So sánh giá trị pH tầng chứa lỗ hổng trong các trầm tích Đệ tứ không phân chia huyện Nghi Xuân trái và huyện Hương Sơn phải ...79 Hình 27.. So sánh giá trị Eh tầng chứa lỗ hổng trong cá
Trang 1BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
VIỆN KHOA HỌC ĐỊA CHẤT VÀ KHOÁNG SẢN
============ Ì =============
BÁO CÁO
NGHIÊN CỨU SỰ LAN TRUYỀN, XÁC ĐỊNH NGUYÊN NHÂN
Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN 2 HUYỆN NGHI XUÂN VÀ HƯƠNG SƠN, TỈNH HÀ TĨNH VÀ ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP GIẢM THIỂU Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
8701
HÀ NỘI – 2010
Trang 2BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
VIỆN KHOA HỌC ĐỊA CHẤT VÀ KHOÁNG SẢN
TS Mai Trọng Tú ThS Bùi Hữu Việt
BÁO CÁO
NGHIÊN CỨU SỰ LAN TRUYỀN, XÁC ĐỊNH NGUYÊN NHÂN Ô
NHIỄM MÔI TRƯỜNG NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN 2 HUYỆN NGHI
XUÂN VÀ HƯƠNG SƠN, TỈNH HÀ TĨNH VÀ ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN
PHÁP GIẢM THIỂU Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
VIỆN TRƯỞNG CHỦ BIÊN
HÀ NỘI – 2010
Trang 3Mục lục
Trang
Mục lục iii
Hình vẽ vi
Bảng biểu viii
Mở đầu 1
Chương I KHÁI QUÁT VÙNG NGHIÊN CỨU 2
I.1 Đặc điểm tự nhiên 2
I.1.1 Khái quát chung 2
I.1.2 Vị trí địa lý 3
I.1.3 Địa hình 5
I.1.4 Khí hậu 7
I.1.5 Thủy văn – Hải văn 10
I.1.6 Đặc điểm địa chất 11
I.1.6.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu 11
I.1.6.2 Địa tầng 12
I.1.6.3 Magma 20
I.1.6.4 Đặc điểm cấu trúc 21
I.1.6.5 Đặc điểm đứt gãy 22
I.1.6.6 Khoáng sản 22
I.1.7 Đất 24
I.1.8 Sinh vật 31
I.2 Kinh tế - xã hội 31
I.2.1 Dân cư 31
I.2.2 Kinh tế 32
I.2.3 Giao thông 35
I.2.4 Văn hóa- xã hội 36
I.2.5 Cảnh quan môi trường 37
Chương II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ KHỐI LƯỢNG THỰC HIỆN 39
II.1 Phương pháp kế thừa 39
II.2 Phương pháp điều tra và khảo sát thực địa 39
II.2.1 Phương pháp điều tra phỏng vấn 41
II.2.2 Phương pháp khảo sát thực địa 41
II.2.3 Phương pháp lấy mẫu 42
II.3 Các phương pháp phân tích 45
II.4 Phương pháp nghiên cứu địa hoá 46
II.5 Phương pháp chuyên gia 47
II.6 Phương pháp xử lý số liệu và tổng hợp viết báo cáo 47
Chương III ĐẶC ĐIỂM TÀI NGUYÊN NƯỚC 48
III.1 Đặc điểm các tầng chứa nước 48
III.2 Các thành tạo địa chất rất nghèo nước và không chứa nước 54
III.3 Nước khoáng – nước nóng 56
III.3.1 Đặc điểm phân bố và nguồn gốc nước khoáng nóng Sơn Kim 56
III.3.2 Chất lượng nguồn nước khoáng nóng Sơn Kim 58
Trang 4III.4 Đặc điểm nước mặt 58
Chương IV HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG HAI HUYỆN NGHI XUÂN VÀ HƯƠNG SƠN, TỈNH HÀ TĨNH 60
IV.1 Đặc điểm chung 61
IV.2 Hiện trạng khai thác và sử dụng nước 64
IV.2.1 Nước sử dụng cho sinh hoạt 64
IV.2.2 Nước sử dụng cho sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản 64
IV.2 Thành phần hóa học nước 65
IV.2.1 Nước mặt 65
IV.2.2 Nước dưới đất 66
IV.3 Hiện trạng ô nhiễm môi trường nước mặt 67
IV.3.1 Hiện trạng ô nhiễm nước sông 67
IV.3.2 Hiện trạng ô nhiễm nước hồ 70
IV.4 Hiện trạng ô nhiễm môi trường nước dưới đất 71
IV.4.1 Tầng chứa nước lỗ hổng Holocen (qh) 71
IV.5.2 Tầng chứa nước lỗ hổng Pleistocen (qp) 76
IV.5.3 Tầng chứa nước lỗ hổng trong các trầm tích Đệ tứ không phân chia (q) 78
IV.5.4 Các thành tạo chứa nước, nghèo nước trước Kainozoi .81
IV.5 Hiện trạng ô nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật 82
IV.5.1 Sự tồn lưu DDT trong môi trường đất 85
IV.5.2 Sự tồn lưu DDT trong môi trường nước 86
IV.5.3 Sự tồn lưu DDT trong trầm tích 87
IV.5.4 So sánh hàm lượng HCBVTV trong các môi trường khác nhau 88
Chương V: PHÂN VÙNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC HAI HUYỆN NGHI XUÂN VÀ HƯƠNG SƠN 90
V.1 Phân vùng địa hóa môi trường nước 90
V.1.1 Nguyên tắc phân vùng địa hóa môi trường nước 90
V.1.2 Bản đồ phân vùng địa hóa môi trường nước 90
V.2 Phân vùng ô nhiễm môi trường nước 100
V.2.1 Nguyên tắc phân vùng ô nhiễm môi trường nước 100
V.2.2 Bản đồ phân vùng ô nhiễm môi trường nước 101
V.3 Phân vùng nhạy cảm ô nhiễm môi trường nước 104
V.3.1 Nguyên tắc phân vùng nhạy cảm ô nhiễm môi trường nước 104
V.3.2 Bản đồ phân vùng nhạy cảm ô nhiễm môi trường nước 110
Chương VI: SỰ LAN TRUYỀN, NGUYÊN NHÂN Ô NHIỄM VÀ CÁC BIỆN PHÁP GIẢM THIỂU 115
VI.1 Sự lan truyền ô nhiễm 115
VI.1.1 Hiện trạng lan truyền ô nhiễm 115
VI.1.1.1 Lan truyền ô nhiễm hóa chất BVTV 115
VI.1.1.2 Lan truyền ô nhiễm từ các cơ sở công nghiệp 118
VI.1.2 Tương quan hàm lượng hóa chất BVTV và các thông số môi trường 120
VI.1.3 Mô phỏng sự lan truyền ô nhiễm môi trường nước trên sông Ngàn Phố 122
VI.2 Mối liên quan giữa chất lượng nước và sức khỏe cộng đồng 126
VI.2.1 Tỷ lệ trẻ em bị khuyết tật, mắc bệnh u máu, u bướu tại huyện Hương Sơn 126
VI.3 Nguyên nhân ô nhiễm môi trường nước 128
Trang 5VI.3.1 Bãi thải 128
VI.3.2 Nước thải 129
VI.3.3 Chất thải rắn 132
VI.3.4 Đặc điểm địa chất 133
VI.3.5 Sử dụng phân bón hóa học và hóa chất bảo vệ thực vật trong canh tác sản xuất nông nghiệp 133
VI.3.6 Hoạt động khai thác nước dưới đất quy mô vừa và nhỏ 134
VI.4 Một số giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước 135
VI.4.1 Giải pháp khoa học và công nghệ 135
VI.4.3 Giải pháp tuyên truyền, giáo dục và nâng cao năng lực 136
VI.4.3 Giải pháp kỹ thuật 137
VI.4.4 Giải pháp quản lý 138
Chương VII BÁO CÁO KINH TẾ 139
VII.1 Cơ sở pháp lý 139
VII.2 Tổ chức thực hiện 139
VII.3 Tình hình thực hiện kế hoạch 140
VII.3.1 Mục tiêu, nhiệm vụ được giao 140
VII.3.2 Sản phẩm giao nộp 140
VII.3.3 Thực hiện 140
KẾT LUẬN 159
TÀI LIỆU THAM KHẢO 161
Trang 6Hình vẽ
Hình 1 Vị trí huyện Nghi Xuân 4
Hình 2 Vị trí huyện Hương Sơn 5
Hình 3 Tổng lượng bốc hơi đo tại trạm khí tượng Kim Cương 9
Hình 4 Độ ẩm không khí năm 2007 đo tại trạm Kim Cương (Nguồn: Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Hà Tĩnh năm 2007) 10
Hình 5 Sơ đồ địa chất huyện Nghi Xuân 13
Hình 6 Sơ đồ địa chất huyện Hương Sơn 17
Hình 7: Đo nhanh các chỉ tiêu pH, Eh, TDS tại hiện trường (a) Tại gia đình anh Tài, Trạm Trưởng Y tế Xuân An, Khối 12, xã Xuân An, H Nghi Xuân, Hà tĩnh; (b) Bên đê Lý Thường Kiệt, gần cửa Hội 42
Hình 8: Lấy mẫu nước dưới đất (a) và nước mặt (b) 43
Hình 9 Lấy mẫu đất (trái) và bùn (phải) tại Nghi Xuân 44
Hình 10: Quan hệ cation – anion chính các nguồn nước khoáng nóng khu vực Sơn Kim 57
Hình 11: Quan hệ cation – anion chính nước mặt huyện Nghi Xuân 65
Hình 12: Quan hệ cation – anion chính nước mặt huyện Hương Sơn 66
Hình 13: Quan hệ cation – anion chính nước dưới đất huyện Nghi Xuân 66
Hình 14: Quan hệ cation – anion chính nước dưới đất huyện Hương Sơn 67
Hình 15 Biến thiên hàm lượng nguyên tố vi lượng dọc sông Lam ở huyện Nghi Xuân 68
Hình 16 Chiều sâu trung bình (trái) và nhiệt độ (phải) tầng chứa nước qh huyện Hương Sơn 72
Hình 17: So sánh giá trị pH tầng chứa nước Holocen huyện Hương Sơn (trái) huyện Nghi Xuân (phải) 73
Hình 18: So sánh giá trị Eh tầng chứa nước Holocen huyện Hương Sơn (trái) huyện Nghi Xuân (phải) .73
Hình 19: So sánh giá trị TDS tầng chứa nước Holocen huyện Hương Sơn (trái) huyện Nghi Xuân (phải) .74
Hình 20: So sánh giá trị EC tầng chứa nước Holocen huyện Hương Sơn (trái) huyện Nghi Xuân (phải) .75
Hình 21 So sánh giá trị pH trong tầng chứa nước qh, huyện Hương Sơn 76
Hình 22 So sánh giá trị Eh trong tầng chứa nước qp, huyện Hương Sơn 77
Hình 23 So sánh giá trị TDS trong tầng chứa nước qp, huyện Hương Sơn 77
Hình 24 So sánh giá trị EC trong tầng chứa nước qp, huyện Hương Sơn 78
Hình 25 Chiều sâu trung bình (trái) và nhiệt độ (phải) tầng chứa nước q huyện Nghi Xuân 78
Hình 26 So sánh giá trị pH tầng chứa lỗ hổng trong các trầm tích Đệ tứ không phân chia huyện Nghi Xuân (trái) và huyện Hương Sơn (phải) 79
Hình 27 So sánh giá trị Eh tầng chứa lỗ hổng trong các trầm tích Đệ tứ không phân chia huyện Nghi Xuân (trái) huyện Hương Sơn (phải) 80
Hình 28 So sánh giá trị TDS tầng chứa lỗ hổng trong các trầm tích Đệ tứ không phân chia huyện Nghi Xuân (trái) huyện Hương Sơn (phải) 80
Hình 29 So sánh giá trị EC tầng chứa lỗ hổng trong các trầm tích Đệ tứ không phân chia huyện Nghi Xuân (trái) huyện Hương Sơn (phải) 81
Hình 30 Sơ đồ hiện trạng phân bố dư lượng DDT trong đất tại huyện Hương Sơn 86
Trang 7Hình 31 Sơ đồ hiện trạng phân bố dư lượng DDT trong nước tại huyện Hương Sơn 87
Hình 32 Sơ đồ hiện trạng phân bố dư lượng DDT trong bùn tại huyện Hương Sơn 88
Hình 33 Biểu đồ so sánh hàm lượng DDT trong đất (A), trong bùn (B), trong nước (C) tại Hương Sơn (C) với TCCP và Biểu đồ so sánh hàm lượng DDT trong 3 môi trường đất, bùn, nước (D) 89
Hình 35 Sơ đồ phân vùng đặc trưng môi trường nước theo pH huyện Nghi Xuân 92
Hình 36 Sơ đồ phân vùng đặc trưng môi trường nước theo pH huyện Hương Sơn 93
Hình 37 Sơ đồ phân vùng đặc trưng môi trường nước theo Eh huyện Nghi Xuân 95
Hình 38 Sơ đồ phân vùng đặc trưng môi trường nước theo Eh huyện Hương Sơn 96
Hình 39 Bản đồ phân vùng đặc trưng môi trường nước theo TDS huyện Nghi Xuân 98
Hình 40 Sơ đồ phân vùng đặc trưng môi trường nước theo TDS huyện Hương Sơn 99
Hình 41 Bản đồ phân vùng ô nhiễm môi trường huyện Nghi Xuân 102
Hình 42 Bản đồ phân vùng ô nhiễm môi trường huyện Hương Sơn 103
Hình 43 Quy trình đánh giá nhạy cảm ô nhiễm môi trường nước 105
Hình 44 Sơ đồ phân vùng nhạy cảm ô nhiễm môi trường nước huyện Nghi Xuân 111
Hình 45 Sơ đồ phân vùng nhạy cảm ô nhiễm môi trường nước huyện Hương Sơn 112
Hình 46 Sơ đồ phân bố dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật huyện Nghi Xuân 116
Hình 47 Sơ đồ phân bố dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật huyện Hương Sơn 117
Hình 48 Hệ thống nước thải nhà máy cồn rượu Xuân An: (a) để khô hệ thống xử lý không sử dụng; (b) cống ngầm giấu kín một góc và xả thẳng ra sông Lam .119
Hình 49 Tương quan hàm lượng DDT trong nước dưới đất với: (Góc trái trên): Khoảng cách; (Góc phải trên): TDS; (Góc trái dưới): Eh và (Góc phải dưới): pH 121
Hình 50 Chia đoạn sông Ngàn Phố 123
Hình 51: Biến thiên pH (trái) và DO (phải) xuôi dòng sông Ngàn Phố 124
Hình 52: Biến thiên NH 4 và NO 3 xuôi dòng sông Ngàn Phố (km) 124
Hình 53 Vị trí sông có màu đen, xanh đậm .125
Hình 54 Biểu đồ tương quan giữa tỷ lệ trẻ em khuyết tật (U máu) và A- hàm lượng As; B- hàm lượng Mn; C- độ pH và D- tổng chất rắn hòa tan TDS trong nước trên địa bàn huyện Hương Sơn 127
Hình 55 Bãi rác thải ở khối 4, thị trấn Xuân An 129
Hình 56 Đo nhanh 6 chỉ tiêu môi trường trong nước sông gần nhà máy rượu cồn Xuân An129 Hình 57 Vị trí bãi chôn lấp rác thải thị trấn Phố Châu 129
Hình 58 Mô hình thiết bị xử lý nước thải bằng phương pháp kị khí điều khiển tự động công suất 25 m 3 /ngàyđêm (Trái) và Bộ lọc nước giếng với công dụng khử màu lọc cặn; trung hoà axit; khử sắt, mangan và mùi tanh (Phải) 138
Trang 8Bảng biểu
Bảng 1 Biến thiên nhiệt độ năm 2007 tại Trạm Kim Cương- Hương Sơn 9
Bảng 2 Thống kê nguồn tài liệu chính đã thu thập và sử dụng trong đề tài 40
Bảng 3 Tổng hợp các công tác thực hiện tại hiện trường 41
Bảng 4 Thống kế số lượng mẫu lấy và phân tích 44
Bảng 5 Kết quả tính sai số hệ thống các chỉ tiêu phân tích kiểm tra nội bộ theo Eq.1 .46
Bảng 6 Kết quả thí nghiệm trong tầng chứa nước t 50
Bảng 7 Kết quả thí nghiệm trong tầng chứa nước qp huyện Nghi Xuân 54
Bảng 8 Kết quả thí nghiệm trong thành tạo địa chất rất nghèo nước O 3 - S 1 52
Bảng 9 Kết quả thí nghiệm các thành tạo rất nghèo nước hoặc không chứa nước nguồn gốc magma 55
Bảng 10 Kết quả thí nghiệm trong thành tạo rất nghèo nước hệ tầng sông 55
Bảng 11: Kết quả phân tích chất lượng các nguồn nước khoáng nóng 57
Bảng 12 Thống kê đặc trưng chất lượng nước mặt huyện Nghi Xuân 62
Bảng 13 Thống kê đặc trưng chất lượng nước mặt huyện Hương Sơn 63
Bảng 14 Thống kê đặc trưng chất lượng nước sông huyện Nghi Xuân 67
Bảng 15 Thống kê đặc trưng chất lượng nước sông huyện Hương Sơn 68
Bảng 16 Biến thiên hàm lượng trung bình BOD 5 trên một số sông chính 69
Bảng 17 Biến thiên hàm lượng trung bình COD trên một số sông chính (mg/l) 69
Bảng 18 Biến thiên hàm lượng trung bình NH 4+ trên một số sông chính (mg/l) 70
Bảng 19 Thống kê đặc trưng chất lượng nước hồ huyện Nghi Xuân 70
Bảng 20 Thống kê đặc trưng chất lượng nước hồ huyện Hương Sơn 71
Bảng 21 Thống kê các chỉ số môi trường địa bàn huyện Hương Sơn 76
Bảng 22 Kết quả phân tích mẫu nước dưới đất thuộc tầng chứa nước lỗ hổng trong các trầm tích Đệ tứ không phân chia (q) 79
Bảng 23: Giá trị hàm lượng các nguyên tố vi lượng trong môi trường nước tầng q 81
Bảng 24 So sánh dư lượng thuốc BVTV hai huyện Nghi Xuân và Hương Sơn (mg/kg) 83
Bảng 25 Thống kê hàm lượng DDT trong đất huyện Nghi Xuân 83
Bảng 26 Thống kê hàm lượng DDT trong bùn, đất huyện Hương Sơn 83
Bảng 27 Thống kê hàm lượng DDT trong nước huyện Hương Sơn 84
Bảng 28 Thống kê phân vùng ô nhiễm huyện Nghi Xuân 101
Bảng 29 Thống kê phân vùng ô nhiễm huyện Nghi Xuân 104
Bảng 30 Phân vùng nhạy cảm ô nhiễm môi trường nước huyện Hương Sơn 106
Bảng 31 Phân vùng nhạy cảm ô nhiễm môi trường nước huyện Nghi Xuân 108
Bảng 32 Các thành viên đề tài 139
Bảng 33 Các cộng tác viên của Đề tài: 140
Bảng 34 Giá trị thực hiện bước I/2008 143
Bảng 35 Giá trị thực hiện bước II/2009 147
Bảng 36 BẢNG TỔNG HỢP KHỐI LƯỢNG VÀ GIÁ TRỊ TOÀN ĐỀ TÀI 153
Trang 9Mở đầu
Trong 10 năm gần đây, hiện trạng ô nhiễm môi trường ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng và hệ sinh thái ở Việt Nam nói chung và tỉnh Hà Tĩnh nói riêng đang ngày càng nóng lên bởi sự xuất hiện hàng loạt các loại bệnh, đặc biệt là ung thư Ví dụ: Huyện Hương Sơn (làng Đá Dông, xã Sơn Trường có 20 hộ dân thì 15 người mắc bệnh ung thư), Huyện Nghi Xuân (xã Xuân Mỹ - ung thư và bệnh thần kinh), ô nhiễm
As trong môi trường nước ở xã Sơn Kim và Sơn Hồng, cá chết hàng loạt v.v Mặc dù
đã có một số giải thích nguyên nhân gây nên các căn bệnh trên do kho thuốc trừ sâu, nước thải của các nhà máy, hoạt động khai thác - chế biến khoáng sản hoặc do bản chất của môi trường tự nhiên (có chứa các khoáng vật của As, Hg, Pb, Cd, Fe, Mn v.v ), nhưng cho đến nay chưa hội đủ các dữ liệu khoa học để minh chứng
Để phát triển bền vững kinh tế xã hội của địa phương, cần thiết phải có những hiểu biết về hiện trạng môi trường khu vực, đặc biệt là các vùng có các biểu hiện về bệnh tật như trên Nguy cơ lan truyền ô nhiễm từ các vùng ô nhiễm tiềm tàng ra môi trường xung quanh trên cơ sở tài liệu đánh giá hiện trạng ô nhiễm và các tài liệu về điều kiện tự nhiên trong vùng Từ đó xác định nguyên nhân ô nhiễm môi trường nước
ở hai huyện Nghi Xuân và Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh và đề xuất một số giải pháp phù hợp để phòng tránh và giảm nhẹ hậu quả ô nhiễm
Từ thực tế đó, ngày 3 tháng 8 năm 2008, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ra quyết định số 776/QĐ-BTNMT về việc phê duyệt danh mục đề tài khoa học và công nghệ, dự án sản xuất thử nghiệm cấp Bộ mở mới năm 2008 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Viện trưởng Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản đã giao cho phòng Địa hóa và Môi trường do TS Quách Đức Tín làm chủ nhiệm thực hiện đề
tài: “Nghiên cứu sự lan truyền, xác định nguyên nhân ô nhiễm môi trường nước trên địa bàn 2 huyện Nghi Xuân và Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh và đề xuất các biện pháp khắc phục, giảm thiểu ô nhiễm môi trường”
Tập thể tác giả đã hoàn thành thuyết minh đề tài, bảo vệ thành công, được Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt và tiến hành ký hợp đồng số 10-ĐC-08/HĐKHCN ngày 22 tháng 4 năm 2008 giữa Việt Khoa học Địa chất và Khoáng sản
và Vụ Khoa học-Công nghệ, Bộ TN-MT
Đề tài chính thức triển khai từ tháng 1 năm 2008 và kết thúc tháng 12 năm
2009
Mục tiêu cụ thể của đề tài là:
- Nghiên cứu sự lan truyền một số chất ô nhiễm ra môi trường xung quanh trên
cơ sở tài liệu đánh giá hiện trạng ô nhiễm và các tài liệu về điều kiện tự nhiên trong vùng Từ đó xác định nguyên nhân ô nhiễm môi trường nước ở hai huyện Nghi Xuân
và Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh
- Đề xuất một số giải pháp phù hợp và khả thi để phòng tránh và giảm nhẹ hậu quả ô nhiễm
Trang 10Chương I KHÁI QUÁT VÙNG NGHIÊN CỨU I.1 Đặc điểm tự nhiên
I.1.1 Khái quát chung
Khu vực nghiên cứu bao gồm hai huyện riêng biệt Nghi Xuân và Hương Sơn,
Hà Tĩnh Nghi Xuân đặc trưng cho huyện ven biển miền trung, trong khi Hương Sơn
là một huyện miền núi điển hình Chỉ với 2 huyện, nhưng khu vực nghiên cứu hội tụ nhiều yếu tố có giá trị như vừa có cửa khẩu Cầu Treo, huyện Hương Sơn và lại có bãi biển Xuân Thành, huyện Nghi Xuân
* Huyện Nghi Xuân
Là một huyện đồng bằng ven biển, kinh tế chưa thật sự phát triển, cơ sở công nghiệp trên địa bàn không nhiều và đời sống nhân dân còn thấp Xét về mặt lợi thế tự nhiên, có thể thấy rằng, Nghi Xuân nằm ở vị trí tương đối thuận lợi, ngay sát bên thành phố Vinh Do vậy, đẩy mạnh phát triển du lịch, hạn chế công nghiệp là một trong những hướng đi cần tính tới trong tương lai và có nhiều triển vọng Một trong những yếu tố thu hút khách du lịch là môi trường sạch sẽ, chưa bị tàn phá nhiều bởi con người và các hoạt động công nghiệp Tuy nhiên, Nghi Xuân có cơ sở hạ tầng chưa phát triển, chưa có dự án xử lý rác thải sinh hoạt đạt chuẩn Nước thải sinh hoạt hầu hết là để chảy tràn tự thấm ra vườn hoặc xung quanh nhà Điều này gây ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng nước trên địa bàn huyện Hệ thống cấp thoát nước chưa có, một phần vì những dự án tổng thể thường đòi hỏi kinh phí lớn mà địa phương không thể đáp ứng Ngay thị trấn Nghi Xuân, thị trấn Xuân An nằm bên sông Lam, đối diện với thành phố Vinh, nhưng cơ sở hạ tầng cũng rất kém phát triển Đi qua cầu Bến Thủy, người ta có cảm giác đi tới một thế giới khác Theo quy hoạch mở rộng quy mô trung tâm huyện Nghi Xuân với việc sẽ lấy xã Xuân An và xã Xuân Giang thành thị trấn mới, khi đó dự án về quy hoạch cấp nước và nước thải đồng bộ sẽ được triển khai
Trên địa bàn huyện có một số làng nghề như chế biến nước mắm như Xuân Hội, Cương Gián,vv Nghề làm gạch đặc biệt phát triển ở các xã dọc theo sông Lam từ Xuân An đến Xuân Hội Song hành cùng với các dự án nuôi tôm của Hà Tĩnh, trên địa bàn huyện cũng có một số diện tích phát triển nuôi tôm, nhưng không phải đầm tôm nào cũng mang lại hiệu quả cao Đầm tôm Xuân Yên là một điển hình của dự án phát triển nuôi tôm trên cát, nhưng đến nay, có thể nói Quân Khu IV đã phá sản dự án đó và bàn giao lại diện tích và cơ sở hạ tầng cho địa phương tổ chức đấu thầu Quân khu IV
dự kiến phát triển dự án 80ha, nhưng chỉ mới hoàn thành được 14ha hồ nuôi thì phá sản (Số liệu không chính thức, mà qua phỏng vấn các chủ hộ nuôi tôm hiện tại) Diện tích xung quanh chưa xây dựng đang để hoang hóa Trên địa bàn huyện, dự án nuôi tôm giống tại xã Xuân Trường của trường đại học Vinh đang làm với diện tích khoảng 10ha (đã có quyết định giao đất) Các xã dọc sông Lam từ Xuân Phổ đến Xuân An đều
có các dự án nuôi tôm của từng xã theo hướng nuôi quảng canh Tuy nhiên, hiệu quả
Trang 11nuôi tôm chưa thật sự như mong đợi, hiện tại mới phát huy khoảng 30% tiềm năng và hiệu suất
*Huyện Hương Sơn
Huyện Hương Sơn có hai thị trấn là thị trấn Phố Châu và thị trấn Sơn Tây Tuy nhiên, quy mô của cả hai thị trấn còn hẹp, hạ tầng cơ sở không đồng bộ, hệ thống cấp thoát nước rất kém phát triển Bệnh viện huyện Phố Châu hiện tại cũng chưa có hệ thống cống thoát nước thải, mà chủ yếu vẫn để chảy tràn tự thấm ra xung quanh Các điểm thải gần chỗ nào thì xả thẳng ra vườn khu vực đó
Đặc trưng các khu dân cư nông thôn của huyện là phân tán trên địa bàn rộng và chỉ tập trung với mật độ đông ở những nơi có giao thông thuận tiện, dịch vụ phát triển thành các trung tâm cụm xã Mạng lưới giao thông nông thôn ngoài một số trục chính còn lại là đường đất, khó khăn trong đi lại, vận chuyển hàng hoá nhất là vào mùa mưa Diện tích các xã rất lớn, một số xã như Sơn Tiến, Sơn An, đi từ đầu đến cuối xã mất cả tiếng đồng hồ xe ô tô Hệ thống cơ sở hạ tầng còn hạn chế, vấn đề môi trường trong các khu dân cư nông thôn cũng cần phải bàn tới Hệ thống thu gom rác thải, nước thải sinh hoạt hầu như không có Nhiều hộ gia đình còn có thói quen thải các chất thải ra hệ thống thoát nước tự nhiên nên đã gây mất vệ sinh trong cộng đồng dân cư và ô nhiễm môi trường Đặc biệt, hầu hết dân cư trên địa bàn tại các địa điểm khảo sát đều để nước thải chảy tràn, tự thấm Nhiều gia đình vẫn sử dụng hệ thống hố xí hai ngăn trực tiếp trên đất, không hề xây bể chứa kiên cố và lấy phân bón ruộng Điều này tạo nên nguy cơ cao
ô nhiễm môi trường nước dưới đất tầng nông trong khu vực
I.1.2 Vị trí địa lý
Hà Tĩnh là một tỉnh thuộc Bắc Trung Bộ, diện tích 6055,7km2, dân số khoảng 1.300.000 người, trong đó, vùng nghiên cứu chỉ gồm hai huyện Nghi Xuân và Hương Sơn với tổng diện tích khoảng 1168.2km2, chiến 1/6 diệm tích toàn tỉnh
*Huyện Nghi Xuân
Nghi Xuân là một huyện ven biển của tỉnh Hà Tĩnh có vị trí địa lý:
18031'00'' – 18045'00" vĩ độ Bắc
105039'00" - 105051'00" kinh độ Đông
Huyện Nghi Xuân cách thủ đô Hà Nội khoảng 310km về phía Nam và cách thị
xã Hà Tĩnh khoảng 50km về phía Đông Bắc Phía Bắc giáp thành phố Vinh, tỉnh Nghệ
An, phía nam giáp huyện Can Lộc và thị xã Hồng Lĩnh, phía Tây giáp huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An và Phía Đông giáp biển Đông (Hình 1.) Diện tích 218 km2
Gồm 2 thị trấn (Xuân An, Nghi Xuân), 17 xã (Xuân Hội, Xuân Trường, Xuân Đan, Xuân Phổ, Xuân Hải, Xuân Yên, Tiên Điền, Xuân Giang, Xuân Mỹ, Xuân Thành, Xuân Hồng, Xuân Viên, Xuân Lam, Xuân Lĩnh, Xuân Liên, Cổ Đạm, Cương Gián)
Trang 12Dân số 100.300 (thống kê năm 2001) Địa hình đồng bằng ven biển, có núi Hồng Lĩnh (Núi Ông cao 676 m) Đất cát chiếm 57% diện tích
Nghi Xuân là một huyện ven biển nằm bên hữu ngạn sông Lam với vị trí thuận lợi để phát triển các ngành kinh tế từ nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản đến công nghiệp, du lịch, bãi tắm, vv Tuy nhiên, khu vực này cũng rất nhạy cảm với các tác nhân gây ô nhiễm môi trường không chỉ từ hoạt động công nông nghiệp trên địa bàn huyện, mà còn chịu sự tác động mạnh mẽ từ hoạt động của các vùng lân cận như thành phố Vinh
Hình 1 Vị trí huyên Nghi Xuân
* Huyện Hương Sơn
Trái với huyện Nghi Xuân, huyện Hương Sơn là một huyện miền núi nằm về phía Tây Bắc của tỉnh Hà Tĩnh với tọa độ địa lý:
1050 06' 08’’ - 1050 33' 08" Kinh độ Đông
180 16' 07" - 180 37' 28" Vĩ độ Bắc
Hương Sơn là một huyện trung du miền núi với vị trí địa lý như sau: Phía nam giáp huyện Vũ Quang, phía bắc giáp huyện Thanh Chương và Nam Đàn (tỉnh Nghệ An), phía tây giáp tỉnh Bo-li-kham-xay (nước Lào), phía đông giáp huyện Đức Thọ (Hình 1) (Diện tích: 950,2 km2 Dân số: 119.240 người Toàn huyện có 2 thị trấn (Phố Châu và Tây Sơn) và 30 xã (Sơn Tây, Sơn Kim 1, Sơn Kim 2, Sơn Hồng, Sơn Lĩnh,
Trang 13Sơn Diệm, Sơn Quang, Sơn Giang, Sơn Lâm, Sơn Hàm, Sơn Trung, Sơn Phú, Sơn Trường, Sơn Phúc, Sơn Mai, Sơn Thủy, Sơn Bằng, Sơn Ninh, Sơn Thịnh, Sơn Hòa, Sơn An, Sơn Lễ, Sơn Tiến, Sơn Châu, Sơn Bình, Sơn Hà, Sơn Trà, Sơn Long, Sơn Tân, Sơn Mỹ) Quy mô của cả hai thị trấn còn hẹp, hạ tầng cơ sở không đồng bộ, hệ thống cấp thoát nước rất kém phát triển Bệnh viện huyện Phố Châu hiện tại cũng chưa
có hệ thống cống thoát nước thải, mà chủ yếu vẫn để chảy tràn tự thấm ra xung quanh
Đặc trưng các khu dân cư nông thôn của huyện là phân tán trên địa bàn rộng và chỉ tập trung với mật độ đông ở những nơi có giao thông thuận tiện, dịch vụ phát triển thành các trung tâm cụm xã Mạng lưới giao thông nông thôn ngoài một số trục chính còn lại là đường đất, khó khăn trong đi lại, vận chuyển hàng hoá nhất là vào mùa mưa Diện tích các xã rất lớn, một số xã như Sơn Tiến, Sơn An, Hệ thống cơ sở hạ tầng còn hạn chế, vấn đề môi trường trong các khu dân cư nông thôn cũng cần phải bàn tới
Hệ thống thu gom rác thải, nước thải sinh hoạt hầu như không có Nhiều hộ gia đình còn
có thói quen xả các chất thải ra hệ thống thoát nước tự nhiên nên đã gây mất vệ sinh trong cộng đồng dân cư và ô nhiễm môi trường Đặc biệt, hầu hết dân cư trên địa bàn tại các địa điểm khảo sát đều để nước thải chảy tràn, tự thấm Nhiều gia đình vẫn sử dụng
hệ thống hố xí hai ngăn trực tiếp trên đất, không hề xây bể chứa kiên cố và lấy phân bón ruộng Điều này tạo nên nguy cơ cao ô nhiễm môi trường nước dưới đất tầng nông trong khu vực
Hình 2 Vị trí huyện Hương Sơn
I.1.3 Địa hình
Địa hình vùng nghiên cứu thể hiện sự khác biệt rõ ràng giữa hai huyện, trong đó, Nghi Xuân đại diện cho địa hình vùng cửa sông ven biển, Hương Sơn đại diện cho địa hình núi thấp đến trung bình của dãy Trường Sơn
Trang 14*Huyện Nghi Xuân
Huyện Nghi Xuân có địa hình đặc trưng của vùng ven biển, nghiêng từ Tây Nam sang Đông Bắc Phía Tây Bắc dọc theo ranh giới của tỉnh Hà Tĩnh và tỉnh Nghệ An là con sông Lam, phía Tây Nam chắn bởi dãy núi Hồng Lĩnh, tiếp đến là dải đồng bằng nhỏ hẹp ven núi Hồng Lĩnh, cuối cùng là bãi cát ven biển và ra đến Biển Đông Địa hình Nghi Xuân gần như được chia thành ba vùng đặc trưng:
- Địa hình đồng bằng: bao gồm vùng phù sa sông Lam ra đến vùng cát biển phía
Bắc, địa hình tương đối bằng phẳng Với điều kiện thuận lợi về địa hình và đất đai màu mỡ do phù sa sông bồi đắp, đây là vùng có giá trị kinh tế nhất huyện, thuận lợi cho thâm canh cây lương thực, cây hoa màu ngắn ngày và chăn nuôi gia súc, gia cầm
- Địa hình núi thấp: ở phía Nam huyện, khu vực dãy núi Hồng Lĩnh, với những
dãy núi đá có độ dốc lớn, chủ yếu là đá magma axit Dưới các chân núi có nhiều khe rạch, nơi địa phương đã tận dụng để xây 14 hồ, đập phục vụ cho sản xuất nông nghiệp Ngoài sản xuất nông nghiệp, thế mạnh của vùng là phát triển lâm nghiệp và du lịch sinh thái
- Địa hình cồn cát ven biển: bao gồm các dãy cồn cát ven biển kéo dài Địa hình
khu vực này hơi nghiêng về hướng Tây, Tây Bắc Do có cửa sông, cửa lạch tạo thành các bãi ngập mặn thuận lợi cho phát triển nuôi trồng thủy sản Vùng này có tiềm năng phát triển kinh tế biển và du lịch nghỉ mát
*Huyện Hương Sơn
Nét nổi bật về địa hình huyện Hương Sơn là đồi núi chập trùng, chiếm hơn 3/4 diện tích tự nhiên toàn huyện, nằm xen kẽ với các thung lũng nhỏ hẹp chạy dọc theo các sông suối trong vùng
Theo phân vùng địa mạo, có thể xếp địa hình khu vực vào nhóm miền núi thấp với các đặc trưng là: bề ngang tương đối hẹp, sườn có độ dốc lớn, cấu trúc kéo dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, gồm nhiều dãy núi song song và so le với nhau như dãy Giang Màn, núi Nầm, dãy núi Mồng Gà, dãy núi Thiên Nhẫn và núi Hoa Bảy, hướng dốc chung từ Tây Bắc xuống Đông Nam, trong đó cao nhất là núi Bà Mụ (1.357m) trên biên giới Việt – Lào Độ cao trung bình toàn huyện khoảng 600 - 700 m Độ cao địa hình có mối liên hệ với thành phần đá gốc, trong đó địa hình núi thấp thường gắn liền với các đá trầm tích Các đá mama và đá biến chất thường tạo thành các dãy núi
có độ cao trung bình (900 - 1300m) Đồng thời, hướng kéo dài của các dãy núi trong vùng cũng hoàn toàn trùng với phương cấu trúc chung của các thành tạo địa chất trong khu vực, với hướng cắm chung là Tây Nam, tạo nên sườn Đông Bắc dốc hơn sườn Tây Nam Do nằm trong khu vực cửa khẩu, hệ thống đường xá tương đối phát triển, nhiều vách núi được xẻ taluy làm đường tạo thành các vết lộ rất lớn và rõ Kết hợp với đặc điểm độ dốc lớn, phân cắt và xâm thực mạnh nên càng thuận lợi cho công tác khảo sát đặc điểm biến đổi thành phần vật chất từ đá gốc sang đất, dễ dàng xác định nguồn gốc
Trang 15sinh thành của từng loại đất trong khu vực Thảm thực vật trên địa hình này tương đối phát triển và được bảo vệ khá tốt, hiếm khi nhìn thấy đất trống đồi trọc trong quá trình khảo sát
Dọc theo các sông suối là dạng địa hình đồng bằng bán sơn địa, bãi bồi hoặc thung lũng nhỏ hẹp giữa núi Sự kết hợp của các dạng địa hình có các quá trình địa mạo khác nhau và khả năng khai thác từng kiểu địa hình cũng có những đặc điểm khác nhau Do vậy, địa hình của huyện được chia thành 3 kiểu như sau:
a Địa hình núi trung bình
Bao gồm các dãy núi ở phía Tây Bắc, nằm dọc biên giới Việt Lào (gồm các xã: Sơn Kim 1, Sơn Kim 2 và Sơn Hồng) với độ cao từ 900 m trở lên, thuộc nhóm địa hình núi cao trung bình Các đỉnh cao nhất thường được cấu tạo từ các khối granit xâm nhập Thành tạo địa chất dạng uốn nếp, khối, nâng lên mạnh tạo thành một dải hẹp kéo dài Đặc điểm địa hình có dạng đỉnh nhọn, sườn dốc, xâm thực chia cắt mạnh Tính chất xâm thực, chia cắt mạnh là nguyên nhân chính làm cho địa hình hiểm trở, việc đi lại và khai thác gặp nhiều khó khăn
b Địa hình đồi núi thấp
Có dạng uốn nếp, nâng lên yếu chiếm phần lớn diện tích của huyện và có độ cao 900-300m (chủ yếu ở các xã: Sơn Lễ, Sơn Tiến, Sơn Lĩnh, Sơn Tây, Sơn Hàm, Sơn Trường ) Dạng địa hình đồi núi thấp có cấu trúc địa chất tương đối phức tạp, bao gồm các trầm tích lục nguyên dày với đá phiến sét, đá phiến serixit, các loại đá phiến hỗn tạp, cát kết mica Quá trình xâm thực bóc mòn diễn ra mạnh hơn quá trình chia cắt sâu, đã tạo nên địa hình mềm mại hơn, độ cao các đỉnh ít bị chênh lệch
c Địa hình thung lũng kiến tạo - xâm thực
Bao gồm các xã còn lại, chiếm diện tích nhỏ, độ cao chủ yếu từ 300 m trở xuống Đây là các thung lũng của sông Ngàn Phố nằm theo hướng gần song song với các dãy núi và cấu tạo chủ yếu bởi những trầm tích vụn, bở, dễ bị xâm thực Chiều ngang của các thung lũng này tương đối rộng, trong đó phổ biến là các dạng địa hình đồi bằng thoải, bãi bồi và thềm sông khá phát triển Kiểu địa hình này hiện đang được khai thác và còn có thể khai hoang mở rộng diện tích phát triển sản xuất nông nghiệp
I.1.4 Khí hậu
Khí hậu ở hai huyện Nghi Xuân và Hương Sơn mang những nét đặc trưng của khí hậu miền trung, chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, có hai mùa rõ rệt là mùa đông lạnh ẩm, mưa nhiều và mùa hè khô, nóng Mùa khô bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 8 cũng là mùa nắng nóng với nhiệt độ cao nhất lên tới 39-400C, độ ẩm không khí thấp nhất thường vào các tháng 6-7 ứng với gió Tây Nam khô nóng hoạt động mạnh, lượng bốc hơi cao Mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau với nhiệt độ trung bình khoảng 19,50C, độ ẩm không khí cao, lượng bốc hơi thấp Khoảng thời gian
Trang 16này lượng mưa chiếm đến 81% lượng mưa cả năm, tập trung chủ yếu vào tháng 9 đến tháng 11, thường có bão kèm theo mưa và gió lớn
Hầu như năm nào trên địa bàn huyện Nghi Xuân cũng chịu ảnh hưởng của bão,
có năm tới 2-3 trận bão lớn kèm theo mưa to, gió lớn ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của người dân Trên địa bàn huyện Hương Sơn thường xuất hiện những trận lũ quét, đôi khi tàn phá khốc liệt, điển hình là trận lũ quét vào năm 2008 Dưới đây là mô
tả chi tiết đặc điểm khí hậu của từng huyện
*Huyện Nghi Xuân
Nghi Xuân chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa khắc nghiệt Vào dịp tháng 5 – 7 hàng năm, khi những cơn gió Lào mang theo nhiều hơi nước thổi qua vùng nghiên cứu, nhưng bị chặn bởi dãy Trường sơn nên hầu hết lượng mưa chỉ xuất hiện phía đông Trường sơn, trong khi đó ở phía tây phải hứng chịu cái nắng, cái gió khô ráp người
* Chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình năm đạt 23,80C Nhiệt độ trung bình tháng nhỏ nhất đạt 170C Các tháng chịu ảnh hưởng của gió Tây khô nóng, nhiệt độ trung bình tháng đạt 28,7 ÷ 29,80C vào tháng 7
* Độ ẩm tương đối: Độ ẩm tương đối trung bình năm đạt 85% Độ ẩm thấp nhất
xảy ra vào các tháng có gió Tây khô nóng, tháng 7 và đạt 70% Độ ẩm cao nhất xảy ra vào các tháng cuối mùa đông, khi có mưa phùn hoặc các tháng mùa mưa và đạt 90 ÷ 92%
* Bốc hơi: Bốc hơi trung bình năm đạt 800mm Lượng bốc hơi lớn xảy ra vào
tháng 7 với lượng bốc hơi trung bình tháng đạt từ 180 ÷ 200mm Tháng 2 có lượng bốc hơi nhỏ nhất đạt từ 27 ÷ 34mm
* Số giờ nắng: Số giờ nắng đạt từ 1.400 ÷ 1.600 giờ
* Tốc độ gió: Tốc độ gió trung bình năm 1,7 m/s- 2,3 m/s Tốc độ gió lớn nhất
khi có bão đạt >40 m/s Hướng gió mùa đông là hướng Đông Bắc, mùa hè thịnh hành gió Tây Nam hoặc gió Đông Nam
* Chế độ mưa:
Nghi Xuân có lượng mưa năm khá phong phú, trung bình năm đạt từ 2.300 ÷ 2.600mm Mùa mưa bắt đầu từ tháng 8 tới tháng 11 Tuy nhiên tháng 5, 6 có mưa Tiểu mãn gây ra lũ Tiểu mãn Lượng mưa mùa mưa đạt 65 - 70% lượng mưa năm, còn lại là mùa khô
*Huyện Hương Sơn
Hương Sơn có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhưng do sự chi phối bởi yếu tố địa hình sườn Đông Trường Sơn, nên có sự phân hóa rất khắc nghiệt với đặc trưng là mùa đông lạnh ẩm, mưa nhiều, mùa hè khô, nóng
Trang 17Gió: Trên địa bàn huyện chịu ảnh hưởng của 2 loại gió chính là gió mùa Đông
Bắc và gió Tây Nam (Gió Lào) Gió mùa Đông Bắc thường xảy ra về mùa Đông, ảnh hưởng lạnh giá từ đại lục Âu – Á tạo ra các áp lực lục địa di chuyển đến địa bàn huyện làm nhiệt độ giảm xuống Hàng năm, gió Tây Nam bắt đầu từ tháng 3 và kết thúc vào tháng 9, cao điểm nhất là vào tháng 7 do áp thấp khô nóng Ấn - Miến hoặc từ vịnh Bengan vượt qua dải Trường Sơn ảnh hưởng tới vùng Bắc Trung Bộ nước ta Tại đây, hơi nước được giữ lại ở phía Tây Trường Sơn, khi sang Đông Trường Sơn thì khô nóng, thường chỉ xuất hiện từng đợt với nhiệt độ trên 350 C, độ ẩm có khi xuống dưới 55% Dân gian ta gọi những đợt như vậy là “gió Lào”
mùa nóng, các tháng 6,7,8 nhiệt độ có khi lên tới 39,3 0 C Còn mùa lạnh nhiệt độ có khi xuống tới 8,1 -8,5 0 C vào các tháng 12, 1, 2
Bảng 1 Biến thiên nhiệt độ năm 2007 tại Trạm Kim Cương- Hương Sơn
Tháng Yếu tố
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
T0TB 16,9 22,1 23,3 24,1 26,3 29,9 29,8 28,8 26,6 24,1 19,9 20,8
T0Max 26,3 30,9 36,0 39,3 35,5 37,6 38,8 36,3 35,5 32,5 27,5 28,0
T0Min 8,1 8,5 15,5 16,8 18,0 24,6 28,8 23,9 19,0 18,9 11,1 14,8Biên độ 18,2 22,4 20,5 22,5 17,5 13 16,0 12,4 16,5 13,6 16,4 13,2
(Nguồn: Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Hà Tĩnh năm 2007)
Lượng mưa: Tổng lượng mưa bình quân hàng năm của huyện tương đối lớn
(từ 2000 – 2100mm), nhưng phân bố không đều giữa các tháng trong năm Vào mùa mưa, lượng mưa chiếm khoảng 74%, tập chung chủ yếu từ cuối tháng 7 đến tháng 11 với lượng mưa có thể đạt 300 – 500mm/tháng Vào mùa đông, lượng mưa chiếm khoảng 26% lượng mưa cả năm
Lượng nước bốc hơi: Về mùa đông do nhiệt độ không khí thấp, độ ẩm tương
đối cao, ít gió, áp lực không khí lớn nên lượng bốc hơi rất nhỏ, chỉ chiếm từ 1/5 – 1/2 lượng mưa Về mùa nóng, do nhiệt độ không khí cao, độ ẩm thấp, gió lớn, áp lực không khí giảm nên cường độ bốc hơi lớn, lượng bốc hơi của 7 tháng mùa nóng có thể gấp 4 – 5 lần của các tháng mùa
lạnh (Hình 3)
Hình 3 Tổng lượng bốc hơi đo tại
trạm khí tượng Kim Cương
( Nguồn: Trung tâm Dự báo Khí
tượng Thủy Văn Hà Tĩnh năm
2007)
0 20 40 60 80 100 120 140 160 180
Trang 18Độ ẩm không khí: Độ ẩm không khí trung bình năm là 85% Thời kỳ độ ẩm
không khí thấp nhất là vào tháng 6-7, ứng với gió Tây Nam khô nóng hoạt động mạnh nhất, độ ẩm không khí chỉ gần 75% Thời
kỳ có độ ẩm không khí cao nhất là vào mùa
lạnh (tháng 12,1,2,3) lên tới 90% (Hình 4)
Hình 4 Độ ẩm không khí năm 2007 đo tại
trạm Kim Cương (Nguồn: Trung tâm Dự
báo Khí tượng Thủy văn Hà Tĩnh năm
2007)
Các hiện tượng thời tiết khác: Hàng
năm, trên địa bàn huyện còn chịu ảnh hưởng trực tiếp 1 - 2 cơn bão và áp thấp nhiệt đới Bão thường xuất hiện vào các tháng 9 - 11 hàng năm, trung bình một cơn bão hoặc áp thấp nhiệt đới có thể gây ra lượng mưa 200 - 250 mm, thậm chí đến 500 mm Mưa to, gió lớn, gây lụt lội nên ảnh hưởng xấu đến sản xuất và đời sống của nhân dân Lũ chịu ảnh hưởng trực tiếp của mưa bão, thông thường cứ 10 trận lũ thì có 7 - 8 trận liên quan đến bão Đặc biệt cơn lũ xuất hiện bất ngờ năm 2002 đã gây thiệt hại nghiêm trọng về vật chất trong huyện
Ngoài ra, còn có hiện tượng sương mù, chủ yếu xảy ra trong mùa Đông vào những ngày chuyển tiếp, thường xuất hiện 5- 6 ngày liên tiếp, phổ biến là loại sương
mù địa hình xuất hiện từng đám mà không thành lớp dày đặc
I.1.5 Thủy văn – Hải văn
Hà Tĩnh là tỉnh có hệ thống sông suối dày đặc Vùng núi, mật độ sông suối lên tới 1,3km/km2, ở vùng đồng bằng mật độ thưa hơn (khoảng 0,5-1km/km2) Bên cạnh đó,
Hà Tĩnh có bờ biển dài và thoải với một số vị trí thuận lợi cho phát triển bãi tắm, du lịch và nuôi trồng thủy hải sản
*Huyện Nghi Xuân
Hệ thống sông Lam và các con suối nhỏ trên địa bàn đóng vai trò chính ảnh hưởng đến chế độ thủy văn của huyện Nghi Xuân Sông Lam có lưu vực lớn, các khe suối có tốc độ dòng chảy chảy nhỏ và hoạt động mạnh về mùa mưa lũ Sự hình thành lũ
và số lượng các cơn lũ trong vùng phụ thuộc vào thời gian và cường độ mưa
Ngoài ra, cũng như các vùng đất ven biển của miền Trung với đặc điểm nghiêng dốc về phía biển, Nghi Xuân là vùng đất thấp có 32km chiều dài bờ biển, vì vậy, chế
độ thủy văn ở đây còn chịu ảnh hưởng của thủy triều Chế độ nhật triều chiếm khoảng 2/3 số ngày trong tháng, còn lại là bán nhật triều Trong kỳ triều cường thì độ lớn triều trung bình 1,2-1,5m và trong kỳ triều thấp khoảng 0,5m Qua các cửa sông đổ ra biển
và một số cửa lạch, thủy triều lấn sâu vào làm nước sông Lam bị nhiễm mặn về mùa khô
Trang 19*Huyện Hương Sơn
Đặc điểm thủy văn huyện Hương Sơn được khống chế bởi hệ thống sông, suối khá dày đặc Nhìn chung, chiều dài của các con suối ngắn, trung bình khoảng 1km, lưu lượng nhỏ, độ dốc và tốc độ chảy lớn và hoạt động chủ yếu vào mùa mưa lũ Mật độ sông suối phân bố tương đối đồng đều trên khắp địa bàn huyện với mật độ trung bình
là 1,1km/km2, cao nhất đạt 2,2km/km2 Bên cạnh đó, trên địa bàn huyện còn có hàng trăm hồ lớn nhỏ Dưới đây là đặc điểm của một số sông hồ chính trong huyện
Sông suối: Sông Ngàn Phố là con sông lớn nhất chảy qua địa bàn nghiên cứu, bắt
nguồn từ dãy núi Trường Sơn, ở độ cao 1.400m so với mực nước biển, chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, phần lớn chảy qua khu vực đồi núi nên có động năng lớn, vào mùa mưa dễ tạo ra lũ lớn làm thiệt hại tới sản xuất nông nghiệp và dân sinh trên địa bàn Sông có chiều dài 70km, lòng sông hẹp và có nhiều tảng đá lăn Diện tích lưu vực sông khoảng 1.060 km2, lưu lượng bình quân đo tại trạm Sơn Diệm là khoảng 51,2m3/s
Với địa hình núi cao và mạng lưới thủy văn tương đối dày đặc, Hương Sơn có tiềm năng lớn về thủy điện Mặt khác, mỗi một dòng chảy lại là kênh dẫn lý tưởng không chỉ cho phù sa, mà cả các chất ô nhiễm cũng dễ dàng được vận chuyện đến vị trí lắng đọng phía hạ lưu
Hồ: Trên địa bàn Huyện Hương Sơn, hệ thống hồ đập lớn nhỏ khá phong phú,
bao gồm cả hồ tự nhiên và hồ nhân tạo Sông hồ trong vùng liên kết với nhau tạo thành một hệ thống tương đối hoàn chỉnh, phần nào đáp ứng được công tác điều tiết nước trong mùa mưa và cung cấp nước sinh hoạt, nước tưới phục vụ cho sản xuất nông nghiệp quanh năm Trên dịa bàn Huyện có trên 100 hồ đập, trong đó có nhiều hồ đập lớn như: hồ Khe Cò, hồ Vực Rồng, hồ Khe Dẻ, hồ Cây Trường, đập Khe Mỏ, đập Cao Thắng, đập Khe Cầu…tạo thành hệ thông dự trữ nước rất tốt cho mùa khô
I.1.6 Đặc điểm địa chất
I.1.6.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu
Nghiên cứu, điều tra đánh giá tổng hợp về địa chất, khoáng sản và môi trường khu vực Hà Tĩnh được ghi nhận từ đầu thế kỷ 20 với các công trình chủ yếu của Fromaget.J (1927, 1928) Những tài liệu này được dùng trong các bản đồ địa chất tỷ lệ nhỏ xuất bản sau đó (Fromaget.J 1952; Fontaine.H, 1971) Đến đầu thập kỷ 60 thế kỷ
20, với sự hỗ trợ của chuyên gia Liên xô, Tổng cục Địa chất đã tiến hành đo vẽ thành lập bản đồ địa chất miền Bắc Việt Nam tỷ lệ 1/500.000 với mạng lưới khảo sát thực địa khá dày, thu được nhiều tài liệu thực tế, làm cơ sở cho việc phân chia các thể địa chất chi tiết và chính xác hơn Bản đồ trên đã được xuất bản (Dovjikov A.E chủ biên, 1963) Năm 1978, bản đồ địa chất và khoáng sản tờ Hà Tĩnh - Kỳ Anh tỷ lệ 1/200.000
do Trần Tính chủ biên đã được đo vẽ và thành lập Tiếp sau đó, một số vùng thuộc lục địa Hà Tĩnh đã được đo vẽ và lập bản đồ địa chất khoáng sản tỷ lệ 1/50.000 (tờ Nam
Trang 20Vinh do Hồ Duy Thành chủ biên, 1983; nhóm tờ Hoành Sơn do Phạm Đình Trưởng chủ biên, 1996) Các tài liệu đo vẽ nêu trên đã được Cục Địa Chất và Khoáng Sản Việt Nam biên tập và xuất bản năm 1996 trong tờ bản đồ Hà Tĩnh - Kỳ Anh tỷ lệ 1/200.000
Trong thập niên 90 của thế kỷ 20, hàng loạt các nghiên cứu chuyên đề về trầm tích Đệ tứ, địa mạo ở đồng bằng duyên hải Hà Tĩnh nói riêng và ở Việt Nam nói chung
đã được thực hiện, như các công trình của Nguyễn Đức Tâm (1995), Nguyễn Địch Dỹ (1995), Ngô Quang Toàn (1999) Kết quả của những công trình này đã phân chia tương đối chi tiết các thành tạo trầm tích Đệ tứ, địa mạo theo tuổi và nguồn gốc
Sa khoáng titan ven biển Hà Tĩnh được nghiên cứu và đánh giá trong những thập kỷ gần đây như báo cáo về monazit, zircon trong sa khoáng ven biển ở Hà Tĩnh
và Bình định của Nguyễn Ngọc Anh và nnk, 1998 và các báo cáo tìm kiếm thăm dò chi tiết tỷ lệ 1/5.000, 1/2.000 vào năm 1996 của Liên đoàn Địa chất Bắc Trung Bộ (Liên đoàn Địa chất 4)
Khoáng sản kim loại như thiếc, sắt và chì kẽm được nhiều tác giả đề cập đến (Trần Tính và nnk, 1996; Nguyễn Kim Hoàn và Nguyễn Văn Ngoãn, 1984) Hiện tại,
mỏ sắt Vũ Quang – Sơn Trường đang được đầu tư thăm do và khai thác
Mỏ sericit Sơn Bình đã được Liên đoàn địa chất Miền Bắc tiến hành tìm kiếm chi tiết năm 2004-2005 và hiện đang được điều tra, thăm dò chi tiết phục vụ khai thác
Dưới đây là mô tả đặc điểm địa chất của từng huyện
I.1.6.2 Địa tầng
*Huyện Nghi Xuân
Trên cơ sở tổng hợp các tài liệu hiện có (Trần Xuân Dục, 1983; Trần Tính và nnk, 1980), đặc điểm địa chất khu vực Nghi Xuân được thể hiện trên bao gồm các đơn
vị địa tầng và 2 phức hệ magma sau:
* Hệ tầng La khê (C 1 lk)
Các thành tạo của hệ tầng này xuất lộ dưới dạng các dải nhỏ, chỏm nhỏ rải rác bao quanh núi Ông, phía Nam vùng nghiên cứu, có thành phần chủ yếu là các trầm tích giàu silic, sét silic màu đen xen kẹp những lớp mỏng hay thấu kính đá vôi xám đen Chiếm gần hết khối lượng của hệ tầng, thành phần từ dưới lên trên gồm có:
- Phần dưới là đá phiến silic xen nhịp, cát kết quăczit hoá, đá phiến sét – silicrixit màu đen cát kết, bột kết, sạn kết màu đen nhiễm sắt- mangan đôi nơi gặp các lớp mỏng đá quăczit Đá gồm tập hợp ẩn tinh vi vảy sét, sericit, chlorit, thạch anh và hạt nhỏ albit nằm xen lẫn nhau có xu thế sắp xếp định hướng Nổi trên nền ẩn tinh đó
là vài tấm anđaluzit kích cỡ đạt (1x1,5) mm tạo nên kiến trúc ban biến tinh Quặng, graphit hạt nhỏ méo mó màu đen phân bố đều khắp trong mẫu, phản chiếu ánh kim có
Trang 21C ả n g Vũ n g An g A
1 5
1 5 hư ơn g khê
Quảng Bình A
Pha 2: Granit biotit hạt nhỏ, granit s áng màu Pha 1: Granit biotit hạt trung đến dạng pocfia Phứ c hệ c ử a r ào Gabro thường, gabro riolit gabro diaba
các ký hiệu khác
Hệ tầng La Khê
Phụ hệ tầng dưới Tập 1 Phứ c hệ Nậm Kền
mQ™ š ẵặ
mQ™ š ẵặ
CÊ ặ ÅÊạ Û² ẩÅ PÔ
mvQ™ š ẵặ Û² ẩÅ PÔ
mvQ™ š ẵặ
mvQ™ š ẵặ
mQ™ š ẵặ
mbQ™ š ẵặ dQ
dQ
Û² ẩÅ PÔ
mbQ™ š ẵặ TÔ ằŸẻÊạ mQ™ š ẵặ
x∙ Xuân Đan
x∙ Xuân Phổ
x∙
x∙ Xuân Tr ường x∙ Xuân Hội
x∙ Xuân Giang
Xuân Viên x∙
x∙ Xuân Hồng
4 2
kilometres
0
Trang 22- Phần giữa chủ yếu là đá bột kết thạch anh xen dải cát kết thạch anh bị biến
đổi Thành phần gồm: (a) Hạt vụn có kích thước không đều gồm dải cát kích thước
khoảng (0,2x0,3)mm xen với dải bột kích thước (0,03x0,05)mm Thành phần hạt vụn gồm thạch anh, mica và ít turmalin Hạt vụn có kích thước 0,05 - 0,07mm, bao gồm thạch anh, mica và turmalin và hidroxyt sắt, phần tàn dư phản chiếu ánh kim mạnh Thạch anh sắp xếp chặt xít, ven rìa được viền quanh bởi vành sét - sericit nhiễm hidroxyt sắt có màu nâu bẩn Mica bao gồm cả biotit và muscovit Biotit dạng tấm nhỏ kéo dài bị chlorit hóa không đều, đa sắc yếu màu lục, giao thoa thấp Muscovit dạng tấm với 2 cạnh ngắn nham nhở, mặt sạch, giao thoa cao Turmalin dạng hạt méo mó,
dạng trụ, đa sắc ngược màu lục theo đới khá rõ; (b)Vật liệu gắn kết các hạt vụn có
thành phần là sét bị biến đổi thành tập hợp ẩn tinh vi vảy sericit, chlorit giữa chúng rất khó phân biệt một cách chính xác rõ ràng Trong phần này gặp epidot dạng vi hạt tạo đám không đều Quặng dạng méo mó tạo đám kéo dài theo chiều định hướng của đá,
thường bị leucoxen
- Chuyển dần lên là đá phiến silic, phiến thạch anh, silic - sét sêrixit, sét silic màu đen nâu đen Đá phân lớp rõ từ mỏng đến trung bình Thạch anh, silic là thành phần tạo đá chủ yếu trong mẫu dạng hạt nhỏ, ẩn tinh sắp xếp liền xít trong mẫu Xen lẫn trong thạch anh, silic có bụi quặng và đám ổ leucoxen hoặc epidot-zoisit vi hạt Đá phiến thạch anh, sét silic vỡ vụn mạnh xen cát bột kết, sạn kết màu vàng phớt nâu Quặng màu đen không thấu quang phản chiếu ánh kim khá mạnh Đá có khá nhiều gân mạch thạch anh hạt nhỏ xuyên cắt
- Về đặc tính địa hoá, hệ tầng La Khê rất nghèo các nguyên tố đất hiếm, trái lại tương đối phổ biến các nguyên tố Vanadi (V) Niken (Ni) sắt (Fe) Mangan (Mn)
* Hệ tầng Mường Hinh (Jmh)
Các thành tạo của hệ tầng này xuất lộ hẹp ở ven biển như Núi Ông, núi Bàn Độ Mặt cắt của hệ tầng ở các diện lộ có sự thay đổi khá rõ nét Ở vùng núi Ông mặt cắt gồm cuội kết cơ sở phủ trên granit Núi Ông, chuyển lên cát kết tuf, bột kết tuf với bề dày khoảng 300m, đây là phần thấp nhất của hệ tầng Bề dày chung của hệ tầng Mường Hinh >500m
* Hệ Đệ tứ (Q)
Trầm tích bở rời đệ tứ chiếm diện tích chủ yếu trên địa bàn huyện Nghi Xuân, kéo dài từ chân núi Hồng Lĩnh xuống tận cửa Hội Theo kết quả nghiên cứu của đoàn
204 (Liên đoàn Bản đồ địa chất), Liên đoàn Địa chất miền trung, có thể phân trầm tích
bở rời của đồng bằng Nghi Xuân làm 3 tầng từ dưới lên trên như sau:
Tầng Nghi Xuân: Đây là phần dưới của thống pleistocen (QI-IInx1) không lộ ra trên mặt Nằm trên bề mặt bào mòn tầng Nghi Xuân là trầm tích tầng Yên Mỹ, đây là phần trên của thống Pleistocen (QII-IIIym) Trên diện tích nghiên cứu, tầng này cũng
Trang 23không lộ ra trên mặt Trên cùng là trầm tích tầng Can Lộc (QIVcl) chúng phân bố phổ
biến rộng khắp và nằm trên bề mặt bào mòn laterit hoá của tầng Yên Mỹ
Dựa vào các quan sát trên mặt và tài liệu thu thập, có thể phân loại các loại hình trầm tích bở rời ở đây theo kiểu nguồn gốc như sau:
- Trầm tích nguồn gốc biển
- Trầm tích nguồn gốc gió- biển
- Trầm tích nguồn gốc biển - đầm lầy
- Trầm tích nguồn gốc sông, sông - biển
- Trầm tích không phân chia, nguồn gốc Deluvi
1) Trầm tích nguồn gốc Biển hệ tầng Can Lộc (mQ IV cl)
Đây là các thành tạo bở rời cát thạch anh hạt trung nhỏ màu xám trắng, phớt vàng, chúng phân bố thành từng dải gần song song với đường bờ biển dọc miền Duyên hải huyện Nghi Xuân với diện tích tương đối lớn Xen giữa các dải cát là các thung lũng cùng phương, địa hình thấp hơn từ 1-2 đến 3-4 mét Trong các thung lũng hẹp này có thành phần thạch học chủ yếu là bột, sét trên diện tích phân bố cát có nguồn gốc biển Cát có nguồn gốc biển, theo kết quả điều tra tổng hợp của Nguyễn Kim Hoàn (1988), tầng trầm tích này có tiềm năng khoáng sản sa khoáng Inmenit ziricon khá cao, nhưng chưa có những thăm dò đánh giá chi tiết
2) Trầm tích nguồn gốc gió biển hệ tầng Can Lộc (mvQ IV cl)
Bao gồm các doi cát, cồn cát, đê cát cao hơn địa hình trầm tích biển 1-2 mét có chỗ 3-4 mét và nằm trên diện tích phân bố trầm tích biển chạy dọc ven biển Diện phân
bố trầm tích nguồn gốc gió biển không lớn và chịu ảnh hưởng gió mùa làm cho dịch chuyển Tuy nhiên, hầu hết các cồn cát ven biển hiện tại có cây trồng chắn gió, nên mức độ di chuyển bị hạn chế, đặc điểm địa hình trong vùng ít biến đổi
3) Trầm tích nguồn gốc biển - đầm lầy hệ tầng Can Lộc (mbQ IV cl)
Trầm tích nguồn gốc biển- đầm lầy phân bố thành các khu vực nhỏ ven chân núi Hồng Lĩnh và ở khu vực Xuân Hội Trầm tích này được chia làm hai hệ lớp:
- Hệ lớp dưới: Gồm cát, cát pha sét màu xám đen, xám xanh chứa di tích sinh vật tướng biển - đầm lầy với bề dày chưa xác định được Tại khu vực Xuân Hội, các giếng khoan và đào tại đây rất hay bắt gập lớp này ở độ sâu 4-6m Khi đó, chất lượng nước giếng thường không đảm bảo cho sinh hoạt Nước bị phèn hóa, nhiễm mặn
- Hệ lớp trên: Gồm bột, sét màu xám sáng, xám xanh chứa di tích động vật tương biển nông Eefidium, Cushan, Amoniasp, Bucellasp, Nascasp Xác định tuổi Holoxen
Hệ lớp này có bề dày khá lớn
4) Trầm tích nguồn gốc sông, sông biển hệ tầng Can Lộc (aQ IV cl, amQ IV cl)
Trang 24Chúng có thành phần phức tạp và phân bố chủ yếu dọc sông Lam và sông La Kết quả khảo sát thực địa cho thấy, bên bờ phải hạ lưu sông Lam có một dải sét gạch ngói chất lượng khá tốt đang được dân trong vùng khai thác sử dụng Trên đoạn sông
La thuộc địa phận Xuân Lam có một số bãi cát với độ chọn lọc tốt, màu xám vàng và xám phớt vàng Thành phần chủ yếu là cát thạch anh, kích thước hạt 0,4-2mm Hiện nay cát ở đây đang được khai thác làm vật liệu xây dựng Cát hạt đều, kích thước 0,5-1,5 mm, độ chọn lọc tốt, thành phần chủ yếu là thạch anh, có thể khai thác làm vật liệu xây dựng được
5) Trầm tích đệ tứ không phân chia nguồn gốc deluvi (dQ)
Với một diện tích nhỏ phân bố quanh chân đồi núi khu vực phía Tây Nam huyện Nghi Xuân Bề dày chưa xác định, đây là sản phẩm phong hoá phát triển chủ yếu trên các đá gốc là xâm nhập granitoit phức hệ Nậm Kền và Rào Nậy Sản phẩm phong hoá của chúng thường là cát sạn, mảnh vụn dăm cuội màu xám sáng, xám xanh, xám vàng Thành phần thạch học chủ yếu là thạch anh, có độ chọn lọc kém và độ mài tròn không
đồng đều
Tóm lại, do đây không phải là phương án địa chất khoáng sản, nên các mô tả, nhận định đánh giá ở đây đều ở mức độ sơ sài và thiếu nhiều dẫn liệu cần thiết để khảng định đặc trưng địa chất cũng như khoáng sản của vùng Hơn nưa, với mức độ đầu tư nghiên cứu về địa chất, trầm tích, khoáng sản vô cùng hạn chế, chắc rằng những
mô tả trên đây chưa thoả mãn được yêu cầu của nhiều nhà địa chất – khoáng sản Các
mô tả này chỉ nhằm giới thiệu khái quát bức tranh nền địa chất phục vụ mục tiêu nghiên cứu ô nhiễm môi trường nước trên địa bàn
*Huyện Hương Sơn
Trên cơ sở tổng hợp các dạng tài liệu hiện có và kết quả điều tra khảo sát thực địa của đề tài, trên địa bàn huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh có các đơn vị địa chất với tuổi từ Paleozoi sớm đến Kainozoi như sau (Hình 6.):
Hệ tầng Sông Cả chiếm phần lớn diện tích vùng nghiên cứu, bao gồm 3 phân hệ tầng là: dưới, giữa và trên Phân hệ tầng trên có thành phần chủ yếu là đá phiến sét xen bột kết, cát kết dày 900 – 1000 m Phân hệ tầng giữa được thành tạo chủ yếu từ các đá phiến thạch anh serixit, cát kết dạng quazit, phun trào axit Dày hơn 1000m Phân hệ tầng dưới bao gồm các đá phiến thạch anh – sericit, quazit dày trên 1000m Tổng bề dày của hệ tầng Sông Cả đạt 2492-3260m
Dưới đây là mô tả chi tiết từng phân hệ tầng:
Phân hệ tầng dưới (O3-S1sc1) gồm 3 phần:
- Phần dưới: chủ yếu là cát kết dạng quarzit xen kẹp ít đá phiến sericit đá với bề dày khoảng 100m
Trang 25105ổ34' 18ổ38'
5 5
2 2
2 0
6 3 18ổ38'
aQỖ ý ³
Sẵ-Dẳ Âẻ Oặ-Sẳ ễỎặ
cđu SŨn TrÌ
xỈ SŨn Mü
xỈ SŨn BÈnhxỈ SŨn TrÌ
xỈ SŨn Tờn xỈ SŨn LÔ
xỈ SŨn AnxỈ SŨn HßaxỈ SŨn ThẺnh
xỈ SŨn Chờu
xỈ SŨn ThĐy
xỈ SŨn Ninh xỈ SŨn Tiỏn
xỈ SŨn Phóc xỈ SŨn Bững
xỈ SŨn Mai xỈ SŨn Phó xỈ SŨn Trung
xỈ SŨn Tr−êng
xỈ SŨn Diơm
xỈ SŨn HÌm T.t.p hè chờu
xỈ SŨn Giang xỈ SŨn Quang
xỈ SŨn Lưnh
xỈ SŨn Tờy
xỈ SŨn Kim 2
xỈ SŨn Lờm xỈ SŨn Hạng
Phờn hơ tđng d−ắi DÌy hŨn 1000m
Phờn hơ tđng trởn DÌy 900-1000m Phờn hơ tđng giƠa DÌy hŨn 1000m
Pha 1: granit dÓng porphyr
ớơ tụ khỡng p hờn chia (ap , a, dp) Holocen th−îng (a, m, mv ) DÌy 2-22m
Pha 1: granodioirt, granit biotit, granit hai mica
Hơ tđng Yởn Mü (a,m) DÌy 5-30m aQỖ Ỗ ốđ
ũèTẵ ễđẳ Phục hơ Sỡng MỈ
Hơ tđng ớạng Trđu Tẵa Ởịẵ
Tẵa Ởịẳ
Phục hơ Tr−êng SŨn ũaCẳ ịễẳ
Hơ tđng Huăi NhẺ DÌy 950-1050m Sẵ-Dẳ Âẻ
ớ−êng ph−Ũng v Ì gãc dèc cĐa lắp (a), cĐa mật phờn p hiỏn (b)
Phờn hơ tđng trởn: DÌy 700-800m Phờn hơ tđng d−ắi DÌy 250-950m
ớụt gỈy sờu phờn ợắi:
aQỖ ý Ỳ Holocen trung (a, m, mb, am) DÌy 5-40m Ranh giắi ợẺa chÊt khỡng chừnh hîp:
a- XĨc ợẺnh, b- Dù ợoĨn
ớụt gỈy nghẺch
a- ớắi tiỏp xóc nhiơt, b- ThÓch anh hãa Granit hai mica
Ranh giắi ợẺa chÊt:
a- XĨc ợẺnh, b- Dù ợoĨn
ớụt gỈy : a- XĨc ợẺnh, b- Dù ợoĨn
2 0 b b
+ ++ +
a a b a a b b b a a
Chừ dÉn
Trang 26- Phần giữa: chủ yếu là đá phiến sericit, thạch anh sericit, màu xám đen xen kẹp
ít cát kết dạng quarzit Bề dày 100-150m
- Phần trên: chủ yếu là cát kết dạng quarzit hạt nhỏ, xen kẹp ít đá phiến sericit
với bề dày 400-500m
Phân hệ tầng giữa (O3-S1sc 2) phân hệ tầng có thể chia làm 3 phần:
- Phần dưới gồm đá phiến sericit màu xám đen, xám xanh lục, đá phiến sét vôi, xen kẹp ít lớp đá cát kết hạt nhỏ Bề dày 250-300m
- Phần giữa: gồm đá phiến thạch anh sericit màu xám sẫm cấu tạo sọc dải, xen ít lớp cát bột kết màu xám loang lổ Bề dày 600-710m
- Phần trên: chủ yếu là đá phiến sét vôi phân lớp mỏng, ít cát kết hạt nhỏ chứa vôi Bề dày 250-300m
- Bề dày chung của phân hệ tầng giữa đạt tới 1100 - 1410m
- Phần giữa chủ yếu là đá phiến sericit màu xám đến xám nhạt Bề dày 280m
- Phần trên: chủ yếu là cát kết hạt nhỏ màu xám vàng, đá phân lớp mỏng, xen kẽ với đá phiến thạch anh sericit Bề dày 400m
Tổng bề dày của hệ tầng đạt 950 – 1050m
Các thành tạo trầm tích lục nguyên của hệ tầng Đồng Trầu chiếm diện tích không lớn, phân bố chủ yếu ở phía Đông Bắc và Đông Nam của vùng nghiên cứu với bề dày chung của hệ tầng là 1620-1720m Bao gồm 2 phân hệ tầng trên và dưới
Phân hệ tầng dưới (T2ađt1):
Phân bố ở ở khu vực Sơn Bình, Sơn Thịnh, Sơn Tiến, giáp gianh với tỉnh Nghệ
An, được phân chia thành 2 phần:
- Phần dưới: gồm phun trào ryolit đến dacit, cấu tạo dạng khối đến dạng ép phiến, ít thấu kính cuội kết tuf (aglomerat), sạn kết tuf, cát kết tuf Bề dày 450-500m
- Phần trên gồm các loại đá tuf (cuội kết tuf, dăm kết tuf, cát sạn kết tuf) Bề dày 450-500 m Có nơi bột kết tuf bị biến đổi nhiệt dịch cho sản phẩm giàu sericit (đá sericit) Bề dày của phân hệ tầng dưới 900-1000m
Phân hệ tầng trên (T ađt2)
Trang 27Lộ thành các dải hẹp ở Sơn Châu, Sơn Tiến và được chia thành 3 phần:
- Phần dưới: gồm cát kết, bột kết, xen đá phiến sét màu xám nhạt, xám lục, phong hoá cho màu xám tím, xám vàng loang lổ Bề dày 160m
- Phần giữa gồm đá phiến sét đen xen kẹp bột kết Bề dày 260m
- Phần trên: gồm cát kết hạt lớn đến vừa xen kẹp bột kết và đá phiến sét Bề dày 300m Bề dày chung của phân hệ tầng trên 720m
Các trầm tích nguồn gốc sông, hệ tầng Yên Mỹ trong vùng Hương Sơn xuất lộ dưới dạng các chỏm nhỏ ở khu vực xã Sơn Bằng, Sơn Phú, Sơn Châu Các thành tạo trầm tích bở rời này đóng vai trò tạo nên thềm sông bậc II của sông Ngàn Sâu, ở độ cao trung bình 20-25m Thành phần chủ yếu là sỏi sạn, cát bột sét màu loang lổ đỏ vàng Dày 5-30m
Mặt cắt trầm tích của hệ tầng được quan sát tại các vết lộ tự nhiên hoặc trong một
số giếng nước ăn của dân trong khu vực Mặt cắt bao gồm 2 phần:
- Phần dưới: sạn, cát, sỏi thạch anh và ít mảnh dăm đá khác Sạn, sỏi có kích thước từ một vài milimet đến 1 cm, có độ mài tròn và chọn lọc khá tốt, phủ trực tiếp trên bề mặt đá gốc
- Phần trên: sét, bột có độ nén chặt mạnh, màu vàng, nâu đỏ, xám vàng phớt tím, loang lổ, bị laterit hóa mạnh; đôi nơi tạo kết vón laterit sắt trên bề mặt địa hình
Các thành tạo trầm tích bở rời đệ tứ tầng Holocen trung phân bố chủ yếu dọc theo sông Ngàn Phố trên địa bàn các xã Sơn Phúc, Sơn Hà, Sơn Bình, Sơn Trà, Sơn
Mỹ, Sơn Tân, vv với độ cao 1-5m so với mặt nước hiện tại Đặc trưng cho trầm tích này là phần dưới gồm cuội, sạn, cát màu xám nhạt, cuội có độ lựa chọn và mài tròn từ trung bình đến khá tốt, thành phần đa khoáng Phần trên gồm bột sét lẫn ít cát sạn màu xám, cát pha, sét pha Bề dày thay đổi rất lớn, từ 4m tới trên 30m
Theo chiều nằm ngang, phần dưới và gần với giữa thung lũng tập trung hạt thô có
độ dày và kích thước giảm dần theo chiều dòng chảy, phần trên hạt mịn có bề dày và
độ hạt tương đối ổn định với chiều dài hàng chục kilomet Theo chiều thẳng đứng, cấp
độ hạt giảm rất nhanh lên phía trên, ở một số nơi ven rìa đồng bằng là lớp sét bột màu xám dày đến vài mét
Trầm tích sông thường phủ lên bề mặt bào mòn của đá gốc Quan hệ giữa trầm tích này với trầm tích Pleistocen trung thượng (thềm II) không rõ ràng, chỉ quan sát được bằng đặc điểm địa hình, độ cao và mức độ phong hoá trên bề mặt của chúng
Trang 28Thành tạo holocen thượng có diện tích phân bố không lớn, phát triển dọc theo sông Ngàn Phố và các suối nhánh Trầm tích gồm tướng lòng và tướng bãi bồi
Tướng lòng sông chủ yếu là trầm tích hạt thô, cuội, sỏi, tảng và cát Độ chọn lọc
và mài tròn từ kém đến trung bình, thành phần đa khoáng Ở phần thượng nguồn, trầm tích chủ yếu là hạt thô với chiều dày không lớn và giảm dần về phía hạ lưu Bề dày 0,5-3m
Tướng bãi bồi có thành phần gồm cát, bột lẫn ít sét màu xám Cát có độ hạt từ mịn đến thô, sét bột màu vàng, xám nâu Thành phần cát chủ yếu là thạch anh, độ mài tròn kém đến trung bình Bề dày 1-10m
Trầm tích sông là trầm tích trẻ nhất ở các thung lũng và luôn được bồi đắp thêm vào mùa lũ
Đệ tứ không phân chia (Q)
Qua khảo sát thực thế có thể khảng định, thành tạo đệ tứ không phân chia phân
bố rộng rãi quanh chân đồi núi trong vùng nghiên cứu Tuy nhiên, các tài liệu thu thập chưa thể hiện được điều này Sơ bộ có thể đánh giá, thành phần của thành tạo địa chất này chủ yếu là tảng, sỏi, sạn, cát, sét, bột với bề dày chưa xác định Thành phần trầm tích phụ thuộc vào nguồn cung cấp vật liệu trên sườn, nhiều điểm có thành phần đa khoáng
Ba, Be, Cu, V, Ti và Mn Kết quả phân tích trên biểu đồ thạch hóa cho phép nhận định
đá giàu sắt và magie, đồng thời giầu kiềm và nghèo alumosilicat Theo nhận định của tập thể tác giả tờ bản đồ địa chất Hà Tĩnh – Kỳ Anh năm 1983, khối granit này không
có triển vọng về khoáng sản kim loại, chỉ có tiềm năng khai thác vật liệu xây dựng và
đá ốp lát
*Huyện Hương Sơn
Thuộc phức hệ này trên địa bàn Hương Sơn có khối Trường Sơn (Kim cương) chính là khối chuẩn của phức hệ
Trang 29Khối Trường Sơn nằm cách Phố Châu 13 km về phía Tây Nam, có diện lộ khoảng 600 km2, dạng kéo dài theo phương TB- ĐN Khối có hai pha xâm nhập:
- Pha 1 (γaC1ts 1) gồm các đá ganodiorit, granit biotit, ít granit 2 mica và diorit
thạch anh
- Pha 2 (γaC1ts 2) gồm các đá mạch aplit và pegmatit, có quan hệ xuyên cắt các đá
pha 1 và cả đá trầm tích vây quanh khối Trường Sơn
Granit khối Trường Sơn có quan hệ xuyên cắt gây biến chất nhiệt (sừng hoá) các
đá trầm tích thuộc hệ tầng Sông Cả (O3-S1sc), Huổi Nhị (S2-D1hn) và Rào Chan (D1rc)
Tạo nên đá sừng tướng muscovit
Trên phạm vi huyện Hương Sơn, các thành tạo của phức hệ Sông Mã xuất lộ dưới dạng các thể nhỏ ở Sơn Thủy, Sơn Lâm, Sơn Ninh, vv Về không gian chúng thường có quan hệ với các thành tạo hệ tầng Đồng Trầu (T2ađt) Thành phần thạch học
chủ yếu là granit porphyr, granophyr
I.1.6.4 Đặc điểm cấu trúc
*Huyện Hương Sơn
Về vị trí cấu trúc, khu vực huyện Hương Sơn nằm trong miền uốn nếp Paleozoi trung Việt - Lào thuộc hai đới cấu trúc Hoành Sơn và Sông Cả mà ranh giới giữa hai đới là hệ thống đứt gãy Rào Nậy Sơ bộ đặc điểm kiến trúc cấu tạo được mô tả như sau:
a Đới Hoành Sơn: chiếm diện tích phía Đông Bắc đứt gãy Rào Nậy, gồm 2 tổ
hợp thạch kiến tạo như sau:
- Tổ hợp thạch kiến tạo Paleozoi hạ - trung: lộ thành các dải liên tục, bao gồm các thành tạo trầm tích lục nguyên dạng nhịp, tướng biển sâu vừa Bề dày 2552m - 3260m, thuộc hệ tầng Sông Cả (O3-S1sc) Do bị các đứt gãy cùng với hoạt động
magma xâm nhập và phun trào trẻ hơn chia cắt nên các nếp uốn ít được bảo tồn
- Tổ hợp thạch kiến tạo Mesozoi hạ gồm các thành tạo lục nguyên phun trào hệ tầng Đồng Trầu (T2ađt), dày 1400m và được một số tác giả xếp vào bối cảnh hình
thành kiểu rift nội lục
- Tổ hợp thạch kiến tạo nêu trên được hình thành trong bối cảnh bồn trũng lục địa sau rift nội lục
b Đới Sông Cả: chiếm diện lộ phía Tây Nam đứt gãy Rào Nậy, gồm các tổ hợp
thạch kiến tạo như sau:
- Tổ hợp thạch kiến tạo Paleozoi hạ -trung, lộ thành các dải kéo dài từ Cửa Rào –Rào Vàng đến ranh giới TN Hương Sơn, bao gồm các thành tạo lục nguyên dạng nhịp tướng biển khá sâu thuộc hệ tầng Sông Cả (O3-S1sc) Bề dày tổng cộng 4000m
Trang 30Các đá thuộc tổ hợp này bị uốn nếp mạnh mẽ tạo nên các nếp uốn phương TB- ĐN, trên bình đồ hiện tại còn các nếp lõm Rú Vạc, Rào Vàng, Rào Trâm và nếp lồi Kim Cương, hầu hết mặt trục các nếp uốn đều nghiêng về phía Tây Nam với góc dốc 80-
85o
- Tổ hợp thạch kiến tạo nêu trên tương đối bình ổn về bề dày và thành phần mặt cắt, không kèm theo hoạt động magma, chúng phản ánh điều kiện hình thành kiểu bối cảnh rìa lục địa thụ động
- Tổ hợp thạch kiến tạo Paleozoi trong vùng là thành tạo granittoid phức hệ Trường Sơn (γaC1ts)
I.1.6.5 Đặc điểm đứt gãy
*Huyện Hương Sơn
Hệ thống đứt gãy chính trên phạm vi huyện Hương Sơn theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, là sản phẩm của giai đoạn kiến tạo Mesozoi Ngoài ra, còn gặp một số đứt gãy theo phương ĐB-TN và á kinh tuyến, là hệ thống đứt gãy trẻ hơn, phát triển liên quan hoạt động tân kiến tạo
a Hệ thống đứt gãy phương Tây Bắc – Đông Nam
Nhóm đứt gãy Rào Nậy bao gồm đứt gãy chính Rào Nậy và các đứt gãy phân nhánh Rào Mắc, Rào Qua, vv Đứt gãy Rào Nậy chạy dọc theo sông Ngàn Phố, Ngàn Trươi và được hình thành vào đầu Mesozoi (?) Hoạt động của hệ thống đứt gãy này phức tạp và kéo dài, nhưng hầu hết là đứt gãy thuận Riêng đoạn trùng với sông Ngàn Trươi và sông Con là đứt gãy nghịch với mặt trượt đứt gãy rất dốc
Liên quan đến đứt gãy Rào Nậy là các hoạt động magma tuổi Mesozoi trong vùng, được xem là đứt gãy sâu Đới cà nát dập vỡ dọc theo hai bên đứt gãy Rào Nậy từ vài trăm mét đến hàng nghìn mét Các đứt gãy phân nhánh phương TB-ĐN đóng vai trò làm phức tạp hoá các cấu trúc địa chất trong vùng
b Hệ thống đứt gãy Đông Bắc – Tây Nam
Chúng đều là các đứt gãy ngắn, phát triển không liên tục và đều cắt qua hệ thống đứt gãy và cấu trúc phương TB-ĐN, tạo ra các kiểu kiến trúc khối tảng trong vùng nghiên cứu; mặt trượt đứt gãy đều rất dốc (gần như dốc đứng)
c Hệ thống đứt gãy á kinh tuyến:
Các đứt gãy này tập trung chủ yếu ở khu vực Sơn Kim, cắt qua cắt qua hệ thống đứt gãy và cấu trúc phương TB-ĐN và ĐB-TN Dọc theo hệ thống đứt gãy này gặp các
hệ mạch thạch anh sulfur Mỏ thiếc Rú Bình, khu vực Sơn Kim có thể liên quan đến hoạt động của đứt gãy này
I.1.6.6 Khoáng sản
Trang 31Hiện tại chưa có báo cáo tổng hợp đánh giá chi tiết về tài nguyên khoáng sản rắn của huyện Nghi Xuân, nhưng qua tài liệu tham khảo, điều tra đánh giá của nhóm công tác, cho phép nhận định rằng, hầu hết khoáng sản chưa được khai thác, mà chỉ ở dạng phát hiện, thăm dò và điều tra đánh giá cấp tài nguyên và trữ lượng Có thể kể tới một số loại hình khoáng sản của huyện như:
- Titan: Tới nay, nhóm khảo sát chưa tiếp cận được với các nguồn báo cáo đánh giá chi tiết về trữ lượng cũng như chất lượng của sa khoáng titan khu vực Nghi Xuân Tuy nhiên, có thể xem xét sa khoáng khu vực Nghi Xuân trong khuôn khổ mỏ sa khoáng Hà Tĩnh, kéo dài từ Nghi Xuân đến Kỳ Anh với tổng trữ lượng titan khoảng 4,6 triệu tấn, chiếm 1/3 trữ lượng của cả nước Sa khoáng ở đây có thành phần chính là ilmenit, zircone, rutil và monazite (Trần Tính và nnk, 1996) Các nguyên tố phóng xạ như uran (U), thôri (Th) có khả năng thay thế đồng hình cho nguyên tố đất hiếm trong cấu trúc tinh thể của zircon, monazite rất lớn Monazite (Ce,Th)PO4 trong sa khoáng
Hà Tĩnh có chứa hàm lượng Th tới 8 %tl (Nguyễn Ngọc Anh và nnk, 1998) Thành phần khoáng vật mỏ titan ven biển Bình Định cũng tương tự như vậy với Zircon (Zr[SiO4]) có chứa nguyên tố phóng xạ: U2O3 tới 2,2%, UO2 tới 5%, thôri ThO2 tới 7% và Monazit (Ce,La )[PO4] có chứa Th trung bình là 5-10%, cá biệt có mẫu lên đến 28% ThO2 Do vậy, có thể nhận định, bên cạnh titan, nguyên liệu phóng xạ (U,
Th) là một loại hình khoáng sản quan trọng có triển vọng trên địa bàn
- Khoáng sản phi kim loại: Cát sỏi, đá xây dựng, sét gạch ngói là những khoáng
sản phi kim phổ biến trong vùng Tuy nhiên, quy mô khai thác còn hạn chế Mỏ đá xây dựng khu vực Xuân Hồng đang khai thác với công suất nhỏ, diện tích mỏ được cấp phép khai thác cũng rất khiêm tốn chỉ vài ba ha một dự án Công ty cổ phần khai thác
đá Quân khu IV hiện đang điều hành khai thác 1 mỏ đá ở Xuân Hồng với diện tích 5ha, hiện tại đang lập dự án xin thêm một số mỏ khác Một vài công ty khác hiện đang trong giai đoạn xin cấp phép thăm dò, khai thác đất san nền, đá, nhưng cũng đều ở quy
mô nhỏ dăm bảy ha Các mỏ sét gạch ngói nằm tập trung thành dải kéo dài từ Xuân An xuống Xuân Hội Do trữ lượng không lớn, nằm rải rác, nên hầu hết các mỏ sét gạch ngói này được các địa phương tiến hành khai thác quy mô nhỏ Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại, các mỏ sét gạch ngói này hầu như được khai thác hết, thay thế vào đó là các hồ tôm
*Huyện Hương Sơn
Qua tài liệu thu thập và thực tế khảo sát, có thể đánh giá, Hương Sơn không giàu khoáng sản Hiện có một số loại đá phục vụ cho xây dựng, ốp lát như đá granit, đá marble màu đen, trắng xám đang được khai thác Quặng sắt tại xã Sơn Trường – Vũ Quang, quặng sắt Limonit, thiếc tại xã Sơn Kim, than đá tại xã Sơn Thịnh, sericit tại Sơn Bình
Trang 32Do không phải là đề tài thăm dò khảo sát, nên chúng tôi cũng không dám khảng định về tiềm năng, trữ lượng, chất lượng của các loại hình khoáng sản trên địa bàn huyện
I.1.7 Đất
* Huyện Nghi Xuân
Tài nguyên đất của huyện có diện tích tự nhiên là 21.888,35ha Theo kết quả thu thập từ bản đồ đất huyện Nghi Xuân tỷ lệ 1/20.000 và báo cáo quy hoạch sử dụng đất huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2010 và định hướng đến năm 2015, (không tính diện tích đất chuyên dùng, đất ở, sông suối, mặt nước và núi đá) thì huyện Nghi Xuân có các nhóm đất và đơn vị đất chủ yếu như sau:
a Nhóm đất cát: Diện tích 12.743ha (chiếm 58,21% tổng diện tích tự nhiên của
huyện) được tạo thành từ các trầm tích sông, trầm tích biển, các sản phẩm dốc tụ, tích lũy từ sự phá hủy của các đá giàu thạch anh như granít, quarzit, cát kết… lắng đọng ở vùng cửa sông, ven biển tạo thành những bãi bồi cát lớn, nhóm này được phân bố chủ yếu ở các xã dọc theo bờ biển như Xuân Hội, Xuân Phổ, Xuân Yên, Xuân Thành, Cổ Đạm, Xuân Liên, Cương Gián và được phân chia thành 2 đơn vị đất:
+ Đất cồn cát: Diện tích 5.294ha (chiếm 24,1% diện tích tự nhiên), tập trung ở
các xã Xuân Hội, Xuân Phổ, Xuân Yên, Xuân Thành, Cổ Đạm, Xuân Liên, Cương Gián và được hình thành nhờ quá trình bồi tụ của trầm tích biển Loại này có thành phần cơ giới thô, phản ứng chua (pH<4,5), hàm lượng chất hữu cơ và dinh dưỡng thấp (mùn tổng số dưới 1%; đạm tổng số <0,05%; lân và kali <5mg/100g đất), tổng cation tao đổi thấp (CEC<5meq/100g đất) Nhìn chung loại đất này kém phì nhiêu, phù hợp
để phát triển lâm nghiệp
+ Đất cát biển: Diện tích 6.449 ha (chiếm 29,46% diện tích tự nhiên) đó là các
bãi cát, cồn cát ven biển ở các xã Xuân Hội, Xuân Phổ, Xuân Yên, Xuân Thành, Cổ Đạm, Xuân, Xuân Liên, Cương Gián, Xuân Lam, Xuân Hồng được hình thành do quá trình lắng đọng trầm tích biển, thường phân bố ở địa hình thấp hơn và sâu vào đất liền Đất có thành phần cơ giới nhẹ, thường là cát pha, phản ứng chua (pH<5); hàm lượng chất hữu cơ nghèo, thường dưới 1%; hàm lượng đạm, lân, kali tổng số đều rất nghèo (dao động 0,03 – 0,05%), lân dễ tiêu rất nghèo (<5mg/100 đất), kali dễ tiêu trung bình (10-14mg/100g đất), dung tích hấp thu thấp (<10meq/100g đất) Loại đất này nếu được cải tạo có thể sử dụng để trồng lúa hoặc một số cây hoa màu ngắn ngày như đậu, lạc, khoai lang
b Nhóm đất mặn: Diện tích 250 ha (chiếm 1,14% diện tích tự nhiên), nằm xen
với đất phù sa ở vùng ven sông gần cửu Hội, chủ yếu nằm trên địa bàn các xã Xuân Hội, Xuân Trường, Xuân Đan, Xuân Phổ,… Được hình thành do phù sa sông lắng đọng trong môi trường nước mặn, nước lợ hoặc bị nhiễm mặn do ngập nước mặn, ngập thủy triều Nhóm này gồm có 2 đơn vị đất:
Trang 33+ Đất mặn nhiều: Diện tích không nhiều (150 ha), phân bố ở ven sông Lam sát
của Hội thuộc địa bàn xã Xuân Hội, Xuân Trường và xã Cương Gián Đất thường bị ngập bởi thủy triều biển, hàm lượng muối tan trên 1%, hàm lượng Clo trên 0,25% Đất
có thành phần cơ giới nặng, do tác dụng của ion Na+ nên đất thường phân tán, không kết cấu, rất dẻo dính khi ngập nước, bị nứt nẻ khi khô; phản ứng trung tính hoặc ít chua (pH = 7); hàm lượng chất hữu cơ khá cao (mùn thường trên 2%), đạm tổng số từ 0,1 – 0,15%, lân tổng số nghèo (dao động từ 0,05 – 0,08%), kali tổng số nghèo (<0,5%); lân dễ tiêu rất nghèo (<5mg/100g đất), kali dễ tiêu từ trung bình đến khá (10-20mg/100g đất); tổng cation kiềm trao đổi trung bình từ 3-6 meq/100g đất Loại đất này chỉ phù hợp cho trồng rừng ngập mặn (sú, vẹt, đước, bần) hoặc nuôi trồng hải sản
+ Đất mặn ít: Diện tích 100 ha, phân bố tập trung tại khu vực trong đê của một
số xã ven sông Lam (Xuân Hội, Xuân Giang, Xuân Hồng) Tuy không bị ảnh hưởng trực tiếp của thủy triều biển nhưng do nhiễm mặn lịch sử trước đây hoặc do thấm mặn qua mạch nước dưới đất trong các trận triều cường nên một số lượng muối nhỏ được tích lũy trong đất, hàm lượng muối tan thường dưới 0,25%, hàm lượng Clo từ 0,05 – 0,15%
Nhìn chung đất có thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến thịt trung bình, phản ứng chua (pH: 4 – 5,5); hàm lượng mùn từ 1- 2%, đạm tổng số nghèo từ 0,05 – 0,1%, lân tổng số cũng nghèo (dao động từ 0,05 – 0,1%), kali tổng số nghèo từ 10 -15 meq/100g đất; tổng cation kiềm trao đổi ở mức trung bình, từ 10 -15 meq/100g đất
c Nhóm đất phèn mặn (Đất phèn ít và trung bình mặn ít): Diện tích 1.218 ha,
chiếm 5,56% diện tích tự nhiên, phân bố thành dải phù sa gần Cửa Hội, tập trung chủ yếu tại các xã Xuân Hội, Xuân Trường, Xuân Đan và Xuân Phổ, Xuân Giang
Đất có thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến trung bình, phản ứng chua mạnh (pH: 3,5 – 4,5); hàm lượng mùn từ 1,5 – 2,5%, đạm tổng số từ 0,13 – 0,25%, lân tổng số cũng thường nhỏ hơn 0,05% Trong thành phần muối, tỷ lệ SO4-2 và Cl- thường xấp xỉ bằng nhau
d Nhóm đất phù sa: Diện tích 2.607 ha (chiếm 11,91% diện tích tự nhiên)
phân bố tập trung ở địa hình vùng đồng bằng, được tạo thành chủ yếu do quá trình lắng đọng phù sa sông Lam và các khe suối ven núi Hồng Lĩnh Đất có màu nâu tươi, các vật liệu phù sa còn được bổ sung bởi các sản phẩm dốc tụ hay lũ tích nên đặc điểm chung của nhóm đất này là khá bằng phẳng, ở thượng nguồn phần lớn có thành phần
cơ giới nhẹ, càng xuống hạ lưu thành phần cơ giới càng nặng dần Căn cứ vào mức độ bồi đắp hàm năm, mức độ glây nông hay sâu, độ nhiễm mặn và thành phần cơ giới của lớp đất mặt, nhóm đất phù sa được chia làm các loại như sau:
+ Đất phù sa sông Lam được bồi lắng hàng năm: Diện tích 1.720 ha (chiếm
7,86% diện tích tự nhiên) phân bố chủ yếu ở các xã: Xuân Hồng, Xuân Lam, T.T Xuân
An Đất được tạo thành chủ yếu do qúa trình lắng đọng phù sa của sông Lam Đất chua
Trang 34pH = 4,5 – 5,8 Hàm lượng muối trung bình (1 -2%), lân và kali trung bình đến nghèo, cation trao đổi thấp Nhìn chung đất phù sa sông Lam có hàm lượng dinh dưỡng không cao Tuy nhiên, đây là loại đất quan trọng nhất trong sản xuất nông nghiệp của huyện Nghi Xuân Hướng sử dụng đối với loại đất này là làm tốt công tác thủy lợi để đảm bảo gieo trồng 2 vụ lúa, kết hợp với sử dụng giống mới và đầu tư thêm công chăm sóc
để nâng cao năng suất lúa
+ Đất phù sa úng nước: Diện tích 478 ha (chiếm 2,18% diện tích tự nhiên)
phân bố tập trung ở ven chân núi Hồng Lĩnh thuộc các xã Xuân Viên, Xuân Mỹ, Cổ Đạm Hình thành ở địa hình thấp, trũng, bị ngập nước thường xuyên nên quá trình yểm khí phát triển, đất có màu xanh hoặc xám đen, nhão Do bị ngập nước nên kết cấu đất thường bị phá vỡ, thành phần cơ giới thịt trung bình đến thịt nặng Chất hữu cơ khá giàu thích hợp cho việc phát triển các loại cây trồng nhất là lúa
+ Đất phù sa suối: Diện tích 409 ha (chiếm 1,87% diện tích tự nhiên) phân bố
tập trung ven chân núi Hồng Lĩnh thuộc xã Xuân Lĩnh, Xuân Liên, Xuân hoa, Xuân Song Đất được hình thành từ sản phẩm trầm tích của các suối nhỏ chảy trong những thung lũng của dãy núi Hồng Lĩnh Đất có thành phần cơ giới nhẹ, lẫn nhiều sỏi sạn thạch anh, đất chua pH<4,5; hàm lượng dinh dưỡng từ trung bình đến nghèo Đất thích hợp trồng lúa và màu, nơi có điều kiện tưới tiêu thuận lợi có thể bố trí trồng 2 vụ lúa
e Nhóm đất dốc tụ: Diện tích 459,35 ha (chiếm 2,1% diện tích tự nhiên), phân
bố tập trung ở Xuân Liên, Xuân hoa, Xuân Song và Xuân Lĩnh Đất thường có màu xám sáng , có thể lẫn màu đen nâu của mùn thô, độ dày lớp dốc tụ thường thay đổi từ
60 – 150cm Tuy ở sườn dốc nhưng đất vẫn chứa một lượng nước đáng kể do nước từ trong núi chảy ra nên vẫn được sử dụng để trồng lúa Những vùng sát chân núi được trồng khoai, sắn, vừng… đất chua, thô và nghèo dinh dưỡng nên vẫn còn diện tích bị
bỏ hoang hóa
f Nhóm đất xám bạc màu: Diện tích 613 ha (chiếm 2,8% diện tích tự nhiên)
phân bố chủ yếu thuộc địa bàn các xã Xuân Song, Xuân Viên, Xuân Hồng Được hình thành trên sản phẩm phong hóa của đá granit, trong quá trình sử dụng do không được cải tạo và tưới nước thường xuyên làm cho đất rời rạc, khô, thành phần cơ giới nhẹ, kém bền vững, khả năng giữ nước kém, hàm lượng mùn nghèo (<1,5%), đạm và lân tổng số thấp Đất chua pH <4,5 Một số nơi đã xuất hiện kết von Nhìn chung độ phì nhiêu của đất này thấp Hiện nay một phần diện tích đã được sử dụng trồng hoa màu lương thực (khoai, sắn) nhưng năng suất thấp
g Nhóm đất đỏ vàng trên granit: Diện tích 1.324 ha (chiếm 6,05% diện tích tự
nhiên), phân bố tập trung trên núi Hồng Lĩnh ở độ cao trên 300m Đất được hình thành trên đá granit nên thành phần cơ giới nhẹ, chua, hàm lượng mùn nghèo, hàm lượng cation trap đổi thấp Đất đỏ vàng trong vùng có tầng dày >70cm Tuy nhiên do địa hình cao dốc (>25%) nên rất khó khăn cho sản xuất nông nghiệp Hướng sử dụng
Trang 35chính của loại đất này là trồng rừng kết hợp với chăn nuôi gia súc theo mô hình nông lâm kết hợp
h Nhóm đất xói mòn trơ sỏi đá: Diện tích 3.674 ha (chiếm 16,79% diện tích tự
nhiên), phân bố ven sườn núi Hồng Lĩnh ở độ cao 100-300m Đất được hình thành ở địa hình dốc, thảm thực vật bị phá hủy nên xói mòn mạnh, đá lộ trên mặt Tầng đất rất mỏng, kết von, đá lẫn, đá lộ đầu nên có thể trồng lại rừng ở những nơi thuận lợi
* Huyện Hương Sơn
Theo báo cáo quy hoạch sử dụng đất huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh đến năm
2010 và định hướng đến năm 2015, Hương Sơn có 6 nhóm đất với 14 loại đất với quy
mô diện tích và phân bố như sau:
a- Nhóm đất phù sa: Nhóm đất có diện tích 11.775,31 ha chiếm 10,67% diện
tích tự nhiên Nhóm đất này phân bố tập trung ở địa hình tương đối bằng phẳng được tạo thành chủ yếu do quá trình lắng đọng phù sa của sông Ngàn Phố và trong các thung lũng lớn Đất có màu nâu tươi hoặc nâu xám, các vật liệu phù sa còn được bổ sung bởi các sản phẩm dốc tụ hay lũ tích nên đặc điểm chung của nhóm đất này là khá bằng phẳng,
ở thượng nguồn phần lớn có thành phần cơ giới nhẹ, càng xuống hạ lưu thành phần cơ giới càng nặng dần Trên địa bàn có 4 đơn vị đất, như sau:
+ Đất phù sa được bồi hàng năm (Pb): Phân bố ở ngoài đê hoặc ở địa hình
thấp ven các sông lớn, hàng năm được bồi đắp thêm một lượng phù sa đáng kể nên đất luôn luôn trẻ và màu mỡ Loại đất này có ở các xã: Sơn Châu, Sơn Hà, Sơn Long, Sơn Tân, Sơn Mỹ, Sơn Ninh, Sơn Thịnh, Sơn Hoà, Sơn An, Sơn Tiến, Sơn Trung, Sơn Bằng, Sơn Thuỷ, Sơn Kim 1, Sơn Kim 2, Sơn Tây, Sơn Giang và thị trấn Phố Châu
Đất phù sa được bồi hàng năm có thành phần cơ giới ít biến động giữa các tầng, thường là thịt nhẹ và trung bình Phản ứng của đất chua (pHKCL: 4,15 - 4,80) Hàm lượng hữu cơ ở các tầng đều nghèo: 0,82 - 0,92% Đạm tổng số nghèo 0,056 - 0,093% Lân và Kali tổng số trung bình (tương ứng 0,071 - 0,082% và 1,02mg/100g đất) Tổng cation kiềm trao đổi thấp: 8,70 - 9,20lđl/100g đất Dung tích hấp thu (CEC: 4,20 - 6,85 lđl/100g đất)
+ Đất phù sa không được bồi (P): Đất phù sa không được bồi hàng năm không bị
ảnh hưởng ngập lụt của sông Đa số loại đất này phân bố dọc theo các sông lớn nằm ở địa hình vàn và vàn cao, thoát nước tốt Loại đất này có ở các xã: Sơn Châu, Sơn Bình, Sơn
Hà, Sơn Trà, Sơn Long, Sơn Tân, Sơn Mỹ, Sơn Ninh, Sơn Thịnh, Sơn An, Sơn Lễ, Sơn Tiến, Sơn Diệm, Sơn Trung, Sơn Phú, Sơn Bằng, Sơn Phúc, Sơn Kim 1, Sơn Kim 2, Sơn Tây, Sơn Lĩnh, Sơn Lâm, Sơn Quang, Sơn Giang, thị trấn Tây Sơn và thị trấn Phố Châu Đất phù sa không được bồi có thành phần cơ giới trung bình, phản ứng chua (pHKCL: 4,61
- 4,74) Hàm lượng hữu cơ ở tầng mặt trung bình: 1,32%, các tầng dưới nghèo Đạm tổng
số trung bình ở tầng mặt: 0,112%, các tầng dưới nghèo Lân tổng số giàu: 0,158% Kali tổng số trung bình: 1,01% Lân và Kali dễ tiêu đều nghèo (tương ứng 4,7 mg/100g đất và
Trang 369,3 mg/100g đất) Tổng cation kiềm trao đổi thấp: 6,10 lđl/100g đất Dung tích hấp thu trung bình (CEC: 12,25 lđl/100g đất)
+ Đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng (Pf): Phân bố ở địa hình vàn cao và cao,
thoát nước tốt Đây là loại đất thường chịu sự tác động thay đổi định kỳ của 2 mùa nóng
ẩm và khô lạnh nên trong phẫu diện thường có tầng đất loang lổ màu đỏ vàng khá đặc trưng Loại đất này có ở các xã: Sơn Lễ, Sơn Tiến Đất có thành phần cơ giới thịt nhẹ, phản ứng đất chua (pHKCL: 4,09 - 4,58) Hàm lượng hữu cơ ở các tầng đều nghèo: 0,17 - 0,57% Đạm tổng số nghèo: 0,056% Lân và Kali tổng số cũng nghèo (tương ứng 0,051% và 0,84%) Lân dễ tiêu trung bình: 5,80 mg/100g đất Kali dễ tiêu nghèo: 4,70 mg/100g đất Tổng cation kiềm trao đổi thấp: 4,60 lđl/100g đất Dung tích hấp thu thấp (CEC: 5,76 lđl/100g đất)
+ Đất phù sa ngòi suối (Py): Đất hình thành ven các con suối lớn ở miền núi
tạo nên dải đất hẹp chạy dọc hai bên suối Đất này thường có sản phẩm thô và luôn chịu ảnh hưởng của lũ hàng năm Phân bố ở các xã Sơn Hoà, Sơn Diệm, Sơn Hàm, Sơn Trường, Sơn Phú, Sơn Bằng, Sơn Phúc, Sơn Mai, Sơn Thuỷ, Sơn Kim 1, Sơn Kim
2, Sơn Tây, Sơn Lĩnh, Sơn Hồng và Sơn Lâm Đất có phản ứng chua (pH KCl 3,84 - 4,58), thành phần cơ giới trung bình, hàm lượng hữu cơ ở tầng mặt nghèo: 0,80% Đạm
tổng số nghèo: 0,084% Lân tổng số giàu: 0,121%/ Kali tổng số trung bình:1,08% Lân
dễ tiêu trung bình: 5,0 mg/100g đất Kali dễ tiêu nghèo: 4,4 mg/100g đất Tổng cation kiềm trao đổi thấp: 6,10 lđl/100g đất Dung tích hấp thu thấp (CEC: 8,32 lđl/100g đất)
b- Đất xám bạc màu trên đá cát (Bq): Chủ yếu ở địa hình ven chân đồi hoặc
nơi địa hình cao và dốc thuộc địa bàn các xã Sơn Kim 1, Sơn Kim 2, Sơn Hồng, Sơn Thịnh, Sơn Hoà, Sơn Tiến với diện tích 552,10 ha Đất bị xói mòn rửa trôi ở tầng mặt
và trở nên bạc màu Đất có thành phần cơ giới nhẹ, màu xám trắng, rời rạc mất kết cấu,
chặt bí, gia tăng tỷ lệ cấp hạt sét ở các tầng tiếp theo Đất có phản ứng chua ( pHKCl 3,83
- 4,45 ); hàm lượng hữu cơ tầng mặt trung bình: 1,44% Đạm tổng số trung bình:
0,123% Lân tổng số nghèo: 0,058% Kali tổng số trung bình: 1,08% Lân dễ tiêu nghèo 4,10 mg/100g đất Kali dễ tiêu trung bình: 16,90 mg/100g đất Tổng cation kiềm trao đổi thấp Dung tích hấp thu (CEC: 7,98 lđl/100g đất)
c- Nhóm đất đỏ vàng (F): Có diện tích 80.133,91 ha, chiếm 72,64% diện tích
tự nhiên Căn cứ vào đặc điểm nguồn gốc hình thành, mức độ của quá trình feralic nhóm đất này được chia làm 3 đơn vị đất, như sau:
+ Đất đỏ vàng phát triển trên đá sét và biến chất (Fs): Đất đỏ vàng trên đá sét
và biến chất được hình thành và phát triển chủ yếu ở địa hình chia cắt, dốc nhiều Phần lớn diện tích loại đất này có tầng dầy > 50 cm Hình thái phẫu diện có 3 tầng ABC rõ ràng Đất có thành phần cơ giới từ trung bình đến nặng, kết cấu khá bền vững Loại đất này phân bố ở các xã: Sơn Châu, Sơn Bình, Sơn Ninh, Sơn An, Sơn Lễ, Sơn Tiến, Sơn Diệm, Sơn Hàm, Sơn Trường, Sơn Trung, Sơn Phú, Sơn Bằng, Sơn Phúc, Sơn Mai,
Trang 37Sơn Thuỷ, Sơn Kim 1, Sơn Kim 2, Sơn Tây, Sơn Lĩnh, Sơn Hồng, Sơn Lâm, Sơn Quang, Sơn Giang, Thị trấn Tây Sơn và thị trấn Phố Châu
Đất đỏ vàng trên đá sét và biến chất có cấu trúc khá Mức độ phong hoá từ trung bình đến mạnh và có xu hướng giảm dần theo độ cao
Số liệu phân tích các phẫu diện đất đỏ vàng dưới tán rừng và cây lâu năm cho thấy:
- Đất có phản ứng chua đến ít chua (pHKCL: 4,72 - 5,05) Cation kiềm trao đổi
và dung tích hấp thu thấp (tương ứng 7,70 lđl/100g đất và < 9,00 lđl/100g đất)
- Hàm lượng hữu cơ ở tầng mặt đạt từ trung bình đến khá (2,47 - 4,08%), xuống sâu hàm lượng mùn giảm dần
- Đạm tổng số từ trung bình đến khá (0,169 - 0,263%) và giảm nhanh xuống các tầng dưới
- Kali tổng số và dễ tiêu trung bình (tương ứng 1,29 - 2,22% và 9,70 18,60 mg/100g đất)
- Lân tổng số và dễ tiêu đều nghèo (tương ứng 0,06 - 0,08% và 4,30 - 8,20 mg/100g đất)
- Trên các vùng đất chưa sử dụng (đất trống đồi núi trọc) và đất canh tác nương rẫy du canh, quá trình rửa trôi, xói mòn và thoái hoá diễn ra mạnh, cho thấy:
- Đất có phản ứng chua (pHKCL: 3,35 - 4,25) Cation kiềm trao đổi và dung tích hấp thu thấp (tương ứng < 5 lđl/100g đất và < 6,20 lđl/100g đất)
- Hàm lượng hữu cơ ở tầng mặt từ nghèo đến trung bình: 0,89 - 1,56%
- Đạm tổng số trong đất ở tầng mặt từ trung bình đến khá (0,134 - 0,205%), xuống các tầng dưới giảm nhanh
- Lân tổng số và dễ tiêu đều nghèo (tương ứng 0,04 - 0,06% và 3,20 - 5,70 mg/100g đất)
- Kali tổng số và dễ tiêu đều nghèo (tương ứng 0,33 - 2,06% và 3,50 - 6,30 mg/100g đất)
+ Đất đỏ vàng trên đá magma axit (Fa): Hình thành trên địa hình đồi núi
tương đối dốc, đá mẹ chủ yếu là granit có màu xám hồng, khi phong hóa cho ra tầng đất trung bình có màu vàng đỏ chủ đạo Đa số đất có tầng dầy trung bình 50 - 70 cm Loại đất này phân bố ở các xã: Sơn Diệm, Sơn Hàm, Sơn Kim 1, Sơn Kim 2, Sơn Lĩnh
và Sơn Quang Đất có thành phần cơ giới nhẹ và rất chua (pHKCL: 3,88 - 4,18) Hàm lượng hữu cơ ở tầng mặt nghèo: 0,86% Đạm tổng số nghèo: 0,084% Lân tổng số trung bình: 0,057% Kali tổng số nghèo: 0,49% Lân và kali dễ tiêu đều nghèo (tương ứng 3,20 mg/100g đất và 6,10 mg/100g đất) Dung tích hấp thu thấp (CEC: 4,53 lđl/100g đất)
Trang 38+ Đất vàng nhạt trên đá cát (Fq): Đất vàng nhạt có đặc điểm chung là: Đất
thường nằm ở địa hình chia cắt, dốc nhiều, tầng đất mỏng Loại đất này phân bố ở các xã: Sơn Bình, Sơn Trà, Sơn Long, Sơn Lễ, Sơn Tiến, Sơn Hàm, Sơn Thuỷ và Sơn Tây Đất có thành phần cơ giới nhẹ, chua (pHKCL: 3,88 - 4,22) Hàm lượng hữu cơ tầng mặt trung bình: 1,55% Đạm và lân tổng số trung bình (tương ứng 0,117% và 0,056%) Kali tổng số nghèo: 0,56% Lân và kali dễ tiêu đều từ nghèo đến trung bình (tương ứng 6,80 mg/100g đất và 12,60 mg/100g đất) Tổng cation kiềm trao đổi thấp: 3,00 lđl/100g đất Dung tích hấp thu thấp (CEC: 6,32 lđl/100g đất)
d Đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ - D): Có diện tích 519,94 ha, chiếm
0,47% diện tích tự nhiên, hình thành ở địa hình thung lũng, nhưng có đặc điểm rất đa dạng, phụ thuộc nhiều vào từng khu vực và từng sản phẩm của mẫu chất, đá mẹ tạo nên Loại đất này phân bố ở các xã: Sơn Châu, Sơn Thịnh, Sơn Tiến, Sơn Mai, Sơn Thuỷ và Sơn Quang Đất có thành phần cơ giới trung bình, phản ứng chua (pHKCL: 3,68 - 4,17) Hàm lượng hữu cơ tầng mặt trung bình: 1,66% Đạm, lân và kali tổng số trung bình (tương ứng: 0,123%, 0,077% và 1,18%) Lân dễ tiêu nghèo: 3,60 mg/100g đất Kali dễ tiêu trung bình: 10,20 mg/100g đất Tổng cation kiềm trao đổi thấp: 5,10 lđl/100g đất Dung tích hấp thu trung bình (CEC: 11,41 lđl/100g đất)
e - Nhóm đất xói mòn trơ sỏi đá (E): Có diện tích 2.994,67 ha, chiếm 2,71%
diện tích tự nhiên, phân bố ở các xã: Sơn Châu, Sơn Bình, Sơn Trà, Sơn Long, Sơn Tân, Sơn Ninh, Sơn Thịnh, Sơn Hoà, Sơn An, Sơn Tiến, Sơn Diệm, Sơn Hàm, Sơn Thuỷ và thị trấn Phố Châu Đất xói mòn trơ sỏi đá có tầng đất mịn, mỏng (< 30 cm), tầng đất cứng, chặt Nhiều nơi đất nghèo dinh dưỡng, nhất là các chất dễ tiêu Kết quả phân tích các mẫu chất của nhóm đất này cho thấy: Độ phì của tầng đất min có sự biến động lớn, tuỳ thuộc vào điều kiện địa hình, địa chất, độ dốc, lớp phủ thực vật và phương thức canh tác
Nhìn chung đất thường có phản ứng chua (pHKCL: 3,55 - 4,02) Hàm lượng hữu
cơ tầng mặt nghèo: 0,76% Các chất tổng số (đạm, lân, kali) đều nghèo (tương ứng: 0,042%, 0,024% và 0,59%) Các chất dễ tiêu (lân và kali) nghèo (tương ứng 4,02 mg/100g đất và 6,50 mg/100g đất) Tổng cation kiềm trao đổi thấp: 4,68 lđl/100g đất Dung tích hấp thu thấp (CEC: 9,02 lđl/100g đất)
f - Đất mùn vàng đỏ trên núi (H): Có diện tích 2.842,29 ha, chiếm 2,58% diện
tích tự nhiên của huyện Loại đất này được chia thành 2 đơn vị đất sau:
- Đất mùn đỏ vàng trên đá sét và biến chất: Hình thành và phát triển chủ yếu ở địa hình núi trung bình (độ cao > 900 m), dốc nhiều Hình thái phẫu diện đồng nhất, kết cấu khá bền vững Loại đất này phân bố ở các xã: Sơn Kim 1, Sơn Kim 2, Sơn Tây
và Sơn Hồng Đất có thành phần cơ giới nặng, phản ứng đất ít chua (pHKCL: 4,82 - 5,02) Hàm lượng hữu cơ tầng mặt rất giàu: 5,07% Đạm tổng số giàu: 0,402% Lân tổng số trung bình: 0,09% Kali tổng số nghèo: 0,24% Lân và kali dễ tiêu trung bình
Trang 39(tương ứng 5,02 mg/100g đất và 17,00 mg/100g đất) Tổng cation kiềm trao đổi thấp: 5,50 lđl/100g đất Dung tích hấp thu trung bình (CEC: 12,24 lđl/100g đất)
- Đất mùn vàng đỏ trên đá macma axit: Hình thành và phát triển chủ yếu trên đá granit, phân bố ở địa hình núi trung bình, chia cắt mạnh, dốc nhiều Đa số đất có tầng mỏng, thành phần cơ giới nhẹ Loại đất này phân bố ở các xã: Sơn Kim 1 và Sơn Kim
2 Đất có phản ứng chua (pHKCL: 4,72 - 4,95) Hàm lượng hữu cơ tầng mặt rất giàu: 7,76% Đạm và lân tổng số giàu (tương ứng 0,42% và 0,24%) Kali tổng số nghèo: 0,09% Lân dễ tiêu giàu: 17,02 mg/100g đất Kali dễ tiêu nghèo: 5,50 mg/100g đất Tổng cation kiềm trao đổi thấp: 3,90 lđl/100g đất Dung tích hấp thu trung bình (CEC: 12,02 lđl/100g đất)
I.1.8 Sinh vật
Hương Sơn là một huyện có diện tích chủ yếu là đồi núi nên có nguồn tài nguyên về rừng và động thực vật rất phong phú và đa dạng Cả huyện hiện có 83.452,57 ha rừng,chiếm 75,65 % diện tích tự nhiên Ở độ cao 1000m có rừng kiểu á nhiệt đới, độ cao 700- 1000m có rừng kiểu lá rộng thường xanh, từ 300 – 700m có rừng kiểu lá rộng, thường xanh vào mùa mưa.Và có một số loại gỗ quý hiếm, có giá trị kinh tế cao như: Pơ mu, Lim xanh, Vàng tâm…
Mặt khác, trên địa bàn huyện còn có một phần diện tích của vườn quốc gia Vũ Quang với 76% diện tích là rừng tự nhiên gồm nhiều loại gỗ quý (như Hoàng Đàn, Pơ
Mu, Lát Hoa, Lim, Dổi, Trầm Hương ), 465 loài thực vật bậc cao, 70 loài thú trong đó
có nhiều loại quý hiếm như: Sao La, Mang Lớn, Hổ, Voi, Bò Tót và nhiều loại cây dược liệu quý hiếm được tìm thấy
Như vậy, Hương Sơn là huyện có nguồn tài nguyên sinh học vô giá cần được giữ gìn và phát triển phục vụ mục đích kinh tế, nghiên cứu khoa học và tham quan du lịch
I.2 Kinh tế - xã hội
I.2.1 Dân cư
* Huyện Nghi Xuân
Dân số của huyện Nghi Xuân theo số liệu thống kê đến ngày 31/12/2004 là 99.319 người với 23.890 hộ, bao gồm 11.327 nhân khẩu sống ở khu vực đô thị (chiến 11,4%) và 87.992 nhân khẩu sống ở khu vực nông thôn (chiếm 88,6%) Mật độ trung bình là 454 người/km2, cao hơn so với mức bình quân chung của cả tỉnh 210 người/km2 Dân cư của huyện phân bố không đồng đều giữa các khu vực đô thị và nông thôn, cũng như giữa khu vực đồng bằng, ven biển và vùng núi Chủ yếu dân tập trung ở 2 thị trấn Nghi Xuân và Xuân An với mật độ dân số là 873 người/km2, còn ở khu vực nông thôn mật độ bình quân chỉ có 427 người/km2 Đối với vùng đồng bằng
Trang 40và ven biển, mật độ dân tập trung cao hơn, bình quân 487 người, trong khi đó các xã vùng núi mật độ dân số là 189 người/km2
Những năm gần đây, khu du lịch nghỉ mát Xuân Thành thu hút nhiều du khách đến tham quan, nghỉ mát và tắm biển Một bộ phận dân cư của huyện, kể cả ngoài huyện đã di chuyển tới đây để sinh sống và làm ăn bằng nghề dịch vụ Do đó dân số cơ học của khu vực này có sự gia tăng đột biến, gây nhiều xáo trộn trong các vấn đề xã hội
* Huyện Hương Sơn
Huyện Hương Sơn có dân số 125.589 người (theo số liệu thống kê đến ngày 31/12/2004), mật độ trung bình 114 người/km2, thấp hơn so với mức bình quân chung của tỉnh (210 người/km2) Mật độ dân số có sự khác biệt tương đối lớn giữa các vùng trong huyện Ở khu vực đô thị (thị trấn Phố Châu, thị trấn Tây Sơn), mật độ dân số là 1.365 người/km2, trong khi đó khu vực nông thôn bình quân chỉ có 103 người/km2 Đặc biệt vùng Thượng Hương Sơn: 35 người/ Km2 Các xã có mật độ dân số thấp: Sơn Kim 1 có 19 người/km2, Sơn Kim 2 có 20 người/km2, Sơn Hồng 21 người/km2 … Trong những năm gần đây do công tác tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực tham gia chương trình dân số và kế hoạch hóa gia đình cùng với thực hiện các chương trình xóa đói, giảm nghèo, phong trào xây dựng nếp sống mới trong khu dân cư được triển khai rộng khắp nên tỷ lệ phát triển dân số đang có xu hướng giảm dần đến 0,6% năm, bình quân giảm từ 0,8 –0,9%
I.2.2 Kinh tế
* Huyện Nghi Xuân
Công nghiệp: Thống kê 2005 cho thấy trên địa bàn toàn huyện có 2010 cơ sở
sản xuất công nghiệp ngoài quốc doanh và phân bố chủ yếu ở hai nhóm nghành là công nghiệp chế biến với 1809 cơ sở và công nghiệp khai thác có 261 cơ sơ Tuy chưa phát triển nhưng một phần nào đó nó cũng đã giải quyết được một số lượng lao động với mức thu nhập ổn định Huyện đang đầu tư xây dựng khu công nghiệp Gia Lách góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người dân
Trên địa bàn huyện, dọc theo sông Lam từ chân cầu Bến Thuỷ đến thị trấn Nghi Xuân tập trung một số cơ sở sản xuất công nghiệp như nhà máy đóng tàu Bến Thuỷ, nhà máy rượu cồn Xuân An, nhà máy nhựa, nhà máy xi-măng Xuân Hồng…
Một vấn đề đang đặt ra đối với huyện Nghi Xuân đó là một số nhà máy, xí nghiệp hoạt động trên địa bàn huyện không tuân thủ luật môi trường như: nước thải của các khu sản xuất đó đa số là không qua xử lý nếu có thì cũng là những phương pháp lạc hậu
Giá trị kinh tế do sản xuất Lâm Nghiệp không lớn so với nghành khác, theo thống kê thì nó chỉ chiếm 4,5-5% giá trị nghành Nông – Lâm – Ngư nghiệp Trong đó