đề quản lý kế hoạch, phương pháp huấn luyện và các vấn đề khác Trong kế hoạch huấn luyện cần xác định các vấn đề sau:

Đặc điểm của trạng thái ban đầu: Phần kế hoạch này phải bao gồm

phân tích và đánh giá trạng thái hiện đại và xu hướng phát triển bóng rổ ở trong tỉnh, trong nước và ở nước ngoài Cần phân tích tình trạng về tất cả các

Trang 38

thành phần của hệ thống huấn luyện: Loại hình các VĐV bóng rổ, tổ chức huấn luyện, hệ thống huấn luyện và thi đấu có cơ sở khoa học, sự đảm bảo về cán bộ, vật chất - kỹ thuật, tài chính, phương pháp - khoa học, y học và thông tin

Quan điểm huấn luyện: Trong quan điểm huấn luyện trình bày ngắn

gọn những yêu cầu cơ bản thể hiện tiêu biểu ở tình trạng được kế hoạch hóa hay phương hướng phát triển trong một thời kỳ huấn luyện cụ thể nói chung hoặc trong các giai đoạn riêng của việc huấn luyện đó Cấu trúc tổ chức huấn luyện được xác định theo các đặc điểm chung: Số lượng bao nhiêu các VĐV bóng rổ ở những nhóm lứa tuổi khác nhau hay các loại trình độ sẽ được tổ chức huấn luyện chủ yếu và việc quản lý quá trình huấn luyện sẽ được tổ chức như thế nào

Kế hoạch dự báo các thành tích thể thao: Người ta lập dự báo theo

những chỉ số kỹ - chiến thuật cơ bản về hoạt động thi đấu của các VĐV, của các đội và theo dự đoán tương quan lực lượng trong một trận đấu, một giải và

một giải vô địch

Những đặc điểm mẫu: Theo các khái niệm hiện đại, những đặc điểm

mẫu được phân biệt theo đặc điểm về hoạt động thi đấu, về các mặt huấn luyện cơ bản, về mức độ biểu hiện các hệ thống chức năng của cơ thể Trong

đó các đặc điểm mẫu về hoạt động thi đấu đóng vai trò chủ đạo Trong số các chỉ số hoạt động thi đấu mẫu cần kể đến các chỉ số có giá trị thông tin tốt hơn

về nội dung chuyên môn và độ tin cậy của hoạt động đó

Các đặc điểm mẫu cuối cùng của huấn luyện thể lực chuyên môn, kỹ thuật, chiến thuật và tâm lý cần phải tương ứng chặt chẽ với mức độ dự báo các mặt nhất định của hoạt động thi đấu

Tuyển chọn các VĐV và tổ chức đội hình một đội: Quá trình huấn

luyện các VĐV nhiều nhóm tuổi khác nhau cần được tiến hành theo từng giai

Trang 39

đoạn, được tổ chức tuyển chọn rõ ràng, có căn cứ vào các đặc điểm về lứa tuổi của các VĐV bóng rổ

Hệ thống các phương tiện huấn luyện: Việc sử dụng các phương tiện

huấn luyện thể thao tiến hành theo truyền thống và không truyền thống Loại

sử dụng không theo truyền thống có thể kể đến các yếu lĩnh tích cực hóa hoạt động của các cơ, của các chức năng cơ thể, các bài tập có sử dụng các dụng

cụ bổ trợ dẫn dắt để đảm bảo lặp lại hoàn chỉnh các nhiệm vụ vận động theo chế độ gần giống với những điều kiện thi đấu

Hệ thống thi đấu: Đó là xác định thời hạn cuộc thi đấu cơ bản của mỗi

năm, những đặc điểm về địa lý, khí hậu, xã hội và thời gian của các địa điểm tiến hành thi đấu, nhiệm vụ cơ bản và mức độ dự báo các thành tích cần đạt

Những đặc điểm mẫu chuẩn của các VĐV và của cả đội: Hệ thống

kiểm tra cần tương ứng chặt chẽ với những đặc điểm mẫu về nội dung cũng như về phương pháp nghiên cứu

Có một số dạng kiểm tra tổng hợp là: Kiểm tra tổng hợp theo các giai đoạn; Kiểm tra hàng ngày; Kiểm tra hoạt động thi đấu; Kiểm tra sâu về y tế; Cần thu hút các chuyên gia về các lĩnh vực có liên quan như y tế, tâm lý học,v.v tham gia mỗi loại kiểm tra nói trên

Công tác giáo dục tư tưởng: Cần tiến hành phân tích những đặc điểm

tâm lý cá nhân của các VĐV, đánh giá các tố chất tâm lý - đạo đức của VĐV

và đội, con đường hình thành những tác động lên cá tính, đánh giá các chức

năng giáo giục của tập thể

Đảm bảo cơ sở kỹ thuật cho hệ thống huấn luyện: Cần xem xét chương

trình đảm bảo những hệ thống thí nghiệm để đánh giá và tiến hành các mặt huấn luyện khác nhau của VĐV, xây dựng cơ sở thể thao hiện đại, cung cấp dụng cụ và trang - thiết bị cần thiết, cần chỉ rõ hạn mức tài chính cho huấn luyện

Trang 40

Hệ thống quản lý các chương trình tổng hợp có mục tiêu: Hiệu quả của

hệ thống này phụ thuộc vào việc tổ chức kiểm tra rõ ràng và phương pháp luận của việc thông qua các quyết định quản lý Hàng năm cần xác định đươc những sai lệch theo chiều xấu của các chỉ số thực tế, trong đó có các chỉ số đạt được ở các cuộc thi với những đối thủ cơ bản so với mức độ các chỉ số mẫu đã ghi trong kế hoạch về các phần huấn luyện, đồng thời cần phát hiện được những nguyên nhân cơ bản của những sai lệch theo chiều xấu đó

Kế hoạch huấn luyện năm

Kế hoạch năm phát triển và chi tiết hóa các đặc điểm số lượng và chất lượng những nội dung cơ bản của kế hoạch triển vọng phù hợp với nhiệm vụ thi đấu ở các giải chính thức trong thời gian chu kỳ một năm Để tham gia thành công các cuộc thi thì điều quan trọng là phải làm sao để đạt được trạng thái chuẩn bị tốt nhất vào thời gian tiến hành các cuộc thi đấu chính Bởi vậy

kế hoạch năm phải dựa trên cơ sở các quy luật phát triển trạng thái sung sức thể thao và việc phân chia các thời kỳ huấn luyện cơ bản của chu kỳ một năm cũng phải dựa trên các quy luật đó

Chu kỳ huấn luyện một năm được chia ra các giai đoạn: Chuẩn bị, thi đấu và chuyển tiếp tương ứng với 3 giai đoạn phát triển cơ bản của trạng thái sung sức thể thao: Hình thành, ổn định và đạt được mức độ cao hơn, giảm tạm thời

Kế hoạch huấn luyện ngắn

Các kế hoạch huấn luyện được xây dựng theo các giai đoạn riêng lẻ trong năm (giai đoạn hay tháng) và theo mỗi buổi tập Các văn bản tài liệu cơ bản của kế hoạch này là: Kế hoạch làm việc, kế hoạch đề cương buổi tập và thời khóa biểu các buổi tập Kế hoạch làm việc của các đội có trình độ cấp bậc khác nhau được xây dựng theo mỗi thời kỳ huấn luyện, của những người mới và các đội thiếu nhi được xây dựng theo từng tháng

Ngày đăng: 19/04/2014, 13:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Harre D (1996), Học thuyết huấn luyện, Dịch: Trương Anh Tuấn, Bùi Thế Hiển, Nxb TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học thuyết huấn luyện
Tác giả: Harre D
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 1996
15. Hiệp hội HLV bóng rổ thế giới (2001), Huấn luyện bóng rổ hiện đại, Dịch Hữu Hiền, Nxb TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huấn luyện bóng rổ hiện đại
Tác giả: Hiệp hội HLV bóng rổ thế giới
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 2001
16. Lưu Quang Hiệp, Phạm Thị Uyên (2003), Sinh lý học TDTT, Nxb TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý học TDTT
Tác giả: Lưu Quang Hiệp, Phạm Thị Uyên
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 2003
17. Bùi Duy Hiếu (2011), Nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn đánh giá trình độ thể lực chuyên môn cho nữ VĐV bóng rổ Hà Nội, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học TDTT Bắc Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận văn thạc sĩ
Tác giả: Bùi Duy Hiếu
Năm: 2011
18. Lê Vũ Kiều Hoa (2007), Nghiên cứu lựa chọn và ứng dụng hệ thống bài tập phát triển sức mạnh chuyên môn cho đội tuyển bóng rổ nữ quốc gia, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học TDTT Bắc Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận văn thạc sĩ
Tác giả: Lê Vũ Kiều Hoa
Năm: 2007
19. Lê Văn Hồng, Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thàng (1998), Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm
Tác giả: Lê Văn Hồng, Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thàng
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 1998
20. Đỗ Quốc Hùng (2002), Nghiên cứu hệ thống bài tập nhằm huấn luyện thể lực chuyên môn cho đội tuyển bóng rổ nam trường Đại học Đà Nẵng, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học TDTT Bắc Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận văn thạc sĩ
Tác giả: Đỗ Quốc Hùng
Năm: 2002
21. Lê Thế Hùng (2004), Nghiên cứu xác định một số nội dung và chỉ tiêu tuyển chọn VĐV bóng rổ Nữ tỉnh Yên Bái lứa tuổi 13-14, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học TDTT Bắc Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận văn thạc sĩ
Tác giả: Lê Thế Hùng
Năm: 2004
22. Đặng Bá Lãm (2003), Kiểm tra – đánh giá trong dạy - học đại học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm tra – đánh giá trong dạy - học đại học
Tác giả: Đặng Bá Lãm
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
23. Lê Văn Lẫm (1999), "Làm thế nào đánh giá hiệu quả huấn luyện". Khoa học thể thao, thường kỳ số 11 (249), tr. 4 – 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làm thế nào đánh giá hiệu quả huấn luyện
Tác giả: Lê Văn Lẫm
Năm: 1999
24. Nguyễn Văn Lê (1996), Sinh lý vệ sinh trẻ em, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý vệ sinh trẻ em
Tác giả: Nguyễn Văn Lê
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
25. Lê Mạnh Linh (2010), Nghiên cứu một số biện pháp nhằm nâng cao trình độ chuyên môn cho sinh viên chuyên sâu bóng rổ trường đại học sư phạm TDTT Hà Nội, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học TDTT Bắc Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận văn thạc sĩ
Tác giả: Lê Mạnh Linh
Năm: 2010
26. Lê Nguyệt Nga (2004), Nghiên cứu trình độ tập luyện của VĐV bóng rổ nam nữ cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh, Đề tài của Sở Khoa học công nghệ thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu trình độ tập luyện của VĐV bóng rổ nam nữ cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Lê Nguyệt Nga
Năm: 2004
27. Đinh Quang Ngọc (2011), Nghiên cứu lý luận và thực tiễn huấn luyện nâng cao thể lực cho nam VĐV bóng rổ cấp cao Việt Nam, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học TDTT Thượng Hải, Trung Quốc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận án tiến sĩ
Tác giả: Đinh Quang Ngọc
Năm: 2011
28. Nguyễn Thanh Ngọc (2004), Nghiên cứu xây dựng hệ thống các bài tập nhằm nâng cao yếu tố sức bền cho VĐV Bóng rổ trường Đại học Kinh tế quốc dân, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học TDTT Bắc Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xây dựng hệ thống các bài tập nhằm nâng cao yếu tố sức bền cho VĐV Bóng rổ trường Đại học Kinh tế quốc dân
Tác giả: Nguyễn Thanh Ngọc
Năm: 2004
29. Novicốp A.D, Matvêép L.P (1980), Lý luận và phương pháp giáo dục thể chất, NXB TDTT, Hà Nội, Dịch: Lê Văn Lẫm, Phạm Trọng Thanh, Đoàn Thao Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và phương pháp giáo dục thể chất
Tác giả: Novicốp A.D, Matvêép L.P
Nhà XB: NXB TDTT
Năm: 1980
30. Philin V.P. (1996), Lý luận và phương pháp thể thao trẻ, Dịch: Nguyễn Quang Hưng, Nxb TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và phương pháp thể thao trẻ
Tác giả: Philin V.P
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 1996
31. Portnova. Iu. M (1997), Bóng rổ, Dịch Trần Văn Mạnh, Nxb TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bóng rổ
Tác giả: Portnova. Iu. M
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 1997
32. Psychologie in Sport (1999), Tâm lý học trong thể thao, Dịch: Phạm Đình Bẩm, Đào Bá Trì. Nxb TDTT Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học trong thể thao
Tác giả: Psychologie in Sport
Nhà XB: Nxb TDTT Hà Nội
Năm: 1999
33. Lưu Thiên Sương (2003), Nghiên cứu đánh giá sự mệt mỏi - hồi phục của VĐV đội tuyển bóng rổ nữ quốc gia trong các giai đoạn tập luyện năm 2003, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học TDTT Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận văn thạc sĩ
Tác giả: Lưu Thiên Sương
Năm: 2003

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG 3.5. SO SÁNH KẾT QUẢ KIỂM TRA CÁC CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ TRÌNH ĐỘ THỂ LỰC, CHUYÊN MÔN THEO TỪNG - Đánh giá hiệu quả kế hoạch huấn luyện VĐV bóng rổ trẻ lứa tuổi 11 - 13
BẢNG 3.5. SO SÁNH KẾT QUẢ KIỂM TRA CÁC CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ TRÌNH ĐỘ THỂ LỰC, CHUYÊN MÔN THEO TỪNG (Trang 104)
BẢNG 3.6. SO SÁNH KẾT QUẢ KIỂM TRA CÁC CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ TRÌNH ĐỘ THỂ LỰC, CHUYÊN MÔN THEO TỪNG - Đánh giá hiệu quả kế hoạch huấn luyện VĐV bóng rổ trẻ lứa tuổi 11 - 13
BẢNG 3.6. SO SÁNH KẾT QUẢ KIỂM TRA CÁC CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ TRÌNH ĐỘ THỂ LỰC, CHUYÊN MÔN THEO TỪNG (Trang 105)
BẢNG 3.7. KIỂM ĐỊNH KẾT QUẢ KIỂM TRA CÁC TEST ĐÁNH GIÁ TRÌNH ĐỘ THỂ LỰC, CHUYÊN MÔN THEO TỪNG - Đánh giá hiệu quả kế hoạch huấn luyện VĐV bóng rổ trẻ lứa tuổi 11 - 13
BẢNG 3.7. KIỂM ĐỊNH KẾT QUẢ KIỂM TRA CÁC TEST ĐÁNH GIÁ TRÌNH ĐỘ THỂ LỰC, CHUYÊN MÔN THEO TỪNG (Trang 106)
BẢNG 3.8. KIỂM ĐỊNH KẾT QUẢ KIỂM TRA CÁC TEST ĐÁNH GIÁ TRÌNH ĐỘ THỂ LỰC, CHUYÊN MÔN THEO TỪNG - Đánh giá hiệu quả kế hoạch huấn luyện VĐV bóng rổ trẻ lứa tuổi 11 - 13
BẢNG 3.8. KIỂM ĐỊNH KẾT QUẢ KIỂM TRA CÁC TEST ĐÁNH GIÁ TRÌNH ĐỘ THỂ LỰC, CHUYÊN MÔN THEO TỪNG (Trang 107)
BẢNG 3.15. BẢNG ĐIỂM TỔNG HỢP ĐÁNH GIÁ TRÌNH ĐỘ THỂ LỰC, CHUYÊN MÔN THEO TỪNG NỘI DUNG CỦA - Đánh giá hiệu quả kế hoạch huấn luyện VĐV bóng rổ trẻ lứa tuổi 11 - 13
BẢNG 3.15. BẢNG ĐIỂM TỔNG HỢP ĐÁNH GIÁ TRÌNH ĐỘ THỂ LỰC, CHUYÊN MÔN THEO TỪNG NỘI DUNG CỦA (Trang 114)
BẢNG 3.16. BẢNG ĐIỂM TỔNG HỢP ĐÁNH GIÁ TRÌNH ĐỘ THỂ LỰC, CHUYÊN MÔN THEO TỪNG NỘI DUNG CỦA - Đánh giá hiệu quả kế hoạch huấn luyện VĐV bóng rổ trẻ lứa tuổi 11 - 13
BẢNG 3.16. BẢNG ĐIỂM TỔNG HỢP ĐÁNH GIÁ TRÌNH ĐỘ THỂ LỰC, CHUYÊN MÔN THEO TỪNG NỘI DUNG CỦA (Trang 115)
BẢNG 3.17. BẢNG ĐIỂM TỔNG HỢP ĐÁNH GIÁ TRÌNH ĐỘ THỂ LỰC, CHUYÊN MÔN THEO TỪNG NỘI DUNG CỦA - Đánh giá hiệu quả kế hoạch huấn luyện VĐV bóng rổ trẻ lứa tuổi 11 - 13
BẢNG 3.17. BẢNG ĐIỂM TỔNG HỢP ĐÁNH GIÁ TRÌNH ĐỘ THỂ LỰC, CHUYÊN MÔN THEO TỪNG NỘI DUNG CỦA (Trang 116)
BẢNG 3.27. KẾT QUẢ KIỂM TRA CÁC CHỈ TIÊU, TEST ĐÁNH GIÁ TRÌNH ĐỘ TẬP LUYỆN QUA CÁC GIAI ĐOẠN - Đánh giá hiệu quả kế hoạch huấn luyện VĐV bóng rổ trẻ lứa tuổi 11 - 13
BẢNG 3.27. KẾT QUẢ KIỂM TRA CÁC CHỈ TIÊU, TEST ĐÁNH GIÁ TRÌNH ĐỘ TẬP LUYỆN QUA CÁC GIAI ĐOẠN (Trang 147)
BẢNG 3.28. KẾT QUẢ KIỂM TRA CÁC CHỈ TIÊU, TEST ĐÁNH GIÁ TRÌNH ĐỘ TẬP LUYỆN QUA CÁC GIAI ĐOẠN - Đánh giá hiệu quả kế hoạch huấn luyện VĐV bóng rổ trẻ lứa tuổi 11 - 13
BẢNG 3.28. KẾT QUẢ KIỂM TRA CÁC CHỈ TIÊU, TEST ĐÁNH GIÁ TRÌNH ĐỘ TẬP LUYỆN QUA CÁC GIAI ĐOẠN (Trang 149)
BẢNG 3.30. KẾT QUẢ SO SÁNH TỰ ĐỐI CHIẾU VÀ NHỊP ĐỘ TĂNG TRƯỞNG CỦA CÁC TEST ĐÁNH GIÁ TRÌNH ĐỘ - Đánh giá hiệu quả kế hoạch huấn luyện VĐV bóng rổ trẻ lứa tuổi 11 - 13
BẢNG 3.30. KẾT QUẢ SO SÁNH TỰ ĐỐI CHIẾU VÀ NHỊP ĐỘ TĂNG TRƯỞNG CỦA CÁC TEST ĐÁNH GIÁ TRÌNH ĐỘ (Trang 152)
BẢNG 3.32. KẾT QUẢ SO SÁNH TỰ ĐỐI CHIẾU VÀ NHỊP ĐỘ TĂNG TRƯỞNG CỦA CÁC TEST ĐÁNH GIÁ TRÌNH ĐỘ - Đánh giá hiệu quả kế hoạch huấn luyện VĐV bóng rổ trẻ lứa tuổi 11 - 13
BẢNG 3.32. KẾT QUẢ SO SÁNH TỰ ĐỐI CHIẾU VÀ NHỊP ĐỘ TĂNG TRƯỞNG CỦA CÁC TEST ĐÁNH GIÁ TRÌNH ĐỘ (Trang 154)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm