1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Âm nhạc trong nghi lễ Phật giáo ở Hà Nội

206 848 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Âm Nhạc Trong Nghi Lễ Phật Giáo Ở Hà Nội
Tác giả Nguyễn Đình Lâm
Người hướng dẫn PGS. TS. Lê Văn Toàn, TS. Nguyễn Mạnh Cường
Trường học Học Viện Khoa Học Xã Hội, Viện Hàn Lâm Khoa Học Xã Hội Việt Nam
Chuyên ngành Tôn giáo học
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 206
Dung lượng 7,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Âm nhạc trong nghi lễ Phật giáo ở Hà Nội

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÔN GIÁO HỌC

Chuyên ngành : Tôn giáo học

Mã số : 62.22.90.01

   

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: 1 PGS TS LÊ VĂN TOÀN

2 TS NGUYỄN MẠNH CƯỜNG  

HÀ NỘI - 2013

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của hai nhà khoa học Tất cả trích dẫn, số liệu được sử dụng trong luận án là trung thực, nghiêm túc, có nguồn gốc rõ ràng Các kết luận trong luận án chưa từng được công bố trên bất kỳ công trình nào khác Tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn nếu những lời cam đoan trên đây không đúng

Tác giả luận án

Nguyễn Đình Lâm

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN

ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 6

1.1 NGUỒN TÀI LIỆU 6

1.2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU 10

1.3 KHUNG PHÂN TÍCH LÝ THUYẾT 20

1.4 MỘT SỐ KHÁI NIỆM, THUẬT NGỮ SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN 25

1.5 TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 35

Chương 2: ĐẶC ĐIỂM NGHI LỄ PHẬT GIÁO VÀ NGUỒN GỐC, DIỆN MẠO

CỦA ÂM NHẠC TRONG NGHI LỄ PHẬT GIÁO Ở HÀ NỘI 36

2.1 ĐẶC ĐIỂM NGHI LỄ PHẬT GIÁO 36

2.2 NGUỒN GỐC CỦA ÂM NHẠC PHẬT GIÁO HÀ NỘI 55

2.3 DIỆN MẠO CỦA ÂM NHẠC PHẬT GIÁO HÀ NỘI 68

2.4 TIỂU KẾT CHƯƠNG 2……… 82

Chương 3: CHỨC NĂNG VÀ MỘT SỐ ĐẶC TRƯNG CỦA ÂM NHẠC

TRONG NGHI LỄ PHẬT GIÁO Ở HÀ NỘI 83

3.1 CHỨC NĂNG CỦA ÂM NHẠC TRONG NGHI LỄ 83

3.2 MỘT SỐ ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA ÂM NHẠC PHẬT GIÁO HÀ NỘI 98

3.3 TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 124

Chương 4: VẤN ĐỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY ÂM NHẠC TRONG NGHI LỄ PHẬT GIÁO HÀ NỘI HIỆN NAY 125

4.1 NHẬN ĐỊNH CHUNG 125

4.2 XU HƯỚNG BIẾN ĐỔI VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT 138

4.3 TIỂU KẾT CHƯƠNG 4 144

KẾT LUẬN 145

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 150

DANH MỤC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 158

PHỤ LỤC 159

Trang 5

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN

Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

ÂNPGHN Âm nhạc Phật giáo Hà Nôi

ÂNPGVN Âm nhạc Phật giáo Việt Nam

PG Phật giáo

PGVN Phật giáo Việt Nam

Trang 6

MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài

Trải qua gần hai thiên niên kỷ du nhập và phát triển, Phật giáo đã đi sâu vào hầu hết các khía cạnh của đời sống xã hội, trở thành một trong những bộ phận cấu thành nền văn hóa Việt Nam, để lại nhiều dấu mốc đáng chú ý trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Ngược lại, chính những yếu tố truyền thống đã tác động trở lại và là “chất liệu”, phương tiện để Phật giáo nhập thế, phát triển với sắc thái riêng so với Phật giáo trong khu vực và vùng lãnh thổ khác

Âm nhạc Phật giáo sinh ra từ trong nghi lễ Phật giáo, là kết quả của quá trình vận động liên tục từ sự biến đổi, hình thành tông phái đến diễn trình truyền thừa vào các nền văn hóa khác nhau mà tính nhiều tầng, nhiều lớp trong âm nhạc Phật giáo Việt Nam là một minh chứng sống động Nằm trong truyền thống âm nhạc nước nhà, âm nhạc Phật giáo lấy âm nhạc bản địa là cơ sở chính trong quá trình hình thành và phát triển Ngoài thể hiện những đặc điểm chung của một nền âm nhạc truyền thống dân tộc, âm nhạc Phật giáo Việt Nam nói chung còn là âm nhạc chức năng nên mang những đặc trưng riêng gắn với triết lý và tập quán tu tập của tôn giáo này

Có thể nói, nghiên cứu âm nhạc Phật giáo là góp phần nghiên cứu Phật giáo Việt Nam, cũng là để, thông qua đó nghiên cứu âm nhạc, văn hóa và tôn giáo Việt Nam trong lịch sử Nói cách khác, thực tế cho thấy, Phật giáo Việt Nam mang tính vùng miền và tông phái, bởi vậy nghiên cứu về tôn giáo và văn hóa Việt Nam nói chung cũng như trong nghiên cứu vùng văn hóa không thể không nghiên cứu Phật giáo Trong tương quan đó, nghiên cứu văn hóa, tư tưởng của Phật giáo Việt Nam không thể không nghiên cứu âm nhạc Phật giáo

Ở một phạm vi cụ thể, nghiên cứu âm nhạc Phật giáo qua trường hợp Thăng Long - Hà Nội, đặt trong bối cảnh vùng châu thổ Bắc bộ là góp phần chỉ ra bản chất của sự khác biệt mang tính vùng miền của âm nhạc và Phật giáo Việt Nam Với vị trí là trung tâm kinh tế, chính trị văn hóa của đất nước, nơi hội tụ tinh hoa văn hóa của dân tộc hàng nghìn năm qua, âm nhạc Phật giáo ở Hà Nội chứa đựng và còn

Trang 7

bảo lưu được nhiều yếu tố mang đặc trưng riêng; dù vậy chưa dành được những

nghiên cứu chuyên sâu Từ cơ sở lý luận và thực tiễn đó, chúng tôi chọn đề tài “Âm

nhạc trong nghi lễ Phật giáo ở Hà Nội” để viết luận án Tiến sĩ chuyên ngành Tôn

giáo học

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Với tên đề tài này, đối tượng cụ thể của luận án sẽ là vấn đề nguồn gốc, sự hình thành và diện mạo, đặc biệt là chức năng của âm nhạc cùng mối quan hệ âm nhạc - nghi lễ Phật giáo ở Hà Nội; một số đặc trưng cơ bản của âm nhạc Phật giáo; các lớp văn hóa âm nhạc, tôn giáo, tín ngưỡng trong âm nhạc và nghi lễ Phật giáo ở Hà Nội

2.2 Phạm vi nghiên cứu

Về không gian, thứ nhất, luận án nghiên cứu âm nhạc Phật giáo ở Hà Nội chỉ

nghiên cứu phong cách Hà Nội Do vậy, ngoài những chùa trên địa bàn Hà Nội cũ

(trước năm 2008), chúng tôi còn khảo sát một số chùa nằm ở phụ cận có thực hành

phong cách này; và như vậy, các phong cách địa phương khác có mặt trên địa bàn Hà

Nội hiện nay không thuộc phạm vi nghiên cứu của luận án này Thứ hai, công trình tập trung nghiên cứu đặc điểm của trường hợp hai không gian nghi lễ tiêu biểu là lễ Thường nhật và lễ Trai đàn chẩn tế

Về âm nhạc, các khía cạnh tôn giáo học của âm nhạc trong nghi lễ sẽ được quan tâm nghiên cứu trước hết của luận án; vấn đề âm nhạc học có được đề cập nhưng chỉ dừng lại ở một số đặc trưng cơ bản như quan hệ ca từ, giai điệu, tổ chức và chức năng của nhạc khí; vai trò, chức năng của các nhịp trống - có so sánh với một số thể loại âm nhạc truyền thống vùng châu thổ Bắc bộ và âm nhạc Phật giáo ở Thái Bình

Về tên gọi, luận án “âm nhạc trong nghi lễ Phật giáo ở Hà Nội” là nhấn mạnh mối quan hệ giữa âm nhạc và nghi lễ Phật giáo Như vậy, các thể loại âm nhạc Phật giáo được đề cập với tư cách là âm nhạc Phật giáo chỉ sử dụng trong nghi lễ Phật giáo với mục đích cúng dàng chư Phật, Bồ Tát, và hóa giải chúng sinh, không có trường hợp ngoại lệ

3 Mục tiêu, mục đích nghiên cứu

Trang 8

3.1 Mục tiêu nghiên cứu của luận án là đạt được kết quả mà ở đó thể hiện những đóng góp, phát hiện mới với các kết luận như: diện mạo của âm nhạc Phật giáo; chức năng và mối quan hệ giữa âm nhạc với nghi lễ Phật giáo; đặc trưng và những lớp văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng trong âm nhạc nghi lễ Phật giáo ở Hà Nội

3.2 Mục đích nghiên cứu chính của luận án là đem kết quả nghiên cứu, bao gồm

cơ sở lý luận và thực tiễn cũng như những kết luận khoa học vào ứng dụng trong nghiên cứu và đào tạo chuyên ngành tôn giáo học và âm nhạc truyền thống dân tộc

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trên cơ sở nguồn tài liệu gốc là kinh điển Phật giáo và các bộ quốc sử, tài liệu thứ cấp, tài liệu điền dã trực tiếp và các lý thuyết nghiên cứu, luận án xây dựng, làm rõ cấu trúc, diện mạo của đối tượng nghiên cứu để trả lời các câu hỏi: 1 Âm nhạc xuất hiện trong nghi lễ Phật giáo ở Hà Nội từ khi nào; 2 Âm nhạc có chức năng và ý nghĩa như thế nào trong nghi lễ Phật giáo ở Hà Nội; 3 Âm nhạc Phật giáo ở Hà Nội có những đặc trưng cơ bản nào khác biệt và tương đồng so với một số thể loại âm nhạc phổ biến ở vùng châu thổ Bắc bộ và âm nhạc Phật giáo ở một địa phương cụ thể cùng khu vực?

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Âm nhạc Phật giáo là kết quả của quá trình hình thành, vận động, bồi đắp và phát triển liên tục từ các lớp văn hóa qua lịch sử Những cơ sở hình thành âm nhạc Phật giáo, những thăng trầm của âm nhạc Phật giáo gắn bó mật thiết với hoàn cảnh và những biến cố lịch sử; yếu tố vùng miền, sự phân hóa ngay trong nội bộ các tiểu vùng cũng ảnh hưởng không nhỏ tới sắc thái và đặc trưng của âm nhạc Phật giáo ở từng địa phương Nói cách khác, âm nhạc Phật giáo ở Hà Nội nằm trong tổng thể nguyên hợp cũng như sự tác động của các yếu tố lịch sử, địa lý, con người và mối liên hệ qua lại giữa các yếu tố đó Vì vậy, để tiếp cận, làm rõ bản chất của đối tượng nghiên cứu, luận

án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ nghĩa duy vật biện chứng trong triết học Mác-Lênin và một số lý thuyết trong nghiên cứu văn hóa, âm nhạc, tôn giáo và xã hội học

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Trang 9

Luận án tiếp cận tổng thể đối tượng, do đó các phương pháp liên ngành tôn giáo,

xã hội và âm nhạc học sẽ được ứng dụng trong nghiên cứu này

5.2.1 Sử dụng phương pháp nghiên cứu văn bản học khi tiếp cận kinh điển Phật giáo và các bộ quốc sử để “mở” các từ khóa là khái niệm, thuật ngữ liên quan đến âm nhạc và nghi lễ Phật giáo; tìm hiểu bản chất cũng như nội hàm của khái niệm; nghĩa đen hoặc nghĩa bóng của khái niệm căn cứ vào bối cảnh của khái niệm để thông qua

đó, tìm hiểu nguyên nhân, nguồn gốc xuất hiện và những ghi nhận về sự có mặt của âm nhạc Phật giáo qua lịch sử;

5.2.2 Phương pháp điền dã, trong đó sử dụng căn bản hai thao tác phỏng vấn sâu (hỏi từng sư tăng, từng chùa theo nhóm chủ đề) và phỏng vấn tham dự (hỏi trong quá trình diễn ra nghi lễ) phối hợp quay phim-ghi hình tư liệu, ;

5.2.3 Phương pháp so sánh đối chiếu, trong đó sử dụng hai thao tác là so sánh theo chiều ngang để chỉ ra mối quan hệ giữa âm nhạc Phật giáo với âm nhạc truyền thống trên cùng khu vực; so sánh theo chiều dọc để tìm hiểu sự tương đồng và khác biệt của âm nhạc Phật giáo ở các địa phương khác (ở đây là Hà Nội, Thái Bình và Huế), từ đó chỉ ra tính vùng miền và diện mạo của âm nhạc Phật giáo ở Hà Nội hiện nay và mối liên hệ qua lại của nó với âm nhạc truyền thống trên cùng khu vực trong lịch sử

5.2.4 Phương pháp phân tích âm nhạc học để tìm ra những đặc điểm cơ bản trong thể loại, giai điệu âm nhạc, khí nhạc và nhịp trống của âm nhạc Phật giáo ở Hà Nội; sự có mặt của từng thành tố âm nhạc trong từng giai đoạn/ bước lễ trong nghi lễ Phật giáo

5.2.5 Phương pháp nghiên cứu lịch sử, trong đó phối hợp sử dụng hai phương pháp lịch đại và đồng đại để đặt sự phát triển của âm nhạc Phật giáo trong dòng chảy của lịch sử, đồng thời nhìn nhận những biến cố lịch sử như là những nguyên nhân căn bản tác động và làm ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển chung của âm nhạc Phật giáo

5.2.6 Phương pháp tâm lý học tôn giáo để nghiên cứu niềm tin tôn giáo của người tu hành và Phật tử thể hiện thực tế trong các đàn lễ và qua các câu chuyện lịch

sử

Trang 10

6 Những đóng góp của luận án

Về cơ sở lý luận, có thể khẳng định, đây là công trình đầu tiên sử dụng các lý thuyết và phương pháp nghiên cứu liên ngành khoa học xã hội, tôn giáo học và nghệ thuật trong nghiên cứu âm nhạc Phật giáo ở Hà Nội

Về cơ sở thực tiễn, đây cũng là công trình nghiên cứu đầu tiên, toàn diện về nguồn gốc, diện mạo và chức năng của âm nhạc Phật giáo ở Hà Nội, đặc biệt là phương diện tôn giáo học, trên cơ sở các nguồn cổ sử và quá trình điền dã, nghiên cứu trực tiếp các nghi lễ Phật giáo tại Hà Nội và nhiều tỉnh thành vùng châu thổ Bắc bộ Hai nghi lễ Thường nhật và Trai đàn chẩn tế ở châu thổ Bắc bộ cũng là vấn đề đầu tiên được tác giả nghiên cứu qua luận án này

Nguồn tài liệu được sử dụng trong luận án đảm bảo độ tin cậy cao và có thể kiểm chứng được Vì vậy, kết quả của luận án sẽ là nguồn tài liệu khoa học hữu ích trong nghiên cứu Phật giáo Việt Nam, cũng là nguồn tư liệu cần tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy âm nhạc truyền thống và một số lĩnh vực liên ngành gần ở nước

ta trong bối cảnh hiện nay

Chương 2: Đặc điểm của nghi lễ Phật giáo và nguồn gốc, diện mạo của âm

nhạc trong nghi lễ Phật giáo ở Hà Nội;

Chương 3: Chức năng và một số đặc trưng của âm nhạc Phật giáo ở Hà

Nội;

Chương 4: Vấn đề bảo tồn và phát huy âm nhạc Phật giáo ở Hà Nội hiện

nay

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

1.1 NGUỒN TÀI LIỆU

1.1.1 Tài liệu gốc từ kinh điển Phật giáo và các bộ quốc sử, khảo cổ

1.1.1.1 Các bộ kinh điển của Phật giáo

Kinh điển của Phật giáo được luận án sử dụng gồm các bộ là Giới luật Thiết

yếu hội tập (quyển 5), Hội Giải giới bổn Bồ Tát trong kinh Phạm Võng (Nxb Tôn

giáo - 2011), Kinh Dược sư (Nxb Tôn giáo - 2002), kinh Vu Lan (Nxb Tôn giáo - 2008), kinh A Di Đà (Tổ đình Viên Minh, Quang Lãng, Phú Xuyên, Hà Nội xuất bản), kinh Cứu khổ (Nxb Hồng Đức), kinh Bổn Môn Pháp Hoa (Nxb Thành phố

Hồ Chí Minh), kinh Địa Tạng (Nxb Tôn giáo - 2005), kinh Phạm Võng, Phẩm Bồ

Tát Tâm Địa (Nxb Tôn giáo - 2011); ngoài ra còn một số bộ kinh tham khảo là

Vãng sinh Tịnh độ, Lương Hoàng Sám, Pháp Hoa, Báo Ân

Đây là nguồn tài liệu quan trọng để nghiên cứu nguồn gốc sự xuất hiện của

âm nhạc Phật giáo ở Hà Nội Đồng thời, những bộ kinh được đề cập trên đây là nguồn tư liệu nghiên cứu đặc trưng của âm nhạc Phật giáo ở Hà Nội, trước hết trên phương diện ca từ - thể loại văn học Và quan trọng, nhiều bộ kinh trong số này được tụng trong các nghi lễ mà luận án nghiên cứu

1.1.1.2 Các bộ quốc sử

Luận án căn cứ vào các mô tả và đề cập về đối tượng nghiên cứu trong lịch

sử cổ - trung và cận - hiện đại

Các cuốn cổ sử, gồm An Nam Chí Lược (Lê Tắc, Nxb Thuận Hóa và Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, Huế - 2002), Thiền Uyển Tập Anh (Ngô Đức

Thọ - Nguyễn Thúy Nga dịch và chú thích; dịch theo nguyên bản chữ Hán Trùng

San; Nxb Văn học và Phân Viện Nghiên cứu Phật học, Hà Nội - 1990), Đại Việt Sử

ký Toàn thư (Dịch theo bản khắc năm Chính Hòa thứ 18 (1679), Tập I và II, Nxb

Khoa học xã hội, Hà Nội - 1998), Lịch triều hiến chương loại chí (Phan Huy Chú,

Trang 12

1.1.1.2 Tài liệu khảo cổ và mỹ thuật

Một số văn bia cổ, những bức hình chạm khắc, vẽ và in trong kiến trúc các ngôi chùa và bệ đá khuôn viên chùa như văn bia chùa Đọi, Hà Nam, các nhạc cụ trên bệ đá chùa Vạn Phúc (Chùa Phật Tích, xã Phật Tích, huyện Tiên Du - Bắc Ninh, Thế kỷ 11 - 12), hình người Tấu nhạc (Vì nóc thượng điện chùa Thái Lạc, Hưng Yên, gỗ Thế kỷ 13-14), Trình tấu âm nhạc: đàn tỳ bà và đàn nguyệt ( khắc gỗ, chùa Thái Lạc, Lạc Hồng, Văn Lâm - Hưng Yên, Thế kỷ 13 - 14), Trình tấu âm nhạc: đàn tranh và sáo (khắc trên gỗ, Chùa Thái Lạc, Lạc Hồng, Văn Lâm - Hưng Yên), Trình tấu âm nhạc: Tiêu và nhị (khắc gỗ, Chùa Thái Lạc, Lạc Hồng, Văn Lâm - Hưng Yên), Vũ điệu dâng hoa (khắc gỗ, chùa Thái Lạc, Lạc Hồng, Văn Lâm

- Hưng Yên), Vũ điệu dâng hoa (Khắc gỗ, Chùa Dâu, Thanh Khương, Thuận Thành

- Bắc Ninh), Vũ điệu dâng hoa (Khắc gỗ, Cồn Chè - Nam Định), Bát bộ Kinh Kim

Cương Bồ Tát cầm đàn Tam và Nhị (Chùa Nôm, Văn Lâm, Hưng Yên), Bồ Tát Chuẩn Đề cầm Chuông - Linh (Chùa Đào Xuyên, Đa Tốn, Gia Lâm, Hà Nội), Bồ Tát Chuẩn Đề cầm Chuông (Chùa Kiêu Kỵ, Kiêu Kỵ, Gia Lâm, Hà Nội), tượng Tứ Linh Thiên Vương cầm đàn (Chùa Linh Đàm, Hoàng Mai)

Nguồn tài liệu này góp phần nhấn mạnh thêm sự xuất hiện, vai trò, chức năng của âm nhạc cũng như quan điểm của Phật giáo đối với âm nhạc trong đời sống văn hóa Phật giáo ở Hà Nội nói riêng, vùng châu thổ Bắc bộ nói chung

Trang 13

Dampier (2007), Một chuyến du hành đến Đàng ngoài năm 1688, Nxb Thế giới,

Hà Nội; cận hiện đại có Về Văn hóa tín ngưỡng truyền thống người Việt (Léopold Cadière, Đỗ Trinh Huệ dịch, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội - 1997), Những

người bạn cố đô Huế (B.A.V.H, Tập IV - 1917, Đặng Như Tùng dịch, Tôn Thất

Hanh hiệu đính, Nhị Xuyên, Lê Văn biên tập, Nxb Thuận Hóa, Huế, 1998), Hiểu

biết về Việt Nam ( Pierre Huard - Ủy viên danh dự Trường Viễn Đông Bác Cổ và

Maurice Durand - Ủy viên Trường Viễn Đông Bác Cổ, Đỗ Trọng Quang dịch, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội - 1993) 1 Luc Benoist (2006), Dấu hiệu, biểu trưng và

thần thoại, Nxb Thế giới, Hà Nội; Mario Sica (2013), Những lữ khách Ý trong hành trình khám phá Việt Nam, Nxb Thế giới, Hà Nội

Những tư liệu này đã ít nhiều đề cập đến các vấn đề có liên quan tới lễ nghi

và âm nhạc Phật giáo, đồng thời cung cấp bối cảnh lịch sử để luận án có thể tham khảo hoặc kế thừa phương pháp luận nghiên cứu

1.1.3 Tài liệu điền dã

Đề tài luận án còn dựa trên cơ sở tư liệu quan trọng khác là qua điền dã, khảo sát và nghiên cứu trực tiếp, trong đó:

Tư liệu phỏng vấn tham dự các nghi lễ tại một số ngôi chùa ở Hà Nội và vùng châu thổ Bắc bộ, sẽ nói ở phần diện mạo âm nhạc Phật giáo ở Hà Nội - tiểu mục 1 chương 3 Đây là những ngôi chùa thường xuyên tổ chức các nghi lễ lớn, ở

đó cho thấy tương đối đầy đủ diện mạo cũng như phong cách âm nhạc Phật giáo ở

Hà Nội nói riêng, Phật giáo Đại thừa vùng châu thổ Bắc bộ nói chung

Cùng với quá trình tiếp cận các nghi lễ, chúng tôi còn tiến hành phỏng vấn sâu các chức sắc tôn giáo của Giáo hội, trụ trì chùa và một số cư sĩ tại gia, Phật tử

có hiểu biết sâu và chuyên thực hiện các nghi lễ Phật giáo ở Hà Nội (xin xem phần Phụ lục 2)

Theo chúng tôi, trên đây là nguồn tư liệu quan trọng bậc nhất trong luận án này để khẳng định diện mạo và đặc trưng của âm nhạc Phật giáo ở Hà Nội hiện nay

và sự kế thừa, phát triển của nó trong lịch sử qua nghiên cứu liên hệ với nguồn tư liệu gốc khác

Trang 14

1.1.4 Tài liệu tham khảo

1.1.4.1 Những nghiên cứu liên quan đến Âm nhạc Phật giáo Việt Nam

Luận án tham khảo những công trình nghiên cứu trực tiếp hoặc gián tiếp về

âm nhạc Phật giáo ở Việt Nam như Nhạc lễ Phật giáo xứ Huế (Nguyễn Hữu Thông

chủ biên, Nxb Văn hóa Thông tin và Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam, Hà Nội -

2008), Góp phần tìm hiểu Lễ nhạc Phật giáo xứ Huế (Phạm Hồng Lĩnh, Luận văn

thạc sĩ Văn hóa học, Viện Nghiên cứu Văn hóa, Viện khoa học xã hội Việt Nam,

Hà Nội - 2009), Âm nhạc cổ truyền Việt Nam (Luận án Tiến sĩ dân tộc nhạc học; Trần Văn Khê, bản dịch tại thư viện Viện Âm nhạc), Lược sử âm nhạc Việt Nam

(Giáo trình bậc đại học - Thụy Loan, Nxb Âm nhạc và Nhạc Viện Hà Nội - 1993),

Lịch sử Âm nhạc Việt Nam, phần Về âm nhạc Phật giáo Việt Nam (Lê Mạnh Thát,

Nxb Thành phố Hồ Chí Minh-2000)

Đây là những nguồn tài liệu có liên quan nhiều đến âm nhạc Phật giáo và âm nhạc truyền thống dân tộc, sẽ cung cấp cho chúng tôi những thông tin quan trọng về diện mạo của âm nhạc Phật giáo địa phương và mối quan hệ giữa âm nhạc Phật giáo với âm nhạc truyền thống

1.1.4.2 Những nghiên cứu về Phật giáo Việt Nam từ thế kỷ XX

Luận án còn tham khảo một số công trình nghiên cứu về Phật giáo như Việt

Nam Phật giáo sử luận (Nguyễn Lang, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh - 1994), Lịch

sử Phật giáo Việt Nam (Lê Mạnh Thát, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh - 2005), Đại cương Triết học Việt Nam (PGS.TS Nguyễn Hùng Hậu chủ biên, Nxb Khoa học

Xã hội, Hà Nội - 2000), Tổng tập văn học Việt Nam (Lê Mạnh Thát, Nxb Văn học,

Hà Nội - 1996) Những nguồn tư liệu này không nghiên cứu về âm nhạc nhưng có

đề cập tới một số khía cạnh liên quan đến âm nhạc cũng như sự xuất hiện của âm nhạc trong quá trình truyền giáo và nghi lễ Phật giáo ở Hà Nội và vùng phụ cận

1.1.4.3 Những tư liệu khác

Những cuốn tư liệu lịch sử đã đề cập ở mục 1.1.2 Ngoài ra, luận án còn sử

dụng một số sách lý luận liên ngành khác như Lý thuyết vùng văn hóa trong Vùng

Văn hóa và Phân vùng Văn hóa ở Việt Nam của Ngô Đức Thịnh (Nxb Khoa học xã

Trang 15

hội, Hà Nội, 2004), Lý thuyết chức năng trong Lịch sử và lý thuyết xã hội học (Lê

Ngọc Hùng, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2011), Lý thuyết về sự nhiều tầng, nhiều lớp trong âm nhạc cổ truyền Việt Nam của PGS.TS Nguyễn Thụy Loan, như

Lược sử âm nhạc Việt Nam (Giáo trình đại học), Nxb Âm nhạc, 1993; Âm nhạc cổ truyền Việt Nam, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội, 2006; Thường thức về âm nhạc cổ truyền Việt Nam và Lịch sử âm nhạc, Nxb Giáo dục, 2001 Đây là những tài liệu

quan trọng và có giá trị trên phương diện phương pháp luận giúp tác giả luận án triển khai hướng đi cũng như tiếp cận đối tượng nghiên cứu một cách khoa học và khách quan Ngoài ra, những vấn đề liên quan đến đối tượng nghiên cứu, ngoài nhìn nhận trực tiếp từ những nghiên cứu âm nhạc Phật giáo, còn có những nghiên cứu liên ngành văn hóa học và âm nhạc học ở các loại hình tín ngưỡng khác nói chung

Đó là các công trình: Tôn giáo tín ngưỡng và âm nhạc cổ truyền của PGS.TS Nguyễn Thụy Loan, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, số 07 năm 2007; Những biến đổi

trong thực hành âm nhạc tang lễ của người Việt vùng châu thổ Bắc bộ từ sau đổi mới đến này qua trường hợp Bắc Ninh của tác giả luận án, Tạp chí Nhân lực khoa

học xã hội, số 01 năm 2012; Hát văn của Ngô Đức Thịnh (chủ biên), Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội năm 2009; Âm nhạc Hát văn của Thanh Hà, Nxb Âm nhạc, Hà Nội năm 1995; Nghệ thuật Hát văn và Tín ngưỡng Tứ phủ, của Bùi Trọng Hiền, Tạp chí

Văn hóa Nghệ thuật, số 2, Hà Nội năm 2007

Đây là những công trình, như trên đã trình bày, ít nhiều đề cập đến đối tượng nghiên cứu của luận án, đặc biệt là những nghiên cứu liên quan đến vấn đề âm nhạc tôn giáo, tín ngưỡng Những công trình đã cung cấp cho luận án trên cả hai phương diện: âm nhạc học và lý luận về tôn giáo, đặc biệt là tín ngưỡng, tôn giáo, một bộ phận không thể thiếu trong luận án

1.2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU

1.2.1 Những công trình tiếp cận dưới góc độ âm nhạc học

Cho đến thời điểm này chưa có công trình nào nghiên cứu về âm nhạc Phật giáo ở Hà Nội một cách sâu sắc và toàn diện Tuy nhiên, những nghiên cứu trước ít nhiều đề cập và liên quan đến vấn đề nghiên cứu dưới góc độ âm nhạc học, đó là

Trang 16

các tác giả Trần Văn Khê (Pháp) với Du ngoạn trong Âm nhạc truyền thống Việt

Nam (Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh - 2004), Nguyễn Hữu Thông (chủ biên), Nhạc lễ Phật giáo xứ Huế, Phân viện Văn hóa nghệ thuật Việt Nam tại Huế, Nxb Thành

phố Hồ Chí Minh, 2008, Nguyễn Đình Lâm, “Âm nhạc Phật giáo trong nghi lễ cầu

siêu”, Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật, số 6, năm 2008, Hà Nội; “Diễn xướng thanh nhạc trong nghi lễ Phật giáo (trường hợp lễ cầu siêu)”, Tạp chí nghiên cứu Tôn

giáo, số 12, 2008, Hà Nội; “Tổ chức dàn nhạc trong nghi lễ cầu siêu”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 1 năm 2009 Lê Toàn với “Bước đầu tìm hiểu âm nhạc

Phật giáo ở Bắc Ninh: trường hợp lễ cầu siêu” trên Tạp chí Di sản Văn hóa, Cục Di sản Văn hóa, số 02 năm 2008 Phạm Hồng Lĩnh với Góp phần tìm hiểu Lễ nhạc

Phật giáo xứ Huế, Luận văn Thạc sĩ Văn hóa học, Viện Nghiên cứu Văn hóa, Viện

Khoa học xã hội Việt Nam, Hà Nội 2009 Nguyễn Thuyết Phong (Mỹ) trong “Bản

sắc Lễ nhạc Phật giáo Việt Nam” in trong Nghệ thuật Phật giáo trong đời sống hôm

nay (GS Hoàng Chương chủ biên, Nxb Dân trí, Hà Nội - 2010), Bùi Trọng Hiền

với “Nhạc Phật giáo”, trong 1000 năm âm nhạc Thăng Long-Hà Nội (quyển 2 -

Nhạc cổ truyền), Nxb Âm nhạc, Hà Nội - 2010

Trên đây là những công trình, bài viết nghiên cứu dưới góc nhìn âm nhạc học Mặc dù còn những hạn chế khác nhau nhưng các công trình đã đóng góp những mặt sau

Thứ nhất, về tên gọi thể loại, bài bản và đặc điểm “nhạc hát”, trong các nghiên cứu trên phần lớn đã chỉ ra được sự phong phú, đa dạng tên gọi và, ở mức

độ nông sâu khác nhau, đề cập đến đặc điểm âm nhạc của các thể loại âm nhạc Phật giáo và hình thức, không gian diễn xướng của nó ở cả ba miền Bắc - Trung - Nam, đáng chú ý là âm nhạc Phật giáo Huế, góp phần tái khẳng định và bổ sung tên gọi thể loại âm nhạc Phật giáo hiện đang được sử dụng Về vấn đề này, các tác giả đều cho biết có bốn thể loại, hình thức căn bản nhất hiện có mặt trong đời sống âm nhạc Phật giáo Việt Nam đó là Tán, Tụng, Niệm, Thỉnh mà hai trong số đó (Tán - Tụng) cũng đã được ghi nhận có từ thế kỷ thứ V-VI trong thư tịch cổ

Trang 17

Tác giả và đại diện nhóm tác giả ở Huế (Huy Thông và Phạm Hồng Lĩnh) đã

cơ bản đưa đến một cái nhìn tương đối đầy đủ và toàn diện, ở một mức độ nào đó, diện mạo âm nhạc Phật giáo xứ Huế, từ tên gọi bài bản cho đến đặc điểm âm nhạc, thang âm cùng với hệ thống nhạc khí và ý nghĩa sử dụng của chúng Bên cạnh đó, các tác giả cũng đã chỉ ra được những ảnh hưởng qua lại giữa âm nhạc Phật giáo Huế và âm nhạc truyền thống địa phương, góp phần khẳng định mối quan hệ hữu cơ giữa âm nhạc truyền thống (với vai trò là cơ sở) và âm nhạc Phật giáo như một quy luật có tính tất yếu

Hai tác giả Trần Văn Khê và Nguyễn Thuyết Phong, mặc dù không đi vào chi tiết song với cái nhìn khái quát đã chỉ ra những vấn đề căn bản về vai trò, vị trí và ý nghĩa của âm nhạc Phật giáo trong nền âm nhạc truyền thống Việt Nam Chủ yếu đặt nghiên cứu âm nhạc Phật giáo ở khu vực Huế và Nam bộ, hai tác giả cũng đã cho biết một số tên gọi thể loại, trong so sánh với âm nhạc Phật giáo Bắc bộ, mang đặc trưng riêng và đã thể hiện rõ yếu tố vùng miền Đó là các thể loại Hương Huê thỉnh, Dương chi, Tịnh Thủy, Nguyên tiêu, Nguyện sanh

Ở khu vực Hà Nội, tác giả luận án và nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền cũng bước đầu nghiên cứu vấn đề, trước hết ở khía cạnh bài bản, tổ chức nhạc khí Trong

đó, những nghiên cứu của tác giả luận án công bố trên Tạp chí chuyên ngành từ năm 2008 đã chỉ ra hệ thống tên gọi và đặc điểm các thể loại âm nhạc Phật giáo ở đây, gồm nhiều thể loại thanh nhạc, trong đó bốn thể loại, hình thức được sử dụng phổ biến với thời lượng lớn là Canh (tán), Kệ, Kinh (tụng), Than, Thỉnh, đồng thời bước đầu đề cập đến vấn đề thang âm trong Tán Canh Năm 2010, tác giả Bùi Trọng Hiền công bố bài báo khoa học liên quan và có đề cập đến các thể loại trên, trong đó một số tên gọi thể loại khác được nhắc đến như Xướng lễ, Bạch và Kể hạnh Nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền cũng đã bước đầu đề cập đến vấn đề cấu trúc bài bản gắn với khái niệm “Đận” trong âm nhạc Phật giáo ở Hà Nội

Liên quan đến vấn đề tên gọi, từ năm 2006, tác giả luận án đã tìm hiểu về đặc điểm thể loại âm nhạc Phật giáo khác nhau có yếu tố vùng, qua nghiên cứu các vùng Canh ở vùng châu thổ Bắc bộ và cho thấy, ở riêng Hà Nội có một hệ thống tên

Trang 18

gọi bài bản nhạc hát khá phong phú, nhiều trong đó mang tính đặc trưng so với âm nhạc Phật giáo ở các địa phương khác cùng khu vực Đặc biệt là vấn đề Tổ nghề gắn với khái niệm “lò Canh”; đó là lò Canh chùa Bộc, Quảng Bá - Tây Hồ và lò Canh chùa Thanh Nhàn; cùng với đó là tên gọi của 13 thể loại là: Canh Ai, Giả tổ,

Lô hương, Chí tâm, Canh Phú, Hoàng kim, Canh Thổng, Canh Hãm, Giới đinh, Tả thủ, Canh Đông ba (Ba đông - Ba tây), Bảo đỉnh và Canh Đàn thượng

Đây là những phát hiện lý thú về vấn đề liên quan đến âm nhạc Phật giáo ở

Hà Nội nói riêng của các tác giả, góp phần gợi mở hướng tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu nhiều khía cạnh khác nhau trong luận án này

Thứ hai, về tổ chức khí nhạc, như trên đã nhắc đến đôi chỗ, các nghiên cứu trên đây cũng góp phần đi đến một nhận định chung về tên gọi và việc sử dụng nhạc

cụ trong nghi lễ Phật giáo ở Việt Nam Tuy ở mỗi vùng miền có những dị biệt khác nhau trong cách sử dụng nhưng một số nhạc cụ là thống nhất như Chuông (gồm Hồng chung - đại và Chuông Gia trì ngồi tụng - tiểu), Khánh, Mõ Ngoài các nhạc khí này, các tác giả ở Huế còn đề cập đến nhiều nhạc khí có nguồn gốc dân gian khác được thực hành trong nghi lễ Phật giáo ở đây như Nhị, Sáo, Tiêu, Thanh la, Não bạt, Kiểng, Kèn và một số loại trống lớn nhỏ khác nhau Gắn với các nhạc khí

là bài bản riêng dành cho khí nhạc cũng đã được các tác giả ở Huế giới thiệu và nghiên cứu

Riêng ở Hà Nội, phần lớn tên gọi và đặc điểm của các nhạc khí trên cũng được thực hành trong các ngôi chùa ở đây, cũng đã được tác giả luận án và nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền đề cập ít nhiều trong bài viết của mình Ngoài ra, tác giả luận án còn phát hiện số lượng không ít các nhịp trống còn được bảo tồn và phát huy trong nghi lễ Phật giáo ở Hà Nội Đây có thể được coi là bài bản nhạc khí thể hiện được những đặc trưng riêng của phong cách âm nhạc Phật giáo ở Hà Nội

Có thể nói, những nghiên cứu trên đã đóng một phần quan trọng ở nhiều phương diện giúp tác giả luận án có thể kế thừa, tiếp thu để xây dựng luận án này

Có thể đưa ra một số nhận xét khái quát dưới đây

Trang 19

Một là, về phương diện tư liệu-thực tiễn, các nghiên cứu âm nhạc Phật giáo ở

cả ba miền Bắc - Trung - Nam đã cho tác giả một cái nhìn tổng quan về diện mạo

âm nhạc Phật giáo ở một số địa phương, góp phần có cái nhìn bước đầu về âm nhạc Phật giáo Việt Nam trong lịch sử và hiện tại Ở đó, các tên gọi bài bản, cả nhạc hát

và nhạc đàn, không gian thực hành và ý nghĩa sử dụng âm nhạc Phật giáo nói chung

đã ít nhiều được đề cập

Hai là, về phương diện lý luận, những nghiên cứu trên giúp tác giả bổ sung phương pháp luận khi nhìn nhận âm nhạc Phật giáo như là kết quả của quá trình tiếp nhận, kế thừa và vận động liên tục trong dòng chảy của âm nhạc truyền thống Việt Nam cũng như mối quan hệ hữu cơ giữa hai mảng âm nhạc này Đây là những vấn

đề căn bản, quan trọng giúp tác giả học hỏi và nhìn nhận khi tiếp cận đối tượng nghiên cứu; đồng thời giúp tác giả có thêm cơ sở lý luận vững chắc để khẳng định vai trò của văn hóa âm nhạc bản địa quyết định tính đặc thù âm nhạc Phật giáo ở một địa phương, vùng cụ thể Nói cách khác, các nghiên cứu trên đều cho thấy, âm nhạc Phật giáo Việt Nam thể hiện tính vùng miền một cách rõ nét và tất yếu gắn với phương ngữ và âm nhạc dân gian Đây là vấn đề tối quan trọng khi tiếp cận các hiện tượng âm nhạc truyền thống tại Việt Nam

1.2.2 Những công trình tiếp cận dưới góc nhìn sử học-Phật giáo

Ở góc độ này có các công trình đáng chú ý đã công bố của bốn tác giả là Lê Mạnh Thát, Nguyễn Lang, Thích Giác Duyên và Nguyễn Hùng Hậu Công trình của các tác giả ít nhiều đề cập đến âm nhạc Phật giáo và lịch sử của loại hình âm nhạc này nhưng đáng chú ý là đề cập một cách trực tiếp đến sự xuất hiện cũng như vai trò của âm nhạc trong nghi lễ Phật giáo Cụ thể, tác giả Lê Mạnh Thát với ba công

trình Lịch sử âm nhạc Việt Nam - từ thời Hùng Vương đến thời Lý Nam Đế, Nxb

Tp Hồ Chí Minh, 2001; Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2005; Tổng tập văn học Việt Nam, (Tập I, II), Nxb Văn học, Hà Nội, 1996

Tác giả Thích Giác Duyên với bài nghiên cứu Về nguồn gốc Chuông - Trống - Mõ đăng trên mạng điện tử (xem Danh mục TLTK) Tác giả Nguyễn Lang với công

trình Việt Nam Phật giáo sử luận, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1994 Và tác giả

Trang 20

Hai công trình sau của tác giả Nguyễn Lang và Nguyễn Hùng Hậu cũng đã

đề cập đến những vấn đề liên quan tới đối tượng nghiên cứu của luận án này Cụ thể, tác giả Nguyễn Lang đề cập đến một vấn đề đáng chú ý nhất liên quan trực tiếp đến âm nhạc Phật giáo ở Hà Nội hiện nay là vấn đề xây dựng nghi lễ Phật giáo nhập thế - đi vào dân gian qua vai trò của hai Thiền sư lỗi lạc là Trần Nhân Tông và Huyền Quang dưới thời kỳ hưng thịnh nhất của Phật giáo Việt Nam: thời Trần Sự

kiện này gắn với sự ra đời của các tác phẩm “Phật giáo Pháp sự Đạo tràng Công

Văn Cách Thức”, “ Lục thì Sám hối Khoa nghi” và “Bình đẳng Lễ Sám Văn” Đây

là những tác phẩm, theo nghiên cứu của chúng tôi, đã được Việt hóa từ bộ Thủy Lục chư khoa có nguồn gốc từ Trung Quốc, đồng thời xây dựng và bổ sung những yếu tố mới cho phù hợp với thực tiễn ở Việt Nam

Trang 21

Cùng với tác giả Nguyễn Lang, công trình của tác giả Nguyễn Hùng Hậu cũng đã “vô tình” nhắc đến một số chi tiết liên quan đến âm nhạc Phật giáo qua khảo cứu quốc sử

Nhìn một cách đại thể, ở mảng này, các tác giả đã đóng góp những vấn đề sau

Trước hết, bên cạnh các bộ quốc sử mà tác giả đã khảo cứu thì các công trình nghiên cứu trên đã cho chúng tôi có được cái nhìn xuyên suốt về quá trình xuất hiện

và phát triển của âm nhạc Phật giáo ở Giao Chỉ - Việt Nam, trong đó có Hà Nội Những nghiên cứu này cũng đã cung cấp và bổ sung thêm cho tác giả có được hiểu biết hơn về bối cảnh lịch sử cũng như môi trường sống mà âm nhạc Phật giáo đã đi

và trải qua Cũng chính từ nhiều nguồn tư liệu lịch sử khác nhau, trong đó có nguồn

tư liệu khảo cổ, mà đã cho tác giả có được kiến thức để có thể đưa ra những giả thuyết khẳng định sự phát triển liên tục của âm nhạc ở những thời kỳ mà âm nhạc Phật giáo bị “khuất” không được đề cập hoặc ít được ghi chép trong chính sử

Tiếp đến, những nghiên cứu ở mảng này là cơ sở khoa học, khách quan cho biết sự có mặt của các khái niệm, thuật ngữ liên quan đến tên gọi, hình thức diễn xướng của âm nhạc Phật giáo

Cuối cùng, các công trình đã góp phần quan trọng giúp tác giả nhận thức vấn

đề nhập thế của Phật giáo khi tiếp cận và biến những yếu tố truyền thống bản địa, trong đó có âm nhạc và các yếu tố khác phù hợp để trên đó xây dựng nhữngnghi lễ

- âm nhạc Phật giáo mang sắc thái riêng của Việt Nam và Hà Nội

1.2.3 Đánh giá chung

1.2.3.1 Những khía cạnh cho luận án kế thừa

Như trên đã trình bày một phần, các công trình nghiên cứu ở hai góc độ trên cùng với quá trình nghiên cứu riêng của tác giả đã giúp chúng tôi có được một nhận thức thống nhất và tương đối toàn diện về âm nhạc Phật giáo ở Hà Nội nói riêng, Phật giáo Việt Nam nói chung từ khởi đầu hình thành cho đến những bước phát triển của nó Những đóng góp trong các công trình nghiên cứu về âm nhạc Phật giáo trên không chỉ giúp chúng tôi có được những hiểu biết về mối quan hệ của âm

Trang 22

nhạc Phật giáo với âm nhạc truyền thống của từng vùng, miền mà quan trọng, còn giúp cho chúng tôi có được cách tiếp cận (cùng với các lý thuyết nghiên cứu) cũng như phương pháp luận để nghiên cứu luận án này

Nhìn một cách đại thể, đây là những công trình công phu, nghiêm túc bởi tính khoa học và sự phong phú về nguồn tư liệu chính sử được ghi chép qua lịch sử Ở công trình của tác giả Nguyễn Lang, với nhãn quan vừa là người tu hành, vừa là một học giả, ông đã cung cấp hệ thống luận điểm có giá trị về văn hóa và lịch sử Phật giáo, trong đó có âm nhạc Từ đó cho chúng tôi thấy được, Phật giáo Việt Nam, đặc biệt là Phật giáo Bắc tông, có đặc điểm tương đối khác so với Nam tông ở một số vùng miền khác của Việt Nam Điều này bổ sung vấn đề liên quan đến việc nhìn nhận âm nhạc mang tính tông phái và vùng miền Cũng qua Việt Nam Phật giáo sử luận, đặc biệt là qua nguồn tư liệu được tổng hợp, đánh giá giai đoạn Phật giáo Việt Nam những thế kỷ đầu sau Công nguyên đã cho thấy Phật giáo nước nhà

có sự hỗn dung với bốn yếu tố chính: Nho, Phật, Đạo và văn hóa tín ngưỡng bản địa Điều này làm rõ hai điểm: thứ nhất, nếu như yếu tố âm nhạc trong Phật giáo truyền thống có vẻ mờ thì quá trình nhập thế, hỗn dung tôn giáo hay thông qua lăng kính của tôn giáo khác, đặc biệt của Nho giáo, âm nhạc đã đi vào đời sống văn hóa Phật giáo nói chung một cách tích cực và có tổ chức rõ ràng Điều này thể hiện rõ nhất ở yếu tố dàn nhạc, theo cơ cấu Bát âm qua quan niệm của Trung Hoa (thực chất là quan niệm Nho giáo) Thứ hai, trên tinh thần nhập thế, sự hòa hợp trong thực hành âm nhạc Phật giáo tiếp tục được bồi đắp trên cơ sở nền tư tưởng dung hợp tam giáo và nền âm nhạc dân gian truyền thống của dân tộc

Ở các công trình âm nhạc Phật giáo xứ Huế, tính chất văn hóa Huế cũng như đặc điểm phương ngữ quy định ngôn ngữ đặc trưng trong âm nhạc nói chung, âm nhạc Phật giáo xứ Huế nói riêng Từ đặc trưng âm nhạc Phật giáo xứ Huế, việc phân chia thể loại âm nhạc, tổ chức dàn nhạc và nhạc cụ, và đặc biệt là phân tích bài bản âm nhạc Phật giáo ở đây cũng góp phần cung cấp cái nhìn cụ thể và đa diện giúp chúng tôi xây dựng luận án này

Trang 23

Như trên đã đề cập, âm nhạc Phật giáo Việt Nam nói chung, mặc dù có đặc thù riêng bởi tính vùng miền và tông phái nhưng đều có những đặc điểm chung được quy định bởi nguồn gốc, quá trình du nhập trên cơ sở các tầng văn hóa truyền thống Việt Nam Vì vậy, kế thừa nghiên cứu mới này sẽ giúp chúng tôi khẳng định

sự tương đồng trong âm nhạc Phật giáo Việt Nam trong lịch sử nhưng đồng thời thấy được sự phát triển liên tục và sức sống của âm nhạc Phật giáo Việt Nam từ trước tới nay

1.2.3.2 Những khoảng trống để luận án nghiên cứu

Về cơ sở lý luận, các nghiên cứu chuyên về âm nhạc lại chưa có những nghiên cứu sâu về “tính chất tôn giáo (Phật giáo)” của âm nhạc Nói đúng hơn, chưa

có công trình nào làm rõ và sâu về chức năng và ý nghĩa của âm nhạc cũng như mối quan hệ hữu cơ giữa âm nhạc và nghi lễ Phật giáo; những vấn đề căn bản của tập quán tu tập và quan hệ ngôn ngữ Phật giáo ảnh hưởng đến đặc trưng và cấu trúc âm nhạc cũng chưa được phát hiện, đề cập

Ngược lại, những nghiên cứu dưới góc nhìn lịch sử thì chưa thể “chạm” tới hoặc có được mô tả, nhận xét cụ thể về những vấn đề đề cập, đó là các sự kiện liên quan đến âm nhạc Phật giáo được trích dẫn trong các công trình

Về cơ sở thực tiễn, những bài viết của tác giả luận án và một bài của nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền về âm nhạc Phật giáo ở Hà Nội cũng chỉ mới dừng lại ở việc giới thiệu, mô tả một mảng hoặc một số khía cạnh của thể loại, chưa đưa ra được cái nhìn tổng thể cũng như diện mạo cùng với những đánh giá, kết luận khoa học về nhiều vấn đề có tính bản chất trong âm nhạc Phật giáo địa bàn này

Như vậy, thông qua xem xét, đánh giá ba công trình nghiên cứu có liên quan trực tiếp tới đề tài luận án cho chúng tôi nhận thấy, các công trình trên đây là nguồn

tư liệu quý đối với việc tham khảo, nghiên cứu đối tượng và phạm vi đã đặt ra trong luận án này Hai công trình đầu tiên tuy không đề cập đến góc độ âm nhạc học nhưng là những nguồn tư liệu giúp tác giả có được cơ sở tài liệu khoa học để kế thừa, nghiên cứu và khẳng định sự phát triển liên tục của âm nhạc Phật giáo Việt Nam nói chung, Hà Nội nói riêng Cũng như vậy, mặc dù Nhạc lễ Phật giáo xứ Huế

Trang 24

không thuộc đối tượng nghiên cứu trực tiếp của luận án này nhưng cũng đã cung cấp cách tiếp cận cũng như phương pháp luận và những vấn đề thực tiễn trong nghiên cứu âm nhạc Phật giáo ở một vùng cụ thể - để luận án của chúng tôi tiếp tục

kế thừa và phát triển trong nghiên cứu này

1.2.4 Những vấn đề đặt ra

Như vậy, những nghiên cứu về âm nhạc Phật giáo nói chung ở Việt Nam và

Hà Nội ít nhiều đã được đề cập Nguồn tư liệu về những vấn đề liên quan bao quát

cả trên phương diện lịch sử, văn hóa và âm nhạc Phật giáo Đó là những tư liệu quý,

là cơ sở khách quan để chúng tôi tiếp tục kế thừa và phát triển trong luận án Tiến sĩ Tôn giáo học này Từ cơ sở lý luận và thực tiễn còn bỏ ngỏ, luận án sẽ tập trung giải quyết những vấn đề liên quan trực tiếp đến đối tượng nghiên cứu:

Thứ nhất là tổng hợp, khái quát lại những vấn đề cơ bản về âm nhạc Phật giáo ở Hà Nội và vùng phụ cận, có liên quan qua những khía cạnh: 1) cơ sở, quá trình hình thành; 2) chức năng, vị trí và ý nghĩa của âm nhạc Phật giáo qua trường hợp Hà Nội; 3) đặc trưng của âm nhạc Phật giáo ở Hà Nội, đặt trong bối cảnh vùng châu thổ Bắc bộ khi so sánh với âm nhạc Phật giáo ở Thái Bình; và bước đầu so sánh một vài khía cạnh của âm nhạc Phật giáo Huế Khía cạnh thứ nhất, luận án sẽ nghiên cứu để chỉ ra nguồn gốc, cơ sở hình thành, những nguyên nhân căn bản làm thay đổi, phát triển âm nhạc Phật giáo châu thổ Bắc bộ qua trường hợp Hà Nội Ở đây, luận án trả lời các câu hỏi: âm nhạc Phật giáo thực hiện chức năng như thế nào,

ý nghĩa của việc sử dụng âm nhạc Phật giáo; âm nhạc Phật giáo ở Hà Nội có những thể loại nào tiêu biểu, đặc trưng cơ bản của chúng - mối quan hệ giữa âm nhạc Phật giáo với âm nhạc truyền thống Việt Nam thể hiện như thế nào ? Đây cũng là những vấn đề cơ bản sẽ được giải quyết một cách khái quát, căn bản và tương đối đầy đủ trong luận án này trên cơ sở các lý thuyết và phương pháp nghiên cứu liên ngành, chuyên ngành

Thứ hai, trên cơ sở đó, luận án đi đến giải quyết vấn đề cơ bản đặt ra trong nghiên cứu lý luận và thực tiễn tôn giáo học và âm nhạc học hiện nay: nghiên cứu

Trang 25

nghệ thuật tôn giáo trong nghiên cứu tôn giáo học và việc tiếp cận âm nhạc tôn giáo trong nghiên cứu, bảo tồn và phát huy di sản âm nhạc truyền thống Việt Nam

1.3 KHUNG PHÂN TÍCH LÝ THUYẾT

Trong khung có sử dụng một số cụm từ viết tắt Cụ thể: Âm nhạc (ÂN), Âm nhạc Phật giáo (ÂNPG), Việt Nam (VN), Phật giáo (PG), Phật giáo Việt Nam (PGVN), Âm nhạc Phật giáo Hà Nội (ÂNPGHN)

Trước hết, như đã thể hiện trong biểu đồ trên, luận án sử dụng các lý thuyết nghiên cứu nhằm vào mục đích giải quyết các vấn đề nghiên cứu ở các phần cụ thể:

Âm nhạc trong nghi lễ Phật giáo ở Hà Nôi

ÂN có chức năng gì trong nghi lễ Phật giáo?

  Duy vật lịch

sử

ÂNPGHN có quan hệ như thế nào với âm nhạc truyền thống và ÂNPG địa phương ?

ÂN có chức năng riêng trong nghi lễ PG

ÂNPG Hà Nội: nhiều tấng, lớp; mang đặc trưng riêng; là một bộ phận của nền ÂN truyền thống VN

ÂNPG VN

và Hà Nội xuất hiện cùng PGVN

ÂNPG xuất hiện và phát triển như thế nào?

-Vùng văn hóa -Tính nhiều tầng, nhiều lớp trong ÂN truyền thống Việt Nam

- Âm nhạc phương Tây

Chức năng luận

Trang 26

- Việc sử dụng lý thuyết duy vật lịch sử trong hệ thống triết học Mác - Lênin nhằm đặt âm nhạc Phật giáo ở Hà Nội trong tính logic và lịch sử; những thăng trầm của âm nhạc trong nghi lễ Phật giáo gắn bó mật thiết với tồn tại xã hội qua các biến

cố hay bước phát triển của lịch sử Phật giáo Việt Nam nói riêng, lịch sử dân tộc nói chung Khi chiếu vào đối tượng nghiên cứu, hướng đi của luận án sẽ theo những vấn đề căn bản sau

Thứ nhất, như đã trình bày ở phần phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu, chúng tôi đặt âm nhạc Phật giáo trong dòng chảy liên tục của lịch sử Việt Nam

kể từ khi Phật giáo du nhập và nước ta Và như vậy, ở các các chương của luận án, đặc biệt là chương I và chương II căn bản chúng tôi sử dụng lý thuyết này để trình bày các dữ kiện, coi đó là quy luật tất yếu của lịch sử khi đặt âm nhạc Phật giáo không tách khỏi hoàn cảnh lịch sử cụ thể của đất nước, dân tộc trong suốt chiều dài của lịch sử

Thứ hai, với việc tiếp cận lý thuyết này còn giúp tác giả nhìn nhận và dự báo những khuynh hướng phát triển tiếp theo của âm nhạc Phật giáo trong từng bối cảnh lịch sử cụ thể Ở chương IV của luận án, tiếp nối mạch nguồn của các chương trên, chúng tôi bước đầu lý giải một số yếu tố có tính chất dự báo về sự biến đổi của âm nhạc Phật giáo ở Hà Nội theo cả hai hướng tích cực và những hạn chế, trên cơ sở đó

đề xuất một số nhóm giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy vốn di sản văn hóa độc đáo này trong những giai đoạn tiếp theo

- Lý thuyết chức năng giúp giải mã chức năng, vai trò và vị trí của âm nhạc trong tổng thể của nghi lễ Phật giáo ở Hà Nội Chúng tôi vận dụng lý thuyết này theo logic các chương của luận án, trong đó chú trọng ở phần đầu của chương III Nghiên cứu hệ thống lý thuyết này, chúng tôi được biết, một trong những người đầu tiên đặt nền móng là Karl Marx (1818-1883) khi nghiên cứu những hiện tượng xã hội dưới cái nhìn cấu trúc và phân tích mối quan hệ qua lại giữa chúng Những người kế tiếp sau có những đóng góp không nhỏ trong xây dựng và phát triển thuyết này là Herbert Spencer (1820 - 1903), Emile Durkheim (1858 -

Trang 27

Thứ hai, một cấu trúc gồm nhiều hợp phần thì mỗi phần riêng lẻ đều thể hiện, đảm nhận chức năng của mình trong tổng hòa các yếu tố tạo nên cấu trúc đó

Thứ ba, chức năng của từng bộ phận, bên cạnh những chức năng tích cực trong cấu trúc còn có loại phản chức năng, mà theo Parsons, loại chức năng này có thể làm giảm khả năng tồn tại và thích ứng của cấu trúc [31; tr 242] (nghiên cứu trường hợp âm nhạc nghi lễ Phật giáo ở Hà Nội chúng tôi không nhìn thấy khía cạnh này để phân tích)

Như vậy, bản chất của lý thuyết chức năng là nhìn nhận mỗi đối tượng riêng

lẻ trong một chỉnh thể nhất định, một cấu trúc nhất định và vai trò của các đối tượng riêng lẻ trong tổng thể một hiện tượng Việc đưa ra lý thuyết này đã góp một phần quan trọng trong nghiên cứu xã hội nói chung, triết học, tôn giáo và các khía cạnh khác của đời sống xã hội nói riêng

Cũng như nhiều nghiên cứu thành công của các học giả nước ngoài khi tiếp cận các hiện tượng dân tộc học, văn hóa và tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam dưới các góc nhìn khác nhau - điển hình là hai nhân vật nổi tiếng là Georges Condominas (1921 - 2011) và Léopold Cadière (1869 -1955) - việc ứng dụng lý thuyết chức năng nói riêng vào nghiên cứu các hiện tượng tôn giáo ở nước ta hiện nay có thể đem lại những thành quả nhất định Ở đây, chúng tôi sử dụng lý thuyết chức năng của Emile Durkheim để tìm hiểu bản chất của mối quan hệ giữa âm nhạc và nghi lễ Phật giáo qua trường hợp Phật giáo ở Hà Nội

Ở Việt Nam, Emile Durkheim là một trong những người được giới nghiên cứu tôn giáo biết đến với những đóng góp không nhỏ trong việc khai mở những cách nhìn mới khi nghiên cứu các hiện tượng tôn giáo, đặc biệt qua tác phẩm

Những hình thức sơ đẳng của đời sống tôn giáo [35; tr 320] xuất bản năm 1912

Trang 28

Theo ông, “khi người ta cắt nghĩa một hiện tượng xã hội thì cần phải tìm riêng nguyên nhân hữu hiệu là nguyên nhân sản sinh ra nó và chức năng mà nó hoàn thành” [31; tr 138] Điều này đúng khi nhìn vào hiện tượng âm nhạc Phật giáo Âm nhạc sinh ra từ trong nghi lễ Phật giáo là để thực hiện chức năng riêng, gắn với triết lý Phật giáo và bối cảnh thực tiễn ở Việt Nam Nói cách khác, âm nhạc, với tư cách là cái “sự”, lấy những âm thanh gần gũi với người dân bản địa để nhuốm cái “màu nhiệm” của cái “lý” diệu vi của Phật giáo để chuyển đến người bản địa Với triết lý vô thường, vô ngã, âm nhạc Phật giáo đã thể hiện các chức năng trong nghi lễ, chuyển hóa và truyền đạo

- Lý thuyết vùng văn hóa để tìm hiểu mối quan hệ giữa vị trí địa lý và đặc trưng văn hóa trong phạm vi nghiên cứu của luận án, trong đó phần so sánh giữa âm nhạc Phật giáo với âm nhạc truyền thống vùng châu thổ Bắc bộ và giữa âm nhạc Phật giáo ở Hà Nội với Thái Bình và Thừa Thiên Huế được vận dụng nhiều nhất ở chương III Ở đây, chúng tôi căn cứ vào nghiên cứu của GS.TS Ngô Đức Thịnh [85]

Lý thuyết này chỉ ra rằng:

Thứ nhất, văn hóa, trong đó có âm nhạc, thể hiện tính vùng rõ nét Tính vùng được quy định bởi các yếu tố về điều kiện tự nhiên, tập quán canh tác, đặc điểm về tộc người cũng như toàn bộ môi trường tự nhiên, xã hội trên một địa bàn nhất định

Thứ hai, tính vùng không chỉ biểu hiện trên một diện rộng mà còn có sự phân hóa ngay trong nội bộ vùng đó bởi các “hạt nhân” (NĐL) tạo vùng Do đó, sẽ lại có các tiểu vùng nằm trong một vùng

Như vậy, âm nhạc, với tư cách là một bộ phận của văn hóa, sẽ chịu tác động một cách trực tiếp và sâu sắc bởi các yếu tố trên Âm nhạc Phật giáo ở Hà Nội cũng nằm trong quy luật phát triển này

- Lý thuyết về tính nhiều tầng, nhiều lớp trong âm nhạc truyền thống dân tộc

để tìm hiểu, bóc tách những tầng, lớp văn hóa âm nhạc trong âm nhạc Phật giáo ở

Hà Nội Cụ thể là ở đây chúng tôi sử dụng lý thuyết của PGS.TS Nguyễn Thụy Loan [56], [57], [58] ở phần đặc trưng của âm nhạc Phật giáo Hà Nội trong chương III của luận án

Trang 29

Cần phải nói thêm rằng, lý thuyết này, về mặt nào đó, có quan hệ hữu cơ với lý thuyết trên bởi thực tế âm nhạc không chỉ chịu sự chi phối bởi các yếu tố về không gian mà quan trọng, còn chịu sự quy định trực tiếp bởi lịch sử - thời gian; sự tác động liên tục của quá trình giao lưu, giao thoa và bảo lưu các yếu tố văn hóa âm nhạc khác nhau, tạo thành những mảng “gam màu” văn hóa cũ - mới, chung - riêng trong âm nhạc truyền thống

Nội dung của lý thuyết này cũng có thể khái quát thành mấy đặc điểm dưới đây Một là, trong âm nhạc truyền thống Việt Nam, ở những môi trường thực hành và diễn xướng khác nhau sẽ có những thể loại mang đặc trưng và chức năng khác nhau Hai là, mặc dù thể hiện được đặc trưng tương đối, song các thể loại, loại hình

âm nhạc truyền thống Việt Nam thể hiện rõ tính thống nhất, có quan hệ hữu cơ với nhau từ nguồn gốc, ngôn ngữ âm nhạc cho đến một số thành phần khác như hình thức diễn xướng, nhạc cụ và việc sử dụng nhạc cụ,v.v Đó là nét nổi bật và xuyên suốt về

sự thống nhất trong đa dạng của âm nhạc truyền thống nước nhà

Ba là, từ những đặc điểm riêng, âm nhạc truyền thống Việt Nam có những mảng

âm nhạc được phân định tương đối rõ nét, trong đó đáng chú ý là âm nhạc trong và ngoài tôn giáo, tín ngưỡng, tức nhạc “thiêng” - “tục”, được sử dụng với nguyên tắc khá chặt chẽ

Chính những đặc điểm này, cùng với yếu tố vùng miền dẫn đến tính nhiều tầng, nhiều lớp không chỉ ở trong một loại hình, mà ngay trong một thể loại âm nhạc truyền thống cụ thể Âm nhạc Phật giáo không nằm ngoài khuôn hình đó mà chúng tôi sẽ phân tích thêm ở các mục cụ thể

Cần phải nói thêm rằng, mặc dù trong những nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thụy Loan chưa đi sâu vào nhiều thể loại âm nhạc tôn giáo, tín ngưỡng, song với cách tiếp cận này có thể coi là cơ sở lý thuyết khoa học, hướng đi có tính phổ quát và đảm bảo tính khách quan khi nghiên cứu âm nhạc truyền thống Việt Nam, trong đó có âm nhạc Phật giáo ở Hà Nội

Ngoài ra, luận án còn sử dụng lý thuyết âm nhạc phương Tây để mã hóa những hiện tượng âm nhạc cụ thể dưới dạng nốt nhạc ghi trên 5 dòng kẻ với những

âm hình về cao độ, trường độ, cường độ và tiết tấu để dễ dàng nhận diện và phân

Trang 30

tích diện mạo âm nhạc Phật giáo Đồng thời trong luận án chúng tôi còn sử dụng lý thuyết về cách phân loại nhạc cụ để tiếp cận khí nhạc Phật giáo Những lý thuyết này được chúng tôi vận dụng trong toàn bộ phần diện mạo và đặc trưng của âm nhạc Phật giáo, để cập ở chương II và chương III

Tiếp đề, cũng như các lý thuyết, các giả thuyết khoa học sẽ được chứng minh, trả lời một cách cụ thể trong các chương của luận án với các luận điểm cụ thể sau:

- Âm nhạc đã có mặt trong nghi lễ Phật giáo Việt Nam, trong đó có Hà Nội hàng nghìn năm qua, có ý nghĩa cả về phương diện tôn giáo và nghệ thuật;

- Âm nhạc Phật giáo là một trong những phương tiện trong tương quan Giới - Định - Tuệ để, trong việc truyền đạo và giác ngộ chúng sinh

- Âm nhạc trong nghi lễ Phật giáo ở Hà Nội thể hiện sự phong phú và mang những đặc điểm riêng (đặc điểm âm nhạc, thành phần âm nhạc) so với một số thể loại âm nhạc truyền thống vùng châu thổ Bắc bộ và âm nhạc Phật giáo ở tiểu vùng khác nhau

- Âm nhạc Phật giáo ở Hà Nội là một bộ phận của nền âm nhạc dân gian truyền thống của dân tộc

Các giả thuyết sẽ được chứng minh trong các chương và phần kết luận của luận án này

1.4 MỘT SỐ KHÁI NIỆM, THUẬT NGỮ SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN

1.4.1 Âm nhạc là một loại hình nghệ thuật âm thanh Có rất nhiều khái niệm

khác nhau về âm nhạc khi bóc tách hai từ “âm” và “nhạc” và các thành tố liên quan của

nó gắn với các không gian và môi trường khác nhau: tự nhiên và xã hội, song tựu chung lại, có thể hiểu bản chất của âm nhạc là lấy bốn yếu tố gồm cao độ, trường độ, tiết tấu, cường độ làm phương tiện diễn tả thế giới và nội tâm thông qua hoạt động sáng tạo của con người Âm nhạc, vì thế được sáng tạo bởi cá nhân, cũng có khi là của

cả một tập thể như các hiện tượng âm nhạc dân gian, cổ truyền

1.4.2 Âm nhạc Phật giáo là loại hình âm nhạc được sinh ra và sử dụng trong

nghi lễ truyền thống của Phật giáo Ngoài những yếu tố cấu thành chung, âm nhạc Phật giáo còn có thêm yếu tố “thiêng” nằm ở chỗ, được chiết xuất từ tư duy của những

Trang 31

người thấm đẫm tư tưởng và giáo lý Phật giáo gắn với ca từ, ngôn ngữ riêng nên mang những đặc trưng của âm nhạc “thiêng”, tương đối khác biệt so với âm nhạc “phàm”, tức âm nhạc dân gian truyền thống khác Âm nhạc Phật giáo là một phương tiện để thực hiện hành vi tôn giáo

1.4.3 Bùa là một dạng ma thuật được chiết xuất từ giáo lý, “kinh điển” của một

tôn giáo cụ thể nhằm mục đích giải trừ điều gì đó Ở Á Đông, bùa sử dụng phổ biến trong Đạo giáo phù thủy Bùa được thể hiện dưới hình thức “văn bản” - mật ngữ nhưng cũng có khi được vẽ dưới nhiều dạng khác nhau đồng thời được treo, dán, uống hoặc mang theo người Bùa trong nghi lễ Trai đàn chẩn tế của Phật giáo có hai loại của Mật tông: một là ghi trên giấy phẩm màu ở dạng mật ngữ, như “ úmma ni bát minh hồng”;

và hai là loại bùa được quy ước bằng cách “viết” trong không trung Ở dạng này có thể nhận thấy rất rõ trong khi pháp chủ sử dụng cây Tích trượng “viết” trong lúc phá “cửa ngục” cùng với những chân ngôn trong bước lễ triệu vong ở Trai đàn chẩn tế Cũng như các loại sớ, điệp, loại bùa được viết trên giấy sẽ được đốt - “hóa” đi sau khi thực hiện xong nghi lễ

1.4.4 Canh là danh từ chỉ một thể loại trong âm nhạc Phật giáo ở châu thổ Bắc

bộ Canh có bước di chuyển từ Tán (sẽ nói thêm ở thuật ngữ “Tán”) Cũng giống như các thể loại dân ca khác của người Việt Nam như Ca trù, Quan họ, Trống quân, Canh

có nhiều bài bản với những đặc điểm giai điệu khác nhau, trong đó nổi bật có hai tính chất âm nhạc đối lập nhau là vui (các bài bản Canh lạc), buồn (Canh ai) Không những vậy, cũng tương tự các hình thức âm nhạc dân gian khác, Canh có những đặc điểm riêng, chịu sự chi phối bởi phương ngữ cũng như thể hiện tính địa phương khác nhau Canh, vì thế được phổ biến ở Hà Nội và nhiều tỉnh thành trong vùng châu thổ Bắc bộ Riêng ở Hà Nội, Canh có các lối/giai điệu như: Canh Ai, Giới đinh, Hạc Xung thiên,

Ba đông, Ba Tây, Đàn thượng, Hãm, Thổng, Tả thủ, Hồng tự, Hoàng kim

1.4.5 Chú là một dạng mật ngữ phản ánh cô đọng tư tưởng Phật giáo, dùng để

tu tập và quán tưởng đến “cõi Phật”, đồng thời người xuất gia sử dụng Chú như một tha lực nhằm giải trừ nghiệp chướng và các tội trạng của chúng sinh trong nghi lễ Nếu như Bùa thể hiện trên cả hai hình thức trên giấy và ký hiệu mật ngữ trong khi lễ thì

Trang 32

về mặt nào đó, gần nghĩa với động từ hiến lễ, dâng lễ hay kính lễ

1.4.7 Điệp là một dạng văn bản có nội dung cụ thể dưới hình thức chữ viết,

chứa đựng nội dung phản ánh mối quan hệ giữa thế giới tục - người hành lễ với thế giới thiêng - thần linh Điệp sử dụng trong nghi lễ Phật giáo nhằm mục đích, thông qua nghi lễ, người hành lễ dâng lời khẩn cầu đến chư vị Phật, Bồ Tát và thần linh xin được gia hộ, độ trì cho chúng sinh Về hình thức, Điệp trong nghi lễ Phật giáo ở Hà Nội được trình bày dưới dạng văn tự Hán-Nôm; nội dung này được ghi trên một trang giấy sau đó được gấp kín lại, chỉ được đọc trong quá trình thực hành nghi lễ Điệp được đốt

- “hóa” đi sau khi đã được người hành lễ dâng lên thần linh Điệp, cũng gần giống với

sớ, nhưng khác ở chỗ, nếu như sớ là một công văn trình báo, thì điệp lại là công văn triệu tập

1.4.8 Kệ là “Thể văn Phật giáo Có các loại 4 chữ, 5 chữ, 6 chữ, 7 chữ và 32

chữ Là văn vần, loại thể tài giống như thơ Dùng để truyền bá giáo lý Phật pháp”[51; tr.599] Theo cách hiểu này, thì Kệ là một hình thức văn học Phật giáo khái quát hóa nội dung tư tưởng và triết lý Phật giáo Xét về góc độ nào đó, thì Kệ gần giống với hình thức nghệ thuật câu đối đã tồn tại và phát triển lâu đời ở Trung Quốc và Việt Nam Nếu như ở Trung Quốc, Kệ có các thể/ chữ trên, thì ở Việt Nam hiện nay, Kệ phổ biến là thể gồm có hình thức là năm từ và bảy từ

Kệ được sử dụng trong luận án này được nhìn nhận là một trong những thể loại

âm nhạc Phật giáo có giai điệu âm nhạc thể hiện những sắc thái riêng, có chức năng và tính chất độc lập tương đối Với vai trò và chức năng tương đối độc lập, song Kệ lại có mối quan hệ chặt chẽ với các hình thức âm nhạc khác; có thể nhìn nhận Kệ tương tự như phần Vỉa trong nghệ thuật Chèo, hay phần Bỉ trong nghệ thuật Ca trù và Quan họ

Trang 33

1.4.9 Kinh là thuật ngữ của cả Phật giáo và Nho giáo3 Riêng Phật giáo, “Kinh

là một trong Tam tạng (3 tạng), chỉ các văn hiến ghi chép sự tích điển cố Phật giáo và nội dung thuyết giáo của Phật Đà”[51; tr 683] Vậy, Kinh ở đây được hiểu là kinh sách, học thuyết phản ánh tư tưởng, nhân sinh quan và thế giới quan của đạo Phật Phật giáo sử dụng Kinh trong các khoa cúng như một quy định bắt buộc Cũng giống như Kệ, khái niệm Kinh trong luận án này chủ yếu được sử dụng để chỉ một thể loại

âm nhạc Phật giáo Kinh có giai điệu âm nhạc thể hiện được sắc thái và tính chất độc đáo riêng Như vậy, kinh trong luận án này được sử dụng với cả hai ý nghĩa vừa là một thể loại văn học nhưng đồng thời là một thể loại nhạc hát trong nghi lễ Phật giáo

1.4.10 Lâm Tế là một danh từ chỉ tên gọi một chi phái của Thiền tông, ra đời ở

Trung Quốc thời Nhà Đường, khoảng cuối thế kỷ thứ IX Lâm Tế du nhập vào Việt Nam khoảng nửa cuối thế kỷ XVI và nửa đầu thế kỷ XVII Đặc điểm nổi bật của Lâm

Tế là quán công án, tức nhắc nhở người tu hành luôn thức tỉnh để giữ thân tâm trong sạch, không trở về với thân tâm thế tục, phàm phu Để có thể thực hiện được con đường này, Lâm Tế chủ trương tập trung cao độ trí tuệ để nhận biết “nhân” và “cảnh”, trên cơ sở “lý thuyết” về ảo ảnh và vô minh từ đó có thể đạt đến giác ngộ

1.4.11 Lý là một thuật ngữ chỉ cái bản chất bên trong, cái yếu tố cốt lõi trong

giáo lý của Phật giáo Mục tiêu cuối cùng của Phật giáo là giác ngộ và đạt trạng thái đỉnh cao là Niết bàn - Phật Để thực hiện được mục tiêu đó, Phật giáo đưa ra một chuỗi các cách thức, quy định chặt chẽ về giáo lý và giáo luật để người xuất gia, tu hành khi nắm được những cốt yếu đó để xả bỏ được mọi phiền não để, nhất tâm đoạn trừ vô minh và giác ngộ Và như vậy, người tu hành phải hiểu được bản chất của Lý trên con đường mình lựa chọn Khi đã nắm bắt được cái Lý diệu vi thì có thể thấu nhìn được nó biểu hiện ở các dạng thức khác nhau trong các sự vật, hiện tượng, tức ẩn hiện thông qua những cái “Sự” khác nhau, sẽ trình bày rõ ở phần nói về thuật ngữ này

1.4.12 Mật tông là một tông phái Phật giáo Đại thừa, lấy tha lực làm phương

tiện để đạt cảnh giới Niết bàn - Phật Theo từ điển Nho - Phật- Đạo, Mật tông tu theo

“Tam mật gia trì”, tức là thân mật – sử dụng các ngón tay biểu thị các loại ý nghĩa (ấn

      

3 Theo Nho giáo “ Kinh mang hàm ý là “thường đạo”, tức đạo lý, phép pháp vĩnh hằng bất biến ( ) Thời Chiến Quốc, Nho gia gọi Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Dịch, Xuân Thu là Lục Kinh (6 Kinh) Các nhà Nho đời Hán tôn dùng sách của Khổng Tử là “Kinh”, đồng thời thần thánh hoá các sách này”

Trang 34

quyết), “ngữ mật” là tụng niệm chú chân ngôn, và “ý mật” là quán tượng đến Phật để thân, khẩu, ý được thanh tịnh Tam mật của Phật là có thể “tức thân thành Phật”[51; tr 868] Mật tông xuất hiện ở Ấn Độ nhưng phát triển mạnh mẽ nhất ở Trung Quốc, chịu

sự “khúc xạ” bởi văn hóa, tôn giáo Trung Quốc Đặc trưng của pháp tu theo Mật tông

là thực hành các chân ngôn, thần chú và ấn quyết để giải trừ nghiệp chướng đối với trạng thái quán đỉnh về cõi “Phật” để đạt cảnh giới trí tuệ - giác ngộ Hiện nay, Mật tông là ba tông phái đồng tu với Tịnh và Thiền tông trong phần lớn các ngôi chùa Bắc truyền ở Việt Nam, đặc biệt là ở vùng châu thổ Bắc bộ

1.4.13 Nghi lễ và nghi lễ Phật giáo Theo từ điển Hán - Việt, nghi lễ gồm hai

bộ phận “nghi” và “lễ” Theo đó, “nghi” là 1) dáng như uy nghi, có cái dáng nghiêm trang đáng sợ, 2) làm mẫu, làm phép, như nghi khí đồ để làm phép cho người ta bắt chước, và 3) đồ lễ, như hạ nghi đồ lễ mừng Còn “lễ” là: 1) theo cái khuôn mẫu của người đã quy định ra các phép tắc, từ quan, hôn, tang, tế cho đến đi đứng nói năng đều

có cái phép nhất định phải như thế gọi là lễ, 2) Kinh lễ, và 3) nhân người ta có việc mà mình đưa vật gì tặng gọi là lễ[12; tr 43, 540]

Như vậy, hợp hai tổ hợp trên, có thể hiểu: thứ nhất, bản thân hai bộ phận này cũng bao chứa nhau: trong nghi có lễ và ngược lại Trong sáu cách giải thích thì “nghi”

có ba cách và còn lại của “lễ”; nhưng có tới năm cách giải thích lễ và nghi có nội dung bao chứa nhau, gồm khuôn mẫu, phép tắc, đồ lễ Thứ hai, từ đó có thể rút ra định nghĩa: nghi lễ là những khuôn mẫu, phép tắc nghiêm trang đã được quy định trong ứng

xử giữa con người, xã hội và thần linh nhằm đem lại những giá trị về đời sống tâm linh, đạo đức, văn hóa và lối sống cũng như để, thông qua đó, đạt được một trạng thái, những nghĩa cử cao đẹp, nhân văn của con người Như vậy, bản thân hai bộ phận này cũng bao chứa nhau: trong nghi có lễ và ngược lại

1.4.14 Niết bàn là thuật ngữ của Phật giáo chỉ một trạng thái - “cõi” mà tín đồ

tu theo đạo Phật có thể đạt được Nói tới Phật giáo là nói đến giải thoát, giác ngộ và đắc đạo cũng là nói đến trạng thái Niết bàn - Phật Đó là một trạng thái thông tuệ đỉnh cao mà ở đó người tu hành đã xả bỏ toàn bộ vẩn đục, những tham, sân, si để giữ thân tâm trong sạch, vô chấp, thánh thiện tuyệt đối trước mọi sự vật, hiện tượng Vậy, nói đến Phật là nói đến Niết bàn và ngược lại

Trang 35

1.4.14 Pháp khí, còn gọi là Phật khí, là một danh từ chỉ những đạo cụ, công cụ

để thực hiện hoạt động Phật pháp và tu hành Nhiều phương tiện trong khi thực hành nghi lễ như tràng hạt, tích trượng, nhạc cụ đều được gọi là Pháp khí Đây là thuật ngữ xuất phát từ Trung Quốc Theo từ điển Nho - Phật - Đạo thì “đây là đồ dùng Phật giáo Như khánh, cá gỗ, Não bạt dùng khi tổ chức nghi thức”[51; tr.1104] Trong luận án này, Pháp khí chủ yếu được sử dụng để chỉ các nhạc khí được dùng trong nghi lễ Phật giáo như chuông, khánh, trống, mõ, Thanh la, Não bạt, nhị, kèn

1.4.16 Phật là một thuật ngữ Phật giáo chỉ sự thông tuệ và con đường đạt đến

thông tuệ Nói đến Phật - đạo Phật là nói đến một con đường đưa người tín đồ tìm đến lối sống mà ở đó xả bỏ được tất cả những phiền não do tham, sân, si do “vô minh” đem lại Thông qua các nguyên tắc, hoạt động tu tập và con đường đi tìm “Phật” chính trong con người mình, đạo Phật giúp cho tín đồ có được “quả Phật” - một trạng thái khi con người đã “ngộ - giác ngộ” mà Phật giáo gọi là Niết Bàn

1.4.17 Phướn, phan là một trong những biểu tượng của Phật giáo, thể hiện tinh

thần cao đẹp trong bước đường tu hành đến với Phật Phướn xuất phát từ một tích truyện thời Đức Phật; cũng giống như Mục Liên - Thanh Đề, phướn tượng trưng cho

“tấm lòng”, Phật tính của chúng sinh, giữa một bên là tham lam và hiểm ác, với một bên là tâm thánh thiện, trong sáng, thường trụ trong mình Phướn, vì vậy được thể hiện dưới hình thức một “bộ ruột” được cách điệu hóa bằng tấm vải lục sắc, ở giữa ghi các chân ngôn của Phật giáo Phướn được treo trong hầu hết các ngôi chùa ở châu thổ Bắc

bộ Trong các đàn lễ ứng phó đạo tràng của Phật giáo còn sử dụng một biểu tượng tương tự Phan được thoát thai từ Phướn và có ý nghĩa và nội dung tương tự phướn

1.4.18 Quán tưởng là một thuật ngữ Phật giáo chỉ một hoạt động tư duy tập

trung “nghe” và “nhìn” vào nơi cao đẹp, trong sáng ở “cõi” Phật Từ điển cho biết, quán tưởng “chỉ dùng ý niệm quan sát…Phật Vô Lượng Thọ, thế giới Cực lạc Đó là quán tưởng khắp” [51; tr.1170] Ví dụ, khi người tín quán tưởng đến Phật là tâm tưởng nghĩ đến sự tinh khiết trong tâm hồn, thánh tiện trong tâm trí cũng như hướng toàn bộ thân tâm về sự thanh tịnh tuyệt đối như đã được mô tả trong kinh điển

1.4.19 Sớ là một dạng “công văn” mà ở đó nội dung trình lên Phật, Thánh thể

hiện rõ nguyện vọng và lời kêu cầu của người gia chủ (đứng ra lo đàn lễ) đến với chư

Trang 36

vị thánh, thần, Phật Ngoài nội dung trên, sớ còn có loại ghi nội dung thể hiện nỗi nhớ thương giữa gia chủ đối với thân nhân của họ, những người mà, thông qua nghi lễ này, mong được chư vị Phật thánh sẽ hóa giải, giúp họ giải thoát Sớ được trình bày dưới hình thức một tờ giấy phẩm màu, thường có bốn màu: xanh, đỏ, vàng, trắng và được gấp lại thành hình chữ nhật, đưa vào một phong bao có màu sắc tương tự Ngoài phong bao sớ ghi rõ đề tựa cho nội dung của sớ

1.4.20 Sự là một thuật ngữ chỉ cái vô thường của Phật giáo Nếu như “Lý” là

cái bên trong, cái cốt lõi tư tưởng chính của Phật giáo thì “Sự” lại là cái biến hóa vô thường để biểu hiện cái Lý ở những dạng thức hay hình tướng khác nhau Nói theo cách của Mật tông thì Lý là cái “Mật” còn Sự là cái “Hiển” Có nghĩa là, dù bản chất của sự vật được biểu đạt ở hình thức nào đi nữa thì nó vẫn là nó - tức cái Lý, cái bản chất không thay đổi Ví như nước dù ở dạng sóng hay dạng thác chảy thì nó vẫn chỉ là nước mà thôi

1.4.21 Tán là “thuật ngữ Phật giáo Dùng kệ tụng để tán thán, ca ngợi công đức

của Phật”[51; tr 1268] Tán vừa là động từ vừa là danh từ chỉ một thể loại âm nhạc đặc trưng của Phật giáo ở Hà Nội nói riêng, vùng châu thổ Bắc bộ nói chung Là một thể loại, tán đã được nhắc đến trong lịch sử âm nhạc Phật giáo nước nhà ngay từ thế kỷ thứ VII trong cụm từ “ca, tán, tụng, vịnh” mà Lê Mạnh Thát đã đề cập Là một động từ, vì trải qua quá trình phát triển, động từ này đã đi với một danh từ riêng, gọi là Canh, và sau này trở thành một cụm danh động từ ghép “tán Canh” Như vậy, tán là một động từ gần nghĩa với hát, đọc, gọi, chỉ được sử dụng kèm với Canh

1.4.22 Tào Động là danh từ chỉ một chi phái của Thiền tông Trung Quốc, xuất

hiện khoảng cuối thế kỷ thứ IX dưới thời Nhà Đường Tào Động vào Việt Nam khoảng thế kỷ thứ XVI và XVII Là một bộ phận của Thiền tông nên Tào Động dựa vào căn bản hình thức tu tập của Thiền Ở đây, Tào động chủ trương tọa thiền tự nhiên, tức là giữ thân tâm ở trạng thái tự nhiên, xả bỏ mọi phiền não và tập trung quán tưởng đến những điều diệu vi nơi Tam thế Phật để đạt cảnh giới Niết bàn

1.4.23 Tây phương cực lạc là một “thế giới” của Phật giáo Đại thừa, là phương

tiện, “nơi” mà Phật giáo hướng tín đồ đến nhằm mục đích tìm lại tâm - Phật trong sáng, thường trụ trong mỗi con người Vì vậy, “Tây phương cực lạc” là một thế giới

Trang 37

1.4.24 Trai đàn chẩn tế, còn có các tên gọi khác là cầu siêu, chẩn tế cô hồn,

phả độ gia tiên, là một nghi lễ Phật giáo sử dụng tha lực làm phương tiện để giải thoát cho các chân linh, cô hồn - do chết bởi nhiều nguyên nhân khác nhau - được “siêu thoát” Ở đây, tha lực, đó là các pháp trì, chú, ấn quyết, pháp khí cùng với đó là các nghi thức tụng kinh, thỉnh Phật

Theo từ điển Lễ tục Việt Nam, “Cầu siêu [chẩn tế cô hồn - NĐL] là một nghi lễ quan trọng của Phật giáo Theo quan niệm, hết thảy những người chết đều là chúng sinh của Phật, nên phần hồn của họ đều được Phật độ trì[79; tr 82]”

Về nội hàm khái niệm, dù với tên gọi khác nhau nhưng đều có một hạt nhân, bản chất là “cầu siêu” cho các chân linh, cô hồn được siêu thoát - cầu siêu, cúng âm,

độ dương - lấy người âm để giáo hóa người dương theo tư tưởng của Phật giáo và ảnh hưởng quan niệm của dân gian là “trần sao âm vậy” Trong nghi lễ này có sử dụng các

bộ Kinh của Đức Phật, đặc biệt là bộ Kinh A Di Đà, kinh Dược Sư, cùng với bùa chú, thần chú của một số tông phái Phật giáo nhằm giải trừ nghiệp chướng và giải thoát cho các cô hồn

1.4.25 Than, còn gọi là Than Cô hồn, là một thể loại âm nhạc Phật giáo, chủ

yếu được sử dụng trong nghi lễ Cầu siêu Đúng như bản chất tên gọi, than có âm điệu buồn (than khóc) và chủ yếu là để “hiệp thông” với các chân linh, cô hồn trong nghi lễ Bài Văn tế thập loại chúng sinh của đại thi hào Nguyễn Du là một trong những nội dung được Phật giáo sử dụng đưa vào thể loại Than trong nghi lễ Cầu siêu cho các cô hồn chết do nhiều nguyên nhân khác nhau

1.4.26 Thiền tông là một tông phái của cả Phật giáo Tiểu thừa và Đại thừa Đặc

trưng của pháp tu Thiền tông là xả bỏ một cách tự nhiên, vô chấp và thánh thiện tuyệt đối trước các sự vật hiện tượng Điều này phản ánh một cách cô đọng bản chất của

Trang 38

Phật giáo, coi mọi sự chỉ là giả tưởng, nếu con người nhận thức được điều đó thì không còn trong vòng luân hồi Bởi sinh, lão, sống chết cũng chỉ là sự giả tưởng, cũng như mọi sự vật mà con người ta thấy Bởi vậy, người ta không cần biết đến những thứ đó

để sống một cách thư thái tự nhiên là một đặc trưng của phương pháp thiền

Người mới vào tu tập Thiền thường phải khổ cực trong việc sử dụng tối đa sự tập trung tư tưởng để xả bỏ phiền não, tham - sân - si và quán tưởng cảnh giới Niết bàn, thu nạp tinh hoa của Tứ diệu đế, Thập nhị nhân duyên… để đạt trạng thái Phật Ở Việt Nam, Thiền tông mang một sắc thái riêng bởi sự dung nạp của ba thiền phái Vô Ngôn Thông, Tì Ni Đa Lưu Chi và Thảo Đường, phát huy tối đa chữ Tâm tự nhiên tiềm ẩn trong con người Thiền Tông Việt Nam phát triển đỉnh cao ở giai đoạn Nhà Trần với tên gọi Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử do Thiền sư Trần Nhân Tông làm sơ tổ cùng với hai Thiền sư được coi là Tổ thứ hai và thứ ba là Pháp Loa và Huyền Quang

1.4.27 Thường nhật, là một khái niệm để chỉ khoảng thời gian diễn ra theo một

chu kỳ ổn định, một quy luật nhất quán Nghi lễ Thường nhật là nghi lễ bao gồm các nghi thức mà ở đó người xuất gia và cư sĩ tại gia phải thực hiện hằng ngày Như vậy,

30 ngày trong một tháng, 365 ngày trong một năm, trừ các ngày lễ khác của Phật giáo

đã trình bày ở trên, nghi lễ Thường nhật diễn ra như một nguyên tắc bắt buộc đối với những người theo đạo Phật, đặc biệt là những người xuất gia Nghi lễ thường nhật cơ bản nổi bật có hai phần: nghi quỹ tu tập và giáo hóa chúng sinh Ở nghi quỹ tu tập, nghi lễ thường nhật góp phần quan trọng đối với từng tín đồ đạo Phật Phẩm hạnh của người xuất gia cũng như tu tập có được bồi đắp và tăng cường hay không chính từ trong nghi lễ này Theo Đại đức Thích Quảng Tiếp, trụ trì chùa thôn Đanh, Dương Xá, Gia Lâm, Hà Nội thì dù người tu tập theo tông phái nào của Phật giáo thì một ngày ba thời đều phải thực hiện những nghi thức, nghi quỹ được quy định trong giới luật Phật giáo1 Ở đây có hai vấn đề được thấy rõ trong nghi lễ Thường nhật Một là, những thời

tu tập (sáng-trưa-tối) giúp cho người tu hành ngấm sâu giới luật của Phật Tổ và trau dồi học vấn cũng như triết lý Phật học Hai là, thông qua các nghi quỹ trì tụng hay nghi thức thiền khi tụng kinh mà có được những “luồng” sức mạnh do kết quả của tha lực

và nội lực tu tập mang lại Trong nhiều bộ Kinh khuyên răn và đề cập đến vấn đề này       

1 Tư liệu phỏng vấn sâu ngày 12 tháng 02 năm 2013 tại chùa Dương Đanh, xã Dương Xá, huyện Gia Lâm, Hà Nội

Trang 39

Như vậy, nghi lễ Thường nhật là một trong những phần quan trọng nhất trong các nghi

lễ Phật giáo Nghi lễ Thường nhật vừa được coi như “nhà trường”, để người xuất gia tu hành đào tạo-tu tập và tự tu tập nhưng vừa được coi như “tấm gương” để hàng ngày họ nhìn vào đó, rèn luyện chính bản thân họ trong mỗi ngày cũng như trên toàn bộ bước đường tu hành của mình Ở nghi thức giáo hóa chúng sinh, nghiên cứu Phật giáo Đại thừa cho thấy, người tu hành không chỉ tu tập để tự giác ngộ chính bản thân mình mà còn giác ngộ cho người khác Ở Hà Nội nói riêng, nhiều địa phương ở châu thổ Bắc

bộ, chủ yếu tu tập theo Phật giáo Bắc tông-Đại thừa Trong các nghi thức Thường nhật, yếu tố giáo hóa chúng sinh được thể hiện rất rõ, thể hiện qua ba hình thức: tụng Kinh, cúng cháo bố thí và thỉnh chuông đại hồng chung để cảnh tỉnh người sống và siêu độ cho các chân linh cô hồn, thông thường được tổ chức vào buổi chiều

1.4.28 Tịnh độ tông là “chuyên tu pháp môn vãng sinh sang cõi Tịnh Độ

của Đức Phật A Di Đà nên gọi là Tịnh Độ tông”[…] Pháp môn tu hành trong thực tiễn của tông phái này là niệm Phật” [51; tr 1574] Đây là một tông phái của Phật giáo Đại thừa, ra đời ở Trung Quốc Tịnh độ tông phát triển ở Việt Nam ngay từ nửa đầu thiên niên kỷ thứ nhất và phát triển cực mạnh trong đời sống nhân dân cho đến tận ngày nay bởi tính chất đơn giản của nó Đặc trưng của pháp tu Tịnh độ là lấy tha lực làm phương tiện để giác ngộ và đạt cảnh giới Niết bàn; ở đó, người tín

đồ chỉ cần đặt niềm tin tuyệt đối ở cõi Phật và thường xuyên niệm danh hiệu Phật Ngoài Mật tông, Tịnh độ cũng sử dụng thần chú để đến được cõi “Tây phương Cực lạc” Tịnh độ tông đồng tu cùng với Thiền và Mật tông một cách phổ biến trong các chùa Việt Nam, đặc biệt là ở vùng châu thổ Bắc bộ

1.4.29 Tụng là một động từ chỉ sử dụng đi kèm với thể Kinh Trong nghi lễ,

khi nói tới kinh là nói tới tụng kinh chứ không nói hát kinh, đọc kinh Vì vậy, tụng trong luận án này là một động từ thực hiện trong diễn xướng nhạc hát của Phật giáo

ở Hà Nội

1.4.30 Trường hàng, dù được bóc tách, phân tích thế nào thì có thể hiểu một

cách bản chất là: một thể loại văn học Phật giáo được trình bày dưới dạng văn xuôi dùng để diễn tả giáo lý, kinh điển của tôn giáo này Theo từ điển Nho - Phật - Đạo

“Đây là thể văn kinh Phật Chỉ thể văn có số hàng dài nói về Phật lý hay giải thích

Trang 40

kệ tụng trong kinh Phật” [51; tr 1704] Trong các bộ kinh được tụng trong các chùa

ở Việt Nam hiện nay, ngoài được khái quát dưới dạng các bài kệ, căn bản sử dụng lối trường hàng Vì vậy, khi nói đến thể loại tụng kinh trong luận án này cũng chủ yếu là nói tụng kinh theo hình thức trường hàng

Tiểu kết chương 1

Trên cơ sở mục đích, nhiệm vụ và hướng đi của luận án, chương một đã trình bày một cách khái quát những vấn đề căn bản liên quan, cụ thể qua những ý dưới đây

Thứ nhất, nếu như nguồn tư liệu gốc, bao gồm cả tư liệu cổ sử và khảo cổ,

mỹ thuật, cho thấy sự xuất hiện của âm nhạc Phật giáo ngay từ những thế kỷ đầu của thiên niên kỷ thứ nhất, thì nguồn tư liệu nghiên cứu trên các phương diện lịch

sử, tôn giáo, văn hóa và âm nhạc được nhắc đến ít nhiều cho thấy âm nhạc Phật giáo Việt Nam là một dòng chảy liên tục có sự kế thừa, tinh lọc qua lịch sử và được hiện diện trong đời sống sinh hoạt văn hóa Phật giáo trong lịch sử dân tộc Cũng thông qua những công trình nghiên cứu này mà tác giả luận án kế thừa một số góc nhìn mới, cách tiếp cận mới để triển khai và trình bày những phát hiện vấn đề ở những chương sau của luận án

Thứ hai, những vấn đề cơ bản về cơ sở lý thuyết đã được tác giả đề cập cũng như xác định rõ Nếu như nguồn tư liệu là chất liệu chính của luận án thì cơ sở lý thuyết chính là thế giới quan và phương pháp luận để tác giả xây dựng các luận cứ cũng như trình bày những đóng góp mới, kết quả mới trên cả phương diện lý luận

và thực tiễn khi nghiên cứu âm nhạc Phật giáo ở Hà Nội Cùng với đó, những khái niệm sử dụng trong luận án cũng là những vấn đề căn bản để tác giả kiểm soát và làm rõ bản chất của các mối liên hệ liên quan đến đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Ngày đăng: 19/04/2014, 13:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Thị Lan Anh (2012), Vấn đề Mật tông qua một số chùa ở Hà Nội, Luận án Tiến sĩ Triết học, Học viện khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề Mật tông qua một số chùa ở Hà Nội
Tác giả: Phạm Thị Lan Anh
Năm: 2012
2. Trần Thị Kim Anh (2010), “Nhạc vũ thời Lý-Trần”, in trong 1000 năm âm nhạc Thăng Long-Hà Nội (quyển 1 - Nhạc cổ truyền), Nxb. Âm nhạc, Hà Nội 3. Ngô Bạch (2011), Tập tục nghi lễ dâng hương, Đại đức Thích Minh Nghiêmhiệu đính, Nxb. Thời Đại, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhạc vũ thời Lý-Trần
Tác giả: Trần Thị Kim Anh
Nhà XB: Nxb. Âm nhạc
Năm: 2010
4. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam, Viện Âm nhạc (2011), Cấu trúc một số thể loại dân ca vùng đồng bằng sông Hồng, Đề tài Nghiên cứu khoa học Trọng điểm Cấp Bộ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu trúc một số thể loại dân ca vùng đồng bằng sông Hồng
Tác giả: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam, Viện Âm nhạc
Năm: 2011
5. Đoàn Trung Còn (2010), Các tông phái Phật giáo, Nxb. Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tông phái Phật giáo
Tác giả: Đoàn Trung Còn
Nhà XB: Nxb. Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 2010
6. Hạnh Cơ (2009), Lược giải những Pháp số căn bản, Nxb. Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lược giải những Pháp số căn bản
Tác giả: Hạnh Cơ
Nhà XB: Nxb. Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 2009
7. Phan Huy Chú (1992), Lịch triều hiến chương loại chí, Tập II và III, Nxb. Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 1992
8. Lý Việt Dũng (2008) Tóm tắt 300 bộ kinh luận Phật giáo danh tiếng, Tập 1, Nxb. Phương Đông, Cà Mau Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tóm tắt 300 bộ kinh luận Phật giáo danh tiếng
Nhà XB: Nxb. Phương Đông
9. Trịnh Thị Dung, (2012), Hình tượng Bồ Tát Quan Âm trong Phật giáo Việt Nam, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình tượng Bồ Tát Quan Âm trong Phật giáo Việt Nam
Tác giả: Trịnh Thị Dung
Nhà XB: Nxb. Tôn giáo
Năm: 2012
10. Thích Giác Duyên, “Lịch sử và ý nghĩa trống chuông Bát nhã”, đăng tải trên website Thư viện Hoa sen: http://www.thuvienhoasen.org, cập nhật ngày 20 tháng 10 năm 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử và ý nghĩa trống chuông Bát nhã
Tác giả: Thích Giác Duyên
Nhà XB: Thư viện Hoa sen
Năm: 2009
11. Thích Giác Duyên, “Đôi nét về nguồn gốc chuông, trống, mõ”, đăng tải trên website Đạo Phật ngày nay: http://.buddhismtoday.com, cập nhật ngày 20 tháng 10 năm 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đôi nét về nguồn gốc chuông, trống, mõ
Tác giả: Thích Giác Duyên
Nhà XB: Đạo Phật ngày nay
Năm: 2009
12. Thiều Chửu (2006), Hán - Việt tự điển, Nxb. Thanh Niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hán - Việt tự điển
Tác giả: Thiều Chửu
Nhà XB: Nxb. Thanh Niên
Năm: 2006
13. Thích Tiến Đạt (2007), Những điều căn bản dành cho người mới xuất gia, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điều căn bản dành cho người mới xuất gia
Tác giả: Thích Tiến Đạt
Nhà XB: Nxb. Tôn giáo
Năm: 2007
14. Lê Tâm Đắc (2012), Phong trào chấn hưng Phật giáo ở miền Bắc Việt Nam (1924-1954), Nxb. Chính trị quốc gia - Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong trào chấn hưng Phật giáo ở miền Bắc Việt Nam (1924-1954)
Tác giả: Lê Tâm Đắc
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia - Sự Thật
Năm: 2012
15. Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Kinh Vu Lan và Báo hiếu, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh Vu Lan và Báo hiếu
Nhà XB: Nxb. Tôn giáo
16. Giáo hội Phật giáo Việt Nam (2005), Kinh Địa Tạng (Dịch: Hòa thượng Thích Tuệ Hải; Phẩm thứ sáu), Nxb. Tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh Địa Tạng
Tác giả: Giáo hội Phật giáo Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Tôn giáo
Năm: 2005
17. Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Phân viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam (2010), Kinh Dược Sư, (Việt dịch: Thích Tuệ Thuận), Nxb. Tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh Dược Sư
Tác giả: Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Phân viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Tôn giáo
Năm: 2010
18. Giáo hội Phật giáo Việt Nam (2006), Kinh Chánh Pháp Shanghata, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh Chánh Pháp Shanghata
Tác giả: Giáo hội Phật giáo Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Tôn giáo
Năm: 2006
19. Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Ban Văn hóa Trung ương, Hòa thượng Thích Thanh Từ (1997), Tam Tổ Trúc Lâm giảng giải, Thiền viện Thường chiếu và Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tam Tổ Trúc Lâm giảng giải
Tác giả: Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Ban Văn hóa Trung ương, Hòa thượng Thích Thanh Từ
Nhà XB: Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1997
20. Giáo hội Phật giáo Việt Nam (2012), Kinh cứu khổ, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh cứu khổ
Tác giả: Giáo hội Phật giáo Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Hồng Đức
Năm: 2012
23. Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Khoa Thỉnh Phật, Khoa Nhiếp Linh, Khoa Triệu Linh, Khoa Chúc Thực, Phóng sinh, Thí thực, Bản thảo in dưới dạng sách, không ghi tên Nhà xuất bản, Bán phổ biến tại cổng chùa Quán sứ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa Thỉnh Phật, Khoa Nhiếp Linh, Khoa Triệu Linh, Khoa Chúc Thực, Phóng sinh, Thí thực

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN - Âm nhạc trong nghi lễ Phật giáo ở Hà Nội
BẢNG CHỮ VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN (Trang 5)
Hình tượng Phật thánh hỗn dung và Thượng tọa ngồi chủ lễ trong Trai đàn chẩn tế - Âm nhạc trong nghi lễ Phật giáo ở Hà Nội
Hình t ượng Phật thánh hỗn dung và Thượng tọa ngồi chủ lễ trong Trai đàn chẩn tế (Trang 170)
Sơ đồ 2.1. Quá trình tu tập của Phật giáo - Âm nhạc trong nghi lễ Phật giáo ở Hà Nội
Sơ đồ 2.1. Quá trình tu tập của Phật giáo (Trang 179)
Bảng 2.2. Hoạt động tu tập và giữ giới của người xuất gia thường nhật - Âm nhạc trong nghi lễ Phật giáo ở Hà Nội
Bảng 2.2. Hoạt động tu tập và giữ giới của người xuất gia thường nhật (Trang 179)
Sơ đồ 2.2. Hướng mục tiêu của lễ Trai đàn chẩn tế - Âm nhạc trong nghi lễ Phật giáo ở Hà Nội
Sơ đồ 2.2. Hướng mục tiêu của lễ Trai đàn chẩn tế (Trang 180)
Bảng 2.3. Yếu tố Thiền, Tịnh, Mật trong Trai đàn chẩn tế - Âm nhạc trong nghi lễ Phật giáo ở Hà Nội
Bảng 2.3. Yếu tố Thiền, Tịnh, Mật trong Trai đàn chẩn tế (Trang 181)
Bảng 2.4. Những yếu tố Nho, Đạo và tín ngưỡng bản địa trong nghi lễ - Âm nhạc trong nghi lễ Phật giáo ở Hà Nội
Bảng 2.4. Những yếu tố Nho, Đạo và tín ngưỡng bản địa trong nghi lễ (Trang 182)
Bảng 2.5. Tổng hợp tính chất âm nhạc của Canh Hà Nội - Âm nhạc trong nghi lễ Phật giáo ở Hà Nội
Bảng 2.5. Tổng hợp tính chất âm nhạc của Canh Hà Nội (Trang 182)
Bảng 2.7. Tổng hợp các nhóm, họ nhạc khí/pháp khí, kích cỡ và - Âm nhạc trong nghi lễ Phật giáo ở Hà Nội
Bảng 2.7. Tổng hợp các nhóm, họ nhạc khí/pháp khí, kích cỡ và (Trang 184)
Bảng 2.8. So sánh sử dụng các nhạc khí trong chùa ở Hà Nội qua một số điểm - Âm nhạc trong nghi lễ Phật giáo ở Hà Nội
Bảng 2.8. So sánh sử dụng các nhạc khí trong chùa ở Hà Nội qua một số điểm (Trang 186)
Bảng 3.2. Các tầng, lớp văn hóa trong ca từ nhạc hát Phật giáo ở Hà Nội - Âm nhạc trong nghi lễ Phật giáo ở Hà Nội
Bảng 3.2. Các tầng, lớp văn hóa trong ca từ nhạc hát Phật giáo ở Hà Nội (Trang 187)
Bảng 3.5. Ca từ và phụ từ trong tụng kinh và tán Canh - Âm nhạc trong nghi lễ Phật giáo ở Hà Nội
Bảng 3.5. Ca từ và phụ từ trong tụng kinh và tán Canh (Trang 188)
Bảng 3.4. Một số khía cạnh đặc trưng, khác biệt và tương đồng giữa hai phong - Âm nhạc trong nghi lễ Phật giáo ở Hà Nội
Bảng 3.4. Một số khía cạnh đặc trưng, khác biệt và tương đồng giữa hai phong (Trang 188)
Sơ đồ 3.2 Tổ chức vị trí của các nhạc khí trong nghi lễ cầu siêu - Âm nhạc trong nghi lễ Phật giáo ở Hà Nội
Sơ đồ 3.2 Tổ chức vị trí của các nhạc khí trong nghi lễ cầu siêu (Trang 189)
Bảng 3.7. Vị trí và vai trò của trống Thượng đường và Phát lôi trong nghi lễ Phật - Âm nhạc trong nghi lễ Phật giáo ở Hà Nội
Bảng 3.7. Vị trí và vai trò của trống Thượng đường và Phát lôi trong nghi lễ Phật (Trang 189)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w