1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Foreign investment, economic growth and environmental degradation since the 1986 “economic renovation” in vietnam

56 3 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Foreign investment, economic growth and environmental degradation since the 1986 “economic renovation” in vietnam
Tác giả TS. Võ Hồng Đức, Ths Hồ Minh Chí
Trường học Trường Đại Học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh
Thể loại Báo cáo tổng kết
Năm xuất bản 2021
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả nghiên cứu: Một số kết quả chủ yếu đạt được từ nghiên cứu này có thể được tóm tắt như sau: - Đầu tiên, mối quan hệ chữ U mối quan hệ EKC ngược giữa tăng trưởng kinh tế và suy th

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP CƠ SỞ

Foreign Investment, Economic Growth and

Environmental Degradation since the 1986 “Economic

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP CƠ SỞ

Foreign Investment, Economic Growth and Environmental Degradation since the 1986 “Economic

Renovation” in Vietnam

Mã số: E.2020.01.1A

Xác nhận của tổ chức chủ trì Chủ nhiệm đề tài

Võ Hồng Đức

Trang 3

DANH SÁCH NHỮNG THÀNH VIÊN THAM GIA NGHIÊN CỨU

ĐỀ TÀI VÀ ĐƠN VỊ PHỐI HỢP CHÍNH

Trang 4

MỤC LỤC

1 GIỚI THIỆU 13

2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 20

2.1 VẤNĐỀTĂNGTRƯỞNGKINHTẾVĂTIÍUTHỤNĂNG LƯỢNG .20

2.2 TIÍUTHỤNĂNGLƯỢNGVẴNHIỄMKHÔNGKHÍ 22

2.3 ÔNHIỄMKHÔNGKHÍVĂTĂNGTRƯỞNGKINHTẾ 23

3 PHƯƠNG PHÂP VĂ SỐ LIỆU NGHIÍN CỨU 27

4 KẾT QUẢ 31

4.1 KIỂMĐỊNHNGHIỆMĐƠNVỊ 32

4.2.KẾTQUẢTHỰCNGHIỆM 34

5 KẾT LUẬN 41

TĂI LIỆU THAM KHẢO 46

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1: Thống kê mô tả, 1986 đến 2018 32 Bảng 2: Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị cho các biến sử dụng trong

nghiên cứu 33 Bảng 3: Kết quả về mối quan hệ giữa FDI-tăng trưởng-môi trường sử dụng

kỹ thuật ARDL 35 Bảng 4: Kết quả về mối quan hệ giữa FDI-tăng trưởng-môi trường từ các

hồi quy ngưỡng 37

Trang 6

DANH MỤC HÌNH

Hình 1: Chuyển đổi cơ cấu tiêu dùng năng lượng tại Việt Nam (Brtish Petro

Statistics, 2019) 15 Hình 2: GDP bình quân đầu người và phát thải CO2 ở Việt Nam từ 1986 đến

2018 (Brtish Petro Statistics, 2019) 16 Hình 3: Kết quả từ phương pháp Toda - Yamamoto cho phép thử quan hệ

nhân quả Granger .40

Trang 7

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1 Thông tin chung:

- Tên đề tài:

Foreign Investment, Economic Growth and Environmental Degradation

since the 1986 “Economic Renovation” in Vietnam

- Mã số: E.2020.01.1A

- Chủ nhiệm: TS Võ Hồng Đức

- Cơ quan chủ trì: Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh

- Thời gian thực hiện: 06/2020 – 06/2022

2 Mục tiêu:

Mục tiêu của nghiên cứu này là xem xét mối quan hện giữa tăng trưởng kinh tế và suy thoái môi trường tại Việt Nam Trong đó, chúng tôi xem xét vai trò của FDI trong cả ngắn hạn và dài hạn Điều mà chưa có nghiên cứu nào trước đây từng thực hiện

3 Tính mới và sáng tạo:

Nghiên cứu hiện tại của chúng tôi xem xét lại vấn đề quan trọng về sự tồn tại của giả thuyết EKC trong bối cảnh của Việt Nam, sau khi nhận thấy một số các điểm chưa hoàn thiện của các nghiên cứu trước đây Không như những nghiên cứu trước đây thực hiện cho Việt Nam, trước hết nghiên cứu này sử dụng khoảng thời gian dữ liệu dài nhất và mới nhất có thể, từ 1986 đến 2018 Thứ hai, chúng tôi sử dụng mô hình tự hồi quy phân phối trễ ARDL (Autoregressive Distributed Lag), thường được xem là thích hợp cho một mẫu

Trang 8

chuỗi thời gian nhỏ, nhằm kiểm tra mối quan hệ ngắn hoặc dài hạn giữa các biến Thứ ba, chúng tôi nhóm các loại tiêu thụ năng lượng khác nhau thành hai loại chính: (i) tiêu thụ năng lượng hóa thạch bao gồm tiêu thụ than, khí đốt và dầu, và (ii) tiêu thụ năng lượng tái tạo bao gồm tiêu thụ thủy điện Thứ tư, chúng tôi thực hiện hồi quy ngưỡng để xác định mức GDP bình quân đầu người, sau đó áp dụng vào quá trình phân tích về mối quan hệ FDI-tăng trưởng-môi

trường, như một phép kiểm tra độ vững của mô hình thực nghiệm

4 Kết quả nghiên cứu:

Một số kết quả chủ yếu đạt được từ nghiên cứu này có thể được tóm tắt như sau:

- Đầu tiên, mối quan hệ chữ U (mối quan hệ EKC ngược) giữa tăng trưởng kinh tế và suy thoái môi trường được xác nhận ở Việt Nam trong dài hạn và ở ngưỡng trên của phát triển kinh tế

- Thứ hai, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có tác động cải thiện ô nhiễm môi trường ở ngưỡng thu nhập bình quân đầu người thấp và trong ngăn hạn Tuy nhiên, ở ngưỡng trên của thu nhập bình quân, FDI

có tác động gia tăng phát thải CO2

- Thứ ba, tiêu dùng năng lượng có nguồn gốc hoá thạch như than đá, khí

ga và dầu dẫn đến suy thoái môi trường trong cả ngắn hạn và dài hạn, cũng như ở cả hai ngưỡng của thu nhập bình quân

5 Sản phẩm:

Một bài báo được chấp nhận đăng ở tạp chí Environmental Science and

Pollution Research Tạp chí này thuộc danh mục Web of Science’s SCIE (the

Science Citation Index Expanded) với chỉ số ảnh hưởng là 3.1 (tháng 2/2021) Tạp chí này cũng thuộc danh mục Elsevier’s Scopus (Q2)

Trang 9

6 Hiệu quả, phương thức chuyển giao kết quả nghiên cứu và khả năng

áp dụng:

Kết quả từ nghiên cứu có thể ứng dụng làm nguồn tài liệu tham khảo cho sinh viên đại học, học viên cao học ngành Kinh tế học tham khảo tại Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh Nghiên cứu này cũng rất hữu ít cho sinh viên quan tâm về lĩnh vực kinh tế nang luong và kinh tế phát triển

Trang 10

MINISTRY OF EDUCATION AND TRAINING

HO CHI MINH CITY OPEN UNIVERSITY

INFORMATION ON RESEARCH RESULTS

1 General Information:

 Project title:

Foreign Investment, Economic Growth and Environmental Degradation since the 1986 “Economic Renovation” in Vietnam

 Code number: E.2020.01.1A

 Coordinator: Dr Vo Hong Duc

 Implemeting institution: Ho Chi Minh City Open Univeristy

 Duration: 06/2020 – 06/2022

2 Objectives:

This study is conducted to examine the link between economic growth and environmental degradation, with the focus on the important role of the FDI, in Vietnam in both short run and long run

3 Creativeness and innovativeness:

This study revisits the important issue of the validity of the EKC hypothesis in the context of Vietnam, taking into account weaknesses exhibited

in the previous studies Unlike previous studies for Vietnam, first, the longest possible and most updated data period, from 1986 to 2018, is used Second, we utilize the auto-regressive distributed lags (ARDL) model, which is generally

Trang 11

term or long-term relationship between variables Third, we group different types of energy consumption into two main categories: (i) fossil energy consumption including coal, gas, and oil consumption, and (ii) renewable energy consumption including hydroelectric consumption Fourth, we perform a threshold regression to determine the level of per capital GDP, which is then used in our analysis on FDI-growth-environment nexus, as a robustness check

4 Research results:

Some key findings of the paper could be summarized as follows

- First, the U-shaped relationship (or an inverted EKC hypothesis) between economic growth and environmental quality is confirmed in Vietnam in the long term and at the upper threshold of economic growth

- Second, FDI leads to an improvement in the environmental quality at the lower threshold of economic growth and in the short run However,

an increase in FDI is associated with further deterioration in the environmental quality

- Third, consumption from fossil fuel sources such as from coal, gas, and oil consumption leads to environmental degradation in the long run and

in both thresholds of economic growth

5 Product:

A paper has been published on Environmental Science and Pollution

Research This journal is indexed in Web of Science’s SCIE (the Science

Citation Index Expanded) with the impact factor of 3.1 as at February 2021 The journal is also indexed in Elsevier’s Scopus (Quarter 2)

Trang 12

6 Transfer alternatives, application institutions, impacts and benefits of research results:

The findings from the project are a useful reference source of information for undergraduate and graduate students, especially in the major of economics and finance at Ho Chi Minh City Open University Others students who are interested in the field of international economics, energy economics and finance will benefit from the project too

Ho Chi Minh City, 22 April 2021

Implemeting Institution

(signed, named and sealed)

Coordinator

Dr Vo Hong Duc

Trang 13

1 Giới thiệu

Việt Nam nhìn chung đã và đang được công nhận là một trong những nền kinh tế mới nổi thành công và năng động nhất Châu Á Quốc gia này đã đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh và bền vững kể từ chính sách Đổi Mới kinh

tế năm 1986 Việt Nam đã duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm trên 5% kể từ năm 1988, bất kể hai cuộc suy thoái kinh tế thế giới gần đây vào năm 2008 và 2012 Một năm sau Đổi Mới, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Việt Nam đã lập tức tăng hơn 250 lần từ 40 nghìn USD năm

1986 lên 10.3 triệu USD năm 1987 Sau đó vào năm 2018, Việt Nam thu hút vốn FDI khoảng 15.5 tỷ USD Năm 2019, British Petro Statistics (2019) công bố rằng nền kinh tế Việt Nam sử dụng gần 3.5 exajoules nguồn năng lượng hóa thạch, tương đương với hơn 83 triệu tấn dầu Con số này về năng lượng hóa thạch tăng 15.5 lần so với mức năm 1986, Lượng khí thải CO2 cũng tăng gấp 15 lần, từ 18.9 triệu tấn năm 1986 lên 285.9 triệu tấn năm

2019 Nhằm duy trì phát triển kinh tế bền vững, Chính phủ Việt Nam đã bắt đầu nhận thức được tầm quan trọng của năng lượng tái tạo để đạt được những mục tiêu kép cho đất nước: (i) duy trì tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững và (ii) cải thiện chất lượng môi trường Kết quả là mức tiêu thụ năng lượng thủy điện - một trong những nguồn năng lượng tái tạo quan trọng nhất Việt Nam đã tăng lên Mức tiêu thụ này được ghi nhận tăng hơn 40 lần

từ 336 nghìn tấn dầu tương đương năm 1986 lên 13.9 triệu tấn dầu tương đương năm 2019 (Brtish Petro Statistics, 2019)

Hình 1 dưới đây trình bày sự thay đổi rõ ràng về mô hình các nguồn năng lượng tại Việt Nam trong 35 năm qua Năng lượng tạo ra từ than trong tiêu dùng giảm từ 54% xuống 43% trong giai đoạn 35 năm Đây là một sự chuyển dịch chậm đối với các nguồn năng lượng sạch tại Việt Nam Ngoài

Trang 14

ra, mối liên hệ chặt chẽ giữa sự tăng trưởng kinh tế tính theo GDP bình quân đầu người và lượng khí thải CO2 được nhận thấy trong cùng một thời kỳ, thể hiện tại hình 2

Trang 15

Tiêu dùng năng lượng tái tạo Tiêu dùng than đá Tiêu dùng khí ga Tiêu dùng dầu

Trang 16

Hình 2: GDP bình quân đầu người và phát thải CO2 ở Việt Nam từ 1986 đến 2018 (Brtish Petro Statistics,

2019)

50.0 100.0 150.0 200.0 250.0

-0.0 500.0 1000.0 1500.0 2000.0 2500.0

Trang 17

Cuộc thảo luận về một cấu trúc mới cho các nguồn năng lượng của Việt Nam với tỷ trọng năng lượng sạch ngày càng tăng đã được diễn ra Rogers (2019) cho rằng Việt Nam nên đầu tư nhiều hơn vào các nguồn năng lượng tái tạo, mặc dù trọng tâm hiện tại đang là tài nguyên thủy điện tự nhiên, cùng năng lượng gió và năng lượng mặt trời với chi phí thấp Nguyễn (2020) báo cáo rằng đóng góp của thủy điện, gió, mặt trời và các dạng năng lượng tái tạo khác vào nguồn cung điện quốc gia dự kiến sẽ đạt khoảng 67,4% vào năm

2030 Minh (2020) trích dẫn rằng Chính phủ Việt Nam đã và đang chuẩn bị cho một thị trường cạnh tranh trong lĩnh vực năng lượng Chính phủ dự kiến

sẽ công bố khung pháp lý hoàn chỉnh cho thị trường, trong đó các nhà đầu tư

tư nhân có thể tham gia sản xuất và cung cấp năng lượng tại Việt Nam vào năm 2024 Theo đó, chính phủ Việt Nam hiện đang khuyến khích thay đổi cơ cấu năng lượng theo hướng sử dụng các nguồn tài nguyên sạch và thân thiện với môi trường Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện để xem xét mối quan hệ qua lại giữa việc tiêu thụ năng lượng và sự tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây về những vấn đề này dường như bỏ qua vai trò của nhiệt độ và thời tiết trong mối liên hệ này Sự gia tăng của nhiệt độ thời tiết, đặc biệt vào mùa đông và mùa hè, sẽ dẫn đến sự gia tăng của nhu cầu và mức tiêu thụ năng lượng, khiến cho chất lượng môi trường ngày càng xấu đi Ngoài ra, tình trạng ô nhiễm không khí luôn là mối quan tâm lớn đối với sức khỏe cộng đồng ở các thị trường mới nổi Do đó, chúng tôi cho rằng vai trò

và mức độ ảnh hưởng của những đặc điểm này có thể ảnh hưởng đến mối quan hệ tăng trưởng-năng lượng, đặc biệt đối với các thị trường mới nổi và

các nước có thu nhập trung bình

Ngoài ra, các nghiên cứu thực nghiệm trước đây về mối quan hệ tăng trưởng-năng lượng dường như phụ thuộc vào cách tiếp cận đơn phương trình Các điểm yếu của phương pháp đơn phương trình này đã được chứng

Trang 18

minh trong nhiều nghiên cứu khác nhau như Ormi (2013), Ormi và Kahouli (2014), Ormi cùng cộng sự (2015a, b), và Xia (2012) Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng mô hình hệ phương trình, đã được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu kinh tế học khác Trong cách tiếp cận mô hình này, ba phương trình riêng biệt được kiểm tra đồng thời Trọng tâm của nghiên cứu này nằm ở mối quan hệ giữa năng lượng, môi trường, và tăng trưởng Như vậy, ba phương trình nhằm kiểm tra mối quan hệ qua lại này được thể hiện như sau Phương trình đầu tiên trình bày mối liên hệ giữa tiêu thụ năng lượng và tăng trưởng kinh tế bằng cách sử dụng hàm sản xuất Phương trình thứ hai tập trung vào hàm năng lượng Phương trình cuối cùng

nằm trên đường cong Kuznets môi trường (EKC) hoặc hàm ô nhiễm

Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và suy thoái môi trường được thể hiện trong đường cong Kuznets môi trường (EKC) Giả thuyết EKC đã được xây dựng và phát triển cùng với cuộc cách mạng công nghiệp từ thế kỷ 19 Giả thuyết này đưa ra mối quan hệ đường cong hình chuông giữa tăng trưởng kinh tế và lượng khí thải CO2 Các nghiên cứu thực nghiệm chủ yếu tập trung vào các nước công nghiệp và phát triển, chẳng hạn như các nước OECD, các quốc gia EU, Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ và nhiều nước khác (Dogan & Seker, 2016; Raza & Shah, 2018; Saboori cùng cộng sự, 2014; Sharif cùng cộng sự, 2019) Các nền kinh tế có thu nhập trung bình thấp như

Việt Nam đã bị bỏ lại

Có rất ít các nghiên cứu thực nghiệm điều tra về sự tồn tại của giả thuyết EKC tại Việt Nam (Al-Mulali cùng cộng sự, 2015; Shahbaz cùng cộng sự, 2019; Tang & Tan, 2015) Tuy nhiên, Al-Mulali cùng cộng sự (2015) lại không bao gồm yếu tố bình phương của GDP để kiểm tra sự tồn tại đường cong hình chuông giữa thu nhập và sự phát thải Bên cạnh đó, tác giả còn

Trang 19

luân phiên sử dụng sự tiêu thụ năng lượng hóa thạch và sự tiêu thụ năng lượng tái tạo trong hai mô hình riêng biệt Chiến lược này có thể làm tăng hệ

số hồi quy của mỗi biến đại diện cho từng khía cạnh của tiêu dùng năng lượng do vấn đề các biến bị bỏ sót Mặt khác, Tang và Tan (2015) sử dụng kiểm định Johansen nhằm kiểm định khả năng đồng liên kết giữa tăng trưởng kinh tế và phát thải CO2 tại Việt Nam Phân tích này sử dụng Mô hình Uớc lượng VECM (Vector Error Correction Model) và Tự Hồi quy Véc tơ VAR (Vector Autoregression), do đó yêu cầu một mẫu lớn Tuy nhiên ở nghiên cứu đó, tác giả chỉ áp dụng kiểm định Johansen cho một mẫu nhỏ bao gồm

33 quan sát dạng chuỗi thời gian Các kết quả khác nhau đã được quan sát trong mối tương quan với giá trị của giả thiết EKC đối với Việt Nam Tang

và Tan (2015), và Shabaz cùng cộng sự (2019) nhận thấy mối quan hệ hình chữ U ngược giữa thu nhập và phát thải CO2 tại Việt Nam, trong khi Al-Mulali (2015) lại không xác nhận được mối quan hệ phi tuyến tính này tại

Trang 20

tăng trưởng-môi trường, như một phép kiểm tra độ vững của mô hình thực

nghiệm

Tiếp sau phần giới thiệu, phần còn lại của bài báo mang cấu trúc như sau

Ở phần 2 trình bày tổng quan tài liệu về giả thuyết EKC Sau đó, dữ liệu và phương pháp nghiên cứu sẽ được thảo luận trong phần 3 Tại phần 4 trình bày các kết quả thực nghiệm, theo sau bởi các kết luận và hàm ý chính sách trong phần 5 của bài

2 Tổng quan lý thuyết

Nhiều học giả đã khảo sát mối quan hệ qua lại giữa nhiều khía cạnh khác nhau trong mối quan hệ năng lượng-môi trường-tăng trưởng Tổng quan tài liệu tham khảo của chúng tôi biểu lộ mối quan tâm sâu sắc đối với mối quan

hệ giữa tăng trưởng kinh tế, tiêu thụ năng lượng, và suy thoái môi trường Bởi đó, nghiên cứu này quan tâm đến mối quan hệ sau, bao gồm (i) tăng trưởng kinh tế và tiêu thụ năng lượng; (ii) tiêu thụ năng lượng và ô nhiễm không khí (hoặc phát thải CO2); và (iii) ô nhiễm không khí và tăng trưởng kinh tế Từng mối quan hệ quan trọng này sẽ lần lượt được thảo luận dưới

đây

2.1 Vấn đề tăng trưởng kinh tế và tiêu thụ năng lượng

Một số nghiên cứu sâu rộng về mối quan hệ giữa tiêu thụ năng lượng và phát triển kinh tế được thực hiện gần đây như Aslan cùng cộng sự (2014), Bartleet & Gounder (2010), Belke, Dobnik, và Dreger (2011), Chontanawat, Hunt và Pierse (2008), Kasman và Duman (2015), Kraft và Kraft (1978),

Trang 21

Narayan cùng cộng sự (2010), Ouedraogo (2013), và Ozturk và Acaravci (2010)

Trước đó, các nghiên cứu hàn lâm đầu tiên trong lĩnh vực này là về mối liên hệ giữa tăng trưởng và tiêu dùng năng lượng Kraft và Kraft (1978) được xem là nghiên cứu tiên phong trong lĩnh vực này Sau bài báo này, mối quan

hệ giữa tăng trưởng-năng lượng đã được nghiên cứu thông qua các phương pháp kinh tế lượng khác nhau và/hoặc cho các nhóm quốc gia khác nhau Bốn giả thuyết điển hình được sử dụng để giải thích sự hiện diện của mối quan hệ nguyên nhân - kết quả giữa tăng trưởng kinh tế và tiêu thụ năng lượng (Payne, 2010a, Payne, 2010b) Đầu tiên là giả thuyết tăng trưởng về mối quan hệ giữa tiêu thụ năng lượng và tăng trưởng kinh tế Giả thuyết này được sẽ thừa nhận miễn là mối quan hệ một chiều từ tiêu thụ năng lượng đến tăng trưởng kinh tế còn được tìm thấy Thứ hai, giả thuyết bảo toàn quan điểm rằng bất kỳ sự giảm tiêu thụ năng lượng nào cũng sẽ đồng nghĩa với việc giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế Miễn là xuất hiện một mối quan hệ một chiều giữa tiêu thụ năng lượng và tăng trưởng kinh tế, thì giả thuyết này sẽ được chứng thực Thứ ba là giả thuyết phản hồi về sự tồn tại của mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa hai biến này Cụ thể là, tiêu thụ năng lượng có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế, và tăng trưởng kinh tế, theo sau, làm tăng tiêu thụ năng lượng Quá trình này tiếp tục diễn ra trong ngắn hạn và thậm chí là trong dài hạn Thứ tư là giả thuyết trung lập về việc không tồn tại

sự hiện diện của mối quan hệ nguyên nhân - kết quả giữa tiêu thụ năng lượng

và tăng trưởng kinh tế

Trong số các nghiên cứu thực nghiệm đã thực hiện, Ouedraogo (2013) và Aslan cùng cộng sự (2014) phân tích tác động tăng trưởng của tiêu thụ năng lượng Tức là tiêu thụ năng lượng ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế Ngược

Trang 22

lại, Bartleet và Gounder (2010), Narayan cùng cộng sự (2010) và Kasman và Duman (2015) cho rằng tăng trưởng kinh tế ảnh hưởng đến tiêu thụ năng lượng Trong khi đó, Chontanawat, Hunt & Pierse (2008) xác nhận ảnh hưởng của tăng trưởng kinh tế đối với tiêu thụ năng lượng ở các nước OECD, trong khi tác động ngược lại được tìm thấy ở các nền kinh tế ngoài OECD Mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa tăng trưởng kinh tế và tiêu thụ năng lượng cũng được tìm thấy bởi Belke, Dobnik và Dreger (2011) và Ozturk và Acaravci (2010) Ngoài ra, Li và Lin (2015) và Poumanyvong và Kaneko (2010) đưa ra hai tác động trái ngược nhau của tăng trưởng kinh tế đối với tiêu thụ năng lượng tùy theo từng giai đoạn phát triển Tăng trưởng kinh tế dẫn đến việc sử dụng năng lượng thấp hơn ở các quốc gia thu nhập thấp trong khi mối quan hệ tích cực giữa tăng trưởng kinh tế và tiêu thụ năng lượng được tìm thấy ở các quốc gia có thu nhập trung bình và cao

Các phát hiện từ các nghiên cứu thực nghiệm khác cũng đã xác nhận mối quan hệ nhân quả hai chiều về lâu dài giữa hai biến số này (Abdouli và Hammami, 2017; Adewuyi và Awodumi, 2017; Darvishi và Varedi, 2018; Omri, 2013; Omri cùng cộng sự, 2015b; Saidi và Hammami, 2016; Sekrafi

và Sghaier, 2018; Xia, 2012)

2.2 Tiêu thụ năng lượng và ô nhiễm không khí

Về mối quan hệ năng lượng-môi trường, Soytas, Sari và Ewing (2007) cho rằng tiêu thụ năng lượng có tác động làm gia tăng ô nhiễm không khí (hoặc phát thải CO2) trong dài hạn Các nghiên cứu gần đây từ Abdouli và Hammami (2018), Bhattacharya cùng cộng sự (2017) và Sinha (2016) cũng xác nhận mối quan hệ nhân quả một chiều từ tiêu thụ năng lượng đến ô nhiễm không khí Không chỉ việc tiêu thụ năng lượng hóa thạch mà năng

Trang 23

lượng tái tạo cũng có mối quan hệ với lượng khí thải CO2 trong dài hạn Mặt khác, Abdouli và Hammami (2017), Darvishi và Varedi (2018), Sekrafi và Sghaier (2018), và Tiba cùng cộng sự (2018) lại kết luận mối quan hệ nhân quả một chiều từ ô nhiễm không khí đến tiêu thụ năng lượng Trong khi đó, các nghiên cứu khác như Adewuyi và Awodumi (2017), Saidi và Hammami (2016) xác nhận sự hiện diện của mối quan hệ hai chiều giữa tiêu thụ năng lượng và ô nhiễm trong các phân tích của họ

2.3 Ô nhiễm không khí và tăng trưởng kinh tế

Giả thuyết về đường cong Kuznets môi trường (EKC) khẳng định rằng mối quan hệ giữa tăng trưởng và ô nhiễm không khí (hoặc phát thải CO2) tuân theo một đường cong hình chữ U ngược Nghĩa là tăng trưởng kinh tế làm tăng mức độ ô nhiễm cho đến khi đạt ngưỡng tối đa Khi nền kinh tế tiếp tục phát triển sau ngưỡng này, mức độ ô nhiễm giảm dần Giả thuyết EKC đã được nghiên cứu rộng rãi Các nghiên cứu trước đây đã khẳng định sự tồn tại của mối quan hệ này ở một số quốc gia, trong khi ở các quốc gia khác lại không có mối quan hệ rõ ràng nào giữa tăng trưởng kinh tế và phát thải CO2 Nhiều nghiên cứu khác nhau như Grossman và Krueger (1991) cùng với Shafik (1994), Dinda và Coondoo (2006), Heil và Selden (2001), Friedl và Getzner (2003) đã được thực hiện, và những phát hiện thực nghiệm từ những nghiên cứu này là khác nhau Mối quan hệ hình chữ U ngược không thể kết luận một cách chắc chắn Hơn nữa, các phát hiện từ các nghiên cứu thực nghiệm chỉ ra rằng mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát thải CO2 hoặc có thể là mối quan hệ nhân quả hai chiều (Abdouli và Hammami 2018; Adewuyi và Awodumi, 2017; Liu, 2005; 9 Omri, 2013; Omri cùng cộng sự, 2015a), hoặc có thể là một chiều từ tăng trưởng kinh tế đến phát thải CO2 (Bhattacharya cùng cộng sự, 2017)

Trang 24

Kể từ khi giả thuyết Đường cong Kuznets về môi trường được đưa ra (EKC), nhiều học giả đã rất nỗ lực để kiểm tra tính hợp lệ của nó Không có

sự đồng thuận nào đạt được từ các phân tích thực nghiệm, có những nghiên cứu ủng hộ , đồng thời có những nghiên cứu bác bỏ tính hợp lệ của của lý thuyết này Chúng tôi cho rằng các phát hiện khác nhau là kết quả của nhiều yếu tố khác nhau, từ việc chọn mẫu đến các loại chất ô nhiễm được phân tách, hoặc thậm chí cả phương pháp luận được áp dụng trong phân tích Cụ thể, các nghiên cứu trước đây đã xác nhận EKC bằng cách sử dụng các nước thành viên của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) (Sharif cùng cộng sự, 2018), ở các nước phát triển (Raza & Shah, 2018; Saidi & Ben Mbarek, 2016), ở Liên minh Châu Âu (Dogan & Seker, 2016b), ở các nước mới nổi (To cùng cộng sự, 2019a), trong nhóm nền kinh tế hỗn hợp ((Pao & Chen, 2019)) và ở các quốc gia Đông Nam Á (AEAN) (Munir et năm 2020) Gần đây, Dong, Sun và Hochman (2018) đã tìm thấy mối quan hệ hình chữ

U ngược giữa tăng trưởng kinh tế và chất lượng môi trường ở các nước BRICS (Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc, và Nam Phi) trong khi Zoundi (2017) không làm được như vậy cho 25 quốc gia châu Phi trong phân tích của mình

Các quốc gia khác nhau có các kết quả khác nhau về tính hiệu lực của EKC Ví dụ, sự tồn tại của EKC được nhận thấy ở Pháp (Iwata cùng cộng sự, 2010), Thổ Nhĩ Kỳ (Pata, 2018a, 2018b), Indonesia (Sugiawan & Managi, 2016), Trung Quốc (Adebola Solarin cùng cộng sự, 2017; Dong, Sun, cùng cộng sự, 2018; Jalil & Mahmud, 2009; Jayanthakumaran & Liu, 2012) và Pakistan (Shahbaz cùng cộng sự, 2015; Shahzad cùng cộng sự, 2017) Điều thú vị là Sulaiman (Saboori & Sulaiman, 2013) chỉ ra sự hiện diện của EKC trong giai đoạn 1980–2009, trong khi Ali, Abdullah và Azam (Ali cùng cộng

sự, 2017) và Gill, Viswanathan, và Hassan (Gill cùng cộng sự , 2018) lại có

Trang 25

Nam, nơi mà việc chấp nhận hay bác bỏ giả thuyết EKC đều khác nhau giữa các nghiên cứu (Al-Mulali cùng cộng sự, 2015; Tang & Tan, 2015) Những phát hiện không đi đến kết luận cuối cùng về sự tồn tài của lý thuyết EKC thúc đẩy chúng tôi tìm kiếm thêm bằng chứng thực nghiệm về để chứng minh sự tồn tại của lý thuyết này EKC

Tại Việt Nam, hai nghiên cứu về mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế và suy thoái môi trường đã được thực hiện Shahbaz cùng cộng sự (2019) chỉ ra

sự chuyển đổi kinh tế đáng chú ý mà đất nước đã trải qua trong 30 năm Họ cũng đưa ra một xu hướng đáng lo ngại về việc gia tăng lượng khí thải CO2, với con số năm 2015 cao gấp đôi năm 1980 Việc Việt Nam tham gia Hội nghị Paris lần thứ 21 (COP 21) cũng được xem xét, với trọng tâm là làm thế nào để quốc gia có thể giảm thiểu phát thải CO2 mà không ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế Sử dụng dữ liệu từ năm 1974 đến năm 2016, Shahbaz cùng cộng sự (2019) áp dụng ARDL để kiểm tra sự tồn tại của EKC tại Việt Nam Các tác giả kết luận rằng giả thuyết EKC không tồn tại trong ngắn hạn

ở Việt Nam Ngược lại, bằng chứng về mối tương quan phí tuyến tính trong dài hạn giữa tăng trưởng kinh tế và phát thải CO2 ở Việt Nam lại được khẳng định Tuy nhiên, thay vì mô hình chữ U ngược thì một mô hình hình chữ N

mô tả mối quan hệ giữa tăng trưởng và phát thải CO2 lại được ghi nhận

Al-Mulali và cộng sự (2015) sử dụng ARDL để điều tra mối quan hệ nhân quả giữa phát thải CO2 và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn 1981-2011 Kết quả cho thấy tăng trưởng kinh tế có liên hệ tích cực đến

ô nhiễm trong ngắn hạn và dài hạn, gợi ý việc bác bỏ giả thuyết EKC Ngoài

ra, kết quả cho thấy tích luỹ vốn có tương quan đồng biến với phát thải CO2, nghĩa là vốn tích luỹ gia tăng nhờ các ngành công nghiệp gây ô nhiễm có nhu cầu năng lượng cao, đặc biệt là các ngành sử dụng nhiên liệu hóa thạch làm

Trang 26

nguồn năng lượng chính Ngoài ra, lực lượng lao động có tương quan nghịch biến với lượng khí thải CO2, nghĩa là lực lượng lao động ở Việt Nam có thể

là nhánh đại diện cho các ngành công nghiệp thâm dụng lao động, ít gây ô nhiễm do nhu cầu năng lượng hoá thạch thấp hơn

Trên cơ sở của những cân nhắc trên, đặc biệt đối với trường hợp của Việt Nam - một nước đang phát triển và tăng trưởng mạnh trong khối ASEAN, việc kiểm định sự tồn tại của giả thuyết EKC sẽ đưa ra được những kết quả nghiên cứu có thể mang những hàm ý chính sách hữu dụng Ngoài ra, các nghiên cứu gần đây điều tra giả thuyết EKC ở Việt Nam thường sử dụng các

kỹ thuật chuỗi thời gian như mô hình ARDL Trong nghiên cứu này, không giống như các nghiên cứu khác, chúng tôi đóng góp vào nghiên cứu thực nghiệm về giả thuyết EKC ở Việt Nam từ hai khía cạnh chính Đầu tiên, chúng tôi mở rộng việc sử dụng phân tích chuỗi thời gian bằng cách kết hợp hai phương pháp, hồi quy ARDL và hồi quy ngưỡng Kỹ thuật hồi quy ARDL được sử dụng để xem xét mối quan hệ phi tuyến tính giữa phát thải CO2 và tăng trưởng kinh tế trong cả ngắn hạn và dài hạn Ngoài ra, hồi quy ngưỡng cho phép chúng tôi kiểm tra tính hợp lệ của giả thuyết EKC trong các giai đoạn phát triển kinh tế khác nhau Thứ hai, chúng tôi phân loại tiêu thụ năng lượng khác nhau thành hai loại chính: (i) năng lượng hóa thạch (bao gồm than, khí đốt và dầu) và (ii) năng lượng tái tạo (thủy điện) Nhóm mỗi nguồn năng lượng thành một nhóm cụ thể theo đặc điểm của chúng mang lại một số lợi thế Đầu tiên, chúng tôi giảm được một số biến giải thích gắn liền với lợi thế của việc sử dụng phân tích chuỗi thời gian do tối đa được bậc tự

do của mô hình Thứ hai, nghiên cứu hiện tại không tập trung vào cơ cấu tiêu thụ năng lượng Do đó, không bắt buộc phải đưa tất cả các nguồn năng lượng

có sẵn vào mô hình

Trang 27

3 Phương pháp và Số liệu nghiên cứu

Trong bài báo này, chúng tôi sử dụng hai phương pháp hồi quy riêng biệt

để khảo sát sự hiện diện của mối quan hệ hình chữ U ngược giữa phát thải

CO2 và tăng trưởng kinh tế, hoặc tính xác thực của giả thuyết EKC ở Việt Nam Đầu tiên, mô hình ARDL cho phép chúng tôi xem xét các tác động dài hạn và ngắn hạn của tăng trưởng kinh tế đối với lượng khí thải CO2 Để xem xét mối quan hệ hình chữ U ngược giữa GDP bình quân đầu người và lượng khí thải CO2 bình quân đầu người, yếu tố bình phương của GDP bình quân cần được thêm vào trong mô hình Trong khi đó, kỹ thuật hồi quy ngưỡng sẽ chia mẫu nghiên cứu thành hai mẫu con dựa trên GDP bình quân đầu người

để kiểm tra xem liệu tính hợp lý của giả thuyết EKC có phụ thuộc vào mức GDP bình quân đầu người hay không

Trong mô hình của chúng tôi, lượng phát thải CO2 trên đầu người là biến

số phụ thuộc GDP bình quân đầu người và bình phương của GDP bình quân đầu người là các biến số giải thích chính để kiểm tra giả thuyết EKC Hơn nữa, chúng tôi cũng sử dụng năng lượng hóa thạch (bao gồm than, khí đốt và dầu) và tiêu thụ năng lượng tái tạo được đại diện bởi tiêu thụ thủy điện - một thành phần chính của các nguồn năng lượng tái tạo và có sẵn số liệu thống

kê Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) cũng được coi là một yếu tố quyết định khác của phát thải CO2, dựa trên lý thuyết chuyển đổi công nghệ và thương mại quốc tế, nơi công nghệ hoặc vốn “cũ” sẽ chuyển từ các nước tiên tiến sang các nước mới nổi như Việt Nam Mô hình log-log có thể được minh họa như sau:

𝐶𝑂2 = 𝑓(𝐺𝐷𝑃𝑡, 𝐺𝐷𝑃𝑡2, 𝐹𝑜𝑠𝑠𝑖𝑙𝑡, 𝑅𝑒𝑛𝑒𝑤𝑡, 𝐹𝐷𝐼𝑡) (1)

Trang 28

trong đó: CO 2 đại diện cho lượng phát thải CO2 bình quân đầu người, GDP tính theo GDP bình quân đầu người, Fossil biểu thị mức tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch bao gồm tiêu thụ than, khí đốt và dầu, Renew đại diện cho mức tiêu thụ năng lượng tái tạo, FDI là dòng vốn FDI ròng được đo bằng tỷ lệ với GDP Chỉ

số "t" đại diện cho mỗi năm từ 1986 đến 2018

Đối với phân tích chuỗi thời gian, mô hình VAR hoặc ARDL là hai phương pháp thường được sử dụng Mô hình VAR có một số ưu điểm Tuy nhiên, mặc cho những ưu điểm này, VAR thể hiện những điểm yếu cơ bản của

nó khi phân tích sử dụng mẫu nhỏ và khi tất cả các biến không dừng ở cùng một bậc I (0) hoặc I (1) Do đó, mô hình ARDL trở thành một giải pháp thay thế hợp

lý trong bài báo này Mô hình ARDL có thể ước lượng tốt với mẫu nhỏ và mô hình độc lập với chuỗi thời gian có bậc dừng khác nhau, tại I (0) hoặc I (1) (Danish et al., 2018; Odhiambo, 2009; và Sari et al., 2008 ) Về tác động tiềm ẩn của vấn đề nội sinh, phương pháp ARDL có thể cho ra các ước tính dài hạn không chệch và các kiểm định thống kê hợp lệ (Harris & Sollis, 2003) Các mô hình thực nghiệm sử dụng ARDL được thể hiện như sau:

trong đó: 𝛼𝑖 đại diện cho các hệ số ngắn hạn; bj thể hiện hiệu quả lâu dài;

𝜀𝑡 là sai số tự do của mô hình

Ngày đăng: 28/03/2023, 09:23

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w