Ví dụ trên chỉ là một trong rất nhiều các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn nghề nghiệp được đề cập trong các nghiên cứu về lựa chọn nghề nghiệp Gati và Asulin, 2011; Lotriet và cs, 2011; Le
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-TÊN ĐỀ TÀI: VAI TRÒ ĐIỀU TIẾT CỦA NHẬN THỨC HỖ TRỢ XÃ HỘI ĐỐI VỚI HÀNH VI LỰA CHỌN NGHỀ NGHIỆP CỦA SINH VIÊN VIỆT NAM
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2022
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
SINH VIÊN: LÂM QUỐC BẢO
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-TÊN ĐỀ TÀI: VAI TRÒ ĐIỀU TIẾT CỦA NHẬN THỨC HỖ TRỢ XÃ HỘI ĐỐI VỚI HÀNH VI LỰA CHỌN NGHỀ NGHIỆP CỦA SINH VIÊN VIỆT NAM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây, đề tài “ Vai trò điều tiết của nhận thức hỗ trợ xã hội đối với hành vi lựa chọn nghề nghiệp của Sinh viên Việt Nam ” là “công trình của
riêng tôi” Các số liệu, kết quả nêu trong Báo cáo Thực tập là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin nghiêm túc cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Báo cáo Thực tập này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Báo cáo đã được chỉ
rõ nguồn gốc
TP Hồ Chí Minh, ngày 27 tháng 12 năm 2022
Sinh viên thực hiện Giảng viên hướng dẫn
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc nhất đến Thầy
TS Phạm Minh đã luôn nhiệt tình và tận tâm hướng dẫn tôi thực hiện và hoàn thành báo cáo thực tập trong suốt thời gian qua Đây là những bài học vô cùng quý giá và
là nền tảng vững chắc cho nghiên cứu khoa học của bản thân tôi sau này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các Thầy, Cô thuộc Trường Đại học
Mở thành phố Hồ Chí Minh đã hướng dẫn, hỗ trợ cho tôi
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã luôn bên cạnh, giúp
đỡ, động viên để tôi thực hiện nghiên cứu này
Trân trọng cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG 1
DANH MỤC HÌNH ẢNH 2
DANH MỤC VIẾT TẮT 3
CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 4
1.1 Lý do thực hiện đề tài 4
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 8
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
1.4 Phương pháp nghiên cứu 8
1.5 Ý nghĩa nghiên cứu 9
1.5.1 Đóng góp lý thuyết 9
1.5.2 Đóng góp thực tiễn 9
1.6 Kết cấu báo cáo 10
CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 11
2.1 Thuyết nhận thức nghề nghiệp xã hội- Social Cognitive Career Theory - Lent và cs (1994) 11
2.2 Các khái niệm 13
2.2.1 Nghề nghiệp (Career) 13
2.2.2 Lựa chọn nghề nghiệp (Career choice) 14
2.2.3 Hỗ trợ xã hội (Social Support) 14
2.2.4 Niềm tin vào năng lực bản thân (Self - efficacy) 15
2.2.5 Kỳ vọng kết quả (Outcome - expectation) 17
2.2.6 Khám phá nghề nghiệp (Career exploration) 17
2.3 Các mô hình liên quan 18
2.3.1 Mô hình tự quản khám phá nghề nghiệp - Lent & Brown (2013) 18
2.3.2 Mô hình quá trình khám phá nghề nghiệp - Stumpf và cộng sự (1983) 20
2.4 Các nghiên cứu liên quan 21
2.4.1.Nghiên cứu của Gushue và cộng sự (2006c) 21
2.4.2 Nghiên cứu của Chan (2018) 22
Trang 62.5 Giả thuyết đề xuất - Mô hình nghiên cứu: 24
2.5.1 Mối quan hệ giữa Kỳ vọng kết quả và Lựa chọn nghề nghiệp 24
2.5.2 Mối quan hệ giữa Khám phá nghề nghiệp và Lựa chọn nghề nghiệp 25
2.5.3 Mối quan hệ giữa Niềm tin vào năng lực bản thân và Kỳ vọng kết quả 27
2.5.4 Mối quan hệ giữa Niềm tin vào năng lực bản thân và Khám phá nghề nghiệp 27
2.5.5 Vai trò của Hỗ trợ xã hội trong mối quan hệ của Khám phá nghề nghiệp và Lựa chọn nghề nghiệp 29
CHƯƠNG 3 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 32
3.1 Quy trình nghiên cứu 32
3.2 Xây dựng và thiết kế thang đo 33
3.3 Thiết kế nghiên cứu định tính 43
3.3.1 Phương pháp thực hiện 43
3.3.2 Kết quả nghiên cứu định tính 44
3.4 Thiết kế nghiên cứu định lượng 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
PHỤ LỤC I MÔ TẢ MẪU 75
PHỤ LỤC II KIỂM ĐỊNH CROSSTAB 77
Trang 7DANH MỤC BẢNG
STT Tên bảng
Bảng 1 Các thang đo kế thừa
Bảng 2 Thang đo sau hiệu chỉnh
Bảng 3 Phiếu khảo sát
Bảng 4 Thống kê mô tả mẫu khảo sát
Bảng 5 Kết quả đo lường độ tin cậy thang đo, giá trị hội tụ, hệ số phóng đại
Bảng 6 Kết quả đo lường giá trị phân biệt
Bảng 7 Bảng đánh giá hệ số xác định R2, năng lực dự báo Q2
Bảng 8 Kết quả phân tích Bootstrapping không điều tiết
Bảng 9 Kết quả Bootstrapping mô hình cấu trúc có điều tiết
Bảng 10 Tổng tác động mô hình không điều tiết
Bảng 11 Tổng tác động mô hình có điều tiết
Trang 8DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1 Mô hình tự quản nghề nghiệp - Lent và cộng sự (1994)
Hình 2 Mô hình tự quản khám phá nghề nghiệp
Hình 3 Mô hình quá trình khám phá nghề nghiệp
Hình 4 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Hình 5 Quy trình nghiên cứu
Hình 6 Kết quả phân tích SEM không điều tiết
Hình 7 Kết quả phân tích SEM có điều tiết
Trang 9DANH MỤC VIẾT TẮT
MOET Bộ giáo dục và đào tạo
FALMI Trung tâm dự báo nhu cầu nhân lực và thông tin thị trường lao động
Tp HCM
ILSSA Viện khoa học Lao động và Xã hội
MOLISA Bộ lao động, thương binh và xã hội
SCCT Thuyết nhận thức nghề nghiệp xã hội
AVE Phương sai trung bình trích xuất
Trang 10CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Giới thiệu:
Chương 1 giới thiệu nền tảng của vấn đề nghiên cứu liên quan đến bài nghiên cứu này Bố cục trình bày của chương 1 bao gồm: (1) Lý do thực hiện đề tài, (2) Mục tiêu nghiên cứu, (4) Đối tượng và phạm vi nghiên cứu; (5) Phương pháp nghiên cứu, (5)
Ý nghĩa, đóng góp mới của kết quả nghiên cứu và (6) Kết cấu của báo cáo.(đề tài)
1.1 Lý do thực hiện đề tài
Nghề nghiệp là phương tiện duy trì các nhu cầu sống cho cá nhân thông qua tạo ra thu nhập hoặc thỏa mãn các yếu tố tinh thần khác như đam mê, sở thích (Cynkin & Robinson, 1990) Trong đó, để đạt được thành tựu trong nghề nghiệp, sự lựa chọn ban đầu là điều cực kỳ quan trọng vì nó quyết định phần lớn hiệu quả công việc trong suốt thời gian đảm nhiệm vị trí Tuy nhiên, độ khó của lựa chọn nghề nghiệp ngày càng tăng vì nhiều yếu tố từ chủ quan đến khách quan như sự phát triển về số lượng, tính chất và sự giao thoa giữa các nghề nghiệp với nhau đang làm cho giới hạn của nghề nghiệp dần biến mất (Jiang và cs, 2019) Xét cho cùng, khác với việc thực hiện một hành vi đơn giản nào đó, lựa chọn nghề nghiệp là một quá trình cực kì quan trọng đối với mỗi cá nhân (Rojewski, 1994) nhưng lựa chọn đúng đắn, hiệu quả và phù hợp ngày càng trở nên khó khăn (Yan và cs, 2014; Lent và Brown, 2020)
Hầu hết thanh niên nói chung và sinh viên nói riêng đều nhận thức rõ tầm quan trọng cũng như độ khó của việc lựa chọn nghề nghiệp vì lựa chọn không thích hợp dẫn tới làm việc kém hiệu quả, thậm chí là định hướng sai lệch (Park và
cs, 2018) Tuy nhiên, việc lựa chọn nghề nghiệp của sinh viên vẫn xoay quanh các việc làm sẵn có trong các doanh nghiệp và tổ chức, có xu hướng ưu tiên các nghề nghiệp được cho là hấp dẫn với thị trường hiện tại mà không phải các lĩnh vực có sự phát triển bền vững về sau (MOET, 2017), dẫn tới sự tăng
Trang 11đột biến về cung nhân lực ở ngành này nhưng lại thiếu hụt ở các ngành khác vào một số thời điểm nhất định (FALMI, 2017) và tạo ra những rào cản trong việc gia nhập thị trường lao động Theo đó, số liệu từ ILSSA (2017) cho thấy Việt Nam có khoảng 218.000 cử nhân đại học không có việc làm, xét riêng trên địa bàn thành phố HCM - nơi tập trung lượng sinh viên đông nhất cả nước
- vẫn có tới 25.000 sinh viên tốt nghiệp không có việc làm (Nhật, 2019) Chưa dừng lại ở đó, vào 2011, chỉ có 40% sinh viên lựa chọn làm việc trái ngành (MOLISA, 2011), nhưng tỷ lệ này lại tăng lên 60% vào năm 2018 (Nhật, 2019)
Các số liệu trên không chỉ đơn thuần đề cập đến thực trạng lao động Việt Nam
mà còn thể hiện sự kém hiệu quả trầm trọng trong lựa chọn nghề nghiệp của sinh viên Việt Nam Điều mâu thuẫn dễ thấy, trong khi tỷ lệ cử nhân đang thất nghiệp ở mức cao, nhiều doanh nghiệp cho biết vẫn gặp khó khăn trong tuyển dụng lao động (FALMI, 2017) Trên mặt nổi, nhiều quan điểm cho rằng lựa chọn nghề nghiệp không hiệu quả là do ảnh hưởng từ các hoạt động hướng nghiệp không phù hợp (Lent và cs, 1999) vì nó chỉ tập trung vào “tư vấn lựa chọn đại học” cho học sinh trung học (Harman và cs, 2021), sự ảnh hưởng của các hoạt động định hướng nghề nghiệp tại đại học càng trở nên mờ nhạt Vậy, với sự trang bị các nền tảng lý thuyết sau quá trình học tập tại các cơ sở giáo dục đại học, sinh viên lại khuyết thiếu kinh nghiệm lẫn định hướng rõ ràng dẫn đến các rủi ro tiềm ẩn trong lựa chọn nghề nghiệp và dẫn đến sai lệch trong quyết định (Flouri và cs, 2021) Tuy nhiên, xét cho cùng, hoạt động hướng nghiệp dù có hiệu quả tới đâu thì cũng chỉ là các yếu tố khách quan, trong khi
sự lựa chọn cũng bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi các yếu tố bên trong của cá nhân (Lent và cs, 1994)
Một ví dụ cụ thể về tầm quan trọng của các yếu tố chủ quan đã được chỉ ra trong nghiên cứu của (Levine và Aley, 2020) Kết quả nghiên cứu phát biểu rằng sự phát triển ngày càng mạnh của công nghệ thông tin thúc đẩy khả năng
Trang 12tìm kiếm của con người tăng trưởng vô cùng nhanh chóng (Mesch & Talmud, 2011), từ đó mỗi cá nhân có thêm khả năng tiếp cận nhanh chóng hơn so với các hình thức tiếp cận thông thường (ví dụ như truyền miệng, truyền đơn…)(Richardson và Zumpano, 2012), do đó họ có thêm rất nhiều các thông tin cho sự lựa chọn nghề nghiệp của mình (Levine và Aley, 2020) Nhưng, hệ quả của nguồn thông tin dồi dào chính là rủi ro bị nhiễu loạn, hoặc sai lệch thông tin về nghề nghiệp có ý định lựa chọn (Koivisto và cs, 2011), yêu cầu bản thân người tìm việc cần có sự tỉnh táo và am hiểu xác thực về công việc
đó Ví dụ trên chỉ là một trong rất nhiều các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn nghề nghiệp được đề cập trong các nghiên cứu về lựa chọn nghề nghiệp (Gati
và Asulin, 2011; Lotriet và cs, 2011; Levine và Aley, 2020), tuy nhiên, nó chỉ
ra được sự quan trọng trong kết hợp giữa yếu tố môi trường và các yếu tố nhận thức chủ quan của cá nhân nhằm thực hiện một quyết định đúng đắn nhất Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu được thực hiện để khai thác về lựa chọn nghề nghiệp, tiêu biểu như Lent và cộng sự (1994, 2013, 2017), Park và cộng sự (2018), Jiang và cộng sự (2019) Tuy nhiên tại Việt Nam, đa số các nghiên cứu xoáy sâu vào các lĩnh vực như hướng nghiệp, phát triển hoặc thích nghi nghề nghiệp, mà ít đề cập đến sự lựa chọn nghề nghiệp trong khi nó là yếu tố quan trọng trong việc tối ưu hóa chất lượng định hướng nghề nghiệp và
là chìa khóa cho sự thích nghi nghề nghiệp (Chan, 2018) Thêm nữa, việc đưa
ra lựa chọn nghề nghiệp và định hướng nghề nghiệp có mối liên hệ mật thiết với nhau, nhưng việc nghiên cứu ở mối quan hệ này thường rơi vào đối tượng thanh thiếu niên, cụ thể là học sinh cuối cấp (Newton và cs,1998; Sierles và
cs, 2003; Hazari và cs, 2010; Bergmark, 2018) mà lại bỏ qua đối tượng sinh viên trong khi đây mới là nguồn cung tiềm tàng và mạnh mẽ cho lực lượng lao động có trình độ, đặc biệt trong bối cảnh công nghiệp hóa hiện đại hóa cùng
xu hướng toàn cầu và hội nhập kinh tế quốc tế mạnh mẽ (Thủy, 2017)
Trang 13Một phương diện lý thuyết khác, như đã đề cập, việc kết hợp yếu tố chủ quan
và khách quan trong nghiên cứu về lựa chọn nghề nghiệp nói riêng và hành vi
ý định nói chung là điều cực kỳ cần thiết Như một hệ quả, yếu tố môi trường được xem là có vai trò tích cực nhất đối với việc hình thành hành vi lựa chọn nghề nghiệp cũng như các hành vi ý định có liên quan là “hỗ trợ xã hội” Cụ thể, hỗ trợ xã hội giúp làm giảm độ khó khăn trong quá trình đưa ra quyết định nghề nghiệp (He và cs, 2021), tăng độ cam kết với ý định lựa chọn ban đầu (Kautish và cs, 2021) Một góc độ khác, Jemini-Gashi và cộng sự (2021) đã khẳng định rằng hỗ trợ xã hội có tác động tích cực trong việc giải thích trạng thái và mức độ của quyết định nghề nghiệp, bên cạnh đó, các yếu tố cấu thành quá trình lựa chọn nghề nghiệp cũng chịu ảnh hưởng từ hỗ trợ xã hội như niềm tin vào năng lực bản thân (Chan, 2018) hay khám phá nghề nghiệp (Lent và
cs, 2019) Tuy nhiên, sự phát triển các nghiên cứu này lại xuất hiện những khe hổng lý thuyết Thứ nhất, nhiều nghiên cứu minh chứng thành công sự tác động của niềm tin vào năng lực bản thân đến khám phá nghề nghiệp, tuy nhiên lại chưa thực sự kiểm định một cách riêng biệt giữa khám phá môi trường và khám phá bản thân mà chỉ kết hợp thành một (Chan, 2018) Thứ hai, yếu tố bối cảnh khách quan cực kỳ quan trọng của hỗ trợ xã hội cần được xem xét nhằm xây dựng một góc nhìn tổng quan hơn thay vì các ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp thông thường
Dựa vào bối cảnh trên, nhóm tác giả nhận thấy được các vấn đề rõ rệt gồm: thứ nhất, sinh viên đang khuyết thiếu trầm trọng trong việc tương tác và kết hợp giữa yếu tố cá nhân với yếu tố môi trường dẫn tới lựa chọn kém hiệu quả, thứ hai, hệ thống nghiên cứu tại Việt Nam cũng như thế giới chưa thực sự phát triển và tập trung vào lựa chọn nghề nghiệp, đặc biệt ở đối tượng sinh viên, tiếp theo, nhằm xác định rõ ràng hơn về vai trò hỗ trợ từ xã hội đối với quá trình lựa chọn nghề nghiệp, đề tài “ VAI TRÒ ĐIỀU TIẾT CỦA NHẬN THỨC HỖ TRỢ XÃ HỘI ĐỐI VỚI HÀNH VI LỰA CHỌN NGHỀ NGHIỆP
Trang 14CỦA SINH VIÊN VIỆT NAM” được xác lập Nghiên cứu này tập trung vào đối tượng sinh viên, để giúp đối tượng này xác định được những yếu tố tác động đến hành vi lựa chọn nghề nghiệp, đưa ra lựa chọn phù hợp và có một quá trình ra quyết định hiệu quả, từ đó đề xuất những giải pháp cải thiện được lựa chọn nghề nghiệp của sinh viên
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Xây dựng mô hình lựa chọn nghề nghiệp dựa trên nền tảng Lý thuyết Nhận thức nghề nghiệp xã hội (Lent và cộng sự, 1994) trong bối cảnh sinh viên Việt Nam, từ đó kiểm định mối quan hệ giữa các yếu tố trong mô hình, đặc biệt là nhận thức về sự hỗ trợ xã hội đối với hành vi lựa chọn nghề nghiệp,
Đề xuất các hàm ý quản trị nhằm giúp trường đại học đề ra các biện pháp phù hợp nhằm hỗ trợ sinh viên có lựa chọn nghề nghiệp hiệu quả
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hành vi lựa chọn nghề nghiệp của sinh viên
- Phạm vi nghiên cứu: Các sinh viên đang theo học tại các trường Đại học ở Việt Nam
1.4 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu được thực hiện qua hai giai đoạn:
+ Trong giai đoạn đầu, thực hiện nghiên cứu dựa trên các tài liệu nghiên cứu tiền đề, sau đó lựa chọn thang đo để xây dựng bảng câu hỏi phù hợp với đối tượng nghiên cứu
Trang 15+ Giai đoạn sau, thực hiện thu thập số liệu mẫu khảo sát thông qua công
cụ Google form, sau đó tiến hành nghiên cứu định lượng để phân tích
số liệu, kiểm định các giả thuyết đặt ra
1.5 Ý nghĩa nghiên cứu
1.5.1 Đóng góp lý thuyết
Nghiên cứu này chỉ ra và xem xét mối quan hệ giữa yếu tố bối cảnh và yếu tố
cá nhân trong lựa chọn nghề nghiệp của sinh viên Các nghiên cứu trước chỉ xoay quanh các yếu tố động cơ lựa chọn, xu hướng lựa chọn mà ít có giải thích quá trình lựa chọn Thông qua nghiên cứu này, nhóm tác giả đóng góp vào hệ thống nghiên cứu về lựa chọn nghề nghiệp, góp phần lấp đầy khe hổng còn bỏ ngỏ của khía cạnh này Giúp sinh viên có thêm cơ sở tham khảo trong việc lựa chọn nghề nghiệp Bên cạnh đó, các trường đại học cũng có thể tham khảo nghiên cứu này trong việc xây dựng định hướng nghề nghiệp cho sinh viên 1.5.2 Đóng góp thực tiễn
Nghiên cứu xác định rõ các yếu tố quan trọng trong việc hình thành hành vi lựa chọn nghề nghiệp của sinh viên Điều này giúp cho bản thân sinh viên đưa
ra được lựa chọn đúng đắn và hiệu quả hơn nhằm giảm thiểu rủi ro cũng như hạn chế các ảnh hưởng tiêu cực từ sự không phù hợp giữa bản thân và nghề nghiệp lựa chọn Bên cạnh đó, các cơ sở giáo dục từ trường trung học phổ thông đến các cơ sở đại học cũng có thể áp dụng nghiên cứu này vào việc xây dựng chương trình đào tạo và các hoạt động hướng nghiệp thực sự phù hợp đối với học viên, nhằm giảm thiểu tỷ lệ trái ngành, điều tiết được cơ cấu lao động đang mất cân bằng hiện nay
Trang 161.6 Kết cấu báo cáo
Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu Trình bày các nội dung tổng quan mở
đầu của đề tài nghiên cứu Chương này trình bày sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu qua tổng quan ngắn gọn về các nghiên cứu trước đây Phương pháp tiến hành nghiên cứu, vấn đề và mục tiêu nghiên cứu, đối tượng, phạm vi và kết cấu của báo cáo cũng được trình bày
Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương này trình bày, tổng hợp, hệ thống các lý
thuyết nền và các khái niệm nghiên cứu Mô hình nghiên cứu và các giả thuyết được thiết lập và áp dụng cho nghiên cứu, trình bày các khái niệm liên quan đến tài nghiên cứu, các nghiên cứu trước có liên quan, các giả thuyết nghiên cứu và đề xuất mô hình nghiên cứu mới
Chương 3: Thiết kế nghiên cứu Trình bày thông tin về phương pháp nghiên
cứu được sử dụng để thu thập dữ liệu, kiểm định thang đo và mô hình nghiên cứu được sử dụng
Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương này trình bày, tổng hợp, hệ thống các
lý thuyết nền và các khái niệm nghiên cứu Mô hình nghiên cứu và các giả thuyết được thiết lập và áp dụng cho nghiên cứu Đây là nền tảng quan trọng
để xây dựng các hàm ý quản trị và các giải pháp tại chương 5
Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị Đưa ra các kết luận, xây dựng hàm ý
quản trị và đề xuất các giải pháp Cuối cùng là chỉ ra các hạn chế của nghiên cứu và nội dung nghiên cứu cho tương lai
Trang 17CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1 Thuyết nhận thức nghề nghiệp xã hội- Social Cognitive Career Theory - Lent và cs (1994)
Các lý thuyết tâm lý về lựa chọn nghề nghiệp nhấn mạnh các đặc điểm của cá nhân trong quá trình ra quyết định, trong đó, SCCT là lý thuyết quan trọng nhất, đã được công nhận là một lý thuyết phức tạp và được áp dụng nghiên cứu sâu rộng về lựa chọn nghề nghiệp (Wong và Liu, 2010) Được phát triển vào năm 1994 bởi Lent và cộng sự, đến nay, SCCT đã được áp dụng vô cùng rộng rãi trong lĩnh vực hành vi nghề nghiệp hoặc các lĩnh vực khác như khởi nghiệp, xã hội học, hay công tác xã hội (Sheu và cộng sự, 2010; Lent và cộng
sự, 2010; Raque và Lucas,2016; Byram và cộng sự, 2021) Được phát triển dựa trên Thuyết Nhận thức xã hội của Bandura (1986a), SCCT lập luận rằng Niềm tin vào năng lực bản thân (Self-efficacy) và Kỳ vọng vào kết quả (Outcome Expectation) là yếu tố quyết định hành vi của cá nhân Trong đó, Niềm tin vào năng lực bản thân là sự đánh giá tích cực hay tiêu cực của cá nhân vào khả năng thực hiện hành vi, và Kỳ vọng kết quả là sự mong đợi của
cá nhân về kết quả mà hành vi mang lại (Lent và cộng sự, 2017) Theo thuyết này, Niềm tin vào năng lực bản thân và Kỳ vọng kết quả có tác động trực tiếp lẫn gián tiếp đến ý định và hành vi lựa chọn nghề nghiệp của cá nhân (Lent và
cs, 1994)
Trang 18Hình 1 Mô hình tự quản nghề nghiệp - Lent và cộng sự (1994)
SCCT xây dựng và phát triển mô hình tự quản nghề nghiệp nhằm sự bổ sung cho các mô hình trước (Lent và cs, 2013), tiêu biểu là Thuyết hành vi kế hoạch của Azjen (1991), vì các mô hình nghề nghiệp truyền thống thường xem yếu
tố môi trường chỉ là bối cảnh thực hiện hành vi, trong khi đó, SCCT nhấn mạnh đến tình huống và bản chất cụ thể của hành vi Mô hình nhấn mạnh vào các biến nhận thức của con người ( niềm tin vào năng lực bản thân, kỳ vọng kết quả) và về cách các biến này tương tác với các biến môi trường hoặc bối cảnh (Lent và cs, 1999; Wong và Liu, 2010), cụ thể hơn, nó xem xét sự tương tác giữa bản thân và môi trường trong trạng thái “động”, tức là mối quan hệ giữa môi trường và cá nhân có sự thay đổi theo thời gian mà không phải ở dạng
“tĩnh” như một số mô hình trước đó (Ví dụ: Vondracek và cộng sự, 1986) Từ khi được đề xuất, nhiều tác giả đã áp dụng khung lý thuyết SCCT và mô hình
tự quản nghề nghiệp cho nghiên cứu của mình, tiêu biểu như King (2004), Lim
và cs (2016), Lent và cs (2016, 2017), Kim và cs (2018), Wendling và Sagas (2020) Thành công của các nghiên cứu kể trên là mình chứng rõ nhất cho sự
phù hợp khi áp dụng lý thuyết SCCT trong nghiên cứu về hành vi nghề nghiệp
Trang 192.2 Các khái niệm
2.2.1 Nghề nghiệp (Career)
Về thuật ngữ “Career”, đầu tiên, Super (1980) định nghĩa đó là sự kết hợp các chuỗi vai trò của một người, hay Sears (1982) mô tả là “làm việc theo một khuôn mẫu sống có mục đích thông qua công việc do một người đảm nhận”
Đó là một quá trình học tập và làm việc suốt đời (Tien và cs, 2012), là một con đường có thể đoán trước, có tổ chức, ghi lại các giai đoạn khác nhau trong cuộc đời làm việc của cá nhân (Fu và Chen, 2015) Một quan điểm có liên quan khác là của Sullivan và Baruch (2009), họ định nghĩa thuật ngữ “career”
là “kinh nghiệm và các trải nghiệm cả bên trong và bên ngoài tổ chức, có liên quan đến công việc của một cá nhân và tạo thành một khuôn mẫu duy nhất trong suốt cuộc đời của cá nhân”, “là một chuỗi các vị trí được một người đảm nhiệm trong suốt thời gian của cuộc đời” (Jung, 2014), là chuỗi kinh nghiệm làm việc trong các tổ chức (De Vos và cs, 2021) Theo đó, đối tượng sinh viên
đã sở hữu những kinh nghiệm nhất định thông qua thực hiện các hành vi đầu tiên trong lựa chọn nghề nghiệp (Lent và công sự, 2013; Jiang và cộng sự; 2019), là cơ sở cho việc sở hữu những nhận thức ban đầu đối với “sự nghiệp” Đây là tiền đề để nghiên cứu này mở rộng phạm vi các thuật ngữ khác nội hàm trong “career” như “job” hay “work” (Plomp và cs, 2016), “occupation” (Gabrielsson và Politis, 2011), “vocation” (Fu và Chen, 2015) nhằm tăng độ
áp dụng thực tiễn của đề tài Theo đó, Guan & Zhou (2020) đã định nghĩa nghề nghiệp là một tệp các hành động liên quan đến các trách nhiệm và hoạt động liên quan đến công việc trong suốt thời gian làm việc Ở một khía cạnh khác, theo quan điểm của Jensen và Kim (2020) thì nghề nghiệp là “sự thực hiện liên tiếp một tệp các công việc có liên quan, được sắp xếp theo trình tự” hay “vai trò của một người khi nắm giữ một chức vụ nào đó trong một khoảng thời gian
và không gian nhất định” (Royeen, 2002)
Trang 202.2.2 Lựa chọn nghề nghiệp (Career choice)
Theo quan điểm tiếp cận thuật ngữ “career” như đã trình bày ở mục trên, khi thực hiện lựa chọn nghề nghiệp, cá nhân đánh giá và so sánh giữa những lựa chọn trong phạm vi tìm kiếm của họ, về khả năng tương thích, về giá trị nghề nghiệp hoặc các khía cạnh liên quan (Westbrook và cs, 1996), sau đó lựa chọn một nghề nghiệp phù hợp nhất giữa sự hiện diện của các lựa chọn thay thế (Agarwala, 2008; Wu và cs, 2015) Với Xu (2017), lựa chọn nghề nghiệp hiệu quả là sự phù hợp của cá nhân đối với công việc việc họ lựa chọn, ví dụ như mối quan hệ mật thiết giữa ngành học, lĩnh vực nghiên cứu, kỹ năng hoặc giá trị họ theo đuổi… Mặt khác, chọn nghề là sự thể hiện quan niệm của bản thân với nghề nghiệp đó và việc áp dụng bản thân vào lĩnh vực nghề nghiệp, làm tiền đề cho việc thực hiện các nhiệm vụ bắt buộc hoặc không bắt buộc thuộc nghề nghiệp để đạt được những thành tựu nhất định, biểu hiện rõ nhất thường
là sự thăng tiến (Karahan & Akçay, 2021)
2.2.3 Hỗ trợ xã hội (Social Support)
Mọi người đang sống trong một xã hội mà họ luôn có thể tạo ra ảnh hưởng cũng như bị ảnh hưởng (Lent & Brown, 2013), và SCCT tập trung vào cách một số biến nhận thức của con người tương tác với môi trường để giúp hình thành quá trình phát triển nghề nghiệp (Lent và cs, 2000) Các yếu tố khách quan từ môi trường có ảnh hưởng mạnh đến sự lựa chọn và phát triển nghề nghiệp mà không phụ thuộc vào khả năng nhận thức của cá nhân Tuy nhiên, theo Vondracek và cộng sự (1986), sự ảnh hưởng này là tích cực hay tiêu cực cũng phụ thuộc vào mức độ phản hồi của cá nhân đối với các yếu tố đó, cụ thể
đã có nhiều nghiên cứu về rào cản xã hội ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn nghề nghiệp, nhưng hỗ trợ xã hội đóng vai trò tích cực trong hạn chế tác động của rào cản đến hành vi (Stumf và cs, 1983)
Trang 21Hobfoll (1988) định nghĩa nhận thức hỗ trợ xã hội là “nhận thức của cá nhân
về những tương tác hoặc mối quan hệ xã hội cung cấp cho họ sự trợ giúp thực
sự hoặc nhúng họ vào một hệ thống xã hội cung cấp các giá trị cần thiết”, là nguồn lực có sẵn thông qua những người khác và được cá nhân sử dụng ngay khi họ có nhu cầu (Östberg và Lennartsson,2007) Trong khuôn khổ SCCT, nhận thức hỗ trợ xã hội được định nghĩa là khả năng thích ứng theo ngữ cảnh giúp lựa chọn và phát triển nghề nghiệp (Gushue và Whitson, 2006c) Dựa theo quan điểm này, chúng tôi tiếp cận các ảnh hưởng từ môi trường dưới góc
độ các nguồn lực hỗ trợ tích cực, chủ yếu là nguồn lực được kết nối hoặc hỗ trợ trực tiếp từ trường đại học, trong đó bao hàm sự hướng dẫn từ những người hướng dẫn/cố vấn (Brown và Lent, 1996), hay các hoạt động hỗ trợ định hướng nghề nghiệp khác Với tiền đề rằng cá nhân có nhận thức và tiếp cận được với các nguồn lực đó, tránh xa hoặc hạn chế tiếp nhận ảnh hưởng từ các rào cản, yếu tố này hình thành nên “ hỗ trợ xã hội được nhận thức”
2.2.4 Niềm tin vào năng lực bản thân (Self - efficacy)
Khả năng, hoặc năng lực, đóng vai trò quan trọng trong việc giúp xác định mức độ thành công của những nỗ lực thực hiện hành vi Mọi người có thường
cố gắng và duy trì các hành vi khi họ tin rằng họ có những khả năng cần thiết
để thực hiện chúng và nỗ lực đó sẽ tạo ra lợi ích mong muốn (Lent và Brown, 2013) Fuller và cộng sự (2018) giải thích Niềm tin vào năng lực bản thân là niềm tin cá nhân vào khả năng thực hiện và đạt được thành công trong một nhiệm vụ cụ thể, đề cập đến khả năng của một người để thực hiện các hành vi,
ví dụ như hoàn thành các yêu cầu của một ngành học cụ thể, khả năng xác định chướng ngại vật, hay khả năng nhận thức của cá nhân để thực hiện các nhiệm
vụ cụ thể cần thiết cho việc lựa chọn nghề nghiệp (Lent và Brown, 2013) Niềm tin vào năng lực bản thân đề cập đến " sự đánh giá của mọi người về khả năng của họ trong việc tổ chức và thực hiện các hành động cần thiết để đạt được các loại hình biểu diễn được chỉ định" (Bandura, 1986b), tuy nhiên nó
Trang 22không không nhấn mạnh hoặc đồng nhất với kỹ năng mà là yếu tố chỉ ra mức
độ hiệu quả của kỹ năng khi được áp dụng vào thực hiện hành vi (Liu và cộng
sự, 2019; Lent và cộng sự, 1994)
Niềm tin vào năng lực bản thân là yếu tố chỉ báo mạnh mẽ cho sự lựa chọn nghề nghiệp (Lent và cs,1994), và ngày càng có nhiều bằng chứng về một mối quan hệ tích cực của niềm tin năng lực bản thân và quyết định nghề nghiệp (Jiang và cs, 2019) Từ khi được đề xuất tới nay, yếu tố này nhận được sự quan tâm nghiên cứu nhiều nhất so với các lĩnh vực chuẩn bị cho nghề nghiệp khác bởi vì nó là trọng tâm của kết quả sự nghiệp thành công (Choi & Kim, 2013) Những người có niềm tin vào năng lực bản thân cao trong quyết định nghề nghiệp có thể phát triển các kế hoạch nghề nghiệp một cách hiệu quả (Park và cộng sự, 2018) Trong đó, lựa chọn là một quá trình yêu cầu sự tương xứng giữa những gì cá nhân mong muốn đạt được và những gì họ bỏ ra để thực hiện điều đó Cụ thể hơn, một người muốn lựa chọn nghề nghiệp, phải đáp ứng được những yêu cầu cụ thể của nghề nghiệp đó (Lent và cs, 1994) Việc xác định chính xác và khách quan về năng lực của bản thân sẽ giúp họ có được đánh giá đúng đắn về độ phù hợp cũng như khả năng phát triển sau khi lựa chọn nghề nghiệp Như đã trình bày ở trên, quá trình nghề nghiệp diễn ra trong suốt cuộc đời, và lựa chọn là những cột mốc phân đoạn cùng định hướng quá trình đó
Mỗi cá nhân sẽ có một định hướng khác nhau, tương tự, niềm tin vào năng lực bản thân của cá nhân cũng khác nhau do sự đa dạng về lĩnh vực đánh giá (Park
và cs, 2018) Cá nhân thiếu các kỹ năng phù hợp có xu hướng tránh quyết định nghề nghiệp liên quan do sự suy giảm niềm tin vào năng lực bản thân (Lent và
cs, 2016), ngược lại, khi nhận thức về năng lực của họ là tích cực, nói cách khác, khi các kĩ năng được cho là tương thích với nghề nghiệp, cá nhân có xu hướng thực hiện lựa chọn nghề nghiệp liên quan tới kỹ năng đó (Park và cộng
sự, 2018) Cuối cùng, theo phát biểu của Lent và cộng sự (2000), niềm tin năng
Trang 23lực bản thân là chỉ báo mạnh mẽ cho hành vi lựa chọn nghề nghiệp (Bandura, 1986a; Lent và cs 1994)
2.2.5 Kỳ vọng kết quả (Outcome - expectation)
Kỳ vọng kết quả liên quan đến sự tưởng tượng hậu quả của việc thực hiện đặc biệt là hành vi ( "nếu tôi làm điều này, điều gì sẽ xảy ra?"), được xem như một chỉ báo cho các hành vi nghề nghiệp (Lent và cs,1994) Kết quả kỳ vọng đề cập đến hậu quả dự đoán (tích cực hoặc tiêu cực) của việc tham gia vào các hành vi liên quan đến ý định thực hiện hành vi (Lent và cs, 2017), là niềm tin
về hậu quả của thực hiện các hành vi hoặc quy trình hành động cụ thể (Lent
và Brown, 2013) SCCT có đề cập đến mối quan hệ giữa kỳ vọng kết quả và mục tiêu thực hiện hành vi, đồng nghĩa với việc cá nhân sẽ thiết lập một thang
đo đánh giá các kết quả mà hành vi mang lại Khi kết quả của hành vi không thể thỏa mãn hoặc đáp ứng được mục tiêu, cá nhân có xu hướng dễ dàng từ
bỏ, ít nỗ lực hoặc không thực hiện hành vi khi kỳ vọng của họ vào kết quả là tiêu cực ( Lent và Brown, 2013)
2.2.6 Khám phá nghề nghiệp (Career exploration)
Khám phá và khám phá nghề nghiệp là một quá trình diễn ra trong suốt cuộc đời (Jiang và cs, 2019) Khám phá là hành vi khơi gợi và duy trì sự quan tâm đến một môi trường, lĩnh vực nào đó nhằm tăng thêm kiến thức (Herzog & Larwin,1988) Khám phá là hành vi tăng cường sự nhận thức về khách thể khám phá dựa trên việc thu nhận và tạo dựng một hệ thống thông tin (Rojas
và cs, 2020), có thể diễn ra có chủ đích, theo hệ thống hoặc ngẫu nhiên, và mỗi chủ thể khám phá nhận được lợi ích khác nhau dù họ khám phá một vấn đề trong cùng một ngữ cảnh (Jiang và cs, 2019)
Zikic & Klehe (2006) đã định nghĩa khám phá nghề nghiệp là sự tập hợp thông tin liên quan đến mục đích nghề nghiệp mà chủ thể khám phá mong muốn đạt
Trang 24được Flum và Blustein (2000) cho rằng quá trình khám phá nghề nghiệp bao gồm việc khám phá và đánh giá một loạt các thuộc tính bên trong, các cơ hội
và ràng buộc bên ngoài liên quan đến các bối cảnh khác nhau có liên quan đến nghề nghiệp, nâng cao nhận thức về bản thân và môi trường (Blustein, 1992) Khám phá nghề nghiệp tạo ra sự thông thuận trong phát triển, lựa chọn và duy trì nghề nghiệp thông qua kiến tạo nền tảng thông tin cho việc lên kế hoạch, tiên đoán và quản trị rủi ro cũng như sự thay đổi trong nghề nghiệp, hoặc giúp tiếp cận các nguồn trợ lực xã hội thông qua tìm kiếm thông tin (Jiang và cs, 2019), là phương tiện quan trọng mà qua đó các cá nhân có thể tự xây dựng và khám phá lại và tái tạo lại bản thân, tiền đề thúc đẩy sự lựa chọn nghề nghiệp
và phát triển nghề nghiệp sau này (Cheung & Arnold, 2014)
2.3 Các mô hình liên quan
2.3.1 Mô hình tự quản khám phá nghề nghiệp - Lent & Brown (2013)
Dựa trên khung lý thuyết SCCT, Lent và Brown (2013) tiếp tục thực hiện phát triển một mô hình mới để áp dụng cho khía cạnh khám phá nghề nghiệp Trong
đó, nghiên cứu trình bày một mô hình nhận thức xã hội về tự quản nghề nghiệp
và đưa ra các ví dụ về các hành vi thích ứng, theo quy trình có thể được áp dụng áp dụng, bao gồm ra quyết định nghề nghiệp, khám phá nghề nghiệp, chuyển tiếp nghề nghiệp Tác giả đã khẳng định lại vai trò và sự ảnh hưởng của SCCT trong việc phát triển các nghiên cứu về nghề nghiệp ở mọi phương diện, là sự bổ sung cho các lý thuyết nghề nghiệp khác Trong khi những nền tảng lí thuyết trước đó tập trung vào kết quả hành vi, SCCT lại xem xét quá trình mà cá nhân đạt được thành tựu đó
Trang 25Hình 2 Mô hình tự quản khám phá nghề nghiệp
Mô hình được xây dựng trong nghiên cứu này nhằm giúp các cá nhân định hướng nghề nghiệp và hành vi liên quan trong bối cảnh đa dạng thông qua tích hợp các khía cạnh của mô hình SCCT truyền thống, tạo ra nhiều hướng đi mới hơn cho các nghiên cứu tương lai Tác giả giả định rằng mỗi cá nhân đều sở hữu một thước đo để đánh giá các khía cạnh nghề nghiệp của họ, tuy nhiên điều này vẫn chưa đủ vì các yếu tố môi trường vẫn có tác động mạnh mẽ trong việc thay đổi hành vi, cụ thể, mỗi cá nhân có thể ảnh hưởng cũng như bị ảnh hưởng bởi môi trường xung quanh Mô hình xây dựng mối liên kết giữa Niềm tin vào năng lực bản thân trong việc khám phá nghề nghiệp, Kỳ vọng về kết quả của sự khám phá, Mục tiêu khám phá và hành vi khám phá Những yếu tố trên tác động lẫn nhau và đều bị ảnh hưởng bởi yếu tố bối cảnh - môi trường làm việc Sự tương quan của mô hình sẽ phác thảo một quá trình khám phá nghề nghiệp mà trong đó, khi bất kỳ yếu tố nào thay đổi, các yếu tố còn lại sẽ thay đổi kéo theo, và quá trình này sẽ lặp lại mỗi khi cá nhân có sự chuyển biến trong tìm kiếm nghề nghiệp hoặc thay đổi nghề nghiệp
Trang 26Là sự phát triển rộng và đa phương diện hơn SCCT truyền thống, mô hình tự quản khám phá nghề nghiệp tạo tiền đề cho các nghiên cứu về thích ứng nghề nghiệp và đôi khi là sự khắc phục các hậu quả sau khi lựa chọn nghề nghiệp Qua thời gian, mô hình vẫn chứng minh được sức hút của mình đối với giới học thuật, bằng chứng rõ nhất là sự thành công của một loạt các nghiên cứu của Lent và cộng sự (2016, 2017, 2019), Ireland và Lent (2018), Chen và cộng
sự (2021) Trong tương lai, khi lựa chọn nghề nghiệp ngày càng khó khăn hơn,
mô hình tự quản khám phá nghề nghiệp vẫn luôn là nghiên cứu tham khảo phù hợp để đưa ra lựa chọn nghề nghiệp hiệu quả
2.3.2 Mô hình quá trình khám phá nghề nghiệp - Stumpf và cộng sự (1983)
Hình 3 Mô hình quá trình khám phá nghề nghiệp
Stumpf và cộng sự (1983) đã xây dựng mô hình quá trình khám phá nghề nghiệp nhằm chỉ ra và khái quát sự phát triển, thuộc tính và cách thức Khám phá Nghề nghiệp Mô hình tạo điều kiện cho việc phát triển mạnh các lý thuyết liên quan đến quyết định nghề nghiệp, thích nghi hoặc sự hài lòng trong nghề nghiệp Tạo ra một cơ sở cho hệ thống nghiên cứu hành vi khám phá nghề nghiệp về quá trình, động lực cũng như các tiêu chí đánh giá các yếu tố tác động và bị tác động bởi khám phá nghề nghiệp Đặc biệt hơn, tác giả xây dựng
Trang 27và kiểm định bảy thước đo của quá trình khám phá nghề nghiệp, ba phản ứng đối với việc khám phá,và sáu niềm tin về sự khám phá thông qua bốn nghiên cứu để thiết kế một mô hình tích hợp cho khám phá nghề nghiệp Các thang
đo này đã và đang được áp dụng trong rất nhiều nghiên cứu (Stumpf và Hartman, 1984; Werbel, 2000; Allen và cs, 2017; Chen và cs, 2021)
Bởi vì mức độ và bản chất của việc khám phá nghề nghiệp thay đổi như một chức năng và phụ thuộc vào từng giai đoạn của sự nghiệp Phải xem xét cùng lúc bốn thành phần gồm (1) nơi khám phá,(2) cách thức khám phá, (3) mức độ khám phá và (4) trọng tâm đối tượng khám phá Trong đó, nguồn thông tin chính được thu thập từ “bản thân” và “môi trường” Sau khi thực hiện các nghiên cứu, tác giả kết luận được vai trò của khám phá nghề nghiệp trong nâng cao hiểu biết về bản thân, thay đổi cách một người nhận thức về bản thân Thêm nữa, khám phá nghề nghiệp kỹ lưỡng môi trường và bản thân trước khi chọn một vị trí sẽ nâng cao sự hài lòng trong công việc, cam kết với tổ chức
và nghề nghiệp
2.4 Các nghiên cứu liên quan
2.4.1.Nghiên cứu của Gushue và cộng sự (2006c)
Nghiên cứu này khám phá mối quan hệ tiềm ẩn giữa các biến nhận thức xã hội
về niềm tin vào bản thân trong việc tự ra quyết định nghề nghiệp; nhận thức
về các rào cản; nhận dạng nghề nghiệp và các hành vi khám phá nghề nghiệp Nghiên cứu được thực hiện với cỡ mẫu gồm 128 học sinh trung học người Latinh - một bộ phận dân số được dự đoán sẽ phát triển mạnh, tập trung vào
sự quyết định nghề nghiệp của học sinh người Latinh trong bối cảnh khác biệt
về chất lượng giáo dục và trình độ nghề nghiệp so với người da trắng dựa trên nền tảng lý thuyết SCCT
Trang 28Niềm tin vào năng lực bản thân trong việc ra quyết định là một biến thể quan trọng để xây dựng mô hình lựa chọn nghề nghiệp hay sự cam kết đối với nghề nghiệp Tuy nhiên, quá trình ra quyết định có thể bị ảnh hưởng hoặc thay đổi bởi các yếu tố ngữ cảnh, cụ thể trong nghiên cứu này là “rào cản” Số lượng rào cản có thể ảnh hưởng đến hệ thống nhận thức của cá nhân gồm thái độ, niềm tin và hành vi liên quan đến nghề nghiệp Nhiều nghiên cứu khác được tổng hợp trong báo cáo của tác giả đã đề cập tác động tiêu cực của các rào cản đến sự phát triển nghề nghiệp do trở ngại trong quá trình chuyển đổi từ sở thích sang hành vi nghề nghiệp
Kết quả chỉ ra rằng mức độ của niềm tin năng lực bản thân trong việc ra quyết định nghề nghiệp có mối quan hệ mật thiết với khám phá nghề nghiệp Kết quả này cũng tương đồng với quan điểm của Blustein (1989) Nghiên cứu đã thành công trong việc chỉ ra mối liên hệ mật thiết giữa yếu tố cá nhân và rào cản môi trường trong quyết định nghề nghiệp, đóng góp vào hệ thống nghiên cứu trên nền tảng SCCT Bên cạnh đó, tác giả phát biểu quan điểm về ảnh hưởng tích cực của hỗ trợ xã hội trong việc điều tiết và hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của rào cản trong quyết định nghề nghiệp Điều này có thể là hướng đi mới cho các nghiên cứu trong tương lai
2.4.2 Nghiên cứu của Chan (2018)
Chan (2018) đã thực hiện nghiên cứu này nhằm kiểm tra các mối quan hệ giữa
hỗ trợ xã hội, niềm tin vào năng lực bản thân, và khám phá nghề nghiệp trong bối cảnh lựa chọn nghề nghiệp của các sinh viên thể thao 703 sinh viên thể thao đã tham gia trả lời bảng câu hỏi khảo sát Tác giả thực hiện nghiên cứu này trên nền tảng SCCT nhằm xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn nghề nghiệp của sinh viên khối ngành thể thao, vì tính đặc thù nghề nghiệp dẫn đến sự lựa chọn của đối tượng này sẽ có phần khó khăn hơn so với các lĩnh vực khác (Cheng và cs, 2016)
Trang 29Nghiên cứu một lần nữa thể hiện mối quan tâm rõ rệt về sự tương tác giữa bối cảnh và yếu tố cá nhân Cụ thể, các giả thuyết bao gồm Hỗ trợ xã hội có liên quan tích cực đến hiệu quả nghề nghiệp của bản thân (Giả thuyết 1),khám phá nghề nghiệp (Giả thuyết 2) và lựa chọn nghề nghiệp (Giả thuyết 3); Hiệu quả nghề nghiệp có liên quan tích cực đến việc khám phá nghề nghiệp(Giả thuyết 4), và lựa chọn nghề nghiệp (Giả thuyết 5); khám phá nghề nghiệp có liên quan tích cực đến lựa chọn nghề nghiệp (Giả thuyết 6) Các kết quả ủng hộ các giả thuyết đặt ra, tuy nhiên mối quan hệ giữa hỗ trợ xã hội và khám phá nghề nghiệp lại không được ủng hộ Phát hiện của tác giả cho thấy rằng có thể nâng cao hiệu quả nghề nghiệp của các vận động viên đại học bằng cách kết nối họ với những người đã tốt nghiệp, tạo điều kiện cho vận động viên bày tỏ khó khăn, lắng nghe những khó khăn và giải pháp tương tự của nghiên cứu sinh (Chan, 2018) Tiếp theo, các nhà quản lý trường học nên thiết lập tư vấn nghề nghiệp và nền tảng giao tiếp để các sinh viên trao đổi kinh nghiệm và tìm kiếm lời khuyên hoặc hỗ trợ từ các đồng nghiệp và các nguồn tư vấn khác Lồng ghép các nguồn lực từ phụ huynh, huấn luyện viên, giáo viên, đơn vị tư vấn; cung cấp lời khuyên cụ thể
2.4.3 Franco và cộng sự (2019)
Nghiên cứu này được Marisa Franco, Yi‑Shi Hsiao, Philip B Gnilka, Jeffrey
S Ashby thực hiện dựa trên thuyết nhận thức nghề nghiệp xã hội của Lent và cộng sự (1994) để kiểm tra mối quan hệ giữa áp lực văn hóa, hỗ trợ xã hội và
kỳ vọng kết quả về nghề nghiệp của sinh viên quốc tế tại Mỹ Trong bối cảnh
số lượng sinh viên du học tăng mạnh và có đóng góp to lớn vào nền kinh tế, chính phủ cần có sự quan tâm nhiều hơn để phát triển mạnh mẽ nguồn lực này Các lập luận chỉ ra quan điểm của tác giả về sự liên hệ mật thiết giữa hỗ trợ xã hội và kỳ vọng kết quả, trong khi đó, yếu tố áp lực văn hóa có ảnh hưởng tiêu cực đến hỗ trợ xã hội và kỳ vọng kết quả Kiểm định các mối tương quan này,
Trang 30nghiên cứu thực hiện với sự tham gia của 555 sinh viên từ 12 trường đại học, dao động từ 18 đến 50 tuổi, bao gồm cả sinh viên đại học, thạc sĩ và tiến sĩ để đảm bảo được độ khách quan lớn nhất cho đối tượng khảo sát Các kết quả đã chỉ ra được vai trò hạn chế tác động tiêu cực của áp lực văn hóa đến kỳ vọng kết quả về nghề nghiệp của sinh viên Cụ thể, căng thẳng về văn hóa làm giảm
hỗ trợ xã hội ở nước sở tại, mà sau đó dự đoán kỳ vọng kết quả giảm xuống Kết quả này giúp cho các nhà chính sách có nhận thức rõ hơn về việc thúc đẩy
kỳ vọng kết quả cho sinh viên thông qua hỗ trợ xã hội, giúp họ đạt được mục tiêu nghề nghiệp
2.5 Giả thuyết đề xuất - Mô hình nghiên cứu:
2.5.1 Mối quan hệ giữa Kỳ vọng kết quả và Lựa chọn nghề nghiệp
Kỳ vọng kết quả là những yếu tố dự báo quan trọng về sự lựa chọn nghề nghiệp
(Shoffner và cs, 2015) Mỗi cá nhân khi càng tin tưởng tích cực vào kết quả
kỳ vọng, họ có mong muốn và khả năng thực hiện hành vi cao hơn (Lent và
cs, 2017) Điều này có nghĩa khi một người muốn, hoặc có ý định thực hiện hành vi, họ phải hình dung được viễn cảnh kết quả hành vi, sau đó đánh giá và loại trừ những hành vi mang đến kết quả tiêu cực (Lent và cs, 2016) Trong lựa chọn nghề nghiệp, quá trình này lặp đi lặp lại (Lent và cs, 1994), sàng lọc
đi những kết quả nghề nghiệp được cho là không phù hợp hoặc không thỏa mãn kỳ vọng của cá nhân, vì theo quan điểm của Nguti, kỳ vọng kết quả là nhân tố tích cực thúc đẩy sự thỏa mãn của lựa chọn nghề nghiệp (Nguti và cs, 2019) Bên cạnh đó, hành vi lựa chọn phần lớn phụ thuộc vào đánh giá chủ quan rằng kết quả hành vi sẽ mang theo những giá trị kỳ vọng trước đó (Lent
và cs, 1994) Các lập luận đã gợi ý được sự liên hệ mạnh mẽ giữa kỳ vọng kết quả và hành vi lựa chọn nghề nghiệp, từ đó đề xuất giả thuyết:
Trang 31H1: Kỳ vọng vào kết quả có tác động tích cực đến hành vi lựa chọn nghề nghiệp
2.5.2 Mối quan hệ giữa Khám phá nghề nghiệp và Lựa chọn nghề nghiệp
Vì tính chất và vai trò đặc thù, khám phá nghề nghiệp được xem là tiền đề của việc định hướng nghề nghiệp (Maggiori và cs, 2017) Flum và Blustein (2000)
mô tả việc khám phá nghề nghiệp như một quá trình kết hợp các quan điểm khách quan và nhận thức bản thân, nhằm chuyển hóa các quan điểm đó thành nội tại để hình thành động lực trong suốt quá trình hoạt động nghề nghiệp Nó được mô tả như "hành vi có mục đích và nhận thức khả năng tiếp cận thông tin về nghề nghiệp, công việc, tổ chức mà trước đây không có trong trường kiến thức của cá nhân” (Stumpf và cs, 1983), thường được giả định là yếu tố thúc đẩy sự lựa chọn nghề nghiệp hoặc giảm bớt do dự (Lent và Brown, 2013) Cũng như phát biểu của Jiang và cs (2019), việc thăm dò hiệu quả sẽ thúc đẩy thái độ, hành vi của cá nhân trong việc lựa chọn nghề nghiệp Khám phá nghề nghiệp cho phép cá nhân tham gia vào quá trình phát triển nghề nghiệp (Lent
và cs, 2016), mang lại nhiều thông tin hơn cho việc đưa ra lựa chọn, giảm thiểu rủi ro khi gặp phải những vấn đề trước đó bản thân chưa có nhận thức (Shea
và cs, 2009; Porfeli và Skorikov, 2010) Điều này cũng là tiền đề quan trọng cho việc lập kế hoạch và phát triển nghề nghiệp đúng hướng và hiệu quả (Chan, 2018)
Khám phá nghề nghiệp là giai đoạn cá nhân hình thành và nhận thức những suy nghĩ cùng hành vi liên quan đến lựa chọn nghề nghiệp trong tương lai, là khâu quyết định đối với phát triển và thích nghi nghề nghiệp vì nó thúc đẩy mạnh mẽ hành vi lựa chọn nghề nghiệp (Bartley và Robitschek, 2000) Porfeli
và Skorikov (2010) cho rằng các hình thức khám phá nghề nghiệp đều mang lại sự phát triển trong quá trình lựa chọn nghề nghiệp, giúp cho các khía cạnh của việc lựa chọn trở nên dễ nhận thức và đánh giá hơn Khám phá nghề nghiệp
Trang 32giúp hạn chế sự hối tiếc trong lựa chọn nghề nghiệp vì thiếu thông tin liên quan cũng như góp phần hạn chế hoặc điều chỉnh các quan niệm sai lầm về bản thân ( Brown và Lent, 1996), từ đó cải thiện khả năng ra quyết định và lựa chọn nghề nghiệp của cá nhân (Chan, 2018)
Theo nghiên cứu của Stumpf và cs (1983), Khám phá nghề nghiệp bao gồm Khám phá môi trường và Khám phá bản thân, tầm quan trọng khi kết hợp hai yếu tố này được chứng minh bởi Storme và Celik (2018) Do đó, Zikic và Hall (2009) cho rằng cần phải khám phá nghề nghiệp ngay khi bắt đầu lựa chọn nghề nghiệp, và cả trong những quá trình nghề nghiệp sau đó nữa, để đảm bảo được sự phát triển bền vững của lựa chọn ban đầu Tham gia vào quá trình khám phá nghề nghiệp, mỗi người xem xét kết hợp các yếu tố ngữ cảnh và yếu
tố bản thân, cân nhắc các cơ hội, đôi khi là thử nghiệm trước khi ra quyết định (Jiang và cs, 2019) Cụ thể hơn, cá nhân cần có sự khái quát về kết quả hành
vi trước khi đánh giá kết quả đó là tích cực hay tiêu cực (Lent và cs, 2016), trong khi đó, khám phá môi trường nghề nghiệp giúp tạo ra tiền đề cho sự thích ứng đối với nghề nghiệp mà cá nhân đã lựa chọn (Guan và cs, 2018) dựa trên
sự hình thành nhận thức tổng quát về bản chất, nội dung hoặc hình thức của nghề nghiệp đó (Savickas, 2002) Và, khi cá nhân khám phá bản thân hiệu quả
và quá trình đó mang lại kết quả tích cực, họ có thể củng cố niềm tin của họ vào khả năng cũng như kết quả hành vi, nói cách khác, khám phá bản thân gắn liền với cảm nhận thuận lợi về các khả năng có thể xảy ra trong việc làm / nghề nghiệp (Stumpf và cs, 1983) Kết hợp hai quá trình này sẽ tạo cơ sở cho việc thiết lập thang đo đánh giá của cá nhân nhằm đánh giá mức độ tương thích của bản thân đối với nghề nghiệp cùng các kết quả có thể đạt được từ nghề nghiệp
đã lựa chọn (Stumpf và cs, 1983) Nhiều nghiên cứu khác trong lĩnh vực lựa chọn nghề nghiệp cũng đề cập đến Khám phá môi trường và khám phá bản thân như hai yếu tố tồn tại song song với nhau trong lựa chọn nghề nghiệp, giúp các cá nhân xác định các cơ hội việc làm phù hợp, đạt được việc làm tốt
Trang 33hơn và đối phó với những khó khăn và thách thức trong quá trình chuyển đổi nghề nghiệp của họ (Stumpf và Lockhart, 1987; Guan và cs, 2015; Creed và
cs, 2009; Lazarides và cs, 2016; Denault và cs, 2019) Từ những lập luận trên, nhóm tác giả đề xuất giả thuyết:
H2: Khám phá bản thân có tác động tích cực đến Lựa chọn nghề nghiệp H3: Khám phá môi trường có tác động tích cực đến Lựa chọn nghề nghiệp 2.5.3 Mối quan hệ giữa Niềm tin vào năng lực bản thân và Kỳ vọng kết quả
Sự hình thành của Kỳ vọng kết quả, theo thuyết Nhận thức nghề nghiệp xã hội (Lent và cs, 1994), chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ của Niềm tin vào năng lực bản thân Sự ảnh hưởng này cũng đã được chứng minh trong nhiều nghiên cứu khác (Lent và Brown, 2013) Cụ thể, các tác giả đã lập luận rằng, Kỳ vọng kết quả của cá nhân phần lớn phụ thuộc vào đánh giá của họ về những gì họ có thể đạt được, trong khi đó, Niềm tin vào năng lực bản thân chính là cơ sở rõ ràng nhất để họ có cơ sở nhằm đánh giá rằng liệu họ có đủ khả năng để thực hiện hành vi không (Liguori và cộng sự, 2018), nói cách khác, khi cá nhân tin rằng
họ có thể thực hiện hành vi một cách hiệu quả, kết quả của hành vi được kỳ vọng là tích cực Các nghiên cứu của Lent và cộng sự (2013, 2017)cũng chứng minh được ảnh hưởng tích cực của Niềm tin vào năng lực bản thân đến Kỳ vọng kết quả của cá nhân trong lựa chọn nghề nghiệp Từ các lập luận trên, nhóm tác giả có cơ sở xác lập giả thuyết:
H4: Niềm tin vào năng lực bản thân có ảnh hưởng tích cực đến Kỳ vọng kết quả
2.5.4 Mối quan hệ giữa Niềm tin vào năng lực bản thân và Khám phá nghề nghiệp
Các nghiên cứu về sự ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp của Niềm tin vào năng lực bản thân đến Khám phá nghề nghiệp được chứng minh trong nhiều bối
Trang 34cảnh khác nhau ( Storme và Celik, 2018; Chan, 2018) SCCT cũng lập luận rằng khi con người có nhận thức tích cực về năng lực của bản thân, họ sẽ có
xu hướng thực hiện hành vi khám phá nhằm kiểm chứng nguồn thông tin mà
họ nhận được (Lent và Brown, 2013) Các nghiên cứu khác dựa trên nền tảng SCCT, đơn cử như Lent và cs (1994) phát biểu rằng Niềm tin vào năng lực bản thân có khả năng làm tăng ham muốn khám phá nghề nghiệp của cá nhân nhằm thỏa mãn những gì họ cho là họ có thể thực hiện Lent và cs (2016) khẳng định nhận thức tích cực về năng lực bản thân thúc đẩy ý định khám phá nghề nghiệp, và bản thân những người có sự tự tin cao hơn trong khám phá nghề nghiệp có khả năng đạt được hồi đáp tích cực hơn sau quá trình khám phá (Lent và cs, 2016)
Trong nghiên cứu của mình, Lee và cs (2016) chứng minh rằng niềm tin vào năng lực bản thân là tiền tố giải thích nội dung và ý định cho sự khám phá nghề nghiệp Nauta (2007) phát biểu rằng khi Niềm tin vào năng lực bản thân
ở mức cao, cá nhân có xu hướng tìm kiếm thông tin về môi trường nghề nghiệp ngay cả khi những câu trả lời nhận được là không rõ ràng Bên cạnh đó, sự tự tin về khả năng kích thích ham muốn khám phá bản thân thông qua thảo luận thông tin với người khác (Nauta, 2007) Cuối cùng, Kleine và cs (2021) chứng minh thành công sự ảnh hưởng tích cực của Niềm tin vào năng lực bản thân đến Khám phá nghề nghiệp, từ đó tác giả đề xuất giả thuyết:
H5: Niềm tin vào năng lực bản thân có ảnh hưởng tích cực đến Khám phá bản thân
H6: Niềm tin vào năng lực bản thân có ảnh hưởng tích cực đến Khám phá môi trường
Trang 352.5.5 Vai trò của Hỗ trợ xã hội trong mối quan hệ của Khám phá nghề nghiệp và Lựa chọn nghề nghiệp
Khám phá nghề nghiệp là nền tảng cơ bản cho sự phát triển nghề nghiệp, là giai đoạn quan trọng trong quá trình chuyển đổi môi trường học tập sang môi trường làm việc (Zikic và Hall, 2009) Trong nghiên cứu của mình, Toyokawa
và DeWald đã thống kê một số phương pháp để giúp sinh viên nhận ra các thách thức và rào cản trong quá trình khám phá nghề nghiệp (Toyokawa và DeWald, 2020) Suy ra được, khám phá làm tăng khả năng một cá nhân tìm thấy cơ hội lẫn các rào cản và rủi ro nghề nghiệp, trong một nghiên cứu khác, những người tự tin khi tham gia vào việc khám phá nghề nghiệp có nhiều khả năng đạt được những sự hồi đáp tích cực hơn (Lent và cs, 2016)
Theo Chan (2018), Hỗ trợ xã hội có liên hệ tích cực với lựa chọn nghề nghiệp, giúp giảm bớt áp lực cho việc lựa chọn, và tăng độ tin cậy của họ vào khả năng giải quyết các vấn đề liên quan, hoặc giúp giảm thiểu các khả năng tiêu cực của lựa chọn nghề nghiệp (Ireland và Lent, 2018) Theo quan điểm của một số nghiên cứu, sự hỗ trợ từ xã hội là yếu tố quan trọng trong lựa chọn nghề nghiệp thông qua hiệu chỉnh việc sử dụng kĩ năng hoặc duy trì sự kiên nhẫn của cá nhân trong quá trình theo đuổi mục tiêu nghề nghiệp (Lent và cs, 2017) Đồng thời, hỗ trợ xã hội có tác động tiêu cực tới sự do dự khi quyết định nghề nghiệp,
là nhân tốt thúc đẩy tích cực khi cá nhân thực hiện quyết định và lựa chọn nghề nghiệp (Jemini-Gashi và cs, 2019) Ngoài ra, Nguti và cộng sự (2019) đã chỉ
ra được vai trò chỉ báo của hỗ trợ xã hội đến lựa chọn và sự hài lòng đối với kết quả lựa chọn nghề nghiệp
Khám phá nghề nghiệp phát triển khả năng nhận thức về các khía cạnh nghề nghiệp, nhưng khi thực hiện hành vi khám phá nghề nghiệp, mỗi cá nhân đều phải đối mặt với nhiều rủi ro lẫn rào cản khác nhau ( Gushue, 2006c) Bên cạnh đó, trong nhiều nghiên cứu trước, hỗ trợ xã hội cũng ảnh hưởng tích cực
Trang 36đến ý định cũng như quá trình khám phá nghề nghiệp (Ireland và Lent, 2018) Rogers và cộng sự (2008) đã phát biểu rằng hình thức và nội dung của khám phá nghề nghiệp sẽ biến đổi dựa theo bối cảnh của hỗ trợ xã hội, thúc đẩy hoạt động ra quyết định nghề nghiệp thông qua khám phá nghề nghiệp, cụ thể hơn,
Hỗ trợ xã hội cung cấp cho cá nhân có nhu cầu khám phá nghề nghiệp cách thức, phương pháp, định hướng và các nguồn lực khác có liên quan nhằm giúp cho quá trình khám phá nghề nghiệp đạt được nhiều thông tin hữu ích hơn, hiệu quả hơn và hoàn thiện hơn (Lent và cs, 2019) Những nghiên cứu của Felsman và Blustein (1999), Kracke (2002), Hirschi và cộng sự (2011) cũng chứng minh được tính hiệu quả trong lựa chọn nghề nghiệp và khám phá nghề nghiệp khi nhận được sự hỗ trợ xã hội Cuối cùng, Park và cộng sự (2018) khẳng định, Hỗ trợ xã hội cung cấp thông tin và nguồn lực khác cho việc khám phá diễn ra thuận lợi hơn, cũng như giảm được áp lực khi phải tự ra quyết định (Park và cs, 2018), là yếu tố tiên đoán và giải thích cho hành vi khám phá nghề nghiệp (Lent và cs, 2019) Kết hợp các lập luận trên, chúng tôi đề xuất giả thuyết:
H7: Hỗ trợ xã hội đóng vai trò điều tiết mối quan hệ giữa Khám phá môi trường và Lựa chọn nghề nghiệp
H8: Hỗ trợ xã hội đóng vai trò điều tiết mối quan hệ giữa Khám phá bản thân
và Lựa chọn nghề nghiệp
Trang 37Hình 4 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Trang 38CHƯƠNG 3 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
3.1 Quy trình nghiên cứu
Hình 5 Quy trình nghiên cứu
Trang 39Nhóm tác giả thực hiện xác định vấn đề cấp thiết của nghiên cứu dựa trên bối cảnh thực tiễn và khe hổng lý thuyết, đây cũng là cơ sở quan trọng cho việc xây dựng mô hình và thang đo khảo sát Sau khi kế thừa các thang đo đáng tin cậy, nghiên cứu tiến hành thảo luận bàn giấy cùng xin ý kiến chuyên gia nhằm tăng tính phù hợp giữa nội dung thang đo và bối cảnh nghiên cứu tại Việt Nam
Sau khi hình thành thang đo, quy mô mẫu dự kiến thu thập là 500 đáp viên với hình thức khảo sát trực tuyến, sau đó dữ liệu thu thập được xử lý trên phần mềm Smart PLS 3.0 nhằm phân tích và kiểm định mô hình, là cơ sở đề xuất các hàm ý quản trị thỏa mãn mục tiêu nghiên cứu cũng như tính cấp thiết của đề tài
3.2 Xây dựng và thiết kế thang đo
Đối với các khái niệm, mỗi biến trong mô hình đều được kế thừa từ các nghiên cứu
có liên quan, tuy nhiên do sự khác biệt trong ngôn ngữ, văn hóa hoặc các yếu tố bối cảnh khác, nhóm tác giả sau khi trải qua quá trình “thảo luận nhóm” cùng “tham khảo
ý kiến chuyên gia”, nội dung thang đo có những thay đổi, điều chỉnh phù hợp với đối tượng khảo sát và các yêu cầu khác của đề tài Đầu tiên, yếu tố Hỗ trợ xã hội sử dụng
15 biến quan sát từ nghiên cứu của Nauta và Kokaly (2001) Yếu tố Khám phá nghề nghiệp gồm Khám phá môi trường kế thừa thang đo 6 biến quan sát cùng Khám phá bản thân kế thừa thang đo 5 biến quan sát từ nghiên cứu của Stumpf và cs (1983) Hai biến trong SCCT kế thừa thang đo 8 biến quan sát của Betz và cs (1996) cho biến Niềm tin vào năng lực bản thân và thang đo 12 biến quan sát được Metheny và Mcwhirter (2013) tổng hợp từ hai nghiên cứu của McWhirter, Rasheed, & Crothers (2000) và Fouad & Guillen (2006) cho biến Kỳ vọng kết quả Cuối cùng, hành vi lựa chọn nghề nghiệp được đo lường bởi thang đo trong nghiên cứu của Mu (1998) với
6 biến quan sát Các thang đo được thể hiện trong trong bảng tóm tắt (Bảng 1)
Trang 40Bảng 1 Các thang đo kế thừa
Yếu tố Câu hỏi gốc Nguồn Câu hỏi sau điều chỉnh
Có một người luôn sẵn sàng hỗ trợ khi bạn đưa ra các lựa chọn về học tập
Có người giúp bạn đánh giá những ưu và khuyết điểm của từng nghề nghiệp mà bạn muốn lựa chọn
Có một người giúp bạn cân nhắc những lựa chọn học tập và nghề nghiệp
Có người giúp bạn để chọn ra những nghề nghiệp phù hợp nhất sau khi đánh giá
Không có ai chỉ cho bạn hướng đi phù hợp học vấn hay sự nghiệp của mình
Không có ai chỉ cho bạn hướng đi phù hợp học vấn hay sự nghiệp của mình