Nguyễn Thị Loan – Kiểm toán 54C GVHD ThS Nguyễn Thị Thanh Diệp MỤC LỤC DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1LỜI NÓI ĐẦU 2CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHỌN MẪU KIỂM TOÁN 21 1 Các khái niệm cơ bản về chọn mẫu kiểm[.]
Trang 1MỤC LỤC
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHỌN MẪU KIỂM TOÁN 2
1.1 Các khái niệm cơ bản về chọn mẫu kiểm toán 2
1.1.1 Khái niệm của chọn mẫu kiểm toán, tổng thể và mẫu 2
1.1.2 Rủi ro chọn mẫu và rủi ro không do chọn mẫu 2
1.2 Vị trí của chọn mẫu kiểm toán 4
1.3 Các hình thức chọn mẫu 5
1.4 Phương pháp chọn các phần tử vào mẫu 6
1.4.1 Chọn mẫu xác suất 6
1.4.1.1Chọn mẫu ngẫu nhiên 6
1.4.1.2 Chọn mẫu hệ thống 10
1.4.2 Chọn mẫu phi xác suất 10
1.4.2.1 Chọn mẫu theo khối 10
1.4.2.2 Chọn mẫu trực tiếp 11
1.5 Chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ 12
1.6 Thiết kế mẫu 12
CHƯƠNG 2: ỨNG DỤNG CHỌN MẪU KIỂM TOÁN TRONG KIỂM TOÁN PHẢI THU CỦA KHÁCH HÀNG 16
2.1 Khoản mục PTKH với vấn đề kiểm toán 16
2.1.1 Bản chất khoản phải thu của khách hàng 16
2.1.2 Mục tiêu kiểm toán PTKH 17
2.1.3 KSNB đối với phải thu của khách hàng 18
Trang 22.1.4 Những rủi ro thường gặp trong kiểm toán các khoản PTKH trong quy trình
kiểm toán BCTC 18
2.2 Đặc điểm của khoản PTKH ảnh hưởng tới chọn mẫu trong kiểm toán khoản mục PTKH 19
2.3 Ứng dụng chọn mẫu khoản PTKH tại công ty TNHH Deloitte Việt Nam 20
2.3.1 Khái quát về chọn mẫu kiểm toán tại công ty TNHH Deloitte Việt Nam .20 2.3.2 Chọn mẫu kiểm tra chi tiết trong kiểm tra kiểm soát khoản PTKH 21
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ VỀ ỨNG DỤNG CHỌN MẪU TRONG KIỂM TOÁN KHOẢN PHẢI THU KHÁCH HÀNG TẠI CÔNG TY TNHH DELOITTE VIỆT NAM VÀ GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT 25
3.1 Nhận xét về việc áp dụng kỹ thuật chọn mẫu kiểm toán trong kiểm toán khoản PTKH tại Công ty TNHH Deloitte Việt Nam 25
3.1.1 Ưu điểm 25
3.1.2 Nhược điểm 26
3.2 Giải pháp đề xuất 27
KẾT LUẬN 28
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 29
PHỤ LỤC 30
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Nền kinh tế Việt Nam đang ngày càng phát triển và hội nhập sâu rộng với thếgiới qua việc ký kết hiệp định TPP và gia nhập cộng đồng kinh tế Đông Nam ÁAEC, vì vậy nhu cầu minh bạch khả năng tài chính của các doanh nghiệp dẫnđến các BCTC hàng năm cần được kiểm toán là rất lớn
Tuy nhiên, số lượng tài liệu kiểm toán trong mỗi công ty không phải là nhỏ, đặcbiệt là khoản mục PTKH khi hạn mức tín dụng của các doanh nghiệp đưa ra đốivới khách hàng ngày càng nới lỏng, vậy làm sao để KTV vừa có thể kiểm toánđược các tài liệu nhưng cũng đảm bảo được thời hạn kiểm toán đặt ra Cũng vì
lý do đó mà các KTV phải áp dụng phương pháp chọn mẫu trong quá trình thuthập bằng chứng kiểm toán Phương pháp này sẽ giúp cho các KTV tiết kiệmthời gian nhưng vẫn đảm bảo thu thập được những bằng chứng kiểm toán cầnthiết
Nhằm mục đích hiểu rõ hơn về các phương pháp chọn mẫu và ứng dụng cụ thể
trong kiểm toán phải thu khách hàng, em đã lựa chọn đề tài: “Lý thuyết chọn mẫu và ứng dụng của chọn mẫu trong kiểm toán khoản phải thu khách hàng ”
Đề tài của em được chia làm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về chọn mẫu kiểm toán;
Chương 2: Ứng dụng của chọn mẫu kiểm toán trong kiểm toán khoản phải thucủa khách hàng;
Chương 3: Đánh giá về chọn mẫu kiểm toán trong khoản phải thu của kháchhàng và giải pháp đề xuất
Trang 4CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHỌN MẪU KIỂM TOÁN 1.1 Các khái niệm cơ bản về chọn mẫu kiểm toán
1.1.1 Khái niệm của chọn mẫu kiểm toán, tổng thể và mẫu
Chọn mẫu kiểm toán là quá trình chọn một nhóm các khoản mục hoặc đơn vị(gọi là mẫu) từ một tập hợp các khoản mục hoặc đơn vị lớn (gọi là tổng thể) và
sử dụng các đặc trưng của mẫu để suy rộng cho đặc trưng của tổng thể Theo
Chuẩn mực kiểm toán Việt nam, chuẩn mực số 530 “Lấy mẫu kiểm toán”, chọn mẫu kiểm toán (lấy mẫu kiểm toán) được hiểu là việc áp dụng các thủ tục kiểm
toán trên số phần tử ít hơn 100% tổng số phần tử của một tổng thể kiểm toán saocho tất cả các đơn vị lấy mẫu đều có cơ hội được lựa chọn nhằm cung cấp choKTV cơ sở hợp lý để đưa ra kết luận về toàn bộ tổng thể
Tổng thể là một tập hợp bao gồm tất cả các phần tử hoặc đơn vị thuộc đối
tượng nghiên cứu Mỗi một phần tử trong tổng thể được gọi là đơn vị tổng thể,khi chọn mẫu kiểm toán, mỗi đơn vị được chọn vào mẫu gọi là đơn vị mẫu Tập
hợp các đơn vị mẫu được gọi là một mẫu.
Từ tổng thể của một đối tượng kiểm toán, sẽ có rất nhiều cách để chọnđược một mẫu, tuy nhiên vấn đề cơ bản khi chọn mẫu là phải chọn được mẫu đạidiện, nó là một tập hợp các đơn vị mẫu mang những đặc trưng của tổng thể
Ví dụ, qua KSNB xác định có 2% phiếu thu không có chứng từ gốc đính kèm Nếu trong hàng ngàn phiếu thu, chọn ra một trăm phiếu thu và kiểm tra thấy đúng có 2 lần thiếu chứng từ gốc thì mẫu chọn là mẫu đại diện.
1.1.2 Rủi ro chọn mẫu và rủi ro không do chọn mẫu
Khi chọn mẫu kiểm toán, luôn luôn có khả năng phát sinh rủi ro Rủi ro
chọn mẫu là khả năng mà kết luận của KTV dựa trên mẫu sai lệch so với kết
luận của KTV có được khi dùng thử nghiệm tương tự đối với toàn bộ tổng thể.Nói cách khác, rủi ro chọn mẫu là sự sai khác giữa kết quả mẫu chọn với kết quả
có được từ tổng thể Ví dụ, KTV chọn ra một mẫu hóa đơn bán hàng, sau khi
kiểm tra mẫu, KTV đưa ra dự kiến tối đa 5% tổng hóa đơn “chưa được phê
Trang 5duyệt tín dụng” Trong khi đó, nếu KTV kiểm tra tất cả doanh thu bán chịu của thời kỳ đó, KTV sẽ thấy tỉ lệ hóa đơn chưa được phê duyệt tín dụng chiếm 8% Như vậy sai lệch giữa tỷ lệ thực tế 8% với tỷ lệ theo kết quả mẫu chọn (5%) là sai số chọn mẫu 3%
Do đó, mẫu càng đại diện cho tổng thể hoặc kích cỡ mẫu càng lớn thì rủi
ro chọn mẫu sẽ giảm và ngược lại nếu việc chọn mẫu kiểm toán không đại diệncho tổng thể thì rủi ro chọn mẫu sẽ tăng lên Tuy nhiên, việc chọn mẫu đại diệnbằng cách tăng kích cỡ mẫu cũng đồng nghĩa với chi phí kiểm toán tăng lên Do
đó yếu tố cơ bản trong việc chọn mẫu là chọn số lượng mẫu sao cho hiệu quả,cân đối được giữa số lượng mẫu chọn, chất lượng mẫu chọn và thời gian thựchiện mẫu để cân đối giữa rủi ro chọn mẫu và chi phí chọn mẫu cho cuộc kiểmtoán
Bên cạnh rủi ro chọn mẫu, KTV cũng có thể đưa ra những kết luận sailầm không phải do lỗi chọn mẫu mà do các yếu tố không liên quan trực tiếp đến
việc chọn mẫu Rủi ro này được gọi là rủi ro không do chọn mẫu Nguyên nhân
của rủi ro này thường là khả năng (trí lực và thể lực) của KTV Ví dụ, do nănglực nghề nghiệp yếu nên đánh giá sai rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát, thiết
kế sai thủ tục kiểm toán, hoặc khi thủ tục kiểm toán được thiết kế đúng nhưngkhông phát hiện ra sai phạm trong mẫu do khả năng hạn chế hoặc thiếu thậntrọng khi kiểm tra chi tiết Các trường hợp dẫn tới rủi ro không do chọn mẫuthường bao gồm:
- Đánh giá rủi ro tiềm tàng không đúng (IR): KTV có thể đánh giá sai lầm
về rủi ro tiềm tàng trong đối tượng kiểm toán Có thể KTV cho rằng có ít saiphạm trọng yếu tồn tại trong đối tượng kiểm toán nên họ có xu hướng giảm quy
mô công việc cần thực hiện, do đó không phát hiện được sai phạm
- Đánh giá không đúng về rủi ro kiểm soát (CR): KTV có thể quá lạc quantin tưởng vào khả năng của hệ thống KSNB trong việc ngăn chặn, phát hiện vàsửa chữa kịp thời các sai phạm nên họ có xu hướng giảm khối lượng công việc
Trang 6kiểm tra cần thiết, vì vậy kết quả cũng giống như trường hợp đánh giá sai về rủi
ro tiềm tàng là không phát hiện hết các sai phạm
- Lựa chọn các thủ tục kiểm toán không thích hợp và thực hiện công việckiểm toán không hợp lý hay mắc sai lầm trong quá trình thực hiện (DR): KTV
có thể lựa chọn các thủ tục không phù hợp với mục tiêu kiểm toán (chẳng hạntiến hành xác minh các khoản phải thu đã được ghi sổ trong khi mục tiêu là pháthiện các khoản phải thu chưa được ghi sổ), hoặc đã chọn thủ tục thích hợpnhưng việc triển khai thủ tục đó lại để xảy ra sai phạm
KTV và công ty kiểm toán có thể kiểm soát được rủi ro không do chọnmẫu và có khả năng làm giảm rủi ro không do chọn mẫu tới mức có thể chấpnhận được thông qua lập kế hoạch và giám sát việc thực hiện kế hoạch một cáchchu đáo, đồng thời phải thực hiện các thủ tục kiểm soát chất lượng chặt chữ vàthích hợp đối với công việc kiểm toán
1.2 Vị trí của chọn mẫu kiểm toán
Chọn mẫu kiểm toán là một phần quan trọng trong quy trình kiểm toán.Chọn mẫu kiểm toán chủ yếu nằm trong giai đoạn thực hiện kiểm toán Việcchọn mẫu kiểm toán được áp dụng trong thử nghiệm kiểm soát, thử nghiệm cơbản (trong đó chủ yếu áp dụng với kiểm tra chi tiết) và khi soát xét lại công việckiểm toán Mặc dù nằm trong giai đoạn thực hiện kiểm toán nhưng các giai đoạnkhác trong quy trình kiểm toán đều có ảnh hưởng đến chọn mẫu kiểm toán, điềunày thể hiện trong từng khâu của quy trình kiểm toán:
- Trước khi ký hợp đồng kiểm toán: Việc thiết kế, lập các điều khoản củahợp đồng cũng như thời gian thực hiện, giá phí kiểm toán, nhân viên thực hiệnkiểm toán, phạm vi của cuộc kiểm toán… có ảnh hưởng không nhỏ đến số lượng
và phương pháp chọn lựa phần tử kiểm tra Số lượng phần tử để kiểm tra phảiphù hợp với thời gian, chi phí và trình độ KTV
- Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán: việc tìm hiểu hệ thống kiểm soátnội bộ, hoạt động kinh doanh của khách hàng… giúp cho KTV có những đánhgiá ban đầu về khối lượng công việc cần làm Ngoài ra, giúp cho KTV có những
Trang 7hiểu biết ban đầu về xác định tập trung lựa chọn những số dư, nghiệp vụ nào đểkiểm tra, từ đó có thể xác định thủ tục lựa chọn phần tử kiểm tra một cách thíchhợp.
- Trong giai đoạn thực hiện kiểm toán, chọn mẫu kiểm toán được thực hiệntrong cả thử nghiệm kiểm soát và thử nghiệm cơ bản Các bước chọn mẫu kiểmtoán được thể hiện đầy đủ trong quá trình KTV tiến hành thử nghiệm kiểm soát
và thử nghiệm cơ bản Khi soát xét lại công việc đã tiến hành, KTV phải đánhgiá việc chọn mẫu đã thực hiện để xem xét việc thu thập các bằng chứng nhưvậy đã đầy đủ và hợp lý chưa và có cần mở rộng cỡ mẫu không?
- Trong giai đoạn kết thúc kiểm toán, các đánh giá thu được thông qua việckiểm tra chi tiết các mẫu chọn và kết hợp với thủ tục phân tích là cơ sở để KTVđưa ra ý kiến trên báo cáo kiểm toán
Chọn mẫu thống kê là việc sử dụng kỹ thuật tính toán toán học để tính
các kết quả thống kê có hệ thống Phương pháp này lựa chọn các phần tử mẫumột cách ngẫu nhiên và sử dụng lý thuyết xác suất thống kê để đánh giá kết quảmẫu, bao gồm cả việc định lượng rủi ro chọn mẫu Hình thức chọn mẫu nàyđược sử dụng khi:
- Các phần tử của tổng thể có thể là các giá trị định lượng;
- Sử dụng lý thuyết xác suất thống kê để đánh giá kết quả mẫu, bao gồm cảviệc định lượng rủi ro lấy mẫu
Chọn mẫu phi thống kê là hình thức chọn mẫu không sử dụng các phép
tính toán thống kê Hình thức này được sử dụng khi:
- Việc kết hợp các phần tử mẫu với các số ngẫu nhiên là rất khó khăn và tốnkém;
Trang 8- Các kết luận không nhất thiết phải dựa trên sự chính xác toán học;
- KTV có đầy đủ hiểu biết về tổng thể làm căn cứ áp dụng chọn mẫu phithống kê để có thể đưa ra kết luận hợp lý về tổng thể;
- Việc lựa chọn mẫu đại diện là không cần thiết, chẳng hạn mẫu phi thống
kê hiệu quả vì bỏ qua một số lớn các phần tử không cần kiểm tra
Hai hình thức nói trên, nếu được áp dụng hợp lý, đều có thể cung cấp đủbằng chứng có hiệu lực Trong các cuộc kiểm toán, không nhất thiết chỉ sử dụngmột trong hai hình thức trên, việc kết hợp một cách hợp lý giữa hai hình thức đó
sẽ nâng cao hiệu quả của cuộc kiểm toán
Chọn mẫu thống kê khác với chọn mẫu phi thống kê ở chỗ, thông qua việcvận dụng các quy tắc toán học, chọn mẫu thống kê có thể xác định được rủi rochọn mẫu trong giai đoạn lập kế hoạch về mẫu (giai đoạn 1) và đánh giá kết quả(giai đoạn 3) Trong chọn mẫu phi thống kê, KTV không xác định được rủi rochọn mẫu Các phần tử được chọn vào mẫu là những phần tử mà KTV cho rằng
sẽ cung cấp thông tin tốt nhất cho tình huống nghiên cứu Kết luận về tổng thể
sẽ được đưa ra trên cơ sở cân nhắc và phán xét của KTV Vì thế, chọn mẫu phithống kê thường được gọi là chọn theo phát xét nghề nghiệp
1.4 Phương pháp chọn các phần tử vào mẫu
1.4.1 Chọn mẫu xác suất
1.4.1.1Chọn mẫu ngẫu nhiên
Chọn mẫu ngẫu nhiên là một phương pháp chọn các phần tử vào mẫu
theo nguyên tắc mỗi phần tử trong tổng thể đều có cơ hội như nhau để đượcchọn vào mẫu Mặc dù chọn mẫu ngẫu nhiên cho kết quả là một mẫu khôngthiên lệch nhưng có thể mẫu đó sẽ không đại diện vì khả năng mẫu chọn đượckhông chứa đựng những đặc tính giống nhau như đặc tính của tổng thể
Trong chọn mẫu ngẫu nhiên không có sự phân biệt giữa các phần tử tổngthể nên chọn mẫu ngẫu nhiên được vận dụng khi các phần tử trong tổng thểđược đánh giá là tương đối đồng đều (về khả năng có sai phạm, về quy mô…)
Trang 9Chọn mẫu ngẫu nhiên có thể được thực hiện với việc sử dụng Bảng số ngẫunhiên hay theo chương trình máy tính.
a Chọn mẫu dựa trên Bảng số ngẫu nhiên
Chọn mẫu dựa trên bảng số ngẫu nhiên là được nhận định là một trongnhững cách chọn mẫu ngẫu nhiên trực quan nhất Bảng số ngẫu nhiên bao gồmnhiều số ngẫu nhiên được xếp thành các cột và dòng theo kiểu bàn cờ, mỗi sốngẫu nhiên gồm 5 chữ số thập phân Bảng số ngẫu nhiên được xây dựng bởi Hộihiệp Thương mại Liên Quốc gia Hoa Kỳ (Phụ lục 1) Việc sắp xếp các số ngẫunhiên theo dòng và cột trên BSNN nhằm giúp người sử dụng bảng có thể chọncác số một cách dễ dàng Quá trình chọn mẫu ngẫu nhiên gồm 4 bước:
nhất
Thông thường, đối tượng kiểm toán (các chứng từ, tài sản,…) đã được
đánh số trước bằng con số duy nhất Chẳng hạn, có 5000 các khoản PTKH và
được đánh số thứ tự từ 0001 đến 5000 Khi đó bản thân các con số thứ tự trên là
các đối tượng chọn mẫu Tuy nhiên, trong một số trường hợp, KTV có thể cầnthiết phải đánh số lại cho tổng thể để có được hệ thống các con số duy nhấttương thích với BSNN
Trường hợp phải đánh số lại cho đối tượng kiểm toán thì nên tận dụng con
số đã có một cách tối đa để đơn giản hóa việc đánh số Ví dụ, có thể kết hợp sốthứ tự của trang với số thứ tự của dòng trên mỗi trang để có số thứ tự được địnhlượng
kiểm toán đã định lượng
Để thiết lập được mối quan hệ này, KTV cần lựa chọn các số định lượngtương ứng với số ngẫu nhiên, khi định lượng các số ngẫu nhiên sẽ có 3 trườnghợp xảy ra:
Thứ nhất, các con số định lượng của đối tượng kiểm toán cũng gồm 5 chữ
số như các con số ngẫu nhiên trong bảng Việc tìm được số ngẫu nhiên trong
Trang 10bảng có ý nghĩa phần tử nào trong tổng thể có số định lượng bằng với số ngẫunhiên thì đó sẽ được chọn vào mẫu.
Thứ hai, các con số định lượng của đối tượng kiểm toán gồm số lượng
chữ số, ít hơn 5 chữ số Chẳng hạn, trong ví dụ nêu ở bước 1, KTV cần chọn ra
100 khoản phải thu trong số 5000 khoản phải thu từ các khách hàng có đánh số
từ 0001 đến 5000 Các số định lượng có 4 chữ số Do vậy, KTV có thể xây dựngmối quan hệ giữa số định lượng và số ngẫu nhiên bằng cách giả sử quy ước sửdụng 4 chữ số cuối của số ngẫu nhiên trong Bảng số ngẫu nhiên
Thứ ba, các số định lượng của đối tượng kiểm toán lớn hơn 5, trong khi số
ngẫu nhiên trong Bảng chỉ có 5 chữ số Để thiết lập mối quan hệ giữa số địnhlượng và số ngẫu nhiên, cần ghép thêm số chữ số còn thiếu vào số ngẫu nhiêncho tương xứng với số chữ số của số định lượng KTV phải xác định cột chính
và cột phụ trong Bảng, sau đó chọn thêm những chữ số ở cột phụ đề ghép vào sốngẫu nhiên ở cột chính cho tương ứng với số định lượng Chẳng hạn, với số địnhlượng có 7 chữ số ta cần ghép số ngẫu nhiên ở cột chính với 2 chữ số của sốngẫu nhiên ở cột phụ
Lập hành trình sử dụng Bảng là việc xác định hướng đi của việc chọn các
số ngẫu nhiên Hướng đó có thể dọc (theo cột) hoặc ngang (theo hàng) Có thểxuôi (từ trên xuống) hoặc ngược (từ dưới lên) Việc xác định này thuộc quyềnphán quyết của KTV xong cần được đặt ra từ trước và thống nhất trong toàn bộquá trình chọn mẫu Một vấn đề cần phải được đặc biệt quan tâm ở đây là lộtrình chọn mẫu phải được ghi chép lại trong hồ sơ kiểm toán để khi một KTVkhác có kiểm tra lại việc chọn mẫu thì họ cũng chọn được mẫu tương tự
Bảng số ngẫu nhiên bao gồm rất nhiều trang Để chọn điểm xuất phát,Bảng số ngẫu nhiên nên được mở ra một cách ngẫu nhiên và ngẫu nhiên chọn ramột số trong Bảng để làm điểm xuất phát
Trang 11Khi sử dụng bảng số ngẫu nhiên để chọn mẫu, có thể có những phần tửxuất hiện nhiều hơn một lần Nếu KTV không chấp nhận lần xuất hiện thứ 2 trở
đi thì cách chọn đó được gọi là chọn mẫu không lặp lại (chọn mẫu thay thế).Ngược lại, chọn mẫu lặp lại (chọn mẫu không thay thế) là cách chọn mà mộtphần tử của tổng thể có thể được chọn vào mẫu nhiều hơn một lần Trong hầuhết các trường hợp KTV thường loại bỏ các phần tử trùng lặp, hay nói cách khác
là thường sử dụng cách chọn mẫu không thay thế Mặc dù chọn mẫu thay thếvẫn đảm bảo tính ngẫu nhiên nhưng số lượng phần tử mẫu thực tế khảo sát sẽgiảm đi và lúc đó rủi ro chọn mẫu cũng tăng Do vậy, chọn mẫu lặp lại thường ítđược sử dụng
b Chọn mẫu ngẫu nhiên theo chương trình máy tính
Hiện nay, việc sử dụng máy tính như một công cụ hỗ trợ để xây dựng cácchương trình chọn mẫu ngẫu nhiên tiết kiệm được nhiều thời gian và làm giảmsai sót trong chọn mẫu Nói chung, các chương trình chọn mẫu rất đa dạngnhưng vẫn tôn trọng hai bước đầu tiên của chọn mẫu ngẫu nhiên theo bảng sốngẫu nhiên là lượng hóa đối tượng kiểm toán bằng hệ thống con số duy nhất vàxác lập mối quan hệ giữa số định lượng của đối tượng kiểm toán với các số ngẫunhiên nhưng số ngẫu nhiên do máy tính tạo ra
Thông thường, ở đầu vào của chương trình cần có: số nhỏ nhất và số lớnnhất trong dãy số thứ tự của đối tượng kiểm toán, quy mô mẫu cần chọn và cóthể cần có một số ngẫu nhiên làm điểm xuất phát Ở đầu ra thường là bảng kê sốngẫu nhiên theo trật tự lựa chọn hoặc theo dãy số tăng dần hoặc cả hai Chọnmẫu bằng chương trình máy vi tính có thể loại bỏ được những số không thíchhợp, tự động loại bỏ những phần tử bị trùng lặp và tự động phản ánh kết quả vàogiấy tờ làm việc Sòn ưu điểm nổi bật nhất vẫn là làm giảm sai sót chủ quan củacon người (rủi ro không do chọn mẫu) trong quá trình chọn mẫu
Trang 121.4.1.2 Chọn mẫu hệ thống
Chọn mẫu hệ thống là cách chọn mà phần tử được chọn cách đều nhaumột khoảng cách gọi là khoảng cách mẫu (k) Khoảng cách mẫu được tính bằngcách lấy kích cỡ tổng thể chia cho kích cỡ mẫu
Ví dụ, nếu tổng thể có kích cỡ N=1052 đơn vị và cỡ mẫu cần chọn là n=100 thì khoảng cách mẫu k sẽ được tính như sau: k=N/n=1052/100=10.52( làm tròn thành 10 – thông thường phải làm tròn xuống để có thể chọn đủ số phần tử mẫu theo yêu cầu)
Đơn vị mẫu đầu tiên (m1) được chọn một cách ngẫu nhiên trong khoảng từphần tử đầu tiên trong tổng thể (x1) đến phần tử cách đó (k-1) vị trí
x1 ≤m1≤xkCác đơn vị mẫu kế tiếp được xác định theo công thức:
Mi+1 = mi + kĐơn vị mẫu đầu tiên được chọn ngẫu nhiên nên mỗi đơn vị tổng thể banđầu có cơ hội được chọn ngang nhau Tuy nhiên, sau khi đơn vị mẫu đầu tiênđược chọn, mỗi đơn vị về sau lại không có cơ hội như nhau để được chọn vàomẫu
1.4.2 Chọn mẫu phi xác suất
Nếu KTV nhận thấy các phần tử trong tổng thể là khác nhau về khả năng
có sai phạm thì KTV sẽ không sử dụng chọn mẫu ngẫu nhiên mà chọn phi xácsuất Điều này nghĩa là các phần tử không có cơ hội như nhau để được lựa chọnvào mẫu, phần tử nào có khả năng sai phạm coa theo đánh giá của KTV sẽ đc ưutiên chọn vào mẫu
KTV dựa vào nhận định nhà nghề để phán xét và quyết định chọn phần tửnào vào mẫu Chọn mẫu phi xác suất bao gồm: chọn mẫu theo khối và chọn mẫutrực tiếp
1.4.2.1 Chọn mẫu theo khối
Chọn mẫu theo khối là việc chọn một tập hợp phần tử kế tiếp nhau trongmột tổng thể Trong trường hợp này, phần tử đầu tiên trong khối được chọn thì
Trang 13các phần tử còn lại cũng được chọn tất yếu Mẫu chọn có thể là một khối liền
hoặc nhiều khối rời gộp lại Chẳng hạn, chọn ra một mẫu bao gồm tất cả các
phiếu thu trong tháng 3 và tháng 8 để kiểm tra nghiệp vụ thu trong năm hoặc KTV cũng có thể lấy tất cả các nghiệp vụ trong quý 4 để kiểm tra sau đó suy rộng kết quả cho cả năm Việc chọn mẫu theo khối để kiểm toán các nghiệp vụ
tài sản, hoặc khoản mục chỉ được áp dụng khi đã nắm chắc tình hình của đơn vịđược kiểm toán và khi có số lượng các khối vừa đủ Do đó, trong việc xác địnhcác mẫu cụ thể cần đặc biệt chú ý đến các tình huống đặc biệt như: thay đổinhân sự, thay đổi hệ thống kế toán và chính sách kinh tế, tính thời vụ của ngànhkinh doanh…
1.4.2.2 Chọn mẫu trực tiếp
Chọn mẫu trực tiếp là cách chọn các phần tử mẫu dựa trên các tiêu thứcxác lập bởi KTV Các phần tử trong tổng thể không có xác suất như nhau để đcchọn vào mẫu, mà KTV lựa chọn các phần tử theo các tiêu thức đã xác lập Cáctiêu thức thường được sử dụng bao gồm:
- Các phần tử có khả năng có sai phạm nhất: khi KTV nhận định một số
phần tử tổng thể có khả năng sai phạm rõ ràng (ví dụ như khoản PTKH quá hạn
thanh toán đã lâu, các giao dịch có giá trị lớn bất thường hay có tính phức tạp cao) thì KTV sẽ chọn ngay các phần tử đó để kiểm tra chi tiết Sau khi kiểm tra
các khoản mục được chọn này, KTV sẽ kết luận về tổng thể trên cơ sở phán xét
Cụ thể, nếu các phần tử được chọn để kiểm tra không có sai phạm thì hầu nhưkhông có khả năng tổng thể có sai phạm trọng yếu
- Các phần tử có đặc trưng của tổng thể: Ví dụ, mẫu các khoản thu tiền mặt
có thể bao gồm một số khoản thu tiền mặt của từng tháng, một số khoản thu cho từng loại giao dịch.
- Các phần tử có quy mô tiền tệ lớn: khi mẫu bao gồm các phần tử có quy
mô tiền tệ lớn thì rủi ro của kết luận sai lầm do bỏ qua không kiểm tra các phần
tử nhỏ sẽ trở thành không đáng kể Đây là cách tiếp cận rất thực tế trong cáccuộc kiểm toán do kiểm toán độc lập thực hiện
Trang 141.5 Chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ
Chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ được sử dụng phổ biến trong thử nghiệm cơbản Trong chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ, mỗi đơn vị tiền tệ (1USD, 1 VNĐ,hoặc 1 pound,…) là một đơn vị tổng thể Do vậy, tổng thể sẽ là tổng số tiền lũy
kế của đối tượng kiểm toán
Chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ cũng sử dụng Bảng số ngẫu nhiên, chươngtrình máy tính và chọn mẫu hệ thống
Các số dư trên tài khoản được cộng dồn số tiền theo thứ tự để tạo ra mộttổng thể bao gồm tất cả các đơn vị tiền tệ Khi sử dụng bảng số ngẫu nhiên,chương trình máy tính và chọn mẫu hệ thống, sau khi xác định được đơn vị tiền
tệ, KTV sẽ xác định được số thứ tự khoản mục cần được kiểm toán
Mỗi đơn vị tổng thể đều được gắn với một số duy nhất đó chính là số thứ tự tàikhoản của đơn vị chứa đơn vị cộng dồn đó do vậy một tài khoản có quy mô tiền
tệ lớn có thể được chọn nhiều lần khi chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ
Các đơn vị được chọn vào mẫu theo đơn vị tiền tệ dựa theo Bảng số ngẫunhiên và chọn mẫu hệ thống là những khoản mục có số dư lớn, đặc biệt là trongtrường hợp có sự đột biến về mặt lượng Vì vậy, đặc điểm cơ bản của chọn mẫutheo đơn vị tiền tệ là nếu khoản mục nào có quy mô tiền tệ càng lớn (chứa đựngcàng nhiều đơn vị tổng thể) thì càng có cơ hội được chọn
1.6 Thiết kế mẫu
Thiết kế mẫu là công việc đầu tiên phải làm để tiến hành chọn mẫu Nếu mẫuthiết kế không phù hợp thì sẽ không chọn được mẫu đại diện, và sẽ có khả năngđưa ra kết luận sai về tổng thể
Khi thiết kế mẫu để thu thập bằng chứng kiểm toán, KTV phải xem xét các mụctiêu thử nghiệm và các thuộc tính của tổng thể dự định lấy mẫu Thiết kế mẫubao gồm các công việc sau:
- Xác định mục tiêu kiểm toán
Việc xác định mục tiêu kiểm toán đòi hỏi KTV phải xác định mục tiêu thật cụthể và xem xét việc kết hợp các thủ tục kiểm toán để đạt được mục tiêu đó Mục
Trang 15tiêu kiểm toán đặc thù trong thử nghiệm kiểm soát và trong thử nghiệm cơ bản
là khác nhau nên ảnh hưởng đến việc chọn mẫu là khác nhau
Xem xét các mục tiêu đặc thù có nghĩa là xem xét bản chất của bằngchứng kiểm toán cần thu thập và các điều kiện có thể phát sinh sai sót hoặc cácđặc điểm khác liên quan đến các bằng chứng kiểm toán đó Việc này sẽ giúpKTV xác định tình trạng sai sót và tổng thể dùng để chọn mẫu
- Xác định điều kiện sai sót và đánh giá tỉ lệ sai sót dự tính
Để xác định các điều kiện sai sót và đánh giá sơ bộ tỷ lệ sai sót dự tínhKTV cần đánh giá các biểu hiện như thế nào được xem là sai sót bằng cách xemxét các mục tiêu kiểm tra Hiểu rõ nguyên nhân gây sai sót là rất quan trọng vì
nó đảm bảo rằng tất cả và chỉ có các nguyên nhân gây ra sai sót được xét đến khi
dự toán các sai sót trên tổng thể
Khi thực hiện các kiểm tra kiểm soát, KTV thường đánh giá sơ bộ tỷ lệ saisót dự tính trong tổng thể chọn mẫu và mức rủi ro kiểm soát Tương tự, đối vớicác kiểm tra cơ bản, KTV thường có các đánh giá sơ bộ về lượng sai sót trongtổng thể, các đánh giá sơ bộ này sẽ có ích trong việc thiết kế mẫu và xác định cỡmẫu
sẽ làm tăng hiệu quả chọn mẫu vì giảm được quy mô mẫu chọn Chẳng hạnKTV có thể tập trung vào những khoản mục hoặc đơn vị có tính trọng yếu và có
Trang 16những đặc tính đặc biệt, bỏ qua những tầng không quan trọng hoặc không tươngthích với mục tiêu kiểm toán Ví dụ, KTV có thể phân tầng đối với tổng thể vàhướng kiểm tra như sau:
1 22 Các khoản phải thu có giá trị > $5.000 Kiểm tra 100%
2 121 Các khoản phải thu có giá trị
$1.000-5.000
Chọn theo nhậnđịnh
3 85 Các khoản phải thu có giá trị < $1.000 Chọn theo BSNN
4 14 Các khoản phải thu có số dư có Kiểm tra 100%
Việc phân nhóm được hướng dẫn tại Phụ lục 01, Chuẩn mực kiểm toán số 530
“Lấy mẫu kiểm toán” như sau:
“Phân nhóm
1 Hiệu quả của cuộc kiểm toán có thể tăng lên nếu KTV phân nhóm mộttổng thể bằng cách chia tổng thể thành các nhóm riêng biệt có cùng tính chất.Mục tiêu của việc phân nhóm là làm giảm tính biến động của các phần tử trongmỗi nhóm và do đó cho phép giảm cỡ mẫu mà không làm tăng rủi ro lấy mẫu
2 Khi tiến hành kiểm tra chi tiết, tổng thể thường được phân nhóm theo giátrị Điều này giúp KTV tập trung hơn vào các phần tử có giá trị lớn vì nhữngphần tử này có khả năng sai sót nhiều nhất do giá trị ghi sổ kế toán bị phản ánhcao hơn giá trị thực tế Tương tự, một tổng thể có thể được phân nhóm theo mộttính chất cụ thể cho thấy mức độ rủi ro có sai sót cao hơn, ví dụ khi kiểm tra dựphòng nợ phải thu khó đòi trong quá trình đánh giá các khoản phải thu, KTV cóthể phân nhóm các số dư theo tuổi nợ
3 Kết quả của các thủ tục kiểm toán áp dụng cho một mẫu chứa các phần tửtrong một nhóm chỉ có thể được dự tính cho các phần tử tạo nên nhóm đó Đểđưa ra kết luận về toàn bộ tổng thể, KTV cần xem xét rủi ro có sai sót trọng yếucủa các nhóm khác tạo nên tổng thể Ví dụ 20% số phần tử trong một tổng thể có
Trang 17thể chiếm 90% giá trị của một số dư tài khoản KTV có thể quyết định kiểm tramột mẫu các phần tử này KTV đánh giá kết quả của mẫu này và đi đến kết luận
về 90% giá trị độc lập với 10% còn lại (có thể lấy thêm một mẫu trên 10% cònlại này hoặc sử dụng các phương pháp khác để thu thập bằng chứng kiểm toán,hoặc có thể coi 10% còn lại này là không trọng yếu)
4 Nếu một nhóm giao dịch hoặc số dư tài khoản được chia thành các nhóm,sai sót sẽ được dự tính riêng cho từng nhóm Khi xem xét ảnh hưởng có thể cócủa các sai sót đối với toàn bộ nhóm giao dịch hoặc số dư tài khoản, KTV cầntổng hợp lại các sai sót dự tính cho mỗi nhóm.”
- Xác định cỡ mẫu
Khi xác định cỡ mẫu, KTV cần đảm bảo rủi ro chọn mẫu giảm tới mức có thểchấp nhận được, cỡ mẫu chịu ảnh hưởng tới mức rủi ro chọn mẫu dự tính chấpnhận Rủi ro LTV dự định chấp nhận càng thấp, cỡ mẫu càng lớn Cỡ mẫu cóthể được xác định theo công thức thống kê hoặc dựa trên xét đoán nghề nghiệpkhách quan của KTV trong từng trường hợp cụ thể
Những nhân tố ảnh hưởng đến việc xác định cỡ mẫu đã được Chuẩn mực kiểmtoán số 530 “Lấy mẫu kiểm toán” nêu lên các ví dụ tại phụ lục 2 và phụ lục 3”
Trang 18CHƯƠNG 2: ỨNG DỤNG CHỌN MẪU KIỂM TOÁN TRONG KIỂM
TOÁN PHẢI THU CỦA KHÁCH HÀNG 2.1 Khoản mục PTKH với vấn đề kiểm toán
2.1.1 Bản chất khoản phải thu của khách hàng
Khoản PTKH là khoản phải thu do khách hàng mua sản phẩm, hàng hóa,BĐS đầu tư, TSCĐ, các khoản đầu tư tài chính, cung cấp dịch vụ nhưng chưađược thanh toán Tài khoản này còn dùng để phản ánh các khoản phải thu củangười nhận thầu XDCB với người giao thầu về khối lượng công tác XDCB đãhoàn thành Không phản ánh vào tài khoản này các nghiệp vụ thu tiền ngay
Các khoản phải thu ở người mua phát sinh từ quá trình bán hàng nên cóquan hệ chặt chẽ với quá trình này tạo nên chu trình bán hàng và thu tiền Tuynhiên, do độ trễ của quá trình thu tiền so với quá trình bán hàng nên số tiền ghitrên khoản mục này là số lũy kế từ các quá trình kinh doanh trước đến cuối kỳkinh doanh này Trong doanh nghiệp có quy mô lớn và có chính sách tín dụngthương mại đối với khách hàng, chu trình bán hàng – thu tiền thường được chiathành các chức năng sai:
- Thu tiền
Cùng với thời điểm phát sinh và thời hạn thanh toán khác nhau, các khoản thucòn liên quan đến nhiều người mua có đặc điểm, điều kiện kinh doanh, quản lý