Với các chức năng cơ bản của mình, giáo dục đóng vai trò quan trọng trong mọi mặt của đời sống xã hội đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay giáo dục là yếu tố quyết định trực tiếp sự phát triển của xã hội, cho nên khi nói đến giáo dục đối với xã hội Đảng ta đã khẳng định giáo dục là quốc sách hàng đầu. Để giáo dục có thể hoàn thành tốt các chức năng cơ bản của mình, vấn đề đổi mới giáo dục Việt Nam được đặt ra hết sức cấp thiết. Trong các xu hướng đổi mới hiện nay của giáo dục nước nhà có hai xu hướng đang nhận được rất nhiều sự quan tâm đó là đổi mới toàn diện về mục tiêu, nội dung, phương pháp giảng dạy làm cho sản phẩm giáo dục ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu xã hội và tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực GD&ĐT. Một trong các giải pháp để đổi mới được nền giáo dục theo các xu hướng này là kế thừa có chọn lọc các mô hình và chương trình giáo dục tiên tiến từ các nền giáo dục của các nước phát triển. Do đó, trong những năm gần đây, Bộ GD&ĐT đã yêu cầu tất cả các trường đại học, cao đẳng trong cả nước khẩn trương chuyển đổi từ đào tạo theo niên chế sang ĐTTHCTC - một phương thức đào tạo đang được áp dụng có hiệu quả ở những nước có nền giáo dục tiên tiến. Ngày 04 tháng 4 năm 2001 Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 47/2001/QĐ-TTg về việc phê duyệt “Quy hoạch mạng lưới trường đại học, cao đẳng giai đoạn 2001 – 2010”. Phần các giải pháp trong quyết định này có nhấn mạnh: “Thực hiện quy trình đào tạo linh hoạt; từng bước chuyển quy trình tổ chức đào tạo theo niên chế sang học chế tín chỉ. Xây dựng các chương trình chuyển đổi và quy định về liên thông giữa các trình độ, hình thức tổ chức đào tạo và các cơ sở đào tạo khác nhau nhằm tạo sự bình đẳng về cơ hội học tập hoặc chuyển đổi nghề nghiệp cho mọi tầng lớp nhân dân”. Từ năm học 2005-2006 trở đi, đầu mỗi năm học, trong các chỉ thị về nhiệm vụ trọng tâm năm học của các trường đại học và cao đẳng Bộ Giáo dục & Đào tạo luôn nhấn mạnh nhiệm vụ chuyển đổi sang ĐTTHCTC như là một cách thức triển khai đổi mới phương thức đào tạo. Thực hiện chủ trương đó, Đại học Huế cùng với các trường thành viên và các khoa trực thuộc của mình đã tiến hành ĐTTHCTC cho hầu hết tất cả sinh viên chính quy của khoá tuyển sinh 2008 bắt đầu từ năm học 2008-2009. Dưới dự chỉ đạo của Đại học Huế, trường Đại học Ngoại ngữ, một trường thành viên của Đại học Huế, đã tiến hành thí điểm chuyển đổi sang ĐTTHCTC cho cả sinh viên chính quy của bốn khoá đang học tại trường. ĐTTHCTC là một phương thức đào tạo mới, dù nó đã được một số trường đại học của Việt Nam ở Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh áp dụng trong khoảng mười năm gần đây. Mười năm không phải là một khoảng thời gian dài đối với một quy trình đào tạo. Hơn thế nữa, việc áp dụng trước đây của một số trường chỉ mang tính tự phát, đơn lẽ, không được sự quan tâm, chỉ đạo trực tiếp của Bộ Giáo dục & Đào tạo nên việc áp dụng ở các trường đó không được thống nhất, việc tổng kết, đánh giá rút kinh nghiệm để nhân rộng cũng không thực sự hiệu quả. Chính vì vậy, khi các trường hiện nay bắt tay chuyển đổi ĐTTHCTC, họ không nhận được nhiều bài học kinh nghiệm của các trường đi trước và nếu có thì đó cũng chỉ là những bài học về cung cách thực hiện những vấn đề về kỹ thuật đơn thuần như lên thời khoá biểu, đăng ký môn học, xếp lớp học phần hay xa hơn một ít thì về công tác quản lý sinh hoạt của sinh viên .v.v. Chưa có trường nào đi trước có thể giúp những trường đi sau những biện pháp cụ thể để có thể bước đầu đảm bảo được rồi từ đó tiến tới nâng cao chất lượng đào tạo theo mô hình mới. Chúng ta áp dụng mô hình đào tạo tiên tiến không ngoài mục tiêu đảm bảo chất lượng đào tạo nhằm làm cho sản phẩm của đào tạo đáp ứng được nhu cầu xã hội. Nếu không đạt được yêu cầu về chất lượng, chúng ta chưa đạt được mục tiêu của việc chuyển đổi sang ĐTTHCTC. Tuy nhiên, thực tiễn đã chứng minh rằng làm theo cách mới bao giờ cũng khó và cái khó nhất là làm sao cho hiệu quả của cách mới phải hơn cách cũ, nếu không việc làm theo cách mới sẽ mất hết ý nghĩa. Chính đây là điều trăn trở nhất của các nhà quản lý bậc đại học khi thực hiện chủ trương này của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Thực tế của trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Huế cũng cho thấy rõ điều đó. Mặc dù nhà trường đã có định hướng từ hơn một năm trước đó và cũng đã tổ chức rất nhiều cuộc tham quan, dự nhiều cuộc hội thảo, tập huấn để học tập kinh nghiệm, toàn thể cán bộ, giảng viên và sinh viên của trường đã nổ lực cho công tác chuẩn bị, nhưng khi bắt tay vào việc gặp rất nhiều khó khăn trong công tác tổ chức giảng dạy. Những khó khăn đó, cùng với việc chưa quen với cách dạy cách học mới, đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng đào tạo của trường. Xuất phát từ những vấn đề về lý luận và thực tiễn như trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu là: “Các biện pháp quản lý hoạt động đào tạo theo học chế tín chỉ ở trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Huế ”.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Với các chức năng cơ bản của mình, giáo dục đóng vai trò quan trọng trong mọimặt của đời sống xã hội đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay giáo dục là yếu tố quyết địnhtrực tiếp sự phát triển của xã hội, cho nên khi nói đến giáo dục đối với xã hội Đảng ta đãkhẳng định giáo dục là quốc sách hàng đầu
Để giáo dục có thể hoàn thành tốt các chức năng cơ bản của mình, vấn đề đổi mớigiáo dục Việt Nam được đặt ra hết sức cấp thiết Trong các xu hướng đổi mới hiện naycủa giáo dục nước nhà có hai xu hướng đang nhận được rất nhiều sự quan tâm đó là đổimới toàn diện về mục tiêu, nội dung, phương pháp giảng dạy làm cho sản phẩm giáo dụcngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu xã hội và tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vựcGD&ĐT
Một trong các giải pháp để đổi mới được nền giáo dục theo các xu hướng này làkế thừa có chọn lọc các mô hình và chương trình giáo dục tiên tiến từ các nền giáo dụccủa các nước phát triển Do đó, trong những năm gần đây, Bộ GD&ĐT đã yêu cầu tất cảcác trường đại học, cao đẳng trong cả nước khẩn trương chuyển đổi từ đào tạo theo niênchế sang ĐTTHCTC - một phương thức đào tạo đang được áp dụng có hiệu quả ở nhữngnước có nền giáo dục tiên tiến Ngày 04 tháng 4 năm 2001 Thủ tướng Chính phủ đã kýQuyết định số 47/2001/QĐ-TTg về việc phê duyệt “Quy hoạch mạng lưới trường đạihọc, cao đẳng giai đoạn 2001 – 2010” Phần các giải pháp trong quyết định này có nhấnmạnh: “Thực hiện quy trình đào tạo linh hoạt; từng bước chuyển quy trình tổ chức đàotạo theo niên chế sang học chế tín chỉ Xây dựng các chương trình chuyển đổi và quyđịnh về liên thông giữa các trình độ, hình thức tổ chức đào tạo và các cơ sở đào tạo khácnhau nhằm tạo sự bình đẳng về cơ hội học tập hoặc chuyển đổi nghề nghiệp cho mọitầng lớp nhân dân” Từ năm học 2005-2006 trở đi, đầu mỗi năm học, trong các chỉ thị vềnhiệm vụ trọng tâm năm học của các trường đại học và cao đẳng Bộ Giáo dục & Đào tạoluôn nhấn mạnh nhiệm vụ chuyển đổi sang ĐTTHCTC như là một cách thức triển khaiđổi mới phương thức đào tạo
Thực hiện chủ trương đó, Đại học Huế cùng với các trường thành viên và cáckhoa trực thuộc của mình đã tiến hành ĐTTHCTC cho hầu hết tất cả sinh viên chính quycủa khoá tuyển sinh 2008 bắt đầu từ năm học 2008-2009 Dưới dự chỉ đạo của Đại họcHuế, trường Đại học Ngoại ngữ, một trường thành viên của Đại học Huế, đã tiến hànhthí điểm chuyển đổi sang ĐTTHCTC cho cả sinh viên chính quy của bốn khoá đang họctại trường
ĐTTHCTC là một phương thức đào tạo mới, dù nó đã được một số trường đại
Trang 2học của Việt Nam ở Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh áp dụng trong khoảng mười năm gầnđây Mười năm không phải là một khoảng thời gian dài đối với một quy trình đào tạo.Hơn thế nữa, việc áp dụng trước đây của một số trường chỉ mang tính tự phát, đơn lẽ,không được sự quan tâm, chỉ đạo trực tiếp của Bộ Giáo dục & Đào tạo nên việc áp dụng
ở các trường đó không được thống nhất, việc tổng kết, đánh giá rút kinh nghiệm để nhânrộng cũng không thực sự hiệu quả Chính vì vậy, khi các trường hiện nay bắt tay chuyểnđổi ĐTTHCTC, họ không nhận được nhiều bài học kinh nghiệm của các trường đi trướcvà nếu có thì đó cũng chỉ là những bài học về cung cách thực hiện những vấn đề về kỹthuật đơn thuần như lên thời khoá biểu, đăng ký môn học, xếp lớp học phần hay xa hơnmột ít thì về công tác quản lý sinh hoạt của sinh viên v.v Chưa có trường nào đi trước
có thể giúp những trường đi sau những biện pháp cụ thể để có thể bước đầu đảm bảođược rồi từ đó tiến tới nâng cao chất lượng đào tạo theo mô hình mới Chúng ta áp dụng
mô hình đào tạo tiên tiến không ngoài mục tiêu đảm bảo chất lượng đào tạo nhằm làmcho sản phẩm của đào tạo đáp ứng được nhu cầu xã hội Nếu không đạt được yêu cầu vềchất lượng, chúng ta chưa đạt được mục tiêu của việc chuyển đổi sang ĐTTHCTC Tuynhiên, thực tiễn đã chứng minh rằng làm theo cách mới bao giờ cũng khó và cái khó nhấtlà làm sao cho hiệu quả của cách mới phải hơn cách cũ, nếu không việc làm theo cáchmới sẽ mất hết ý nghĩa Chính đây là điều trăn trở nhất của các nhà quản lý bậc đại họckhi thực hiện chủ trương này của Bộ Giáo dục và Đào tạo
Thực tế của trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Huế cũng cho thấy rõ điều đó.Mặc dù nhà trường đã có định hướng từ hơn một năm trước đó và cũng đã tổ chức rấtnhiều cuộc tham quan, dự nhiều cuộc hội thảo, tập huấn để học tập kinh nghiệm, toàn thểcán bộ, giảng viên và sinh viên của trường đã nổ lực cho công tác chuẩn bị, nhưng khibắt tay vào việc gặp rất nhiều khó khăn trong công tác tổ chức giảng dạy Những khókhăn đó, cùng với việc chưa quen với cách dạy cách học mới, đã ảnh hưởng không nhỏđến chất lượng đào tạo của trường Xuất phát từ những vấn đề về lý luận và thực tiễn như
trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu là: “Các biện pháp quản lý hoạt động đào tạo theo học chế tín chỉ ở trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Huế ”
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu lý luận, khảo sát, đánh giá thực trạng đào tạo của trường Đại họcNgoại ngữ - Đại học Huế trong giai đoạn hiện nay nhằm xác lập các biện pháp quản lýhoạt động đào tạo ở trường Đại học Ngoại ngữ trong giai đoạn chuyển đổi sangĐTTHCTC
3 KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
3.1 Khách thể nghiên cứu
Trang 3Quản lý công tác đào tạo ở trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Huế.
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp quản lý hoạt động đào tạo đại học hệ chính quy theo học chế tínchỉ ở trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Huế
4 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Việc ĐTTHCTC ở trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Huế hiện nay đang cònnhiều khó khăn, bất cập Nếu xác lập được hệ thống các biện pháp quản lý phù hợp vớiĐTTHCTC thì sẽ góp phần giải quyết được các khó khăn, đảm bảo và nâng cao chấtlượng đào tạo của nhà trường
5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của quản lý hoạt động ĐTTHCTC ở trường đạihọc
5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động ĐTTHCTC ở Trường Đạihọc Ngoại ngữ - Đại học Huế hiện nay
5.3 Xác lập các biện pháp quản lý hoạt động ĐTTHCTC ở trường Đại học Ngoạingữ - Đại học Huế
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊNCỨU
6.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận
Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, phân loại tài liệu nhằm thu thậpthông tin phục vụ cho đề tài nghiên cứu
6.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Sử dụng các phương pháp quan sát, điều tra giáo dục, phỏng vấn nhằm khảo sát,đánh giá thực trạng và xây dựng cơ sở thực tiễn đề xuất các biện pháp
- Sử dụng phương pháp lấy ý kiến chuyên gia khảo nghiệm tính cấp thiết và khảthi của các biện pháp quản lý
- Sử dụng phương pháp tổng kết kinh nghiệm
6.3 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp thống kê toán học và phần mềm SPSS 16.0 xử lý các sốliệu, kết quả nghiên cứu
Trang 4Luận văn gồm có 3 phần:
Phần 1: Mở đầu
Phần 2: Nội dung nghiên cứu Phần này gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý hoạt động đào tạo theo học chế tín chỉ ởtrường Đại học
- Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động đào tạo của trường Đại học Ngoại ngữ
- Đại học Huế trong giai đoạn chuyển đổi sang ĐTTHCTC
- Chương 3: Các biện pháp quản lý hoạt động ĐTTHCTC ở trường Đại họcNgoại ngữ - Đại học Huế
Phần 3: Kết luận và khuyến nghị
Danh mục tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 5CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ
TÍN CHỈ Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1.1 Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Lịch sử hình thành và xu thế phát triển của phương thức đào tạo đại học theo học chế tín chỉ ở trên thế giới và ở Việt Nam
Trước đây tại các nước châu Âu, châu Mỹ và cả châu Á, các trường đại họcthường tổ chức đào tạo theo thời gian bao nhiêu năm cho một khoá học (niên học,academic year) Tại Việt Nam, cho đến nay, đa số các trường đại học và cao đẳng vẫn ápdụng hệ thống niên học (hay niên chế) Trước đây áp dụng hệ thống giáo dục của Pháp,đại học có một năm dự bị và 3 năm cho cử nhân Sau này, chúng ta theo hệ thống củaLiên Xô cũ gồm từ 4 đến 5 năm cho một khoá đào tạo đại học tuỳ theo ngành đào tạo,nhưng vẫn theo hệ thống niên học
Tuy nhiên phương thức đào tạo theo niên chế này ngày càng bộc lộ nhiều bất cập.Chương trình học theo niên chế không mềm dẻo, linh hoạt, do hầu như không có cácmôn tự chọn Nội dung chương trình rất ít thay đổi sau mỗi năm học nên không phản ánhđược mối quan tâm và nhu cầu của người học cũng như các nhà tuyển dụng Sinh viênkhông thể tuỳ theo khả năng và nguyện vọng của bản thân để có thể nhận bằng tốtnghiệp sớm hơn hoặc muộn hơn thời gian quy định thông thường Sinh viên chuyểntrường, đặc biệt là khi theo học các trường ở nước ngoài, gặp nhiều khó khăn Nhữnghạn chế trên đây yêu cầu phải có một phương thức mới phù hợp hơn, nhằm đáp ứng đếnmức tối đa nhu cầu của người học Từ đó đào tạo đại học theo học chế tín chỉ ra đời
Xuất phát từ đòi hỏi quy trình đào tạo phải tổ chức sao cho mỗi sinh viên có thểtìm được cách học thích hợp nhất cho mình, đồng thời trường đại học phải nhanh chóngthích nghi và đáp ứng được những nhu cầu của thực tiễn cuộc sống, vào năm 1872 ViệnĐại học Harvard (Mỹ) đã quyết định thay thế hệ thống chương trình đào tạo theo niênchế cứng nhắc bằng hệ thống chương trình mềm dẻo cấu thành bởi các môđun mà mỗisinh viên có thể lựa chọn một cách rộng rãi Có thể xem sự kiện đó là điểm mốc khaisinh học chế tín chỉ
Đến đầu thế kỷ 20 hệ thống tín chỉ được áp dụng rộng rãi hầu như trong mọitrường đại học Hoa Kỳ Tiếp sau đó, nhiều nước lần lượt áp dụng hệ thống tín chỉ trongtoàn bộ hoặc một bộ phận của trường đại học của mình: các nước Bắc Mỹ, Nhật Bản,Philippin, Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaisia, Indonesia, ấn Độ, Senegal,Mozambic, Nigeria, Uganda, Camơrun Tại Trung Quốc từ cuối thập niên 80 đến nay
Trang 6hệ thống tín chỉ cũng lần lượt được áp dụng ở nhiều trường đại học Vào năm 1999, 29bộ trưởng đặc trách giáo dục đại học ở các nước trong Liên minh châu Âu đã ký Tuyênngôn Boglona nhằm hình thành “Không gian Giáo dục đại học Châu Âu” [22](European Higher Education Area) thống nhất vào năm 2010, một trong các nội dungquan trọng của Tuyên ngôn đó là triển khai áp dụng học chế tín chỉ (European CreditTransfer System -ECTS)trong toàn hệ thống giáo dục đại học ở Châu Âu
Ở Việt Nam chúng ta trước năm 1975 một số trường đại học chịu ảnh hưởng của
Mỹ đã áp dụng học chế tín chỉ như Viện Đại học Cần Thơ, Viện Đại học Thủ Đức Hộinghị Hiệu trưởng đại học tại Nha Trang hè 1987 đã đưa ra nhiều chủ trương đổi mới giáodục đại học, trong đó có chủ trương triển khai trong các trường đại học qui trình đào tạo
2 giai đoạn và môđun-hoá kiến thức Theo chủ trương đó, học chế “học phần” đã ra đời
và được triển khai trong toàn bộ hệ thống các trường đại học và cao đẳng nước ta từ năm
1988 đến nay Tuy nhiên, về một số phương diện, học chế học phần chưa thật sự mềmdẻo như học chế tín chỉ của Mỹ, do đó nó được gọi là “sự kết hợp niên chế với tín chỉ”[18] Trường Đại học Bách khoa tp Hồ Chí Minh là nơi đầu tiên áp dụng học chế tín chỉ
từ năm 1993, rồi các trường Đại học Đà Lạt, Đại học Cần Thơ, Đại học Thủy sản NhaTrang, Đại học Xây dựng Hà Nội v v và một số trường đại học khác áp dụng từ năm
1994 và các năm sau đó
Trong những năm đầu tiên các trường này áp dụng học chế tín chỉ một cách mòmẫm, chưa có các quy định cụ thể và cũng chưa được dư luận đồng tình và ủng hộ rộngrãi Để tạo điều kiện thuận lợi cho các trường đại học chuyển đổi sang ĐTTHCTC,Đảng, Chính phủ và Bộ GD&ĐT đã liên tiếp ban hành các văn bản về mặt nhà nước vềvấn đề này ĐTTHCTC đã được cho phép trong Luật Giáo dục: “Về chương trình giáodục: Đối với giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học có thể được tiến hành theo hìnhthức tích luỹ tín chỉ hay theo niên chế” [17] Trong Quyết định số 47/2001/QĐ-TTgngày 04/4/2001 của Thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt “Quy hoạch mạng lướitrường đại học, cao đẳng giai đoạn 2001 – 2010” có nhấn mạnh học chế tín chỉ như làmột giải pháp để đổi mới giáo dục đại học Tiếp đó, Chính phủ khẳng định lại chủ trươngnày trong Nghị quyết của mình: “Xây dựng và thực hiện lộ trình chuyển sang chế độ đàotạo theo hệ thống tín chỉ, tạo điều kiện thuận lợi để người học tích luỹ kiến thức, chuyểnđổi ngành nghề, liên thông, chuyển tiếp tới các cấp học tiếp theo ở trong nước và ở nướcngoài” [7] Liên tiếp trong những năm này, để tạo hành lang pháp lý, Bộ GD&ĐT đã racác quyết định: 31/2001/QĐ-BGD&ĐT do Thứ trưởng Trần Văn Nhung ký ngày 30tháng 7 năm 2001 Về việc thí điểm tổ chức đào tạo, kiểm tra, thi và công nhận tốt nghiệpđại học, cao đẳng hệ chính qui theo học chế tín chỉ; 25/2006/QĐ-BGD&ĐT do Bộ
Trang 7trưởng Nguyễn Minh Hiển ký ngày 26 tháng 6 năm 2006 về việc ban hành Quy chế đàotạo đại học và cao đẳng hệ chính quy; 43/2007/QĐ-BGD&DDT do thứ trưởng BànhTiến Long ký ngày 15 tháng 8 năm 2007 Về việc ban hành “Quy chế đào tạo đại học vàcao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ” Trong những năm gần đây, Bộ GD&ĐTluôn xem chuyển đối sang ĐTTHCTC là một trong những nhiệm vụ trọng tâm:
“Các trường cần xây dựng kế hoạch, lộ trình và tuyên bố thời điểm chuyển sangđào tạo theo hệ thống tín chỉ… Trong năm học tới có ít nhất 50 trường chuyển sang tổchức đào tạo theo hệ thống tín chỉ” [4];
“Các trường chuẩn bị đủ các điều kiện cần thiết và lộ trình hợp lý để chuyển sangđào tạo theo hệ thống tín chỉ vào năm học tới 2009 - 2010 hoặc muộn nhất là năm học
2010 – 2011” [6] Để quyết liệt hơn nữa, trong Quy định tạm thời về kiểm định chấtlượng trường đại học, Bộ GD&ĐT xem ĐTTHCTC là một trong các tiêu chí để đánh
giá:
“Tiêu chuẩn 4, tiêu chí 2: "Thực hiện chế độ công nhận kết quả học tập của ngườihọc (tích luỹ theo học phần); chuyển quy trình tổ chức đào tạo theo niên chế sang họcchế tín chỉ" [2]
Chính vì vậy trong giai đoạn 10 năm gần đây, hàng loạt các trường đại học hàngđầu của Việt Nam bắt đầu chuyển đổi sang ĐTTHCTC, có thể kể tên các trường như:Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Dân lập Thăng Long, Đại học Khoa học tự nhiên Tp
Hồ Chí Minh, Đại học Cần Thơ, Đại học Đà Nẵng v.v
Thực hiện chủ trương của Bộ GD&ĐT, từ năm học 2008-2009 Đại học Huế cũngchuyển đổi sang phương thức đào tạo mới theo lộ trình:
“Năm học 2008 - 2009, tổ chức ĐTTHCTC cho năm thứ nhất, khoá tuyển sinh
2008 tại tất cả các trường thành viên và khoa trực thuộc Đại học Huế Riêng Trường Đạihọc Ngoại ngữ sẽ đào tạo tín chỉ cho tất cả các ngành và chương trình đào tạo củaTrường từ năm học 2008 - 2009… Năm học 2009 - 2010 áp dụng cho năm 1, 2; năm học
2010 - 2011 áp dụng cho năm 1, 2, 3 Đến năm học 2011 - 2012 áp dụng phương thứcđào tạo tín chỉ cho tất cả các ngành đào tạo và cơ sở đào tạo trong toàn Đại học Huế” [8]
Sở dĩ ĐTTHCTC phát triển một cách nhanh chóng trên thế giới cũng như ở ViệtNam chúng ta là vì các ưu thế hơn hẳn của nó so với đào tạo theo niên chế Có thể tómtắt những ưu thế đó như sau:
Có hiệu quả đào tạo cao: Học chế tín chỉ cho phép ghi nhận kịp thời tiến trình
tích luỹ kiến thức và kỹ năng của sinh viên để dẫn đến văn bằng, sinh viên được chủđộng thiết kế kế hoạch học tập cho mình, tính liên thông giữa các cấp đào tạo đại học và
Trang 8giữa các ngành đào tạo khác nhau cao, khuyến khích sinh viên từ nhiều nguồn gốc khácnhau có thể tham gia học đại học một cách thuận lợi
Có tính mềm dẻo và khả năng thích ứng cao: Với học chế tín chỉ, sinh viên có thể
chủ động ghi tên học các học phần khác nhau dựa theo những quy định chung về cơ cấuvà khối lượng của từng lĩnh vực kiến thức, sinh viên dễ dàng thay đổi ngành chuyênmôn trong tiến trình học tập khi thấy cần thiết mà không phải học lại từ đầu, các trườngđại học có thể mở thêm ngành học mới một cách dễ dàng khi nhận được tín hiệu về nhucầu của thị trường lao động và tình hình lựa chọn ngành nghề của sinh viên
Đạt hiệu quả cao về mặt quản lý và giảm giá thành đào tạo: Có thể tổ chức những
môn học chung cho sinh viên nhiều trường, nhiều khoa, tránh các môn học trùng lặp ởnhiều nơi; ngoài ra sinh viên có thể học những môn học lựa chọn ở các khoa khác nhau.Cách tổ chức nói trên cho phép sử dụng được đội ngũ giảng viên giỏi nhất và phươngtiện tốt nhất cho từng môn học
1.1.2 Tổng quan các nghiên cứu về quản lý đào tạo đại học theo học chế tín chỉ ở Việt Nam
Từ đầu thế kỷ 20 các khái niệm tín chỉ (credit), giờ tín chỉ (credit hour), hệ thốngtín chỉ (credits system)… đã được phổ biến rộng rãi trong giáo dục đại học ở châu Mỹ vàchâu Âu Trải qua hơn một thế kỷ phát triển, học chế tín chỉ đã chứng tỏ được ưu thế hơnhẵn của mình so với các phương thức đào tạo trước đó Với vị thế đó, ĐTTHCTC cũngdành được nhiều sự quan tâm của các chuyên gia về giáo dục Trên thế giới có rất nhiềucông trình nghiên cứu về hệ thống tín chỉ và ĐTTHCTC Có thể nêu tên một vài côngtrình tiêu biểu như:
Omporn Regel trong ấn phẩm “The Academic Credit System in Higher Education: Effectivness and Relevance in Developing Country” do nhà xuất bản The
World Bank xuất bản được nhà xuất bản Bộ GD&ĐT dịch và xuất bản năm 1994 dưới
tiêu đề “Về hệ thống tín chỉ học tập” đã bàn rất kỹ về tính hiệu quả và tính hợp lý của
quản lý đào tạo đại học theo học chế tính chỉ
GS Trần Văn Đoàn, giảng dạy tại Đại học Đài Loan, trong loạt bài có tiêu đề:
“Đào tạo đại học theo hệ thống tín chỉ”, được đăng trên trang web
http://www.dunglac.org, đã trao đổi mọi vấn đề liên quan đến đào tạo tín chỉ từ khái
niệm đến mục tiêu, sứ mạng cũng như hệ thống đào tạo, quản lý v.v
Khi bàn về hệ thống tín chỉ, GS Hà Dương Tường, Đại học Công nghệ
Compiègne, Pháp, đã viết bài: “Vài nét về hệ thống tín chỉ đại học châu Âu” được đăng tải trên trang http://www.hoithao.viet-studies.info Trong bài viết của mình giáo sư đã
phân tích rất sâu về bản chất của hệ thống tín chỉ đại học châu Âu cũng như các mặt
Trang 9mạnh và yếu của ĐTTHCTC.
Tác giả Min Weifang với bài “Challenges and Strategies for Chiness Universities in the Transition from planed Economy to Socialist Market Economy in the information Age” (Những thách thức và chiến lược của các trường đại học Trung Quốc
trong thời kỳ chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch sang kinh tế thị trường trong kỷ nguyên
thông tin) đăng trong tạp chí “Higher Education in Transition Economies in Asia” (Giáo dục đại học trong các nền kinh tế đang chuyển đổi ở châu Á), xuất bản bởi UNESCO
PROAP năm 1998, đã nhấn mạnh chuyển đổi sang ĐTTHCTC là bước đi phù hợp nhấtđối với các trường đại học tại các nước đang phát triển
Ở Việt Nam chúng ta, trong hai thập niên gần đây, tín chỉ và ĐTTHCTC là đề tàicủa nhiều công trình nghiên cứu, bài báo khoa học, nhiều hội thảo, hội nghị khoa họcđược tổ chức trên phạm vi toàn quốc Các công trình, bài báo, hội nghị, hội thảo nàynghiên cứu nhiều khía cạnh và góc độ khác nhau như:
GS Lâm Quang Thiệp trong bài “Về học chế tín chỉ và việc áp dụng ở Việt
Nam” trên trang web http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com ngày 29/12/2007 đã
chỉ ra những hạn chế của ĐTTHCTC và cách khắc phục chúng đồng thời giáo sư cũnggợi ý những cải tiến khi áp dụng ĐTTHCTC ở Việt Nam
PGS.TS Nguyễn Văn Nhã trong tập san Bản tin ĐHQG Hà Nội ngày 20/6/2008
đã đăng bài “Ba vòng tròn lựa chọn trong đào tạo theo tín chỉ” Giáo sư đã nêu lên 3
vòng tròn lựa chọn, đó là: Lựa chọn chương trình đào tạo phù hợp, lựa chọn xây dựng đềcương môn học phù hợp và lựa chọn đăng ký học tập của người học
TS Eli Mazur và TS Phạm Thị Ly trong các công trình nghiên cứu vềĐTTHCTC của mình đã đăng tải các bài “Đào tạo theo tín chỉ kiểu…Mỹ”,
http://vietnamnet.vn ngày 04/3/2006 và “Bài học của Trung Quốc”, http://tuoitre.vn
ngày 23/7/2010 nhằm so sánh cách đào tạo tín chỉ của Mỹ, Trung Quốc với Việt Nam
với khẳng định: “Ngày nay, hệ thống tín chỉ Mỹ đang được chính thức đề nghị như một phương thuốc chữa trị tính chất xơ cứng của kế hoạch học tập và chương trình đào tạo thống nhất ở Trung Quốc”.
TS Nguyễn Kim Dung, Viện Nghiên cứu Giáo dục – Trường Đại học Sư phạm
TPHCM, đã chỉ ra những bài học quý báu khi ĐTTHCTC trong bài “Đào tạo theo hệ thống tín chỉ: Kinh nghiệm thế giới và thực tế ở Việt Nam” đọc tại hội thảo Đào tạo theo
tín chỉ do Trường Đại học Ngoại ngữ - Tin học TPHCM (HUFLIT) tổ chức năm 2005
Với bài báo cáo nhan đề: “Đào tạo theo tín chỉ: ghi nhận và suy ngẫm”,
GS.TSKH Nguyễn Hữu Việt Hưng, trong Hội nghị triển khai Đào tạo theo Tín chỉ ngày22/8/2007 của Trường Đại học KHTN, ĐHQG Hà Nội, đã đại diện cho những người
Trang 10giảng viên trên bục giảng trình bày những cái được, cái mất, những băn khoăn của ngườithầy về vấn đề đảm bảo chất lượng đào tạo khi chuyển đổi sang học chế tín chỉ
Không chỉ người Việt Nam chúng ta, mà cả những chuyên gia nước ngoài đangcông tác tại nước ta cũng rất quan tâm đến đào tạo đại học theo học chế tín chỉ ở ViệtNam TS Michelle Zjhra, một chuyên gia của Chương trình Fulbright tại Việt Nam đã
viết bài: “Chuyển sang học chế tín chỉ: cần thay đổi chương trình đào tạo và vai trò của giảng viên” nhằm đưa cho các nhà quản lý giáo dục Việt Nam những lời khuyên rất hữu
ích khi biên soạn chương trình Bài do TS Phạm Thị Ly dịch theo tư liệu của Fulbright
cung cấp đăng tải trên trang http://ceea.ier.edu.vn ngày 09-07-2009.
Ngoài các bài viết về khía cạnh quản lý, cũng có rất nhiều các bài viết đi sâu hơn
về nội dung, phương pháp ĐTTHCTC Nổi bật nhất là các bài viết được đăng tải trên
trang web http://www.hvnh.edu.vn Có thể kế một số bài trong đó như: GS.TS Lê Thạc Cán, Viện trưởng viện Môi trường và Phát triển bền vững, với bài “Tổ chức giảng dạy
và học tập theo chương trình định sẵn và theo học chế tín chỉ”, TS Tôn Quang Cường, Khoa Sư phạm - ĐHQGHN, với bài “Các hình thức tổ chức dạy học trong mối quan hệ với phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá trong đào tạo theo tín chỉ”, TS Ngô Thu Dung, Khoa Sư phạm – ĐHQGHN, với bài “Phương pháp dạy học nhóm, một phương pháp thích hợp cần sử dụng trong giảng dạy và tổ chức một số môn học và hoạt động giáo dục theo học chế tín chỉ”…
Bên cạnh các bài nghiên cứu, rất nhiều hội thảo về ĐTTHCTC đã được tổ chức.Điển hình là các hội thảo gần đây nhất như Hội thảo khoa học toàn quốc lần thứ hainăm 2006 diễn ra trong hai ngày 22 và 23/12 tại Trường Đại học Nha Trang với chủ
đề: “ĐTTHCTC - Nhận thức và kinh nghiệm triển khai tại các trường đại học và cao đẳng Việt Nam” Ngày 14/9/2007 Hội thảo thường niên lần thứ hai trong năm của Ban
liên lạc các trường đại học và cao đẳng Việt Nam (VUN) được tổ chức tại Hải Phòng.Các đại biểu tham dự đã cùng nhau thảo luận hai vấn đề trọng tâm trong giáo dục đại
học hiện nay, đó là “Đổi mới phương pháp dạy – học trong ĐTTHCTC” và “Xây dựng hệ thống thông tin quản lí đào tạo” Ngày 16-17/10/2008, tại Trường Đại học
Sư phạm TP Hồ Chí Minh Ban liên lạc các trường đại học và cao đẳng Việt Nam tổ
chức Hội thảo khoa học với chủ đề “Quản lý sinh viên trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ” Vào ngày 24 tháng 4 năm 2009, Hội đồng thường trực và các trường thành viên của VUN tổ chức hội thảo khoa học “Đào tạo liên thông theo hệ thống tín chỉ” tại Đại
học Đà Nẵng v.v Tất cả các hội thảo đều in kỷ yếu và đó là những tài liệu quý giá chocác nhà quản lý giáo dục trên con đường chuyển đổi sang ĐTTHCTC hiện nay
1.2 Lý luận về hoạt động đào tạo ở bậc đại học
Trang 111.2.1 Khái niệm về hoạt động đào tạo ở bậc đại học
“Đào tạo là hoạt động chuyển giao có hệ thống, có phương pháp những kinhnghiệm, những tri thức, những kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp chuyên môn, đồng thời bồidưỡng những phẩm chất đạo đức cần thiết và chuẩn bị tâm thế cho người học đi vàocuộc sống lao động tự lập và góp phần xây dựng, bảo vệ đất nước” [14]
Theo Nguyễn Minh Đường: “Đào tạo là hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằmhình thành và phát triển có hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ,… để hoàn thiệnnhân cách cho mỗi cá nhân để tạo tiền đề cho họ có thể vào đời hành nghề một cách cónăng suất và hiệu quả”
Theo nội hàm của khái niệm đào tạo từ các định nghĩa nêu trên, thì đào tạo là hoạtđộng mang tính phối hợp giữa các chủ thể dạy học (người dạy và người học), là hoạtđộng truyền đạt và lĩnh hội tri thức một cách có hệ thống với sự hỗ trợ của các phươngtiện cần thiết Nói cách khác, đào tạo là hoạt động thống nhất hữu cơ giữa hai mặt dạy vàhọc trong một cơ sở giáo dục, mà trong đó tính chất, phạm vi, cấp độ, cấu trúc, quy trìnhcủa hoạt động được quy định một cách chặt chẽ, cụ thể về mục tiêu, chương trình, nộidung, phương pháp, hình thức tổ chức, cơ sở vật chất và thiết bị dạy học, đánh giá kếtquả đào tạo, cũng như về thời gian và đối tượng đào tạo cụ thể
1.2.1.2 Hoạt động đào tạo
Theo nghĩa rộng, hoạt động đào tạo là hoạt động giáo dục để đạt tới mục tiêu giáodục của cơ sở đào tạo Hoạt động này được cấu trúc bởi các thành tố như mục tiêu, nộidung, phương pháp, hình thức tổ chức đào tạo, chủ thể đào tạo và đối tượng đào tạo, cácđiều kiện đào tạo, kết quả đào tạo và công tác quản lý đào tạo
Cụ thể hơn, hoạt động đào tạo được hiểu là việc tiến hành có tuần tự các khâu từxây dựng mục tiêu, nội dung chương trình, giáo trình và tài liệu đào tạo, lực lượng đàotạo (bao gồm người học, người dạy và người quản lý), chuẩn bị các điều kiện cho hoạtđộng đào tạo (tài chính, cơ sở vật chất và thiết bị dạy học, các mối quan hệ trong môitrường đào tạo, phương thức để đánh giá chất lượng và hiệu quả đào tạo Trên cơ sở đó
Trang 12có thể tiến hành các khâu chiêu sinh, tổ chức dạy và học nhằm giúp người học có đượccác chuẩn về kiến thức, kỹ năng và thái độ phù hợp với mục tiêu đào tạo, đánh giá mứcđộ đạt chuẩn của người học và công nhận kết quả đào tạo.
1.2.1.3 Hoạt động đào tạo ở bậc đại học
Hoạt động đào tạo ở bậc đại học là hoạt động giáo dục nghề nghiệp để đạt đượcmục tiêu của một trường đại học - hình thành, phát triển nhân cách của sinh viên, đào tạo
họ trở thành những cử nhân khoa học tương lai, đáp ứng năm mục tiêu của giáo dục đạihọc (xem thêm Luật Giáo dục 2005, Mục 4, Điều 39)
Hoạt động đào tạo đại học là hoạt động cơ bản nhất và quan trọng nhất của quátrình đào tạo đại học Nó là một hoạt động giáo dục nghề nghiệp đặc thù và tồn tại nhưmột hệ thống Hoạt động này có cấu trúc bao gồm: sứ mạng và mục tiêu đào tạo, nộidung chương trình, người dạy và người học, phương pháp dạy học, phương tiện dạyhọc, kết quả dạy học, trang thiết bị - cơ sở vật chất phục vụ đào tạo, tài chính và tổ chứcquản lý đào tạo Hoạt động này đó diễn ra trong môi trường xã hội – chính trị và môitrường khoa học, kỹ thuật nhất định
1.2.2 Những yếu tố của hoạt động đào tạo ỏ bậc đại học
1.2.2.1 Sứ mạng và mục tiêu đào tạo
Mục tiêu của đào tạo đại học là xây dựng mô hình nhân cách người lao động cókiến thức, kỹ năng nghề nghiệp ở trình độ đại học, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp,
ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người laođộng có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học tập nâng cao trình độchuyên môn, nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng,
an ninh
Mục tiêu đào tạo đại học phản ánh tập trung nhất những yêu cầu của xã hội đốivới quá trình đào tạo đại học, nó gắn liền với mục tiêu giáo dục nói chung và mục tiêugiáo dục đại học nói riêng, đặc biệt nó gắn với mục tiêu đào tạo cụ thể của từng trườngđại học, đây là đặc điểm mà giáo dục phổ thông không có
Trên cơ sở mục tiêu đào tạo cụ thể, các trường đại học xây dựng cho mình cácnhiệm vụ đào tạo cụ thể Ngoài những nhiệm vụ đào tạo đại học chung như hình thànhthế giới quan khoa học, lý tưởng, ước mơ, hoài bão nghề nghiệp và những phẩm chất đạođức, tác phong của người cán bộ khoa học kỹ thuật, người cán bộ quản lý kinh tế, cán bộnghiệp vụ, hành chính v.v., còn phải xây dựng các yêu cầu riêng về hệ thống tri thức, kỹnăng, kỹ xảo gắn với nghề nghiệp tương tai của sinh viên
Khác với các trường phổ thông, các trường đại học, với đặc thù đào tạo của mình,
Trang 13phải xây dựng cho mình một sứ mạng và tầm nhìn riêng Sứ mạng và tầm nhìn phảiđược xây dựng trên cơ sở mục tiêu chung của đào tạo đại học nhưng lại là mục tiêu cụthể của nhà trường được phát biểu hết sức cô đọng, đầy đủ và có sức thuyết phục Tuyênngôn sứ mạng (mission statement) của một trường đại học là “bản tuyên ngôn của trườngnhằm trình bày một cách thuyết phục lý do tồn tại của trường đại học đó” [16] Về cơbản, tuyên ngôn sứ mạng cần trả lời câu hỏi: chúng ta sẽ làm gì, bằng cách nào, và đểcho ai? Tuyên ngôn về tầm nhìn (vision statement) cần phải cho thấy rõ các nhà lãnh đạohình dung nhà trường về cơ bản sẽ là như thế nào, về sự trưởng thành của nhà trường, vềcác giá trị mà nhà trường xây dựng và tôn vinh, về những gì mà nhà trường có thể đónggóp cho xã hội, cho đất nước Tuyên ngôn về tầm nhìn có thể xem như một mục tiêu dàihạn và đem lại cho mọi thành viên trong trường niềm tin vào hình ảnh của nhà trườngmà một ngày nào đó họ sẽ đạt đến
1.2.2.2 Đội ngũ cán bộ quản lý và tổ chức quản lý đào tạo
Đội ngũ quản lý là lực lượng phục vụ hoạt động đào tạo Nếu không có đội ngũnày sẽ không có tổ chức và quản lý đào tạo Ở một trường đại học, đội ngũ cán bộ quản
lý đóng vai trò rất quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của nhà trường Như trên đãnói, ở trường đại học, đội ngũ cán bộ quản lý phải tự mình xác định mục tiêu, sứ mạngvà tầm nhìn cho trường cả ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, phải tự vạch ra các sách lược,chiến lược cho sự phát triển của nhà trường và phải chịu trách nhiệm về những vấn đề domình đặt ra Trong tình hình giáo dục ở nước ta hiện nay, với những đòi hỏi của xã hộingày càng cao, sự cạnh tranh trong giáo dục ngày càng mạnh mẽ và quy định ngân sáchnhà nước ngày càng chặt chẽ thì việc lựa chọn được những bước đi phù hợp là yếu tố cốtlõi của quản lý đào tạo Điều này hoàn toàn phù thuộc vào năng lực và tầm nhìn của độingũ quản lý
Trường đại học có một đội ngũ nhân viên (chuyên viên) với tỷ lệ cao hơn nhiều
so với trường phổ thông Sở dĩ như vậy là vì phục vụ đào tạo đại học phức tạp hơn nhiều.Một trường đại học chuẩn phải là một thành phố thu nhỏ với đầy đủ cơ sở vật chất phụcvụ học tập và sinh hoạt Kéo theo đó là một đội ngũ nhân viên phục vụ đông đảo Ngoài
ra, đội ngũ nhân viên ở trường đại học phải là những chuyên viên được đào tạo bài bản,
có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao trong lĩnh vực mà mình phụ trách, thường xuyênđược tập huấn, bồi dưỡng nâng cao tay nghề để có khả năng độc lập giải quyết nhữngvấn đề xảy ra trong công tác quản lý hoạt động đào tạo
Để giúp cho mọi người cùng làm việc với nhau nhằm thực hiện có hiệu quả mụctiêu, cần xây dựng và duy trì một cơ cấu nhất định về những vai trò, nhiệm vụ và vị trícông tác Việc xây dựng các vai trò, nhiệm vụ là chức năng của tổ chức trong quản lý
Trang 14Vậy tổ chức là “chỉ một cơ cấu chủ định về vai trò, nhiệm vụ hay chức vụ được hợp thứchoá” [24].
Từ định nghĩa trên có thể hiểu rằng, chức năng tổ chức trong quản lý đào tạo làviệc thiết kế cơ cấu các bộ phận (các phòng, ban, khoa, tổ chuyên môn, trung tâm trựcthuộc, các tổ chức đoàn thể) sau cho phù hợp với mục tiêu đào tạo Đồng thời việc thựchiện chức năng này còn phải chú ý đến phương thức hoạt động, đến quyền hạn của từngbộ phận, tạo điều kiện cho sự liên kết ngang, dọc và đặc biệt chú ý đến việc bố trí cán bộ
- người vận hành các bộ phận của tổ chức
Khi một trường đại học chuyển đổi từ đào tạo theo niên chế sang tín chỉ sẽ có rấtnhiều thay đổi trong vai trò và nhiệm vụ của các bộ phận trong trường Có rất nhiềunhiệm vụ mới nảy sinh, đồng thời cũng có một số nhiệm vụ trước đây không không cầnthực hiện nữa Điều này diễn ra trong hầu hết các bộ phận trong trường Vì vậy, việcphân công, bố trí lại các nhiệm vụ là hết sức cần thiết
1.2.2.3 Nội dung và chương trình
“Nội dung dạy học ở các trường đại học quy định hệ thống những tri thức cơ bản,
cơ sở và chuyên ngành; quy định hệ thống những kỹ năng, kỹ xảo tương ứng gắn liềnvới nghề nghiệp tương lai của sinh viên Trong quá trình đào tạo ở các trường đại học,nội dung dạy học tạo nên nội dung cơ bản cho hoạt động giảng dạy của giảng viên vàhoạt động học tập, nghiên cứu của sinh viên Nó tạo nên nội dung cơ bản cho quá trìnhđào tạo ở các trường đại học Nó bị chi phối bởi mục tiêu và nhiệm vụ đào tạo, đồng thờilại phục vụ cho việc thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ đào tạo, quy định việc lựa chọnphương pháp, phương tiện dạy học.” [13]
Trên cơ sở nội dung dạy học và chương trình khung do Bộ GD&ĐT ban hành,các trường đại học tự xây dựng chương trình đào tạo cho các ngành và chuyên ngànhđào tạo của trường mình Chương trình đào tạo phản ánh mục tiêu đào tạo cụ thể của nhàtrường đồng thời đáp ứng các nhu cầu về chất lượng nguồn nhân lực của xã hội Vì vậy,chương trình đào tạo phải hết sức mềm dẽo, được cập nhật thường xuyên
1.2.2.4 Người dạy với hoạt động dạy
Trong hoạt động đào tạo ở đại học, người giảng viên là chủ thể của hoạt độnggiảng dạy, giữ vai trò chủ đạo trong quá trình dạy học ở đại học Giảng viên với hoạtđộng dạy có chức năng tổ chức, điều khiển, lãnh đạo hoạt động của sinh viên, đảm bảocho sinh viên thực hiện đầy đủ và có chất lượng cao những yêu cầu đã được quy địnhquy định phù hợp với mục đích dạy học ở đại học
1.2.2.5 Người học với hoạt động học
Trang 15Sinh viên (người học) một mặt là đối tượng của hoạt động dạy, mặt khác là chủthể của hoạt động nhận thức có tính chất nghiên cứu Nói cách khác, sinh viên với hoạtđộng học vừa là khách thể của hoạt động dạy vừa là chủ thể hoạt động tích cực, độc lập,sáng tạo nhằm chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo có liên quan đến nghề nghiệp tươnglai của mình Một trong những mục tiêu quan trọng của ĐTTHCTC là tạo điều kiện đểsinh viên phát huy được tối đa vai trò chủ thể trong hoạt động học tập, nghiên cứu củamình.
Giảng viên với hoạt động dạy và sinh viên với hoạt động học là hai nhân tố trungtâm, là đặc trưng cơ bản của hoạt đông đào tạo ở đại học, nếu không có hai nhân tố này
sẽ không có hoạt động đào tạo đại học
1.2.2.6 Phương pháp và phương tiện dạy học
Các phương pháp dạy học ở đại học là “tổ hợp các cách thức hoạt động, tương tácgiữa thầy và trò trong quá trình dạy học nhằm đạt được mục đích dạy học” [21] Chúng
có chức năng xác định những phương thức hoạt động dạy và học theo nội dung nhất địnhnhằm thực hiện tốt mục tiêu và nhiệm vụ đào tạo Đổi mới phương thức đào tạo đòi hỏiphải đổi mới phương pháp giảng dạy Các phương pháp dạy học ở đại học phải góp phầnhình thành động cơ nhận thức, các phương pháp nhận thức, bồi dưỡng cho sinh viênphương pháp tự học, tự nghiên cứu để chiếm lĩnh tri thức, phải nhằm nâng cao tính tíchcực, độc lập, sáng tạo của sinh viên, phát huy năng lực vận dụng lý thuyết vào thực tiễn
Phương tiện dạy học là một trong những điểm khác biệt giữa giáo dục phổ thôngvà đào tạo đại học Một trường đại học hiện đại phải là một trường có đủ các trang thiếtbị dạy học, phòng thí nghiệm, xưởng thực hành để cho những người lao động tương lai
có thể thực hiện các hoạt động nghề nghiệp của mình ngay từ khi còn là sinh viên
1.2.2.7 Thư viện, trang thiết bị và cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy và học tập
Một trường đại học phải là một thành phố thu nhỏ, trong đó giảng viên và sinhviên có thể tiến hành các hoạt động giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học, giải quyếtcác nhu cầu sinh hoạt, nghỉ ngơi, giải trí suốt cả ngày Khi chuyển sang ĐTTHCTC, thờigian và nội dung tự học tăng lên, sinh viên không học theo buổi cố định, thì yêu cầu nàycàng cao hơn Thư viện của trường đại học không chỉ là nơi để sinh viên mượn tài liệuhọc tập, mà phải có nhiều phòng độc lập để sinh viên có thể học tập, làm việc theo nhóm,
tổ chức các xemina; Canteen không chỉ đáp ứng các nhu cầu giải khát, ăn uống nhẹ, màphải phục vụ các bữa ăn chính trong ngày từ sáng đến tối; Ngoài các khu thể thao phải cócác khu nghỉ ngơi cho cán bộ và sinh viên; Phải có hệ thống thông tin nội bộ hai chiều đểkịp thời thông báo và thu nhận các thông tin cần thiết v.v Vì lý do đó, các trường đạihọc luôn phải ưu tiên dành một phần rất lớn ngân sách để đầu tư cho các hạng mục này
Trang 161.2.2.8 Kiểm tra, đánh giá và kết quả đào tạo
Mục đích của kiểm tra, đánh giá là để: 1) phản hồi cho SV về cách học tập; 2) tạođộng cơ và kích thích SV học tập; 3) hỗ trợ và thúc đẩy việc học tập; 4) phản hồi cho cácgiảng viên (GV) ở các khóa sau và những người khác biết về kết quả; 5) cho điểm: phânloại thành tích (sự tiến bộ của SV); và 6) đảm bảo chất lượng đào tạo
Để tránh việc người học thực hiện phương pháp học tập để thi, thường qui trìnhkiểm tra, đánh giá phải được tiến hành như sau: 1) Xác định mục tiêu chương trình đàotạo; 2) Xây dựng chiến lược, kế hoạch và phương pháp giảng dạy; 3) Thiết kế việc kiểmtra đánh giá dựa vào các mục tiêu đã đề ra Các mục tiêu đó thường bao gồm các mụctiêu về kiến thức, kỹ năng và thái độ
Kết quả chính là chất lượng, hiệu quả hoạt động đào tạo đối chiếu với các mụctiêu đã đề ra Kết quả của quá trình đào tạo ở đại học phản ánh kết quả vận động và pháttriển tổng hợp của các nhân tố, đặc biệt là nhân tố sinh viên với hoạt động học
1.2.2.9 Tài chính
Tài chính trong đào tạo đại học luôn là một bài toán khó giải quyết Tài chính củamột trường đại học, một đơn vị có thu, từ hai nguồn chủ yếu: ngân sách nhà nước và cáckhoản thu từ các hợp đồng đào tạo Ngân sách nhà nước cấp cho giáo dục nói chung vàcác trường đại học nói riêng rất cao nếu tính theo tỷ lệ phần trăm so với GDP, nhưng lạirất thấp nếu quy ra tiền mặt và so với các nước trong khu vực Các hợp đồng đào tạođem lại cho các trường đại học nguồn kinh phí không nhỏ nhưng cũng buộc các trườngphải san sẻ cho nó nguồn lực đào tạo đáng kể, điều này ảnh hưởng không nhỏ đến chấtlượng đào tạo của nhà trường
Có nhiều giải pháp để giải quyết vấn đề tài chính như: đa dạng hoá loại hình đàotạo, đa dạng hoá nguồn lực cho đào tạo, xã hội hoá giáo dục v.v ĐTTHCTC cũng làmột giải pháp cho vấn đề tài chính Trước hết việc giảm giờ lên lớp sẽ giảm đáng kể kinhphí chi trả cho giờ dạy và kèm theo đó là giảm các chi phí khác Việc thu học phí theo tínchỉ cũng giúp các nhà quản lý hình dung được một cách chi tiết hơn tất cả các khoản thuchi trong đào tạo, từ đó có các biện pháp điều hoà thu chi, tập trung được kinh phí đầu tưnâng cao chất lượng đào tạo
1.2.3 Quá trình đào tạo ở bậc đại học
1.2.3.1 Công tác tuyển sinh
Tuyển sinh là khâu đầu tiên và cũng là khâu rất quan trọng đối với chất lượng đàotạo của các trường đại học ở Việt Nam Đây cũng là điểm khác biệt trong đào tạo của cáctrường đại học ở châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng so với các trường đại học ở
Trang 17châu Âu và Bắc Mỹ Ở các trường châu Âu và Bắc Mỹ không thi tuyển sinh đại học màchỉ xét tuyển, và thường số sinh viên nhập học rất nhiều so với số sinh viên tốt nghiệp.Còn ở Việt Nam hàng năm chỉ tiêu tuyển sinh đại học rất ít so với số lượng học sinh tốtnghiệp trung học phổ thông, mức độ sàng lọc đầu vào và đầu ra của các trường đại họckhông quá khắt khe nên việc thi tuyển sinh đại học là hết sức cần thiết để tuyển chọnđược những ứng viên xứng đáng.
Công tác tuyển sinh bắt đầu việc xây dựng chỉ tiêu Hằng năm phòng đào tạo cáctrường, căn cứ vào chỉ tiêu chung cho toàn trường được Bộ GD&ĐT phân bổ và thực tếtuyển sinh của các năm trước cũng như nhu cầu nhân lực của địa phương để xây dựngchỉ tiêu cho từng ngành đào tạo Sau khi kỳ thi tuyển sinh được tổ chức và đã có kết quảthi, phòng đào tạo căn cứ vào chỉ tiêu cụ thể của từng ngành, điểm sàn của Bộ GD&ĐTvà kết quả của thí sinh thi vào ngành đó để xây dựng điểm chuẩn, lập danh sách trúngtuyển và gọi nhập học Nếu xét tuyển nguyện vọng 1 chưa đủ, các trường có thể tổ chứcxét nguyện vọng 2 hoặc nguyện vọng 3 Công tác tuyển sinh chỉ kết thúc khi đã gọi đủchỉ tiêu hoặc gọi hết các hồ sơ đăng ký đã trúng tuyển
Ở Đại học Huế công tác tuyển sinh hệ đại học chính quy của tất cả các trườngthành viên và khoa trực thuộc (sau đây gọi chung là trường) đều do Ban Tuyển sinh –Đại học Huế tổ chức, sau khi nhập học xong các trường mới tiếp nhận, quản lý và tổchức đào tạo Vì vậy, trong các hoạt động đào tạo của các trường cũng như trong nghiêncứu của chúng tôi chỉ đề cập đến hai khâu sau là tổ chức đào tạo và xét và công nhận tốtnghiệp
1.2.3.2 Tổ chức đào tạo
Tổ chức đào tạo là khâu quan trọng nhất, quyết định chất lượng của quá trình đàotạo Tổ chức đào tạo được bắt đầu từ việc xây dựng kế hoạch đào tạo Phòng đào tạocùng với các khoa, căn cứ vào chương trình đào tạo, chỉ tiêu tuyển sinh đối với khoá mớihoặc số lượng sinh viên của các khoá cũ, đội ngũ giảng viên cơ hữu và mời giảng, thựctế cơ sở vật chất v.v để lên kế hoạch đào tạo cụ thể cho khoá học mới cũng như cho tất
cả các khoá đang học tại trường trong năm học sắp đến và kế hoạch tổng thể cho cácnăm tiếp theo Kế hoạch đào tạo cụ thể cho năm học sẽ được tổ chức thực hiện ngay khibắt đầu năm học mới, kế hoạch tổng thể sẽ làm cơ sở để xây dựng các kế hoạch cụ thểcho các năm tiếp theo
Một nhiệm vụ quan trọng của khâu tổ chức đào tạo là theo dõi, kiểm tra, đánh giávà đưa ra các điều chỉnh cần thiết Một kế hoạch, dù cụ thể, chặt chẽ đến đâu cũng khôngthể lường hết tất cả các tình huống sẽ xẩy ra Vì vậy, phải luôn luôn kiểm tra mức độ phùhợp của kế hoạch, đồng thời đưa ra các điều chỉnh kịp thời để kế hoạch được hoàn thành
Trang 18đúng tiến độ.
1.2.3.3 Công tác xét và công nhận tốt nghiệp
Xét và công nhận tốt nghiệp về thực chất chỉ là khâu tổng hợp lại các kết quảđánh giá theo từng học kỳ hoặc từng học phần mà sinh viên đã đạt được Từng phươngthức đào tạo đều có quy định điều kiện cụ thể để sinh viên được xét tốt nghiệp Nếu đàotạo theo niên chế chỉ tổ chức xét tốt nghiệp theo từng năm học thì ĐTTHCTC tổ chứcxét tốt nghiệp theo học kỳ
Trong kho tàng các tư liệu nghiên cứu, có khoảng hơn 60 định nghĩa về tín chỉ
Có định nghĩa coi trọng khía cạnh định tính, có định nghĩa coi trọng khía cạnh địnhlượng, có định nghĩa nhấn mạnh vào chuẩn đầu ra của sinh viên, có định nghĩa lại nhấnmạnh vào các mục tiêu của một chương trình học Trên đây là hai trong số những địnhnghĩa đó Từ những định nghĩa này có thể hiểu được:
“Tín chỉ học tập là một đại lượng đo toàn bộ thời gian bắt buộc của một ngườihọc bình thường để học một môn học cụ thể, bao gồm: 1) thời gian lên lớp; 2) thời gian ởtrong phòng thí nghiệm, thực tập hoặc các phần việc khác đã được quy định ở thời khóabiểu; và 3) thời gian dành cho đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề, viết hoặc chuẩn bịbài ; đối với các môn học lí thuyết một tín chỉ là một giờ lên lớp (với hai giờ chuẩn bịbài) trong một tuần và kéo dài trong một học kì 15 tuần; đối với các môn học ở phòngthực hành hay phòng thí nghiệm, ít nhất là 2 giờ trong một tuần (với 1 giờ chuẩn bị); đốivới các môn tự học, ít nhất là 3 giờ làm việc trong một tuần.” [23]
1.3.2 Đào tạo theo học chế tín chỉ
“Học chế tín chỉ là cách diễn tả một chương trình giáo dục bằng cách gắn các tín
chỉ vào các phần cấu thành chương trình ấy Việc xác định tín chỉ trong hệ thống giáodục đại học có thể dựa trên những tham số khác nhau, chẳng hạn như khối lượng côngviệc của sinh viên, kết quả học tập, và số giờ tiếp xúc giữa giảng viên và sinh viên.” [1]
Trang 19ĐTTHCTC là phương thức đào tạo sử dụng tín chỉ để lượng hoá hoạt động họctập của sinh viên trong quá trình đánh giá Bản chất của phương thức này là cá nhân hoáquy trình đào tạo, trao quyền chủ động cho sinh viên, tạo điều kiện cho sinh viên tựquyết định về tiến độ và tốc độ tích luỹ.
ĐTTHCTC là phương thức đào tạo đặt người học vào vị trí trung tâm của quátrình dạy - học, tạo cho họ thói quen tự học, tự khám phá kiến thức, có kĩ năng giải quyếtvấn đề, tự chủ động thời gian hoàn thành một môn học, một chương trình cử nhân haythạc sĩ Hơn nữa, trong phương thức ĐTTHCTC, hầu như bất kì môn học nào cũng baogồm ít nhất hai trong ba hình thức tổ chức dạy - học: bài giảng của giảng viên; thực tập,thực hành của sinh viên dưới sự hướng dẫn của giảng viên; và tự học, tự nghiên cứu củasinh viên Ba yếu tố trên có mối liên hệ hữu cơ với nhau, hỗ trợ cho nhau giúp người họcnắm kiến thức và tạo kiến thức một cách hiệu quả hơn Sẽ không có phương pháp dạy -học theo tín chỉ nếu không xác định lại vai trò của người dạy và người học Vì vậy, khichuyển sang ĐTTHCTC, cả người dạy và người học đều phải thay đổi vai trò của mình
so với phương thức đào tạo truyền thống trước đây
1.3.2.1 Vai trò của người dạy
Trong phương thức đào tạo truyền thống, người dạy có một số vai trò, trong đóhai vai trò nổi bật nhất là “người toàn trí” (người biết mọi tri thức về môn học liên quan)và “người quyết định mọi hoạt động dạy - học trong lớp học”
Trong phương thức đào tạo theo tín chỉ, hai vai trò đã nêu ở trên ở một mức độnào đó vẫn được duy trì Tuy nhiên, người dạy phải đảm nhiệm thêm ít nhất ba vai trònữa; đó là: 1) cố vấn cho quá trình học tập; 2) người tham gia vào quá trình học tập; và 3)người học
Với tư cách là cố vấn cho quá trình học tập, khi giảng bài cũng như khi hướngdẫn thảo luận, người dạy phải chọn những vấn đề cốt lõi, quan trọng để giảng mà nếukhông có người dạy thì người học khó có thể lĩnh hội được
Trong vai trò của người dạy tham gia vào quá trình dạy - học, người dạy hoạtđộng như là một thành viên tham gia vào quá trình học tập ở trên lớp với các nhómngười học Người dạy còn có thêm một vai trò bổ sung nữa; đó là, nguồn tham khảo chongười học, giúp họ tháo gỡ những khó khăn trong quá trình học tập và nghiên cứu
Trong vai trò là người học, với tư cách là một thành viên tham gia vào các hoạtđộng học tập ở trên lớp, người dạy, ở một mức độ nào đó, có điều kiện trở lại vị trí củangười học, hiểu và chia sẻ những khó khăn và trách nhiệm học tập với họ
1.3.2.1 Vai trò của người học
Trang 20Trong phương thức đào tạo theo tín chỉ, người học phải được tạo điều kiện đểthực sự trở thành người đàm phán tích cực và có hiệu quả: 1) với chính mình trong quátrình học tập, 2) với mục tiêu học tập, 3) với các thành viên trong nhóm và trong lớp học,và 4) với người dạy.
Trong quá trình học tập sinh viên thường xuyên điều chỉnh kế hoạch học tập củamình cho phù hợp với những mục tiêu của môn học Quá trình điều chỉnh này được gọilà quá trình đàm phán với chính mình và với mục tiêu học tập để đạt được những mụctiêu mà môn học đề ra
Quá trình học tập xảy ra trong một môi trường văn hóa xã hội nhất định trong đósự tương tác giữa những người học với nhau có vai trò hết sức quan trọng trong thu nhậnvà tạo kiến thức Thực tế này yêu cầu người học phải đóng thêm một vai trò của ngườicùng đàm phán trong nhóm và trong lớp học
Vì dạy - học theo trường lớp thường là một quá trình tác động qua lại giữa hainhân tố chủ chốt của quá trình dạy học là người dạy và người học, cho nên người họctrong phương thức đào tạo theo tín chỉ còn phải đảm nhiệm thêm một vai trò quan trọngnữa: người tham gia vào môi trường cộng tác dạy - học Họ hoạt động vừa là nhữngcộng sự với người dạy trong việc xác định nội dung và phương pháp giảng dạy, vừa làngười cung cấp thông tin phản hồi về người học cho người dạy để người dạy có thể điềuchỉnh nội dung, phương pháp và thủ thuật giảng dạy phù hợp, tăng hiệu quả dạy - học
1.3.3 Cơ sở khoa học của phương thức ĐTTHCTC
Cơ sở khoa học của phương thức ĐTTHCTC là quan điểm dạy học hướng vàongười học, tôn trọng người học, xem người học là trung tâm của quá trình đào tạo Đểthấy rõ điều này chúng ta hãy tìm hiểu bản chất của quan điểm dạy học lấy người họclàm trung tâm và những đặc tính của phương thức ĐTTHCTC
Bản chất của quan điểm này là: 1) Thừa nhận, tôn trọng, hiểu rõ, đồng cảm vớinhu cầu, lợi ích, mục đích, giá trị nhân cách của người học, thu hút, thuyết phục, kíchthích động cơ bên trong của người học; 2) Dựa vào kinh nghiệm cá nhân của người học,khai thác nó, biến nó thành sức mạnh trong học tập; 3) Không gò ép, cưỡng bức, giáođiều mà tạo điều kiện, cơ hội học tập; 4) Phương thức chủ đạo là hoạt động cá nhân củangười học để tự phát triển trong môi trường luôn được kích thích động cơ bên trong; 5)Tối đa hoá sự tham gia của người học trong quá trình học tập; 6) Phát huy tính chủ động,tự tin của người học: 7) Phát triển tư duy độc lập, sáng tạo, khả năng suy ngẫm, óc phêphán của người học: 8) Tính mềm dẻo và thích ứng cao của hệ thống giáo dục; 9) Vai trò
to lớn của kỹ năng, kỹ xảo trong hoạt động học tập và nhận thức của người học (Để hiểu
rõ hơn bản chất này xin xem phụ lục số 1.1 so sánh sự khác biệt giữa dạy học lấy người
Trang 21dạy làm trung tâm và dạy học lấy người học làm trung tâm.)
Đặc tính của phương thức ĐTTHCTC là: 1) Tính liên thông: đảm bảo kết nối cácmôn học theo các phương pháp được thừa nhận trong phạm vi một hệ thống giáo dục, dù
sử dụng hình thức nào, chương trình nào, nhìn vào hệ thống tín chỉ sẽ biết kết cấu mônhọc ra sao và mặt mạnh, mặt yếu của chương trình học; 2) Tính chủ động: qua việc chọnlựa từng loại môn và bố trí môn, sinh viên chủ động xây dựng chương trình học, giúpsinh viên tự điều chỉnh chương trình học phù hợp với những điều kiện của mình và sinhviên có thể học nhanh hay muộn so với dự kiến mà không ảnh hưởng đến chất lượng họctập hay kết quả thi tốt nghiệp; 3) Tính khoa học: hệ thống tín chỉ gắn liền việc phân chiacác loại môn theo logic khoa học: sự liên thông giữa các loại môn kết hợp với thời lượngcần thiết phân bổ cho từng loại môn; 4) Tính thực tiễn, linh hoạt: định kỳ trường có kếhoạch xem xét lại chương trình học theo hoàn cảnh thực tế: môn học nào cần thì giữ,môn nào không cần thì sửa đổi hoặc bỏ
Chúng ta thấy rằng với những đặc tính nói trên, phương thức ĐTTHCTC hoàntoàn được xây dựng trên cơ sở của quan điểm dạy học lấy người học làm trung tâm
1.3.4 Những đặc trưng của ĐTTHCTC
ĐTTHCTC có những đặc trưng cơ bản sau:
- Người học phải tích lũy kiến thức theo từng học phần
- Mỗi học phần cấu tạo theo module, phân bổ theo mốc thiết kế của năm học.Ngoài phần đại cương chung cho một chương trình, còn cấu tạo môn học tự chọn, chianhánh sâu cho mỗi chuyên ngành hẹp
- Đi kèm với khung chương trình buộc phải có đề cương chi tiết học phần, trong
đó phân rõ số tiết lên lớp lý thuyết, thực hành
- Quy định khối kiến thức cho mỗi văn bằng, với đại học hệ 04 năm khốilượng kiến thức từ 120 đến 140 tín chỉ (không nhất thiết phải tối đa)
- Chương trình đào tạo mềm dẻo, người học dễ dàng điều chỉnh ngànhnghề khi thấy không thích hợp với sở trường sở đoản
- Đánh giá thường xuyên
- Dạy học lấy người học làm trung tâm, vì thế phải đổi mới phương pháp dạyhọc, người học phải làm việc nhiều hơn và trao đổi với thầy, bạn thông qua giờthảo luận, trên mạng hay thầy bố trí giờ trả lời trực tiếp người học
- Tổ chức đào tạo và quản lý đào tạo rất khác biệt với cách tổ chức theo quy chế25/2006, như: đăng ký môn học, giờ giấc của một ngày học, đội ngũ cố vấn học tập, vàlớp “học phần”, lớp “truyền thống”, được thi lại lần 2 hay không do từng trường quyết
Trang 22định (thông thường ĐTTHCTC ở nước ngoài không được thi lại lần 2),…
- Tuyển sinh theo học kỳ, xét tốt nghiệp 02 lần/ năm; không thi tốt nghiệp
- Chỉ có một loại văn bằng cho tất cả các loại hình (chính quy và không chính quy)
- Học phí không thu đồng đều giống nhau mà thu theo số lượng tín chỉ sinh viênđăng ký học
1.4 Quản lý hoạt động ĐTTHCTC
1.4.1 Khái niệm và chức năng quản lý
1.4.1.1 Khái niệm quản lý
Trong bất kỳ một thể chế xã hội nào cũng cần có sự quản lý Chính vì vậy mànhững khái niệm quản lý đã có từ rất lâu Trong quá trình phân tích và ứng dụng người tađã hiểu quản lý theo nhiều cách, dẫn đến đưa ra những định nghĩa khác nhau
Nhà lý luận quản lý kinh tế người Pháp H Fayon (1849-1925), cha đẻ của thuyếthành chính trong quản lý đã đưa ra định nghĩa: “Quản lý hành chính là dự đoán và lập kếhoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra”
Theo sự phân tích của Marx thì quản lý là một chức năng tất yếu của lao động xãhội, nó luôn gắn chặt với sự phân công lao động và phối hợp Song điều đó chỉ có thểthực hiện trên cơ sở tổ chức vì: “chức năng chủ yếu của quản lý là liên hợp, kết hợp tất
cả các mặt hoạt động của tổ chức và của những người tham gia tổ chức đó thành mộtchỉnh thể”
"Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy,kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực và tài lực) trongvà ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức vớihiệu quả cao nhất" [15]
"Quản lý là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức của chủ thể quản lý lênkhách thể quản lý bằng việc vận dụng các chức năng và phương tiện quản lý, nhằm sửdụng có hiệu quả nhất các tiềm năng và cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra"[21]
Qua những định nghĩa trên có thể rút ra những điểm chung nhất về khái niệmquản lý là: 1) Quản lý bao gồm công việc chỉ huy và tạo điều kiện cho những người khácthực hiện công việc và đạt được mục đích của nhóm; 2) Quản lý là thực hiện những côngviệc có tác dụng định hướng, điều tiết, phối hợp các hoạt động của cấp dưới, của nhữngngười dưới quyền; 3) Quản lý là thiết lập, khai thông các mối quan hệ cụ thể để hoạtđộng đông người được hình thành, tiến hành trôi chảy, đạt hiệu quả cao, bền lâu vàkhông ngừng phát triển; 4) Quản lý là thực hiện mục tiêu của tổ chức thông qua việc sử
Trang 23dụng có hiệu quả các nguồn lực; 5) Quản lý phải bao gồm hai yếu tố cơ bản: chủ thể vàkhách thể quản lý; 6) Quản lý bao giờ cũng là những hoạt động hướng đích; 7) Quản lýtồn tại với tư cách một hệ thống Điều đó có nghĩa là quản lý phải có cấu trúc và vậnđộng trong môi trường xác định Cấu trúc đó có thể được mô tả sơ đồ 1.1.
1.4.1.2 Chức năng của quản lý
Quản lý có bốn chức năng chủ yếu, cơ bản có liên quan mật thiết với nhau, gồm:lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, chỉ đạo và kiểm tra
- Chức năng lập kế hoạch là xác định mục tiêu, mục đích đối với những thành tựutrong tương lai của tổ chức; xác định con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mụctiêu, mục đích đó
- Chức năng tổ chức là quá trình hình thành nên những cấu trúc các quan hệ giữacác thành viên, giữa các bộ phận trong cùng một tổ chức để họ thực hiện thành công cáckế hoạch để đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức
- Chức năng lãnh đạo, chỉ đạo tác động đến các thành viên, các bộ phận bằng cácmệnh lệnh, làm cho họ phục tùng và làm đúng kế hoạch, đúng nhiệm vụ được phâncông
- Chức năng kiểm tra là quá trình thu thập thông tin ngược để theo dõi, giám sátcác thành quả hoạt động và tiến hành những hoạt động khắc phục, điều chỉnh nếu cầnthiết
Để đảm bảo cho các chức năng này hoạt động bình thường cần có thông tin quản
Chủ thể quản lý
Công cụ, PP quản lý
Khách thể quản lý
Nội dung quản lý
Mục tiêuquản lý
Sơ đồ 1.1 Mô hình về quản lý
Trang 24lý Một chu trình quản lý có thể biểu diễn bằng sơ đồ 1.2.
1.4.2 Quản lý hoạt động đào tạo
Thuật ngữ ‘quản lý hoạt động đào tạo” có nhiều cấp độ Ít nhất có hai cấp độ chủyếu: cấp vĩ mô và cấp vi mô Cấp quản lý vĩ mô tương ứng với việc quản lý một hoặcmột loạt đối tượng có quy mô lớn, bao quát toàn bộ hệ thống Nhưng, trong hệ thống nàylại có nhiều hệ thống con, và tương ứng với hệ thống con này cũng có hoạt động quản lý,
đó là quản lý vi mô Việc phân chia quản lý vĩ mô và quản lý vi mô chỉ là tương đối
Quản lý đào tạo trong một trường đại học bao gồm hệ thống những tác động cóhướng đích của hiệu trưởng đến các hoạt động đào tạo, đến con người (Giảng viên, cán bộcông nhân viên và sinh viên), đến các nguồn lực (cơ sở vật chất, tài chính, thông tin,…),đến các ảnh hưởng ngoài nhà trường một cách hợp quy luật (quy luật quản lý, quy luậtgiáo dục, quy luật tâm lý, quy luật kinh tế, quy luật xã hội, v.v ) nhằm đạt mục tiêu đàotạo Để thực hiện đúng chức năng quản lý đào tạo của mình, trên cơ sở các thông tin cóđược, hiệu trưởng cùng các phòng ban chức năng và các khoa tiến hành xây dựng kếhoạch đào tạo, tổ chức hoạt động đào tạo, chỉ đạo, điều khiển hoạt động đào tạo, thực hiệnchức năng kiểm tra hoạt động đào tạo của nhà trường nhằm có những điều chỉnh, bổ sungkịp thời đồng thời thu nhận thông tin để xây dựng kế hoạch đào tạo cho giai đoạn tiếp theo
1.4.3 Nội dung quản lý hoạt động ĐTTHCTC
1.4.3.1 Các chức năng quản lý trong quản lý ĐTTHCTC
Lập kế hoạch đào tạo: Kế hoạch đào tạo trong ĐTTHCTC phải hết sức chặt chẽ,
Thông tin Kế hoạch
Chỉ đạo
Sơ đồ 1.2 Các chức năng của quản lý
Trang 25hầu như không thay đổi trong suốt học kỳ vì rất khó khăn trong việc tổ chức một lớp họcmới, hoặc thay đổi thời khoá biểu của lớp học phần khi trong lớp đó gồm sinh viên củanhiều ngành, nhiều khoá khác nhau Số lượng sinh viên theo học một học phần nào đó,nhất là đối với các học phần tự chọn, học phần không có điều kiện học trước hoặc tiênquyết rất khó xác định Kế hoạch đào tạo phải lường được hết tất cả các tinh huống nàyvà phải luôn có nhiều phương án dự phòng Ngoài ra, kế hoạch đào tạo cũng phải tạođiều kiện để sinh viên có thể xây dựng kế hoạch học tập cá nhân một cách hợp lý, đây làyêu cầu của quan điểm dạy học lấy người học là trung tâm, nhưng không phá vỡ kếhoạch tổng thể của trường
Tổ chức đào tạo: Đây là một điểm khác biệt rất lớn so với các phương thức đào
tạo trước đây Trong ĐTTHCTC, các lớp học phần được tổ chức theo sự đăng ký củasinh viên Công tác cho sinh viên đăng ký thường hết sức khó khăn, hầu như không thểthực hiện được nếu không có sự hỗ trợ của công nghệ thông tin Hình thức tổ chức nàycũng lấy mất khá nhiều quỹ thời gian của năm học và lớp học chậm đi vào ổn định, khóchốt danh sách lớp học Điều này dẫn đến khó cử ban cán sự lớp học phần và khó đưalớp đi vào nề nếp Ngoài ra, sinh viên chủ yếu gặp nhau trong lớp học phần, việc quản lýsinh viên của phòng Công tác sinh viên, khoa và các tổ chức đoàn thể bằng lớp truyềnthống gặp nhiều khó khăn, phải tìm những phương thức quản lý mới cho phù hợp
Chỉ đạo, điều khiển hoạt động ĐTTHCTC đòi hỏi nhà quản lý phải am hiểu
những đặc thù của hoạt động đào tạo và đặc tính của đào tạo theo tín chỉ, luôn chỉ đạo sátsao, mềm dẽo nhưng cũng phải kiên quyết, dứt khoát, dám nghĩ, dám làm, dám chịutrách nhiệm mới vượt qua được những boăn khoăn, lưỡng lự trước cái mới, cái thay đổi
Thông tin luôn quan trọng đối với công tác quản lý nói chung và quản lý đào tạonói riêng, đối với quản lý ĐTTHCTC thông tin càng quan trọng vì rất khó thường xuyên
tổ chức các cuộc hội họp để thu nhận được thông tin chính thống Để thực hiện chức năng kiểm tra, nhà quản lý phải thiết lập được hệ thống thông tin đa chiều nhằm thu
nhận được các thông tin ngược, phải có khả năng lọc và xử lý thông tin, từ đó có thểgiám sát quá trình tổ chức thực hiện kế hoạch đào tạo và có được các quyết định quản lýđúng đắn để điều chỉnh kịp thời
1.4.3.2 Nội dung quản lý ĐTTHCTC
Sứ mạng và mục tiêu đào tạo: Sứ mạng và mục tiêu đào tạo của một trường đại học
là chung cho mọi phương thức đào tạo Nhiệm vụ của việc quản lý đào tạo ở nội dung nàylà trả lời các câu hỏi sau: 1) Sứ mạng và mục tiêu đào tạo do nhà trường xây dựng đã theođúng các quy định của nhà nước, phù hợp với tình hình phát triển của thế giới, đất nước vàđịa phương, đáp ứng được nhu cầu của xã hội hay chưa? 2) Các yếu tố khác của quá trình
Trang 26đào tạo, đặc biệt là phương thức ĐTTHCTC, có thể hiện và thực hiện được tinh thần của
sứ mạng và mục tiêu đó không? 3) Các nhiệm vụ cụ thể được xây dựng trên cơ sở sứmạng và mục tiêu đó có được cập nhật đầy đủ và thường xuyên không?
Nội dung chương trình: ĐTTHCTC yêu cầu nội dung đào tạo phải đa dạng,
phong phú, có nhiều ngành và chuyên ngành sát với ngành nghề ngoài xã hội, đồng thờinội dung trong mỗi ngành, chuyên ngành cũng phải hết sức đa dạng, thể hiện qua sựphong phú của các học phần xây dựng cho một ngành, chuyên ngành Nội dung trongmỗi học phần phải đáp ứng được thực tế lao động sản xuất của xã hội ở giai đoạn hiện tạitương ứng Số lượng các học phần cũng như nội dung các học phần phải được cập nhật,đổi mới thường xuyên
Trong ĐTTHCTC, chương trình đào tạo có vai trò hết sức quan trọng Nhữngmục tiêu cơ bản của ĐTTHCTC như: sinh viên chủ động trong xây dựng kế hoạch họctập cá nhân, có thực hiện hiệu quả việc tự học, tự nghiên cứu, năng động, sáng tạo tronghọc tập và nghiên cứu v.v phụ thuộc rất nhiều vào chương trình đào tạo Chương trìnhđào tạo đại học theo học chế tín chỉ rất ngắn gọn, để tốt nghiệp chỉ cần tích luỹ đủ từ 120đến 140 tín chỉ cho một ngành đào tạo Tuy nhiên, chương trình đào tạo đại học của mộtngành thường được xây dựng từ 180 đến 200 tín chỉ và có thể hơn Trong đó có rất nhiềucác học phần tự chọn, bao gồm tự chọn bắt buộc và tự chọn tự do Chương trình phảilinh hoạt, dễ chuyển đổi, có tính liên thông ngang và dọc cao
Đi kèm với khung chương trình luôn phải có đề cương môn học (đề cương chi
tiết học phần) Trong đề cương môn học phải đưa vào: 1) thông tin về môn học; 2) thông tin về giảng viên; 3) giáo trình chính và tài liệu bổ sung; 4) mục tiêu và nội dung tóm tắt môn học; 5) lịch học và chủ đề của các buổi học, ngày thi, ngày kiểm tra, thời hạn nộp các bài tập nghiên cứu, các buổi nghe diễn giả nói chuyện, đi thực địa; 6) Quy định hành chính đối với môn học; 7) cách đánh giá kết quả môn học.
Người dạy với hoạt động dạy và người học với hoạt động học: Nhiệm vụ đầu tiên
của công tác quản lý là phải chuẩn bị về mặt nhận thức cho đội ngũ giảng viên và sinhviên về phương thức đào tạo mới này: Vì sao phải đổi sang phương thức đào tạo mới?những đặc tính, đặc trương của phương thức mới là gì? Nhiệm vụ của người dạy vàngười học trong phương thức mới này thay đổi như thế nào?.v.v
Nhà quản lý phải có kế hoạch chuẩn bị đội ngũ giảng viên từ vài năm trước đểđáp ứng yêu cầu của ĐTTHCTC là phải một giảng viên phải dạy được nhiều học phầnvà một học phần có nhiều giảng viên đảm nhiệm Phải tập huấn cho cả giảng viên vàsinh viên về phương pháp dạy và học theo học chế tín chỉ Trong ĐTTHCTC, vai trò tổchức, điều khiển của giảng viên càng thể hiện rõ hơn Với thời lượng lên lớp chỉ còn 2/3
Trang 27so với đào tạo theo niên chế, nhưng nội dung chương trình ngày càng tăng lên, yêu cầu
về thời gian học của sinh viên cũng tăng lên đòi hỏi người giảng viên phải thay đổi vaitrò cho phù hợp Nếu trước đây giảng viên là người chủ yếu truyền thụ kiến thức thì naygiảng viên phải là người hướng dẫn sinh viên cách học tập, cách tự thu nhận kiến thức
Quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên thông qua: 1) Đề cương môn học(syllabus); 2) Hệ thống quản lý theo dõi, kiểm tra việc thực hiện đề cương môn học; 3)Nhận xét của sinh viên về công việc giảng dạy của giảng viên
Quản lý học tập của sinh viên thông qua: 1) Sổ tay sinh viên và đề cương mônhọc; 2) Đánh giá của cố vấn học tập; 3) Đánh giấ của giảng viên đứng lớp; 4) Số tín chỉmà sinh viên tích luỹ được
Ngoài chức năng là người dạy, người giảng viên còn đảm nhiệm chức năng cố vấn học tập Đây là một chức năng mới mẽ, vì vậy, cần phải có tài liệu hướng dẫn, có tập
huấn để thầy hoàn thành tốt chức năng thứ hai này
Đội ngũ cán bộ quản lý và nhân viên: Khi chuyển sang ĐTTHCTC, công việc
của các nhà quản lý sẽ tăng lên rất nhiều và mức độ phức tạp của từng công việc cũng sẽtăng lên Vì vậy sự chuẩn bị tinh thần về mặt nhận thức cho đội ngũ cán bộ quản lý vànhân viên là cần thiết Bên cạnh đó phải tổ chức những đợt tập huấn hết sức kỹ lưỡng vềcông tác quản lý đào tạo ĐTTHCTC đòi hỏi đội ngũ quản lý rất chuyên nghiệp vì vậycông tác ổn định tổ chức, quy hoạch, bồi dưỡng cán bộ quản lý phải được đặt lên hàngđầu
Phương pháp dạy và học: Trong ĐTTHCTC giảng viên không truyền thụ toàn bộ
các kiến thức đã được trình bày trong giáo trình, tài liệu tham khảo mà chỉ thựchiện các công việc sau để hướng dẫn sinh viên tích luỹ kiến thức, kỹ năng và nâng caohứng thú học tập, lòng yêu khoa học cũng như ngành đào tạo đã lựa chọn: 1) Giải thíchnhững vấn đề mà sinh viên sẽ gặp khó khăn khi tự đọc, tự nghiên cứu giáo trình, tài liệu;2) Nhấn mạnh những vấn đề mà sinh viên cần chú ý trong giáo trình và tài liệu thamkhảo; 3) Hướng dẫn sinh viên thảo luận những vấn đề trong tài liệu mà sinh viên đã đọc,hoặc những bài nghiên cứu do sinh viên thực hiện; 4) Theo dõi các ý kiến thảo luận củasinh viên, giải thích những nội dung sinh viên hiểu chưa đúng; 5) Giới thiệu các nhàkhoa học và những vấn đề học thuật đang được tranh luận, những vấn đề cần đượcnghiên cứu liên quan đến ngành học; 6) Đánh giá thái độ và kết quả học tập trên lớp vàtự học ở nhà của sinh viên, đồng thời công bố cho sinh viên biết ý kiến đánh giá củamình; 7) Tổ chức kiểm tra ngắn, đột xuất để thúc đẩy sinh viên thường xuyên học tập; 8)trả bài kiểm tra, bài tập nghiên cứu của sinh viên và có nhận xét về các bài làm đó; 9)hướng dẫn sinh viên những điều cần chú ý khi làm thí nghiệm, đi thực tập, thực tế; và 1l)
Trang 28những nội dung cần thiết khác Tuỳ theo từng buổi lên lớp mà giảng viên lựa chọn cáccông việc phù hợp trong các việc được nêu trên.
Sinh viên học tập theo sự hướng dẫn, kiểm tra, đánh giá của giảng viên nhưnghe giảng, thảo luận trên lớp; tự học, tự nghiên cứu, làm bài tập, viết báo cáo ở nhà, thưviện; làm việc trong phòng thí nghiệm, đi thực địa theo các yêu cầu mà giảng viên đã nêutrong đề cương môn học và tham khảo ý kiến giảng viên trong các dịp tiếp xúc trực tiếphoặc trao đổi bằng điện thoại, e-mail
Phương tiện dạy học, trang thiết bị và cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy và học tập: Một trường đại học chuyển sang ĐTTHCTC phải đầu tư khá nhiều cho nội dung
này Do đặc thù tổ chức đào tạo của phương thức này (sinh viên tự học nhiều, thời gianhọc liên tục trong ngày “được tính từ 8 giờ đến 20 giờ hằng ngày” [5], sinh viên tự lên kếhoạch học tập cá nhân v.v ) nhà trường phải đầu tư thêm cho phương tiện dạy học và cơ
sở vật chất nhằm đáp ứng yêu cầu giảng dạy, học tập và nhu cầu sinh hoạt tối thiểu ngaytại trường hàng ngày của toàn thể giảng viên và sinh viên
Một phương tiện không thể thiếu của từng sinh viên là Sổ tay sinh viên (cótrường gọi là Sách hướng dẫn, Catalog, Bulletin hoặc Calendar) Hàng năm nhà trườngphát hành Sổ tay sinh viên với nội dung gồm: 1) Các phần giới thiệu lịch sử thành lập vàphát triển của trường; 2) Sứ mệnh của trường; 3) Cơ cấu tổ chức của trường, các đơn vịtrong trường…; 4) Thông báo những yêu cầu mà người học phải thực hiện để được tốtnghiệp ngành đào tạo: 5) Giới thiệu cụ thể từng môn học (mã số, số tín chỉ, nội dung tómtắt, môn bắt buộc…) để sinh viên nghiên cứu và đăng ký học
Nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế: ĐTTHCTC lấy người học làm trung
tâm, chú trọng đến năng lực tự học, tự nghiên cứu vì vậy rất coi trọng công tác nghiêncứu khoa học của cán bộ và sinh viên Quản lý về nội dung này phải làm sao phát huyhết được năng lực tự nghiên cứu của sinh viên, hướng các đề tài nghiên cứu đến các nộidung thiết thực, phục vụ cho cuộc sống
Tính cập nhật và liên thông của ĐTTHCTC đòi hỏi nhà trường phải đẩy mạnhhoạt động hợp tác quốc tế nhằm thường xuyên trao đổi được những thông tin mới nhất,công nghệ tiên tiến nhất, công nhận được chương trình và kết quả đào tạo giữa cáctrường đại học
Kiểm tra, đánh giá và kết quả đào tạo: Kết quả học tập của sinh viên không chỉ
được đánh giá bằng các bài kiểm tra và bài thi cuối môn học mà còn bằng cách đánh giáqua: 1) các hoạt động trên lớp (số buổi có mặt, thái độ theo dõi bài giảng, thảo luận); 2)tự học ở nhà (qua nội dung phát biểu thảo luận trên lớp, thời gian và chất lượng hoànthành bài tập ở nhà do giảng viên giao); 3) làm việc trong phòng thí nghiệm, đi thực tế;
Trang 294) bài thi kết thúc môn học.
Sinh viên cũng được thông báo về cách thức và trọng số đánh giá kết quả học tậpnhư trên ngay từ khi bắt đầu học môn học trong bản đề cương môn học và được thể hiệntrong các quy định pháp lý của nhà trường
Việc đánh giá liên tục các hoạt động học tập làm giảm sức ép thi cử cuối học kỳ,giảm tình trạng nhồi nhét kiến thức để lo đối phó thi và như vậy cho phép sinh viên hiểuvà yêu thích môn học, nâng cao khả năng tự học theo kiểu nghiên cứu
Tài chính: Nếu như hầu hết các mặt quản lý đều gặp nhiều khó khăn khi chuyển
sang ĐTTHCTC thì việc quản lý tài chính lại gặp nhiều thuận lợi vì những lý do sau: 1)ĐTTHCTC sẽ tăng thêm nguồn thu vì đơn giá thu theo tín chỉ luôn cao hơn khi thu theoniên chế, số sinh viên học cải thiện điểm, học tự chọn tự do, học song song hai ngànhnhiều, tuy nhiên, trừ đào tạo ngành sư phạm vì được nhà nước miễn học phí; 2) Chi phícho giờ dạy giảm vì số tiết lên lớp giảm, ngoại trừ sau này các trường tổ chức trả tiền giờdạy theo đầu sinh viên trong lớp học phần, nhưng điều này khó xảy ra trong điều kiệnnền giáo dục của nước ta hiện nay; 3) Nhà quản lý có nhiều cơ sở để xây dựng kế hoạchngân sách một cách chính xác
Tiểu kết chương 1
Hoạt động đào tạo là hoạt động cơ bản nhất và quan trọng nhất của quá trình đàotạo đại học Hoạt động đó bao gồm những yếu tố cơ bản như: sứ mạng và mục tiêu đàotạo, nội dung chương trình, hoạt động của người dạy và người học, tổ chức quản lý đàotạo, phương pháp dạy học, phương tiện dạy học, kết quả dạy học, trang thiết bị - cơ sởvật chất phục vụ đào tạo, tài chính Tất cả những yếu tố đó có mối liên hệ mật thiết vớinhau, chi phối và hỗ trợ lẫn nhau cùng hoàn thành các mục tiêu và nhiệm vụ của mộttrường đại học
ĐTTHCTC với những đặc tính, đặc trưng của mình đã và đang trở thành mộtphương thức đào tạo được phổ biến rộng rãi trên thế giới, đặc biệt là ở các nước có nềngiáo dục phát triển Đó cũng là một giải pháp cho giáo dục Việt Nam trên con đường xâydựng một nền giáo dục tiên tiến, hiện đại, đáp ứng được những đòi hỏi của đất nước vàthời đại, hoà nhập cùng trào lưu giáo dục chung trên thế giới
Với những đặc trưng cơ bản của mình ĐTTHCTC đòi hỏi công tác quản lý đàotạo phải thay đổi cho phù hợp Thay đổi phương thức đào tạo để nâng cao chất lượng đàotạo Nhưng, để đạt được mục đích đó, trước hết phải nâng cao chất lượng quản lý hoạtđộng đào tạo
Chúng tôi vận dụng những cơ sở lý luận đã trình bày ở chương 1 để khảo sát thực
Trang 30trạng quản lý hoạt động đào tạo đại học hệ chính quy theo học chế tín chỉ ở Trường Đạihọc Ngoại ngữ - Đại học Huế.
Trang 31CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ - ĐẠI HỌC HUẾ TRONG GIAI ĐOẠN CHUYỂN ĐỔI SANG
ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ 2.1 Khái quát quá trình khảo sát
2.1.1 Mục đích khảo sát
Nhằm đánh giá đúng thực trạng quản lý hoạt động đào tạo đại học hệ chính quycủa Trường đại học Ngoại ngữ - Đại học Huế trong giai đoạn chuyển đổi sangĐTTHCTC để làm cơ sở đề xuất các biện pháp quản lý
2.1.2 Nội dung khảo sát
Gồm có hai nhóm nội dung chính:
- Khảo sát việc thực hiện các chức năng của quản lý trong ĐTTHCTC: lập kếhoạch đào tạo, tổ chức thực hiện kế hoạch, chỉ đạo, điều chỉnh việc thực hiện kế hoạchvà kiểm tra việc thực hiện kế hoạch
- Khảo sát việc quản lý các yếu tố cơ bản của hoạt động ĐTTHCTC: mục tiêuđào tạo, nội dung chương trình đào tạo, người dạy, người học, phương pháp, phương tiệndạy học, kiểm tra, đánh giá và kết quả đào tạo, trang thiết bị, cơ sở vật chất, tài chính vàcông tác phục vụ đào tạo
2.1.3 Phương pháp khảo sát
Sử dụng các phương pháp quan sát, điều tra giáo dục, phỏng vấn để thu thập sốliệu, ý kiến và sử dụng phương pháp thống kê toán học và phần mềm SPSS 16.0 xử lýcác số liệu, kết quả thu thập được
2.1.4 Đối tượng khảo sát
- Giảng viên và cán bộ quản lý các khoa, phòng, trung tâm trong Trường Sốlượng khảo sát: 50 người, trong đó 42 người khảo sát bằng phiếu điều tra và 8 ngườikhảo sát bằng phỏng vấn, 30 giảng viên và 20 cán bộ quản lý
- Sinh viên các khoá và các ngành trong Trường, kế cả những sinh viên K3 vừatốt nghiệp Số lượng khảo sát: 100 sinh viên, trong đó 88 sinh viên khảo sát bằng phiếuđiều tra và 12 sinh viên khảo sát bằng phỏng vấn
Trang 32nhau tuỳ theo số lượng cán bộ và tính chất công việc của đơn vị đó liên quan đến hoạtđộng ĐTTHCTC Tông cộng đã phát ra 70 phiếu cho nhóm đối tượng này và thu lạiđược 42 phiếu.
- Nhóm sinh viên: Phiếu điều tra được phát cho sinh viên của tất cả các khoá/ngành đang học tại Trường, số lượng phiếu cho mỗi khoá/ ngành phụ thuộc vào số lượngsinh viên của khoá/ ngành đó Tổng cộng đã phát ra 144 phiếu cho nhóm đối tượng nàyvà thu lại được 88 phiếu
Sau khi đã thống kê số phiếu điều tra đã thu lại, chúng tôi tiến hành phỏng vấnthêm một số cán bộ và sinh viên theo nguyên tắc: từ đơn vị nào thu lại được ít phiếu điềutra thì tiến hành phỏng vấn người của đơn vị đó và tiến hành phỏng vấn sao cho khảo sát
đủ 50 người của nhóm thứ nhất (gồm 30 cán bộ giảng dạy và 20 cán bộ quản lý) và 100người của nhóm thứ 2
Ngoài ra, chúng tôi cũng sử dụng các kết quả khảo sát của Phòng Đào tạo, PhòngCông tác Sinh viên, Phòng KT&ĐBCLGD trong thời gian vừa qua Các phiếu điều tracủa những đơn vị này cũng đưa vào trong phần phụ lục cùng với phiếu điều tra củachúng tôi từ Phụ lục số 2.1 đến Phụ lục 2.7 Ngoài ra, ở Phụ lục 2.8 chúng tôi đưa vàokết quả xử lý số liệu điều tra theo phiếu điều tra ở Phụ lục 2.3
2.2 Khái quát về trường ĐHNN Huế và tình hình chuyển đổi sang đào tạo theo học chế tín chỉ
2.2.1 Khái quát về Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Huế
2.2.1.1 Thông tin chung về Trường
- Tên trường bằng tiếng Việt: trường đại học ngoại ngữ - Đại học Huế
- Tên trường bằng tiếng Anh: Hue University College of Foreign Languages
- Tên trường viết tắt bằng tiếng Việt: ĐHNN
- Tên trường viết tắt bằng tiếng Anh: HUCFL
- Địa chỉ trường: 57- Nguyễn Khoa Chiêm-Thành phố Huế
- Thông tin liên hệ: Điện thoại 054.3.830677 Số fax 054.3.830820
- E-mail: dhngoainguhue@vnn.vn Website: www.hucfl.edu.vn
- Năm thành lập trường (theo quyết định thành lập): 13.7.2004
- Loại hình trường đào tạo: Công lập
2.2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển
Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Huế được thành lập ngày 13/07/2004 theoQuyết định số 126/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở các khoa và tổngoại ngữ từ 6 trường thành viên của Đại học Huế Quá trình đào tạo ngoại ngữ của
Trang 33trường được tính từ năm 1957 là năm thành lập Viện Đại học Huế Trong giai đoạn từ
1957 đến 1976 đã đào tạo hai sinh ngữ chính là tiếng Anh và tiếng Pháp
Sau ngày nước nhà thống nhất, trường Đại học Tổng hợp Huế, Đại học Sư phạmHuế, Đại học Y Huế được thành lập trên cơ sở tách ra từ Viện Đại học Huế Trong giaiđoạn từ 1976 đến 1994, tại các trường này các ngôn ngữ tiếng Anh, tiếng Nga, tiếngPháp, về sau bổ sung thêm tiếng Trung, tiếng Nhật được đào tạo tại các khoa, bộ mônNgoại ngữ bao gồm ngoại ngữ chuyên và không chuyên
Giai đoạn từ 2004 đến nay, sau khi Trường Đại học Ngoại ngữ-Đại học Huế rađời, việc đào tạo ngoại ngữ được tiếp tục và quy mô đào tạo được mở rộng; vừa đào tạongoại ngữ chuyên ngành cho sinh viên các trường thành viên của Đại học Huế, vừa đàotạo chuyên ngữ với các hệ: phổ thông chuyên ngữ (tiếng Anh, tiếng Pháp), chuyên ngữbậc đại học và sau đại học
Hiện Trường có 9 khoa đào tạo là khoa Tiếng Anh, khoa Tiếng Nga, khoa TiếngPháp, khoa Tiếng Trung, khoa Tiếng Anh chuyên ngành, khoa Quốc tế học, khoa ViệtNam học, khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Nhật Bản và khoa Ngôn ngữ và Văn hóa HànQuốc với 12 ngành đào tạo và 22 chuyên ngành, 2 ngành chuyên ngữ phổ thông, 04chuyên ngành sau đại học
2.2.1.3 Cơ chế quản lý
Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Huế hoạt động theo phương thức tự chủ, tựchịu trách nhiệm về tài chính, nhân sự và mọi hoạt động của nhà trường theo sự phân cấpvà quản lý trực tiếp của Đại học Huế Hiệu trưởng do Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ra quyếtđịnh bổ nhiệm theo nhiệm kỳ 5 năm, các Phó hiệu trưởng và trưởng các đơn vị trựcthuộc trường do Giám đốc Đại học Huế bổ nhiệm theo đề nghị của Hiệu trưởng, phótrưởng các đơn vị trực thuộc trường do Hiệu trưởng ra quyết định bổ nhiệm theo đề nghịcủa các đơn vị Nhiệm kỳ của Phó hiệu trưởng, trưởng và phó các đơn vị theo nhiệm kỳcủa Hiệu trưởng
2.2.1.4 Cơ cấu tổ chức
Hiện nay Trường có 24 đơn vị trực thuộc Ban Giám hiệu: 04 hội đồng, 06 phòngchức năng, 09 khoa, 04 trung tâm và 01 tổ trực thuộc Cơ cấu tổ chức của Trường đượcthể hiện ở sơ đồ 2.1
2.2.1.5 Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức
- Tổng số cán bộ, công chức, viên chức của Trường: 245 người, trong đó: 191 cánbộ trong biên chế, 32 cán bộ hợp đồng dài hạn, 22 cán bộ hợp đồng ngắn hạn, 69 nam và
176 nữ
Trang 34Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức của Trường ĐHNN – ĐH Huế
KHOA, BỘ MÔN PHÒNG/BAN
Trang 35- Tổng số Giảng viên: 172 người, trong đó có 02 Phó giáo sư, 17 Tiến sĩ, 98 thạc
sĩ, 40 giảng viên chính, 15 người đang học Thạc sĩ, 08 người nghiên cứu sinh ở trong vàngoài nước, độ tuổi trung bình của giảng viên cơ hữu là 44
- Tổng số cán bộ hành chính và hành chính phục vụ: 73 người Như vậy cán bộhành chính chiểm 29,7% tổng số cán bộ, công chức, viên chức và tỷ lệ cán bộ giảng viên/ cán bộ hành chính xấp xỉ bằng 3/1
2.2.1.6 Quy mô đào tạo
- Các ngành đào tạo: 04 chuyên ngành thạc sỹ, 12 ngành và 22 chuyên ngành đạihọc, 02 ngành phổ thông chuyên ngữ
- Tổng số học viên: Thạc sỹ 136, đại học chính quy 2530, đại học không chínhquy 1548, phổ thông chuyên ngữ 36
2.2.1.8 Nghiên cứu khoa học và đối ngoại
Trường có quan hệ hợp tác với các trường đại học tại Mỹ, Nhật, Pháp, Nga,Trung Quốc, Hàn Quốc trong liên kết đào tạo, nghiên cứu khoa học, trao đổi giảng viên
Về Nghiên cứu khoa học: Trong gần 5 năm qua đã có 23 đề tài cấp bộ, 53 đề tàicấp trường; 110 bài báo
2.2.2 Công tác chuẩn bị cho việc chuyển đổi sang đào tạo theo học chế tín
Ngay từ trong năm học 2006-2007 Ban Giám hiệu nhà trường đã có những độngthái chuẩn bị cho việc chuyển sang ĐTTHCTC: cử cán bộ đi tham dự các hội thảo, tậphuấn về ĐTTHCTC do Bộ GD&ĐT và các trường đại học tổ chức; chỉ đạo cho Trungtâm Thông tin Thư viện thu thập các tư liệu về ĐTTHCTC trong và ngoài nước; tổ chức
03 chuyến tham quan, học tập để giao lưu, trao đổi, học hỏi kinh nghiệm về ĐTTHCTC.Cán bộ được cử đi dự tập huấn, hội thảo, tham quan về đều có báo cáo tổng hợp ở cácHội nghị giao ban
Tháng 9/2007, sau khi có Đề án Đào tạo bậc đại học theo học chế tín chỉ củaGiám đốc Đại học Huế, Trường đã bắt tay ngay vào triển khai công tác chuẩn bị Trướchết Trường đã ra thông báo rộng rãi trong toàn trường về chủ trương của Đại học Huế,
Trang 36cũng như của Đảng Uỷ, Ban Giám hiệu về việc chuyển đổi sang ĐTTHCTC cho đào tạođại học chính quy của Trường từ năm học 2008-2009.
Ngày 01 tháng 10 năm 2007, Ban Giám hiệu đã ký thông báo số 309 ĐHNN-ĐT về dự kiến kế hoạch triển khai ĐTTHCTC (xem phụ lục số 2.9.) và kýQuyết định số 310/QĐ-ĐHNN-ĐT về việc thành lập Hội đồng chỉ đạo ĐTTHCTC vàcác nhóm công tác kèm theo
/TB-Ngày 05/10/2007 Hội đồng chỉ đạo ĐTTHCTC và các nhóm công tác đã họpphiên thứ nhất Trong phiên họp này đã thông qua kế hoạch triển khai ĐTTHCTC vànhất trí phân công nhiệm vụ của các nhóm công tác Các tổ chức đoàn thể trong Trườngđược giao nhiệm vụ tuyên truyền, giáo dục thông qua các hoạt động, các đợt sinh hoạtcủa mình để toàn thể cán bộ và sinh viên nhận thức được vấn đề và chuẩn bị tinh thần,thái độ cho công tác chuyển đổi Tất cả mọi công việc chuẩn bị chậm nhất là phải hoànthành trước 30/7/2008
Trong gần một năm sau đó, dù gặp rất nhiều khó khăn, về cơ bản các nhóm côngtác đã hoàn thành nhiệm vụ được giao, ngoại trừ phần mềm đào tạo tín chỉ, do không cósự thống nhất ở cấp Đại học Huế, nên bị chậm trễ, Trường phải thay đổi kế hoạch,chuyển sang cho sinh viên đăng ký và xử lý đăng ký của sinh viên bằng tay, nhập và lọcbằng Excel Cuối tháng 8/2008 mọi mặt của Trường đã sẵn sàng triển khai ĐTTHCTC
2.2.3 Tình hình triển khai đào tạo theo học chế tín chỉ
Ngày 24/8/2008, trong Hội nghị Giao ban đầu năm học, Đảng Uỷ, Ban Giámhiệu đã tổng kết công tác chuẩn bị, khẳng định: Trường đã sẵn sàng cho năm học đầutiên theo học chế tín chỉ và quyết định bắt đầu năm học mới 2008-2009 bằng việc đăng
ký lớp học phần của sinh viên từ ngày 26/8/2008
Sau hai tuần đăng ký, các lớp học phần đã đi vào giảng dạy và học tập bìnhthường Việc đăng ký bổ sung và điều chỉnh danh sách lớp vẫn được tiếp tục tiến hànhtrong bốn tuần tiếp theo Cũng trong giai đoạn này, do số sinh viên đăng ký học lại, họccải thiện điểm, học vượt rất nhiều nên phòng Đào tạo đã phải sử dụng quỹ phòng học vàquỹ thời gian học dự trữ mở mới thêm hơn 20 lớp học phần
Sau khi các lớp học phần đã ổn định, Trường bắt tay chú trọng ngay đến phươngpháp dạy và học theo học chế tín chỉ Từ lý thuyết đã được tập huấn từ trước, từ kinhnghiệm qua bốn tuần học, Trường yêu cầu các khoa tổ chức cho cả giảng viên và sinhviên thảo luận và rút kinh nghiệm ngay về cách dạy, cách học trong ĐTTHCTC và phổbiến rộng rãi trong toàn khoa
Cũng trong thời gian này, Trung tâm KT & ĐBCLGD (nay là phòng
Trang 37KT&ĐBCLGD) triển khai kế hoạch hợp đồng cán bộ ra các đề thi học phần theo đềcương học phần mới, theo những quy định mới của Quy chế học vụ.
Sau 10 tuần học tập, phòng Đào tạo triển khai chốt lại lần cuối danh sách các lớphọc phần, lên kế hoạch thi và tổ chức thi
Sau khi kết thúc học kỳ I, tháng 1/2009 Trường đã tổ chức Hội nghị sơ kết quátrình triển khai ĐTTHCTC trong học kỳ I, năm học 2008-2009
Hội nghị đã tổng kết những kết quả đạt được là: 1) Toàn thể cán bộ và sinh viên đãnhất trí cao trong chủ trương ĐTTHCTC của Trường; 2) Bước đầu đã tổ chức được hoạtđộng đào tạo theo học chế tín chỉ; 3) Đội ngũ giảng viên, sinh viên và cán bộ quản lý đãlàm quen được với cách tổ chức, cách dạy, cách học theo phương thức đào tạo mới và đãtích luỹ được một số kinh nghiệm Điều này cũng đã được Đại học Huế khẳng định:
“Sau một học kỳ triển khai ĐTTHCTC, tuy gặp nhiều khó khăn nhưng việc triểnkhai ĐTTHCTC ở các trường đại học, khoa trực thuộc Đại học Huế và Phân hiệu Đạihọc Huế tại Quảng Trị đã diễn ra khá thuận lợi, đúng tiến độ, đúng quy chế, quy địnhcủa Bộ GD&ĐT và của Đại học Huế Bước đầu đã tạo nên một không khí mới tronggiảng dạy và học tập Đặc biệt một số trường như: Đại học Sư phạm, Đại học Kinh tế.Đại học Ngoại ngữ đã có các bước chuẩn bị về phương thức ĐTTHCTC từ rất sớm, do
đó đã đạt được một số kết quả đáng ghi nhận.” [9]
Tuy nhiên, Hội nghị cũng nhấn mạnh, mặc dù đã chuẩn bị hết sức kỹ lưỡng và đãlường trước rất nhiều tình huống có thể xẩy ra, nhưng việc tổ chức hoạt động đào tạotrong những tháng đầu tiên của năm học 2008-2009 hết sức khó khăn Nguyên nhân cơbản là vì: 1) Đây là một phương thức tổ chức đào tạo hoàn toàn mới, gây nhiều lúng túngtrong khâu tổ chức; 2) Trang thiết bị, cơ sở vật chất còn yếu, nhất là hệ thống phòng học;3) Không có phần mềm hỗ trợ; 4) Nhiều cán bộ và giảng viên vẫn xem nhẹ, không tìmhiểu kỹ những yêu cầu cơ bản của phương thức đào tạo mới này nên mắc nhiều sai sót;4) Việc chuyển sang đào tạo theo học chế tín chỉ cả các khoá K2, K3 & K4 đã có nhữngnăm đầu học theo niên chế đem đến sự thống nhất trong đào tạo của trường nhưng cũnggây không ít khó khăn trong việc quản lý đào tạo
Ngoài ra, Hội nghị cũng thừa nhận chỉ mới đánh giá được về hình thức tổ chứchoạt động ĐTTHCTC, còn chất lượng đào tạo của Trường theo phương thức mới chưathể đánh giá ngay được Vì vậy, Hội nghị nhắc nhở các khoa, phòng cần quan tâm hơnnữa về mặt chất lượng đào tạo và giao trách nhiệm cho phòng Đào tạo và Trung tâmKT&ĐBCLGD nhiệm vụ kiểm tra, đánh giá chất lượng hoạt động ĐTTHCTC củaTrường trong thời gian sắp đến
Sau khi có kinh nghiệm của học kỳ I, học kỳ II năm học 2008-2009 được tiến
Trang 38hành thuận lợi hơn và quy củ hơn kể cả việc tổ chức xét và công nhận tốt nghiệp củakhoá K2, khoá học đầu tiên xét tốt nghiệp theo Quy chế 43 dù có 3 năm đầu học theoniên chế Năm học đầu tiên ĐTTHCTC của Trường đã kết thúc theo đúng tinh thần củaThông báo Kết luận Hội thảo ĐTTHCTC ngày 28 tháng 10 năm 2009:
“Sau một năm triển khai khẩn trương, tích cực, các đơn vị đã hoàn thành khốilượng lớn công việc, như chuyển đổi chương trình đào tạo, kế hoạch đào tạo, tổ chức đàotạo, tổ chức các hội nghị, hội thảo rút kinh nghiệm… Công tác ĐTTHCTC ở Đại họcHuế trong năm học vừa qua cơ bản đã có những bước khởi đầu đúng hướng và đạt đượcnhững kết quả đáng ghi nhận nhưng cũng bộc lộ không ít những khó khăn, bất cập.” [10]
Đến nay, Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Huế đã triển khai ĐTTHCTCđược 2 năm học, và đang bước vào năm thứ 3 Công tác tổ chức ĐTTHCTC của Trườngđã dần đi vào nền nếp, Trường đang chủ trương trong thời gian sắp đến tập trung nhằmnâng cao chất lượng đào tạo
2.3 Thực trạng quản lý hoạt động đào tạo ở trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Huế trong giai đoạn chuyển đổi sang đào tạo theo học chế tín chỉ
Quản lý hoạt động đào tạo là quá trình xuyên suốt từ tuyển sinh, tổ chức đào tạocho đến khi tốt nghiệp theo các nội dung chủ yếu của hoạt động đào tạo Hiện nay hoạtđộng ĐTTHCTC của trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Huế đã đạt được những bướctiến đáng kể nhưng vẫn còn nhiều bất cập Trong khuôn khổ luận văn của mình, chúngtôi chỉ xin được điểm qua những mặt được và đi sâu nêu một số vấn đề còn bất cập saukhi nghiên cứu
2.3.1 Quản lý công tác lập kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch
Để quá trình đào tạo được tiến hành thuận lợi, đạt hiệu quả cao, công tác lập kếhoạch đóng là một trong những khâu chủ yếu Trong ĐTTHCTC khâu lập kế hoạch lạicàng quan trọng hơn, vì kế hoạch hoạt động ĐTTHCTC phải ổn định rất khó thay đổi,mang tính ổn định cao, đôi khi chỉ một thay đổi nhỏ, nhưng vẫn không thể khắc phụcđược, có thể làm gián đoạn cả một quy trình đào tạo
Do vậy bộ phận lập kế hoạch đã phải đặt lường trước nhiều tình huống, có nhiềuphương án dự phòng nhưng khi bắt tay vào tổ chức thực hiện vẫn gặp những trường hợpbất khả kháng Trong cả một học kỳ kéo dài 15 tuần học không thể tránh khỏinhững trở ngại đột xuất như giảng viên ốm đau, đi công tác, đi học, đi dạy các lớp liênkết đào tạo ở xa, thiên tai phải nghỉ học, v.v Không phải trường hợp nào cũng có thểbố trí dạy bù, học bù cho kịp tiến độ dù đã có quỹ thời gian dự phòng Ngoài ra việc mờigiảng viên thỉnh giảng cũng gặp nhiều khó khăn, do trường ở xa, đi lại khó khăn, chế độthanh toán có nhiều điểm chưa hợp lý, không động viên được người dạy Điều này ảnh
Trang 39hưởng không nhỏ đến việc lập kế hoạch.
Công tác lập kế hoạch gặp trở ngại, bị chậm trễ dẫn đến công tác tổ chức thựchiện kế hoạch rất khó khăn Nhiều lớp học phần đã giảng dạy chậm, thậm chí bị hủy,phải dồn lại học kỳ sau, làm thay đổi kế hoạch đào tạo tổng thể của Trường cũng như củamột số cá nhân sinh viên
Kế hoạch đào tạo được biểu hiện rõ nhất trong việc sắp xếp thời khoá biểu Trongcác cuộc thăm dò do Phòng Công tác Sinh viên và Phòng KT&ĐBCLGD tổ chức, khitrả lời câu hỏi: Điều gì khiến anh (chị) / thầy (cô) không hài lòng nhất trong hoạt độngđào tạo của Trường? 35% sinh viên 23% giảng viên cho rằng thời khoá biểu bị thay đổi
Trong điều tra Đánh giá toàn khoá học dành cho sinh viên cuối khoá (K3, khoá2006-2010) do Phòng Đào tạo và Phòng KT&ĐBCLGD tiến hành khảo sát 617 sinhviên, khi được yêu cầu đánh giá về nhận định: “Sinh viên được thông báo đầy đủ về kếhoạch giảng dạy các môn học”, 57 sinh viên chiếm 9,24% không đồng ý và 8 sinh viênchiếm 1.30% rất không đồng ý (Xem thêm Phụ lục 2.3 và 2.8.)
Thực trạng xây dựng kế hoạch (thời khoá biểu) ĐTTHCTC tại Trường Đại họcNgoại ngữ - Đại học Huế trong thời gian vừa qua được thể hiện ở bảng 2.1
Bảng 2.1 Công tác xây dựng kế hoạch ĐTTHCTC
2.3.2 Quản lý công tác chỉ đạo, kiểm tra, điều chỉnh việc thực hiện kế hoạch
Một kế hoạch dù hoàn chỉnh đến đâu cũng không thể tính được tất cả các chi tiết,
do đó công tác chỉ đạo, kiểm tra và điều chỉnh trong khi thực hiện kế hoạch là hết sứccần thiết ĐTTHCTC là một phương thức đào tạo hoàn toàn mới, chưa ai có kinh nghiệmthực tế về vấn đề này Nhận thức được điều đó, trong hai năm ĐTTHCTC đội ngũ cánbộ quản lý của Trường đã thay nhau liên tục theo sát quá trình triển khai đào tạo, pháthiện những vấn đề bất ổn, đưa ra bàn bạc tập thể để tìm hướng giải quyết Đối với nhữngvấn đề vượt quá khả năng của Trường như cách chuyển điểm từ niên chế qua tín chỉ,cách xét tốt nghiệp cho sinh viên khoá 2005-2009 (K2) v.v Trường gửi công văn đềnghị Đại học Huế chỉ đạo cách giải quyết
Trang 40Mặc dù vậy, do tính phức tạp của phương thức đào tạo mới, do đang còn ở giaiđoạn chuyển đổi, nên có nhiều vấn đề nảy sinh mà bộ máy quản lý của Trường khôngphát hiện ra hoặc không thể giải quyết được triệt để, một số quyết định quản lý ban hànhquá chậm, làm ảnh hưởng đến hoạt động giảng dạy, học tập cũng như cơ hội kiếm đượcviệc làm của sinh viên cuối mới tốt nghiệp Qua điều tra cho thấy cũng còn một số cánbộ và sinh viên chưa hài lòng với công tác chỉ đạo, kiểm tra của nhà trường Đặc biệt hầuhết sinh viên cuối khoá phàn nàn về việc xét và công nhận tốt nghiệp chậm hơn rất nhiều
so với trước đây nhưng vẫn chưa có hướng chỉ đạo khắc phục
Có thể thấy rõ thực trạng công tác công tác chỉ đạo, kiểm tra việc triển khai kếhoạch ĐTTHCTC theo bảng 2.2
Bảng 2.2 Công tác chỉ đạo thực hiện kế hoạch ĐTTHCTC
2.3.3 Quản lý mục tiêu, nội dung và chương trình đào tạo
Mục tiêu đào tạo chung của trường được xây dựng trên cơ sở mục tiêu của giáodục đại học nói chung, mục tiêu đào tạo của Đại học Huế và mục tiêu, được thể hiệntrong Đề án thành lập Trường và Nhiệm vụ được giao trong quyết định thành lậpTrường Mục tiêu của Trường được điều chỉnh, bổ sung qua hằng năm phù hợp với tìnhhình thực tế Từ sứ mạng của Trường là: “Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Huế làtrung tâm đào tạo, NCKH về ngôn ngữ - văn hoá- du lịch Việt Nam và nước ngoài vàcung cấp dịch vụ phiên – biên dịch và cho các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên, cả nước vàmột số nước trong khu vực” [26], Trường xây dựng mục tiêu đào tạo của các ngành họctrong Trường
Tuy vậy, trong thời gian vừa qua, nhiều mục tiêu của các ngành học đã đượcTrường xây dựng còn mang tính lý thuyết, chưa sát với thực tế và nhu cầu nhân lực củađịa phương, những mục tiêu này chưa được phổ biến rộng rãi trong xã hội, thậm chí cósinh viên vào trường vẫn còn mơ hồ về mục tiêu ngành học của mình
Trong số 617 sinh viên sắp tốt nghiệp được khảo sát nói trên, 46 sinh viên(7.46%) không đồng ý và 13 sinh viên (2,11%) rất không đồng ý với đánh giá: “Sinhviên được biết rõ mục tiêu của ngành học”
Trường có chương trình đào tạo cho 12 ngành và 22 chuyên ngành đại học Hầu