1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Urbanization and energy consumption in asean a timeseries analysis

45 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Urbanization and energy consumption in asean – a timeseries analysis
Tác giả ThS. Hồ Minh Chí, TS. Võ Hồng Đức
Trường học Trường Đại Học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh
Thể loại Báo cáo tổng kết
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, đánh giá sớm mối liên hệ giữa đô thị hoá và tiêu dùng năng lượng cũng như phát thải CO 2 là điều cần làm đối với các quốc gia đang phát triển.. Kết quả nghiên cứu: Nghiên cứu nà

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP CƠ SỞ

Urbanization and Energy Consumption in ASEAN –

A Timeseries Analysis

Mã số: E.2020.13.1

Chủ nhiệm đề tài:

ThS HỒ MINH CHÍ

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP CƠ SỞ

Urbanization and Energy Consumption in ASEAN –

Trang 3

DANH SÁCH NHỮNG THÀNH VIÊN THAM GIA NGHIÊN CỨU ĐỀ

TÀI VÀ ĐƠN VỊ PHỐI HỢP CHÍNH

Trang 4

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1 Thông tin chung:

- Cơ quan chủ trì: Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh

- Thời gian thực hiện: 05/2020 - 05/2022

2 Mục tiêu:

Đánh giá lại mối quan hệ dài hạn giữa đô thị hoá và tiêu dùng năng lượng tại các quốc gia ASEAN từ năm 1985 đến 2018 Trên cơ sở đó, đề tài đề kỳ vọng đề xuất một số gọi ý chính sách có ý nghĩa cho quá trình phát triển tiếp theo của nước nhà

3 Tính mới và sáng tạo:

Vấn đề về phát thải CO 2 và tiêu dùng năng lượng là hai vấn đề nổi trội được quan tâm ở không chỉ các nước đã phát triển mà còn ở quốc gia đang phát triển Tuy nhiên, đối với các quốc gia đang phát triển, nơi mà nền kinh tế đang còn sản xuất

và vận hành bởi những công nghệ rẻ tiền, cùng sự hỗ trợ chưa ổn định của hệ thống tài chính non trẻ, thì yếu tố ưu tiên hàng đầu vẫn là mục tiêu tăng trưởng kinh tế Đây cũng là hàm ý trong lý thuyết đường cong Kuznets về mối quan hệ giữa tăng trưởng và phát thải CO 2

Trang 5

Trở lại với vấn đề tăng trưởng, năng lượng là một yếu tố thúc đẩy tăng trưởng trong quá trình công nghiệp hoá cùng với sự hình thành các công nghệ sản xuất Tuy nhiên, năng lượng hoá thạch, năng lượng được tiêu dùng nhiều nhất hiện nay (đặc biệt là ở các quốc đang phát triển), là nguồn gây ra các vấn đề về môi trường, nổi bật nhất là hiệu ứng nhà kính do phát thải khí CO 2 Các nguồn năng lượng tái tạo, thân thiện với môi trường thì lại quá đắt đỏ để xem là đầu vào sản xuất hiệu quả

ở các nước đang phát triển

Bên cạnh đó, đô thị hoá được xem là hệ quả và cũng là động lực của quá trình hiện đại hoá, công nghiệp hoá Đô thị hoá có thể tập trung nguồn lực để thúc đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng của quốc gia Mặt khác, đô thị hoá cùng với sự gia tăng

sử dụng nhiên liệu hoá thạch tạo ra sức ép rất lớn cho môi trường sinh thái của quốc gia nói riêng và thế giới nói chung Do đó, đánh giá sớm mối liên hệ giữa đô thị hoá

và tiêu dùng năng lượng cũng như phát thải CO 2 là điều cần làm đối với các quốc gia đang phát triển Trên cở sở các nghiên cứu thực nghiệm, các quốc gia có thể định hình sự tương quan giữa các yếu tố kinh tế xã hội và môi trường trong việc xây dựng các kế hoạch phát triển trong dài hạn

Về khía cạnh nghiên cứu thực nghiệm, có hai xu hướng nghiên cứu chính trong lĩnh vực này Đầu tiên là các nghiên cứu ứng dụng phân tích chuỗi thời gian cho một quốc gia để kiểm tra mối quan hệ dài hạn (đồng liên kết) giữa các yếu tố trên Hướng nghiên cứu này thường tập trung vào một số nước phát triển hoặc các quốc gia là trung tâm công nghiêp như các nước thuộc OECD, Trung Quốc, Ấn Độ Hướng thứ hai là tận dụng phân tích dữ liệu bảng để có thể mở rộng mẫu nghiên cứu và tối đa hoá các yếu tố giải thích Hướng nghiên cứu này cũng tập trung vào các nhóm nước EU, OECD, hay Nam Mỹ

Nghiên cứu này đóng góp hai khía cạnh trong nghiên cứu thực nghiệm Đầu tiên, chúng tôi sử sử dụng nhóm quốc gia tương đồng là năm quốc gia thuộc ASEAN (Indonesia, Malaysia, Philippines, Thailand, và Việt Nam) để đưa vào phân tích

Trang 6

đề cần lưu ý trong việc xây dựng chính sách về đô thị hoá, tiêu dùng năng lượng cho Việt Nam và các quốc gia tương đồng

4 Kết quả nghiên cứu:

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm xem xét mối liên hệ giữa đô thị hoá và tiêu thụ năng lượng hoá thạch tại các quốc gia Đông Nam Á (ĐNÁ) Áp dụng phương pháp phân tích chuỗi thời gian ARDL (the Auto-Regressive Distributed Lags) và ứng dụng bộ số liệu mới nhất về đô thị hoá và tiêu dùng năng lượng hoá thạch, chúng tôi tìm được một số kết quả sau:

- Tốc độ đô thị hoá ở Indonesia, Malaysia và Thái Lan làm gia tăng tiêu dùng than đá trong ngắn hạn Ở Việt Nam, tiêu thụ ga và khí đốt tăng trưởng đồng biến với đô thị hoá

- Trong dài hạn, đô thị hoá ở Thái Lan và Việt Nam đồng biến với tiêu dùng dầu Trong khi đó, ở Indonesia, Malaysia, và Philippines, đô thị hoá có xu hướng giảm tiêu thụ than đá

5 Sản phẩm:

Kết quả nghiên cứu đã được đăng tải trên tạp chí Environment and Urbanization ASIA Tạp chí này thuộc danh mục ESCI (the Emerging Sources Citation Index) với chỉ số trích dẫn là 1.1 vào thời điểm tháng 03 năm 2021 Tạp chí này cũng thuộc danh mục Elsevier’s SCOPUS (Quarter 2)

6 Hiệu quả, phương thức chuyển giao kết quả nghiên cứu và khả năng áp dụng:

Kết quả từ nghiên cứu có thể ứng dụng làm nguồn tài liệu tham khảo cho sinh viên đại học, học viên cao học ngành Kinh tế học tham khảo tại Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh Nghiên cứu này cũng rất hữu ít cho sinh viên quan tâm về lĩnh vực kinh tế nông nghiệp và kinh tế phát triển

Ngày 07 tháng 02 năm 2022

Cơ quan chủ trì

(ký, họ và tên, đóng dấu) Chủ nhiệm đề tài (ký, họ và tên)

ThS Hồ Minh Chí

Trang 7

MINISTRY OF EDUCATION AND TRAINING

HO CHI MINH CITY OPEN UNIVERSITY

INFORMATION ON RESEARCH RESULTS

1 General Information:

 Project title:

Urbanization and Energy Consumption in ASEAN –

A Timeseries Analysis

 Code number: E.2020.13.1

 Coordinator: Mr Ho Minh Chi

 Implemeting institution: Ho Chi Minh City Open Univeristy

 Duration: 5/2020 – 5/2022

2 Objectives:

The research is to re-investigate the relationship between urbanization and energy consumption in ASEAN countries from 1985 to 2018 We expect to propose several meaningful and insightful policy implications to the future orientation of ASEAN nations, especially for the Vietnamese Government

3 Creativeness and innovativeness:

The ASEAN has been generally perceived as one of the most active economic zones

in the world The region has faced severe challenges in relation to environmental degradation during the process of industrialization and modernization Several researchers investigate the relationship between urbanization and energy consumption (Al-mulali, Sab & Fereidouni, 2012; Al-mulali et al., 2013; Al-mulali

Trang 8

large emerging countries such as China and India (Li, Fang & He, 2018; Shahbaz

et al., 2017; Zhang & Lin, 2012; Wang et al 2014) Other studies were conducted using a sample of developed nations such as the OECD and the EU countries (Kasman & Duman, 2015; and Chontanawat, Hunt & Pierse, 2008) However, the link between urbanization and energy consumption has largely been ignored in emerging markets such as those in the ASEAN region, in particular with a particular focus on the time series aspect of this important link

The contributions of this study to current literature on urbanization and energy consumption can be summarized as follows First, other studies appear to use total energy consumption while this paper focuses on each of fossil fuels sources including coal, gas, and oil Second, unlike other studies in which panel data analysis is used, this paper utilizes time-series analysis to examine a co-integration (a long run relationship) between energy and urbanization for each of the Southeast Asian countries Third, we focus on developing countries only in the Southeast Asian region, key members of the ASEAN, including Indonesia, Malaysia, the Philippines, Thailand, and Vietnam to provide specific insights for policies Fourth,

a relationship between urbanization and energy consumption in each of these Southeast Asian countries is estimated and then compared with each other for policy implications

- Urbanization in Indonesia, Malaysia and Thailand appears to be associated with an increase in coal consumption in the short run Meanwhile, gas consumption will increase with urbanization in Vietnam

- In the long run, urbanization in Thailand and Vietnam is linked to an increase in oil consumption Urbanization in Indonesia, Malaysia and the Philippines leads to the reduction of coal consumption in the long run

Trang 9

5 Products:

A paper has been published on Evinronment and Urbanization ASIA This journal

is indexed in Web of Science’s ESCI (the merging Sources Citation Index) with the CiteScore of 1.1 as at March 2021 The journal is also indexed in Elsevier’s SCOPUS (Quarter 2)

6 Transfer alternatives, application institutions, impacts and benefits of research results:

The findings from the project are a useful informative reference source of information for undergraduate and graduate students, especially in the major of Economics and Agriculre at Ho Chi Minh City Open University Others students who are interested in the field of agricultural economics will benefit from the project too

Ho Chi Minh City, 07 February 2022

Implemeting Institution

(signed, named and sealed)

Coordinator

Mr Ho Minh Chi

Trang 10

MỤC LỤC

1 GIỚI THIỆU 10

2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 16

3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ SỐ LIỆU NGHIÊN CỨU 19

4 KẾT QUẢ 24

5 KẾT LUẬN 37

TÀI LIỆU THAM KHẢO 39

Trang 11

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1: Tiêu thụ năng lượng ở các nước ASEAN được chọn (tương đương triệu

tấn dầu) 12 Bảng 2: Phát thải CO 2 , Đô thị hóa và GDP ở các nước ASEAN được chọn 13 Bảng 3: Tính sẵn có của số liệu 20 Bảng 4: Kiểm định nghiệm đơn vị sử dụng phương pháp Dickey–Fuller tăng

cường cho các biến ở I(0) 25 Bảng 5: Kiểm định nghiệm đơn vị sử dụng phương pháp Dickey–Fuller tăng

cường cho các biến ở I(1) 26 Bảng 6: Kiểm định đồng tích hợp sử dụng phương pháp Gregory - Hansen với

điểm gãy cấu trúc 29 Bảng 7: Kiểm định đồng tích hợp sử dụng phương pháp ARDL kết hợp với điểm

gãy cấu trúc từ kiểm định Gregory - Hansen 30 Bảng 8: Kết quả dài hạn sử dung phương pháp ARDL 33 Bảng 9: Tác động ngắn hạn của đô thị hoá lên tiêu dùng năng lượng hoá thạch sử

dụng ARDL 34

Trang 12

1 Giới thiệu

Các nghiên cứu trước đây đã xem xét mối quan hệ giữa tăng trưởng và năng lượng thông qua việc sử dụng hàm sản xuất Trong thời kỳ công nghiệp hóa lần ba (1960 - 1990), các nhà nghiên cứu đã tập trung vào sự ảnh hưởng của việc phát triển tài chính đối với sự tiêu thụ năng lượng và các vấn đề môi trường xuất phát từ những tương tác không rõ ràng giữa các nhân tố này Gần đây có khá nhiều nghiên cứu về mối quan hệ giữa năng lượng, tăng trưởng kinh tế (và / hoặc phát triển tài chính) và

đô thị hóa (Duan và cộng sự, 2010; Li và cộng sự, 2018; Mrabet và cộng sự, 2019;

và Poumanyvong & Kaneko , 2010) Các tác giả cho rằng sự gia tăng dân số thành thị làm tăng nhu cầu về năng lượng dẫn đến việc gây ra áp lực lên môi trường Bên cạnh đó, Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA, 2019) đã nhấn mạnh về hiệu quả năng lượng toàn cầu Năm 2018, lượng năng lượng được sử dụng trên một đơn vị hoạt động kinh tế được ghi nhận ở mức cải thiện 1,2% Tuy nhiên, chỉ số này đã đạt mức gần gấp đôi vào năm 2010 Báo cáo cũng cho thấy rằng năng lượng toàn cầu đang chịu áp lực từ sự gia tăng nhu cầu làm mát, sưởi ấm, di chuyển và dịch vụ, cũng như sản xuất Ngoài ra, thống kê của British Petro (2019) ghi nhận mức tiêu thụ than đá tăng gấp hơn 6 lần ở Việt Nam và khoảng từ 3 đến 4 lần ở các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) khác từ năm 2005 đến 2018 (xem Bảng 1 để biết chi tiết) Mặc dù vậy, tổng GDP chỉ tăng 4 lần ở Việt Nam và từ 2 đến 3 lần ở các nước ASEAN khác trong giai đoạn này (Bảng 2) Tổng hợp lại, số liệu thống kê từ Bảng

1 và Bảng 2 phản ánh tình trạng sử dụng năng lượng thiếu hiệu quả ở các quốc gia ASEAN

Mặt khác, mức độ đô thị hóa được ghi nhận gia tăng thêm 44 triệu người ở Indonesia,

7 triệu người ở Malaysia, khoảng 11 triệu người ở Philippines, Thái Lan và Việt Nam từ năm 2005 đến 2018 (Bảng 2) Tốc độ gia tăng dân số thành thị ở các quốc gia ASEAN này vào khoảng 30 đến 50 phần trăm Trong Bảng 2, sự phát thải CO2

Trang 13

cũng được ghi nhận là tăng khoảng 40 đến 60 phần trăm ở Indonesia, Malaysia, Philippines và Thái Lan, và tăng gấp 2,6 lần ở Việt Nam từ năm 2005 đến năm 2018 Các số liệu thống kê này làm dấy lên lo ngại về mối quan hệ giữa quá trình đô thị hóa, như một hệ quả trực tiếp từ quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa nền kinh

tế, và tiêu thụ năng lượng, hiện được xem là không hiệu quả ở các quốc gia ASEAN được chọn

Trang 14

Bảng 1: Tiêu thụ năng lượng ở các nước ASEAN được chọn (tương đương triệu tấn dầu)

Tiêu thụ dầu Tiêu thụ ga Tiêu thụ than đá Tiêu thụ thuỷ điện

Ghi chú: Tiêu thu các loại năng lượng trên được tính quy đổi tương đương với triệu tấn dầu;

Các số liệu về tiêu thụ năng lượng được thống kê bởi British Petro (2019)

Trang 15

Bảng 2: Phát thải CO2, Đô thị hóa và GDP ở các nước ASEAN được chọn

Phát thải CO 2

Ghi chú: Phát thải CO 2 được ghi nhận bởi British Petro (2019);

Tốc độ đô thị hoá, Dân số đô thị, và GDP được lấy từ Ngân hàng Thế giới

Trang 16

Mối liên hệ giữa việc tiêu thụ năng lượng và phát thải CO2 là một chủ đề quan trọng

đã và đang thu hút sự quan tâm từ cả các quốc gia đã phát triển và các thị trường mới nổi Tuy nhiên với các quốc gia mới nổi và quốc gia đang phát triển, tăng trưởng kinh tế được nhìn nhận chung là mục tiêu quan trọng hàng đầu Năng lượng được cho là một nguồn lực quan trọng để hỗ trợ và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở các quốc gia mới nổi, những nơi vốn phụ thuộc nhiều vào năng lượng hóa thạch do sự phù hợp về mặt chi phí tài chính của loại năng lượng này Mặt khác, đô thị hóa là hệ quả trực tiếp của quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa Nhìn chung, việc sử dụng năng lượng hóa thạch và mức độ đô thị hóa cao tạo ra áp lực đối lên sự bền vững môi trường và an sinh xã hội ở các thị trường mới nổi

ASEAN được xem là một trong những khu vực kinh tế năng động nhất trên thế giới Khu vực này đã phải đối mặt với những thách thức lớn liên quan đến vấn đề suy thoái môi trường trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Một số nhà nghiên cứu đã xem xét mối quan hệ giữa đô thị hóa và tiêu thụ năng lượng (Al-mulali, Sab & Fereidouni, 2012; Al-mulali và cộng sự, 2013; Al-mulali & Ozturk, 2015; Li & Lin, 2015; Poumanyvong & Kaneko, 2010; và Zhang & Lin, 2012) Mối quan hệ nhân quả giữa đô thị hóa và tiêu thụ năng lượng hoặc phát thải CO2 trong mối quan hệ giữa năng lượng và phát triển kinh tế cũng đã thu hút nhiều học giả Các nghiên cứu thực nghiệm về chủ đề đô thị hóa và tiêu thụ năng lượng chủ yếu hướng đến các quốc gia mới nổi lớn như Trung Quốc và Ấn Độ (Li, Fang & He, 2018; Shahbaz và cộng sự, 2017; Zhang & Lin, 2012; Wang và cộng sự 2014) Các nghiên cứu khác được thực hiện bằng cách sử dụng mẫu các quốc gia phát triển như các quốc gia trong khối OECD và khu vực EU (Kasman & Duman, 2015; và Chontanawat, Hunt & Pierse, 2008) Tuy nhiên, mối liên hệ giữa đô thị hóa và tiêu thụ năng lượng phần lớn chưa được khai thác tại các thị trường mới nổi như những thị trường trong khu vực ASEAN Cụ thể hơn, các phân tích tập trung vào khía cạnh

Trang 17

chuỗi thời gian về mối quan hệ giữa đô thị hoá và tiêu dùng năng lượng ở khu vực ASEAN chưa được xem xét đầy đủ và chi tiết

Nghiên cứu này được thực hiện để đóng góp vào các nghiên cứu về vấn đề đô thị hóa và tiêu thụ năng lượng ở ba khía cạnh Thứ nhất, không giống như các nghiên cứu khác, phân tích chuỗi thời gian được sử dụng để kiểm định sự đồng tích hợp giữa năng lượng và đô thị hóa cho từng quốc gia Đông Nam Á Thứ hai, nghiên cứu chỉ tập trung vào các nước đang phát triển trong khu vực Đông Nam Á, các thành viên chính của ASEAN, bao gồm Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Việt Nam để cung cấp những góc nhìn sâu sắc về mặt chính sách Thứ ba, sự liên hệ giữa

đô thị hóa và tiêu thụ năng lượng ở mỗi quốc gia Đông Nam Á này sau đó được so sánh với nhau để đưa ra các hàm ý chính sách

Bài nghiên cứu này được cấu trúc như sau Tiếp sau phần giới thiệu, phần hai trình bày tổng quan lý thuyết về chủ đề này Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu sau đó

sẽ được thảo luận trong phần 3 Phần 4 trình bày các kết quả thực nghiệm từ nghiên cứu này và phần 5 sẽ đưa ra kết luận của nghiên cứu

Trang 18

2 Tổng quan lý thuyết

Đã có những nghiên cứu xem xét mối quan hệ sâu rộng giữa tiêu thụ năng lượng và phát triển kinh tế (Aslan và cộng sự, 2014; Bartleet & Gounder, 2010; Belke, Dobnik, & Dreger, 2011; Chontanawat, Hunt & Pierse, 2008; Kasman & Duman,

2015 ; Narayan và cộng sự, 2010; Ouedraogo, 2013; và Ozturk & Acaravci, 2010) Trong số các nghiên cứu này, Ouedraogo (2013), và Aslan và cộng sự (2014) đã tìm thấy tác động tăng trưởng kinh tế của tiêu thụ năng lượng Ngược lại, Bartleet và Gounder (2010), Narayan và cộng sự (2010), và Kasman và Duman (2015) cho rằng tăng trưởng kinh tế ảnh hưởng đến tiêu thụ năng lượng Chontanawat, Hunt và Pierse (2008) chỉ ra ảnh hưởng của tăng trưởng kinh tế đến tiêu thụ năng lượng ở các nước OECD, trong khi tác động ngược lại được tìm thấy ở các nền kinh tế ngoài OECD Mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa tăng trưởng kinh tế và tiêu thụ năng lượng cũng được tìm thấy bởi Belke, Dobnik và Dreger (2011), và Ozturk và Acaravci (2010) Mặt khác, Li và Lin (2015), và Poumanyvong và Kaneko (2010) đã chỉ ra hai tác động trái ngược nhau của tăng trưởng kinh tế đối với tiêu thụ năng lượng tùy vào từng giai đoạn phát triển Tăng trưởng kinh tế dẫn đến việc sử dụng năng lượng thấp hơn ở các quốc gia thu nhập thấp, trong khi mối tương quan cùng chiều giữa tăng trưởng kinh tế và tiêu thụ năng lượng được tìm thấy ở các quốc gia có thu nhập trung bình và cao

Về mối quan hệ nội sinh giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển tài chính, Islam và cộng sự (2013), Karanfil (2009), Lee và Chang (2008), và Sadorsky (2010) cho rằng phát triển tài chính là một nhân tố có liên quan đến sự ảnh hưởng đối với tiêu thụ năng lượng Karanfil (2009) cho rằng các yếu tố tài chính như tỷ giá hối đoái và lãi suất có thể ảnh hưởng đến tiêu thụ năng lượng thông qua giá cả của năng lượng Sadorsky (2010) và Islam và cộng sự (2013) đã tìm thấy mối tương quan thuận giữa phát triển tài chính và tiêu thụ năng lượng Theo kết quả thực nghiệm, Lee và Chang

Trang 19

(2008) đã tìm ra sự liên hệ có ý nghĩa thống kê giữa tiêu thụ năng lượng và tăng trưởng kinh tế khi mà vốn được đưa vào mô hình hồi quy bảng

Sau đó, sự chú ý chuyển sang mối liên hệ cụ thể hơn giữa các vấn đề kinh tế xã hội

cụ thể và tiêu thụ năng lượng ở các vùng cụ thể hoặc ở các giai đoạn phát triển kinh

tế khác nhau, một trong số đó là mối liên hệ giữa đô thị hóa và tiêu thụ năng lượng

Có hai luồng nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa tiêu thụ năng lượng và

đô thị hóa Luồng đầu tiên cho rằng đô thị hóa và công nghiệp hóa thúc đẩy tiêu thụ năng lượng (Dahl & Erdogan, 1994; Burney, 1995; và Lenzen và cộng sự, 2006) Mặt khác, ở luồng thứ hai, đô thị hóa được cho là làm giảm mức tiêu thụ năng lượng bình quân đầu người (Lariviere & Lafrance, 1999; Pachauri & Jiang, 2008; và Poumanyvong & Kaneko, 2010) Liu (2009) tập trung vào khía cạnh hộ gia đình để xem xét mối quan hệ giữa đô thị hóa và tiêu thụ năng lượng Áp dụng hồi quy ARDL

và kiểm định quan hệ nhân quả Granger, Liu (2009) cho rằng có sự chuyển động đồng tích hợp giữa tiêu thụ năng lượng, GDP, tổng dân số và đô thị hóa ở Trung Quốc Tác giả cũng xác nhận mối quan hệ nhân quả Granger một chiều từ đô thị hóa đến tiêu thụ năng lượng trong ngắn hạn và dài hạn Mức độ phát triển kinh tế cao hơn hoặc mức độ đô thị cao hơn dẫn đến việc sử dụng năng lượng hiệu quả hơn qua việc suy giảm tốc độ tăng trưởng của tổng mức tiêu thụ năng lượng hoặc mức tiêu thụ năng lượng bình quân đầu người Lariviere và Lafrance (1999) đã chứng minh rằng mật độ dân cư đô thị gia tăng dẫn đến sự sụt giảm việc sử dụng điện ở Canada Hơn nữa, mối quan hệ nhân quả giữa đô thị hóa và tiêu thụ năng lượng đã thu hút rất nhiều sự quan tâm trong thời gian gần đây, với việc phân tích chuỗi thời gian

Trang 20

giả chỉ trích do vấn đề các biến bị bỏ sót Wang, Li, và Fang (2018) đã sử dụng dữ liệu bảng của 170 quốc gia từ năm 1980 đến năm 2011 để xem xét mối liên hệ giữa

đô thị hóa, tiêu thụ năng lượng, phát thải CO2 và tăng trưởng kinh tế Các tác giả đã xác nhận sự đồng tích hợp giữa tất cả các biến này trong mô hình, tuy nhiên lại có nhiều kết quả khác nhau trong kiểm định nhân quả Granger Bakirtas và Akpolat (2018) cũng tiến hành phân tích dữ liệu bảng đối với sáu quốc gia mới nổi nằm ở các châu lục khác nhau từ năm 1971 đến năm 2014 Các tác giả đã tìm được mối quan hệ nhân quả Granger giữa tăng trưởng kinh tế, đô thị hóa và tiêu thụ năng lượng

Trang 21

3 Phương pháp nghiên cứu và Số liệu nghiên cứu

Bài nghiên cứu này nhằm mục đích xem xét tác động của đô thị hóa đối với tiêu thụ năng lượng ở năm quốc gia Đông Nam Á được chọn Không giống như các nghiên cứu trước đây sử dụng phép hồi quy bảng, chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích chuỗi thời gian để quan sát riêng biệt các tác động từ từng quốc gia trong mẫu, sau

đó so sánh kết quả giữa các quốc gia này

Bên cạnh đó, trong phân tích chuỗi thời gian của chúng tôi, phân tích này được thực hiện cho từng quốc gia trong số năm quốc gia này một cách riêng biệt Do đó,

sự khác biệt trong các phép đo của các biến, nếu có, giữa các quốc gia không phải là một vấn đề Trong mô hình của chúng tôi, tỷ trọng của ngành công nghiệp trong GDP được sử dụng làm đại diện cho quá trình công nghiệp hóa (Al-mulali et al., 2012; Al-mulali et al., 2013; Al-mulali & Ozturk, 2015; Li & Lin, 2015; Poumanyvong & Kaneko, 2010; Zhang & Lin, 2012) Đồng thời, chúng tôi cũng sử dụng tỷ trọng sản xuất chế tạo trong GDP trong mô hình Chúng tôi coi đô thị hóa, công nghiệp hóa và sản xuất là ba chỉ số đại diện cho quá trình hiện đại hóa Ngoài

ra, do phân tích chuỗi thời gian chỉ có 33 năm, chúng tôi hạn chế đưa thêm các biến kiểm soát vĩ mô khác vào mô hình, nhằm đảm bảo bậc tự do của mô hình là phù hợp

Mô hình log-log có thể được minh họa như sau:

𝐸𝑁𝑡𝑗 = 𝑓(𝐺𝐷𝑃𝑡𝑗, 𝑈𝑅𝐵𝑡𝑗, 𝐼𝑁𝐷𝑡𝑗, 𝑀𝐴𝑁𝑡𝑗)

Trong đó: EN đại diện cho tiêu thụ than, tiêu thụ khí đốt, tiêu thụ thủy điện và tiêu

thụ dầu GDP là GDP danh nghĩa URB đại diện cho tốc độ tăng trưởng đô thị hóa IND và MAN lần lượt là tỷ trọng của ngành Công nghiệp và Sản xuất

Trang 22

Bảng 3 trình bày tính sẵn có của dữ liệu cho từng biến được sử dụng trong nghiên cứu này

Bảng 3: Tính sẵn có của số liệu

Indonesia Malaysia The

Philippines Thailand Vietnam

Tiêu thụ than đá 1965 – 2018 1965 – 2018 1965 – 2018 1965 – 2018 1965 – 2018 Tiêu thụ ga 1965 – 2018 1970 – 2018 1994 – 2018 1981 – 2018 1981 – 2018 Tiêu thụ dầu 1965 – 2018 1965 – 2018 1965 – 2018 1965 – 2018 1965 – 2018 Tốc độ đô thị hoá 1960 – 2018 1960 – 2018 1960 – 2018 1960 – 2018 1960 – 2018 GDP 1967 – 2018 1960 – 2018 1960 – 2018 1960 – 2018 1985 – 2018

Ngày đăng: 28/03/2023, 09:30

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w