Cách mạng năm 1932 ở Xiêm (Thái Lan) – Tính chất và ý nghĩa lịch sử
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn đếquốc chủ nghĩa với sự thống trị của tư bản độc quyền Cùng với sự phát triển đó,
chủ nghĩa tư bản ngày càng “bủa lưới” bao trùm cả thế giới Các nước Đông
Nam Á ngày càng bị cuốn vào guồng quay của hệ thống kinh tế - chính trị thếgiới và trở thành những đối tượng bị chinh phục của chủ nghĩa tư bản thế giới
Hệ quả tất yếu là hầu hết các nước trong khu vực Đông Nam Á đều lần lượt rơivào vòng kiểm soát hoặc trở thành thuộc địa của chủ nghĩa thực dân tư bảnphương Tây ở những mức độ khác nhau Trong bối cảnh đó, chỉ có hai quốc gia
ở châu Á đã thoát khỏi một cách ngoạn mục làn sóng xâm lược của chủ nghĩathực dân phương Tây Nếu ở Đông Bắc Á, Nhật Bản là nước duy nhất giữ đượcđộc lập, thì ở Đông Nam Á, Xiêm cũng là quốc gia duy nhất không rơi vào áchthuộc địa như các nước khác trong vùng và cơ bản vẫn duy trì được sự độc lập
tương đối của mình Sở dĩ Xiêm có được kết quả to lớn này là do “giới tinh hoa của nước này, trước hết là nhà vua, giới quý tộc, quan lại triều đình đã thức tỉnh, tiến hành cải cách, mở cửa bằng những biện pháp thỏa hiệp, ngoại giao mềm dẻo trong đối ngoại và thức thời trong chính sách đối nội” [25, tr.369-370]
Dưới các triều vua Rama IV (1851 - 1868), Rama V (1868 - 1910), ở Xiêmdiễn ra khá thành công công cuộc duy tân, phát triển đất nước theo hướng tư bảnchủ nghĩa, đặt nền móng cho quá trình hiện đại hóa đất nước của Xiêm Với cáccuộc cải cách này, Xiêm đã bước một bước đi đầu tiên vào quỹ đạo tư bản chủnghĩa Tuy nhiên, để hoàn tất quá trình định dạng chủ nghĩa tư bản, Xiêm còn phảitrải qua một quá trình lâu dài và còn qua nhiều lần đổi mới, cải cách nữa, đặc biệt
là một cuộc cách mạng vào năm 1932
Trang 2Trong thời gian giữa hai cuộc chiến tranh thế giới, với cuộc cách mạng năm
1932, Xiêm nổi lên là một hiện tượng khá độc đáo, không chỉ trong bản thânlịch sử Xiêm mà cả ở khu vực Đông Nam Á Dưới sự lãnh đạo của PriđiPhanômyông - thủ lĩnh Đảng Nhân dân, cuộc cách mạng năm 1932 đã mang lạinhững thay đổi chính trị quan trọng, là một bước tiến trong quá trình dân chủ
hóa nhà nước Xiêm“nhằm làm cho nước Xiêm hội nhập với tình hình thế giới hiện đại” [13, tr.1147]
Nghiên cứu về cuộc cách mạng năm 1932 ở Xiêm, đặc biệt là tính chất và ýnghĩa lịch sử của nó không chỉ làm rõ được những tiền đề, diễn biến, kết quả màquan trọng hơn là đi sâu phân tích, đánh giá, nhận định về tính chất và ý nghĩacủa cuộc cách mạng, góp phần giải đáp những câu hỏi, những vấn đề xung
quanh “sự kiện Xiêm” trong thập niên 30 thế kỉ XX Đồng thời, trên cơ sở
những nhận xét, đối chiếu, so sánh sự kiện này với phong trào cách mạng ở mộtvài nước trên thế giới và khu vực Đông Nam Á, ta có thể góp phần làm rõ hơncon đường phát triển của nước Xiêm – Thái Lan thời cận đại Ngoài ra, việc tìmhiểu về Priđi Phanômyông – linh hồn của cuộc cách mạng 1932, đặc biệt lànhững tư tưởng cải tạo xã hội của ông sẽ giúp ta rút ra được những bài học kinhnghiệm bổ ích và thiết thực đối với công cuộc xây dựng đất nước Việt Nam theohướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày nay
Trong điều kiện hiện nay, khi các quốc gia châu Á đang đứng trước xu thếtoàn cầu hóa, những bài học về quá trình hội nhập trong thời kì cận đại tuy thuộc
về quá khứ, nhưng nếu được chứng nghiệm là xác đáng, thì vẫn có giá trị nhấtđịnh đối với quá trình đổi mới để hội nhập Việt Nam hiện nay đang trong quá
trình đổi mới, “mở cửa” trong quan hệ hợp tác với cộng đồng quốc tế, trong đó
có Thái Lan và các nước trong khu vực Đông Nam Á Với phương châm “Việt Nam muốn là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực” [10, tr.233], việc
Trang 3tiếp tục mở rộng các mối quan hệ quốc tế đòi hỏi một sự hiểu biết sâu sắc về lịch
sử các nước và các khu vực Thực tế lịch sử cho thấy, trong quá trình tồn tại vàphát triển, Việt Nam và Thái Lan có mối quan hệ chặt chẽ nhiều mặt trong quákhứ cũng như trong hiện tại Do đó, chúng ta không thể không tìm hiểu mộtnước láng giềng khu vực quan trọng, có nhiều điểm khác biệt, nhưng cũngkhông ít điều tương đồng về lịch sử và văn hóa như Thái Lan Con đường pháttriển của Thái Lan, thông qua toàn bộ lịch sử của mình, để lại những kinhnghiệm tham khảo rất bổ ích đối với Việt Nam trong công cuộc xây dựng đấtnước ngày nay
Những vấn đề đặt ra trên đây là cơ sở để chúng tôi chọn “Cách mạng năm
1932 ở Xiêm (Thái Lan) – Tính chất và ý nghĩa lịch sử” làm đề tài Luận án
tiến sĩ sử học của mình với hy vọng sẽ góp phần làm sáng tỏ những khía cạnhđặt ra ở trên
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là khái quát những tiền đề, diễn biến, kếtquả của cách mạng 1932 Từ đó, phân tích làm rõ tính chất, đặc điểm và ý nghĩacủa cuộc cách mạng trên cơ sở có sự so sánh, đối chiếu với một vài cuộc cáchmạng tư sản trên thế giới và trong khu vực
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận án là công trình nghiên cứu khoa học về cuộc cách mạng 1932 ởXiêm (Thái Lan), trong đó trọng tâm là tìm hiểu về tính chất và ý nghĩa lịch sửcủa cuộc cách mạng Tên của đề tài đã xác định rõ giới hạn nội dung trọng tâm
và phạm vi nghiên cứu của đề tài Để làm sáng tỏ nội dung Luận án, chúng tôi
dự kiến tập trung đi sâu nghiên cứu những vấn đề trọng yếu sau:
- Trước hết, luận án tập trung khái quát về cuộc cách mạng 1932 ở Xiêm vềtiền đề, diễn biến, kết quả Trong phần này, chúng tôi tập trung vào sự ra đời nềnquân chủ lập hiến thay thế cho chế độ quân chủ chuyên chế ở Xiêm, sự ra đời
Trang 4của hai bản hiến pháp, những nét cơ bản trong tư tưởng cải tạo xã hội của PriđiPhanômyông với tư cách là nội dung chính trị tư tưởng của cuộc cách mạng vàquá trình lên cầm quyền của giới quân sự Xiêm
- Từ kết quả nghiên cứu, chúng tôi đi sâu phân tích, làm rõ về tính chất và ýnghĩa của cuộc cách mạng 1932, so sánh, đối chiếu với các cuộc cách mạng tưsản ở châu Âu trong những thế kỉ trước, từ đó rút ra những đặc điểm của cuộccách mạng 1932 Đây là nhiệm vụ trọng tâm của đề tài Trong phạm vi nhữngcông trình và tài liệu nghiên cứu có thể tiếp cận, Luận án cố gắng cung cấp chongười đọc những ý kiến, quan điểm khác nhau của các học giả trong và ngoàinước về tính chất và ý nghĩa của cuộc cách mạng năm 1932 Từ đó, chúng tôiđưa ra những quan điểm riêng của mình
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu mà Luận án hướng tới là tính chất và ý nghĩa lịch sửcủa cuộc cách mạng năm 1932 ở Xiêm,
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của Luận án về không gian là vương quốc Xiêm (TháiLan) Tuy nhiên, để có thể hoàn thành tốt được những nhiệm vụ đặt ra trongluận án, chúng tôi thấy cần đặt nước Xiêm và cuộc cách mạng 1932 trong bốicảnh quốc tế và khu vực Vì vậy, trong quá trình thực hiện, chúng tôi có mởrộng không gian nghiên cứu ra khu vực châu Á và một vài nước trên thế giới Phạm vi thời gian mà Luận án bao quát chủ yếu là từ năm 1932, tức là nămbùng nổ cuộc cách mạng Tuy nhiên, để có thể tìm hiểu được những tiền đề,nguyên nhân sâu xa cũng như những nhiệm vụ của cuộc cách mạng, chúng tôiphải mở rộng phạm vi thời gian nghiên cứu từ giữa thế kỷ XIX, khi Xiêm bắtđầu những bước đầu tiên trong quá trình hội nhập với phương Tây
Trang 5Giới hạn cuối cùng về thời gian của Luận án là vào năm 1938, khi giớiquân sự giải tán Nghị viện và thành lập chính phủ mới, đánh dấu sự thắng thếhoàn toàn của giới quân sự trên chính trường Xiêm, mở đầu một giai đoạn mớitrong lịch sử Xiêm – Thái Lan
Trong thời kì Luận án nghiên cứu, tên gọi của vương quốc Thái Lan đượcdùng là “Vương quốc Xiêm” (gọi tắt là Xiêm) vì đến năm 1939 Xiêm mới đổitên thành Thái Lan
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tài liệu
Để hoàn thành Luận án, chúng tôi dựa trên các nguồn tài liệu chủ yếu sau:
Tài liệu gốc:
Bao gồm các sắc lệnh, tuyên bố, thư từ, bài phát biểu của các vị vua Rama;những thông cáo, tuyên bố của Hoàng gia Xiêm được trình bày trong các công
trình nghiên cứu cụ thể như: The Political Economic of Siam (1851 - 1910), tập
1, của tác giả Chatthip Nartsupha and Suthyprasartser, Hội Khoa học xã hội
Thái Lan xuất bản năm 1981; Siam in transition: A brief survey of cultural trends in the five years since the Revolution of 1932, của tác giả Kenneth Perry Landon, Đại học Chicago xuất bản năm 1939; Chulalongkorn the great của tác giả Prachomchochai xuất bản năm 1965 tại Tokyo; The End of the Absolute Monarchy in Siam của tác giả Benjamin A Batson, Đại học Oxford xuất bản
Trang 6Luân Đôn năm 1954; The Diaries and Letters of King Chulalongkorn's General Adviser của Walter E.J.Tips, Gustave Rolin – Jeaquemyns…
Các cuốn hồi kí của Priđi Phanômyông và một số nhà lãnh đạo cách mạng
1932 được trình bày trong các công trình: Pridi Banomyong and the Making of Thailand Modern History, của tác giả Vichitvong Na Pombhejara xuất bản năm 1979; On Founding the People’s Party and the Democratic System của Pridi Banomyong xuất bản năm 1972; Field Marshal P.Pibul Songgram, 5 tập của Pibul Songgram xuất bản năm 1975 – 1976; Thai Politics: Extracts and Documents 1932-1957, của Thak Chaloemtiarana, Hội Khoa học Xã hội Thái
Lan xuất bản năm 1978…
Tuy nhiên, do không có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với những tài liệu nàybằng Tiếng Thái nên nguồn tài liệu này chúng tôi chủ yếu lấy lại từ các công trìnhnghiên cứu bằng Tiếng Anh
Tài liệu chuyên khảo: Bao gồm công trình nghiên cứu của các thế hệ trước
có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới đề tài luận án, đó là: các công trìnhnghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu về lịch sử Thái Lantrên các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa… đặc biệt là trong thời kìlịch sử mà Luận án hướng tới Ngoài ra, phải kể đến các luận án tiến sĩ, luận vănthạc sĩ, cử nhân, các báo cáo trong các hội thảo, các bài báo trên các tạp chíchuyên ngành Nguồn tài liệu này bao gồm các thứ tiếng Anh, Pháp, Nga, Thái,Việt đã được dịch hoặc nguyên bản và được lưu giữ tại các trung tâm nghiêncứu và các thư viện lớn của Việt Nam (Thư viện Quốc gia Việt Nam, Thư việnViện nghiên cứu Đông Nam Á thuộc Học viện Khoa học Xã hội Việt Nam…).Bên cạnh đó là các công trình nghiên cứu về lịch sử các nước như Liên Xô,Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam, qua đó cung cấp những sự kiện lịch sử cóliên quan đến vấn đề Luận án nghiên cứu và được sử dụng để so sánh, phân tích,đối chiếu làm rõ vấn đề cũng như rút ra những nhận xét khái quát
Trang 75.2 Phương pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là một vấn đề lịch sử, do đó, để giảiquyết những vấn đề do đề tài Luận án đặt ra, về mặt cơ sở lí luận, chúng tôi dựavào chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử Điều đặc biệt lưu ý
là trong khi nghiên cứu chúng tôi quán triệt quan điểm, đường lối của Đảng ta,của chủ nghĩa Mác – Lênin về công tác nghiên cứu lịch sử, tiếp thu những quanđiểm nghiên cứu và cách tiếp cận mới, trên cơ sở đó rút ra những bài học lịch sửcần thiết, bổ ích phục vụ cho công cuộc đổi mới, mở cửa của nước ta hiện nay
Về phương pháp cụ thể, trong Luận án, chúng tôi sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp lôgíc là phương pháp nghiên cứu chủ yếu, qua đó, trình
bày quá trình hình thành và phát triển của các vấn đề bằng những sự kiện điểnhình, phân chia giai đoạn phát triển bằng các mốc lịch sử theo thời gian, qua đórút ra kết luận khái quát
Với phương pháp lịch sử, chúng tôi cố gắng dựng lại toàn bộ cuộc cáchmạng 1932 ở Xiêm qua những sự kiện, nhân vật, các giai đoạn, diễn biến và kếtquả chính của nó
Phương pháp lôgíc được sử dụng trong luận án nhằm rút ra những đặcđiểm, những nhận định, đánh giá về tính chất và ý nghĩa của cách mạng 1932,đồng thời đặt nó trong sự đối sánh với các cuộc cách mạng trên thế giới và trongkhu vực, từ đó, rút ra những bài học kinh nghiệm bổ ích đối với Việt Nam trongcông cuộc xây dựng đất nước ngày nay
Đây là những phương pháp cơ bản, chủ đạo, xuyên suốt trong quá trìnhnghiên cứu luận án Chúng tôi rất quan tâm đến việc trình bày các quan điểmtrên cơ sở tôn trọng các sự kiện và tính chân thực lịch sử đúng như nó đã diễn ra
và đã từng tồn tại Ngoài ra, từ việc nghiên cứu một sự kiện lịch sử trong tổng
thể bối cảnh chung của khu vực và thế giới đồng đại nên phương pháp so sánh
Trang 8được chúng tôi chú ý vận dụng Bên cạnh đó, Luận án còn vận dụng các phương pháp thống kê, tổng hợp và phân tích để Luận án có cái nhìn tổng quát hơn
6 Đóng góp của Luận án
- Luận án là công trình chuyên khảo đầu tiên ở Việt Nam về cuộc cáchmạng năm 1932 ở Xiêm (Thái Lan), dựng lại bức tranh tương đối toàn diện, có
hệ thống về cuộc cách mạng một cách khách quan và khoa học
- Cùng với việc việc nghiên cứu, trình bày một cách có hệ thống diễn biến
và kết quả của cuộc Cách mạng 1932 ở Xiêm, trọng tâm của Luận án là nghiên cứu
và rút ra những ý kiến về tính chất, đặc điểm và ý nghĩa của cuộc cách mạng này
- Trong phạm vi những công trình và tài liệu nghiên cứu có thể tiếp cận,Luận án cố gắng cung cấp cho người đọc những ý kiến, quan điểm khác nhaucủa các học giả trong và ngoài nước về cách mạng 1932 nói chung và tính chất,
ý nghĩa lịch sử của nó nói riêng Từ đó, chúng tôi đưa ra những nhận định vàđánh giá, những quan điểm riêng của mình
- Luận án có thể sử dụng như một công trình tham khảo, phục vụ cho việcnghiên cứu, giảng dạy về lịch sử cuộc Cách mạng 1932 nói riêng và lịch sử TháiLan nói chung, cũng như phục vụ cho nhu cầu hiểu biết của bạn đọc quan tâmtới lịch sử Thái Lan và Đông Nam Á
7 Bố cục của Luận án
Ngoài phần mở đầu, phụ lục, thư mục tài liệu tham khảo và mục lục, nộidung của Luận án gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về cách mạng 1932 ở
Xiêm (Thái Lan).
Chương 2: Tiền đề và diễn biến của cách mạng 1932
Chương 3: Tính chất và đặc điểm của cách mạng 1932
Chương 4: Ý nghĩa của cách mạng 1932
Trang 9Chương 1TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VỀ CÁCH MẠNG 1932 Ở XIÊM (THÁI LAN)
Cuộc cách mạng năm 1932 với tư cách là sự kiện đánh dấu sự khởi đầu chomột thời đại mới trong lịch sử Thái Lan từ lâu đã thu hút sự quan tâm của giớinghiên cứu trong và ngoài nước ở những mức độ, khía cạnh khác nhau Trong quátrình thực hiện Luận án, chúng tôi đã thu thập và tham khảo nhiều nguồn tài liệu
có giá trị, trong đó chủ yếu là tài liệu của các tác giả nước ngoài
Trong phạm vi những tài liệu tiếp cận được, chúng tôi cố gắng đưa ra mộtcái nhìn tổng quát về tình hình nghiên cứu vấn đề mà Luận án đang thực hiện
1.1 Các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước
1.1.1 Các tác giả Thái
Ở Thái Lan, theo chúng tôi được biết, có nhiều công trình chuyên khảo vềcách mạng 1932 nói riêng và lịch sử Thái Lan nói chung Cách mạng 1932 cóthể được các tác giả Thái đề cập tới với tư cách là một sự kiện mang tính bướcngoặt trong các công trình chuyên khảo nghiên cứu chung về lịch sử Thái, hoặccác chuyên luận nhìn nhận, đánh giá về cuộc cách mạng ở những khía cạnh,bình diện khác nhau Tuy nhiên, trong quá trình sưu tầm và tiếp cận với nhữngtài liệu bằng tiếng Thái, chúng tôi gặp nhiều khó khăn không khắc phục được.Trước hết, những khó khăn này liên quan tới sự hạn chế của các tài liệu, sáchbáo tiếng Thái ở Việt Nam Mặt khác, sự hạn chế về trình độ ngoại ngữ (khôngbiết tiếng Thái) là trở ngại lớn của chúng tôi trong việc tiếp cận những tài liệutiếng Thái Vì vậy, đối với những công trình nghiên cứu của người Thái màchúng tôi có được, chúng tôi chủ yếu sử dụng qua những tài liệu đã được dịchsang tiếng Anh
Trang 10Trong số những công trình nghiên cứu của người Thái mà chúng tôi tiếpcận được, có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới cuộc Cách mạng 1932, chúngtôi thấy nổi bật lên một số công trình như sau:
Công trình “Cách mạng Xiêm 1932” của hai tác giả Chanvit Kasetsiri và
Thamrongsak Petchalertanan được Quỹ khuyến khích Khoa học xã hội và nhânvăn xuất bản tại Băng Cốc năm 2009 Toàn bộ nội dung công trình được cấutrúc thành 2 chương Chương thứ nhất của tác giả Chanvit Kasetsiri tập trungchủ yếu vào cuộc cách mạng 1932 với những nội dung cơ bản về sự ra đời ĐảngNhân dân, về sự bùng nổ của cuộc cách mạng 1932… đặc biệt là những quanđiểm đánh giá của tác giả về vấn đề chủ nghĩa yêu nước và dân chủ Xiêm, vấn
đề người Hoa và sự khủng hoảng trong chính phủ của vua Rama VII Chươngthứ hai của tác giả Thamrongsak Petchalertanan trình bày về cách mạng 1932 vàmột năm sau cuộc cách mạng Chương này được tác giả cấu trúc thành 5 phầnchính với những nội dung chủ yếu về nguyên nhân cách mạng, Đảng Nhân dân,cuộc cách mạng ngày 24 tháng 6 năm 1932; về hai bản Hiến pháp của Xiêmnăm 1932 và đặc biệt là sự phát triển của chủ nghĩa quân sự sau cách mạng.Trong chương này, tác giả cũng dành một số trang nhất định đề cập đến cuộcđảo chính ngày 20 tháng 6 năm 1933 ở Xiêm về nguyên nhân, diễn biến, kếtquả, từ đó, tác giả đưa ra những nhận định về tình hình chính trị ở Xiêm cũngnhư sự lên cầm quyền và vai trò của giới quân sự Xiêm Có thể nói, cuốn sách làmột tài liệu rất quý đối với chúng tôi trong quá trình thực hiện luận án, đã cungcấp cho chúng tôi những tư liệu có giá trị và đáng tin cậy về cách mạng 1932
Công trình “Pridi Banomyong and The Making of Thailand Modern History” (Pridi Banomyong và Sự hình thành Lịch sử Hiện đại Thái Lan),
Singapore, ISEAS, của tác giả Vichitvong na Pombhejara xuất bản năm 1979.Đây là một tài liệu có giá trị trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành Luận án.Trong công trình này, tác giả đã dành trọn chương 1 trình bày về diễn biến của
Trang 11cách mạng ngày 24 tháng 6 năm 1932 và 14 chương tiếp theo trình bày về cuộcđời và sự nghiệp của Priđi Phanômyông – linh hồn của cuộc cách mạng Tác giả
đã đánh giá cao vai trò của Priđi Phanômyông (1900 - 1983) đối với lịch sử Thái
Lan thế kỉ XX, coi ông như “người cha của nền dân chủ Thái Lan”, người khởi
thảo bản hiến pháp đầu tiên của Xiêm vào tháng 6 năm 1932 và là người từnggiữ những chức vụ quan trọng nhất trên trường chính trị Thái Lan: bộ trưởng nộicác, thủ tướng, chính khách cao cấp…
Cuốn sách “A History of Thailand” (Lịch sử Thái Lan) của Rong
Syamananda, giáo sư Trường Đại học Chulalongkorn, được xuất bản năm 1972tại Băng Cốc bằng cả tiếng Thái và tiếng Anh Đây là một công trình nghiên cứu
về lịch sử Thái Lan từ thời tiền sử đến thời hiện đại, trong đó, những vấn đề vềtình hình kinh tế, chính trị, xã hội dưới các triều vua Rama VI, Rama VII và nềndân chủ Thái Lan được tác giả trình bày trong chương XII, XIII Cách mạng
1932 không phải là vấn đề trọng tâm và chỉ được tác giả đề cập đến với tư cách
là một sự kiện quan trọng trong tiến trình dân chủ hóa nhà nước Xiêm
Năm 1983, Nhà xuất bản Ăkxon Chu Ron Thắt xuất bản bộ giáo trình 2 tập
“Lịch sử Thái Lan” của tác giả Penxri Duk, Priyanark Bunnag Trong công trình
này, hai tác giả đã dành một số trang nhất định đề cập đến cuộc cách mạng năm
1932 ở Xiêm và những kết quả của nó Tuy nhiên, do tính chất của một côngtrình thông sử, các sự kiện liên quan đến cách mạng 1932 chỉ được tác giả trình bàymột cách khái quát Dù vậy, công trình cũng cung cấp một số sự kiện có giá trị vềlịch sử Thái nói chung và cách mạng 1932 nói riêng
Công trình “Thai Politics: Extracts and Documents 1932 - 1957” (Chính
trị Thái Lan: Những trích đoạn và tài liệu 1932 - 1957) của tác giả ThakChaloemtiarana cung cấp những đoạn trích và tài liệu quý báu về tình hình chínhtrị Xiêm từ năm 1932 đến năm 1957 Những tài liệu giới thiệu trong cuốn sáchnày đem lại cái nhìn tổng quát hơn khi nghiên cứu về cuộc cách mạng năm
Trang 121932, giúp người sử dụng đưa ra những nhận định, đánh giá khách quan về cuộccách mạng và nền dân chủ Thái Lan thời gian này Mặc dù cách mạng 1932không phải là nội dung trọng tâm nhưng công trình cũng giúp cho người nghiêncứu có cái nhìn đầy đủ và toàn diện hơn khi tìm hiểu về cuộc cách mạng này.
Công trình “Sự hưng thịnh và suy vong của nền quân chủ chuyên chế Thái Lan”của tác giả Chaiyan Rajchagool do Nhà xuất bản White Lotus, Băng Cốc,
Thái Lan xuất bản năm 1994 Trong công trình này, tác giả đi vào tìm hiểu và lígiải về sự suy vong dẫn đến sụp đổ của nền quân chủ chuyên chế Xiêm vào đầuthế kỉ XX
1.1.2 Các tác giả nước ngoài
Chính sách mở cửa của Xiêm từ giữa thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX vànhững thành tựu của đất nước này đã thu hút nhiều học giả nước ngoài nghiêncứu về Xiêm trong mọi lĩnh vực Đối với các học giả nước ngoài, cuộc Cáchmạng năm 1932 ở Xiêm thường được đề cập một cách khái quát trong các côngtrình viết về lịch sử Đông Nam Á hoặc lịch sử Thái Lan Có thể kể đến một sốcông trình như:
Công trình “Siam in transition – A brief survey of cultural trends in the five year since the Revolution of 1932” (Nước Xiêm chuyển biến – Khảo sát về
những khuynh hướng văn hóa trong 5 năm kể từ Cách mạng 1932) của tác giảKenneth Perry Landon, xuất bản năm 1939 là công trình nghiên cứu tổng thể vềcác khuynh hướng chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, tôn giáo cũng nhưkhuynh hướng phân quyền trong chính phủ Xiêm Tác giả đã dành toàn bộchương đầu tiên để trình bày khái quát về cuộc cách mạng năm 1932 từ nguyênnhân, sự bùng nổ cách mạng, lực lượng lãnh đạo đến kết quả cách mạng Đặcbiệt, phần Phụ lục của công trình đã cung cấp cho chúng tôi những tư liệu quý
Vì vậy, công trình là một tài liệu rất có giá trị trong quá trình thực hiện Luận án
Trang 13Nhà nghiên cứu người Nga – E.O Bécdin với cuốn sách “Lịch sử Thái Lan” xuất bản năm 1976 tại Mátxcơva đã trình bày một cách khái quát về lịch
sử Thái Lan từ thời tiền sử cho đến thời hiện đại, trong đó nội dung về cuộc cáchmạng năm 1932 đã được tác giả trình bày khái lược trong chương X Trong côngtrình này, tác giả cũng có đề cập đến tư tưởng cải cách xã hội về mặt kinh tế của Priđi.Tuy nhiên, là một công trình mang tính thông sử nên tác giả chủ yếu trình bày
về các sự kiện lịch sử, chưa đi sâu vào các nhận định, đánh giá mang tính lịch sử
Công trình “Lịch sử hiện đại Thái Lan” do nhà sử học Liên Xô N.V.
Rêbricôva biên soạn và được Nhà xuất bản Văn học phương Đông, Mátxcơvaxuất bản năm 1960 (Luận án sử dụng bản dịch của Nhà xuất bản Sự thật, HàNội, năm 1962) Trong công trình này, tác giả đã trình bày về lịch sử Thái Lanvới những sự kiện lịch sử tiêu biểu từ năm 1918 đến năm 1959, trong đó cuộccách mạng 1932 được tác giả trình bày trong chương II với nhận định đây là mộtcuộc cách mạng tư sản và kết quả quan trọng nhất của cuộc cách mạng này làquốc gia tư sản ở Xiêm đã thật sự hình thành
Công trình “Thailand – A short history” (Sơ lược lịch sử Thái Lan) của tác
giả David K Wyatt được xuất bản năm 1982 tại Luân Đôn Tác giả đề cập đếnnhững vấn đề liên quan đến cuộc cách mạng 1932 rải rác trong ba chương VII,VIII, IX trên các khía cạnh Xiêm trước và sau cuộc cách mạng, nền quân chủchuyên chế cuối cùng ở Xiêm
Tác giả Judith A Stowe với công trình “Siam becomes Thailand: A Story
of Intrigue” (1991), Honolulu University of Hawaii Press Công trình gồm 4
phần tập trung ở 14 chương đã làm rõ về lịch sử Thái Lan giai đoạn từ năm 1932đến năm 1945, trong đó, tác giả dành trọn phần 1 và phần 2 gồm 7 chương đểtrình bày về lịch sử Thái từ 1932 đến 1940 với những nội dung về sự sụp đổ củachế độ quân chủ chuyên chế, sự ám ảnh của chủ nghĩa cộng sản, sự lớn mạnhcủa giới quân sự và vấn đề chủ nghĩa dân tộc Công trình đã cung cấp những tư
Trang 14liệu khá chi tiết về bối cảnh lịch sử, diễn biến cách mạng và là một công trình cógiá trị đối với chúng tôi trong quá trình hoàn thành Luận án
Giáo sư người Anh – D.G.E Hall là người đã có những đóng góp lớn trongviệc nghiên cứu về lịch sử khu vực Đông Nam Á nói chung và lịch sử Thái Lan
nói riêng Công trình “Lịch sử Đông Nam Á” của ông được xuất bản tại Luân
Đôn năm 1956 là một công trình rất có giá trị (Luận án sử dụng bản dịch củaNhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 1997) Trong công trình này, cácvấn đề về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội Xiêm dưới các triều vua Rama VI,Rama VII và đặc biệt là cuộc cách mạng 1932 đã được tác giả đề cập đếnmột cách khái quát trong chương 49 với tiêu đề “Nước Xiêm chuyển biến
1910 - 1942”
Công trình “Politics in Thailand” của tác giả David A Wilson do Trường
Đại học Cornell, Ithaca, New York xuất bản năm 1962 Trong cuốn sách này,tác giả dành trọn phần mở đầu trình bày về cuộc cách mạng 1932, nhưng rất tiếcnhững vấn đề cơ bản về cuộc cách mạng này lại được tác giả trình bày một cách
sơ lược, khái quát
Liên quan rải rác đến đề tài mà luận án nghiên cứu còn phải kể đến một loạt
các công trình: J.D.G.Campbell với công trình “Siam in the twentieth century” (Xiêm trong thế kỉ XX) xuất bản năm 1902; công trình “The Kingdom of Siam” (Vương quốc Xiêm) của tác giả A.C.Carter xuất bản năm 1904; “Siam” (Nước Xiêm) của W.A.Graham xuất bản năm 1924; “The Kingdom and People of Siam” (Vương quốc và cư dân Xiêm) của John Bowring – Đại sứ Anh tại Xiêm xuất bản năm 1977 tại Singapo; công trình “A History of the Kings of Thailand”
(Lịch sử các nhà vua Xiêm) của hoàng thân Chula Chacrabongse xuất bản tại
Băng Cốc năm 1960; công trình “Mongkut - The King of Siam” (Vua Xiêm – Môngkút) của A.L.Moffat xuất bản tại New York năm 1962; “Chulalongkorn the Great” (Chulalongkorn vĩ đại) của Prachom Choochai xuất bản năm 1965;
Trang 15“State and Society in the Reign of Mongkut (1851 - 1868)” (Nhà nước và xã hội
Xiêm thời Môngkút (1851 - 1868)) của tác giả Wilson Constance xuất bản năm
1970 đề cập chi tiết mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội Xiêm thời vua Môngkút;
tác giả Walter E.J.Tips với công trình“Gustave Rolin Jaequemyns and the Making of Modern Siam” (Gustave Rolin Jaequemyns và sự hình thành nước
Xiêm hiện đại) do Nhà xuất bản White Lotus, Băng Cốc xuất bản năm 1996 đãtập hợp các bức thư và nhật kí của viên Tổng cố vấn người Bỉ của vuaChulalongkorn (1868 - 1910) là Rolin Jaequemyns trong thời kì ông ta làm việctại triều đình Xiêm Những công trình trên đây đã đề cập khá chi tiết về các triềuđại Rama, đặc biệt là Rama IV (1851 - 1868) và Rama V (1868 - 1910) cũngnhư vai trò và công lao của hai vị vua trong công cuộc canh tân đất nước và bảo
vệ nền độc lập dân tộc Đây cũng chính là những tư liệu quý giá đối với chúngtôi trong quá trình thực hiện luận án khi nghiên cứu về những bước đi đầu tiên củaXiêm trong tiến trình hội nhập vào quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản phương Tây Ngoài ra còn phải kể đến các công trình ít nhiều liên quan trực tiếp đến đềtài Cách mạng 1932 mà Luận án nghiên cứu, cụ thể: Tác giả John F Cady với
công trình “Southeast Asia: Its historical Development” (Đông Nam Á: Lịch sử phát triển), xuất bản tại New York, năm 1964; Benjamin A Batson với “The End of the Absolute Monarchy in Siam” (Sự sụp đổ của chế độ quân chủ chuyên chế Xiêm), Đại học Oxford, New York xuất bản, năm 1986; David Joel Steinberg với “In Search of Southeast Asia: A Modern History” (Nghiên cứu về Đông Nam Á: Lịch sử hiện đại), Đại học Hawai xuất bản, năm 1987; Tác giả John L.S Girling với “Thailand: Society and Politics” (Thái Lan: Xã hội và Chính trị), Đại học Cornell xuất bản năm 1990; Bruce McFarland Lockhart với công trình “Monarchy in Siam and Vietnam 1925 - 1946” (Chế độ quân chủ chuyên chế Xiêm và Việt Nam 1925 -1946), xuất bản tại New York, năm 1990; Piere Fistie với “Lịch sử thế kỉ XX Đông Nam Á”, Viện Khoa học xã hội, Hà
Trang 16Nội Tất cả những công trình nói trên thật sự là cần thiết cho tác giả trong quátrình nghiên cứu và hoàn thành Luận án.
1.1.3 Các tác giả Việt Nam
Với tư cách là láng giềng gần gũi, các nhà khoa học Việt Nam cũng cónhững công trình nghiên cứu về Thái Lan trên nhiều phương diện Tuy nhiên, sốlượng các công trình nói chung chưa nhiều và cho đến nay chưa có một côngtrình chuyên khảo nào về cách mạng 1932 Có thể dẫn ra đây một số tác giả vàcông trình tiêu biểu như:
Giáo sư Vũ Dương Ninh với “Lịch sử vương quốc Thái Lan”, Nhà xuất bản
Giáo dục, năm 1994 Trong cuốn sách này, những nội dung cơ bản về lịch sửvương quốc Thái Lan từ thời sơ sử đến những năm đầu thập kỉ 90 của thế kỉ XXđược trình bày mang tính khái quát cao, giúp người nghiên cứu có cái nhìn tổngthể khi nghiên cứu về Thái Lan Cách mạng 1932 được giáo sư trình bày trong
một chương riêng với tiêu đề “Cuộc cách mạng ngập ngừng năm 1932”, trong
đó có đề cập đến sự kiện cách mạng ngày 24 tháng 6 năm 1932, kế hoạch kinh tếcủa Priđi Phanômyông và quá trình lên cầm quyền của giới quân sự
PGS.TS Lê Văn Quang với “Lịch sử vương quốc Thái Lan”, xuất bản năm
1995 tại thành phố Hồ Chí Minh Đây là một công trình thông sử về lịch sử TháiLan từ thời cổ đại đến những năm 80 của thế kỉ XX, trong đó cuộc cách mạng
1932 được tác giả trình bày trong một chương riêng biệt với nhận định đây làmột cuộc cách mạng tư sản Tuy nhiên, vấn đề tính chất của cách mạng khôngphải là nội dung trọng tâm nên chỉ được tác giả đề cập đến với những nhận địnhrất khái quát
Nguyễn Khắc Viện với “Thái Lan – Một số nét về chính trị, kinh tế - xã hội, văn hóa và lịch sử”, Nhà xuất bản Thông tin lí luận xuất bản năm 1988.
Trong công trình này, tác giả đề cập khái quát về Thái Lan với những đường nét
Trang 17lịch sử chính, trong đó, cách mạng năm 1932 được trình bày trong chương III từ sựbùng nổ cách mạng vào tháng 6 năm 1932, đến diễn biến cách mạng và một vàinhận định, đánh giá về ý nghĩa của nó.
Một số lượng lớn các công trình có liên quan rải rác đến nội dung của đề tài
như: “Lịch sử Thái Lan” của hai tác giả Phạm Nguyên Long, Nguyễn Tương
Lai, Nhà xuất bản Khoa học xã hội xuất bản năm 1998; Huỳnh Văn Tòng với tác
phẩm “Lịch sử Thái Lan từ thế kỉ XIII đến những năm của thập niên 80”, Khoa
Đông Nam Á, Viện đào tạo mở rộng thành phố Hồ Chí Minh xuất bản năm
1993; “Thái Lan – Cuộc hành trình tới câu lạc bộ các nước công nghiệp mới” của Nguyễn Thu Mĩ, Đặng Bích Hà, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1992; “Kinh
tế vương quốc Thái Lan” của tác giả Lâm Quang Huyên, xuất bản tại Thành phố Hồ Chí Minh, năm 1992; “Thái Lan – Truyền thống và văn hóa” của các tác giả Viện Đông Nam Á, xuất bản năm 1999; “Đối thoại với các nền văn hóa: Vương quốc Thái Lan”, Nhà xuất bản Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh, năm 2002; Luận án
“Chính sách đối ngoại của Xiêm nửa cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX” của Tiến sĩ Đào
Minh Hồng, Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, năm 2001; Luận án
“Quá trình cải cách ở Xiêm 1851 - 1910 và những hệ quả của nó” của Tiến sĩ
Dương Thị Huệ, bảo vệ tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, năm 2003; Luận
án “Chính sách đối ngoại của vương triều Ayuthaya thế kỉ XIV - XVIII” của
Tiến sĩ Trần Thị Nhẫn, bảo vệ tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, năm 2011.Nhìn chung, các nhà nghiên cứu người Thái, trên thế giới và Việt Nam đãđạt được nhiều thành tựu trong việc nghiên cứu về lịch sử Thái Lan nói chung
và Cách mạng 1932 ở Xiêm nói riêng Vì vậy, tất cả những công trình kể trênđều là những nguồn tư liệu quý giá, có ý nghĩa với tác giả trong quá trình nghiêncứu và hoàn thành luận án
Trang 181.2 Những vấn đề Luận án cần giải quyết
1.2.1 Những nội dung kế thừa từ các công trình đã công bố
Là một công trình nghiên cứu khoa học, nghiên cứu các vấn đề đặt ra củacuộc Cách mạng 1932 ở Xiêm – Tính chất và ý nghĩa lịch sử, trước hết chúngtôi dựa vào những công trình đã công bố của các nhà khoa học đi trước Luận án
kế thừa những công trình nghiên cứu đã công bố những nội dung cụ thể như sau:
Một là, quá trình cải cách ở Xiêm 1851 – 1910 trên các lĩnh vực kinh tế,
chính trị, xã hội, giáo dục, tôn giáo, quân sự, ngoại giao và những tác động của
nó đối với Xiêm; những nhận xét, đánh giá về bước đầu tiến trình hội nhập vớiphương Tây và sự định dạng của chủ nghĩa tư bản ở Xiêm Trong luận án, nộidung này được chúng tôi xem là một trong những tiền đề quan trọng dẫn đếnnhững cải cách dưới thời Rama VI (1910 - 1925), Rama VII (1925 - 1935) vàđặc biệt là cách mạng 1932
Hai là, những khái quát cơ bản về tiến trình diễn biến của cách mạng và
những kết quả của nó
1.2.2 Những nội dung mới cần giải quyết trong luận án
Qua tìm hiểu tình hình nghiên cứu về lịch sử Thái Lan của các tác giả trong
và ngoài nước liên quan đến nội dung nghiên cứu mà luận án đang hướng tới,chúng tôi nhận thấy những nội dung mới cần giải quyết trong luận án như sau:
Thứ nhất: Các công trình khoa học của các nhà nghiên cứu đi trước ở Thái
Lan, trên thế giới và Việt Nam đã tái hiện khá đầy đủ lịch sử Thái Lan từ buổiđầu cho đến thời hiện đại Cách mạng 1932 được trình bày với tư cách là một sựkiện quan trọng, một mốc lịch sử trong quá trình định dạng của chủ nghĩa tư bản
ở Xiêm Tuy nhiên, những tiền đề khách quan, chủ quan, sự ra đời của tổ chứcchính trị lãnh đạo cách mạng và yếu tố thời cơ cách mạng chưa được các tác giả
đề cập và nghiên cứu một cách có hệ thống Đây là một nội dung chúng tôi cốgắng làm rõ trong luận án
Trang 19Thứ hai, luận án tập trung làm rõ sự ra đời chế độ quân chủ lập hiến thay
thế chế độ quân chủ chuyên chế ở Xiêm Đồng thời, làm rõ tiến trình cải cáchhiến pháp ở Xiêm và một số nội dung quan trọng trong những tư tưởng cải cách
về kinh tế - xã hội của Priđi Phanômyông (1900 - 1983) Trên cơ sở đó, cónhững nhận xét, so sánh đối chiếu với Việt Nam và rút ra những bài học kinhnghiệm quan trọng trong xây dựng đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày nay
Thứ ba, qua tìm hiểu tình hình nghiên cứu về cuộc Cách mạng 1932 ở
Xiêm, chúng tôi nhận thấy ý kiến về tính chất của cuộc cách mạng còn có nhiềukhác biệt Một số tác giả cho rằng cách mạng 1932 là một cuộc cách mạng tưsản, một số khác cho rằng đây là cuộc chính biến, nhóm thứ ba lại cho đây vừa
là cuộc cách mạng tư sản vừa là cuộc chính biến Xuất phát từ thực tế đó, trên cơ
sở nghiên cứu và khái quát những nhận định, đánh giá về tính chất cách mạng
1932 của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, chúng tôi mạnh dạn trình bàysuy nghĩ và bước đầu đưa ra ý kiến cá nhân của mình về vấn đề này
Thứ tư, với tư cách là người Việt Nam, nghiên cứu lịch sử Thái Lan, thông
qua việc so sánh với một vài cuộc cách mạng ở châu Âu trong những thế kỉtrước, chúng tôi cố gắng tập trung làm rõ những đặc điểm và ý nghĩa của cuộccách mạng này Đây là một nội dung trọng tâm mà luận án hướng tới
Cuối cùng, cho đến hiện tại, trong thời điểm thực hiện luận án, chúng tôi
nhận thấy, ở Việt Nam chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách hệthống, tổng thể và chuyên sâu về cách mạng 1932, đặc biệt là tính chất và ýnghĩa lịch sử của nó
Tóm lại, luận án vừa là sự kế thừa những thành tựu nghiên cứu của các họcgiả, các nhà nghiên cứu đi trước, vừa là sự cố gắng và đóng góp khoa học củabản thân tác giả trong việc tập trung nghiên cứu, góp phần làm rõ một sự kiệnquan trọng trong lịch sử Thái: Cách mạng năm 1932 – Tính chất và ý nghĩalịch sử
Trang 20Chương 2TIỀN ĐỀ VÀ DIỄN BIẾN CỦA CÁCH MẠNG 1932
2.1 Những tiền đề của Cách mạng 1932
2.1.1 Các cuộc cải cách nửa cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX
Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạnphát triển của chủ nghĩa đế quốc Sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa đòi hỏicác nước đế quốc phải mở rộng thị trường hơn nữa Vào thời điểm này, các quốcgia phương Đông đang đắm chìm trong chế độ phong kiến lạc hậu với nền kinh
tế tự cấp tự túc, nhanh chóng trở thành miếng mồi cho các nước tư bản phươngTây xâm lược Nửa sau thế kỉ XIX, công cuộc xâm lược và bành trướng thuộcđịa của chủ nghĩa tư bản phương Tây được đẩy mạnh hơn bao giờ hết Ấn Độ,Trung Quốc rồi các nước trong khu vực Đông Nam Á lần lượt trở thành thuộcđịa hoặc nửa thuộc địa của tư bản phương Tây: Malaixia, Mianma trở thànhthuộc địa của Anh, Inđônêxia bị Hà Lan thôn tính, Philippin trở thành thuộc địacủa Tây Ban Nha, còn Việt Nam, Campuchia và Lào cũng lần lượt bị Pháp thôntính Như vậy, từ giữa thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX, hầu hết bản đồ châu Á, đặcbiệt là các nước Đông Nam Á đã bị nhuốm màu đen bởi ách thống trị thực dân Trong tình hình quốc tế và khu vực như vậy, Vương quốc Xiêm với ưu thế
về vị trí chiến lược và điều kiện tự nhiên cũng không tránh khỏi nguy cơ bị xâmlược từ phía các nước phương Tây Các nước tư bản Hà Lan, Anh, Pháp, Mĩ lầnlượt thâm nhập vào Xiêm thông qua hai con đường chủ yếu là hoạt động thươngmại và truyền giáo
Trước áp lực xâm lược của chủ nghĩa tư bản phương Tây, Vương quốcXiêm muốn tồn tại, phát triển và giữ được độc lập đòi hỏi phải có những biệnpháp khôn khéo, đúng đắn Triều đình phong kiến Xiêm thời Rama IV –Môngkút (1851 - 1868) đã tiến hành canh tân đất nước, loại bỏ những hủ tục
Trang 21phong kiến lạc hậu lỗi thời, tạo điều kiện cho chủ nghĩa tư bản phát triển Côngcuộc canh tân đất nước được triều đình phong kiến Xiêm tiến hành trên cơ sởvừa tiến hành đấu tranh ngoại giao để từng bước thủ tiêu ảnh hưởng của cácnước phương Tây vừa tiến hành canh tân đất nước bằng những cải cách theo môhình phương Tây.
Trước hết, vua Rama IV đã thực hiện một chương trình “Âu hóa” đất nước
trên nhiều lĩnh vực Nhằm từng bước cải tổ nhân sự trong chính quyền Xiêm,nhà vua đã sử dụng nhiều người phương Tây tham gia vào bộ máy chính quyền.Một số nghiên cứu về lịch sử Thái Lan thời kỳ này cho biết, vào thời Rama IV
có khoảng 84 cố vấn người nước ngoài làm việc cho triều đình Xiêm Chẳnghạn, bà Leonowens (người Anh) là gia sư cho các con vua, ngài Jaequemyns(người Bỉ) làm tổng cố vấn và là người trợ lí đắc lực cho nhà vua trong các vấn
đề cải cách, John Bowring (người Anh) là người được giao trọng trách thay mặtnhà vua giải quyết các vấn đề đối ngoại của Xiêm ở châu Âu [15, tr.65-66]
Về kinh tế, nhằm kích thích sự phát triển kinh tế, đặc biệt là hoạt động xuấtkhẩu gạo và đường - hai mặt hàng có giá trị xuất khẩu lớn, đem lại nguồn thuquan trọng cho ngân sách nhà nước, năm 1852, Rama IV (1851-1868) tuyên bốhủy bỏ lệnh cấm xuất khẩu gạo Để đảm bảo hạ tầng cho sự phát triển nôngnghiệp, những công trình thủy lợi, giao thông được đẩy mạnh xây dựng nhưkênh Rasichaven nối thủ đô Băng Cốc với các tỉnh, làm các con đườngCharonkrung, đường mới năm 1862 cho người dân đi lại và buôn bán dễ dàng Quân đội cũng được cải tổ theo kiểu phương Tây, lực lượng quốc phòngđược phiên chế thành bộ binh, pháo binh và thủy binh Bộ binh do sĩ quan Anhhuấn luyện, pháo binh do Chuthamani (em trai vua Rama IV) chịu trách nhiệm,
có sự cố vấn của người Anh Trong hải quân bắt đầu sử dụng tàu chạy bằng hơinước Nhà vua ban hành khoảng 500 đạo luật, sắc lệnh trong đó có những sắclệnh nhằm cải thiện đời sống nhân dân nghèo khổ như giảm nghĩa vụ lao dịch
Trang 22Tiền mới được ban hành, nhà in được xây dựng, báo chí được xuất bản để nângcao dân trí
Đồng thời với những cải cách theo mô hình phương Tây nhằm củng cố,phát triển đất nước, Rama IV thực hiện chính sách ngoại giao mềm dẻo bằngviệc kí kết các hiệp ước bất bình đẳng với các nước tư bản phương Tây nhằmtránh được những cuộc đấu tranh vũ trang mà Xiêm biết chắc rằng không thểthắng được các nước này Đầu tiên là Hiệp ước Xiêm – Anh (Hiệp ướcBowring) năm 1855, tiếp đó là Hiệp ước Xiêm – Pháp, Xiêm - Mĩ năm 1856,Hiệp ước Xiêm – Đan Mạch năm 1858, Xiêm – Bồ Đào Nha năm 1859, Xiêm –
Hà Lan năm 1860, Xiêm - Phổ năm 1862 và với Thụy Điển, Na Uy, Italia, Bỉtrong năm 1868 Việc kí các hiệp ước bất bình đẳng này một mặt cho thấykhông một cường quốc nào có sức mạnh vượt trội đủ khả năng thống trị Xiêm.Mặt khác, mặc dù phải nhượng bộ một số quyền lợi kinh tế, tư pháp nhưng việc
kí những hiệp ước này đã giúp Xiêm thoát khỏi số phận trở thành thuộc địa nhưcác nước khác trong khu vực, nền độc lập của Xiêm được bảo toàn Về vấn đề
này, nhà nghiên cứu có tên tuổi người Anh - D.G.E.Hall, viết:“Có thể sẽ không quá lời nếu nói rằng vương quốc Xiêm phải chịu ơn Môngkút (Rama IV) hơn bất cứ ai khác về việc nước này đã duy trì được nền độc lập của mình trong khi vào cuối thế kỉ XIX tất cả các nước trong khu vực Đông Nam Á đều bị đặt dưới
sự cai trị của người châu Âu Bởi vì, hầu như ông là người Xiêm duy nhất nhận thấy rõ rằng nếu Trung Quốc đã thất bại trong chính sách đóng cửa của mình trước áp lực của người châu Âu thì Xiêm phải thỏa hiệp với các lực lượng bên ngoài đang đe dọa mình và bắt đầu thích nghi với thế giới mới” [13, tr.962].
Sau khi Rama IV qua đời, năm 1868, Rama V – Chulalongkorn (1868 1910) lên kế vị và tiếp tục thực hiện những cải cách của vua cha Dưới thờiRama V, một cuộc cải cách toàn diện trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế,
-xã hội, giáo dục, quân sự đã diễn ra ở Xiêm
Trang 23Cải cách quan trọng đầu tiên của Rama V là việc thủ tiêu chế độ nô lệ tồn
tại từ rất lâu đời ở Xiêm Đến cuối thế kỉ XIX, nô lệ vẫn chiếm tới 1/3 dân sốXiêm [35, tr.17] Tuy nhiên, theo nhà nghiên cứu D.G.E.Hall, cần lưu ý rằng:
“Mặc dù chế độ nô lệ ở Xiêm không khắc nghiệt như các đồn điền châu Mĩ và
nó được chi phối bởi những giáo huấn của bộ luật Manu, song việc xóa bỏ nó
rõ ràng là điều cần thiết đối với quá trình hiện đại hóa” [13, tr.969] Sau nhiều
lần đề nghị, thảo luận và sửa đổi, năm 1874, vua Chulalongkorn đã công bố sắclệnh thủ tiêu chế độ nô lệ vì nợ với những nội dung chính như sau: Tất cả concái của nô lệ vì nợ sinh sau ngày 1 tháng 10 năm 1868 đến 21 tuổi sẽ được tựdo; Cha mẹ không được bán con mình làm nô lệ khi chúng chưa đến tuổi 15.Khi chúng quá 15 tuổi, nếu muốn bán, phải được sự đồng ý của chúng; Mức tiềnchuộc nô lệ được quy định 32 bath cho nam nô lệ 8 tuổi, 28 bath cho nữ nô lệ 8tuổi, 4 bath cho nam nô lệ 18 – 20 tuổi và 3 bath cho nữ nô lệ 18 – 20 tuổi Cũngtheo quy định này, tất cả nô lệ đến tuổi 60 đều được tự do Ngoài ra, những món
nợ suốt đời của nô lệ trước kia là cố định, nay nhà nước quy định giảm 4bath/tháng Sau những cải cách có tính chất thử nghiệm, từng bước, đến năm
1905, Hoàng gia đã chính thức ban hành đạo luật bãi bỏ chế độ nô lệ trong phạm
Những cải cách trên của Rama V có ý nghĩa quan trọng cả về mặt kinh tế
và xã hội 1/3 dân số Xiêm được giải phóng từ nô lệ thành người tự do Điều này
có ý nghĩa quan trọng trong việc giải phóng sức lao động, tạo ra nguồn nhân lựccho nền kinh tế tư bản chủ nghĩa đang chập chững hình thành ở Xiêm
Trang 24Ngoài hai biện pháp trên, để tạo điều kiện cho kinh tế nông nghiệp phát
triển, Rama V đã cho xây dựng hệ thống tưới tiêu mới và đưa vào sử dụng từnăm1875 Năm 1902, nhà vua cho thành lập Vụ Quản lí kênh rạch để phụ tráchnhững vấn đề có liên quan đến xây dựng, sửa chữa, tu bổ, nâng cấp các hệ thốngtưới tiêu trên toàn quốc Vùng đồng bằng trung tâm là nơi sản xuất tới 95%lượng gạo xuất khẩu của Xiêm được hưởng chế độ ưu đãi thuế hơn hẳn nhữngvùng nông nghiệp khác
Kết quả là sản lượng lúa gạo của Xiêm ngày càng tăng lên Xuất khẩu gạocủa Xiêm năm 1885 là 225.000 tấn thì đến 1910 là 900.000 tấn (tăng gần 4 lần)[38, tr.79] Nền nông nghiệp Xiêm do đó ngày càng mất dần tính tự cung tự cấp,chuyển dần sang nền kinh tế hàng hóa (trước hết trong sản xuất lúa gạo) và gắnliền với thị trường quốc tế
Trong lĩnh vực công nghiệp, Rama V cũng có những cải cách quan trọng.
Để khuyến khích các nhà đầu tư, nhà nước đảm bảo cho họ một tỉ lệ lãi nhấtđịnh trong đầu tư vào các ngành công nghiệp và đường sắt Cùng với đó, nhàvua cũng quan tâm xây dựng các tuyến đường sắt, đường bộ, tạo thuận lợi choviệc giao lưu, buôn bán hàng hóa giữa các tỉnh Năm 1882, nhà vua cho lập Cụcđường sắt hoàng gia để kiểm soát việc xây dựng đường sắt Các tuyến đường sắt
đã được xây dựng: Băng Cốc – Pắcnam (1892), Băng Cốc – Cò Rạt (1892),Băng Cốc – Xamút - Pracan (1896), Băng Cốc – Nakhon Ratsima (1897) Tưbản nước ngoài đã tăng cường đầu tư vào Xiêm: Năm 1890 ở Băng Cốc có 5nhà máy xay xát lúa gạo của người châu Âu, đến 1908 có khoảng 12 công tynước ngoài đầu tư kinh doanh ở Xiêm
Về tài chính, năm 1892, Rama V cho cải tổ Hội đồng phát triển ngân khố
được thành lập từ năm 1874, và đến năm 1892, Hội đồng này trở thành Bộ Tàichính Chế độ thầu thuế do tư nhân đảm nhận trước đây bị bãi bỏ Thay vào đó,các nhân viên nhà nước sẽ đảm nhận việc thu thuế, người đứng đầu mỗi vùng
Trang 25thu và nộp lên Bộ Tài chính Từ năm 1902 đến năm 1908, Chulalongkorn chotiến hành cải cách tiền tệ Đồng Baht là đơn vị tiền giấy đầu tiên được phát hành
ở Xiêm Nhà vua còn khuyến khích tư nhân mở ngân hàng kinh doanh Năm
1904, ngân hàng thương mại Băng Cốc của người Hoa, một trong những ngânhàng lớn nhất của Xiêm ra đời Năm 1906, vua Chulalongkorn và một số quanchức cũng thành lập ngân hàng thương mại Xiêm
Đồng thời với những cải cách liên quan đến kinh tế, xã hội, Rama V cũngtiến hành những cải cách về hành chính, luật pháp, giáo dục, tôn giáo và quân đội
Công cuộc cải cách hành chính được triển khai mạnh mẽ từ năm 1892 do
hoàng thân Damrong (em trai nhà vua) tiến hành với việc cải tổ bộ máy hànhchính từ trung ương đến địa phương Mô hình nhà nước Xiêm được cải tổ theo
mô hình nhà nước Đức Vua vẫn là người đứng đầu nhà nước, có quyền lực tốicao nhưng điểm khác biệt là bên cạnh vua có hai hội đồng là Hội đồng Nhànước và Hội đồng Tư vấn Bộ máy hành pháp truyền thống trước đây được thaythế bằng Hội đồng chính phủ gồm 12 bộ trưởng, có chức năng và quyền hạn như
bộ máy hành pháp hiện đại theo kiểu phương Tây
Cùng với quá trình cải tổ hành chính ở Trung ương, cuối thế kỉ XIX, giớicầm quyền Xiêm cũng bắt đầu cải tổ tận gốc hệ thống hành chính địa phương.Nhằm tăng cường sự kiểm soát của chính quyền trung ương đối với các tỉnh và
các vùng xa trung tâm, Chulalongkorn đã nhóm các tỉnh thành 18 monthon
(vùng) do các phái viên của vua cai quản Phần lớn những người này là anh emcủa nhà vua Theo mô hình này, mỗi vùng được chia thành nhiều tỉnh
(changwat), mỗi tỉnh lại được chia thành nhiều huyện (amphur), dưới huyện là làng (xã) (tambol) và cuối cùng là xóm (muban)
Trong bộ máy hành chính mới này, các quan lại đều hưởng lương của nhànước Tất cả các quan lại đều do trên cử xuống, hầu như không có bầu cử Các
Trang 26quan đầu tỉnh đều là thành viên thuộc gia đình nhà vua Ở các địa phương, cácchức tước quan trọng đều do đại diện của giai cấp phong kiến nắm giữ.
Rama V cũng rất quan tâm đến cải cách giáo dục Nhằm mục đích đào tạo
đội ngũ có trình độ chuyên môn và trung thành với lợi ích của Hoàng gia, từcuối năm 1870, Chulalongkorn quyết định thành lập các trường trung học phổthông theo phong cách hiện đại, đồng thời công bố sắc lệnh về giáo dục bắt buộc
hệ phổ thông 12 năm Ở bậc đại học, nhà nước Xiêm đã thành lập các trườngLục quân, Hải quân, Luật và trường học sinh Hoàng gia (nay là Đại họcChulalongkorn) Đặc biệt, Rama V rất khuyến khích con em quý tộc và các quanchức cao cấp của Xiêm đi du học nước ngoài Từ năm 1897, nhà vua có chế độcấp học bổng cho các sinh viên đi du học Nhìn chung, trong hệ thống giáo dụcXiêm, chỉ có tầng lớp con em quý tộc mới được tiếp xúc một cách có hệ thống,
cơ bản các tri thức khoa học phương Tây, những tri thức đó được sử dụng đểcủng cố địa vị thống trị của giai cấp phong kiến quý tộc
Cùng với cải cách về giáo dục, Rama V cũng có những cải cách quan trọng
về luật pháp và tư pháp Nhà vua cho thành lập Hội đồng đặc trách xét xử và
tuyên án với sự tham gia của nhiều Ban và Bộ khác nhau Năm 1897, nhà vuabắt đầu cho thành lập hội đồng soạn thảo bộ luật quốc gia, gồm có các cố vấnchuyên gia về luật pháp cả trong và ngoài nước do công tước Rabi đứng dầu,trên cơ sở tham khảo hệ thống luật pháp của châu Âu Sau 11 năm làm việc miệtmài, ngày 15 tháng 4 năm 1908, bộ luật hình sự đầu tiên của Xiêm ra đời và
được thực hiện đến năm 1956 khi có bộ luật mới thay thế Trong lĩnh vực tư pháp,
năm 1891, Bộ Tư pháp được thành lập Năm 1892, các quyền xét xử được giaocho Bộ Tư pháp và hệ thống tòa án mới được thành lập theo mô hình của Anh
Trong lĩnh vực tôn giáo, đồng thời với việc tuyên bố Phật giáo là quốc giáo,
Rama V cũng có chính sách tự do, cởi mở và uyển chuyển đối với các tôn giáo
khác ở Xiêm Ở Xiêm khi đó không hề có những chính sách “cấm đạo” hay
Trang 27“sát đạo” như ở các quốc gia láng giềng Thậm chí, nhà vua còn cấp tiền xây
dựng các nhà thờ Hồi giáo, không phản đối, kì thị Đạo Thiên chúa Các chức sắctrong giới tôn giáo được hưởng các đặc quyền trong sở hữu đất đai và khôngphải làm nghĩa vụ quân sự Dưới thời Rama V, tinh thần hoà hợp tôn giáo là rất
rõ ràng Chính sách tôn giáo đã góp phần quan trọng vào việc tạo dựng sự ổnđịnh trong xã hội Xiêm, tạo điều kiện để Xiêm có thể tiếp thu và hội nhập vớinền văn minh nhân loại trên cơ sở vẫn duy trì và giữ vững bản sắc tôn giáo vàvăn hóa dân tộc
Bên cạnh những cải cách trong hầu hết các lĩnh vực như đã đề cập trên,
Rama V cũng rất quan tâm đến việc cải cách trong lĩnh vực quân sự Với nhận
thức Xiêm rất cần xây dựng một lực lượng quân đội có thể đáp ứng được khảnăng phòng thủ trong bối cảnh nguy cơ bành trướng xâm lược của các nước tưbản phương Tây với Xiêm là rất rõ ràng Năm 1885, Bộ Chiến tranh cùng cáctrường quân đội và hải quân được thành lập Đến năm 1887, Bộ Quốc phòng rađời Tuy số lượng không đông nhưng quân đội Xiêm được tổ chức chặt chẽ theo
mô hình phương Tây và có tính cơ động cao Nhà nước cũng ban hành luậtnghĩa vụ quân sự nhằm đảm bảo đủ lực lượng cần thiết để phòng thủ đất nước.Mọi công dân khỏe mạnh từ 18 đến 40 tuổi phải làm nghĩa vụ quân sự Nhìnchung, các vị trí quan trọng trong quân đội đều do vua bổ nhiệm và đều phải lànhững người trong hoàng tộc có quan hệ ruột thịt với nhà vua, được đào tạo cơbản tại các trường đào tạo sĩ quan ở Băng Cốc So với quân đội của các nướctrong khu vực, quân đội Xiêm thể hiện sự hiện đại hóa hơn hẳn và phần nào cókhả năng ít nhất là đương đầu với những đợt tấn công quy mô nhỏ của quân độiphương Tây
Như vậy, các cuộc cải cách ở Xiêm nửa sau thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, đặcbiệt là thời Rama V – Chulalongkorn là những cố gắng mang tầm vóc lịch sửnhằm hướng tới mục tiêu duy tân đất nước mà không phá vỡ chế độ phong kiến
Trang 28Các cuộc cải cách này có mục tiêu chấn hưng đất nước, bảo vệ độc lập, chủquyền lãnh thổ cũng như độc quyền thống trị của quý tộc phong kiến Xiêm Tuynhiên, dù muốn hay không muốn, những cải cách này đã mở đường, tạo điềukiện thuận lợi cho sự phát triển của nền sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa ởXiêm Mặc dù chưa phải là một cuộc cách mạng tư sản và mức độ kết quả củacông cuộc duy tân cũng như địa vị quốc tế của Xiêm so với Nhật Bản còn có
nhiều khoảng cách, nhưng không thể phủ nhận được là, cải cách đã dẫn tới những thay đổi to lớn trong cơ cấu kinh tế và xã hội Xiêm cuối thế kỉ XIX đầu
thế kỉ XX
Về kinh tế, Xiêm vẫn là một nước nông nghiệp, giai cấp nông dân chiếm
9/10 dân số, nhưng nền nông nghiệp Xiêm không còn bị đóng khung trong nềnkinh tế tự nhiên, tự cung tự cấp mà đã chuyển sang một nền kinh tế nông nghiệphàng hóa gắn với thị trường bên ngoài, đặc biệt là trong sản xuất gạo để xuất
khẩu ở khu vực đồng bằng trung tâm Công nghiệp cũng có nhiều chuyển biến
với sự xuất hiện hoặc mở rộng thêm các ngành công nghiệp chế biến, xay xát lúagạo xuất khẩu, khai thác khoáng sản (chủ yếu là thiếc để xuất khẩu) Tính đếnnăm 1912, ở Xiêm có 50 nhà máy xay xát với số lượng công nhân trung bình ởmỗi nhà máy từ 200 – 600 công nhân [15, tr.134] Công nghiệp xây dựng đườngsắt, đường bộ cũng được chú trọng Từ Băng Cốc, các tuyến đường sắt tỏa đi cácnơi vừa phục vụ cho nhu cầu đi lại vừa thuận lợi cho lưu thông hàng hóa Trongkhoảng thời gian từ năm 1895 đến đầu Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 -1918), chiều dài đường sắt tăng từ 950km lên 2000km, lưu thông hàng hóa tăng từ7.600 lên 389.800 tấn [15, tr.134]
Về xã hội, bên cạnh sự tồn tại và phân hóa của những giai cấp cũ là sự xuất
hiện của những giai cấp, tầng lớp mới trong xã hội
Giai cấp phong kiến không còn như trước nữa mà bị phân hóa thành hai nhóm Nhóm thứ nhất là những đại địa chủ, tức là những người sở hữu ruộng đất
Trang 29lớn, bao gồm: các hoàng thân, bộ trưởng, quan lại, viên chức cao cấp…Tuy bịmất nhiều đặc quyền đặc lợi đối với nông dân so với trước đây (do sắc lệnh củanhà vua giải phóng nông dân), nhưng bù lại, họ sở hữu nhiều ruộng đất và có thu
nhập cao Nhóm thứ hai là các địa chủ loại trung Bị mất nhiều quyền lợi so với
trước, không có nhiều ruộng đất như đại địa chủ, và có thu nhập thấp hơn, nhómnày chủ yếu sống ở các tỉnh và địa phương xa trung tâm Mặc dù có sự phân hóathành hai nhóm nhưng giai cấp phong kiến về cơ bản vẫn là giai cấp thống trị cóđặc quyền đặc lợi, là giai cấp sở hữu đất đai phong kiến
Nông dân cũng có những biến đổi mạnh mẽ Những sắc lệnh quan trọng
của vua Rama IV và Rama V đã đưa đến việc giải phóng người nông dân phụthuộc khỏi những nghĩa vụ lao dịch nặng nề đối với nhà nước phong kiến Cùngvới sự phát triển của nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa, người nông dân Xiêmtừng bước gia nhập vào hàng ngũ những lao động tự do làm thuê theo mùa vụ vàđược trả lương bằng tiền, tại các nhà máy xay xát, các đồn điền mía, hay cácvùng trồng lúa gạo xuất khẩu
Điều đặc biệt đáng chú ý là, dưới tác động của các cuộc cải cách, ở Xiêm
đã xuất hiện những giai cấp mới như công nhân, tư sản, trí thức tiểu tư sản
Giai cấp công nhân Xiêm bắt đầu hình thành với đa số là người Hoa Đến
giữa những năm 90 thế kỉ XIX, số lượng công nhân Xiêm là khoảng 100.000người [20, tr.76] Nhìn chung, trong giai đoạn này, giai cấp công nhân Xiêm có
số lượng còn ít ỏi và chưa có ý thức giác ngộ về vai trò cũng như sứ mệnh lịch
sử đối với dân tộc Vì vậy, quá trình quá trình để trở thành một giai cấp vô sảnthực sự, tham gia vào vũ đài chính trị Xiêm là một quá trình lâu dài và phức tạp
Sự phát triển của nền kinh tế theo hướng tư bản chủ nghĩa đã dẫn đến sự
hình thành một giai cấp mới - giai cấp tư sản, bao gồm cả tư sản dân tộc (người Xiêm bản địa) và tư sản người Hoa Đa số tư sản dân tộc Xiêm là những quý tộc
phong kiến tư sản hóa Một bộ phận khác là những quan chức hoặc con em quý
Trang 30tộc phong kiến đi du học ở châu Âu về và chuyển hướng kinh doanh theo hướng
tư bản chủ nghĩa Ngay ở nông thôn Xiêm cũng bắt đầu hình thành bộ phận phúnông – tư sản nông thôn Tư sản dân tộc đầu tư chủ yếu vào các ngành côngnghiệp chế biến, bởi nó đòi hỏi ít vốn, thu hồi vốn nhanh và lợi nhuận cao.Trong thời gian đầu của quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế tư bản chủ nghĩa,
do thế lực kinh tế còn yếu, lại bị bọn thực dân chèn ép, nên tư sản Xiêm khôngthể tạo ra sức mạnh vững chắc để gạt ảnh hưởng của thực dân phương Tây, tạođiều kiện cho kinh tế dân tộc phát triển Bên cạnh tư sản dân tộc, ở Xiêm còn cómột bộ phận tư sản người Hoa Tư sản người Hoa có vai trò quan trọng trong
nền kinh tế Xiêm và họ được ví như những “người Do Thái” trên đất nước
Xiêm Tư sản người Hoa giữ vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa tư bảnnước ngoài với tư bản Xiêm, vì không ai thạo hơn họ trong việc nắm nguồnhàng, nắm giá cả và những phương tiện vận chuyển hàng hóa ở Xiêm Năm
1889, số nhà máy của người Hoa chiếm 2/3 tổng số nhà máy ở Xiêm Ngoài ra,
họ còn nắm độc quyền trong việc lưu thông hàng hóa trong nước cũng như hàngxuất khẩu Bên cạnh hệ thống ngân hàng thực dân phương Tây, người Hoa cũngthành lập được các ngân hàng của mình Điều đó chứng tỏ tiềm lực kinh tế củangười Hoa rất lớn
Đáng chú ý hơn là, dưới tác động của những cải cách, đặc biệt là cải cách
giáo dục theo mô hình phương Tây, ở Xiêm xuất hiện một tầng lớp trí thức tiểu
tư sản có tư tưởng và lối sống mới Nhìn chung, tầng lớp trí thức tiểu tư sản Xiêm là những người xuất thân từ gốc gác phong kiến đi du học ở châu Âu về.
Họ tiếp thu những tư tưởng dân chủ tiến bộ của phương Tây và công cuộc MinhTrị duy tân ở Nhật khi đó, nên là những người dễ dàng đoạn tuyệt với nhữngquan hệ phong kiến lỗi thời hơn cả Chính tầng lớp trí thức tiểu tư sản cùng vớinhững sĩ quan trẻ trong quân đội được đào tạo theo mô hình phương Tây sẽ hợp
thành bộ phận cấp tiến nhất trong xã hội Xiêm khi đó, tạo thành một chất men
Trang 31quan trọng nhất để làm thay đổi không khí chính trị và xã hội Xiêm đầu thế kỉ
XX Đây là một hiện tượng mới mẻ, là đặc trưng của xã hội Xiêm cuối thế kỉ
XIX đầu thế kỉ XX Kullada Kesboonchoo Mead, một nhà nghiên cứu người Thái cho biết: “Thành công của các vị vua thuộc vương triều Rama là đã gieo những hạt giống cho cuộc cách mạng năm 1932 dẫn đến sự sụp đổ của chế độ quân chủ chuyên chế Quá trình hiện đại hóa từ trên xuống đã tạo ra một lớp người được tiếp thụ những tinh hoa của nền giáo dục phương Tây, những người chịu ảnh hưởng bởi những lí tưởng của cách mạng Pháp và Nga Chính tầng lớp mới này sẽ dẫn đến sự ra đời của Đảng Nhân dân – hạt nhân của cuộc cách mạng năm 1932” [89, tr.55].
Như vậy, những cải cách tiến bộ của Rama IV, đặc biệt là Rama V đã dẫnđến những biến đổi to lớn của vương quốc Xiêm, đó là: sự thâm nhập mạnh mẽcủa nền kinh tế hàng hóa, sự biến đổi sâu sắc trong quan hệ giai cấp, sự xuấthiện những giai tầng lớp mới gồm giai cấp tư sản (chủ yếu là người Hoa) tuykhông nhiều, tầng lớp quý tộc tư sản hóa và tầng lớp trí thức tiểu tư sản Vớinhững thành công này, Xiêm đã tiến một bước đầu tiên trong quá trình hòa nhậpvào quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản
Mặc dù đạt được những thành tựu nhất định, nhưng công cuộc cải cách ở
Xiêm cuối thế kỷ XIX không tránh khỏi những hạn chế
Trước hết, về kinh tế, mặc dù nền kinh tế tự cung tự cấp đang dần chuyểnsang một nền kinh tế hàng hóa, gắn với thị trường bên ngoài, nhưng về cơ bản,toàn bộ nền kinh tế Xiêm vẫn mang tính chất của một nền kinh tế tiêu thụ, cungcấp nguyên vật liệu cho nền kinh tế tư bản phương Tây Kinh tế Xiêm chủ yếuvẫn là nền kinh tế nông nghiệp Chỉ những ngành công nghiệp chế biến, côngnghiệp phục vụ nông nghiệp hoặc phục vụ giao lưu buôn bán có điều kiện pháttriển Công nghiệp nặng hoàn toàn không có vốn để phát triển Mặt khác, sự
Trang 32phát triển của nền kinh tế Xiêm chủ yếu dựa vào nguồn vốn đầu tư của tư bảnnước ngoài Do đó, kinh tế Xiêm bị phụ thuộc nặng nề vào tư bản nước ngoài Trong quá trình cải cách, vì quyền lợi kinh tế của mình, tầng lớp quan lạiquý tộc phong kiến Xiêm không đề cập đến cơ sở kinh tế quan trọng nhất là vấn
đề ruộng đất cho nông dân Họ cũng không quan tâm đến cải thiện đời sống cholực lượng lớn nhất của xã hội, không hạn chế sự bóc lột của địa chủ và đặc biệt
là tầng lớp trung gian Hoa kiều Với mục tiêu canh tân đất nước, bảo vệ nền độclập, triều đại Rama trước sau như một không xóa bỏ sợi dây ràng buộc vớinhững đặc quyền phong kiến, không ngừng củng cố quyền lực của mình Vì vậy,cải cách ở Xiêm là những cải cách đóng khung trong phạm vi quyền lực mà giớithống trị cho phép Nói cách khác, quá trình cải cách chỉ mới tạo ra những thểchế phù hợp để Xiêm tồn tại một cách hòa bình trong quỹ đạo phương Tây trên
cơ sở duy trì quyền lợi của giai cấp quý tộc phong kiến, hoàn toàn chưa dẫn tớinhững thay đổi có tính chất cách mạng, đảo lộn trật tự kinh tế, xã hội Xiêm khi đó
Tóm lại, có thể nói, các cuộc cải cách theo hướng “Tây hoá” ở Xiêm cuối
thế kỷ XIX đầu thế kỉ XX do các nhà vua Rama tiến hành đã đem lại nhiều biếnđổi trong kinh tế, chính trị, xã hội và tạo cho nước Xiêm một diện mạo mới theo
mô hình phương Tây Nhưng vì không có một giai cấp tư sản lớn mạnh nên toàn
bộ cuộc cải cách này đều do nhà nước quân chủ phong kiến Rama tiến hành.Chính vì thế, quá trình cải cách mang tính chất tư sản nhưng hết sức không triệt
để, vẫn chỉ là những biện pháp thay đổi hạn chế trong khuôn khổ chế độ phongkiến, khi mà áp lực của chủ nghĩa tư bản thực dân phương Tây đang ngày càng
mạnh mẽ Sự vận động mọi mặt của Xiêm từng bước khiến cho “chiếc áo” quân
chủ chuyên chế trở nên chật hẹp và trở thành vật cản cho sự phát triển tiếp tụccủa Xiêm, tất yếu đòi hỏi một cuộc đổi mới mạnh mẽ hơn nhằm từng bước xóa
bỏ những hạn chế của các cuộc cải cách nửa sau thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, đưa
Trang 33Xiêm tiếp tục hòa nhập và tiến bước nhanh hơn vào quỹ đạo của chủ nghĩa tưbản thế giới.
2.1.2 Nước Xiêm những thập niên đầu thế kỉ XX (1910 - 1932)
Lịch sử thế giới đầu thế kỉ XX là giai đoạn của những chuyển biến quantrọng, dẫn đến những bước ngoặt lớn đối với lịch sử toàn nhân loại nói chung vàtừng quốc gia, khu vực nói riêng
Chuyển biến quan trọng đầu tiên của tình hình quốc tế, ảnh hưởng to lớn tớiXiêm là sự bùng nổ cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918), dẫn tới sựthay đổi vị trí và tương quan lực lượng giữa các nước đế quốc Cùng với đó,thắng lợi của Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga năm 1917 dẫn đến
sự ra đời của một hình thức nhà nước mới – nhà nước xã hội chủ nghĩa với mụctiêu cao cả là xóa bỏ chế độ người bóc lột người, xây dựng một xã hội tự do,hạnh phúc và công bằng cho mọi người lao động Sự kiện này có ảnh hưởngmạnh mẽ tới tiến trình lịch sử và cục diện thế giới, tới các quốc gia dân tộc trênthế giới, trong đó có Xiêm
Một tình hình khác đáng chú ý là cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, cách mạng
tư sản đã lan rộng trên toàn thế giới Chủ nghĩa tư bản bao trùm khắp các lục địa
Á, Âu, Mĩ trở thành hệ thống thế giới Ở khu vực châu Á cũng diễn ra những sựkiện tác động mạnh mẽ đến Xiêm, đó là: Phong trào Nghĩa hòa đoàn (1898 -1900), cách mạng Tân Hợi năm 1911 và việc Tôn Trung Sơn thành lập Đảng Quốcdân ở Trung Quốc; cuộc vận động Minh Trị Duy Tân (1868 - 1912) ở Nhật Bản
và thắng lợi của Nhật Bản trong chiến tranh Nga – Nhật năm 1905; phong tràođòi độc lập ở Ấn Độ (1905 - 1908) và vai trò của Mohandas Karamchan Gandhi trongphong trào bất hợp tác, chống lại ách thống trị của Anh
Tất cả những sự kiện này, mặc dù mang sắc thái khác nhau nhưng đều cótác động khơi dậy ý thức dân tộc và đặc biệt là truyền bá tinh thần dân chủ, thổivào Xiêm một luồng gió mới của những tư tưởng dân chủ tư sản phương Tây,
Trang 34mà đặc biệt là những trào lưu dân chủ tư sản và các cuộc cải cách mang tínhchất, ý nghĩa của cách mạng tư sản ở Nhật Bản và Trung Quốc cuối thế kỉ XIXđầu thế kỉ XX.
Ngoài ra, cũng không thể không tính đến một yếu tố rất quan trọng diễn ra
ở khu vực Đông Nam Á thời gian này, có tác động tới xu hướng phát triển củaXiêm Đó là: phong trào độc lập dân tộc diễn ra sôi nổi và rộng rãi ở khắp cácnước trong khu vực Đặc điểm nổi bật trong sinh hoạt chính trị - xã hội của cácdân tộc châu Á đầu thế kỉ XX là cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc với hai xuhướng - tư sản và vô sản - song song tồn tại, phát triển
Ở nhiều nước, giai cấp tư sản đứng lên nắm quyền lãnh đạo cuộc đấu tranhgiải phóng dân tộc Một số chính đảng tư sản được thành lập và có ảnh hưởngrộng lớn như Đảng Dân tộc ở Inđônêxia năm 1927, tổ chức phong trào Thakin ởMiến Điện trong những năm 30, Đại hội toàn Mã Lai Cùng với đó, một loạt cácĐảng cộng sản trong khu vực cũng xuất hiện, nắm giữ vai trò lãnh đạo cáchmạng Mở đầu là sự thành lập Đảng Cộng sản Inđônêxia tháng 5 năm 1920 Tiếp
đó là Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930 (từ tháng 10/1930 đổi tên thành ĐảngCộng sản Đông Dương), Đảng Cộng sản ở Mã Lai và Xiêm (tháng 4 năm 1930),
ở Philippin (tháng 11 năm 1930)
Cuối cùng, một sự kiện nổi bật trong tình hình thế giới đầu thế kỉ XX làcuộc Đại Khủng hoảng kinh tế thế giới, bùng nổ vào cuối năm 1929 và kéo dàiđến năm 1933 Hậu quả nặng nề nhất của cuộc khủng hoảng là sự ra đời và lêncầm quyền của chủ nghĩa phát xít ở một số nước (tiêu biểu là Đức, Ý) cùngnguy cơ một cuộc chiến tranh thế giới bùng nổ, đe dọa nền hòa bình và an ninhcủa toàn thể nhân loại Cũng giống như các nước Đông Nam Á khác, Xiêm cũngphải chịu những ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế trên các lĩnh vực kinh
tế, chính trị, xã hội
Trang 352.1.2.1 Về kinh tế
Dưới các triều vua Rama VI (1910 - 1925), Rama VII (1925 - 1935), cáccải cách theo hướng tư bản chủ nghĩa vẫn được tiếp tục ở Xiêm nhưng chỉ mangtính chất nhỏ bé, không đáng kể, không thể so sánh với những cải cách thờiChulalongkorn (1868 - 1910) Nền kinh tế Xiêm về cơ bản không có nhữngchuyển biến đáng kể và phụ thuộc chặt chẽ vào tư bản nước ngoài
Điều này thể hiện trước hết trong cơ cấu kinh tế của Xiêm Xiêm vẫn là mộtnước nông nghiệp, trong đó xuất khẩu gạo đóng vai trò quan trọng trong nềnkinh tế Cơ cấu nhập khẩu cũng mang những nét đặc thù của một nước nôngnghiệp lạc hậu, hàng công nghiệp nhẹ và công nghiệp thực phẩm (dệt, sữa, bột
mì, xăng dầu…) – những thứ hàng mà tư bản nước ngoài đang cần tiêu thụchiếm vị trí hàng đầu trong cơ cấu hàng nhập khẩu của Xiêm
Trong khi đó, tư bản nước ngoài tăng cường bóc lột, bòn rút nền kinh tếXiêm Các nguồn tài nguyên thiên nhiên của Xiêm như thiếc, cao su, gỗ tếch bị
tư bản nước ngoài (Anh, Mĩ, Nhật) vơ vét Gỗ tếch là mặt hàng được quan tâmnhiều nhất Năm 1930, tư bản nước ngoài chiếm khoảng 85% cơ sở khai thác gỗtếch, chỉ có 14% cơ sở khai thác thuộc tư bản bản xứ, 1% thuộc sự kiểm soát của
Bộ Lâm khẩn Xiêm [48, tr.33] Lợi nhuận mà tư bản nước ngoài thu được từkhai thác gỗ tếch là vô cùng lớn Mặc dù tư bản nước ngoài phối hợp với giaicấp phong kiến quý tộc và tư sản bản xứ để chia lợi nhuận nhưng trên thực tế,nguồn lợi nhuận này chủ yếu thuộc về tư bản nước ngoài, phong kiến quý tộc và
tư sản bản xứ chỉ nhận được một phần không đáng kể Biện pháp chủ yếu đểbiến nền kinh tế Xiêm thành một nền kinh tế phụ thuộc của các nước tư bản ở
Xiêm là “củng cố ách thống trị của giai cấp địa chủ quý tộc trong nước và đặt tư sản dân tộc đang phát triển dưới sự kiểm soát bằng chế độ cho vay” [48, tr.35]
Thêm vào đó, nền kinh tế tài chính Xiêm thời Rama VI bắt đầu xuất hiệnnhững dấu hiệu khủng hoảng Thiếu hụt ngân sách xuất hiện trong những năm
Trang 361922 – 1923 và không ngừng tăng từ 2,34 triệu baht lên 2,64 triệu baht năm
1923 – 1924 và lên 4,49 triệu vào năm 1924 – 1925 [45, tr.25-26]
Năm 1929, khủng hoảng kinh tế thế giới bùng nổ và tác động mạnh mẽ tớinền kinh tế Xiêm Trong những năm 1929 – 1933, nhu cầu về nguyên liệu vàthực phẩm giảm sút mạnh Các nguồn xuất khẩu gạo, thiếc, cao su, gỗ tếch củaXiêm đều bị thua lỗ nặng nề Xuất khẩu gạo năm 1927 – 1928 đạt 201 triệubaht, năm 1928 – 1929 là 175 triệu bath thì năm 1930 – 1931 giảm xuống còn
103 triệu baht năm 1930 – 1931 Tổng số hàng xuất khẩu giảm từ 276 triệu bahtnăm 1927 – 1928 xuống còn 219 triệu baht năm 1929 – 1930 và xuống 134 triệubaht năm 1931 – 1932 Nhập khẩu cũng giảm từ 201 triệu baht năm 1927 – 1928
và 206 triệu baht năm 1929 – 1930 xuống khoảng gần 100 triệu baht năm 1931 –
1932 và chỉ còn 89 triệu vào năm 1932 – 1933 [45, tr.30-31]
Như vậy, đầu thế kỉ XX, dưới các triều vua Rama VI, Rama VII, kinh tế
Xiêm rơi vào tình trạng khủng hoảng khá gay gắt Làm thế nào để giải quyếtmâu thuẫn giữa tư bản bản xứ với tư bản nước ngoài và bộ phận địa chủ phongkiến quý tộc vốn bị tư bản nước ngoài lôi kéo, mua chuộc; làm thế nào để thoátkhỏi sự phụ thuộc và kiểm soát của tư bản nước ngoài đưa nền kinh tế tiếp tụcphát triển mạnh mẽ hơn theo hướng tư bản chủ nghĩa là yêu cầu cấp thiết đặt ra đối
với Xiêm khi đó
2.1.2.2 Về xã hội
Từ giữa những năm 20 của thế kỉ XX, cuộc khủng hoảng trong xã hội Xiêmbước vào thời kì nghiêm trọng Khủng hoảng xã hội đụng chạm tới lợi ích củamọi tầng lớp nhân dân Xiêm và chi phối thái độ của họ đối với hiện trạng xã hộiXiêm Khi cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929 - 1933) bùng nổ thì tìnhhình giai cấp cũng có nhiều biến chuyển với đặc điểm nổi bật là các giai tầng xãhội đều bất mãn với chế độ cai trị của triều đại Rama
Trang 37Nông dân vẫn là tầng lớp chiếm số đông trong xã hội Xiêm Cho tới những
năm 30 thế kỉ XX, ruộng đất chủ yếu nằm trong tay tầng lớp đại địa chủ, một sốkhác tập trung vào tay địa chủ nhỏ, nhà buôn Việc xuất khẩu gạo tuy phát triểnnhưng đời sống người nông dân không được cải thiện Một nhà nghiên cứu
người Mỹ viết:“Năm 1926, khi việc buôn bán gạo rất phồn thịnh, 80% hàng xuất khẩu là gạo thì tình cảnh người nông dân cũng chỉ hơn tình cảnh người nô
lệ một chút” [58, tr.378] Nhìn chung, cho đến những năm 30 thế kỉ XX, cơ cấu
xã hội nông thôn Xiêm vẫn mang tính chất truyền thống, chưa xuất hiện nhữnglực lượng xã hội mới, đời sống nông dân không được cải thiện mà trái lại ngàycàng khó khăn Người nông dân không còn niềm tin vào chế độ cai trị, sẵn sànghưởng ứng bất kì cuộc cách mạng nào
Công nhân cũng bị bóc lột tàn tệ Ngày làm việc của họ thường kéo dài từ
12 đến 14 giờ Đời sống cũng hết sức khổ cực với mức lương thấp hơn nhiều so
với mức sống tối thiểu “Bộ phận giai cấp công nhân Xiêm bị ngược đãi và khổ cực nhất là những công nhân người Camu ở miền Bắc Xiêm Mỗi công nhân người Camu lĩnh không quá 100 rupi (tiền Ấn Độ) một năm Sống trong những điều kiện cực khổ, người Camu chết dần chết mòn Đến đầu cuộc khủng hoảng kinh tế thế giời, họ đã bị tiêu diệt gần một nửa” [48, tr.51] Thân phận của giai
cấp công nhân cũng gần như mất tự do bởi sự trói buộc của những khoản nợ đốivới chủ xí nghiệp Tuy nhiên, cho đến đầu những năm 30, do chưa giác ngộ sâusắc vai trò của mình trong lịch sử dân tộc nên nhìn chung các cuộc đấu tranh củagiai cấp công nhân diễn ra rất lẻ tẻ, rời rạc Mặc dù vậy, cũng như giai cấp nôngdân, giai cấp công nhân cũng mong muốn có một cuộc cách mạng thay cũ lậpmới và sẵn sàng tham gia cách mạng khi có một tổ chức dẫn đường
Là hệ quả quan trọng của cuộc cải cách do vua Chulalongkorn tiến hành,
đến những năm 20 thế kỉ XX, giai cấp tư sản đã trở thành một nhóm xã hội
đáng kể, trong đó đáng chú ý hơn cả là giai cấp tư sản dân tộc Tuy nhiên, địa vị
Trang 38kinh tế của tư sản dân tộc Xiêm còn non yếu vì tập trung trong tay ít vốn, các xínghiệp nhỏ, số lượng công nhân còn ít và bị tư bản nước ngoài chèn ép Trongquá trình phát triển của mình, tư sản dân tộc Xiêm ngày càng bộc lộ rõ hơn sựbất mãn với sự chèn ép chính trị của giai cấp phong kiến quý tộc Tuy nhiên, sựnon yếu về tiềm lực kinh tế cũng chi phối sự non yếu về vị thế chính trị của giaicấp tư sản dân tộc Xiêm Họ có tư tưởng chống phong kiến nhưng lại sợ cáchmạng nổ ra, vì thế không dám kêu gọi nhân dân ủng hộ Đó cũng chính là hạnchế lớn nhất của giai cấp tư sản dân tộc Xiêm
Đặc biệt, trong những thập niên đầu thế kỉ XX ở Xiêm, phải kể đến sự lớnmạnh của bộ phận cấp tiến, vốn là những sĩ quan trong quân đội và tầng lớp tríthức dân sự đi học ở nước ngoài, chịu ảnh hưởng của phương Tây Họ là lựclượng đi đầu, tiên phong trong việc tiếp thu những giá trị tinh thần, những tinh
hoa văn hóa nhân loại Theo D.G.E.Hall, “Qua việc học lịch sử phương Tây, họ biết được về các cuộc đấu tranh lập hiến của Anh, cuộc chiến tranh giành độc lập của Mĩ và cuộc cách mạng Pháp” [13, tr.1041] Bộ phận này ngày càng lớn
lên về số lượng, trưởng thành hơn về tư tưởng Họ chính là những hạt giốngtuyên truyền tư tưởng cách mạng Trong thời gian trị vì của Rama VI, họ có sựbất mãn với nhà vua và chế độ quân chủ chuyên chế Họ có chung mục đíchmuốn lật đổ chế độ quân chủ chuyên chế, xây dựng một xã hội mới theo thể chếdân chủ tiến bộ hơn Chính vì vậy, họ có những hoạt động công khai chống lạigiai cấp phong kiến quý tộc như viết báo phê bình, đả kích nền thống trị, thậmchí là những âm mưu đảo chính nhằm lật đổ nhà vua
2.1.2.3 Về chính trị, tư tưởng
Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, đi liền với sự suy yếu của nền kinh tế,
chế độ quân chủ chuyên chế phong kiến Xiêm đã có những dấu hiệu khủnghoảng Tình trạng này bắt nguồn từ những mâu thuẫn, bất đồng trong lòng giai
Trang 39cấp thống trị ngay từ khi vua Rama V qua đời và sự bất bình của phần đông giớichức quân sự và dân sự Xiêm đối với chính sách của Rama VI.
Sau khi lên ngôi, Rama VI ngày càng trở nên chuyên quyền, độc đoán Việc
cử những người thân tín giữ các chức vụ hưởng lương cao và tình trạng thamnhũng chưa từng có đã khiến triều đình mất uy tín [15, tr.1148] Không lâu saukhi lên ngôi, năm 1911, Rama VI cho thành lập một lực lượng bán võ trang độc
lập riêng của mình với tên Quân đoàn Mãnh Hổ (Wild Tiger Corps), có chức
năng gìn giữ trật tự trên toàn quốc và có nhiều đặc quyền [13, tr.1148] Điểmđáng lưu ý là, vào thời điểm này, do được quan tâm cải cách và trang bị từ thời
kỳ các vua Rama IV và Rama V, quân đội Xiêm dần dần phát triển thành mộtlực lượng chính trị độc lập và có ảnh hưởng rất lớn tới tình hình chính trị đất
nước khi đó Vì vậy, sự hình thành của Quân đoàn Mãnh Hổ không thể không
đe dọa tới thế và lực của giới quân sự Do đó, nó đã gây nên sự bất mãn của cácquan chức và lực lượng quân đội chính quy [45, tr.23] Các phần tử tiến bộ tronggiới trí thức, các sĩ quan trẻ chịu ảnh hưởng của những tư tưởng dân chủ tư sảnchâu Âu đều cảm nhận rõ yêu cầu phải lật đổ chế độ phong kiến chuyên chế tồntại lâu đời ở Xiêm nhằm hướng tới thay đổi cơ cấu chính trị của chính quyền nhànước bằng một chế độ quân chủ lập hiến Chuyển biến về tư tưởng, nhận thứcnày của họ có được từ những bài học về lịch sử, về chính trị thế giới, về cáccuộc cách mạng ở các quốc gia châu Âu Những bài học này đã tác động khôngnhỏ đến tư tưởng của họ về một cuộc cách mạng ngay trên chính đất nước mình
“Chắc chắn những sĩ quan trẻ tuổi này đã biết được tình hình hiện tại không thể cho phép tiến hành một cuộc cách mạng khi sự hậu thuẫn và những giải pháp (nếu họ thành công) cho một chính quyền mới sau này vẫn còn rất mờ mịt Tình hình thực tế của Xiêm lúc đó không tạo ra những yếu tố để có thể tiến hành một cuộc cách mạng như vậy Có thể nền quân chủ chuyên chế đang ở vào giai đoạn
bị suy thoái nhưng những lực lượng chịu ơn với chế độ này vẫn còn rất nhiều.
Trang 40Hơn nữa nhận thức về nền quân chủ và sự cai trị của đại bộ phận nhân dân qua mấy trăm năm không có sự thay đổi Sự bất mãn công khai với chính quyền hiện tại hay những tư tưởng manh nha về “cộng hòa” hay “dân chủ” vẫn là điều vô cùng xa lạ đối với đại bộ phận nhân dân vốn coi sự tồn tại của nền quân chủ là một lẽ tự nhiên” [56, tr.60 - 61] Bắt nguồn từ nhận thức đó, các sĩ quan chủ
chốt đã lên kế hoạch tổ chức một cuộc cách mạng và thời gian mà họ dự địnhchuẩn bị cho cuộc cách mạng là 10 năm, vì theo họ cần phải có thời gian tuyêntruyền và giác ngộ ý tưởng cho toàn bộ quân đội và xã hội Những nội dungchính sẽ được tuyên truyền gồm các vấn đề về thế giới, địa lí, lịch sử, điều kiện
và hoàn cảnh để thúc đẩy một cuộc cách mạng, các ưu, nhược điểm của các thểchế chính trị như quân chủ chuyên chế, quân chủ lập hiến, nền cộng hòa Ngoài
ra, các tài liệu cũng tuyên truyền, lí luận chống lại các cơ quan, đơn vị và lực
lượng thân cận của nhà vua như Quân đoàn mãnh hổ Nhà vua cũng bị phê phán
ở việc tiêu pha vô độ cũng như coi thường quyền lợi của nhân dân Tuy nhiên,
kế hoạch trong 10 năm quá dài so với mong muốn của một số sĩ quan khác nênnhững người trong nhóm quyết định tổ chức một cuộc đảo chính vào năm 1912nhằm ám sát nhà vua, thành lập chế độ lập hiến Kế hoạch đảo chính này có biệtdanh R.S.130 [45, tr.23] Tuy nhiên, kế hoạch này cuối cùng bị bại lộ, nhữngngười chủ mưu đều bị bắt và cầm tù
Bước vào đầu những năm 30 thế kỉ XX, tình hình chính trị ở Xiêm có nhiềubiến động Sau khi Rama VI qua đời, hoàng tử Prachathipok lên nối ngôi vớivương hiệu Rama VII (1925 - 1935) Chế độ quân chủ chuyên chế tiếp tục tồntại, đứng đầu là vua, tập trung trong tay mọi quyền hành Rama VII đã tăngcường vị trí của các vương công hoàng tộc đến mức họ thực sự nắm độc quyềnchính trị trong nước Các chức vụ quan trọng trong bộ máy nhà nước đều dongười trong Hoàng gia nắm giữ Đứng đầu là Hội đồng nhà nước tối cao (ra đờitrên cơ sở của Hội đồng quốc gia được Chulalongkorn thành lập 50 năm trước)