1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu xây dựng hệ thống thông tin nhằm nâng cao nhận thức về bảo tồn và sử dụng hợp lý nguồn đa dạng sinh học một số đối tượng động vật nuôi và động vật hoang dã tại việt nam

120 724 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu xây dựng hệ thống thông tin nhằm nâng cao nhận thức về bảo tồn và sử dụng hợp lý nguồn đa dạng sinh học một số đối tượng động vật nuôi và động vật hoang dã tại Việt Nam
Tác giả Ths. Trần Thu Lan, Ths. Đào Mạnh Thắng, TS. Lê Xuan Định, CN. Lại Hằng Phương, Ths. Trần Quang Ninh, Ths. Cao Minh Kiểm, CN. Nguyễn Lê Toàn, KS. Nguyễn Thắng
Trường học Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Chuyên ngành Bảo tồn đa dạng sinh học
Thể loại báo cáo tổng kết
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 2,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất xứ của nhiệm vụ Nhiệm vụ hợp tác quốc tế HTQT theo Nghị định thư NĐT "Nghiên cứu xây dựng hệ thống thông tin nhằm nâng cao nhận thức về bảo tồn và sử dụng hợp lý nguồn đa dạng sin

Trang 1

"Nghiên cứu xây dựng hệ thống thông tin nhằm nâng cao nhận thức về bảo tồn và

sử dụng hợp lý nguồn đa dạng sinh học một số đối tượng động vật nuôi và động

vật hoang dã tại Việt Nam"

8163

Hà Nội, Tháng 5/2010

Trang 2

vật hoang dã tại Việt Nam

Ths Đào Mạnh Thắng

TS Lê Xuân Định

CN Lại Hằng Phương Ths Trần Quang Ninh Ths Cao Minh Kiểm

CN Nguyễn Lê Toàn

KS Nguyễn Thắng

Hà Nội, Tháng 5/2010

Trang 3

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT 5

PHẦN 1 GIỚI THIỆU NHIỆM VỤ VÀ QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN 6

I Xuất xứ của nhiệm vụ 6

II Nội dung chủ yếu của Nhiệm vụ 7

2.1 Mục tiêu của Nhiệm vụ 7

2.2 Nội dung nghiên cứu 7

2.3 Sản phẩm của nhiệm vụ: 8

2.4 Thời gian và kinh phí thực hiện 8

2.5 Đối tác nước ngoài 9

III Một số thay đổi về nội dung trong quá trình thực hiện 9

3.1 Năm 2004 9

3.2 Năm 2005 9

3.3 Năm 2006 10

PHẦN II KẾT QUẢ THỰC HIỆN NHIỆM VỤ 11

I TỔNG QUAN VỀ ĐA DẠNG SINH HỌC ĐỘNG VẬT NUÔI VÀ ĐỘNG VẬT HOANG DÃ Ở VIỆT NAM 11

1.1 Tiềm năng và nguy cơ mất ĐDSH động vật hoang dã của VN 11

1.1.1 Sự phong phú về các loài thú 12

1.1.2 Tình trạng của các loài 13

1.1.3 Những loài thú mới được phát hiện ở Việt Nam 14

1.1.4 Những nguyên nhân gây mất nguồn gen động vật hoang dã 16

1.2 Tiềm năng và nguy cơ mất ĐDSH động vật nuôi của Việt Nam 22

1.2.1 Sự đa dạng và vị trí của nguồn gen vật nuôi Việt Nam 23

1.2.2 Nguy cơ mất ĐDSH động vật nuôi Việt Nam 24

1.2.3 Nội dung và phương pháp chính trong nghiên cứu và bảo tồn vật nuôi ở Việt Nam 27

1.3 Vấn đề văn bản pháp lý về bảo vệ ĐDSH động vật nuôi, động vật hoang dã 29

1.3.1 Các công ước quốc tế mà Việt nam là thành viên 30

1.3.2 Các Luật và Pháp lệnh do Quốc hội thông qua 31

Trang 4

1.3.3 Các văn bản dưới luật do Chính phủ ban hành 32

1.3.4 Các văn bản cấp bộ, ngành, thông tư liên bộ, UBND tỉnh ban hành 33

1.4 Kiến nghị 34

II ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG NÂNG CAO NHẬN THỨC CỘNG ĐỒNG VỀ BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC ĐỘNG VẬT NUÔI VÀ ĐỘNG VẬT HOANG DÃ 35

2.1 Tình hình nhận thức về ĐDSH 35

2.1.1 Thời kỳ trước 1990 37

2.1.2 Từ 1990 38

2.1.3 Hạn chế về nhận thức về bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam 41

2.2 Đề xuất giải pháp nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ ĐDSH động vật nuôi và động vật hoang dã 42

2.2.1 Thách thức và thuận lợi trong nâng cao nhận thức cộng đồng về ĐDSH 42

2.2.2 Đề xuất biện pháp nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo tồn ĐDSH 43

III XÂY DỰNG THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ VỀ ĐA DẠNG SINH HỌC ĐỘNG VẬT NUÔI VÀ ĐỘNG VẬT HOANG DÃ Ở VIỆT NAM 50

3.1 Nghiên cứu xây dựng Thư viện điện tử các tài liệu về ĐDSH động vật nuôi và động vật hoang dã ở Việt Nam 50

3.1.1 Nghiên cứu xây dựng CSDL thư mục 50

3.1.2 Nghiên cứu đưa CSDL lên Web 56

3.1.3 Kết quả xây dựng CSDL thư mục 63

3.2 Xây dựng CSDL ảnh 63

3.2.1 Lựa chọn phần mềm CSDL ảnh 63

3.2.2 Cấu hình CSDL ảnh 64

3.2.3 Nhập siêu dữ liệu cho CSDL 66

3.2.4 Khả năng tìm kiếm của CSDL 67

3.2.5 Kết quả xây dựng CSDL ảnh 69

IV XÂY DỰNG WEBSITE VỀ ĐỘNG VẬT NUÔI VÀ ĐỘNG VẬT HOANG DÃ (WEBSITE BIODIVA) 70

4.1 Tìm hiểu một số Website liên quan đến đa dạng sinh học động vật nuôi và động vật hoang dã 70

Trang 5

4.2 Xây dựng Website “Đánh giá và phát huy tiềm năng ĐDSH động vật

nuôi và động vật hoang dã của Việt Nam” (BIODIVA) 79

4.2.1 Chuyên mục của Website 80

4.2.2 Kỹ thuật (phần mềm) 82

V TỔ CHỨC TRIỂN LÃM “BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ ĐANG DẠNG SINH HỌC ĐỘNG VẬT NUÔI VÀ ĐỘNG VẬT HOANG DÃ VÙNG NÚI” 82

5.1 Xây dựng nội dung triển lãm 82

5.2 Các cuộc triển lãm 84

5.2.1 Triển lãm tại trường Phổ thông Trung học Nội trú tỉnh Hà Giang, thị xã Hà giang, ngày 14-15/05/2007 84

5.2.2 Triển lãm tại trường Phổ thông Dân tộc Nội trú huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang, ngày 17-18/05/2007 84

5.2.3 Triển lãm tại Vườn thú Hà Nội, ngày 01-03/6/2007 84

5.2.4 Triển lãm tại Bảo tàng Tỉnh Hà Giang, 13/6 – 13/7/2007 85

5.3 Đánh giá về kết quả của triển lãm 85

VI PHIM VIDEO VÀ TÀI LIỆU KHÁC PHỤC VỤ TRUYỀN THÔNG 85 6.1 Phim video "Bảo tồn và phát huy ĐDSH động vật nuôi và động vật hoang dã ở Việt Nam" 86

6.1.1 Yêu cầu đối với phim 86

6.1.2 Kịch bản phim 86

6.1.3 Sảm phẩm phim "Bảo tồn và phát huy ĐDSH động vật nuôi và động vật hoang dã ở Việt Nam" 89

6.2 Phim ngắn “Bản làng em tham gia dự án” 89

6.3 Tài liệu khác phục vụ truyền thông 90

VII HỢP TÁC QUỐC TẾ 90

7.1 Đoàn ra 90

7.2 Hợp tác trong triển khai Hợp phần 3 của Dự án BIODIVA 91

VIII KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 91

8.1 Kết luận 91

8.2 Kiến nghị 93

TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

PHỤ LỤC 97

Trang 6

Phụ lục 1 Danh mục các văn bản nhà nước liên quan đến khu bảo vệ và

vườn quốc gia (đến tháng 2/2002) 97

Phụ lục 2 Nội dung các lệnh trong Form tìm tin 103

Phụ lục 3 Nội dung pano triển lãm 107

Phụ lục 4 Lịch truyền thông bảo vệ đa dạng sinh học 115

Phụ lục 5 Áp phích truyền thông bảo vệ đa dạng sinh học 116

Phụ lục 6 Danh sách gửi biếu đĩa phim BIODIVA 117

Phụ lục 7 Danh sách gửi biếu lịch và áp phích 118

Trang 7

NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT

nuôi và động vật hoang dã của Việt Nam"

Information System

pour le développement (Trung tâm hợp tác quốc tế về nghiên cứu nông nghiệp vì sự phát triển, CH Pháp)

Unies pour l’ Environnement) (tiếng Pháp)

Environment Programme) (tiếng Anh)

WWF Quỹ thế giới bảo vệ thiên nhiên (World Wild Foundation)

concervation of nature) (tiếng Anh)

la Conservation de la nature) (tiếng Pháp)

Trang 8

PHẦN 1 GIỚI THIỆU NHIỆM VỤ VÀ QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN

I Xuất xứ của nhiệm vụ

Nhiệm vụ hợp tác quốc tế (HTQT) theo Nghị định thư (NĐT) "Nghiên cứu xây dựng hệ thống thông tin nhằm nâng cao nhận thức về bảo tồn và sử dụng hợp

lý nguồn đa dạng sinh học một số đối tượng động vật nuôi và động vật hoang dã tại Việt Nam" được xây dựng trên cơ sở kết quả hợp tác KH&CN giữa Việt Nam và

Cộng hoà Pháp được thông qua tại cuộc họp lần thứ 11 của Uỷ ban hỗn hợp Việt Pháp về hợp tác văn hoá, khoa học và Kỹ thuật tại Hà Nội vào tháng 5 năm 2000 Nội dung thoả thuận chính là Pháp sẽ phối hợp và thực hiện dự án hỗ trợ kỹ thuật “Đánh giá và phát huy tiềm năng đa dạng sinh học động vật nuôi và động vật hoang dã của Việt Nam" (gọi tắt là Dự án BIODIVA) Thoả thuận chính thức giữa Việt Nam và Pháp được thể hiện thông qua ký kết chính thức giữa Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Đại sứ quán Pháp tại Việt Nam ngày 14/5/2003

Trên cơ sở những ký kết như vậy, tháng 10 năm 2004, đã diễn ra việc ký kết các thoả thuận cung cấp dịch vụ kỹ thuật hàng năm giữa Bộ phận Hợp tác và Hoạt động Văn hoá (SCAC) sứ quán Pháp và các đối tác

Để triển khai được các cam kết hợp tác đã ký kết giữa Bộ Khoa học và Công nghệ và Đại sứ quán Pháp tại Việt Nam, ngày 4/8/2003, tại Quyết định số 1296/QĐ-BKHCN, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ đã phê duyệt nhiệm vụ HTQT theo NĐT "Thông tin, nâng cao nhận thức và tuyên truyền về sự phong phú của đa dạng sinh học ở Việt Nam và các vấn đề liên quan đến bảo tồn và sử dụng hợp lý", giao Trung tâm Thông tin – Tư liệu Khoa học và Công nghệ Quốc gia (nay là Cục Thông tin KH&CN Quốc gia) chủ trì, phối hợp với các đối tác Trung tâm hợp tác quốc tế về nghiên cứu nông nghiệp vì sự phát triển (CIRAD), CH Pháp, triển khai thực hiện

Để đảm bảo sự phù hợp của mục tiêu với nội dung nhiệm vụ HTQT theo NĐT, ngày 24/9/2003, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ đã thành lập Hội đồng KH&CN cấp Nhà nước xét duyệt thuyết minh nhiệm vụ HTQT về KH&CN theo NĐT năm 2004 để tư vấn giúp Bộ trưởng Bộ KH&CN xem xét thuyết minh nhiệm vụ

"Thông tin, nâng cao nhận thức và tuyên truyền về sự phong phú của đa dạng sinh học ở Việt Nam và các vấn đề liên quan đến bảo tồn và sử dụng hợp lý"

Trên cơ sở Biên bản của Hội đồng KH&CN cấp Nhà nước họp ngày 29/9/2003, Bộ trưởng Bộ KH&CN đã ban hành Quyết định số 2457/QĐ-BKHCN ngày 11/12/2003 về việc phê duyệt các nhiệm vụ HTQT về KH&CN theo NĐT năm

2004, trong đó có nhiệm vụ "Thông tin, nâng cao nhận thức và tuyên truyền về sự phong phú của đa dạng sinh học ở Việt Nam và các vấn đề liên quan đến bảo tồn và

sử dụng hợp lý"

Trang 9

Căn cứ Quyết định số Quyết định số 2457/QĐ-BKHCN ngày 11/12/2003 của

Bộ trưởng Bộ KH&CN, ngày 4/10/2004, Bộ KH&CN đã ký hợp đồng ĐTNĐT về thực hiện nhiệm vụ HTQT về KH&CN theo NĐT năm 2004 giữa Bộ KH&CN và Trung tâm Thông tin KH&CN Quốc gia với nội dung chính nêu trong

06/2004/HĐ-Quyết định: "xây dựng thư viện điện tử về ĐDSH động vật nuôi ở Việt Nam trên CDROM và trên Web, Hội thảo/triển lãm về bảo vệ ĐDSH; phim video về ĐDSH gia súc tại Việt Nam"

II Nội dung chủ yếu của Nhiệm vụ

2.1 Mục tiêu của Nhiệm vụ

Nhiệm vụ HTQT về KH&CN theo NĐT "Thông tin, nâng cao nhận thức và tuyên truyền về sự phong phú của ĐDSH ở Việt Nam và các vấn đề liên quan đến bảo tồn và sử dụng hợp lý" có mục tiêu chính sau:

- Tăng cường thông tin phục vụ công tác giáo dục, truyền thông để nâng cao nhận thức về ĐDSH động vật nuôi và động vật hoang dã cho các nhà quản lý, các nhà

ra quyết định ở tất cả các cấp, các nhà khoa học và quần chúng nhân dân ở địa phương;

- Tăng cường trao đổi thông tin trong nước, trong khu vực và quốc tế về ĐDSH động vật nuôi và động vật hoang dã;

- Tạo lập một số nguồn thông tin quốc gia về ĐDSH động vật nuôi và động vật hoang dã, cung cấp các thông tin về đa đạng di truyền và bảo vệ các nguồn tài nguyên di truyền động vật nuôi và động vật hoang dã

2.2 Nội dung nghiên cứu

Nội dung nghiên cứu ban đầu được duyệt là:

- Nghiên cứu thiết kế, xây dựng thư viện điện tử (bao gồm CSDL, các liên kết với các trang chủ trong nước và nước ngoài có liên quan, các tư liệu điện tử, ) về ĐDSH một số đối tượng động vật nuôi và động vật hoang dã ở Việt Nam, phong phú, sinh động, cập nhật thường xuyên trên Web và trên CDROM Đóng góp thông tin cho FAO về ĐDSH động vật nuôi và động vật hoang dã ở Việt Nam;

- Tổ chức nghiên cứu thiết kế và tạo ra một số tài liệu tuyên truyền ĐDSH một

số đối tượng động vật nuôi và động vật hoang dã (tờ rời, lịch, trang áp phíc);

- Nghiên cứu xây dựng nội dung và hình thức triển lãm di động về ĐDSH một

số đối tượng động vật nuôi và động vật hoang dã tại một số khu vực có vấn đề ĐDSH;

- Thiết kế và xây dựng kịch bản cho một cuốn phim video về ĐDSH một số đối tượng động vật nuôi ở Việt Nam

Trang 10

2.3 Sản phẩm của nhiệm vụ:

Theo Hợp đồng nghiên cứu ký kết giữa Bộ KH&CN và chủ nhiệm nhiệm vụ,

Nhiệm vụ phải có các tài liệu và sản phẩm sau:

a) Các báo cáo

STT Tên sản phẩm Số lượng

1 Các báo cáo nghiên cứu chuyên đề về hiện trạng thông

tin, văn bản pháp lý, kinh nghiệm và tiềm năng về ĐDSH động vật nuôi và động vật hoang dã ở Việt Nam

và nước ngoài

06

2 Tài liệu hướng dẫn nhập tin và tra cứu tin về ĐDSH

trên CDROM và trên Website

1 Thư viện điện tử, Website về ĐDSH động vật nuôi

và động vật hoang dã ở Việt Nam

01

2 Hội thảo/triển lãm về ĐDSH 03

3 Phim video về ĐDSH động vật nuôi và động vật

hoang dã ở Việt Nam (Kinh phí làm phim là của Pháp, Việt Nam chỉ nhân bản và bao gói gửi các địa phương)

01

4 Lịch về ĐDSH

5 Tờ gấp tuyên truyền về ĐDSH động vật nuôi và

động vật hoang dã ở Việt Nam

2.4 Thời gian và kinh phí thực hiện

Thời gian thực hiện nhiệm vụ theo đề cương là 36 tháng, từ tháng 1/2004 đến

12/2006

Kinh phí được duyệt ban đầu là: 600 triệu đồng (sáu trăm triệu đồng) Phân

bổ kinh phí theo thời gian như sau:

Trang 11

Địa chỉ: De baillarguet BP 5035, 34032 Montperllier Cedex 1, France Tel: 33 (04) 467593712 Fax: 33 (04) 467593798

III Một số thay đổi về nội dung trong quá trình thực hiện

3.1 Năm 2004

Do đây là một nhiệm vụ HTQT về KH&CN theo Nghị định thư nên cần thiết phải có sự tham gia của đối tác nước ngoài Mặc dù Sứ quán Pháp và Bộ Khoa học và Công nghệ đã ký kết thoả thuận về dự án từ tháng 5/2003 nhưng đến tháng 10/2004,

Dự án hỗ trợ kỹ thuật “Đánh giá và phát huy tiềm năng ĐDSH động vật nuôi và động vật hoang dã của Việt Nam" (BIODIVA) do Pháp tài trợ mới bắt đầu được triển khai (chậm so với kế hoạch chung là 18 tháng) Hơn nữa, trong năm này, Bộ phận Hợp tác

và Hoạt động Văn hoá (SCAC), Sứ quán Pháp mới bắt đầu ký văn bản hợp tác kỹ thuật với Viện Chăn nuôi (hợp phần 1) Hợp phần 3 của dự án (Hợp phần thông tin) chưa được phía Pháp triển khai, phải lùi lại vào thời gian sau Vì thế nhiều nội dung của Nhiệm vụ HTQT về KH&CN theo NĐT "Thông tin, nâng cao nhận thức và tuyên truyền về sự phong phú của ĐDSH ở Việt Nam và các vấn đề liên quan đến bảo tồn

và sử dụng hợp lý" không thể triển khai được trong năm 2004

Vì lý do đó, Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia đã có công văn số 375/TTKHCN ngày 28/10/2004 xin chuyển một phần kinh phí của năm 2004

là 212 triệu đồng sang thực hiện năm 2006 Đề nghị này đã được Bộ Tài chính chấp nhận

Trang 12

được Bộ Khoa học và Công nghệ đồng ý tại công văn số 2477/BKHCN-KHCNN ngày 21/9/2005 và đoàn công tác đã được thực hiện trong tháng 10 năm 2005

3.3 Năm 2006

Do thực tế là dự án BIODIVA được đối tác Pháp bắt đầu triển khai từ năm

2005, không thể kết thúc được trong năm 2006 nên đối tác Pháp đã có công văn đề nghị kéo dài việc thực hiện nhiệm vụ đến hết tháng 12/2007 và sau đó là đến tháng 2 năm 2008 Trung tâm Thông tin KH&CN Quốc gia có công văn xin gia hạn thời gian thực hiện đến hết tháng 12/2007 và xin kéo dài thời gian chuẩn bị Báo cáo đến hết tháng 12/2008

Trang 13

PHẦN II KẾT QUẢ THỰC HIỆN NHIỆM VỤ

I TỔNG QUAN VỀ ĐA DẠNG SINH HỌC ĐỘNG VẬT NUÔI VÀ ĐỘNG VẬT HOANG DÃ Ở VIỆT NAM

ĐDSH là sự phong phú về gen, loài sinh vật và hệ sinh thái trong tự nhiên [1a] Theo Công ước ĐDSH, khái niệm "Đa dạng sinh học" (biodiversity, biological diversity) được hiểu là Từ điển trực tuyến Wikipedia định nghĩa "ĐDSH là sự biến động của những hình thức sống trong một hệ sinh thái, vùng sinh thái nhất định hoặc

ở cả trái đất [2a] Năm 1992, Hội nghị thượng đỉnh về trái đất tại Rio de Janeiro đã định nghĩa ĐDSH là "sự khác nhau giữa các sinh vật sống ở tất cả mọi nơi, bao gồm: các hệ sinh thái trên cạn, trong đại dương và các hệ sinh thái thuỷ vực khác, cũng như các phức hệ sinh thái mà các sinh vật là một thành phần; thuật ngữ này bao hàm sự khác nhau trong một loài, giữa các loài và giữa các hệ sinh thái" [2a]

Bảo tồn ĐDSH là việc bảo vệ sự phong phú của các hệ sinh thái tự nhiên quan trọng, đặc thù hoặc đại diện; bảo vệ môi trường sống tự nhiên thường xuyên hoặc theo mùa của loài hoang dã, cảnh quan môi trường, nét đẹp độc đáo của tự nhiên; nuôi, trồng, chăm sóc loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; lưu giữ và bảo quản lâu dài các mẫu vật di truyền [1a] Bảo tồn ĐDSH có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước

Nhằm có có sở khoa học cho các hoạt động cụ thể, nhiệm vụ đã tìm hiểu những vấn đề cơ bảo về ĐDSH động vật nuôi và động vật hoang dã ở Việt Nam

1.1 Tiềm năng và nguy cơ mất ĐDSH động vật hoang dã của Việt Nam

ĐDSH và tài nguyên di truyền có vai trò không gì thay thế được để duy trì phát triển nông nghiệp bền vững, đảm bảo an ninh lương thức và bảo vệ môi trường Việt Nam là một trong những quốc gia có đa dạng tài nguyên thiên nhiên sinh vật cao vào bậc nhất thế giới Theo số liệu của Kế hoạch Hành động về ĐDSH, ước tính ở Việt Nam có 276 loài động vật có vú, 826 loài chim, 180 loài bò sát, 80 loài lưỡng cư, 2.470 loài cá và hơn 12.000 loài cây (Bảng 1) [3a, 4a] Trong các vùng hiểm trở của dãy Trường Sơn, có nhiều loài động vật có vú lớn như Sao la, Hoẵng lớn, Tê giác Java, Bò xám, v.v

Bảng 1 Số lượng các loài ở Việt Nam

Nhóm Số loài ở Việt Nam

(SV) Số loài trên thế giới (SW) thế giới (SV/SW) (%) Tỷ lệ số loài so với

Trang 14

ở những vùng núi chính của đất nước BirdLife International đã đánh giá về sự phân

bố trên toàn thế giới những khu tập trung của những loài chim có quy mô hạn chế

Ở Việt Nam, họ đã xác định được ba vị trí cao nguyên Đà Lạt, vùng đất thấp trung và nam bộ (ICBP),1992) Đối với các khu vực này, ở mức độ khu vực phụ nên đưa thêm vào dãy Hoàng Liên Sơn

Toàn bộ hệ thực vật được đặc trưng bởi tỷ lệ các loài đặc hữu cao dự tính khoảng giữa 33% (Pocs Tamass,1965) ở Bắc Việt Nam và 50% (Thái Văn Trừng, 1970) trên cả nước Số lượng lớn nhất các dạng đặc hữu được thấy ở ba khối núi chính - dãy Hoàng Liên Sơn, cao nguyên Đà Lạt và cao nguyên miền trung

Về cá cũng cho thấy cũng cho thấy tính đặc hữu ở mức cao ở Việt Nam với 60 loài cá nước ngọt đặc hữu đã được xác định, hầu hết ở các sông miền Bắc Một số lớn các loài đặc hữu ở sông Mê Kông chung với các nước láng giềng

Chim di trú

Việt Nam nằm trên bờ đông của bán đảo đông dương trong phạm vi khu vực động vật viễn đông hay Ấn Độ - Mã Lai và là một bộ phận quan trọng trên đường bay của chim di trú về phía đông á Trên 200 loài chim tham gia vào đường bay này Một

số loài quan trọng như 15 loài di trú bị đe doạ trên thế giới hiện nay tìm thấy ở Việt Nam

Sự phong phú của biển

Cá biển

Tổng số loài cá biển được ghi nhận là 2038 loài của 717 giống và 198 hộ, 70% trong số đó là cá sống dưới đấy Cá biển Việt Nam là các loài nhiệt đới quan trọng với một tỉ lệ nhỏ các loài cá nhiệt đới chủ yếu phân bố ở Vịnh bắc bộ Các cuộc nghiên cứu về cá rạn san hô vừa mới ghi được tổng số 346 loài

Các loài không xương sống biển

Trên 300 loài san hô scleeractinian đã được tìm thấy ở Việt Nam mặc dù việc phân loại vẫn còn chưa được thống nhất (Zou Ren Lin, 1975; Latypov, 1982, 1986;

Trang 15

Võ Sĩ Tuấn, 1987, 1988, 1993a,b, c; Nguyen Huy Yet et al 1989 Nguyễn Huy Yết,

1991; Lang Van Ken, 1991) Trong số này, 62 giống tạo nên rạn san hô, một số lượng

lớn tương tự ở Thái Lan (61), Singapore (64), Micronesia (61)) và Malaysia (59) và

chỉ ít hơn Indonesian một chút(72) và Philippines (70) (UNESCO, 1985) Sự phong

phú về giống ở các khu vực khác nhau ở Việt Nam là kết hợp kết quả của sự khác

nhau về điều kiện địa lý và thuỷ văn cũng như các công tác điều tra

Các loài không xương sống biển khác bao gồm khoảng 2500 loài nhuyễn thể,

1500 crustacea, 700 polychaete, 350 loài echinoderm, 150 loài porifera, và một số

Các nhà khoa học Việt Nam đã xuất bản Sách Đỏ Việt Nam tổng kết tình trạng

các loài động vật có nguy cơ tuyệt chủng của đất nước

Bảng 2 sau là danh mục một số dạng được xếp vào loài có nguy cơ tuyệt

chủng, dễ tổn thương, bị đe doạ, hiếm hoặc khó quết định xếp được vào nhóm lớn

nào Các danh mục này chưa đầy đủ đối với loài côn trùng mà cho đến nay mới có ba

kết luận Một số dạng bao gồm phần lớn các nhóm mà hiện nay đang được quan tâm

Có rất nhiều loài chỉ có ở Việt Nam và phản ánh tình trạng đe doạ đối với môi trường

sống tự nhiên ở Việt Nam

Bảng 2 Phân hạng theo Sách Đỏ ở Việt Nam

Lớp/Phân hạng Nguy cơ tuyệt

chủng Dễ thương tổn Bị đe doạ Hiếm Chưa xác định

Trong số 150 loài và loài phụ đối với cá và động vật không xương sống liệt kê

trong Sách đỏ, 83 loài thuộc biển bao gồm 37 loài cá và 46 loại san hô, nhuyễn thể,

crustacea và echinoderm Cũng có 40 loài cá nước ngọt và nước lợ hiếm và nguy cấp

Trong thế kỷ 20, tê giác Sumatra (Diceroprhinus sumatrensis) hươu sao

(Cervus nippon pseudaxis), cà toong (C.eldi), bò xám (Bos sauveli), trâu rừng

(Bubalus arnee) và có thể heo vòi Malaysia (Tapirus indicus) đã trở nên tuyệt chủng

cục bộ Ngoài ra, một số loài chim cư trú, trĩ Edwards (Lophura edwards) có thể bị

Trang 16

tuyệt diệt và bốn loài chim nước lớn đã thôi không sinh sản ở quy mô quốc gia, đồng thời sếu cổ đen (Grus nigricollis) và Mergus squamatus hầu như đã chấm dứt làm du khách không sinh sản

Nếu không có hành động bảo tồn khẩn cấp, những loại sau đây đang phải đương đầu với nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam: bò rừng (Bos banteng), tê giác Javan (Rhinoceros sondaicus), hổ Panthera tigis) voi châu á (Elephas maximus) và sao la (Pseudoryx nghetinhensis)

Trong số những chim cư trú thì hầu hết những loài có khả năng tuyệt chủng là chim nước và họ gà lôi, bao gồm chim vai trắng (Pseudibus davisioni), hồng hoàng (Lophura imperialis), gà lôi trắng (Pavo muticus) và chim cổ vàng (Arborophila davidi)

1.1.3 Những loài thú mới được phát hiện ở Việt Nam

Sao la (Pseudoryx nghetinhensis)

Đầu những năm 1990 vùng sinh thái dãy Trường Sơn được ít người biết đến đã nổi bật lên các trang báo của thế giới về một loài thú mới phát hiện loài Sao la Việc khám phá ra loài sơn dương sừng dài này là một sự kiện có ý nghĩa toàn cầu trong lịch sử khoa học bởi vì trong suốt 100 năm trước đó, chỉ có 5 loài thú lớn được phát hiện trên thế giới Loài gần đây nhất là loài Bò xám (Bos sauveli ) được phát hiện ở Cambodia vào năm 1936 và được mô tả là một loài mới vào năm 1937 Sự phát hiện

ra loài thú họ bò sừng dài này là một sự kiện quan trọng trong lịch sử của ngành thú học

Tháng 5 năm 1992, trong một đợt khảo sát phối hợp được tiến hành bởi Bộ Lâm nghiệp của Việt Nam và Quỹ Quốc tế về Bảo vệ Thiên nhiên (WWF) được tiến hành tại khu bảo tồn thiên nhiên Vũ Quang ở miền Trung Việt Nam, các thành viên của đoàn khảo sát đã thấy một cặp sừng lạ của một loài thú lớn Cặp sừng này rất dài

và thẳng Các thành viên của đoàn lập tức nhận ra rằng đây là một cái gì đó hoàn toàn mới Tiếp tục hỏi chuyện dân làng, họ đã tìm thêm được hai cặp sừng tương tự WWF sau đó đã thông báo rằng có một loài thú lớn mới đã vừa được phát hiện Ở tỉnh Nghệ An, loài thú họ bò có cặp sừng dài này được gọi là “Sao la” (có nghĩa là cái

“xe sợi” để nói tới sự giống nhau giữa cái xe sợi của khung dệt của địa phương và cặp sừng nhọn của loài động vật này) Dũng và nnk (1993) đã đề nghị một tên giống mới, Pseudoryx, để phản ánh sự tương tự của loài động vật này với các loài linh dương giống Oryx ở châu Phi và Ả Rập, cùng với một tên riêng, nghetinhensis để phản ánh nguồn gốc của loài này là từ Nghệ Tĩnh (tên cũ của các tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh)

Từ khi được công bố, một loạt các cuộc khảo sát tiếp theo đã được các nhà khoa học Việt Nam tiến hành, và các địa điểm mới nơi có loài thú sừng dài này sinh sống đã được phát hiện trên một vùng rộng lớn trải ra trên các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam và cả nước CHDCND Lào Tuy vậy, trên cơ sở của những thông tin hiện tại, loài thú mới này vẫn nằm trong số các loài thú lớn đang

Trang 17

bị nguy cấp Mối đe doạ chủ yếu đối với Sao la là các loại bẫy do những người thợ săn địa phương đặt trong rừng Các bẫy này thường được đặt để săn lợn rừng, nai hoẵng để ăn thịt Nhưng những con Sao la cũng vô tình bị mắc vào các bẫy này Toàn

bộ quần thể sao la ở Khu bảo tồn thiên nhiên Vũ Quang có lẽ không quá 100 cá thể Trong một khu vực khác thuộc vùng phân bố của loài này ở tỉnh Quảng Nam Địa điểm này đã được khảo sát, mật độ của loài này được báo cáo là thấp trong khi đó khảo sát ở Thừa Thiên Huế cho thấy có nhiều cơ hội hơn để bảo tồn loài này trong tương lai tại Việt Nam Tại Lào, loài này được biết là tồn tại ít nhất ở các tỉnh Khăm Muộn và Bô Li Khăm Say, trong Khu bảo tồn ĐDSH quốc gia Na Kai Nậm Thơn, trong vùng đề xuất mở rộng của khu này về phía bắc và vùng Nam Gnuang Sao la cũng có ở Khu Bảo vệ đề xuất Nam Chuân Mật độ của Sao la ở những vùng này chưa được biết rõ, nhưng phân bố của nó trong các vùng này thì không được liên tục

Loài Sao la cần được bảo tồn bởi vì nó là một loài biểu tượng cho công tác bảo tồn thiên nhiên ở Việt Nam và Lào, cũng như nó là niềm tự hào của giá trị sinh học của vùng Đông Dương

Mang lớn (Muntiacus vuquangensis)

Một đợt khảo sát năm 1994 do Viện Điều tra Quy hoạch Rừng, Bộ Lâm nghiệp phối hợp với đội dự án của WWF Chương trình Đông Dương tại Vũ Quang, Hà Tĩnh tiến hành sau sự kiện phát hiện ra loài mới Sao la, đã lại phát hiện ra một loài hươu

cỡ trung bình nữa Loài hươu mới này có họ hàng rất gần với loài mang thường (Muntiacus muntjac) nhưng lại khác hẳn loài mang thường ở nhiều đặc điểm

Tại Việt Nam, các mẫu sọ có sừng của loài này đã được tìm thấy ở rất nhiều vùng rừng dọc theo dãy Trường Sơn Loài mang lớn - Muntiacus vuquangensis này cũng đồng thời được thấy ở vùng Trung Lào Loài mang lớn có vùng phân bố rộng hơn Sao la, là loài cũng chỉ có ở dãy Trường Sơn Cũng như các loài thú móng guốc lớn khác, loài mang lớn lại là một loài quan trọng nữa góp phần vào giá trị ĐDSH độc đáo của đất nước và giúp để duy trì sự cân bằng của hệ sinh thái rừng Điều này

có nghĩa là nó cũng đóng góp vào nền tảng thức ăn của các loài thú ăn thịt nguy cấp

có tầm quan trọng toàn cầu như hổ, báo

Mang Trường Sơn (Muntiacus truongsonensis)

Chỉ ba năm sau khi loài mang lớn nhất (mang lớn- Muntiacus vuquangensis) được tìm thấy ở các vùng rừng của Việt Nam, một loài mang khác có thể là loài mang nhỏ nhất cũng đã được phát hiện: nó nặng khoảng 15 kilôgram, bằng một nửa kích thước của mang thường, các nhà khoa học gọi loài thú mới này là mang Trường Sơn - Muntiacus truongsonensis, vì dãy núi này là nơi nó đã được phát hiện Mang Trường Sơn được phát hiện lần đầu tiên vào tháng 4 năm 1997 bởi các nhà khoa học từ WWF, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và Trường Đại học Đà Nẵng Sau khi các mẫu mô của loài này được phân tích di truyền tại Viện Đông Vật học của Trường Đại học tổng hợp Copehagen, một lần nữa nó lại được khẳng định là một loài mang mới Đây là loài thú lớn mới thứ 3 được các nhà khoa học phát hiện ra ở Việt Nam trong những năm gần đây

Trang 18

Không có một mẫu vật sống nào của loài mang Trường Sơn được các nhà khoa học quan sát Chỉ có những chiếc sọ đã được kiểm tra và lời mô tả của người dân địa phương Người địa phương gọi nó là con samsoi cacoong, nghĩa là “con mang nhỏ sống trong rừng sâu rậm rạp” Người ta biết rằng loài mang mới này sống ở các độ cao từ 400 - 1000 m, trong những tầng cây sát mặt đất trong rừng rậm, với điều kiện sống như vậy thì kích thước nhỏ của nó đã giúp nó đi lại được dễ dàng

Những loài thú này rất cần được bảo tồn vì nó có một giá trị khoa học đặc biệt

Nó cần được bảo vệ cùng với các tài nguyên ĐDSH giàu có khác của đất nước chúng

ta

1.1.4 Những nguyên nhân gây mất nguồn gen động vật hoang dã

Bảng 3 liệt kê những kiến thức cấp tỉnh khi các cán bộ được yêu cầu đánh giá những đe doạ chính đối với ĐDSH ở địa phương họ Ngoài ra, những nhà lãnh đạo lâm nghiệp tỉnh cũng đã được đề nghị trả lời những câu hỏi lập thứ tự chính yếu về những mối đe doạ đối với ĐDSH Kết quả được tổng kết trong bảng 3 Những đe doạ được liệt kê theo thứ tự mức độ đánh giá

Bảng 3 Nhìn nhận của các cán bộ tỉnh về những đe doạ chính đối với ĐDSH

Những đe doạ chính đối với ĐDSH

(theo thứ tự thông thường)

ý kiến đóng góp của cán bộ tỉnh

Xâm lấn là nguyên nhân chính làm mất tính ĐDSHSăn bắt/đánh cá rất khó kiểm soát

Khai thác gỗ trước đây rất nghiêm trọng, nay giảm đi nhiều

Cháy rừng nghiêm trọng ở vài nơi, nhưng nay đã

được kiểm soát tốt hơn

Kinh doanh các loài hoang dại nghiêm trọng đối với một số loài

Tổn thất do chiến tranh trước đây quan trọng nay nhỏ

Đối với những hệ sinh thái biển, những đe doạ chính được xác định là:

ƒ Khai thác cá quá mức không quan tâm đến kích cỡ và sản lượng đánh bắt

ƒ Phương pháp khai thác gây tổn hại đặc biệt là sử dụng chất nổ

ƒ Khai thác san hô làm vôi và làm xi măng

ƒ Săn bắt do nhu cầu kinh doanh các loài quý hiếm như rùa và không kiểm soát khai thác các loài sò ốc biển và san hô mới phát sinh

Trang 19

ƒ Ô nhiễm bao gồm lắng cặn đất, các hoạt động ở bờ biển như khai mỏ và xây dựng

Những bằng chứng về ô nhiễm dầu và dân cư tại cửa sông Bạch Đằng (Hải Phòng) và Đồng Nai (TP Hồ Chí Minh) Những xâm lấn của nuôi trồng thuỷ sản, khai hoang lấn biển và những công trình thuỷ lợi như xây dựng đập Dinh Vu qua sông Cấm tại Bạch Đằng, cũng đem lại những đe doạ nghiêm trọng đối với cửa sông

Giống như bãi thuỷ triều tại cửa sông, những bãi triều cao tại đồng bằng châu thổ sông thường được khai hoang làm nông nghiệp hoặc làm hồ nuôi trồng thuỷ sản

Những đe doạ đến hệ sinh thái đất ướt hơi khác 40 loài cá nước ngọt và cá tại cửa sông cũng đã được liệt kê trong Sách Đỏ Những đe doạ chính đang gặp phải được xác định là khai thác quá mức (kể cả việc sử dụng các phương pháp không thích hợp và có hại như dùng chất độc, thuốc nổ và lưới nhỏ), ô nhiễm (đặc biệt canh tác nông nghiệp dùng quá nhiều thuốc trừ sâu và phân hoá học) và giảm chất lượng môi trường sống (lắng đất, khai hoang lấn biển)

Du canh

Từ bao đời nay, một số dân thiểu số đã thực hiện canh tác luân phiên ổn định theo chu kỳ Cánh đồng được làm đất canh tác trong vài năm và tiếp theo cho đất nghỉ vài năm để dùng lại Hệ thống này chỉ mở một tỷ lệ rừng rất nhỏ vào bất kỳ lúc nào và có tác dụng làm giàu thông qua việc cho phép những loài mới đến cư trú ở nhiều nơi, hệ thống này không còn ổn định nữa do dân số tăng nhanh, chủ yếu do di

cư, đồng thời diện tích rừng thu hẹp Điều này có nghĩa là những chu kỳ đất nghỉ không còn đủ để rừng tái sinh

Xâm lấn của canh tác nông nghiệp

Mối đe doạ này bởi nông dân ở các tỉnh đồng bằng nghèo đói di cư đến mong tìm được nơi đất tốt cho canh tác nông nghiệp tại vùng đồi núi Họ không có truyền thống du canh, biết rất ít về rừng và giá trị của nó và sử dụng nó một cách đơn giản là dùng đất bìa rừng để canh tác nông nghiệp

Các khu rừng ngập mặn tại tỉnh Minh Hải phải đương đầu với một mối đe doạ riêng của người dân địa phương phá rừng ngập mặn để làm đầm nuôi tôm Những khu rừng ngập mặn này vào cỡ tốt nhất thế giới Họ đã tàn phá tương đương sức phá của chất độc hoá học trong chiến tranh Những khu rừng này đã được bảo vệ làm căn

cứ du kích và bộ đội chủ lực Nay chỉ trong thời gian ngắn người nông dân đã phá đi biết bao giá trị ĐDSH và nguồn cá cửa sông

Săn bắn và đánh bắt cá quá mức

Săn bắn được xếp vào hàng những đe doạ mới nhưng rõ ràng là một mối đe doạ lớn nhất đối với một số loài có nguy cơ bị tuyệt chủng Các vùng nông thôn thiếu vắng chim trong làng và trên cánh đồng Đó là do săn bắn kết hợp với việc sử dụng quá độ thuốc trừ sâu và phân hoá học và do độc canh sinh thái cây lúa

Trang 20

Đánh bắt cá quá độ là một sự thật trong cuộc sống ở khắp mọi nơi Hơn nữa các phương pháp đánh bắt áp dụng không được lựa chọn và tàn phá lớn như bẫy cá, thả đăng, lưới, chất nổ và sử dụng cả chất độc

Đánh bắt cá quá độ có thể thấy rõ trong sản lượng đánh bắt suy giảm mặc dầu trong mươi năm nay tốc độ đánh bắt tăng Một con số khổng lồ đáng ngại ở phía Bắc khu vực trên vĩ tuyến 200N nơi sản lượng thực tế giảm đột ngột từ năm 1987 và trong năm 1992, sản lượng giảm 39% mặc dầu đội thuyền cá tăng công suất 32% Một số loài cho thấy suy giảm đáng kể là Nemalalosa nasus đã được đánh bắt 1000 tấn/năm trong 30 năm qua nhưng hiện nay vô cùng hiếm ở Bắc Việt Nam, sản lượng ba loài Clupeidae, Hilssa reveesi (cá trích năm đốm), Clupanodon thrissa và C.punctatus, đã giảm từ 500-1000 tấn/năm xuống còn 10-20 tấn/năm Các thuỷ sản khác ngoài cá như tôm hùm (Panulirus), bào ngư (Haliotes), sò (Chlamys) và mực (Loligo) cũng cho thấy sản lượng giảm Trai ngọc Pinctada martensii và Lutraria philippinarum đã biến mất khỏi nhiều vùng miền Bắc Khai thác những loài trên vẫn tiếp tục mặc dù cả ba loài Clupeids, bốn loài tôm hùm và hai loài bào ngưđược liệt kê trong loại dễ tổn thương và Loligo formosana liệt vào loại có nguy cơ bị tiêu diệt trong Sách Đỏ Việt Nam

Kinh doanh các loài hoang dại

Việc kinh doanh ngày càng tăng đối với rắn, rùa, ba ba, tắc kè và hầu hết các loài hoang dại ăn được và để làm thuốc Việc kinh doanh trên diện rộng và không được kiểm soát Rất nhiều loài có nguy cơ bị tiêu diệt và cần bảo vệ có thể thấy bán tại các chợ ở TP Hồ Chí Minh và Hà Nội và kinh doanh những loài này trong nước ít hơn nhiều bán lậu ra ngoài nước thông qua biên giới Trung Quốc và bằng thuyền sang Thái Lan và Singapore

Do không có tổ chức nào chịu trách nhiệm trực tiếp quản lý việc kinh doanh các loài hoang dại, nên không có con số cụ thể về quy mô và xu hướng của hoạt động này Tuy nhiên, nhìn chung cho thấy khai thác quá mức nhiều loài sinh học biển

Thí dụ về sự khai thác quá mức được trình bày dưới đây:

Rùa biển:

Loài đồi mồi Hawkbill Eretmochelys imbricata bị săn lấy mai và vích Green turtle Chelonia mydas bị săn lùng lấy thịt Mai đồi mồi trước đây dùng làm hàng mỹ nghệ để cung cấp cho người du lịch trong nước Các trung tâm kinh doanh đồi mồi là Nha Trang, Vũng Tàu và Hà Tiên Đồi mồi và vích bán ở Nha Trang phần lớn bắt tại Quảng Ngãi - Bình Thuận Trước năm 1990, hai nghìn đồi mồi và vích được bán hàng năm ở Nha Trang Con số hiện nay giảm xuống còn 1000 Giá một con đồi mồi

và vích thay đổi từ 30-80USD

Đồi mồi và vích bán ở Vũng Tàu phần lớn bắt ở Côn Đảo và vùng bờ biển nửa chìm nửa nổi tại Vũng Tàu và Đồng Nai Đồi mồi và vích bán ở Hà Tiên bắt từ Phú Quốc và Thổ Chu Một vài trại nuôi vích và đồi mồi tại Phú Quốc đã phải đóng cửa

do một vài lý do gồm cả môi trường sống và tăng áp lực săn bắt (lấy cả con lớn và

Trang 21

trứng) Chỉ có một gia đình vẫn còn nuôi rùa con ở miền Bắc, hầu như không còn kinh doanh rùa do đã bị săn bắt hết

San hô:

Các tiêu bản san hô cứng thường bán làm đồ lưu niệm cho khách du lịch và trang trí bể cá Nha Trang là trung tâm buôn bán san hô với sản lượng 50 tấn/năm Giá một tiêu bản san hô là 3000-15.000 đồng (USD 0,3-1,5) Kinh doanh như thế cũng có với quy mô nhỏ ở Cà Ná, Vũng Tàu và Đà Nẵng Các loài được ưa thích như Pocillopora damicornis, P.verrucosa và Acropora formosa là những loài cư trú ở rất nhiều vùng tại vịnh Nha Trang trong những năm 1960 nhưng nay rất hiếm Những tiêu bản còn lại tại các cửa hàng địa phương thu lượm ở những nơi xa

Tôm hùm:

Hầu hết các loài Panulirus được bán làm thức ăn và vật lưu niệm Sản lượng hàng năm của Quảng Trị - Bình Thuận lên tới 120 - 150 tấn Nhu cầu tôm hùm làm thức ăn đang tăng cung cấp cho những người mua ở Hồng Kông và Singapore Giá giao động từ 15 -25 USD/kg

Khai thác gỗ

Việc khai thác gỗ vẫn còn là đối đe doạ lớn mặc dầu khu vực khai thác gỗ hợp pháp rất hạn chế và việc xuất khẩu gỗ cây, khai thác tại những lưu vực quan trọng, khai thác một số loài nhất định bị hạn chế rất nhiều Quy chế đặt ra là khai thác xong phải phục hồi ở tình trạng giàu hơn nhưng điều này lại không kiểm soát được Ngoài

ra, khai thác trái phép còn rất nghiêm trọng bao gồm cả dùng dấu búa giả và những đường dây buôn lậu Tính tổng số cả khai thác cho phép và trái phép làm mất rừng khoảng 70.000 ha hàng năm và thực tế mất rừng là 30.000 ha/năm (0.34%)

Khai thác nhiên liệu

Khai thác nhiên liệu có quy mô lớn hơn và khó kiểm soát hơn và không thể hiện rõ mọi lúc và mọi cánh rừng ước tính mức độ khai thác khá lớn nhưng rõ ràng

là việc khai thác củi không được kiểm soát là mối đe doạ lớn nhất đối với ĐDSH ở nhiều nơi Chất lượng và sản lượng rừng rất kém ở những nơi gần làng và mức độ khai thác củi tăng lên Một mối quan tâm ngày càng tăng là có vẻ dân làng không chỉ khai thác củi cho bản thân họ sử dụng mà còn phá rừng để hái những bó củi bán dọc đường và trong các chợ bán cho người thành thị ở một vài nơi củi được chuyển thành than hoạt tính đem bán Việc cấm khai thác củi không chỉ hạn chế nguồn củi của dân

mà còn đánh vào thu nhập của họ Bất cứ giải pháp giải quyết những khó khăn mà không được thay thế bởi những sửa đổi thực tế sẽ thất bại

Cháy rừng

Trong số 9 triệu ha ràng thì có khoảng 56% rừng dễ bị cháy Cháy thường xảy

ra trong mùa khô khi gió nóng phía Tây thổi mạnh nhất Diện tích trung bình rừng bị cháy mỗi năm là khoảng 20.000-30000 ha thậm chí còn lên đến 100.000 ha trong năm tồi nhất Cháy rừng như thế thường do nguyên nhân gián tiếp của phát nương du

Trang 22

canh, săn bắn, khai thác kim loại, dọn sạch đường sắt, nấu ăn, sưởi ấm, lấy mật ong hoặc nhựa cây của dân Tổn thất đối với rừng bị mất gây tổn thất đến ĐDSH cũng như mất gỗ và tổn thất đến tập, đường, nguồn nước và mất cuộc sống của con người Nhờ có sự quan tâm hơn đến chống cháy rừng, tỉ lệ cháy rừng trong những năm qua giảm

Mặc dầu một vài thành công vừa qua làm cho người ta có thể bảo vệ việc mất rừng không phải là do cháy rừng, nên vẫn còn có ý kiến cho rằng cháy rừng là mối đe doạ nghiêm trọng đối với ĐDSH ở một vài vùng trọng điểm Vùng sinh học quan trọng nhất đối với bảo tồn ĐDSH, bị cháy rừng đe doạ là rừng thường xanh núi thấp

ở các tỉnh Lâm Đồng, Đắc Lắc và Ninh Thuận

Trong những năm những vạt rừng này đã bị chặt trụi bởi các nhóm dân tộc thiểu số, và trong 100 năm gần đây là do người Kinh

Việc dùng lửa rộng rãi trong phát nương làm rẫy làm giảm phạm vi rừng thường xanh núi thấp và làm tăng nạn cháy rừng do Pinuskhesiya và P.merkusii Những lâm phần thuần loại cây này có thể tự nhiên bốc cháy do nắng, những vạt dốc thoát nước tốt về hướng đông độ lan nhanh có giảm

Những rừng thông này những loài ngoại trừ nghèo đối lập với rừng thường xanh núi thấp có tầm quan trọng trên quy mô toàn cầu đối với giá trị ĐDSH và những trung tâm đặc hữu chính

Việc tiếp tục dùng lửa đã chia nhỏ các khu rừng thường xanh núi thấp và đang mất đi nhất là những bờ dốc cao hơn ở phía tây và phía nam

Một vài mảng nhỏ rừng nửa thường xanh, như Núi Bà và do khô hạn, ngày nay trở nên rất đơn độc và làm giảm cả về phong phú loài

Ô nhiễm

Ô nhiễm không phải là khó khăn chính trong các khu rừng nhưng là một vấn

đề quan trọng trong môi trường dân thành phố và trong hệ sinh thái nước ngọt và biển Nếu tăng trưởng công nghiệp dựa vào nhiều nhiên liệu thanh thì ô nhiễm khí quyển và mưa a xít sẽ trơ nên vấn đề ở phía bắc đất nước

Ô nhiễm dầu được nhận biết là một hiểm hoạ lớn nhất đối với môi trường biển Giao thông biển và thăm dò dầu là hai nguồn chính dẫn đến ô nhiễm dầu Năm 1992

có 54.000 thuyền đánh cá và với 800 tàu tổng trọng tải đăng ký là 1 triệu tấn GRT (tấn tổng trọng tải đăng ký) ở Việt Nam Có 37 cảng chính có thể coi là cảng thương mại như cảng Hải Phòng và Sài Gòn, và cảng than và dầu như Vũng Tàu và Cửa Ông

Quảng Ninh và Hải Phòng ở miền Bắc Việt Nam, cả hai đều có cảng, được xem như các tỉnh bị ô nhiễm nhất Mức dầu trong vùng nước bờ biển (0,4-1,0 mg/l) thường xuyên vượt quá nồng độ cho phép Ô nhiễm dầu có huỷ hoại trên diện rộng các hệ sinh thái biển và rừng ngập mặn và ngư nghiệp sau tai nạn cảu tàu chở hàng

Trang 23

Leela làm rò rỉ 200 tấn dầu vào Vịnh Quy Nhơn, tỉnh Bình Định năm 1989 (Phạm Văn Ninh, 1989)

Việc thăm dò dầu bắt đầu từ năm 1986 tại Bạch Hổ (9o49' bắc và 107o56' đông) ngoài khơi Vũng Tàu, nhưng ô nhiễm từ khu khai thác dầu không được ghi chép đầy đủ Hai lô khác đã bắt đầu sản xuất và ảnh hưởng của ô nhiễm khai thác dầu

và những hoạt động liên quan khác tới môi trường biển đe doạ nghiêm trọng

Tỉnh Quảng Ninh cũng chịu những vấn đề lắng bùn nghiêm trọng ở các vùng nước ven biển của nó ảnh hưởng đến các tỉnh bên nơi có các hoạt động khai thác than

và đất sét ở Việt Nam Mức trung bình của các chất rắn trong vùng nước bờ biển Việt Nam là 100mg/l Điều này mang lại cho các hệ sinh thái vùng bờ biển đặc biệt là các rạn san hô, cũng như làm giảm sản lượng đánh bắt cá và du lịch

Hàng triệu tấn bùn và cát được nạo vét ở các cảng để khơi thông cửa biển (cảng Hải Phòng, 3 đến 5 triệu tấn) hàng năm Các hoạt động hút bùn đáy biển khuấy đục nước, những bùn nắng sau khi nạo đáy chảy tràn ra biển, thường gây hại bởi có dầu và các chất độc tố, gây rủi ro lâu dài không chỉ đối với môi trường biển tự nhiên,

mà còn đối với sản lượng ngư nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản

Đánh bắt cá bằng chất nổ

Ngoài ra do đánh bắt cá quá độ, những khu vực biển bị đe doạ bởi những phương pháp đánh bắt cá bằng chất nổ Thực tiễn này, phá hoại những rạn san hô rất phổ biến, đặc biệt ở một số tỉnh miền bắc và miền trung như Khánh Hoà và Quảng Ngãi Chất nổ được dùng ở biển, sông, cửa sông, cả rạn san hô, những rạn đá ngầm

và thậm chí cả những rạn giả được xây dựng để thu hút cá Một phần do nghèo đói đã

ép ngưdân và những người khác phải hành động, việc sử dụng chất nổ phản ánh nhận thức của dân thấp

Khai thác san hô

Khai thác san hô là điều đánh ngại nhất ở miền Trung từ Đà Nẵng đến Ninh Thuận Thu hoạch san hô để làm vôi rất phá hoại vì thu lượm san hô chết ở những vùng thuỷ triều thường dùn chất nổ Tình hình ở Khánh Hoà rất đáng ngại vì có 20 lò nung vôi, mỗi lò công suất khoảng 10 tấn/năm ở một vài nơi như Cù Mông bắc Phú Yên, bờ biển Ninh Hoà, đầm Thuỷ Triều và bờ biển Ninh Chu của Ninh Thuận, có rất nhiều san hô chết vùi trong cát hoặc bùn

Khai thác san hô làm xi măng cũng đáng ngại Hai nhà máy xi măng Khánh Hoà và Ninh Thuận, mỗi nhà máy công suất 20.000 tấn xi măng/năm Những nhà máy này chủ yếu lấy san hô chết ở bờ biển làm nguyên liệu Cứ mỗi tấn xi măng, cần tấn san hô chết San hô bị vỡ vụn trên diện rộng có vẻ tác động lớn tới môi trường ven biển và khả năng ngăn xói mòn

Sự xuống cấp của vùng biển

Việc xây dựng các hồ nuôi trồng thuỷ sản dọc bờ biển và khai thác hoang lấn biển lấy đất canh tác lâm nghiệp, đồng muối và khu dân cư làm giảm diện tích vùng

Trang 24

thuỷ triều, làm bẩn nước thường dẫn đến tăng độ chua phèn, thay đổi quá trình lắng bùn, tăng rủi ro và tác hại đến cộng đồng vùng ven biển Rất nhiều đầm lầy thuỷ triều

đã bị phá huỷ hoặc giảm cấp nghiêm trọng

Khai thác cát cho xây dựng và làm thuỷ tinh, khai thác đá (đá hoa cương ở Nghĩa Bình và Khánh Hoà) và khoáng chất nặng (ilmentite, zircon và monzite phần lớn ở miền nam) cũng tác hại đến môi trường biển Khai thác cát quy mô lớn ở miền trung Việt Nam (đặc biệt tại khu vực dự định tại Cam Ranh), và khai thác quá độ cát,

vỏ sò và vụn san hô trên bãi biển và đụn cát để sản xuất xi măng, là nguyên nhân gây rủi ro xói mòn, làm nghèo nước và tác động đến các thành phần tầng dưới và các hệ sinh thái

Chiến tranh

Mặc dầu những cuộc chiến tranh dài gây tổn hại lớn - hố bom, phá rừng, cháy

và gây độc đến môi trường tự nhiên, nay không còn được coi như đe doạ quan trọng nữa Tổng số 2 triệu ha rừng đã bị tàn phá bởi chiến tranh khi 1 triệu tấn bom và 72 triệu lít thuốc diệt cỏ được rải xuống đất nước

Những ảnh hưởng lâu dài còn lại của tổn thất này là chất độc màu da cam trong bùn và trong những tế bào động vật Giá của nó quá cao dặc biệt về phương diện sức khoẻ con người May mắn rằng, những vết sẹo đang dần dần được hàn gắn, và chiến tranh hiện nay không còn là mối đe doạ nghiêm trọng của ĐDSH nữa

Sự phân tán rừng

Việc rừng bị xé lẻ và trở nên nhỏ hơn và tách biệt ra khỏi những rừng khác, chúng không còn đủ khả năng hỗ trợ cho tính phong phú của các loài như ban đầu được nữa Mỗi khoảnh rừng có diện tích 100.000ha có thể chứa tất cả các loài chim xuất xứ, những diện tích nhỏ hơn mất đi khoảng một nửa những loài gốc cho từng khoảnh giảm 90%

1.2 Tiềm năng và nguy cơ mất ĐDSH động vật nuôi của Việt Nam

Quá trình toàn cầu hoá, sự tăng dân số cùng với nạn phá rừng làm ĐDSH giảm

đi nhanh chóng Các nguồn gen động, thực vật và cả những kiến thức truyền thống địa phương có liên quan đến nguồn gen này đang mai một, mất dần đi Vì vậy, những năm gần đây, việc sử dụng bền vững nguồn gen, bảo vệ các tri thức bản địa và chia sẻ hợp lý lợi ích có được từ nguồn gen đã được các quốc gia chú ý, đặc biệt là sau hội nghị thượng đỉnh về môi trường toàn cầu tại Rio de Janero năm 1992, khi Liên Hợp Quốc thông qua Công ước quốc tế về ĐDSH Mục tiêu thứ ba trong ba mục tiêu của

Công Ước ĐDSH là "phân phối công bằng hợp lý lợi ích có được nhờ việc khai thác

và sử dụng nguồn gen, bằng việc tiếp cận hợp lý nguồn gen, bằng chuyển giao hợp lý các công nghệ có liên quan đến nguồn gen, bằng việc công nhận các quyền sở hữu

về nguồn gen và công nghệ đó, và bằng các tài trợ thích đáng"

Việt Nam đã tiến hành công tác bảo tồn nguồn gen từ những năm 1987 Giai đoạn 1996 - 2000 đã hình thành được hệ thống bảo tồn nguồn gen quốc gia gồm 10

Trang 25

đơn vị đầu mối và hơn 60 đơn vị phối hợp trong cả nước thuộc 6 bộ, ngành và địa phương Kết quả đã bảo tồn và lưu giữ được trên 13500 giống thực vật tại Trung tâm Tài nguyên di truyền thực vật (Lưu Ngọc Trình, 2000), trên 450 giống lúa có tính chống chịu hạn, úng mặn và bệnh hại (Trần Duy Quý, 2000), trên 485 giống cây ăn quả, rau (Vũ Mạnh Hải, 2000), 42 loài cây rừng quý, trên 50 giống vật nuôi (Võ Văn

Sự, 2000),…và đang tiến hành nghiên cứu bổ sung thêm các giống quý hiếm có giá trị kinh tế để bảo tồn nguồn gen

Bán đảo Đông Dương và dãy núi Trường Sơn là một trong những địa điểm có ĐDSH bậc cao của hành tinh Do vị trí địa lý và lịch sử, ĐDSH đàn vật nuôi truyền thống vẫn được bảo tồn trước những xáo trộn lớn đã làm thay đổi các hệ thống sản xuất truyền thống ở Đông Nam Châu Á trong 50 năm qua Tại Việt Nam, hơn 50 dân tộc thiểu số sống trong các khu vực này duy trì và phát huy các hệ sinh thái một cách khác nhau ở đó có nhiều giống vật nuôi và hoang dã cùng chung sống

Các quần thể này là nguồn lưu trữ vật liệu di truyền tiềm năng có lợi ích kinh

tế và di sản vì chúng thích ứng tốt với các điều kiện khó khăn, có sức đề kháng cao với bệnh tật và khả năng sinh sản cao

Ý thức về sự phong phú này, chỉnh phủ Việt Nam đã triển khai Kế hoạch hành động vì ĐDSH (BAP) từ năm 1995 với 3 mục tiêu: bảo vệ ĐDSH động vật nuôi địa phương; giải quyết các vấn đề về môi trường và đảm bảo sự phát triển bền vững các hoạt động của con người

Lợi ích của việc bảo tồn ĐDSH động vật là bảo đảm đáp ứng nhanh những biến đổi bền vững của môi trường và hoạt động của con người Nắm bắt được nguồn

đa dạng của địa phương một mặt cho phép nâng cao hiệu quả và đa dạng hóa ngành chăn nuôi mà vẫn giữ gìn được những phương pháp chăn nuôi truyền thống, mặt khác cho phép thực hiện các chương trình quản lý việc bảo tồn các quần thể động vật hoang dã

1.2.1 Sự đa dạng và vị trí của nguồn gen vật nuôi Việt Nam

Nước ta có 50 giống nội địa Nhưng thực ra chúng ta chưa điều tra hết Nếu tính trên 10000 km2, chúng ta có 1,19 con giống, vượt 10 lần mức trung bình của thế giới (Nước ta cũng được xếp trong 16 nước có sự đa dạnh sinh học phong phú nhất) Danh sách một số giống vật nuôi nội địa Việt Nam được trình bày trong bảng 4

Bảng 4 Danh sách một số giống vật nuôi nội địa Việt Nam

Gia súc Gia cầm Lợn Đại gia súc và khác Gà Khác

Trang 26

Lợn Thuộc nhiêu Ngựa Bạch Gà Đông Tảo Vịt Kỳ Lừa

(Nguồn: Atlas các giống vật nuôi)

Phân bố các giống vật nuôi được trình bày trong hình 1

1.2.2 Nguy cơ mất ĐDSH động vật nuôi Việt Nam

Điều tra cho thấy:

- Có ít nhất là 50 giống vật nuôi nội địa tồn tại rải rảc trên mọi vùng của đất nước;

- 5 giống đã mất, trong đó có giống Lợn ỉ mỡ Nam định, một thời đâu đâu cũng thấy;

- 15 giống đang bị mất vị trí do năng suất kém như gà Hồ, Đông tảo, lợn ỉ 30 giống còn đang được sử dụng trong sản xuất như bò Vàng, Bò Hmông, Trâu, Ngan… tuy nhiên cũng luôn luôn được đặt vào tình trạng báo động đặc biệt trong tình trạng ngưỡng chăn nuôi đang chuyển hướng theo hướng công nghiệp, nhu cầu thị trườnng biến động

Trang 27

Hình 1 Bản đồ phân bố các giống vật nuôi nội địa Việt Nam

(Chương trình Bảo tồn Nguồn gen Vật nuôi Việt Nam)

Tình trạng sử dụng, trạng thái phát triển và mức độ an toàn của nguồn gen vật nuôi được thể hiện trong Bảng 5

Trang 28

Bảng 5 Các giống gia súc nội địa Việt Nam, mục đích sử dụng,

mức độ an toàn, khuynh hướng tăng/giảm

Giống Quê hương Mức độ sủ dụng

trong sản xuất

Mức độ an toàn Tăng/Giảm

Lợn ỉ mỡ Nam định Không sử dụng Tiệt chủng (1)

Lợn ỉ gộc (năn) Nam định, Thanh

Hoá

Có sử dụng con cái làm nền

Nguy kịch (2) Giảm/dễ mất

Lợn Móng cái Quảng Ninh Sử dụng rộng rãi Không bền vững

(5)

Giảm/dễ pha tạp

Lợn Lang Hồng Bắc Giang Bị lai tạp Tiệt chủng (1)

Lợn Ba Xuyên Ba xuyên Sử dụng ít Dễ bị nguy hại

Giảm/dễ mất (ít đực)

Lợn Phú Khánh Khánh Hoà Bị lai tạp Tiệt chủng (1) )

Lợn Mường khương Hà Giang Sử dụng tương đối

Lắc

Sử dụng tương đối rộng rãi

Bình thường (6) Giảm

có lợn đực Lợn Sơn vi Vĩnh phú Tiệt chủng (1)

Lợn Vân Pa Quảng trị Dễ bị nguy hại

Bò H’mông Hà Giang Sử dụng rộng rãi Bình thường (6) ổn định

Bò U đầu rìu Nghệ An Sử dụng hẹp do ít Dễ bị nguy hại

(4)

Giảm do chủ trương Sind hoá

CÁC GIỐNG DÊ,

CỪU, HIÊU, NAI

Dê Cỏ Miền bắc Sử dụng rộng rãi Bình thường (6) ổn định

Dê Bách Thảo Ninh thuận Sử dụng rộng rãi Bình thường (6) Tăng

Cừu Phan Rang Ninh Thuận Sử dụng rộng rãi Bình thường (6) Tăng

Hươu Sao Quỳnh Lưu - Nghệ

An, Hương Sơn –

HT

Sử dụng rộng rãi Bình thường (6) Giảm

Nai Trường ĐH Tây

Nguyên Sử dụng tương đối rộng rãi Bình thường (6) Tăng Ngựa Bạch Vùng núi phía Bắc Sử dụng hẹp do ít Dễ bị nguy hại

(4)

Giảm Ngựa Màu Thái Nguyên Sử dụng rộng rãi Bình thường (6) ổn định

Trang 29

Giống Quê hương Mức độ sủ dụng

trong sản xuất Mức độ an toàn Tăng/Giảm

Thỏ Việt Nam đen và

năng suất Bình thường (6) ổn định ở mức hẹp

Gà Đông Tảo Khoái Châu-Hưng

Yên

Sử dụng hẹp do năng suất

Không bền vững (5)

Giảm/dễ pha tạp

Gà ác Vĩnh Long Sử dụng rộng Bình thường (6) Tăng

Vịt Bầu Quì Nghệ An Sử dụng hẹp Bình thường (6) Tăng

Vịt Kỳ Lừa Sử dụng hẹp Dễ bị nguy hại

(4)

Giảm/dễ pha tạp

Vịt Mốc Bình định Sử dụng tương đối

rộng Bình thường (6) Tăng Ngan Trâu Đồng bằng Bắc bộ Sử dụng tương đối

rộng

Bình thường (6) Giảm/dễ pha

tạp Ngan Dé Đồng bằng Bắc bộ Sử dụng rộng Bình thường (6) Giảm/ pha tạp Ngỗng Cỏ Đồng bằng Bắc bộ Sử dụng hẹp Nguy kịch (2) Giảm

Bồ Câu ta Cả nước Sử dụng rộng Bình thường (6) ổn định

Ghi chú: 1: Extinct; tiệt chủng 2: Critical; nguy kịch 3: Endangered; nguy hiểm 4: Vulnerable; dễ nguy hại 5: insecure; không bền vững 6: Normal: bình thường

1.2.3 Nội dung và phương pháp chính trong nghiên cứu và bảo tồn vật nuôi

ở Việt Nam

1.2.3.1 Ý nghĩa và mục đích của việc lưu giữ quĩ gen vật nuôi ở Việt Nam

Trang 30

Ý nghĩa

Các giống vật nuôi là một bộ phận quan trọng của ĐDSH nó là tài sản quí giá hiện đang phát huy ý nghĩa kinh tế như là giống thuần thích nghi với điều kiện sinh thái địa phương đồng thời còn là nguyên liệu phục vụ cho công tác lai tạo giống trước mắt và sau này Không riêng các loài dã thú bị uy hiếp nghiêm trọng do môi trường sống bị thu hẹp và sự săn bắt của con người Các giống vật nuôi dưới tác động của thiên nhiên và áp lực của kinh tế thị trường cũng đang bị mất dần, bị làm nghèo đi

Một trong những niềm tự hào của đất nước ta, đó là dù phải trải qua những cuộc chiến tranh khốc liệt, chúng ta vẫn còn giữ được một kho tàng ĐDSH phong phú Và việc gìn giữ kho báu này là công việc của toàn dân của nhà nước ta

Giống như dã thú, các vật nuôi cũng chịu sự huỷ diệt của thiên nhiên và ngay của con người, ngoài các lý do thiên tai hoả hoạn còn do:

- áp lực của cơ chế thị trường chạy theo năng suất cao, qua thay đổi giống mới,

bỏ giống địa phương

- Tác động của các kỹ thuật mới như thụ tinh nhân tạo, tạo ra vô vàn giống lai

có năng suất cao hơn, làm các giống nội thuần biến mất

Sự tuyệt chủng của nhiều giống vật nuôi địa phương, những giống tuy năng suất thấp nhưng mang những đặc điểm quí giá như thơm ngon, chịu đựng dinh dưỡng thấp, thích nghi với điều kiện sinh thái Sự tuyệt chủng này gần đây xảy ra rất nhanh theo tốc độ phát triển của kinh tế thị trường và đô thị hoá

1.2.3.2 Mục đích của việc nghiên cứu và lưu giữ quĩ gen vật nuôi

Bảo tồn nguồn gen có 5 mục đích sau (FAO): kinh doanh, xã hội và văn hoá, bảo vệ môi trường, Giảm sự may rủi, đảm bảo những nhu cầu trong tương lai cho nghiên cứu và đào tạo

(1) Mục đích kinh doanh

Sự đa dạng về giống sẽ là nguồn vật liệu quí giá trong lai tạo các giống phù hợp với đòi hỏi luôn thay đổi của thị trường

(2) Mục đích xã hội và văn hoá

Các giống vật nuôi đã góp phần làm phong phú cho các vùng du lịch, lễ hội truyền thống, làm mô hình dạy học và huấn luyện

(3) Mục đích bảo vệ hệ thống chăn nuôi, giảm sự may rủi

Sự đa dạng vật nuôi sẽ giảm bớt đi sự may rủi, tăng cường sự bền vững trong các hệ thống sản xuất đặc biệt khi môi trường thay đổi, xuống cấp ‘Mất con này thì còn con khác’

(4) Đảm bảo những nhu cầu trong tương lai

Nhu cầu của con người về tiêu dùng và sản xuất trong tương lai là chưa biết hết được Sự bảo tồn nguồn gen chính là biện pháp bảo tồn nguyên liệu sản xuất cho

Trang 31

tương lai Điều này đã thấy ở nước ta qua hai điển hình: lợn Móng Cái và gà Ri cho đến nay vẫn có tác dụng lớn trong sản xuất

(5) Mục đích nghiên cứu và đào tạo

Sự đa dạng di truyền vật nuôi là vật liệu quí của công tác nghiên cứu và giáo dục nhất là trong các môn như: miễn dịch, di truyền giống, dinh dưỡng, sinh sản

1.2.3.3 Nội dung

Nội dung việc tồn ĐDSH động vật nuôi bao gồm:

- Bảo tồn vật nuôi tại nơi sinh (Nguyên vị-insitu) và nơi khác (chuyển vị– exsitu)

- Bảo tồn vật liệu di truyền: tinh trùng, phôi, tế bào và ADN

- Điều tra - phát hiện các đối tượng mới

- Nghiên cứu xác định, đánh giá giá trị các đối tượng

- Xây dựng hệ thống dữ liệu

- Tuyên truyền và giáo dục

1.2.3.4 Phương pháp và triển khai

Các phương pháp bảo tồn cơ bản được dựa trên các hướng dẫn của FAO, của các cấp chính quyền Việt nam, trên năng lực hiện có Vật nuôi chủ yếu được bảo tồn tại các địa phương Một số giống quan trọng, có số lượng ít, hoặc cần nghiên cứu và phát triển còn được nuôi tại Viện Chăn nuôi: như Lợn ỉ, Vịt Bầu quì, Vịt Bầu bến, Vịt

Kỳ lừa, Vịt Đốm Lạng sơn, Gà Hmông, Gà Tè Do tình hình dịch bệnh cúm gia cầm, theo chỉ thị của Bộ Nông nghiệp và PTNT, một số giống gà khác còn phải được nuôi tập trung, đó là Gà Hồ, Gà Đông tảo, Gà Tre, Ngỗng cỏ

1.3 Vấn đề văn bản pháp lý về bảo vệ ĐDSH động vật nuôi, động vật hoang dã

Việt Nam đặc biệt quan tâm đến công tác bảo vệ môi trường, bảo tồn thiên nhiên và đặc biệt là bảo vệ hệ động thực vật hoang dã, là nước nỗ lực triển khai các họat động theo đúng tinh thần và nội dung Công ước CITES, đồng thời thực hiện đầy

đủ nghĩa vụ của nước thành viên Cả nước hiện đã xây dựng được hơn 100 khu Bảo tồn thiên nhiên và Vườn Quốc gia Trong khoảng 10 năm qua, các nhà khoa học Việt Nam đã phối hợp với các tổ chức và các nhà khoa học trên thế giới tiến hành điều tra, khảo sát, phát hiện nhiều loài động thực vật quí hiếm và đặc hữu chẳng những của Việt Nam mà còn của khu vực và thế giới Chính phủ Việt Nam cũng đã ban hành nhiều văn bản pháp qui để bảo vệ và phát triển rừng, cũng như để bảo vệ và phát triển các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp

Sớm nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường trong việc phát triển bền vững của đất nước, nhà nước ta đã đề ra nhiều chính sách và áp dụng nhiều biện pháp đồng bộ nhằm từng bước ngăn chặn suy kiệt tài nguyên và ô nhiễm

Trang 32

môi trường, tiến tới khôi phục tài nguyên hệ sinh thái, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên ĐDSH và bảo vệ môi trường một cách có hiệu quả Trong đó công tác hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường nói chung và bảo tồn ĐDSH nói riêng đã đạt được những kết quả đáng kể

Ở nước ta nghĩa vụ bảo vệ môi trường trở thành một nguyên tắc hiến định Điều 29, hiến pháp năm 1992 đạo luật cơ bản của Nhà nước ta đã khẳng định "cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, mọi cá nhân phải thực hiện các quy định của Nhà nước về sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo

vệ môi trường Nghiêm cấm mọi hành vi làm suy kiệt tài nguyên thiên nhiên và huỷ hoại môi trường"

Tiếp theo đó, luật bảo vệ môi trường và các văn bản quy phạm pháp luật khác liên quan đến môi trường đã được quốc hội, chính phủ và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, tạo ra khung pháp luật tương đối hoàn chỉnh và đồng bộ nhằm đưa công tác bảo vệ môi trường ngày càng đi vào nề nếp Mặt khác, trong vài năm gần đây, Nhà nước ta đã ký kết hoặc tham gia hàng loạt các điều ước quốc tế quan trọng nhất trong lĩnh vực môi trường mà chúng ta sẽ liệt kê dưới đây

Cơ sở luật pháp cho việc quản lý ĐDSH ở Việt Nam bao gồm các nhóm sau:

ƒ Các công ước quốc tế mà Việt nam là thành viên

ƒ Các Luật và Pháp lệnh do Quốc hội thông qua

ƒ Các Nghị định và Chỉ thị của Chính phủ nhằm hướng dẫn các hành động cụ thể

ƒ Các thông tư liên bộ, các văn bản do cấp Bộ và UBND các tỉnh ban hành

1.3.1 Các công ước quốc tế mà Việt nam là thành viên

Các công ước quốc tế mà Việt nam là thành viên gồm:

1 Công ước ĐDSH (1992) Việt Nam tham gia ngày 16/11/1994

2 Công ước về các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế đặc biệt như

là nơi cư trú của loài chim nước (Công ước Ramsar, 2/2/1971, sửa đổi theo Nghị định thư Paris ngày 3/12/1982) Việt Nam tham gia từ năm 1989

3 Công ước bảo vệ di sản văn hoá và tự nhiên của thế giới (16/11/1972) Việt Nam tham gia 19/10/1987

4 Công ước quốc tế về buôn bán các loài động vật hoang dã nguy cấp (ký năm

1994 - Công ước CITEC)

5 Công ước Viên về bảo vệ tầng ôzôn (26/04/1994)

7 Công ước khung về biến đổi khí hậu của Liên hợp quốc (1992, Việt Nam tham gia 16/11/1997 )

Trang 33

1.3.2 Các Luật và Pháp lệnh do Quốc hội thông qua

Để xây dựng cơ sở pháp lý cho việc bảo vệ tài nguyên ĐDSH của đất nước, từ

1992 đến nay Quốc hội đã ban hành một số luật cơ bản:

- Luật bảo vệ và phát triển vốn rừng (19-8-1991) Luật nêu rõ:

“Rừng là tài nguyên quý báu của đất nước, có khả năng tái tạo, là bộ phận quan trọng của môi trường sinh thái, có giá trị to lớn với nền kinh tế quốc dân, gắn liền với đời sống của nhân dân và sự sống còn của dân tộc” Luật này quy định việc quản lý, bảo

vệ, phát triển và sử dụng rừng Tại điều 5 và 6, chương I, phần những quy định chung, có nêu rõ : “ Cơ quan Nhà nước, Tổ chức kinh tế, Tổ chức xã hội, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân và mọi công dân có nghĩa vụ bảo vệ, phát triển rừng, bảo vệ môi trường sinh thái Nghiêm cấm mọi hành vi huỷ hoại tài nguyên rừng.”

- Luật đất đai (24-7-1993)

- Luật tài nguyên nước (20-5-1998)

- Luật bảo vệ môi trường (27-12-1993) Trong Luật có ghi rõ: “Môi trường có

tầm quan trọng đặc biệt đối với đời sống của con người, sinh vật và sự phát triển kinh

tế, văn hoá, xã hội của đất nước, dân tộc và nhân loại.” Chương II của Luật quy định chi tiết về việc phòng chống suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường Chương III quy định về khắc phục suy thoái môi trường, ô nhiêm môi trường,

sự cố môi trường Chương IV nói về quản lý Nhà nước về Bảo vệ môi trường

- Luật khoáng sản (20-3-1996)

- Pháp lệnh bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản

- Pháp lệnh về kiểm dịch thực vật

- Pháp lệnh Thú Y, ngày 29/04/2004 và Nghị định của CP số 33/2005/NĐ-CP,

ngày 15/03/2005, Quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Thú y

- Pháp lệnh về giống vật nuôi Trong chương II của pháp lệnh, có quy định về

việc quản lý và bảo tồn nguồn gen vật nuôi bao gồm: bảo tồn nguồn gen vật nuôi; thu thập, bảo tồn nguồn gen vật nuôi quý hiếm; trao đổi nguồn gen vật nuôi quý hiếm Theo Pháp lệnh về giống vật nuôi, Nhà nước sẽ đầu tư và hỗ trợ cho việc thu thập, bảo tồn nguồn gen vật nuôi quý hiếm; xõy dựng cơ sở lưu giữ nguồn gen vật nuôi quý hiếm; bảo tồn nguồn gen vật nuôi quý hiếm tại địa phương

- Luật chuyển giao công nghệ

- Bộ luật hình sự (21-12-1999) Trong đó, chương XVII của Bộ Luật hình sự

có quy định các tội phạm về môi trường từ điều 182-191 điều 187: Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho động vật, thực vật điều 188: Tội huỷ hoại nguồn lợi thuỷ sản

Điều 189: Tội huỷ hoại rừng Điều 190: Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật hoang dã quý hiếm

Trang 34

Điều 191: Tội vi phạm chế độ bảo vệ đặc biệt đối với khu bảo tồn thiên nhiên

- Luật ĐDSH (Luật số 20/2008/QH12, ngày ngày 13 tháng 11 năm 2008), có

hiệu lực từ 1/7/2009 Với Luật ĐDSH, lần đầu tiên việc quản lý, bảo tồn và phát triển ĐDSH của Việt Nam được qui về một mối, như một thể thống nhất và là sự hoàn thiện nội dung quan trọng thứ 3 trong công tác bảo vệ môi trường (phòng ngừa kiểm soát ô nhiễm; cải thiện và nâng cao chất lượng môi trường; bảo tồn thiên nhiên và ĐDSH) Thông qua 8 chương, 78 điều quy định về nguyên tắc chính sách của Nhà nước về bảo tồn và phát triển bền vững ĐDSH, Luật thống nhất những qui định liên quan đến ĐDSH như khu bảo tồn thiên nhiên, ưu tiên bảo vệ động vật hoang dã; đánh giá, lưu giữ, bảo quản nguồn gen và cơ sở dữ liệu về nguồn gen Đặc biệt, Luật đã quy định các vấn đề mới như quy hoạch bảo tồn; tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích, kiểm soát sinh vật ngoại lai xâm hại; quản lý rủi ro của sinh vật biến đổi gen đối với ĐDSH; tài chính cho bảo tồn và phát triển bền vững ĐDSH

1.3.3 Các văn bản dưới luật do Chính phủ ban hành

Chính phủ ban hành nhiều văn bản quan trọng nhằm bảo vệ ĐDSH ở Việt Nam

Kế hoạch hành động ĐDSH của Việt Nam (BAP) đã được phê duyệt tại

quyết định số 845-TTg ngày 22-12-1995 của Thủ tướng chính phủ Kế hoạch Hành động ĐDSH (BAP) Theo Quyết định số 845/TTg ngày 22/12/1995 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt “Kế hoạch hành động ĐDSH của Việt Nam”, Bộ Khoa học, Công nghệ và môi trường (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ) được chỉ định là

cơ quan đầu mối thực hiện kế hoạch gồm những nội dung cơ bản: nâng cao nhận thức công chúng, tăng cường tiềm lực, đào tạo cán bộ, nghiên cứu khoa học Mục tiêu lâu dài của Kế hoạch ĐDSH Việt Nam là “Bảo vệ ĐDSH phong phú và đặc sắc của Việt Nam trong khuôn khổ phát triển bền vững” Để thực hiện mục tiêu này, Kế hoạch ĐDSH Việt Nam đưa ra mục tiêu trước mắt: (1) Bảo vệ hệ sinh thái đặ thù của Việt Nam, các hệ sinh thái đặc thù đang bị đe doạ thu hẹp hay huỷ hoại do tác động của các hoạt động kinh tế của con người; (2) Bảo vệ bộ phận của ĐDSH đang bị đe doạ

do khai thác quá mức hay bị lãng quên; (3) Phát huy và phát hiện các giá trị sử dụng của bộ phận ĐDSH trên cơ sở phát triển bền vững các giá trị tài nguyên, phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế đất nước

Chỉ thị số 359/TTg ngày 29-5-1996 của Thủ tướng chính phủ về những biện

pháp cấp bách để bảo vệ và phát triển các loài động vật hoang dã

* Các quyết định của chính phủ về hệ thống rừng đặc dụng

* Các quyết định của chính phủ về các vườn quốc gia

Trên cơ sở của các Luật và Pháp lệnh trên, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành mới, bổ sung sửa đổi một số điều khoản của các nghị định, các chỉ thị cụ thể

Trang 35

Nhằm bảo vệ, khai thác và sử dụng hợp lý nguồn lợi động, thực vật rừng, đặc biệt là các loài quý hiếm, các loài đặc hữu; ngăn chặn sự khai thác bừa bãi, Hội đồng

Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Nghị định 18/HĐBT ngày 17 tháng 1 năm

1992 nhằm quy định danh mục các loài động, thực vật quý hiếm và chế độ quản lý bảo vệ chúng Danh mục này bao gồm 2 nhóm, trong đó nhóm 1 có 13 loài thực vật

và 49 loài động vật có xương sống bị cấm khai thác; nhóm 2 có 19 loài và nhóm loài (tổng cộng là 27 loài) thực vật và 15 loài động vật bị hạn chế khai thác

Ngoài ra, các văn bản của chính phủ mang tính chiến lược và có ảnh hưởng quyết định tới quản lý ĐDSH như:

- Quyết định số 556/TTg ngày 12/9/1995 của Thủ tướng chính phủ nhằm điều

chỉnh, bổ sung quyết định 327/CT (1993) về trồng rừng trên đất trống, đồi núi trọc Đây là cơ sở tiến tới xây dựng Chương trình trồng 5 triệu ha rừng, nhiều hệ sinh thái

bị huỷ hoại đã từng bước được khôi phục

- Chỉ thị 286/TTg ngày 2/5/1997 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường

các biện pháp cấp bách để bảo vệ và phát triển rừng Chỉ thị này nhằm từng bước tiến tới ngừng khai thác gỗ trong rừng tự nhiên để khôi phục lại các hệ sinh thái rừng nhiệt đới và khuyến khích trồng rừng giải quyết nhu cầu gỗ củi trong nước

- Nghị định của Chính phủ số 48/2002/NĐ-CP ngày 22/4/2002 về việc sửa

đổi, bổ sung danh mục thực vật, động vật hoang dã quý hiếm ban hành kèm theo Nghị định số 18/HĐBT ngày 17 tháng 1 năm 1992 của Hội đồng Bộ trưởng quy định danh mục thực vật

- Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ số 07/2002/CT-TTg ngày 25/2/2002 về

việc tăng cường quản lý việc sử dụng thuốc kháng sinh, hoá chất trong sản xuất kinh doanh thực phẩm có nguồn gốc động vật

1.3.4 Các văn bản cấp bộ, ngành, thông tư liên bộ, UBND tỉnh ban hành

Các bộ, ngành liên quan ban hành nhiều văn bản quan trọng liên quan đến bảo

vệ ĐDSH

* Năm 1991, Chương trình Hành động Lâm nghiệp Nhiệt đới đã ra đời góp phần quy hoạch tổng thể đất lâm nghiệp trong phạm vi toàn quốc Với cố gắng của nhiều nhà khoa học, Sách đỏ Việt Nam đã được soạn thảo trong đó Tập I, phần động vật (xuất bản năm 1992) bao gồm 347 loài; Tập II, phần thực vật (xuất bản năm 1996) gồm 350 loài hiếm và có nguy cơ bị đe doạ

* Về lĩnh vực nghiên cứu bảo tồn tài nguyên di truyền, suốt từ năm 1988 cho tới nay, Chương trình “Bảo tồn nguồn gen quốc gia” do Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường chủ trì và đầu tư đã góp phần đáng kể vào thành công của công tác bảo tồn nguồn gen ở nước ta Định hướng chiến lược, lựa chọn hình thức và lựa chọn các loài cần bảo tồn đã được bước đầu đưa ra xem xét và tiếp tục hoàn thiện

Trang 36

* Chương trình nâng cao nhận thức ĐDSH, giai đoạn2002-2010, quyết định số 26/2002/QĐ-BKHCNMT, ngày 8-5-2002

* Quyết định số 1171-QĐ của Bộ trưởng Bộ Lâm nghiệp (1992) ban hành Quy chế rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng

* Công văn số 1586 LN/KL ngày13/7/1993 của Bộ trưởng Bộ Lâm nghiệp quy định vùng đệm của các vườn quốc gia và các khu bảo tồn thiên nhiên

* Thông tư số 123/2003/TT-BNN ngày 14/11/2003 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 11/2002/NĐ-CP ngày 22/1/2002 của Chính phủ về việc quản lý các hoạt động xuất nhập khẩu và quá cảnh các loài động vật, thực vật hoang dã

* Chỉ thị của UBND Thành phố Hà Nội về việc tăng cường công tác: phòng chống dịch bệnh, kiểm dịch động vật, kiểm soát giết mổ, kiểm tra vệ sinh thú y đối với gia súc, gia cầm và tiêm phòng bệnh lở mồm, long móng gia súc trên địa bàn thành phố Hà Nội

Ngoài ra, còn rất nhiều hệ thống các văn bản do các bộ, ngành liên quan đến quản lý ĐDSH ban hành, những bộ chủ chốt bao gồm:

* Bộ Khoa và Công nghệ

* Bộ Tài nguyên và Môi trường

* Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

* Bộ Thuỷ sản

* Bộ Kế hoạch và Đầu tư

* Tổng cục Du lịch

1.4 Kiến nghị

Để tăng cường bảo vệ ĐDSH, việc ban hành các văn bản pháp luật là điều cực

kỳ quan trọng giúp các đơn vị có liên quan thực hiện Sau khi xem xét các văn bản đã ban hành trong thời gian qua, chúng tôi xin kiến nghị một số công tác trong việc soạn thảo văn bản pháp luật về ĐDSH như sau:

(1) Những luật cần điều chỉnh để tăng cường quản lý ĐDSH

Để phù hợp hơn với những nhiệm vụ quản lý ĐDSH mới đặt ra, một số luật đã được ban hành cần điều chỉnh, bổ sung một số điều khoản cụ thể như sau:

Trang 37

* Trong Luật Bảo vệ môi trường, chương II và chương III đề cập đến nhiệm vụ bảo tồn thiên nhiên, nhưng còn rất chung chung Đặc biệt vấn đề ĐDSH chưa được làm rõ trong chương này

(2) Các văn bản pháp luật cần xây dựng mới (luật và dưới luật) để quản lý tốt hơn nguồn tài nguyên ĐDSH

• Quy chế quản lý sinh vật biến đổi gen và các sản phẩm của chúng

• Quy chế quản lý các khu bảo tồn nhằm thống nhất các biện pháp quản lý hệ thống các khu bảo tồn gồm: bảo tồn rừng, biển và đất ngập mặn

(3) Những vấn đề mới cần tiếp cận sớm để hoà nhập với xu thế chung của quốc tế

Cần tiếp cận với các quan điểm của thế giới để tiến tới xây dựng các quy định chính sách phù hợp với tinh thần của công ước ĐDSH

• An toàn sinh học, sinh vật lạ

• Tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích ĐDSH

• Quan hệ thương mại và ĐDSH

• Du lịch sinh thái

• Tri thức bản địa

II ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG NÂNG CAO NHẬN THỨC CỘNG ĐỒNG VỀ BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC ĐỘNG VẬT NUÔI VÀ ĐỘNG VẬT HOANG DÃ

2.1 Tình hình nhận thức về ĐDSH

Cũng giống như nhiều nước trên thế giới, Việt Nam không chỉ chú trọng đến phát triển kinh tế mà trong quá trình phát triển kinh tế, đặc biệt trong giai đoạn bước đầu phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước còn phải quan tâm đến các vấn

đề bảo vệ môi trường, bảo vệ các nguồn gen động thực vật quý hiếm, có giá trị Nhằm thực hiện mục tiêu quan trọng đó, từ năm 1993 đến nay, các nhà khoa học Việt Nam được sự hỗ trợ của Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường (trước đây) đã lần lượt tập hợp xử lý, phân tích các tư liệu về ĐDSH, đồng thời tham khảo các tài liệu quốc tế về các chỉ tiêu, các mức độ đánh giá về số lượng, chất lượng của từng taxon, từng quần thể trong hệ thống các loài, nhóm loài sinh vật thuộc diện quý hiếm đang đứng trước tình trạng nguy cấp bị tuyệt chủng hoặc số lượng của chúng trong thiên nhiên ngày càng bị suy giảm Từ những thông tin quan trọng đó đã biên soạn cuốn

“Sách Đỏ Việt Nam” (Red data book), trong đó công bố, mô tả 365 loài động vật và

356 loài thực vật thuộc diện quý hiếm, đặc hữu đang trong tình trạng có nguy cơ

Trang 38

tuyệt chủng trên lãnh thổ Việt Nam – cái nôi mà ở đó, chúng đã được sinh ra, tồn tại

và phát triển qua hàng trăm triệu năm nhằm cung cấp những tư liệu quý giá cho các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách và nâng cao nhận thức cộng đồng Đây là tài liệu không những có tính chất quốc gia mà còn có ý nghĩa quốc tế, bởi vì tài liệu này sẽ góp phần đánh giá hiện trạng ĐDSH cũng như sự suy giảm, nghèo kiệt các quỹ gen tự nhiên trên toàn cầu Trên cơ sở đó, đối với quốc tế nói chung và Việt Nam nói riêng, cần đưa ra một kế hoạch hành động ưu tiên nhằm cứu vãn tình trạng nghèo kiệt ĐDSH

Ở Việt Nam,vấn đề bảo tồn ĐDSH đã bắt đầu được quan tâm từ những năm

1990 Nhiều văn bản pháp quy, chương trình hành động liên quan đến bảo tồn ĐDSH đã được ban hành Công tác giáo dục nâng cao nhận thức cùng các hoạt động bảo tồn ĐDSH về động vật hoang dã đã đạt được những kết quả và tiến bộ nhất định Các hoạt động bảo tồn và nghiên cứu ĐDSH ngày càng được đẩy mạnh ở các cơ quan Trung ương và địa phương, đặc biệt là các cơ quan chức năng có liên quan Nhiều tổ chức quốc tế đã quan tâm và tài trợ cả về kỹ thuật lẫn tài chính cho công tác bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam cũng như công tác nâng cao nhận thức ĐDSH Tuy nhiên, nhận thức của cộng đồng về ĐDSH và bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam cũng còn nhiều hạn chế

do các nguyên nhân chính sau đây:

- Việc giáo dục nâng cao nhận thức ĐDSH tuy được nhiều cơ quan, tổ chức thực hiện nhưng không đồng bộ, không liên tục mà chủ yếu phụ thuộc vào các điều kiện ngoại cảnh (có dự án, có tiềm lực và có sự quan tâm của ngành, của lãnh đạo)

- Chưa có cơ quan đầu mối ở cấp quốc gia về giáo dục bảo tồn ĐDSH nên thiếu sự tổ chức chỉ đạo, dẫn đến hiệu quả giáo dục thấp, lãng phí tài chính

- Thiếu sự chỉ đạo tập trung và phối hợp giữa các cơ quan chức năng của Nhà nước nên tài liệu giáo dục nâng cao nhận thức ĐDSH thiếu tính pháp lý, chất lượng khoa học không được quản lý chặt chẽ

- Giáo dục nâng cao nhận thức ĐDSH chưa hoặc tiếp cận hạn chế với các cộng đồng dân cư vùng sâu vùng xa, nơi rất cần tăng cường nhận thức về ĐDSH

- Phương pháp và hình thức giáo dục chưa phong phú, chưa phù hợp với các đối tượng, đặc biệt là đối với cộng đồng các dân tộc ít người vùng sâu vùng xa

Trong những năm gần đây, trên nhiều phương tiện thông tin đại chúng, trong một số sách giáo khoa phổ thông, giáo trình của các trường đại học đã đề cập đến vấn

đề bảo vệ ĐDSH Những nỗ lực liên tục của Nhà nước Việt Nam và của nhiều tổ chức quốc tế đã giúp cho công chúng và các nhà hoạch định chính sách, các nhà ra quyết định nhận thấy rõ hơn vai trò và giá trị của ĐDSH Tuy nhiên, nhận thức đó còn chưa sâu sắc, đặc biệt là các hoạt động truyền thông và giáo dục nâng cao nhận thức còn chưa mạnh mẽ, chưa biến thành hành động cụ thể, cho nên kết quả đạt được của các hoạt động bảo tồn còn nhiều hạn chế

Trang 39

2.1.1 Thời kỳ trước 1990

Trước những năm 1990, phần lớn cộng đồng dân cư trong cả nước, đặc biệt là một số cộng đồng đồng bào các dân tộc vùng sâu, vùng xa chưa có nhận thức về ĐDSH, vì họ chưa hiểu được thế nào là ĐDSH cho nên cũng không biết được tầm quan trọng cũng như sự cần thiết bảo tồn ĐDSH, mặt khác là do cuộc sống khó khăn nên họ chỉ quan tâm nhiều hơn đến việc tìm kiếm, khai thác các loại tài nguyên sinh vật để phục vụ cho cuộc sống thường nhật của mình Để giải quyết nạn đói, nhân dân vào rừng đốt nương làm rẫy và săn bắt các loài động vật Vì thế tài nguyên rừng bị suy giảm nhanh, đã đe dọa trực tiếp đến đời sống kinh tế-xã hội ở nhiều vùng đất nước, đặc biệt là vùng Đông Bắc, Tây Bắc và Bắc Trung Bộ Nhờ có tuyên truyền và

từ thực tế các thiệt hại do thiên tai, lũ lụt, hạn hán, nên đa số nhân dân đã bắt đầu nhận thức được mối nguy cơ của sự mất rừng dẫn đến mất nguồn nước sinh hoạt và sản xuất Một số kiến thức bản địa và quy ước quản lý rừng của cộng đồng, như rừng thiêng, rừng ma ở một số vùng cũng có giá trị nhất định trong bảo tồn ĐDSH Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã có thông tư hướng dẫn xây dựng quy ước (1999) của buôn, làng, bản về bảo vệ rừng cộng đồng

Nhận thức về quản lý và sử dụng tài nguyên sinh vật của các cấp lãnh đạo chính quyền thôn, xã, huyện, tỉnh và cả các ngành ở Trung ương cũng còn yếu kém Với vai trò là người phải lo đời sống kinh tế của địa phương, nhiều cán bộ lãnh đạo thôn, xã, huyện, tỉnh, các cán bộ ngành thường quan tâm nhiều hơn đến việc mở mang đất canh tác, phát triển ngành nghề Một số phương thức phát triển kinh tế cho địa phương như phát triển sản xuất nương rẫy, phát triển chăn nuôi tự do, đã gây những ảnh hưởng bất lợi đến công tác quản lý bảo vệ tài nguyên sinh học Tuy nhiên,

ở một số địa phương thôn, xã, huyện, tỉnh, ngành việc bảo vệ tài nguyên sinh vật cũng đã được các nhà lãnh đạo nghĩ tới nhưng hành động chưa được thể hiện một cách mạnh mẽ, vì còn thiếu kiến thức về ĐDSH

Trước những năm 1990, do nền kinh tế kém phát triển nên các nhà lãnh đạo thường có thiên hướng tìm kiếm mọi giải pháp phục hồi và tăng trưởng kinh tế mà không quan tâm đến việc bảo tồn và phát triển tài nguyên Việc khai thác các nguồn tài nguyên không chỉ phục vụ cho tiêu dùng mà còn để xuất khẩu Chính vì vậy, việc đầu tư phát triển diện tích nuôi tôm, cua, mở mang nông, lâm trường, phá rừng mở mang đất trồng cà phê, điều, hồ tiêu, làm hàng xuất khẩu, mở mang đất nông nghiệp,

tự túc lương thực là những kế hoạch phát triển kinh tế khác của các tỉnh, huyện Những điều đáng quan tâm là việc thực hiện các mục tiêu của kế hoạch đó nhiều khi chưa dựa trên cơ sở khoa học, chưa dựa trên quy hoạch tổng thể, gây nên lạm dụng, khai thác quá mức đã làm cho tài nguyên sinh vật ngày càng bị suy giảm nhanh chóng

Ở tầm vĩ mô, nhận thức về quản lý bảo vệ tài nguyên và môi trường đã được Nhà nước Việt Nam quan tâm từ những năm của thập kỷ 60 Nhiều văn bản pháp luật

đã được ban hành (xem phần sau và phụ lục)

Trang 40

Bên cạnh các văn bản pháp luật, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã quan tâm đúng mức đến việc phát triển hệ thống các trường đại học, các viện nghiên cứu về sinh học và tài nguyên thiên nhiên nhằm đào tạo cán bộ khoa học trong lĩnh vực quản

lý và bảo vệ tài nguyên sinh vật, cũng như giáo dục nâng cao nhận thức về bảo tồn thiên nhiên và môi trường

2.1.2 Từ 1990

Từ 1990, vấn đề nhận thức của công chúng về ĐDSH bị tác động của xu thế kinh tế thị trường Việc buôn bán bất hợp pháp động vật hoang dã có chiều hướng gia tăng Theo kết quả điều tra 20 điểm nóng trong toàn quốc từ miền Bắc đến miền Nam cho thấy tổng lượng động vật hoang dã sống và thịt được buôn bán trên địa bàn Việt Nam hàng năm vào khoảng 3.050 tấn, trong đó 45 – 50% đựơc tiêu thụ trong nước,

số còn lại được xuất khẩu bất hợp pháp qua biên giới Trung Quốc (qua cửa khẩu Quảng Ninh, Lạng Sơn) và các nước Đông Á khác Hầu hết thịt động vật hoang dã được tập trung tiêu thụ ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, mà điển hình là ở làng

Lệ Mật, chợ Đồng Xuân (Hà Nội) và ở quận Bình Chánh, chợ Cầu Mống (thành phố

Hồ Chí Minh) Tổng doanh thu hàng năm do hiện tượng buôn bán bất hợp pháp động vật hoang dã mang lại ước tính 66,5 triệu USD trong đó lãi khoảng 21 triệu USD Số tiền lãi do buôn bán động vật hoang dã bất hợp pháp lớn hơn 31 lần so với ngân sách của các cơ quan chức năng và các tổ chức bảo tồn quốc tế đầu tư cho giám sát, bảo tồn động vật hoang dã hàng năm Số lãi này lớn gấp khoảng 3,2 lần tổng ngân sách của Nhà nước dành cho ngành kiểm lâm và gấp 4 lần so với số tiền phạt mà các ngành chức năng bắt giữ được Tổng doanh thu ước tính do buôn bán động vật hoang

dã bất hợp pháp lớn gấp 12 lần tổng doanh thu do buôn bán hợp pháp động vật hoang

dã đem lại (5,2 triệu USD, năm 2000) Qua nghiên cứu cũng cho thấy, số lượng động vật sống và thịt tiêu thụ nội địa và qua biên giới bị phát hiện bắt giữ bình quân từ năm

1997 đến năm 2002 mới chỉ bằng 3,1% so với thực tế Thị trường thịt và thị trường các loại sản phẩm khô như mật gấu, các loại cao chiếm phần lớn thị phần Sản phẩm thú nhồi bông chiếm một phần rất nhỏ trong tổng số Loại động vật hoang dã đắt nhất trên thị trường hiện nay là rùa vàng, giá khoảng 40 triệu đồng/kg, loài rùa này hầu như đã bị tuyệt chủng ở Việt Nam Giá 1 kg tê tê tại biên giới Móng Cái (Quảng Ninh) cao gấp 4 lần tại Đông Hà (Quảng Trị) Lợi nhuận là nguyên nhân quan trọng khiến những người buôn bán và săn bắt động vật hoang dã tăng cường săn lùng, tìm kiếm và bất chấp pháp luật

Trong những năm gần đây, ở Việt Nam, việc buôn bán và xuất khẩu các sản phẩm sinh vật, các động vật và thực vật, kể cả những loài được bảo vệ, có xu thế gia tăng Vì thiếu kế hoạch hợp lý, hoặc thiếu sự kiểm tra chặt chẽ trong việc khai thác các tài nguyên sinh vật rừng mà ở nhiều vùng, một số loài động vật như tê giác, hổ, báo, voi, gấu, khỉ, vượn, voọc, các loài cây như pơmu, trầm hương, gỗ đỏ… đã ngày càng trở nên khan hiếm Nhiều loài động vật thông thường như tê tê, các loài rùa, rắn,

kỳ đà, ếch, ba ba đang được xuất khẩu một cách nhộn nhịp sang Hồng Kông, Thái Lan và nhất là Trung Quốc trong thời gian gần đây là mối đe doạ lớn đối với sự tổn thất về ĐDSH Giá trị xuất khẩu cao của các loài nói trên đã thúc đẩy nhiều người

Ngày đăng: 19/04/2014, 01:37

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Số lượng các loài ở Việt Nam - Nghiên cứu xây dựng hệ thống thông tin nhằm nâng cao nhận thức về bảo tồn và sử dụng hợp lý nguồn đa dạng sinh học một số đối tượng động vật nuôi và động vật hoang dã tại việt nam
Bảng 1. Số lượng các loài ở Việt Nam (Trang 13)
Bảng 2 sau là danh mục một số  dạng  được xếp vào loài có nguy cơ tuyệt - Nghiên cứu xây dựng hệ thống thông tin nhằm nâng cao nhận thức về bảo tồn và sử dụng hợp lý nguồn đa dạng sinh học một số đối tượng động vật nuôi và động vật hoang dã tại việt nam
Bảng 2 sau là danh mục một số dạng được xếp vào loài có nguy cơ tuyệt (Trang 15)
Bảng 3 liệt kê những kiến thức cấp tỉnh khi các cán bộ được yêu cầu đánh giá  những đe doạ chính đối với ĐDSH  ở địa phương họ - Nghiên cứu xây dựng hệ thống thông tin nhằm nâng cao nhận thức về bảo tồn và sử dụng hợp lý nguồn đa dạng sinh học một số đối tượng động vật nuôi và động vật hoang dã tại việt nam
Bảng 3 liệt kê những kiến thức cấp tỉnh khi các cán bộ được yêu cầu đánh giá những đe doạ chính đối với ĐDSH ở địa phương họ (Trang 18)
Hình 1. Bản đồ phân bố các giống vật nuôi nội địa Việt Nam - Nghiên cứu xây dựng hệ thống thông tin nhằm nâng cao nhận thức về bảo tồn và sử dụng hợp lý nguồn đa dạng sinh học một số đối tượng động vật nuôi và động vật hoang dã tại việt nam
Hình 1. Bản đồ phân bố các giống vật nuôi nội địa Việt Nam (Trang 27)
Bảng 5.  Các giống gia súc nội địa Việt Nam, mục đích sử dụng, - Nghiên cứu xây dựng hệ thống thông tin nhằm nâng cao nhận thức về bảo tồn và sử dụng hợp lý nguồn đa dạng sinh học một số đối tượng động vật nuôi và động vật hoang dã tại việt nam
Bảng 5. Các giống gia súc nội địa Việt Nam, mục đích sử dụng, (Trang 28)
Hình 2. Sơ đồ nguyên lý hoạt động của WWWISIS trên Internet - Nghiên cứu xây dựng hệ thống thông tin nhằm nâng cao nhận thức về bảo tồn và sử dụng hợp lý nguồn đa dạng sinh học một số đối tượng động vật nuôi và động vật hoang dã tại việt nam
Hình 2. Sơ đồ nguyên lý hoạt động của WWWISIS trên Internet (Trang 59)
Sơ đồ nguyên lý của việc chuyển đổi mã như trong hình 3. - Nghiên cứu xây dựng hệ thống thông tin nhằm nâng cao nhận thức về bảo tồn và sử dụng hợp lý nguồn đa dạng sinh học một số đối tượng động vật nuôi và động vật hoang dã tại việt nam
Sơ đồ nguy ên lý của việc chuyển đổi mã như trong hình 3 (Trang 59)
Hình 4. Biểu mẫu tìm tin có trợ giúp - Nghiên cứu xây dựng hệ thống thông tin nhằm nâng cao nhận thức về bảo tồn và sử dụng hợp lý nguồn đa dạng sinh học một số đối tượng động vật nuôi và động vật hoang dã tại việt nam
Hình 4. Biểu mẫu tìm tin có trợ giúp (Trang 60)
Bảng 6. Tính năng của GSDL - Nghiên cứu xây dựng hệ thống thông tin nhằm nâng cao nhận thức về bảo tồn và sử dụng hợp lý nguồn đa dạng sinh học một số đối tượng động vật nuôi và động vật hoang dã tại việt nam
Bảng 6. Tính năng của GSDL (Trang 66)
Hình 5: Giao diện nhập siêu dữ liệu của phần mềm GLI - Nghiên cứu xây dựng hệ thống thông tin nhằm nâng cao nhận thức về bảo tồn và sử dụng hợp lý nguồn đa dạng sinh học một số đối tượng động vật nuôi và động vật hoang dã tại việt nam
Hình 5 Giao diện nhập siêu dữ liệu của phần mềm GLI (Trang 69)
Hình 6. Giao diện của trang tìm kiếm thông tin của CSDL ảnh - Nghiên cứu xây dựng hệ thống thông tin nhằm nâng cao nhận thức về bảo tồn và sử dụng hợp lý nguồn đa dạng sinh học một số đối tượng động vật nuôi và động vật hoang dã tại việt nam
Hình 6. Giao diện của trang tìm kiếm thông tin của CSDL ảnh (Trang 70)
Hình 7. Hình kết quả tìm kiếm CSDL ảnh - Nghiên cứu xây dựng hệ thống thông tin nhằm nâng cao nhận thức về bảo tồn và sử dụng hợp lý nguồn đa dạng sinh học một số đối tượng động vật nuôi và động vật hoang dã tại việt nam
Hình 7. Hình kết quả tìm kiếm CSDL ảnh (Trang 70)
Hình 8.  Trang màn hình duyệt xem theo đề mục (chủ đề) - Nghiên cứu xây dựng hệ thống thông tin nhằm nâng cao nhận thức về bảo tồn và sử dụng hợp lý nguồn đa dạng sinh học một số đối tượng động vật nuôi và động vật hoang dã tại việt nam
Hình 8. Trang màn hình duyệt xem theo đề mục (chủ đề) (Trang 71)
Bảng 7. Các chuyên mục chính trong trang chủ theo 3 ngôn ngữ - Nghiên cứu xây dựng hệ thống thông tin nhằm nâng cao nhận thức về bảo tồn và sử dụng hợp lý nguồn đa dạng sinh học một số đối tượng động vật nuôi và động vật hoang dã tại việt nam
Bảng 7. Các chuyên mục chính trong trang chủ theo 3 ngôn ngữ (Trang 83)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w