PHÂN TÍCH NGÀNH VẬN TẢI ĐƯỜNG BIỂN VIỆT NAM
Trang 1MÔN : QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC
PHÂN TÍCH NGÀNH
VẬN TẢI ĐƯỜNG BIỂN VIỆT NAM
GVHD : TS NGUYỄN THANH LIÊM
SV : LÊ VĂN THẮNG
Lớp : SD-MBA1
Trang 2NỘI DUNG PHÂN TÍCH NGÀNH VẬN TẢI ĐƯỜNG BIỂN VIỆT NAM
I Khái quát chung về vận tải đường biển ……… 3
1 Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của vận tải đường biển ……… 3
2 Cấu trúc ngành vận tải đường biển……… 3
3 Tác dụng của vận tải đường bi ển đối với buôn bán quốc tế ……… 6
4 - Cơ sở vật chất kỹ thuật của vận tải đường biển ……… 6
5 Các phương thức thuê tầu chuyên chở hàng hoá ……… 7
II ĐẶC ĐIỂM NGÀNH VẬN TẢI ĐƯỜNG BIỂN TRONG NHỮNG NĂM QUA…… 7
III CÁC NGÀNH THAY THẾ……… ……… 11
1 Vận tải đường bộ ……….11
2 Vận tải đường sông ……….12
3 Vận tải đường sắt ……… 12
4 Vận tải hàng không ……… 13
IV PHÂN TÍCH NGÀNH VẬN TẢI ĐƯỜNG BIỂN VIỆT NAM……… 13
1 Tính hấp dẫn của ngành v ận tải đường biển……… 13
2 Các lực lượng dẫn dắt sự thay đổi ngành ……….15
Ơ 3 Nhân tố then chốt thành công trong ngành……… 15
V CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC……….16
1 Cơ hội……… 16
2 Thách thức……… 16
Trang 3
-PHÂN TÍCH NGÀNH VẬN TẢI ĐƯỜNG BIỂN VIỆT NAM
Ngành giao thông vận tải Việt Nam gồm vận tải đường bộ, vận tải đường sắt, vận tải đường sông, vận tải đường biển và vận tải đường hàng không, đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế đất nước trong những năm qua Giá trị sản xuất của ngành chiếm khoảng 4 - 4.5% GDP hàng năm
I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VẬN TẢI ĐƯỜNG BIỂN
Vận tải đường biển ra đời khá sớm so với các phương thức vận tải khác Ngay từ thế kỷ thứ V trước công nguyên con người đã biết lợi dụng biển làm các tuyến đường giao thông để giao lưu các vùng các miền, các quốc gia với nhau trên thế giới Cho đến nay Vận tải biển được phát triển mạnh và trở thành ngành vận tải hiện đại trong hệ thống vận tải quốc tế
1 Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của vận tải đường biển.
Vận tải đường biển có thể phục vụ chuyên chở tất cả các loại hàng hoá trong buôn bán quốc tế
Các tuyến đường vận tải trên biển hầu hết là những tuyến đường giao thông tự nhiên
Năng lực chuyên chở của vận tải đường biển rất lớn Nhìn chung năng lực chuyên chở của công cụ vận tải đường biển (tầu biển) không bị hạn chế như các công cụ của các phương thức vận tải khác
Ưu điểm nổi bật của vận tải đường b iển là giá thành thấp
Tuy nhiên, vận tải đường biển có một số nhược điểm:
Vận tải đường biển phụ thuộc rất nhiều vào điệu kiện tự nhiên
Tốc độ của tầu biển còn thấp và việc tăng tốc độ khai thác của tầu biển còn bị hạn chế
Từ những đặc điểm kinh tế kỹ thuật nói trên của vận tải đường biển , ta có thể rút ra kết luận một cách tổng quát về phạm vi áp dụng như sau:
o Vận tải đường biển thích hợp với chuyên chở hàng hoá trong buôn bán quốc tế
Vận tải đường biển thích hợp với chuyên chở hàng hoá có khối lượng lớn, chuyên chở trên cự
ly dài nhưng không đòi hởi thời gian giao hàng nhanh chóng
2 Cấu trúc ngành
Ngành vận tải biển Việt Nam được chia làm một số loại dịch vụ cụ thể hơn, bao gồm:
2.1 Khai thác cảng
Với chiều dài bờ biển là 3.200km, cùng v ới nhiều cảng biển sâu, rộng, Việt Nam được thiên nhiên ưu đãi cho sự phát triển của ng ành công nghiệp vận tải biển Hiện nay, to àn quốc có trên 90 cảng được phân bố theo 3 cụm cảng tương ứng ba miền
Trang 4Tuy nhiên, đa số là cảng nhỏ, không cảng n ào có thể đón nhận tàu thuộc loại trung bình thế giới có trọng tải 50.000 tấn hoạc 2.000 TEU Tại khu vực miền Bắc, có 9 cảng đang hoạt động trong đó lớn nhất là cảng Hải Phòng với khả năng đón t àu 40.000 DWT ( Deadweight tonnage, chỉ số năng lực vận chuyển của t àu bao gồm trọng lượng của đội tầu, hành khách, hàng hóa, d
ầu, nước uống và kho hàng)
Trong những năm gần đây nhất l à sau khi Việt Nam gia nhập WTO khối lượng hàng hóa thông qua các cảng đã tăng nhanh chóng N ăm 2006 khối lượng đạt 154,5 triệu tấn, tăng 11,02% so với năm 2005, trong đó hàng container đạt 3,42 triệu TEUs, tăng 17,51%, hàng khô đạt 67,8 triệu tấn, tăng 11,84% Ở một số khu vực, kết quả hoạt động vượt xa so với quy hoạch, dự báo trước đó Cụ thể, khu vực cảng vùng kinh tế trọng điểm phía Nam năm 2006 xếp dỡ đ ược 79.3 triệu tấn hàng, trong khi d ự báo đến 2010 chỉ là 53 tiệu tấn Khối lượng hàng hoá thông qua các c ảng trên địa bàn Hải Phòng 10 tháng đầu năm 2007 tăng mạnh, với gần 18,5 triệu tấn, vượt 26,7% cùng kỳ năm trước
2.2 Vận tải container
Vận tải hàng hóa container là phương thức vận chuyển h àng hóa cự ly dài phổ biến nhất trên thế giới Theo đó, hàng được đóng gói trong các container được chuẩn hóa về kích cỡ và vận chuyển đi bằng t àu biển, xe lửa hoặc xe tải c huyên dùng Tàu biển chiếm ưu thế lớn nhờ chi phí thấp
Container chỉ được vận chuyển đi bằng xe tải với cự ly ngắn, thường là từ tàu đến kho hoặc giữa các kho Chính v ì vậy, có thể nói phần bánh lớn nhất trong ng ành vận tải container nằm chủ yếu ở các hãng tàu
Các đội xe container đóng vai trò là một dịch vụ hỗ trợ giúp khép kín chuỗi dịch vụ cung ứng -hậu cần nhiều hơn là một ngành kinh doanh thực sự
Hãng tàu Việt Nam, 3 3 %
Hãng tàu quốc tế, 6 7 %
Các hãng tàu trong nước chỉ chiếm khoảng 33% thị phần vận tải container đường biển, phần còn lại do các hãng tàu n ước ngoài chiếm giữ
2.3 Kho vận
Kho vận bao gồm tất cả các dịch vụ liên quan đến vận chuyển, bốc xếp, kho bãi, giao nhận, đại
lý vận tải
với mức độ cạnh tranh hết sức gay gắt.Khối lượng container vận tải của đội tàu biển Việt Nam đạt đ ược tr ong năm 2006 là 1,14 tri ệu TEU Nếu so sánh với con số hàng hóa qua các cảng thì có thể thấy, các hãng tàu trong n ước chỉ chiếm khoảng 33% thị phần vận tải container đ ường biển, phần c òn lại do các hãng tàu nước ngoài chiếm giữ Điều này cũng dễ hiểu b ởi vận
Trang 5tải container đ òi hỏi tàu chuyên dụng với mức đầu t ư ban đầu lớn, trong khi đội t àu trong nước hầu hết là tàu nhỏ, không phù hợp với các tuyến d ài mà chủ yếu chạy nội địa và các tuyến gần trong khu vực V ào thời điểm tháng 10/2005 Việt Nam chí có 20 t àu container chi
ếm 6.2% tổng tải trọng đội tàu Con số hiện tại tuy cao h ơn nhưng chắc chắn vẫn c òn khiêm tốn mặc dù chưa có số liệu thống kê đầy đủ Ngay cả Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam với đội t
àu lớn nhất cũng chỉ có 11/112 t àu là tàu con tainer với tổng tải trọng 7.994TEU
Nhìn chung, vận tải container đ ường biển là một thị trường khá tiềm năng Các doanh nghi ệp
đã có sẵn các dịch vụ kho vận với hệ thống hậu cần về kho bải, cảng sẽ càng phát huy lợi thế mộtkhi đầu t ư đúng mức cho đội tà u vận tải biển
Kho vận bao gồm tất cả các dịch vụ liên quan đến vận chuyển, bốc xếp, kho bãi, giao nh ận, đại
lý vận tải Hiện nay có khoảng 1.000 doanh nghiệp đang tham gia kinh doanh thị tr ường kho vận, mức độ cạnh tranh hết sức gay gắt Tuy nhi ên, phần lớn là các doanh nghi ệp nhỏ, kinh doanh các d ịch vụ đại lý, giao nhận l à chính, ít doanh nghi ệp có đầu tư cơ sở vật chất kho, bãi, máy móc thiết bị Vài năm gần đây, lợi nhuận từ hoạt động đại lý ng ày càng giảm sút và
dự báo xu hướng này sẽ còn t iếp tục trong tương lai Các doanh nghi ệp lớn ngày càng ít phụ thuộc vào hoạt động đại lý và bắt đầu chú trọng nhiều h ơn đến các dịch vụ kho vận khác, dĩ nhi
ên là điều này đòi hỏi phải đầu tư đúng mức mà không phải doanh nghiệp nào cũng làm được
2.4 Triển vọng phát triển
Với mức tăng trưởng kinh tế ổn định trong thời gian qua v à dự kiến sẽ tiếp tục với tốc độ
khoảng 7 - 8% trong vòng 5 n ăm nữa, kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa sẽ tiếp tục tăng từ
15 20%/năm Điều này có nghĩa là Khối lượng containe r qua các cảng sẽ tăng từ 20
-25%/năm, thậm chí cao hơn ở các khu vực trọng điểm miền Nam v à Hải Phòng
Bảng 1 Dự báo tăng trưởng ngành vận tải biển
Dự báo tăng trưởng ngành vận tải biển
Sản lượng hàng hóa
Sản lượng vận tải
Trọng tải đội tàu Việt
Thị phần V.C hàng
Trang 6(Nguồn: Cục hàng hải Việt Nam, Công ty cổ phần chứng khoán Artex.)
Năng lực hệ thống cảng biển Việt Nam phải tăng gấp 2 lần so với hiện tại vào năm 2010 và g ấp 4 lần vào năm 2020 mới có thể đáp ứng được yêu cầu hàng hoá thông qua.Dự báo mới nhất về l ượng hàng hoá thông qua h ệ th ống cảng biển Việt Nam năm 2010 là 265 triệu tấn/năm và năm
2020 là 480 tri ệu tấn/năm Riêng
khu vực Hải Phòng, đến năm 2010 khối l ượng hàng hóa thông qua cảng có thể đạt từ 17.3 -21.8 triệu tấn Năng lực hệ thống cảng biển Việt Nam phải tăng gấp 2 lần so với hiện tại v ào năm 2010
và gấp 4 lần vào năm 2020 m ới có thể đáp ứng được yêu cầu hàng hoá thông qua Kế hoạch tổng thể phát triển
kết cấu hạ tầng cảng biển cũng nh ư quy hoạch ngành hàng hải đến năm 2010 v à tầm nhìn đến
2020 đã được chính phủ phê duyệt Trong thực tế, việc phát triển cảng biển, nhất l à các cảng lớn, thực hiện rất chậm chạp Tại Diễn đ àn doanh nghiệp Việt Nam 2007, các nhà đ ầu tư nước ngoài
đã bày tỏ quan ngại về năng lực hệ thống cảng biển không theo kịp tốc độ tăng tr ưởng hàn g hóa xuất nhập khẩu (Nguồn: VBF) Tuy nhi ên, có thể dự đoán trong 3 năm nữa, các cảng hiện hữu, nhất l à các cảng đang hoạt động hiệu quả sẽ vẫn thu hút được hàng hóa bất chấp quy mô nhỏ
3 Tác dụng của vận tải đường biển đối với buôn bán quốc tế.
Vận tải đường biển là yếu tố không tách rời buôn bán quốc tế
Vận tải đường biển thúc đẩy buôn bán quốc tế phát triển
Vận tải đường biển phát triển góp phần làm thay đổi cơ cấu hàng hoá và cơ cấu thị trường trong buôn bán quốc tế
Vận tải đường biển tác động tới cán cân thanh toán quốc tế
4 - Cơ sở vật chất kỹ thuật của vận tải đường biển
Các tuyến đường biển
Là các tuyến đường nối hai hay nhiều cảng với nhau trên đó tầu biển hoạt động ch ở khách hoặc hàng hoá
Cảng biển
Là nơi ra vào neo đậu của tầu biển, là nơi phục vụ tàu và hàng hoá trên tầu và là đầu mối giao thông quan trọng của một quốc gia có biển
Phương tiện vận chuyển
Phương tiện vận tải biển chủ yếu là tầu biển, tầu biển có hai loại: tầu buôn và tầu quân sự
Trang 7Tầu buôn là những tầu biển được dùng vào mục đích kinh tế trong hàng hải Tầu chở hàng là một loại tầu buôn chiếm tỷ lệ cao nhất trong đội tầu buôn
5 Các phương thức thuê tầu chuyên chở hàng hoá
Trong hàng hải quốc tế có hai hình thức thuê tầu phổ biến
Phương thức thuê tầu chợ (liner charter)
Phương thức thuê tầu chuyến (voyage charter)
II ĐẶC ĐIỂM NGÀNH VẬN TẢI ĐƯỜNG BIỂN TRONG NHỮNG NĂM QUA.
-Vận tải biển, khai thác và dịch vụ cảng được coi là 1 ngàn h công nghiệp dịch vụ, làm tăng giá trị hàng hoá thông qua việc di chuyển hàng hoá đó từ nơi này đến nơi khác Ở Việt Nam, vận tải biển chiếm khoảng từ 70-80% việc lưu chuyển hàn g hoá thương mại Ngành này có 1 vị trí quan trọng giúp thúc đẩy nền kinh tế phát triển đặc biệt trong hoạt động xuất nhập khẩu
- Do tốc độ phát triển mạnh của nền kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, ngành vận tải biển, khai thác và dịch cụ cảng cũng có tốc độ tăng trưởng đều đặn, bình quân khoảng 16% trong suốt thập niên qua, cá biệt có 1 số doanh nghiệp, tốc độ tăng trưởng ấn tượng đạt khoảng 50% năm
- Nhận thức được vai trò quan trọng của ngành, chính phủ đã đẩy mạnh và khuyến khích đầu
tư cơ sở hạ tầng cảng biển, phát triển các ngàn h công nghiệp phụ trợ như đóng mới, sửa chữa tàu biển… nhằm nâng cao chất lượng và năng lực cạnh tranh của hệ thống cảng biển, đội tàu trong nước Tuy nhiên, hiện tại thì cơ sở hạ tầng của Việt Nam vẫn chưa đáp ứng kịp nhu cầu phát triển của ngành vận tải biển Việt Nam sở hữu gần 3.200km bờ biển và khoảng 198.000km sông ngòi dọc theo khắp miền đất nước tạo điều kiện thuận lợi cho vận tải biển phát triển Đặc điểm của ngành vận tải biển Việt Nam
là hoạt động dưới sự quản lý của Cục Hàng Hải Việt Nam- cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành và Tổng công ty Hàng Hải Việt Nam ( Vinalines) - DN đại diện nhà nước kinh doanh vận tải biển, quản lý kinh doanh cảng biển và dịch vụ hàng hải nhằm định hướng phát triển ngàn h phù hợp với chiến lược phát triển tổng thể Vinalines hiện nắm giữ khoảng 60% tổng trọng tải đội tàu với tổng trọng tải khoảng 3triệu DWT (Deadweight Tonnage) Hiện tại, VN có khoảng 49 cảng lớn nhỏ tương ứng khoảng
266 cầu cảng nằm rải rác khắp nước , t rong đó các cảng chính lớn có thể đón tàu quốc tế với trọng tải lớn gồm có: Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng và Vũng Tàu
Các cảng phía Nam có lưu lượng hàng hoá lớn nhất cả nước, chiếm khoảng 51% về số
Trang 8lượng cảng và 65% khối lượng hàng hoá lưu thông do đâ y là khu vực kinh tế trọng điểm, phát triển nhanh
và tập trung nhiều khu công nghiệp, chế xuất của cả nước Thực tế, do thiếu tính cạnh tranh lành mạnh và nguồn vốn đầu tư khiến cho hệ thống cảng của Việt Nam chậm phát trỉên so với các nước trong khu vực Phần đông các cảng thuộc loại nhỏ và nằm sâu trong sông, nuồng lạch khá nông, không đáp ứng được nhu cầu bốc xếp của các tàu có trọng tải lớn
a ĐIỂM MẠNH
Với lợi thế về vị trí địa lý, vận tải biển là lĩnh vực phát triển mạnh mẽ nhất trong số lĩnh vực vậ n tải công nghiệp ở Việt Nam Từ nhiều năm nay, lượng hàng hóa thông qua cảng biển tăng trưởng bình quân đạt tốc độ 15%/năm Kim ngạch xuất nhập khẩu chủ yếu thông qua đường biển tăng trưởng đạt mức trên dưới 20% là điều khẳng định vai trò của vận tải biển đối với sự phát triển thương mại của đất nước Năm
2009 chúng ta đã đạt được nhiều kết quả quan trọng trên cả ba lĩnh vực chính của vận tải biển: cảng biển, đội tàu biển và các dịch vụ hàng hải khác, cụ thể:
a1 Hệ thống cảng biển
Theo Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam đến năm 2010, chúng ta đã cơ bản hoàn thành việc đầu tư xây dựng các cảng biển và hình thành được 3 trung tâm cảng ở miền Bắc (gồm Hải Phòng, Quảng Ninh); ở miền Trung (gồm Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Quy Nhơn, Nha Trang) và ở miền Nam (gồm thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bà Rịa - Vũng Tàu) Trong các trung tâm cảng, cũng đã hình thành cảng cửa ngõ quốc tế như cảng Hải Phòng (khu vực Lạch Huyện), cảng Bà Rịa - Vũng Tàu (khu vực Cái Mép - Thị Vải), đặc biệt là cảng trung ch uyển quốc tế Vân Phong - Khánh Hòa Tuy nhiên, Quy hoạch này được xây dựng trong bối cảnh Việt Nam vừa được gỡ bỏ lệnh cấm vận kinh tế, giao dịch thương mại với các nước trên thế giới mới được bắt đầu, hàng hóa, tàu thuyền đến cảng còn ít, do đó mục tiêu chúng
ta đưa ra là hệ thống cảng biển chủ yếu đáp ứng thông qua lượng hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường biển
Kế thừa và phát triển Quy hoạch trên, ngày 24/12/2009, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 2190/QĐ-TTg về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 Quy hoạch lần này đã được xây dựng theo định hướng Chiến lược biển và trong bối cảnh Việt Nam đã gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) với mục tiêu chung là phát triển hệ thống cảng biển theo một quy hoạch tổng thể và thống nhất trên quy mô cả nước nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; tạo cơ sở vật chất kỹ thuật để nhanh chóng đưa nước ta hội nhập
và đủ sức cạnh tranh trong hoạt động cảng biển với các nước trong khu vực và trên thế giới, khẳng định vị trí và ưu thế về kinh tế biển của đất nước; đồng thời góp phần bảo đảm an ninh, quốc phòng của đất nước
Trang 9Hình thành những đầu mối giao lưu kinh tế quan trọng với quốc tế làm động lực phát triển các khu kinh tế,
đô thị - công nghiệp ven biển
Năm 2011, lượng hàng hóa thông qua cảng biển Việt Nam đạt xấp xỉ 290 triệu T Dự báo lượng hàng thông qua toàn bộ hệ thống cảng biển như sau:
+ 500 - 600 triệu T/năm vào năm 2015;
+ 900 - 1.100 triệu T/năm vào năm 2020;
+ 1.600 - 2.100 triệu T/năm vào năm 2030 Tập trung xây dựng một số cảng nước sâu cho tàu trọng tải lớn đạt tiêu chuẩn quốc tế như Vân Phong - Khánh Hòa để tiếp nhận được tàu container sức chở 9.000
15.000 TEU hoặc lớn hơn, tàu chở dầu 30 40 vạn DWT; cảng cửa ngõ quốc tế tại Hải Phòng, Bà Rịa -Vũng Tàu để tiếp nhận được tàu trọng tải 8 - 10 vạn DWT, tàu container sức chở 4.000 - 8.000 TEU và vùng kinh tế trọng điểm khác khi có điều kiện; cảng chuyên dùng cho các liên hợp hóa dầu, luyện kim, trung tâm nhiệt điện chạy than (tiếp nhận được tàu trọng tải 10-30 vạn DWT hoặc lớn hơn)
Có thể thấy Quy hoạch phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm
2030 đã có những thay đổi có tính chiến lược, nhằm phát triển hệ thống cảng biển xứng t ầm quốc tế, thu hút được sự quan tâm của hãng tàu lớn, nhà khai thác cảng hàng đầu thế giới đến đầu tư và thúc đẩy phát triển ngành Hàng hải Việt Nam
Đồng thời với việc triển khai thực hiện quy hoạch 6 nhóm cảng đã được phê duyệt, một công tác hết sức quan trọng đảm bảo sự thành công chung của Ngành là cần khẩn trương nghiên cứu xây dựng và áp dụng mô hình quản lý cảng biển khoa học tiên tiến và hiện đại phù hợp với điều kiện Việt Nam
a2 Đội tàu vận tải biển
Năm 2011, đội tàu biển Việt Nam tiếp tục được bổ sung thêm cả về số lượng Sản lượng vận chuyển hàng hóa đạt trên 96 triệu tấn - tăng trên 8% và trên 183 tỷ Tkm hàng hoá luân chuyển - tăng trên 13,0%; trong đó vận tải quốc tế đạt trên 66,3 triệu tấn - tăng trên 6%, với 162,2 tỷ Tkm và vận tải trong n ước đạt 30 triệu tấn - tăng 24,9%, với gần 21,7 tỷ Tkm
Tuy nhiên, do tác động chung của hoạt động hàng hải - thương mại thế giới và những khó khăn trong nước (thiếu tàu dầu, tàu chở khí hóa lỏng, tàu container; giá cước vận tải giảm, giá nhiên liệu tăng, trượt giá ) nên phần lớn các doanh nghiệp vận tải biển (nhất là các chủ tàu tư nhân) đều có lợi nhuận thấp và vẫn gặp nhiều khó khăn trong hoạt động kinh doanh, phổ biến là tình trạng khan hiếm nguồn hàng; không ít phương tiện chỉ vận tải hàng một chiều hoặc chạy “rỗng”; nhiều tuyến phải đỗ dài ngày do thiếu hàng chuyên chở Do đó thu không đủ bù chi phí, riêng phần trả lãi ngân hàng có thời điểm lãi suất vay lên tới 21% năm Nhiều doanh nghiệp bị nợ quá hạn kéo dài, nguy cơ dẫn đến phá sản là không thể tránh khỏi
Trang 10Bên cạnh đó, các doanh nghiệp vận tải biển lại bị thiệt thòi bởi khó tiếp cận với nguồn tài chính hỗ trợ thông qua các gói kích cầu của Chính phủ
Về đóng tàu
Mặc dù gặp nhiều khó khăn trong giai đoạn vừa qua, tuy nhiên ngành Đóng tàu vẫn cố gắng khẩn trương khắc phục khó khăn, cơ cấu lại hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ đóng tàu để phát huy tối đa công suất các cơ sở đóng mới tàu thủy; hình thành một số trung tâm đó ng tàu vận tải, trung tâm đóng tàu chuyên dùng tại 03 miền Bắc, Trung, Nam để đóng mới các tàu có trọng tải đến 300.000 DWT; đóng được các gam tàu có yêu cầu kỹ thuật và hiệu quả kinh tế cao (tàu chở ôtô, tàu khách, tàu TKCN, tàu nghiên cứu biển, tàu tuần tra cao tốc, tàu công trình…) đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế về chất lượng, tiến độ phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu Phấn đấu đến năm 2020, tổng sản lượng đóng mới toànNgành đạt 2,5 -3,5 triệu DWT/năm, trong đó xuất khẩu đạt 1,7-2,7 triệu DWT/năm
Về sửa chữa tàu
Hiện tại, công tác sửa chữa tàu biển chưa được chú trọng bằng công tác đóng mới Để khắc phục sự mất cân đối giữa đóng mới và sửa chữa, tiết kiệm ngoại tệ, ngành Hàng hải nghiên cứu hình thành các trung tâm sửa chữa tàu quy mô lớn gắn liền v ới hệ thống cảng biển và các tuyến hàng hải quốc tế quan trọng; có công nghệ sửa chữa tàu tiên tiến, thân thiện với môi trường; bảo đảm tiến độ chất lượng và giá thành sửa chữa cạnh tranh Đến năm 2020 đảm nhận sửa chữa đồng bộ các loại tàu của đội tàu biể n quốc gia và tham gia vào thị trường sửa chữa đội tàu quốc tế hoạt động tại khu vực biển Đông
a3 Các dịch vụ hàng hải khác
Với mục tiêu đưa Việt Nam trở thành trung tâm dịch vụ trung chuyển quốc tế trong khu vực và phát triển dịch vụ logistics, Nhà nước đã giành phần lớn ngân sách và nguồn vốn ODA để đầu tư cải thiện cơ sở
hạ tầng giao thông nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển chuỗi cung ứng Việc phát triển cơ sở hạ tầng giao thông trong những năm qua tạo tiền đề để kết nối giao thông phục vụ cho hoạt động dịch vụ logistics gắn kết phương thức vận tải biển với các phương thức vận tải khác như hàng không, đường sắt
và đường bộ
Các loại hình dịch vụ hàng hải khác (đại lý tàu biển; hoa tiêu; bảo đảm hàng hải; lai dắt tàu biển; các dịch vụ cung ứng tàu biển v.v…) đã được phát triển nâng cao chất lượng, hiệu quả thông qua việc sửa đổi,
bổ sung, hoàn thiện các cơ chế, chính sách liên quan; tăng cường đào tạo, phổ biến và khuyến khích các
tổ chức cá nhân tham gia hoạt động trong lĩnh vực kinh tế này Đồng thời, đẩy mạnh việc đổi mới, tổ chức lại, cổ phần hoá các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này nhằm nâng cao tính cạnh tranh cả về uy