1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Thảo luận học phần khoa học hàng hóa đề tài nghiên cứu rào cản kỹ thuật đối với gỗ và các sản phẩm từ gỗ sang thị trường mỹ

37 4 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu rào cản kỹ thuật đối với gỗ và các sản phẩm từ gỗ sang thị trường mỹ
Tác giả Hoàng Ngọc Linh, Lê Cao Phương Linh, Lê Trần Thùy Linh, Lưu Nhật Linh, Nguyễn Gia Linh, Nguyễn Thị Linh, Nguyễn Thảo Ly, Nguyễn Thị Ly, Trần Quang Mạnh, Nguyễn Vũ Minh, Vũ Hoàng Lê Minh
Người hướng dẫn GV Mai Thanh Huyền
Trường học Trường Đại Học Thương Mại
Chuyên ngành Khoa Học Hàng Hóa
Thể loại Thảo luận
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ RÀO CẢN KỸ THUẬT (5)
    • 1.1. Khái quát về rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế (5)
      • 1.1.1. Khái niệm rào cản kỹ thuật (5)
      • 1.1.2. Phân loại: Các loại hàng hóa được coi là đối tượng của biện pháp TBT bao gồm: 5 1.1.3. Nguyên tắc (5)
      • 1.1.4. Lợi ích khi sử dụng rào cản kỹ thuật (6)
    • 1.2. Tác động của rào cản kỹ thuật tới nước xuất khẩu (7)
  • CHƯƠNG 2: RÀO CẢN KỸ THUẬT CỦA MỸ ĐỐI VỚI ĐỒ GỖ NHẬP KHẨU TỪ VIỆT NAM (9)
    • 2.1. Rào cản kỹ thuật của Mỹ đối với đồ gỗ xuất khẩu trong thương mại quốc tế (9)
      • 2.1.1. Quy định về sức khỏe và an toàn (9)
      • 2.1.2. Xuất xứ và thương hiệu hàng hóa (11)
      • 2.1.3. Hệ thống quản lý tiêu chuẩn về trách nhiệm xã hội – SA 8000 (13)
      • 2.1.4. Các quy định bảo vệ môi trường (14)
    • 2.2. Rào cản kỹ thuật của Mỹ đối với đồ gỗ nhập khẩu từ Việt Nam (14)
  • CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG ĐÁP ỨNG RÀO CẢN KỸ THUẬT (27)
    • 3.1. Thực trạng đáp ứng các yêu cầu về rào cản kỹ thuật của đồ gỗ xuất khẩu Việt (27)
    • 3.2. Đánh giá chung về tình hình đáp ứng các yêu cầu về rào cản kỹ thuật của đồ gỗ xuất khẩu Việt Nam tại thị trường Mỹ (29)
  • CHƯƠNG 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG CÁC YÊU CẦU VỀ RÀO CẢN KĨ THUẬT CỦA MỸ ĐỐI VỚI MẶT HÀNG GỖ NHẬP KHẨU TỪ VIỆT NAM (34)
    • 4.1. Về phía Nhà nước (34)
    • 4.2. Về phía các Hiệp hội (35)
    • 4.3. Về phía các Doanh nghiệp (35)

Nội dung

Xuất phát từ tính thiết thực của vấn đề nêu trên, nhóm nghiên cứu chúng em đã quyết định lựa chọn đề tài: “Rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế đối với mặt hàng đồ gỗ và các sản ph

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI

KHOA MARKETING - -

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN HỌC PHẦN KHOA HỌC HÀNG HÓA

Trang 2

DANH SÁCH NHÓM

Hoàng Ngọc Linh 21D300113 Nhóm trưởng + Tổng hợp, chỉnh

sửa word

Lê Cao Phương Linh 21D300143 Thuyết trình

Lê Trần Thùy Linh 21D300172 Phần 2.2

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

Vào những năm gần đây, một trong những chiến lược phát triển nền kinh tế Việt Nam là đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa sang thị trường thế giới Đặc biệt, Mỹ là một thị trường có tiềm năng, đóng góp một vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn hiện nay cũng như trong tương lai Theo số liệu thống kê mới nhất của Tổng cục Hải quan, đến hết tháng 7/2022, xuất khẩu sang thị trường Mỹ đạt 66,99 tỷ USD, tăng 24,2% so với cùng kỳ năm ngoái và chiếm 30,8% kim ngạch cả nước Có thể nói rằng, Mỹ là thị trường số 1 của các nhóm hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam Một trong số các mặt hàng xuất khẩu lớn đó phải kể đến là mặt hàng đồ gỗ Mỹ là nước nhập khẩu đồ gỗ hàng đầu trên thế giới Đồ gỗ của Việt Nam xuất khẩu vào thị trường Mỹ được đánh giá là có chất lượng tốt, kiểu dáng sáng tạo, giá

cả khá cạnh tranh, vì thế tạo được độ tín nhiệm cao đối với người tiêu dùng Theo Sở Công thương, tháng 4/2022, xuất khẩu mặt hàng gỗ và sản phẩm từ gỗ đạt 3,3 tỷ USD, tăng 6,6% so với cùng kỳ năm ngoái

Tuy nhiên, các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước công nghiệp phát triển như Mỹ, một mặt luôn đi đầu trong việc đòi hỏi phải mở cửa thị trường và thúc đẩy tự

do hóa thương mại theo xu hướng quốc té hóa – khu vực hóa, mặt khác họ lại luôn tìm kiếm các rào cản tinh vi và phức tạp hơn thông qua các tiêu chuẩn kỹ thuật và biện pháp hành chính nhằm bảo hộ sản xuất trong nước Những rào cản phi thuế quan nói chung

và rào cản kỹ thuật trong thương mại nói riêng đang gây trở ngại rất lớn đối với hoạt động xuất khẩu của các nước đang phát triển như Việt Nam Khó khăn lại càng được nhân lên do các tiêu chuẩn kỹ thuật này được mệnh danh nhằm bảo vệ quyền lợi cho người tiêu dùng chứ không chỉ là các rào cản trong thương mại quốc tế

Chính vì vậy, muốn đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu mặt hàng đồ gỗ sang thị trường Mỹ, đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam cần phải tìm hiểu, nghiên cứu thị trường

Mỹ cũng như cần nhận thức đúng đắn về các rào cản kỹ thuật áp dụng với mặt hàng đồ

gỗ này

Xuất phát từ tính thiết thực của vấn đề nêu trên, nhóm nghiên cứu chúng em đã

quyết định lựa chọn đề tài: “Rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế đối với mặt

hàng đồ gỗ và các sản phẩm từ gỗ sang thị trường Mỹ” Từ đó, nhóm nghiên cứu đã

đề xuất một số giải pháp để giúp Việt Nam thành công hơn nữa trong hoạt động xuất khẩu đồ gỗ sang thị trường Mỹ

Trang 4

Mục lục

PHẦN MỞ ĐẦU 3

PHẦN NỘI DUNG 5

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ RÀO CẢN KỸ THUẬT TRONG THƯƠNG MẠI 5

1.1 Khái quát về rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế 5

1.1.1 Khái niệm rào cản kỹ thuật: 5

1.1.2 Phân loại: Các loại hàng hóa được coi là đối tượng của biện pháp TBT bao gồm: 5 1.1.3 Nguyên tắc 5

1.1.4 Lợi ích khi sử dụng rào cản kỹ thuật: 6

1.2 Tác động của rào cản kỹ thuật tới nước xuất khẩu: 7

CHƯƠNG 2: RÀO CẢN KỸ THUẬT CỦA MỸ ĐỐI VỚI ĐỒ GỖ NHẬP KHẨU TỪ VIỆT NAM 9

2.1 Rào cản kỹ thuật của Mỹ đối với đồ gỗ xuất khẩu trong thương mại quốc tế: 9

2.1.1 Quy định về sức khỏe và an toàn: 9

2.1.2 Xuất xứ và thương hiệu hàng hóa: 11

2.1.3 Hệ thống quản lý tiêu chuẩn về trách nhiệm xã hội – SA 8000: 13

2.1.4 Các quy định bảo vệ môi trường: 14

2.2 Rào cản kỹ thuật của Mỹ đối với đồ gỗ nhập khẩu từ Việt Nam 14

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG ĐÁP ỨNG RÀO CẢN KỸ THUẬT 27

CỦA ĐỒ GỖ XUẤT KHẨU VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG MỸ 27

3.1 Thực trạng đáp ứng các yêu cầu về rào cản kỹ thuật của đồ gỗ xuất khẩu Việt Nam sang thị trường Mỹ 27

3.2 Đánh giá chung về tình hình đáp ứng các yêu cầu về rào cản kỹ thuật của đồ gỗ xuất khẩu Việt Nam tại thị trường Mỹ 29

CHƯƠNG 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG CÁC YÊU CẦU VỀ RÀO CẢN KĨ THUẬT CỦA MỸ ĐỐI VỚI MẶT HÀNG GỖ NHẬP KHẨU TỪ VIỆT NAM 34

4.1 Về phía Nhà nước 34

4.2 Về phía các Hiệp hội 35

4.3 Về phía các Doanh nghiệp 35

PHẦN KẾT LUẬN 37

Trang 5

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ RÀO CẢN KỸ THUẬT

TRONG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái quát về rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế

1.1.1 Khái niệm rào cản kỹ thuật:

cụ thể Ngay trong Hiệp định TBT cũng chỉ đưa ra cách hiểu về hàng rào kỹ thuật trong thương mại như sau: “Không một nước nào có thể bị ngăn cản tiến hành các biện pháp cần thiết để đảm bảo cho chất lượng hàng hoá xuất khẩu của mình hoặc để bảo vệ cuộc sống hay sức khoẻ con người, động vật và thực vật, bảo vệ môi trường hoặc ngăn ngừa các hoạt động man trá, ở mức độ nước đó cho là phù hợp và phải đảm bảo rằng, các biện pháp này không được tiến hành với cách thức

có thể gây ra phân biệt đối xử một cách tuỳ tiện hoặc không thể biện minh được giữa các nước, trong các điều kiện giống nhau hoặc tạo ra các hạn chế trá hình đối với thương mại quốc tế, hay nói cách khác, phải phù hợp với các qui định của hiệp định này”

biện pháp yêu cầu về mặt kỹ thuật áp dụng đối với hàng hóa nhằm bảo vệ cuộc sống và sức khỏe của con người, của động thực vật, môi trường hoặc ngăn ngừa các hoạt động man trá và ở mức độ phù hợp”

1.1.2 Phân loại: Các loại hàng hóa được coi là đối tượng của biện pháp TBT bao

gồm:

 Máy móc thiết bị: các công cụ lắp ráp và xây dựng chạy điện, các thiết bị chế biến gỗ và kim loại, thiết bị y tế, thiết bị chế biến thực phẩm,…

hợp, đồ điện gia dụng, TV, thiết bị điện ảnh và ảnh, ô tô, đồ chơi, một số sản phẩm thực phẩm…

 Nguyên liệu và các sản phẩm phục vụ nông nghiệp: phân bón, thuốc trừ sâu, các hóa chất độc hại,…

1.1.3 Nguyên tắc

Trong Hiệp định về các rào cản kỹ thuật đối với thương mại (Hiệp định TBT) đã quy định các nguyên tắc như sau:

Trang 6

Nguyên tắc 1: Không phân biệt đối xử: Bao gồm 2 nguyên tắc cơ

bản là nguyên tắc MFN và NT:

Nguyên tắc MFN (tối huệ quốc): thành viên của WTO khi

dành bất kỳ ưu đãi, miễn trừ nào cho quốc gia khác thì quốc gia thành viên này cũng phải dành những ưu đãi, miễn trừ đó cho các thành viên còn lại của WTO lập tức và vô điều kiện

Nguyên tắc NT (đối xử quốc gia): Quốc gia thành viên phải

đảm bảo dành cho hàng hóa nhập khẩu của các thành viên khác chế độ đãi ngộ thương mại (ưu đãi, miễn trừ) như chế độ mà họ áp dụng cho hàng hóa trong nước mình

Nguyên tắc 2: Tránh tạo ra rào cản không cần thiết đối với thương mại quốc tế Nếu có thể dùng các biện pháp khác ít hạn chế thương mại

hơn

rào kỹ thuật được tạo ra đối với thương mại giữa các nước thành viên

quốc tế, nếu không chứng minh được việc đưa ra như vậy là có căn cứ khoa học và là cần thiết vì những mục đích hợp pháp như bảo vệ an toàn,

vệ sinh, môi trường hay an ninh

Nguyên tắc 3: Công khai, minh bạch: Xây dựng cổng thông tin,

trang web… để thông báo về những thay đổi về tiêu chuẩn HH

Nguyên tắc 4: Đảm bảo nguyên tắc tương đương và công nhận lẫn nhau với các nước khác (với các nước khác)

Nguyên tắc 5: Hài hòa hóa: TBT đưa ra các nguyên tắc chung

nhất mà các nước phải tuân thủ khi thực hiện chứ TBT không phải là tập hợp các biện pháp kỹ thuật

Nguyên tắc 6: Có tính đến các tiêu chuẩn quốc tế chung: Nếu đã

có tiêu chuẩn kỹ thuật quốc tế chung liên quan thì các nước thành viên phải áp dụng nó

1.1.4 Lợi ích khi sử dụng rào cản kỹ thuật:

Trong Hiệp định về rào cản kỹ thuật đối với thương mại (TBT) cũng đã đề cập tới những lợi ích của từng đối tượng khi sử dụng hàng rào kỹ thuật Đó là:

Đối với người tiêu dùng: Rào cản kỹ thuật giúp họ dễ dàng lựa

chọn và sử dụng sản phẩm thích hợp có chất lượng và thông số kỹ thuật phù hợp với yêu cầu của mình

Trang 7

Đối với người sản xuất: Khi sử dụng hàng rão kỹ thuật thì người

sản xuất phải đặc biệt quan tâm đến việc nâng cao chất lượng sản phẩm để đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của người tiêu dùng

Đối với nhà kinh doanh: Họ có thể đàm phán một cách dễ dàng

hơn về một mặt hàng nào đó nếu như sử dụng rào cản kỹ thuật

1.2 Tác động của rào cản kỹ thuật tới nước xuất khẩu:

Rào cản kỹ thuật trong thương mại thực chất là những biện pháp kỹ thuật cần thiết để bảo vệ lợi ích quốc gia, bảo vệ người tiêu dùng và là công cụ trực tiếp bảo hộ sản xuất trong nước Đây cũng là rào cản hợp lý hạn chế nhập khẩu những hàng hóa không đạt yêu cầu, ảnh hưởng không tốt đến môi trường, sức khỏe cong người và động vật,… Đứng trên góc độ nhà xuất khẩu để phân tích một cách chi tiết thì rào cản kỹ thuật tác động trên hai khía cạnh sau:

được nâng cao và khẳng định vị thế trên thị trường quốc tế

Bảo vệ môi trường: Theo dự báo, các tác động tiêu cực đến lĩnh vực tài

nguyên và môi trường sẽ ngày càng gia tăng khi Việt Nam chủ trương tham gia hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực sâu rộng Thế nhưng, Việt Nam đã hạn chế được phần nào điều đó nhờ việc áp dụng rào cản kỹ thuật (Hàng rào kỹ thuật “xanh”) Có thể nói rằng, rào cản kỹ thuật đã đóng góp đáng kể vào công tác bảo vệ môi trường trong quá trình

sản xuất hàng hóa xuất khẩu Nhờ có những rào cản kỹ thuật mà các nhà sản xuất đã

tuân thủ nghiêm túc các quy định bảo vệ môi trường Chính vì vậy, có thể hạn chế được tình trạng ô nhiễm môi trường, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên… Từ đó giúp đảm bảo

cân bằng sinh thái và góp phần phát triển một cách bền vững hơn

Các bên đối tác dễ dàng hiểu nhau khi đàm phán về một mặt hàng:

Bởi lẽ những yêu cầu, nguyên tắc đều được văn bản hóa và được công bố rộng rãi trên các phương tiện truyền thông nên các nhà xuất khẩu đều có thể dễ dàng tiếp cận, thực

Trang 8

thi và đàm phán với nhau một cách nhanh chóng hơn Trên cơ sở đó, khi xảy ra những mâu thuẫn, vướng mắc thì các bên đều có thể đối chiếu với các quy định, các văn bản sẵn có để cùng nhau giải quyết Vì vậy, rào cản kỹ thuật được coi như một công cụ minh chứng, soi chiếu giúp cho việc đàm phán, thỏa thuận diễn ra thuận lợi, suôn sẻ và dễ

dàng hơn rất nhiều

1.2.2 Tác động tiêu cực:

Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tích cực đã nêu trên thì rào cản kỹ thuật cũng tạo cho nhà xuất khẩu không ít những khó khăn

Làm cho quá trình thương mại trở nên khó khăn và tốn nhiều chi phí:

Với tư cách là công cụ bảo hộ trực tiếp được thừa nhận, rào cản kỹ thuật gây ra sự cản trở hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa: Bởi lẽ, nó sẽ tạo ra sự phân đoạn thị trường khi

mà các sản phẩm được sản xuất và xuất khẩu sang nước khác phải được chế tạo, xử lý khác nhau cho mỗi nước hoặc mỗi nền kinh tế lại phù hợp với những đòi hỏi riêng biệt của mỗi nước đối với sản phẩm đó Ngoài các tiêu chuẩn quy định do các tổ chức quốc

tế đưa ra thì các rào cản này còn có thể do các nước nhập khẩu tự đặt ra theo từng yêu cầu, quy định của nước đó Để phù hợp với các tiêu chuẩn này là rất khó khăn và tốn kém Nó làm tăng thêm chi phí bổ sung để thay đổi điều kiện sản xuất sao cho đáp ứng được những yêu cầu của quy định về kỹ thuật, do đó lợi nhuận của nhà sản xuất sẽ giảm sút Bên cạnh đó, nó còn ngăn cản cả nhà sản xuất lẫn người tiêu dùng không được hưởng lợi ích có thể do tác dụng của quy mô kinh tế Ngoài ra, các tiêu chuẩn được đặt

ra nhưng lại không được thống nhất, từ đó gây sự không đồng bộ trong các rào cản, thậm chí không đồng bộ giữa các vùng miền trong cùng một quốc gia Sự phức tạp này có thể cản trở thương mại giữa các bên nếu bên xuất khẩu không hiểu rõ về những tiêu chuẩn

của nước nhập khẩu

Tạo ra sự chênh lệch về trình độ giữa nước xuất khẩu và nước nhập khẩu: Bởi lẽ, sẽ tồn tài trường hợp các nước nhập khẩu có nền kinh tế phát triển thường

đưa ra các yêu cầu quá cao so với trình độ đáp ứng của nước xuất khẩu là các nước đang phát triển Vì vậy, các rào cản kỹ thuật này thực sự là một thách thức lớn đối với các nước có trình độ thấp hơn, có sự hạn chế về năng lực, kinh nghiệm cũng như trình độ

khoa học công nghệ,…

Sự cần thiết của việc phải lặp đi lặp lại việc thử nghiệm, chứng nhận

và kiểm tra với cung một sản phẩm tại mỗi nước cũng là một ảnh hưởng tiêu cực mà

rào cản kỹ thuật mang lại Bởi vì chi phí cho các thủ tục đánh giá sự phù hợp thường là như nhau, bất kể số lượng sản phẩm phải giao là bao nhiêu, cho nên các công ty nhỏ rất

dễ bị loại trừ khỏi một số thị trường

Trang 9

CHƯƠNG 2: RÀO CẢN KỸ THUẬT CỦA MỸ ĐỐI VỚI ĐỒ GỖ NHẬP KHẨU

TỪ VIỆT NAM 2.1 Rào cản kỹ thuật của Mỹ đối với đồ gỗ xuất khẩu trong thương mại quốc tế:

Mỹ đối mặt với sự cạnh tranh của luồng hàng hóa xuất khẩu từ các nước đang phát triển Chính vì vậy, Mỹ đã phản ứng lại tình trạng này bằng cách đặt ra nhiều yêu cầu chặt chẽ gây khó khăn cho các nước xuất khẩu, đặc biệt là các nước đang phát triển khi họ muốn xuất khẩu sản phẩm sang Mỹ như Việt Nam Chính sách của Mỹ về việc

áp dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật và thủ tục quy trình công nhận với chất lượng hàng nhập khẩu dựa trên Hiệp định về rào cản kỹ thuật đối thương mại của vòng đàm phán Urugoay cùng với luật áp dụng các hoạt động của WTO, chương 9 của Hiệp định tự do Bắc Mỹ

và các văn bản luật áp dụng hiệp định này Các rào cản kỹ thuật trong thương mại được

sử dụng trong hầu hết các ngành công nghiệp, đặc biệt là đối với các sản phẩm nông nghiệp chế biến

2.1.1 Quy định về sức khỏe và an toàn:

 Luật an toàn sản phẩm tiêu dùng (CPSA - Consumer Product Safety

Act):

độc lập được thành lập theo Luật An toàn Sản phẩm Tiêu dùng (CPSA) Bằng luật này, Quốc hội giao trách nhiệm cho CPSC “Bảo vệ công chúng tránh nguy cơ bị thương hay

tử vong liên quan đến các sản phẩm tiêu dùng” CPSC thực hiện vai trò này thông qua việc ban hành những tiêu chuẩn về an toàn sản phẩm có tính bắt buộc, cũng như thông qua sự hợp tác với khu vực công nghiệp để xây dựng những tiêu chuẩn an toàn dựa trên

sự đồng thuận Ngoài ra, CPSC còn theo dõi những thương tật và tử vọng có liên quan đến sản phẩm và cùng làm việc với công ty để thu hồi những sản phẩm có khuyết điểm

ra khỏi thị trường

CPSA, các sản phẩm tiêu dùng là những vật phẩm hay các bộ phận của những vật phẩm

đó được sản xuất, phân phối hoặc có công dụng để sử dụng lâu dài hoặc tạm thời trong

và xung quanh hộ gia đình hay khu cư xá, trường học, nơi vui chơi hay những nơi khác Những sản phẩm không nằm trong phạm vi điều chỉnh của CPSA bao gồm máy bay, động cơ và thiết bị máy bay, một số loại tàu và thuyền, mỹ phẩm, dược phẩm, súng đạn, thực phẩm, xe động cơ và thiết bị xe động cơ, các loại thuốc trừ sâu và các sản phẩm thuốc lá

Mỹ cũng đều bị từ chối nếu sản phẩm đó không tuân thủ một tiêu chuẩn an toàn sản phẩm hiện hành, hoặc yêu cầu về nhãn hiệu được quy định, được chứng nhận hoặc được xác định là có hại Nguyên tắc chung là nhà sản xuất sản phẩm tiêu dùng phải phát hành

Trang 10

giấy chứng nhận khẳng định hàng phù hợp với các tiêu chuẩn qui định và phải dán nhãn trên sản phẩm ghi rõ ngày và nơi sản xuất sản phẩm, tên và địa chỉ của nhà sản xuất, chứng nhận tuân thủ các luật lệ áp dụng và mô tả ngắn gọn các luật lệ đó

Ngoài ra, có thể tiến hành các thủ tục bắt giữ, cảnh báo sản phẩm nếu sản phẩm đó được coi là có thể gây nguy hiểm Trong trường hợp nhà sản xuất vi phạm luật lệ và có sản phẩm gây tổn thương cho người sử dụng có thể bị phạt về dân sự hay hình sự

 Quy chế kiểm dịch động thực vật của FDA – HACCP (Hazard

Analysis and Critical Control Point System):

nguy và các điểm kiểm soát trọng yếu Đó là công cụ phân tích nhằm đảm bảo an toàn

vệ sinh và chất lượng thực phẩm HACCP bao gồm những đánh giá có hệ thống đối với tất cả các bước có liên quan trong quy trình chế biến thực phẩm, đồng thời xác định những bước trọng yếu với an toàn chất lượng thực phẩm Công cụ này cho phép tập trung nguồn lực kỹ thuật, chuyên môn vào những bước chế biến có ảnh hưởng quyết định đến an toàn chất lượng thực phẩm

 Doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thủy sản, thực phẩm, thức ăn chăn nuôi…;

ăn công nghiệp;

hoạt đông liên quan đến thực phẩm

nhà sản xuất ở nước ngoài xuất khẩu hàng hóa đó vào Mỹ phải có cơ sở sản xuất (nhà xưởng, kho, thiết bị, môi trường, người làm việc…) theo đúng các quy chuẩn an toàn vệ sinh dùng phổ biến trên thế giới như GMP (các thông lệ thực hiện sản xuất tốt hợp vệ sinh); SSOP (thủ tục thực hiện các tiêu chuẩn vệ sinh)

 Luật liên bang về các chất nguy hiểm – FHSA (Federal Hazardous

Substances Act):

về việc dán nhãn những sản phẩm độc hại dùng trong gia đình có thể gây thương tích hoặc bệnh tật đáng kể cho người sử dụng khi sử dụng chúng một cách bình thường và hợp lý Các chất nguy hiểm đó bao gồm các chất độc, chất ăn mòn, chất dễ cháy hoặc

nổ, chất gây khó chịu cho người, hoặc chất gây nhậy cảm mạnh Ngoài các thông tin hướng dẫn cách bảo quản và sử dụng, nhãn hàng còn phải hướng dẫn các biện pháp sơ cứu nếu xẩy ra tai nạn

Trang 11

 Luật này cũng cho phép CPSC cấm những sản phẩm quá nguy hiểm hoặc độc hại đến mức mà việc thực hiện đầy đủ những qui định về nhãn hàng cũng không bảo vệ được thích đáng người tiêu dùng, trong đó có các loại đồ chơi trẻ em có chứa chất nguy hiểm hoặc gây nguy hiểm do điện, nhiệt, hoặc cơ khí

nguy hiểm, CPSC có thể điều tra các địa điểm sản xuất, chế biến, đóng gói, kho phân phối hoặc chứa hàng nhập khẩu CPSC cũng có thể kiểm tra các phương tiện dùng để vận chuyển hoặc cất giữ các chất nguy hiểm Các sản phẩm không tuân thủ các yêu cầu

về nhãn hàng của Luật liên bang về các chất nguy hiểm sẽ không được nhập khẩu vào

Mỹ Nếu sau khi dán lại nhãn mà vẫn không đạt yêu cầu, hàng sẽ phải tái xuất nếu không

sẽ bị tiêu hủy

2.1.2 Xuất xứ và thương hiệu hàng hóa:

 Quy tắc xuất xứ:

thể tác động đến mức thuế suất áp dụng, quyền được hưởng lợi từ các chương trình đặc biệt, khả năng được phép nhập khẩu, hạn ngạch thuế chống bán phá giá, hoặc thuế chống bán hạ giá (do được chính phủ hỗ trợ), mua sắm chính phủ và yêu cầu ký mã hiệu

thương mại đa phương và song phương

ứng các điều kiện hưởng ưu đãi đặc biệt theo các hiệp định thương mại hoặc luật lệ đặc biệt

hàng hóa Nguyên tắc chung và cơ bản để xác định nước xuất xứ của hàng hóa là dựa vào sự biến đổi đặc tính và giá trị gia tăng của hàng hóa Theo nguyên tắc này, nước xuất xứ của hàng hóa là nước cuối cùng sản xuất ra hàng hóa đó với điều kiện hàng hóa

đó đã biến dạng để mang tên mới và có đặc tính sử dụng mới Tuy nhiên, trong trường hợp nước cuối cùng sản xuất ra hàng hóa chỉ tiến hành những công việc lắp ráp đơn giản, không tạo ra bản sắc riêng của hàng hóa hoặc trị giá gia tăng được tạo ra quá thấp thì nước cuối cùng sản xuất ra hàng hóa đó cũng không được coi là nước xuất xứ hàng hóa

phải ghi xuất xứ một cách cụ thể về tên hàng hóa nước sản xuất bằng tiếng Anh với hình thức dễ đọc và ở vị trí dễ thấy trên vỏ đựng hàng hóa để cho người mua cuối cùng ở Mỹ biết tên của nước xuất xứ, nơi hàng hóa được

Trang 12

sản xuất hoặc chế tạo Các hàng hóa được miễn không phải ký mã hiệu trong trường hợp cụ thể là ngoại lệ đối với quy định này

nước xuất xứ, nghĩa là nơi hàng hóa được trồng, chế tạo hoặc sản xuất Tuy nhiên, bao bì ngoài cũng thường được giao cùng với hàng hóa cho người mua cuối cùng ở Mỹ phải được ký mã hiệu cho biết tên tiếng Anh của nước xuất xứ hàng hóa

xứ không liên quan đến những yêu cầu ký mã hiệu hoặc nhãn hiệu của các

cơ quan chính phủ khác đối với những sản phẩm cụ thể Ví dụ một số hàng hóa nhất định phải theo yêu cầu ký mã hiệu xuất xứ đặc biệt như: Ống sắt thép và các bộ phận gá thép ống, vòng đệm nắp hố, khung và nắp đậy và các bình khí nén phải được ký mã hiệu theo một trong bốn phương pháp sau: đóng dấu bằng khuôn, đúc chữ nổi, mài mòn hoặc chạm khắc

tại phần 42 luật thương hiệu hàng hóa năm 1946 (15.U.S.1124) quy định rằng một hàng hóa của nước ngoài có tên hoặc ký mã hiệu được cố ý gán cho để làm cho người ta tin rằng hàng hóa đó được sản xuất tại Mỹ hoặc bất cứ nước hoặc địa điểm nào ở ngoài nước Mỹ nhưng thực tế lại không phải là nơi hàng hóa đó được sản xuất ra, sẽ không được nhập khẩu qua bất cứ trạm hải quan nào của Mỹ Trong nhiều trường hợp các từ “United States”, chữ “U.S.A”, hoặc tên của bất cứ địa điểm hay thành phố nào của

Mỹ xuất hiện trên hàng hóa của nước ngoài, hoặc trên bao bì của hàng hóa

đó, bị coi là cố ý làm cho người ta tin rằng hàng hóa đó được sản xuất ở

Mỹ, trừ khi tên của nước xuất xứ được ghi ở ngay sát tên của địa điểm xuất xứ nội địa

định về xuất xứ khi nhập khẩu vào Mỹ là chịu mức thuế là 10% tổng giá trị (không kể các loại chi phí khác) Đồng thời nhà nhập khẩu vẫn phải thực hiện những quy định có liên quan khác Ví dụ hầu hết hàng hóa trên bao bì không ghi rõ xuất xứ sẽ bị giữ tại hải quan cho tới khi nhà nhập khẩu thu xếp tái xuất, tiêu hủy/maketing lại cho đúng quy định dưới sự giám sát của hải quan Mỹ Nếu có một phần hàng hóa đã được thông quan

sẽ phải được thu hồi về kho ngoại quan của Mỹ cho tới khi nhà nhập khẩu thu xếp tái xuất, tiêu hủy/maketing lại cho đúng quy định Phần 1907(a) của OTCA tăng mức phạt tối đa có thể lên tới 100.000 USD cho lần đầu

Trang 13

của việc cố tình vi phạm thay đổi hoặc xóa maketing xuất xứ và 250.000 USD cho lần tiếp theo

Thương hiệu và tên thương mại:

 Đối với hàng hóa mang thương hiệu giả sẽ bị giữ lại và tịch thu Một thương hiệu giả được định nghĩa là thương hiệu không có đích thực, trùng hoặc không thể phân biệt với một thương hiệu đã được đăng ký Các ký tự sao chép hoặc làm giả được hải quan Mỹ lưu hồ sơ có thể bị giữ lại, có thể bị bắt giữ và tịch thu

đăng ký và đã được hải quan lưu hồ sơ và có biện pháp chống hàng chợ đen Trong những trường hợp đó hàng hóa có thể bị thu giữ, bắt giữ và tịch thu Hải quan Mỹ cũng

có biện pháp chống tương tự đối với các hàng hóa không được phép mang tên thương mại đã được hải quan lưu hồ sơ theo quy định

phạm luật về thương hiệu áp dụng đối với hàng hóa đi cùng với bất kỳ ai đến MY khi hàng hóa đó không dùng để bán mà chỉ dùng để sử dụng Và chỉ được phép mang 1 hàng hóa vi phạm thương hiệu vào Mỹ

Mỹ mà ăn cắp bản quyền đã được đăng ký bảo hộ sẽ bị bắt giữ và tịch thu Điều này được nói rất rõ trong luật sở hữu trí tuệ của Mỹ

2.1.3 Hệ thống quản lý tiêu chuẩn về trách nhiệm xã hội – SA 8000:

được phát triển bới SAI (tổ chức trách nhiệm xã hội quốc tế) SA 8000 là tiêu chuẩn quốc tế ban hành lần đầu năm 1997, ban hành lần hai năm 2001

lớn, nhỏ ở cả các nước công nghiệp phát triển và các nước đang phát triển

động trong sản xuất và công nghiệp, nông nghiệp

 Lợi ích: SA 8000 giúp tăng lợi thế cạnh tranh của tổ chức; củng cố và nâng cao danh tiếng và khả năng thu hút, giữ chân người lao động hay thành viên, khách hàng hoặc người sử dụng; duy trì tinh thần, cam kết và năng suất của người lao động;…

 Lao động trẻ em: nghiêm cấm lao động trẻ em (dưới 15 tuổi) Các công ty được chứng nhận SA 8000 cũng phải hỗ trợ tài chính cho việc giáo dục trẻ em có thể bị mất việc do yêu cầu của tiêu chuẩn này

giữ giấy tờ tuỳ thân gốc hoặc trả “chi phí tuyển dụng” để được làm việc

Trang 14

 An toàn và sức khỏe nghề nghiệp: Các công ty phải đáp ứng các tiêu chuẩn cơ bản về một môi trường làm việc an toàn và lành mạnh Bao gồm nước uống, nhà vệ sinh, thiết bị an toàn hiện hành và đào tạo cần thiết

 Quyền tự do hiệp hội và quyền thương lượng tập thể: Bảo vệ quyền của người lao động được thành lập và tham gia công đoàn và thương lượng tập thể mà không sợ bị trù dập, trả thù

 Phân biệt đối xử: Không phân biệt đối xử dựa trên chủng tộc, đẳng cấp, nguồn gốc quốc gia, tôn giáo, khuyết tật, giới tính, khuynh hướng tình dục, thành viên công đoàn hoặc đảng phái chính trị

 Xử phạt: Cấm trừng phạt thân thể, cưỡng bức tinh thần hoặc thể chất và lạm dụng lời nói đối với người lao động

 Giờ làm việc: Cung cấp cho một tuần làm việc tối đa 48 giờ, với tối thiểu một ngày nghỉ mỗi tuần và giới hạn 12 giờ làm thêm mỗi tuần và được trả lương theo mức phí bảo hiểm

 Tiền lương: Tiền lương được trả phải đáp ứng tất cả các tiêu chuẩn pháp lý tối thiểu và đủ cho các nhu cầu cơ bản của người lao động

 Hệ thống quản lý: Xác định các thủ tục để thực hiện quản lý hiệu quả và xem xét việc tuân thủ SA 8000, từ việc chỉ định nhân viên có trách nhiệm đến lưu giữ hồ sơ, giải quyết các mối quan tâm và thực hiện các hành động khắc phục

2.1.4 Các quy định bảo vệ môi trường:

phẩm đối với môi trường, ví dụ trong luật kiểm soát thuốc trừ sâu môi trường và luật kiểm soát chất độc các loại thuốc trừ sâu dự định được phép sử dụng ở Mỹ bao gồm thuốc trừ sâu nhập khẩu phải được đăng ký với với EPA Ngoài ra việc nhập khẩu thuốc trừ sâu phải được thông báo cho EPA

điều khoản môi trường, đặc biệt chú trọng tới môi trường biển Việc thực thi những điều khoản này do hai cơ quan: Bộ ngoại giao và Ủy ban Bảo vệ khí quyển và đại dương quốc gia (NOAA) thuộc bộ thương mại

2.2 Rào cản kỹ thuật của Mỹ đối với đồ gỗ nhập khẩu từ Việt Nam

Bên cạnh chịu tác động của rào cản kỹ thuật của Mỹ đối với hàng hóa nhập khẩu nói chung Mặt hàng đồ gỗ nhập khẩu vào thị trường này còn chịu một số rào cản kỹ thuật riêng biệt đặc thù

Các quy định của Mỹ về gỗ và đồ gỗ như sau:

HTS 44 - Gỗ và sản phẩm gỗ: Bao gồm gỗ củi, gỗ đốt lấy than, gỗ cây, gỗ vụn,

mạt gỗ, gỗ làm đường ray, gỗ xẻ, gỗ băm, gỗ lạng, gỗ ván ép, gỗ ép từ vụn gỗ, gỗ làm

Trang 15

khung, gỗ đóng thùng hàng, gỗ mỏ, gỗ xây dựng… và các đồ dùng dụng cụ bằng gỗ, như mắc áo, đồ gỗ nhà bếp… Đối với danh mục này, việc nhập khẩu phải:

định tại cảng đến

2 Phù hợp với các quy định Luật liên bang về sâu bệnh ở cây

Hội đồng An toàn tiêu dùng (nếu là hàng tiêu dùng)

4 Phù hợp với các quy định về lập hóa đơn (đối với một số hàng gỗ)

phép xuất khẩu của nước xuất xứ, các quy định về tài liệu giao hàng và hồ sơ theo dõi (nếu là loại gỗ quý hiếm)

các quy định của FWS và Hải quan về việc thông báo hàng đến và giám định tại cảng đến (nếu thuộc loại hàng quý hiếm)

container tên, địa chỉ người xuất khẩu và người nhập khẩu, mô tả chính xác chủng loại gỗ

HTS 94 - Đồ nội thất: Bao gồm các loại ghế, đồ đạc dụng cụ trong bệnh viện,

các đồ đạc trong nhà, văn phòng, giường tủ, bàn ghế, đệm, đèn và các tấm ngăn xây dựng làm sẵn… Các đồ dùng này có thể làm hoàn toàn bằng kim loại, gỗ, nhựa, hay làm khung có bọc da, vải hoặc các vật liệu khác Đối với danh mục hàng này, việc nhập khẩu phải:

1 Phù hợp với các tiêu chuẩn sản phẩm tiêu dùng của Uỷ ban An toàn tiêu dùng (CPSC) về an toàn tiêu dùng

2 Đối với đệm: phù hợp với các tiêu chuẩn Underwriter’s Laboratory (UL), do CPSC quản lý

3 Các đồ có thành phần là vải dệt phải ghi theo các quy định TFPLA

về xác định nguồn gốc vải

2.2.1 Quy định về sản phẩm tiêu dùng an toàn CPSC

Quy định này được thể hiện rõ trong 2 đạo luật “Đạo luật về an toàn sản phẩm tiêu dùng” và “Đạo luật về cải tiến an toàn sản phẩm tiêu dùng”

Từ năm 2001 tới 2008 đối với các mặt hàng gỗ nhập khẩu vào thị trường Mỹ chịu

sự quy định chung trong các quy định của đạo luật về an toàn sản phẩm tiêu dùng

Từ năm 2008 có thêm “Đạo luật về cải tiến an toàn sản phẩm tiêu dùng” viết tắt

là CPSIA đã được Quốc hội Mỹ thông qua và chính thức có hiệu lực từ ngày 15/8/2008 Văn bản quy định những điều kiện liên quan đến nhập khẩu một số mặt hàng chiếm thị

Trang 16

phần xuất khẩu lớn của Việt Nam Từ ngày 15/8/2009, một số quy định mới trong Đạo luật về cải tiến an toàn sản phẩm tiêu dùng sẽ tác động trực tiếp đến việc sản phẩm dệt may và đồ gỗ nội thất của Việt Nam vào thị trường Mỹ Đây là một đạo luật rất phức tạp, có tính bắt buộc chứng nhận tiêu chuẩn cao hơn so với luật cũ, nếu vi phạm có thể dẫn đến các mức phạt dân sự và hình sự, đồng thời Chính phủ Mỹ có thể ra lệnh tiêu hủy sản phẩm nếu vi phạm

Việc kiểm định và cấp giấy chứng nhận đạt chuẩn phải được thực hiện bởi một

cơ quan đánh giá độc lập do CPSC công nhận Giấy chứng nhận này phải kèm theo sản phẩm hay chuyến hàng xuất khẩu sản phẩm và phải có sẵn để cho CPSC và Hải quan

Mỹ kiểm tra khi có yêu cầu Đối với sản phẩm đồ gỗ nhập khẩu việc nhập vào Mỹ không cần xin giấy phép nhập khẩu Tuy nhiên, mặt hàng này cũng có một số quy định khá chặt chẽ đối với các sản phẩm nội thất dành cho trẻ em, đồ nội thất có thành phần dệt và

đồ nội thất chiếu sáng

Các loại đồ gỗ khi nhập khẩu vào thị trường Mỹ cần đưa ra 2 loại chứng nhận: Chứng nhận hợp chuẩn tổng quát (GCC – General Conformity Certificate) và Kiểm nghiệm bắt buộc bởi tổ chức thứ ba (Third party testing)

Tất cả các nhà nhập khẩu Mỹ đều phải có giấy chứng nhận cho tất cả các lô hàng nhập khẩu, theo đó:

 Đối với sản phẩm tiêu dùng -> cần GCC

 Đối với sản phẩm trẻ em -> cần cả GCC & Kiểm nghiệm từ tổ chức thứ

ba

a Giấy chứng nhận hợp chuẩn tổng quát (GCC)

 Đây là một chứng nhận tự ban hành, hoặc là một tuyên bố đảm bảo sự phù hợp của nhà cung cấp

hay tổ chức thứ ba không thể làm thay Về cơ bản, nhà nhập khẩu sẽ phối hợp với nhà sản xuất để hoàn tất giấy chứng nhận này Chứng nhận này phải được kèm theo mỗi đợt xuất hàng

Nội dung của GCC gồm các yếu tố sau:

 Phải được trình bày bằng tiếng Anh

 Liệt kê những quy định an toàn sản phẩm của CPSC được chứng nhận cho sản phẩm đó

 Thông tin về nhà sản xuất

 Thông tin liên hệ người có trách nhiệm lưu giữ các kết quả kiểm nghiệm

 Ngày và nơi sản xuất sản phẩm

Trang 17

 Ngày và nơi sản phẩm được kiểm nghiệm phù hợp với các quy định nêu

ra ở trên

Ngày hiệu lực áp dụng GCC là ngày 12/11/2008, áp dụng cho các sản phẩm được sản xuất từ ngày này về sau

b Kiểm nghiệm bắt buộc của tổ chức thứ ba (Mandatory Third Party Testing)

 Áp dụng cho một số quy định cụ thể dành cho sản phẩm trẻ em (như giường tầng trẻ em, cũi, đồ gỗ, tất cả các loại đồ chơi, vải, đồ ngủ trẻ em)

 Tất cả các nhà nhập khẩu sản phẩm trẻ em bắt buộc phải có giấy chứng nhận của tổ chức thứ ba nhằm chứng minh rằng sản phẩm đó thỏa mãn những quy định an toàn cho sản phẩm trẻ em

 Việc kiểm nghiệm phải được thực hiện trước khi được nhập khẩu và đưa

ra thị trường hay dự trữ lưu kho

 Các chứng nhận phải được kèm theo trong tất cả các chuyến xuất hàng và sẵn sàng cung cấp cho các nhà phân phối và bán lẻ

 Kiểm nghiệm trên tất cả các loại vật liệu và phải thực hiện trên thành phẩm Kiểm nghiệm trên một bộ phận đại diện không được chấp nhận Các nhà sản xuất thành phẩm thông qua việc thu gom bán thành phẩm từ các đơn vị sản xuất khác cần lưu ý điều này, và hợp tác với các nhà cung ứng của mình

và phê chuẩn bởi CPSC

 Những kiểm nghiệm này sẽ áp dụng với việc kiểm tra nồng độ chì trong vật liệu nền, chì trong sơn, chất phthalates cho phép Thời gian có hiệu lực bắt đầu từ tháng 12/2008

Cụ thể, đối với các loại giường cũi cho trẻ em, có những quy định rất chặt chẽ liên quan đến chiều cao của thanh bao quanh, khoảng cách giữa các bộ phận của cũi, kích cỡ bên trong, chi tiết hoàn thiện, các linh kiện bằng kim loại và phải có hướng dẫn tháo lắp đối với những bộ phận tháo ghép Ngoài ra, nhà nhập khẩu các loại cũi cho trẻ

em phải duy trì hồ sơ lưu trữ trong vòng 3 năm kể từ ngày sản xuất hoặc nhập khẩu sản phẩm này Hộp carton đóng gói cũi và trên cũi phải dán nhãn với những thông tin: tên, địa điểm kinh doanh của nhà sản xuất, xuất khẩu, phân phối hoặc bán hàng…

Nhãn hàng phải lưu ý người sử dụng dùng các loại đệm với kích cỡ cụ thể cao bao nhiêu, dài bao nhiêu, rộng bao nhiêu và lưu ý này phải viết bằng chữ hoa với chiều cao ít nhất là 1/4 inch và phải rõ ràng, dễ đọc, tương phản với nền chữ Nhãn phải đảm bảo không dễ bị tẩy xoá, mất dấu và tồn tại lâu dài cùng với sản phẩm Sản phẩm phải được đóng dấu, dán nhãn hoặc ghi mác với những thông tin: tên, tỷ lệ phần trăm trọng lượng của các loại sợi có chiếm trên 5% trọng lượng theo thứ tự giảm dần; % của các

Trang 18

loại sợi theo quy định được ghi là "các loại sợi khác"; tên nhà sản xuất do FTC cấp, tên nước sản xuất

Ngoài quy định không được bán đồ dùng trẻ em hoặc dụng cụ chăm sóc trẻ em

có chứa hàm lượng chất Phthalates (DEHP, DBP và BBP) trên 0,1%, nhà sản xuất sản phẩm cho trẻ em còn được yêu cầu phải đặt dấu hiệu trên sản phẩm và bao bì để người mua có thể xác định nguồn gốc, xuất xứ của nhà cung cấp Đồ gỗ nội thất có chứa thành phần dệt cũng chịu sự quy định của Luật vải dễ cháy (FTA) được CPSC giám sát Theo

đó, nếu CPSC cho rằng sản phẩm không tuân theo một tiêu chuẩn về dễ cháy, cơ quan này có quyền tiến hành các biện pháp trừng phạt về sản phẩm đó

Mỹ sẽ kiểm tra rất chặt xem lượng chì nằm trong sơn có đảm bảo mức cho phép (quy định của Mỹ là không được quá 1%), lượng keo sử dụng hóa chất có vượt mức cho phép không, vải sử dụng kèm theo có nằm trong danh mục cấm Chỉ khi đã đáp ứng đầy đủ các quy định, doanh nghiệp mới được cấp giấy chứng nhận để xuất khẩu đồ gỗ vào thị trường Mỹ

Việc đảm bảo sản phẩm an toàn khi sử dụng được quy định rất khắt khe Sản phẩm không đáp ứng yêu cầu chứng nhận thì sẽ bị từ chối nhập khẩu ngay tại cảng Trước đây những sản phẩm khi bị phát hiện không đạt tiêu chuẩn thì bị yêu cầu tái xuất, nhưng nay những sản phẩm vi phạm này sẽ không được phép tái xuất mà phải bị hủy

bỏ Lý do là nếu những sản phẩm này được tái xuất thì có nghĩa là nó sẽ được tiêu thụ ở một nước thứ ba nào khác, với mức giá rẻ hơn Như vậy sẽ gây ảnh hưởng tới người dân

ở nước thứ ba đó Do vậy, chính phủ Mỹ yêu cầu phải hủy bỏ những sản phẩm không

an toàn, vì họ thấy rằng nếu người dân Mỹ không được đảm bảo an toàn thì cũng sẽ không có sự an toàn đối với những người dân ở nước khác Mọi chi phí cho việc tiêu hủy (bao gồm nhân công, vận chuyển, kho bãi…) sẽ được tính cho người sở hữu hàng hóa đó Nếu không trả những khoản phí này, họ sẽ bị ghi nợ và sẽ không được phép nhập khẩu trong tương lai cho tới khi thanh toán hết những khoản này

Mức hình phạt sẽ rất cao CPSIA gia tăng mức phạt dân sự lên đến 100.000 USD cho một lần vi phạm, và lên tới 15.000.000 USD cho gộp chung nhiều lần vi phạm Với mức hình phạt rất cao này, nhà sản xuất, nhà nhập khẩu được khuyến cáo cần đảm bảo

an toàn cho sản phẩm, có các bước thử nghiệm độ an toàn của sản phẩm trước khi xuất khẩu / nhập khẩu hàng

2.2.2 Quy tắc xuất xứ

Về xu hướng tiêu dùng đặc thù của thị trường đồ gỗ Mỹ, yếu tố gần gũi và bảo

vệ thiên thiên rất quan trọng Nó đòi hỏi các nhà cung cấp sản phẩm phải chứng minh được rõ nguồn gốc, xuất xứ của nguyên liệu làm nên sản phẩm Bên cạnh đó, hình thức chứng minh nguồn gốc này phải tiện dụng thì mới có thể hấp dẫn được người tiêu dùng

Mỹ

Ngày đăng: 28/03/2023, 06:32

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w