1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khó khăn tâm lý của phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình

228 982 11
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khó khăn tâm lý của phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình
Tác giả Lý Thị Minh Hằng
Người hướng dẫn PGS.TS. Hoàng Anh, TS. Lê Văn Hảo
Trường học Học Viện Khoa Học Xã Hội, Viện Hàn Lâm Khoa Học Xã Hội Việt Nam
Chuyên ngành Tâm lý học
Thể loại Luận án tiến sĩ tâm lý học
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 228
Dung lượng 3,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khó khăn tâm lý của phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC

Người hướng dẫn khoa học 1: PGS.TS HOÀNG ANH

Người hướng dẫn khoa học 2: TS LÊ VĂN HẢO

Hà Nội -2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Tất cả số liệu và kếtquả nghiên cứu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì mộtcông trình nào khác

Hà Nội, ngày 15 tháng 01 năm 2014 Tác giả

Lý Thị Minh Hằng

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU KHÓ KHĂN TÂM LÝ CỦA PHỤ NỮ TRONG ĐẤU TRANH CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH 6

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu khó khăn tâm lý của phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình 6

1.2 Một số vấn đề lý luận về khó khăn tâm lý của phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình 27

Chương 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 62

2.1 Tổ chức nghiên cứu 62

2.2 Phương pháp nghiên cứu lý luận 70

2.3 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 70

2.4 Phương pháp xử lý tài liệu 73

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG KHÓ KHĂN TÂM LÝ CỦA PHỤ NỮ TRONG ĐẤU TRANH CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH 77

3.1 Thực trạng bạo lực gia đình của khách thể nghiên cứu 77

3.2 Thực trạng khó khăn tâm lý của phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình 83

3.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến khó khăn tâm lý của phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình 115

3.4 Một số trường hợp điển hình 128

3.5 Một số biện pháp tác động tâm lý nhằm khắc phục khó khăn tâm lý cho phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình 135

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 143

1 Kết luận 143

2 Kiến nghị 144

Trang 5

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BLGĐ : Bạo lực gia đình

CLB : Câu lạc bộ

CSAGA : Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng Khoa học

về Giới – Gia đình – Phụ nữ và Vị thành niên.ĐTB : Điểm trung bình

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Đặc điểm khách thể nghiên cứu 65

Bảng 2.2 Các nhóm điểm của thang đo trong bảng hỏi 73

Bảng 3.1 Tỷ lệ phụ nữ bị bạo lực tinh thần 80

Bảng 3.2 Tỷ lệ phụ nữ bị bạo lực thể chất 81

Bảng 3.3 Tỷ lệ phụ nữ bị bạo lực tình dục 82

Bảng 3.4 Tỷ lệ phụ nữ bị bạo lực kinh tế 83

Bảng 3.5 Tỷ lệ các nhóm phụ nữ bị các hình thức bạo lực gia đình khác nhau 84

Bảng 3.6 Nhận thức không đúng vai trò của người phụ nữ trong gia đình đối với việc đấu tranh chống bạo lực gia đình 86

Bảng 3.7 Nhận thức không đúng về hành vi bạo lực gia đình 89

Bảng 3.8 Thái độ tiêu cực đối với bản thân trong đấu tranh chống bạo lực gia đình 92

Bảng 3.9 Thái độ từ bỏ đấu tranh chống bạo lực gia đình với mong muốn giữ gìn sự ổn định của gia đình 94

Bảng 3.10 Thái độ thiếu tin tưởng vào sự giúp đỡ của người thân và cộng đồng trong đấu tranh chống bạo lực gia đình 96

Bảng 3.11 Hành vi của phụ nữ trong mối quan hệ với người xung quanh 100

Bảng 3.12 Hành vi giải quyết vấn đề bạo lực gia đình của phụ nữ 102

Bảng 3.13 Đánh giá mức độ khó khăn tâm lý của phụ nữ (tính theo %) 108

Bảng 3.14 Sự khác biệt giữa các nhóm phụ nữ bị các hình thức bạo lực gia đình khác nhau 110

Bảng 3.15 Sự khác biệt giữa các mặt biểu hiện khó khăn tâm lý của phụ nữ tham gia và không tham gia Câu lạc bộ “Cùng chia sẻ” 114

Bảng 3.16 Sự khác biệt về khó khăn tâm lý của phụ nữ thuộc các địa bàn khác nhau 114

Bảng 3.17 Những khác biệt khó khăn về nhận thức trong đấu tranh chống bạo lực gia đình 115

Bảng 3.18 Những khác biệt khó khăn về thái độ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình 116

Trang 7

Bảng 3.19 Những khác biệt khó khăn về hành vi trong đấu tranh chống bạo lực gia

đình 117

Bảng 3.20 Tỷ lệ phụ nữ chứng kiến bạo lực gia đình khi còn nhỏ 119

Bảng 3.21 Mức độ hài lòng về cuộc sống 121

Bảng 3.22 Sự hỗ trợ của người thân và cộng đồng đối với phụ nữ 123

Bảng 3.23 Tỷ lệ số con của phụ nữ tham gia khảo sát 126

Bảng 3.24 Dự báo thay đổi về khó khăn tâm lý từ thay đổi trong nhóm yếu tố chủ quan 128

Bảng 3.25 Dự báo thay đổi về khó khăn tâm lý từ thay đổi trong nhóm yếu tố khách quan 129

Bảng 3.26 Cụm các yếu tố dự báo mức độ khó khăn tâm lý của phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình 131

Trang 8

DANH MỤC HÌNH VẼ - ĐỒ THỊ - BIỂU ĐỒ

Hình 1.1 Nhận diện các giai đoạn trong chu kỳ bạo lực 35

Hình 1.2 Mô hình rào cản đối với phụ nữ 53

Hình 1.3 Mô hình rào cản tìm kiếm sự giúp đỡ (MBHS) 56

Đồ thị 2.1 Phân bố điểm khó khăn tâm lý về nhận thức của phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình 71

Đồ thị 2.2a Phân bố điểm khó khăn tâm lý về thái độ của phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình 71

Đồ thị 2.2b Phân bố điểm về khó khăn tâm lý trong thái độ (sau khi đã xử lý) 72

Đồ thị 2.3 Phân bố điểm khó khăn tâm lý về hành vi của phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình 72

Đồ thị 2.4 Phân bố điểm khó khăn tâm lý của phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình 73

Biểu đồ 3.1 Nguồn hỗ trợ được phụ nữ bị bạo lực gia đình tìm kiếm 98

Biểu đồ 3.2 Đánh giá mức độ khó khăn tâm lý của phụ nữ 108

Hình 3.1 Tương quan giữa các mặt khó khăn tâm lý 106

Hình 3.2 Tương quan giữa các biểu hiện trong từng mặt khó khăn tâm lý 106

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Bạo lực gia đình đối với phụ nữ là vấn đề có tính chất toàn cầu Hàng năm,trên thế giới có khoảng 20-50% phụ nữ bị bạo lực về thể chất do bạn tình hoặcthành viên gia đình gây ra[86] Trước năm 1993, phần lớn các Chính phủ coi bạolực gia đình là vấn đề riêng tư của mỗi cá nhân Hiện nay, thông qua các diễn đànquốc tế và khu vực cho sự bình đẳng, phát triển của phụ nữ, bạo lực gia đình đãđược nhìn nhận như một trở ngại cho sự phát triển và là sự vi phạm không thể chấpnhận được đối với nhân phẩm con người[41]

Giống như nhiều quốc gia khác trên thế giới, Việt Nam cũng phải đối mặtvới vấn đề bạo lực gia đình Những năm qua, tình trạng bạo lực gia đình đã diễn rakhá phổ biến ở mọi tầng lớp nhân dân và đã có mặt ở hầu hết các vùng khác nhautrên đất nước Kết quả từ nghiên cứu quốc gia về bạo lực gia đình đối với phụ nữ ởViệt Nam (2010) cho thấy: Tỉ lệ bị bạo lực thể xác do người chồng gây ra cho phụ

nữ từng kết hôn chiếm 32%, bạo lực tinh thần là 54% và bạo lực tình dục là10%[50] Bạo lực gia đình đã tước đi của người phụ nữ sức khoẻ, tình thương yêu,lòng tự tôn, làm gia đình tan nát Không chỉ làm kiệt quệ kinh tế gia đình, bạo lựcgia đình còn gây thiệt hại cho cộng đồng, xã hội, đất nước ở nhiều mức độ khácnhau Nó làm giảm khả năng sản xuất của người phụ nữ trong gia đình và cộngđồng, làm suy giảm nguồn lực từ các dịch vụ xã hội, làm giảm khả năng học tập vàgiáo dục toàn diện, khả năng vận động và sáng tạo của phụ nữ, con cái và cả ngườigây ra bạo lực

Trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của đất nước ta hiện nay, cùngvới việc phát triển kinh tế, cải cách hành chính, giảm nghèo, thực hiện các chínhsách về công bằng xã hội, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến việc giải quyếtnạn bạo lực gia đình Việt Nam đã chứng tỏ cam kết của mình đối với vấn đề chấmdứt bạo lực đối với phụ nữ thông qua việc phê chuẩn một số Hiệp định quốc tế cơbản về quyền con người Những cam kết này đã tạo cơ sở tiền đề cho việc xây dựngcác khung pháp lý và chính sách quốc gia nhằm giải quyết bạo lực đối với phụ nữtại Việt Nam Năm 2006, Luật bình đẳng giới ra đời và tiếp theo là Luật Phòng,Chống bạo lực gia đình được Quốc hội thông qua năm 2007 Mặc dù Việt Nam đã

Trang 10

thể hiện cam kết cao trong việc xây dựng Luật và các chính sách đối phó với bạolực gia đình nhưng vẫn tồn tại khoảng trống giữa lý thuyết và thực tế triển khai

Xã hội văn minh ngày càng giải phóng người phụ nữ, công nhận quyền củangười phụ nữ nhưng trong khá nhiều gia đình, bạo lực với người phụ nữ vẫn chưachấm dứt Để xây dựng một nền văn hóa mới, đạo đức mới, công bằng và dân chủ, tựchủ và văn minh thì phải đấu tranh chống lại bạo lực gia đình Tiếc rằng, phần lớnnhững phụ nữ bị bạo lực thường không dám đối diện với vấn đề này Họ vẫn thườngdấu kín, e ngại bày tỏ, không dám tìm kiếm sự trợ giúp Họ cố gắng chịu đựng vớimong muốn có được sự bình yên trở lại trong gia đình Chính vì vậy mà hậu quả củabạo lực thường rất nghiêm trọng Nguyên nhân chính của tình trạng này là do sự thiếuhiểu biết của người phụ nữ cũng như thiếu sự hỗ trợ của cộng đồng trong phòngchống bạo lực gia đình Vì vậy, cần thiết phải thay đổi nhận thức và thái độ của xãhội từ quan niệm cho rằng bạo lực gia đình là chuyện riêng tư, chuyện nội bộ trongmỗi nhà sang nhìn nhận bạo lực gia đình là một sự vi phạm quyền con người và ảnhhưởng nghiêm trọng đến nhân phẩm con người

Trong tiến trình chung của công cuộc phòng chống bạo lực gia đình, mỗi cánhân, cơ quan, tổ chức cần có những nỗ lực trong hoạt động của mình để góp phầncải thiện tình trạng này Đặc biệt, cần xây dựng một cơ sở dữ liệu nhằm giải quyếtvấn đề bạo lực gia đình ở Việt Nam Thông tin và những dữ liệu từ các ban ngànhliên quan có thể tạo nên một cơ sở bằng chứng vững chắc cho việc xây dựng cáchoạt động nâng cao nhận thức, vận động chính sách, phát triển chương trình, canthiệp và theo dõi, đánh giá công tác phòng chống bạo lực gia đình

Trước đòi hỏi này, nghiên cứu ứng dụng rất có giá trị để giải quyết các vấn đềđang đặt ra cho khoa học và thực tiễn Thời gian qua, nghiên cứu Xã hội học đã cónhiều đóng góp trong công tác Phòng, chống bạo lực gia đình Kết quả nghiên cứu đãchỉ ra thực trạng mức độ, nguyên nhân và hậu quả của bạo lực gia đình Tuy nhiên,

để giảm thiểu và chấm dứt hành vi bạo lực, vấn đề cốt lõi là cần phát hiện và chỉ rõnguyên do của những khó khăn tâm lý mà phụ nữ đang gặp phải Vì vậy, việc nghiên

cứu đề tài: “Khó khăn tâm lý của phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình ”

là rất cần thiết

2

Trang 11

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Phát hiện những khó khăn tâm lý của phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực giađình và những yếu tố tác động đến khó khăn tâm lý này Trên cơ sở đó, đề xuất một

số biện pháp giúp phụ nữ khắc phục những khó khăn tâm lý đã được xác định

3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Biểu hiện và mức độ khó khăn tâm lý của phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực giađình

4 KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU

Khảo sát bằng bảng hỏi 150 phụ nữ và phỏng vấn sâu 30 phụ nữ Bên cạnh đó,chúng tôi còn trưng cầu ý kiến của 5 chuyên gia Tâm lý học, 8 cán bộ hoạt độngtrong lĩnh vực phòng chống bạo lực gia đình, 12 cán bộ quản lý xã, thôn (Hội phụ

nữ, Hội nông dân, Trưởng thôn )

5 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

5.1 Khó khăn tâm lý của phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình biểuhiện trên cả ba mặt: Nhận thức, thái độ và hành vi, trong đó khó khăn về thái độtrong đấu tranh chống bạo lực gia đình được thể hiện rõ nét nhất

5.2 Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến khó khăn tâm lý của phụ nữ trong đấu tranhchống bạo lực gia đình như: Chứng kiến bạo lực gia đình khi còn nhỏ, trình độ học

vấn, mức độ hài lòng về cuộc sống, sự hỗ trợ của cộng đồng…trong đó sự hỗ trợ của cộng đồng có ảnh hưởng nhiều nhất đến các mặt biểu hiện của khó khăn tâm lý

5.3 Xây dựng niềm tin- Nâng cao nhận thức – Tạo sức mạnh hành động tíchcực cho phụ nữ sẽ giúp họ hạn chế và khắc phục những khó khăn tâm lý trong đấutranh chống bạo lực gia đình

6 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

6.1 Xây dựng cơ sở lý luận nghiên cứu khó khăn tâm lý của phụ nữ trong đấutranh chống bạo lực gia đình Cụ thể: Làm rõ khái niệm công cụ: “Khó khăn tâmlý”, “Bạo lực gia đình đối với phụ nữ", “Đấu tranh chống bạo lực gia đình”, “Khókhăn tâm lý của phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình”; Xác định biểu hiệnkhó khăn tâm lý, tiêu chí đo và yếu tố tác động đến khó khăn tâm lý được nghiêncứu

6.2 Làm rõ thực trạng khó khăn tâm lý của phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lựcgia đình, các yếu tố ảnh hưởng đến khó khăn tâm lý và mối tương quan giữa chúng

Trang 12

6.3 Đề xuất một số biện pháp khắc phục khó khăn tâm lý của phụ nữ trong đấutranh chống bạo lực gia đình

7 GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU

7.1 Giới hạn về nội dung nghiên cứu

Luận án tập trung nghiên cứu bạo lực của chồng đối với phụ nữ

Khó khăn tâm lý của phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình đượcxem xét ở các mặt biểu hiện về nhận thức, thái độ và hành vi

Luận án chỉ đề xuất một số biện pháp khắc phục khó khăn tâm lý của phụ nữtrong đấu tranh chống bạo lực gia đình mà không tiến hành thực nghiệm

7.2 Giới hạn về khách thể nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện trên nhóm khách thể là phụ nữ bị bạo lực

7.3 Giới hạn về địa bàn nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện tại 6 xã thuộc 3 tỉnh phía Bắc:

- Xã Liêm Cần và Liêm Phong thuộc huyện Thanh Liêm- Hà Nam

- Xã Phạm Ngũ Lão và Song Mai thuộc huyện Kim Động - Hưng Yên

- Xã Mường Khến và Thanh Hối thuộc huyện Tân Lạc- Hoà Bình

8 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

8.1 Những nguyên tắc phương pháp luận

- Tiếp cận hoạt động: Thông qua hoạt động, những đặc điểm tâm lý của cánhân hay của nhóm sẽ được hình thành, biểu hiện và phát triển một cách rõ ràngnhất Vì thế, những khó khăn tâm lý của phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực giađình được chúng tôi tiến hành nghiên cứu thông qua hoạt động thực tiễn của phụ

nữ Cách tiếp cận này nhằm nghiên cứu các mặt biểu hiện về nhận thức, thái độ vàhành vi của khó khăn tâm lý trong đấu tranh chống bạo lực gia đình của phụ nữ

- Tiếp cận hệ thống: Cần phải xem xét, nghiên cứu các chuẩn mực văn hóacủa dân tộc (lối sống, hệ thống giá trị truyền thống,…), coi đây là những chuẩnmực chủ chốt trong quá trình xác định các yếu tố ảnh hưởng đến khó khăn tâm

lý Đồng thời, việc nghiên cứu về bạo lực gia đình đối với phụ nữ phải đứng trênquan điểm bình đẳng giới, trong đó cần quan tâm đến quyền của phụ nữ Cần xácđịnh khó khăn khiến bên có quyền (phụ nữ) không thực hiện được quyền của mình,đồng thời xác định khó khăn khiến bên có trách nhiệm (các cơ quan, ban ngành, đoànthể ) không hoàn thành nghĩa vụ của mình Cách tiếp cận này nhằm xem xét các yếu

4

Trang 13

tố ảnh hưởng đến khó khăn tâm lý của phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình

và đề xuất những biện pháp tâm lý nhằm giảm thiểu khó khăn tâm lý đó

8.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể

8.2.1 Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu

8.2.2 Phương pháp điều tra bảng hỏi

8.2.3 Phương pháp phỏng vấn sâu

8.2.4 Phương pháp quan sát

8.2.5 Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình (case study)

8.2.6 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia

8.2.7 Phương pháp thống kê toán học

9 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

Khó khăn tâm lý của phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình là mộtchủ đề khó nghiên cứu về cả nội dung cũng như phương pháp thực hiện Cho đếnnay, ở Việt Nam có rất ít công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề này, đặc biệtdưới góc độ Tâm lý học

9.2 Đóng góp về mặt thực tiễn

Luận án đã mô tả được bức tranh khó khăn tâm lý trên các mặt nhận thức,thái độ và hành vi của người phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình và thựctrạng một số yếu tố tác động đến khó khăn tâm lý này Trên cơ sở đó, một số biệnpháp tác động tâm lý: Xây dựng niềm tin- Nâng cao nhận thức- Tạo sức mạnh hànhđồng cho phụ nữ được xác định là có hiệu quả trong giảm bớt khó khăn tâm lý.Những kết quả mới này có thể góp phần vào việc phòng, chống bạo lực gia đình đốivới phụ nữ hiện nay

Trang 14

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU KHÓ KHĂN TÂM LÝ

CỦA PHỤ NỮ TRONG ĐẤU TRANH CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH

1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU KHÓ KHĂN TÂM LÝ CỦA PHỤ

NỮ TRONG ĐẤU TRANH CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH

Theo nhiều nghiên cứu, loại hình bạo lực gia đình phổ biến nhất là bạo lựcđối với phụ nữ mà thủ phạm là chồng hay bạn tình gây ra Dạng bạo lực này có thểxảy ra ở những cặp đã kết hôn hoặc chưa kết hôn, những cặp đồng tính, những cặp

đã ly thân hoặc ly dị Vì thế, trong nhiều tài liệu nghiên cứu, bạo lực gia đình đốivới phụ nữ còn được gọi là bạo lực trong mối quan hệ thân thiết (IPV)

1.1.1 Những nghiên cứu khó khăn tâm lý của phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình ở nước ngoài

1.1.1.1 Những nghiên cứu về bạo lực gia đình

Bạo lực gia đình đối với phụ nữ là hiện tượng xảy ra ở mọi quốc gia trênthế giới, là một vấn đề sức khoẻ cộng đồng và nhân quyền cơ bản Nó có thể ảnhhưởng đến sức khoẻ thể chất và tinh thần của người phụ nữ Từ những thập niên

80 của thế kỷ XX, các nghiên cứu về bạo lực gia đình đối với phụ nữ tăng nhanh

ở cả những nước có thu nhập cao và thu nhập thấp cho thấy tính nghiêm trọng và

quy mô của vấn đề này [110].

Số liệu báo cáo từ nhiều quốc gia cho thấy bạo lực gia đình đối với phụ nữ

chiếm một tỉ lệ tương đối cao Theo báo cáo của Tổ chức y tế thế giới (WHO), ở

hầu hết các nước phương Tây, khoảng ¼ phụ nữ có nguy cơ bị bạo lực gia đìnhdưới nhiều hình thức khác nhau: Bạo lực thể chất, bạo lực tinh thần và bạo lực tìnhdục[115]

Dạng bạo lực được nghiên cứu phổ biến nhất là bạo lực thể chất Kết quảnghiên cứu thực hiện ở hầu khắp các quốc gia trên thế giới trong khoảng 10 năm từ

1994 đến 2005 cho thấy có khoảng 10->70% phụ nữ đang phải gánh chịu hình thức

bạo lực này Cụ thể trong báo cáo của Hesei (1994) về kết quả nghiên cứu từ 35

nước đã chứng minh rằng có khoảng từ 20-> 50% phụ nữ các nước này bị chồngđánh đập [86] Tiếp đó là nghiên cứu điều tra dựa trên số dân ở 48 nước trên thế

6

Trang 15

giới về các yếu tố nguy cơ về bạo lực gia đình đối với phụ nữ đã chỉ ra 10-69% phụ

nữ cho biết họ đã trải qua một số bạo lực thân thể bởi một người bạn tình của họ

trong đời[53] Gần đây nhất, nghiên cứu đa quốc gia của Tổ chức Y tế thế giới

(2005) về bạo lực đối với phụ nữ được tiến hành ở 11 quốc gia cho biết 13-61% phụ

nữ bị bạo lực thể chất bởi một người bạn tình.[115]

Dạng bạo lực thể chất có liên quan chặt chẽ với bạo lực tình dục Theo một số nhànghiên cứu, bạo lực tình dục là hiện tượng người vợ bị chồng ép buộc trong sinhhoạt tình dục, đặc biệt khi người chồng trở về nhà trong cơn say rượu Ở Mỹ,khoảng 10-14% phụ nữ bị buộc phải sinh hoạt tình dục với chồng khi họ khôngmong muốn và trong số những người bị chồng đánh có ít nhất 40% người bị épbuộc trong quan hệ tình dục Tỉ lệ phụ nữ bị bạo lực cả về thể chất và tình dụcchiếm từ 30-50% Nghiên cứu định tính về “Quá trình ra quyết định về nạo phá thaicủa phụ nữ có chồng” ở hai làng thuộc bang Uttar Pradesh (Ấn Độ) cho thấy 68%những người được phỏng vấn trả lời họ bị chồng ép buộc phải sinh hoạt tình dục lúc

họ không muốn, nếu từ chối họ có thể bị đánh.[32]

Ở hầu hết các nước, nghiên cứu về phạm vi và sự ảnh hưởng của bạo lực tinh

thần đối với phụ nữ còn rất ít Mặc dù vậy, theo kết quả nghiên cứu của Silke Meyer

(2010), phụ nữ bị bạo lực tinh thần chiếm tỉ lệ khá cao từ 40-75% [97, tr.244] Các

biểu hiện của loại bạo lực này được Catherine So-kum Tang mô tả trong nghiên cứu

về “Bạo lực tinh thần đối với phụ nữ Trung quốc” bao gồm các hành vi đe doạ,kiểm soát, ghen tuông, cô lập…[67] So sánh tỉ lệ phụ nữ bị các dạng bạo lực khácnhau thông qua báo cáo từ các nghiên cứu trên, chúng tôi nhận thấy, bạo lực tinhthần xảy ra phổ biến nhất

Theo báo cáo của Ngân hàng thế giới về “Bình đẳng giới và phát triển”(2012), mức độ bạo lực gia đình giữa các quốc gia có những khác biệt rất lớn vàkhông có quan hệ rõ ràng với thu nhập, trong khi phạm vi bạo lực có xu hướng giatăng cùng suy thoái kinh tế -xã hội, bạo lực không phân biệt ranh giới Tại một sốquốc gia có thu nhập trung bình, chẳng hạn như Braxin và Secbia có tới 25% phụ

nữ bị bạn đời hoặc người thân bạo lực thể chất Tại Peru, gần 50% phụ nữ là nạnnhân của bạo lực thể chất trong suốt cuộc đời Theo báo cáo ở Etiopia, 54% phụ nữ

bị người thân lạm dụng thể chất hoặc tình dục trong vòng 12 tháng qua.[36, tr21]

Trang 16

Catherine So-kum Tang [67, tr299] trong nghiên cứu về “Bạo lực tinh thầnđối với những người vợ ở Trung Quốc” đã khẳng định: Các nghiên cứu nhân chủnghọc và xuyên văn hoá cũng chỉ ra rằng mặc dù hành động bạo lực vợ là hiện tượngphổ biến trên thế giới nhưng cần cân nhắc tính đa dạng trong việc xác định hành vibạo lực, sự thừa nhận tần suất và mức độ nghiêm trọng của nó với các xã hội khácnhau Các nhà nghiên cứu cũng đang tranh cãi về tính đa dạng xã hội trong hành vibạo lực vợ phụ thuộc vào mức độ bạo lực nói chung, sự can thiệp của cộng đồng,mức độ chấp nhận nam tính và quan trọng nhất là sự thừa nhận mang tính văn hoá -

xã hội đối với những hành vi đó Ngoài ra, việc xác định mẫu trong các nghiên cứucũng là vấn đề cân nhắc về tính đại diện cho việc khẳng định tỉ lệ phụ nữ bị bạo lực ởmỗi quốc gia

Tóm lại, nghiên cứu về bạo lực gia đình đối với phụ nữ được thực hiện ở hầukhắp các quốc gia trên thế giới cho thấy tính phức tạp, đa dạng của các hình thứcbạo lực Sự ảnh hưởng nghiêm trọng của nó không chỉ đối với cá nhân, cộng đồng

mà còn đối với toàn xã hội đã chỉ ra sự cần thiết phải đấu tranh nhằm ngăn chặn vàxóa bỏ tệ nạn xã hội này

1.1.1.2 Những nghiên cứu về đấu tranh chống bạo lực gia đình

Tình trạng bạo lực đối với phụ nữ ở Mỹ và các nước châu Á, châu Phi, châu Mỹ

la tinh hết sức phổ biến và đa dạng, trong đó có bạo lực gia đình Trong rất nhiềunghiên cứu, các tác giả đã cung cấp một cái nhìn toàn cảnh và chiến lược liên quan đặcbiệt đến bạo lực giới Cụ thể: Mở rộng chương trình tuyên truyền vận động, giáo dục,cải cách pháp luật và hành động chống bạo lực đối với phụ nữ [58],[60],[66],[107],[108],[111]

DeeL.R Graham cùng với Edna I Rawling và Roberta K Rigsby (1994) cho

thấy bạo lực đã đưa đến sự sợ hãi của nhiều phụ nữ và hiện tại họ như những kẻ nô

lệ, bị giam cầm và liên tục bị đánh sẽ làm mất khả năng xây dựng năng lực cho bảnthân Họ trở nên tôn sùng, yêu và nghe lời người gây bạo lực (hội chứngStockholm) Các tác giả đã đưa lăng kính nữ quyền vào việc chữa trị cho phụ nữtrong hội chứng Stockholm này Bằng cách đi sâu vào các vấn đề lý thuyết nữquyền, các tác giả đã phê phán quan điểm của S.Freud đã không gắn tâm lý của phụ

8

Trang 17

nữ với hoàn cảnh văn hoá cụ thể, thừa nhận bạo lực đã ảnh hưởng đến cuộc sốngcủa phụ nữ, cần được ngăn chặn và tiến tới đẩy lùi nạn bạo lực nguy hiểm này[73]

Bên cạnh đó, Deirdre Lashgari (1995) đã trình bày các tư tưởng về sự im

lặng, sự tức giận và nhu cầu nói lên tiếng nói chống lại bạo lực đối với phụ nữ, đặcbiệt là bạo lực trong gia đình[74]

Như vậy, các nghiên cứu về đấu tranh chống bạo lực gia đình đã chỉ ra đượcnhững vấn đề lý luận về bản chất của quá trình đấu tranh chống bạo lực gia đình làngăn chặn và xóa bỏ bạo lực nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của phụ nữ

1.1.1.3 Những nghiên cứu về khó khăn tâm lý của phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình

Bên cạnh việc đánh giá mức độ, tần suất và các dạng thức bạo lực gia đình,các nghiên cứu đã đi sâu tìm hiểu suy nghĩ, thái độ, cách ứng phó của phụ nữ trướchành vi bạo lực, đồng thời cũng chỉ ra những nguyên nhân cơ bản khiến bạo lực vẫntiếp diễn Kết quả chung cho thấy phụ nữ gặp nhiều khó khăn trong đấu tranh chốngbạo lực gia đình

* Biểu hiện khó khăn tâm lý của phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình

“Cách nhìn của phụ nữ về cách nhìn của nam giới” là tựa đề một bài viết

trong cuốn “Sự thống trị của nam giới” (2010) của tác giả Pierre Bourdieu Ở đây,

tác giả khẳng định rằng phụ nữ có một lòng tin đơn thuần về việc cần tuân thủ mộtcách vô điều kiện chồng mình Họ thấy mình có sự lệ thuộc vào suy nghĩ của ngườichồng và như vậy mang lại cho họ một cảm giác an toàn hơn Vì thế, họ có khuynhhướng ước lượng thành công của mình dựa theo thành công của chồng Họ tin vàotình yêu số phận- đó là tình yêu đối với kẻ thống trị và sự thống trị của kẻ đó, vì thế

mà từ bỏ ham muốn thống trị.[42, tr 120-139]

Nhận thức về vai trò người phụ nữ trong gia đình như vậy đã khiến nhữngngười bị bạo lực có một niềm tin sâu sắc về sự phụ thuộc của mình vào chồng.Trong tài liệu hướng dẫn tư vấn qua điện thoại cho phụ nữ bị bạo lực gia đình

(1999), tác giả Lucinda Willshire cho rằng người phụ nữ bị trói buộc vào cuộc sống

bạo lực bởi họ không tin rằng mình có thể tự sống được; tin rằng chồng mình sẽthay đổi; cho rằng con cái sẽ tốt hơn khi ở với cả bố và mẹ Những suy nghĩ đó đãmang lại cho người phụ nữ nhiều cảm xúc tiêu cực như [31]:

Trang 18

- Sợ sự nghèo đói khi phải tự chi trả nhiều khoản và không có tiền dành dụm.

- Sợ chồng đe doạ giết mình và nói sẽ giết con cái và bố mẹ đẻ của mình

- Địa phương, gia đình có lẽ không chấp nhận phụ nữ ly thân hoặc ly hônnên sợ làm ảnh hưởng đến những người thân nếu rời bỏ người chồng

- Yêu chồng và cảm thấy có tội và lo lắng cho anh ta

- Sợ sẽ mất con

- Xấu hổ nếu ly hôn

- Xấu hổ về sự ngược đãi của chồng và muốn giấu kín

- Cảm thấy mình đáng phải chịu sự ngược đãi của chồng

Cảm xúc của phụ nữ là khía cạnh được các nhà nghiên cứu rất chú ý xem xét.Thông qua phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phỏng vấn sâu và phân tích câuchuyện cuộc đời, cảm xúc của phụ nữ được lột tả một cách chân thực và rõ nét

Jan E.Saets và Murray A.Straus cho thấy những tổn thương về mặt tinh thần

thường thể hiện ở sự buồn phiền, căng thẳng và các triệu chứng thần kinh như: Sựchán nản; cảm giác tồi tệ, mất hết giá trị; không còn cảm thấy điều gì thú vị nữa,hoàn toàn mất hy vọng về mọi thứ, nghĩ đến cái chết và tìm đến cái chết, lo lắng,thấy không có khả năng vượt qua được những khó khăn ngày càng lớn, thấy bảnthân không thể đương đầu với những gì mình phải làm.[82]

Gillian Mezey cùng các cộng sự đã tiến hành nghiên cứu trên 200 phụ nữ

đang được chăm sóc trước và sau sinh tại dịch vụ sản phụ ở miền Nam Luân Đôn bịbạo lực Kết quả cho thấy, 47 phụ nữ (chiếm 23,5%) bị bạo lực gia đình (cả bạo lựcthể chất và tình dục); 13 phụ nữ (10,7%) những người đã từng bị chấn thương vàhiện tại bị rối loạn căng thẳng Triệu chứng sau chấn thương được gắn kết với quátrình ngược đãi về thể chất, tình dục và lặp lại sự ngược đãi Những yếu tố xã hộiquan trọng gắn kết với chấn thương là tình trạng sống đơn độc, tách biệt hoặc sốngtrong mối quan hệ không như vợ chồng.[79]

Như vậy, những dấu hiệu cảm xúc tiêu cực ở phụ nữ khá phổ biến Họ sốngtrong nỗi lo lắng và thấy không có khả năng vượt qua những khó khăn ngày cànglớn, thấy bản thân không thể đương đầu với những gì mình phải làm, chán nản, cócảm giác tồi tệ về bản thân, thấy mình mất hết giá trị, mất hy vọng về cuộc sống củabản thân, nghĩ đến cái chết và thậm chí đã tìm đến cái chết

10

Trang 19

Vì thế, phụ nữ thường khó khăn trong việc lựa chọn quyết định cho mình.

Belknap, Ruth Ann [62, tr387-404] thực hiện phỏng vấn sâu 18 phụ nữ nông thôn,

yêu cầu mỗi người nói rõ về những khó khăn trong cuộc sống cũng như cách họ đãứng phó Có 3 loại quyết định cơ bản được phụ nữ đưa ra: a) Rời bỏ mối quan hệhiện có; b) Kháng cự lại; c) Tiếp tục sống trong sự đe doạ đó Việc đưa ra quyếtđịnh này có những khó khăn do mâu thuẫn với vấn đề đạo đức truyền thống Vì thế,hầu hết phụ nữ có xu hướng chấp nhận bạo lực

Đặc biệt, nghiên cứu về “Bạo lực gia đình trong cộng đồng di cư Châu Á”

của nhóm tác giả Lee, Yeon- Shim, Hadeed, Linda(2009) đã chỉ ra rằng: Bạo lực gia

đình là một dịch bệnh nghiêm trọng giữa các cộng đồng người nhập cư châu Á Tuynhiên, còn ít thông tin về phạm vi, tính chất, và các yếu tố văn hóa và xã hội liênquan đến bạo lực gia đình Tác giả xem xét kỹ lưỡng một số lĩnh vực: (a) Bối cảnhbạo lực gia đình; (b) Tỉ lệ bạo lực gia đình; (c) Nguy cơ mắc bệnh lây truyền quađường tình dục và HIV/AIDS; (d) Những hậu quả sức khỏe tâm thần và thể chất; (e)

Hỗ trợ xã hội và giúp đỡ hành vi tìm kiếm và (f) Rào cản đối với việc sử dụng dịch

vụ Nghiên cứu đã làm rõ khá nhiều khía cạnh liên quan đến khó khăn tâm lý củaphụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình xét về cả khía cạnh cá nhân và xãhội [89,tr143-170]

Menon, Niveditha [94,tr702] đã nỗ lực mang lại sự rõ ràng đối với nhiều loại

bạo lực gia đình thông qua nghiên cứu “Mối quan hệ giữa chế độ phụ hệ, bạo lựcgia đình và sự nỗ lực của phụ nữ” Mặc dù chế độ phụ hệ đã được phần lớn nghiêncứu cho là nguyên nhân chính của bạo lực gia đình nhưng các quá trình đánh dấumối quan hệ này hiếm khi được đánh giá Ngoài ra, ý thức hệ và những hạn chếtrong hệ thống gia đình gia trưởng Ấn Độ là lý do chính khiến cho phụ nữ ở trongmối quan hệ bạo lực Gần đây, nhiều nhà nghiên cứu đã đặt câu hỏi liệu chế độ giatrưởng có phải là yếu tố duy nhất ảnh hưởng đến bạo lực gia đình và phụ nữ luônnạn nhân của bạo lực Dựa trên những phát hiện này, tác giả đã nảy sinh nhu cầucần đánh giá lại các mối quan hệ giữa tính gia trưởng, bạo lực gia đình và sự nỗ lựccủa phụ nữ Tác giả chú ý tới động lực giữa các cá nhân và trong nội bộ gia đình cụthể là hành vi kiểm soát và chiến lược ứng phó trong mối quan hệ hôn nhân Nghiêncứu tập trung trả lời bốn câu hỏi nghiên cứu chính: (1) Các loại hành vi bạo lực phổbiến là gì? (2) Việc sử dụng các chiến lược kiểm soát đối với phụ nữ trong những

Trang 20

bối cảnh khác nhau xảy ra như thế nào? (3) Các chiến lược đối phó khác nhau đượcphụ nữ sử dụng trong những bối cảnh khác nhau là gì? và (4) Chiến lược ứng phóchịu ảnh hưởng của sự tương tác giữa các yếu tố văn hóa xã hội và bối cảnh kinh tếnhư thế nào? Để trả lời những câu hỏi này, tác giả đã sử dụng phương pháp nghiêncứu định tính và định lượng để xác định các loại khác nhau của bối cảnh kiểm soátbạo lực trong gia đình và các tác động khác nhau của các loại bạo lực gia đình Bêncạnh đó còn có sự kết hợp của dữ liệu sơ cấp và thứ cấp Các dữ liệu thứ cấp lấy từ

“Điều tra y tế nhân khẩu học” của Ấn Độ, được thực hiện trong năm 1999 Số liệuđiều tra quy mô lớn này được sử dụng kết hợp với các dữ liệu chính để tạo ra một

bộ dữ liệu duy nhất về cấu trúc của bạo lực gia đình ở Ấn Độ

Postmus, Judy [98,tr 852-868] và các cộng sự trong nghiên cứu về “Trải

nghiệm bạo lực gia đình của phụ nữ và sự tìm kiếm giúp đỡ” đã cho thấy: Hàngngày, phụ nữ phải chịu đựng các hình thức bạo lực thể chất và tình dục Những phụ

nữ này đã nhận được sự hỗ trợ từ các dịch vụ Tuy nhiên, đánh giá về cách mà họ

đã sử dụng dịch vụ cũng như nhận thức của họ về những dịch vụ này chỉ ra những

gì nhà cung cấp thường ưu tiên hỗ trợ cho phụ nữ là hỗ trợ về tình cảm, tâm lý,pháp lý Tuy nhiên, đây không phải là những gì người phụ nữ cho là hữu ích nhất.Thay vào đó, sự hỗ trợ hữu hình, chẳng hạn như thực phẩm, nhà ở và hỗ trợ tàichính mới được xem là hữu ích nhất, cùng với tư vấn tôn giáo hay tâm linh Nhưvậy, sự hỗ trợ chưa giải quyết được những nhu cầu căn bản của phụ nữ, vì thế họchưa sẵn sàng đến với các dịch vụ xã hội này

Những phân tích trên cho thấy, xu hướng giải quyết bạo lực gia đình của phụ

nữ được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm Cụ thể là tìm hiểu về chiếnlược ứng phó của người phụ nữ trong những hoàn cảnh khác nhau của bạo lực giađình, mức độ sử dụng các dịch vụ hỗ trợ nhưng kết quả chung cho thấy phụ nữthường có xu hướng chấp nhận bạo lực

* Nguyên nhân dẫn đến khó khăn tâm lý của phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình

Hầu hết các nghiên cứu đều chỉ ra nguyên nhân cơ bản, sâu xa nhất dẫn đếnhành vi bạo lực gia đình của người chồng cũng như sự chấp nhận, cam chịu của phụ

nữ là tính gia trưởng

12

Trang 21

Tác giả Kamla Bhasin, trong cuốn sách“Những nghiên cứu về đặc điểm nam

tính” đã cho rằng: “Tính gia trưởng là một hệ tư tưởng xã hội mà trong đó coi đàn

ông là đẳng cấp trên so với phụ nữ, một biểu hiện cụ thể là đàn ông điều khiểnnhiều hơn ở mọi lĩnh vực và được đưa ra quyết định” [26, tr14] Theo lẽ đó, đànông là người lãnh đạo gia đình, người thừa kế của gia đình và người đứng tên tàisản Uy quyền của người đàn ông trong gia đình cho phép họ có những hành độngbạo lực đối với người vợ của mình.[26,tr15]

Nhiều nghiên cứu về giới đã chỉ ra rằng: theo cấu trúc xã hội của giới, namgiới được dạy để có nam tính: Mạnh mẽ, uy quyền, xông xáo, độc lập, bình tĩnh,thống trị, năng động, ganh đua, tự tin…Phụ nữ được dạy để có nữ tính: Mềmyếu, thụ động, ân cần, lệ thuộc, mong manh, dễ xúc động, phục tùng, nhu mì, sẵnsàng hợp tác, thiếu tự tin…Theo Robin Haarr, quan hệ giới và cấu trúc nam tính-

nữ tính dựa trên cơ sở nguyên lý tổ chức: Ưu thế của nam giới đối với phụ nữ; sựthống trị của nam giới về mặt xã hội, chính trị và kinh tế đối với phụ nữ; sự phụctùng của phụ nữ đối với nam giới trong gia đình và xã hội Chính nguyên tắc ưuthế và sự thống trị của nam giới đối với phụ nữ dẫn đến vấn đề bạo lực gia đìnhđối với phụ nữ.[14]

Trong bài viết “Ngược đãi vợ: Những yếu tố dẫn đến ngược đãi vợ và sự can thiệp”, Robin Haarr cũng đã khẳng định vai trò của phụ nữ do xã hội xây dựng

được sắp đặt theo trật tự, trong đó nam giới nắm quyền và kiểm soát phụ nữ Sựthống trị của nam giới và sự coi thường phụ nữ thể hiện cả trong hệ tư tưởng vàtrong nền tảng hôn nhân Bạo lực với phụ nữ như một phương tiện phục vụ sựthống trị của nam giới Các hành vi bạo lực với phụ nữ không thể chỉ là do nguyênnhân duy nhất là các yếu tố tâm lý của cá nhân hoặc các điều kiện kinh tế xã hộinhư thất nghiệp Sự lý giải về bạo lực không chỉ tập trung chủ yếu vào các hành vi

và lịch sử cá nhân, chẳng hạn như việc lạm dụng rượu hoặc là tiền sử về bạo lực

mà bỏ qua các tác động lớn hơn của bất bình đẳng mang tính hệ thống và sự hạthấp vai trò của phụ nữ Vì vậy, các nỗ lực nhằm phát hiện ra các yếu tố có liênquan đến bạo lực với phụ nữ nên được đặt trong bối cảnh xã hội của các mối quan

hệ quyền lực rộng hơn.[13]

Rõ ràng, quan niệm về nam tính, đặc biệt là tính thống trị của nam giới ảnhhưởng đến sự phát triển của phụ nữ một cách sâu sắc Bởi nó buộc người phụ nữ

Trang 22

phải phụ thuộc, họ không phải là thành phần ngang bằng trong sự phát triển Họ

không được đưa ra các quyền và điều khiển hoạt động “Những người phụ nữ mệt

mỏi vì phải hành động yếu đuối khi cô ấy biết mình khoẻ mạnh”.(Nancy R.Smith).

[26, tr 67]

Pierre Bourdieu đã viết trong lời giới thiệu cuốn sách “Sự thống trị của nam

giới” như sau: “Sự thống trị của nam giới neo chắc vào vô thức của chúng ta đến

mức ta không nhận thấy nó nữa và phù hợp với những trông đợi của chúng ta đến mức ta khó mà xét lại nó”[42] Bởi lẽ, về phương diện lịch sử, sự thống trị của nam

giới đã được thực hiện thường xuyên, bền bỉ kể từ khi có đàn ông và đàn bà thôngqua các thể chế gia đình, nhà Thờ, nhà trường, Nhà nước Những thể chế này được

tổ chức và điều hoà một cách khách quan và có điểm chung giống nhau là tác độngđến các cấu trúc vô thức Có lẽ, gia đình có vai trò chính trong việc tái sản xuất nềnthống trị và cách nhìn của nam giới, bởi trong gia đình con người buộc phải sớm cótrải nghiệm về sự phân chia lao động theo giới Nhà Thờ thông qua biểu tượng củaKinh thánh, các lễ điển đã có cái nhìn bi quan về phụ nữ và về nữ tính Nhà trường

là nơi truyền đạt những tư tưởng thống trị của nam giới đã không ngừng chuyên chởcác kiến thức tư duy mẫu mực cổ xưa nhằm hạn chế quyền tự trị của phụ nữ Nhànước có trách nhiệm quản lý và điều chỉnh cuộc sống hàng ngày của con người cóvai trò phê chuẩn và đề ra những quy định trong xã hội Trong các yếu tố đó, giađình được coi là nơi mà sự thống trị của nam giới biểu lộ theo cách hiển nhiên nhất

và nhìn thấy rõ nhất Nhưng căn nguyên của sự vĩnh cửu hoá quan hệ này lại ở cấpnhà Thờ, nhà trường, Nhà nước.[42,tr147-154]

Ỏ hầu khắp các quốc gia, tôn giáo đóng vai trò quan trọng trong việc hìnhthành nên quan điểm giới bằng cách xây dựng nhận thức của con người về gia đình,hôn nhân, vai trò, địa vị quyền lực của vợ-chồng, nam -nữ…Tất cả các tôn giáo đều

có luật liên quan đến hôn nhân, ly dị…và đặc biệt ở những quốc gia mà luật dân sựkhông được coi trọng thì các điều luật trong tôn giáo đã thể chế hoá sự bất bìnhđẳng giữa nam và nữ Kamla Bhasin- một nhà hoạt động nữ quyền nổi tiếng người

Ấn Độ cho rằng: “Hầu hết các tôn giáo đều cho người đàn ông là người làm chủ giađình và trao trọn cho họ những quyền lực cao hơn vì họ là những đứa con trai haynhững ông chồng Một văn bản của một tôn giáo còn quy định rõ ràng rằng người

vợ phải dưới sự chỉ huy của chồng và anh ta có quyền trừng phạt vợ nếu mình

14

Trang 23

muốn thoát ra khỏi khuôn phép đó Người vợ không có quyền làm điều tương tựnhư vậy với chồng Quan niệm về quyền lực và sức mạnh của đàn ông được hìnhthành và duy trì bởi tôn giáo Điều này còn trở nên khó cưỡng lại hơn khi chính đànông toàn quyền trong các tổ chức tôn giáo, các tư tưởng xã hội Khi điều gì đó đã làquy định của tôn giáo thì rất khó chống lại Những lý lẽ, lý trí và luật dân sự thườngkhông xoá bỏ được niềm tin- một điều nằm ngoài lý lẽ và lý trí”.[26, tr26]

Theo Robin Haarr, trong văn hóa Á đông, quan hệ gia đình và giới được dựa

trên nguyên tắc Khổng giáo Gia đình châu Á truyền thống có nhiều thành viên của

3 đến 4 thế hệ cùng chung sống, là những đơn vị lớn, do nam giới làm chủ Nhữnggiá trị gia đình được đề cao như[14]:

- Bổn phận và quyết định tập thể được khuyến khích

- Quan hệ hài hoà giữa người với người và sự lệ thuộc lẫn nhau được đề cao.Quyền lợi gia đình được đặt lên trên quyền lợi cá nhân

- Quan niệm ưu quyền và quyền hạn của nam giới

- Quan niệm khuất phục của nữ giới trước nam giới

- Phụ nữ được dạy dỗ để phục tùng gia trưởng

- Chồng được trao quyền tối thượng đối với vợ con

- Bạo lực đối với vợ được coi là đặc quyền của người chồng

- Ly hôn không phải là việc phổ biến

- Mọi bất hoà trong gia đình được giải quyết trong phạm vi gia đình với sự hỗtrợ của các thành viên lớn tuổi đóng vai trò hoà giải

- Sự chịu đựng được trân trọng hơn việc làm mất uy tín bản thân và gia đình

- Phụ nữ được tôn trọng vì chịu đựng được gian khổ và bị cấm không đượctiết lộ chuyện rắc rối trong gia đình, trắc trở trong hôn nhân hoặc tìm kiếm sự giúp

đỡ bên ngoài gia đình

Theo tác giả, xã hội châu Á thường chấp nhận thụ động bạo lực gia đình đốivới phụ nữ bởi:

- Quan niệm bạo lực gia đình là chuyện tự nhiên, là hành động được chấp nhận,

là việc bình thường trong cuộc sống vợ chồng Xem bạo lực gia đình là xung đột vợchồng hơn là hành hung, cưỡng bức, khuyến khích phụ nữ yên phận với gia đình

- Sự thờ ơ trước nạn bạo lực gia đình đối với phụ nữ của cán bộ chính quyền,đoàn thể, ban ngành chức năng

Trang 24

- Phụ nữ bị bạo lực gia đình thường cố duy trì nhận thức tích cực về hôn nhân

và cuộc sống gia đình bất chấp nạn bạo lực gia đình đang diễn ra

Trước những khó khăn trên của người phụ nữ, nhiều nghiên cứu đã khẳngđịnh tầm quan trọng của biện pháp can thiệp nhằm hỗ trợ nạn nhân chấm dứt bạolực gia đình, ngăn chặn việc dẫn đến tử vong và phục hồi sau những ảnh hưởng thểchất và tinh thần Tuy nhiên, có nhiều lý do cho thấy mức độ nghiêm trọng của bạolực gia đình có liên quan đến việc tìm kiếm sự giúp đỡ của nạn nhân

Bostock,Jan [64,tr 95-110] mặc dù chỉ tiến hành nghiên cứu 12 phụ nữ bị bạo

lực gia đình nhưng đã quả quyết rằng: Phụ nữ có thể kéo dài tình trạng bị bạo lựcbởi họ bị hạn chế sự lựa chọn do thiếu sự bảo vệ và hỗ trợ Đồng thời, cộng đồngchưa thực sự thừa nhận bạo lực gia đình là không chấp nhận được

Walker LE [117] cho thấy tính chất, mức độ thời gian bị bạo lực có tác động

tiêu cực đến hành vi tìm kiếm sự giúp đỡ Đồng thời, Gondolf EW& Fisher ER[81]

chỉ ra sự tìm kiếm giúp đỡ của nạn nhân như một bản năng sinh tồn

Trong báo cáo nghiên cứu về “Hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình”, tác giả

Silke Meyer đã xác định các hình thức giúp đỡ chính thức và không chính thức chịu

ảnh hưởng của mức độ bạo lực như thế nào Theo tác giả, nguồn hỗ trợ không chínhthức đóng vai trò quan trọng trong tiến trình tìm kiếm sự giúp đỡ của nạn nhân Cóthể coi đây là nguồn hỗ trợ được nạn nhân lựa chọn nhiều nhất bao gồm: Gia đình,bạn bè, đồng nghiệp, hàng xóm…Đây là bước đầu tiên trong quá trình tìm kiếm sựgiúp đỡ, có thể giúp nạn nhân định hình khi đưa ra các quyết định cho sự tìm kiếmgiúp đỡ tiếp theo Những phản ứng tích cực của gia đình, bạn bè sẽ khuyến khíchnạn nhân đưa ra những quyết định tìm sự giúp đỡ chính thức hơn như các trung tâm

tư vấn, tổ chức chính quyền, đoàn thể, công an, y tế…Việc lựa chọn sự hỗ trợ chínhthức phụ thuộc vào nhận thức của nạn nhân về mức độ nghiêm trọng của hành vibạo lực, mức độ an toàn của con cái Tuy nhiên, phụ nữ sẽ im lặng vì sợ con cái mất

bố hoặc có liên quan đến bạo lực gia đình Vì thế, vai trò của con cái là yếu tố tạo ra

sự phức tạp trong việc đưa ra quyết định của nạn nhân Tác giả đưa ra một sốkhuyến nghị liên quan đến việc đáp ứng nhu cầu của nạn nhân về vấn đề con cái và

sự ngăn chặn mức độ bạo lực, giảm tác hại do bạo lực gây ra [103]

16

Trang 25

Phân tích kết quả các công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài vềkhó khăn tâm lý của phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình cho thấy, cácnhà nghiên cứu đã chỉ ra được khá nhiều các biểu hiện và nguyên nhân dẫn đến khókhăn tâm lý của phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình Tuy nhiên, mức độkhó khăn tâm lý này chưa được nghiên cứu đầy đủ và thiếu tính hệ thống

1.1.2 Những nghiên cứu về khó khăn tâm lý của phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình ở Việt Nam

1.1.2.1 Nghiên cứu về bạo lực gia đình

Ở Việt Nam, vấn đề bạo lực gia đình bắt đầu được quan tâm từ những nămcuối thập niên 90 của thế kỷ XX Một số nghiên cứu được thực hiện trong giai đoạn1996- 2001 cho thấy mức độ phổ biến của các dạng bạo lực gia đình, nguyên nhân

và hậu quả…Điển hình là một số nghiên cứu của các tác giả: Lê Thị Quý(1996,1999); Lê Thị Phương Mai (1998,1999); Vũ Mạnh Lợi (1996,1999); NguyễnHoài Đức (2001) và nhiều tác giả khác Tiếp sau đó, vấn đề bạo lực gia đình đượcnghiên cứu rộng rãi hơn đã khẳng định và bổ sung thêm cho các kết quả nghiên cứu

trước Tuy nhiên, theo nhận định của Ngân hàng thế giới (2011): “Cho đến nay, cácthông tin về bạo lực gia đình vẫn còn hạn chế, chỉ có một số nghiên cứu định lượngtrên quy mô nhỏ và nghiên cứu định tính, mặc dù vậy cũng đủ chỉ ra rằng vấn đềbạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam có tồn tại”.[35,tr41]

*Mức độ phổ biến của bạo lực gia đình đối với phụ nữ

Số liệu nghiên cứu về bạo lực gia đình tại Việt Nam cho thấy có nhiều điểmtương đồng với thế giới Một số nghiên cứu quốc gia trong hơn 10 năm qua đã cho

thấy mức độ phổ biến và tính nghiêm trọng của hiện tượng này

Nghiên cứu về thực trạng bình đẳng giới của tác giả Nguyễn Hữu Minh và

Trần Thị Vân Anh - Viện khoa học xã hội Việt Nam thực hiện năm 2005-2006 ở 13

tỉnh thành với 52 xã phường, số mẫu là 4176 cá nhân đã thu thập những thông tin

về các hành vi bạo lực giữa vợ và chồng, có khoảng 6% phụ nữ bị chồng đánh đập,20% từng bị chồng chửi mắng.[34]

Một nghiên cứu khác được thực hiện tại 8 tỉnh của Ủy ban các vấn đề xã hội

của Quốc hội cho thấy số phụ nữ bị bạo lực thể chất ít hơn (chỉ vào khoảng 2%)

song tỉ lệ bạo lực tinh thần cao hơn nhiều (chiếm 25%) và đặc biệt, số phụ nữ bị bạo

Trang 26

lực tình dục chiếm tỉ lệ cao nhất đạt 30%[38] So sánh nghiên cứu quốc gia năm

2006 và 2010 chúng tôi nhận thấy các hành vi bạo lực được báo cáo với tỉ lệ ngàycàng tăng Nếu năm 2006 có 21% cặp vợ chồng đã trải qua ít nhất một loại bạo lựcgia đình trong vòng 12 tháng trước đó (bao gồm bạo lực tinh thần, thể chất và tìnhdục) thì năm 2010 riêng số phụ nữ bị bạo lực tinh thần chiếm 54% Tỉ lệ phụ nữ bịbạo lực tình dục tuy ít hơn nhưng không giảm cho đến tầm tuổi 50

Theo tác giả Lê Thị Quý [41], việc phụ nữ đồng thời bị cả bạo lực thể chất và

bạo lực tình dục là phổ biến Bạo lực tinh thần và bạo lực tình dục có xu hướng tiếpdiễn trong nhiều năm suốt mối quan hệ hơn là bạo lực thể chất So với phụ nữ thànhthị thì phụ nữ nông thôn gánh chịu bạo lực thể chất với tỉ lệ cao hơn

Bên cạnh việc đánh giá mức độ bạo lực gia đình theo trả lời của phụ nữ, một

số tác giả đã tiếp cận nhóm nam giới- những người gây bạo lực để tìm hiểu thực

trạng này Nguyễn Đăng Tuyển tiến hành phỏng vấn 315 nam giới đã kết hôn tại

thành phố Hồ Chí Minh cho biết, có 47% nam giới có hành vi bạo lực vợ trong hiệntại và 68% có hành vi bạo lực vợ trước đây [110, tr 732]

Kết quả của nhiều công trình nghiên cứu nêu trên đã cho thấy mức độ phổbiến của bạo lực gia đình do chồng gây ra với vợ tại Việt Nam

* Nguyên nhân của bạo lực gia đình

Có rất nhiều lý do có thể giải thích cho sự tồn tại và mức độ của bạo lực gia

đình Nancy Luke và Nguyễn Đăng Vựng đồng quan điểm khi cho rằng: Có thể xem

xét dựa trên hành vi cá nhân của người chồng hoặc do tác động bởi hành vi củachính phụ nữ là những yếu tố liên quan đến sự xuất hiện hành vi bạo lực Phẩm chất

và thái độ của người vợ và người chồng có ảnh hưởng đến bạo lực gia đình Nếungười chồng có tài và địa vị thua kém vợ thì anh ta dễ có hành vi bạo lực Đồngthời, mối liên quan giữa quan điểm giới của chồng với hành vi bạo lực phụ thuộcvào quan điểm giới của người vợ Bạo lực gia đình sẽ giảm thiểu nếu người chồng

và người vợ đều có quan điểm bình đẳng giới Ngoài ra còn kể đến trình độ học vấncủa vợ cao hơn chồng cũng là yếu tố nguy cơ cho hành vi bạo lực [96],[113]

Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận yếu tố tâm lý xã hội, chẳng hạn như nhữngchuẩn mực văn hóa truyền thống đã ủng hộ sự thống trị của người chồng đối với vợ,cho phép người chồng bạo lực vợ Quan niệm này được đông đảo tác giả nêu ra

18

Trang 27

trong nghiên cứu của mình như: Vũ Mạnh Lợi, Lê Thị Phương Mai, Lê Thị Quý,

nhóm nghiên cứu thuộc tổ chức UNFPA [27],[33], [41],[54] Ngày nay, sự thay đổi

của nền kinh tế-xã hội đã dần làm địa vị người phụ nữ trong gia đình có ưu thế hơn.Quyền lợi của người phụ nữ đã được pháp luật bảo vệ và phụ nữ có nhiều cơ hộitham gia vào lực lượng lao động hơn so với trước đây Tuy nhiên, ảnh hưởng củagia đình truyền thống vẫn còn tồn tại Nam giới về cơ bản vẫn là người có quyềnquyết định các việc lớn trong nhà Phụ nữ vẫn chưa hẳn có nhiều cơ hội như namgiới, đặc biệt là phụ nữ nông thôn Họ ít có cơ hội tiếp cận đến trình độ giáo dụcnhư nam giới để tìm kiếm một nghề nghiệp tốt hơn Do vậy, phụ nữ phải chấp nhận

một vị trí thấp hơn nam giới Vì thế, Nguyễn Đăng Vựng cho rằng kinh tế được xem

là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến bạo lực gia đình.[113]

Trong nghiên cứu năm 1999 ở 6 xã tại Hà Nội, Huế và thành phố Hồ Chí

Minh với mẫu gồm 600 phụ nữ đã lập gia đình, tác giả Vũ Mạnh Lợi đã khẳng định:

Bạo lực thể chất xảy ra trong 16% các gia đình trong đó 10% là các gia đình có kinh

tế khá giả và 25% các gia đình có kinh tế túng thiếu; bạo lực tình dục xảy ra ở 18%các gia đình có kinh tế khá giả và 25% gia đình túng thiếu về kinh tế.[27]

Tác giả Nguyễn Đăng Tuyển, qua nghiên cứu về “Mức độ phổ biến của bạolực gia đình do nam giới gây ra” đã đưa ra kết luận: Tỉ lệ người Việt Nam sống tạiViệt Nam bị bạo lực thể chất trong năm qua và trong suốt cuộc đời cao hơn ngườiViệt Nam sống tại Mỹ Giải thích cho sự khác biệt này, tác giả cho rằng văn hoáViệt Nam đã chấp nhận hoặc thờ ơ hành vi bạo lực gia đình, niềm tin vào tính giatrưởng hay vai trò của người phụ nữ, đặc biệt là tình trạng kinh tế xã hội thấp đã tạonên sự căng thẳng trong gia đình và được coi là yếu tố nguy cơ cho bạo lực giađình Bên cạnh đó, nhiều kẻ gây bạo lực gia đình ở Việt Nam không bị bắt giữ trừtrường hợp nạn nhân bị chết và thủ phạm bị buộc tội giết người [110]

Nhìn chung, các nghiên cứu đã cho thấy mức độ nghiêm trọng của bạo lựcgia đình ở Việt Nam Đồng thời chỉ ra nguyên nhân sâu xa của tình trạng này là doquan điểm và tư tưởng văn hoá đã dung túng, thậm chí khuyến khích bạo lực giađình đối với phụ nữ Dư luận xã hội đang đồng tình với cách thể hiện sự tức giậncủa nam giới là do bản chất sinh học mà không nhìn nhận quy định xã hội đã gâynên bạo lực gia đình

Trang 28

1.1.2.2 Nghiên cứu về đấu tranh chống bạo lực gia đình

Cũng giống như các nước trên thế giới, Việt Nam cũng tập trung nghiên cứu

về phản ứng của cá nhân, cộng đồng, các thể chế đối với hành vi bạo lực gia đình

Nhóm tác giả Vũ Mạnh Lợi, Nguyễn Hữu Minh, Vũ Tuấn Huy (1999) đã tiến

hành nghiên cứu thái độ của cộng đồng và các thể chế xã hội về bạo lực trên cơ sởgiới cũng như phản ứng của cá nhân, luật pháp và các thể chế đối với nạn nhân bạolực gia đình Nghiên cứu cho thấy chiều hướng gia tăng của bạo lực, đặc biệt là ởnhững gia đình mà phụ nữ đang thực hiện và khẳng định vai trò kinh tế hộ Các tácgiả đã đưa ra 8 nguyên nhân cơ bản dẫn đến bạo lực gia đình, đồng thời đã chỉ ra 7kiến nghị nhằm hạn chế, ngăn chặn tình trạng bạo lực gia đình.[27]

Lê Thị Phương Mai và cộng sự trong báo cáo “Ngăn chặn bạo hành trong

gia đình” đã đánh giá nhận thức về bạo hành của người dân, cán bộ Hội phụ nữ và

tổ hoà giải Trên cơ sở đó đã nêu ra một số giải pháp phòng chống bạo hành giađình, chủ yếu hướng vào việc tuyên truyền, tập huấn, tư vấn cho người dân trongphòng chống bạo hành gia đình [33]

Nghiên cứu hành động phòng chống bạo lực gia đình thực hiện tại Hà Nội và

Ninh Bình của RaFH đã xem xét phản ứng của các nạn nhân, cộng đồng, các thể

chế xã hội đối với thực trạng bạo lực gia đình và thái độ thực hành của nhân viên y

tế đối với phụ nữ là nạn nhân Dựa trên kết quả nghiên cứu này, 7 khuyến nghị đượcđưa ra nhằm giúp phụ nữ thoát khỏi bạo lực gia đình [7]

Lê Thị Quý trong cuốn sách “Bạo lực gia đình –một sự sai lệch giá trị” đã

nhận xét rằng: Ở Việt Nam trong những năm gần đây, bên cạnh việc triển khai một

số công trình nghiên cứu khoa học, còn xuất hiện nhiều ý tưởng và mô hình thựctiễn hướng vào việc ngăn chặn và xóa bỏ bạo lực gia đình Có nhiều xu hướng canthiệp song một số hướng chủ yếu được vận dụng đó là: Mô hình truyền thông; môhình can thiệp cứu giúp nạn nhân; mô hình tư vấn và hỗ trợ về tâm lý và giáo dục;

mô hình can thiệp tại cộng đồng Trong đó, mô hình can thiệp tại cộng đồng mangtính tổng hợp, đưa ra nhiều phương thức hoạt động tùy theo hoàn cảnh cụ thể ở từngđịa phương cơ sở Phương thức hoạt động cũng đa dạng Bên cạnh hoạt động truyềnthông là các hoạt động hỗ trợ về kinh tế, hỗ trợ nạn nhân khi xảy ra bạo lực, gópphần giảm thiểu số vụ bạo lực gia đình tại địa phương [41,tr 215-218]

20

Trang 29

Sau hàng loạt những nghiên cứu về bạo lực gia đình tại Việt Nam, một sốvăn bản pháp lý quan trọng đã được thông qua như Luật Bình đẳng giới (2006) vàLuật phòng chống bạo lực gia đình (2007) đã góp phần đáng kể cho khung luậtpháp và chính sách về vấn đề bạo lực giới.[4]

Báo cáo do Nhóm điều phối chương trình về giới của Liên hiệp quốc thực

hiện nhằm đánh giá tóm tắt các vấn đề liên quan đến bạo lực trên cơ sở giới hiệnnay ở Việt Nam cho thấy công tác phòng chống bạo lực gia đình ở Việt Nam còntồn tại một số vấn đề cơ bản sau: Các hoạt động can thiệp phòng chống bạo lực giới

có đặc thù quy mô nhỏ; sự phối hợp liên ngành còn hạn chế, thiếu khuôn khổ pháp

lý để có thể định hướng rõ ràng và hiệu quả hơn, nguồn lực tài chính không đủ,thiếu nhạy cảm giới và truyền thống hoà giải thường đề cao sự hoà thuận trong giađình hơn là bảo vệ các quyền của phụ nữ, thiếu tư vấn viên hoặc cán bộ xã hội cóphẩm chất phù hợp, kiến thức hạn chế về luật pháp và trợ giúp pháp lý, sự kỳ thị đốivới bạo lực giới, sự e ngại trước nạn tham nhũng và quyền lực của nam giới trướctoà án, những thách thức trong việc thu hút nam giới với tư cách là đối tác…Báocáo đã nêu 9 khuyến nghị nhằm xây dựng một cơ chế liên ngành gắn kết với các cơchế hiện có về bạo lực giới [54,tr 45-54]

Phân tích kết quả các nghiên cứu về đấu tranh chống bạo lực gia đình chothấy, các nhà nghiên cứu đang rất quan tâm đến việc ngăn chặn và đẩy lùi nạn bạolực gia đình Thông qua các nghiên cứu này, nhiều giải pháp đã được đề xuất vàthực hiện Tuy nhiên, do tính chất phức tạp của bạo lực gia đình, cần tiếp tục cónhiều nghiên cứu sâu hơn phục vụ cho công tác phòng, chống bạo lực gia đình ởViệt Nam

1.1.2.3 Nghiên cứu về khó khăn tâm lý của phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình

Cho tới nay, Việt Nam chưa có những nghiên cứu đi sâu tìm hiểu khó khăntâm lý của phụ nữ, chỉ có những phát hiện đơn lẻ, rải rác trong một số nghiên cứu.Chẳng hạn như đánh giá sự sai lệch trong nhận thức, những cảm xúc tiêu cực haycách ứng phó chưa phù hợp của phụ nữ đối với bạo lực gia đình

* Về quan điểm, thái độ của phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình

Trang 30

Điều tra đa chỉ số theo cụm (MICS) của Việt Nam năm 2006 cho thấy 64% phụ

nữ tuổi từ 15-49 chấp nhận bị chồng đối xử thô bạo như một điều bình thường.[9]

Nghiên cứu quốc gia về bạo lực gia đình với phụ nữ ở Việt Nam [50] được

Tổng cục thống kê Việt Nam thực hiện với sự hỗ trợ kỹ thuật của tổ chức Y tế thế

giới năm 2010 đã đề cập tới thái độ và nhận thức của phụ nữ về bạo lực Tuy nhiên,kết quả nghiên cứu chủ yếu đánh giá về nhận thức Những dấu hiệu về cảm xúcchưa được thể hiện rõ ràng trong nghiên cứu Bằng phương pháp nghiên cứu địnhtính và định lượng trên 4838 phụ nữ ở độ tuổi từ 18-60 đại diện cho 6 vùng địa lý

và kinh tế ở Việt Nam, phát hiện trong nghiên cứu cho thấy:

- Phụ nữ nông thôn thường có xu hướng ủng hộ nhiều hơn so với phụ nữthành thị đối với nhận định cho rằng nam giới là người đưa ra quyết định trong giađình và phụ nữ phải theo chồng và rằng họ không được từ chối quan hệ tình dục

- Những hiểu lầm về lý do dẫn đến bạo lực còn rất phổ biến trong cuộc sốnghàng ngày khiến cho người bị bạo lực tìm cách giải thích cho những hành vi bạo lực

- Nhận thức sai lệch về giới trong quan niệm về bạo lực góp phần đáng kểvào mức độ chấp nhận bạo lực của nam giới và phụ nữ

- Quan niệm mang tính văn hoá truyền thống về nam tính và nữ tính có ảnhhưởng đáng kể đến các cách xử lý nóng giận từ đó tăng nguy cơ dẫn đến bạo lực

Tác giả Lê Thị Quý trong bài viết “Hiệu quả của mô hình ngăn chặn bạo lực

gia đình” đã nhận xét: Do rất nhiều yếu tố về mặt tâm lý mà sự phản kháng của phụ

nữ nhìn chung rất yếu ớt: Không có một phản kháng gì ngoài việc chịu đựng nhữngtrận đòn Sở dĩ họ không dám đấu tranh với chồng lại càng không dám chủ độngtrong việc ly dị vì họ sẽ mất của cải, danh dự và con cái Họ có thể chịu đựng sựhành hạ ngược đãi đánh đập dã man nhất kể cả cái chết Chính điều này khiến họvừa trở thành người vừa mạnh mẽ vừa yếu đuối Thái độ nhu nhược này càng kíchthích bạo lực gia đình phát triển Bên cạnh đó, những hạn chế về nhận thức, kinhnghiệm ứng xử của phụ nữ trong mối quan hệ gia đình đã kích thích tính vũ phu củamột số người chồng [41,tr166-168]

Nguyễn Thị Hoài Đức trong “Báo cáo nghiên cứu trường hợp ở Hà Nội và

Ninh Bình về: Thái độ và hành vi của cán bộ xã hội đối với bạo lực gia đình”, đãtìm hiểu nguyên nhân phụ nữ che dấu hành vi bạo lực của chồng Tác giả đã nêu ra

22

Trang 31

3 nguyên nhân cơ bản sau: Thứ nhất, sợ khi nói cho người ngoài biết, như thế khóthuyết phục chồng thay đổi Thứ hai, phụ nữ cho rằng phải biết vâng lời chồng vìphận gái lấy chồng thì phải theo chồng Thứ ba, là chuyện riêng tư của mỗi nhà,không nên vạch áo cho người xem lưng [7, tr26-28]

Gần đây nhất, trong báo cáo đánh giá “Giảm nhẹ bạo lực gia đình ở ViệtNam thông qua xây dựng hệ thống nhà tạm lánh và tăng quyền cho nạn nhân bị bạolực” của Trung tâm phụ nữ và phát triển (CWD) được hỗ trợ bởi tổ chức Oxfam HàLan (10/2013) cho thấy có rất nhiều nguyên do dẫn đến phụ nữ ngày càng bị bạolực gia đình Theo cán bộ “Ngôi nhà bình yên”, có nhiều yếu tố làm cho phụ nữ mấtphương hướng trong cuộc sống và đôi khi tự mình chấp nhận tình huống bạo lựccho đến khi không chịu được nữa mà buộc phải lên tiếng Những yếu tố này baogồm: a) Hầu hết nạn nhân đều muốn hy sinh bản thân để con cái được lớn lên trong sự

ổn định của gia đình có cả cha lẫn mẹ; b) Hầu hết họ đều cảm thấy tội lỗi hoặc sẽ bịbuộc tội nếu họ bị bạo lực hay nếu họ chống lại bạo lực; c) Hầu hết họ đều “làm dâu”

về nhà chồng và trở nên ngoan ngoãn, nghe lời để có một nơi đi về; d) Hầu hết họ đềuchấp nhận vai trò của mình do gia đình nhà chồng phân công mà không ý thức đượcquyền công dân của mình; e) Hầu hết họ đều không biết thế nào là bạo lực gia đình vàcác hình thức bạo lực gia đình; f)Tôn giáo và sức ép xã hội đẩy họ đến việc chấp nhậnvai trò “đa di năng” mà đôi khi khả năng của họ không cáng đáng được (là vợ tốt, dâuhiền, mẹ giỏi, cán bộ/công nhân tài ba và công dân có văn hóa).[48]

Trong báo cáo chuyên đề “Bạo lực trên cơ sở giới ở Việt Nam” của tổ chức

UNFPA(2010), các chuẩn mực về giới và các giá trị văn hóa truyền thống được gắn

chặt vào cuộc sống hàng ngày đã hình thành nên quan điểm, thái độ của người phụ nữđối với bạo lực gia đình Theo phân tích từ báo cáo này, cách lý giải cố tình hay vôtình rằng nguyên nhân của bạo lực gia đình là do nghèo đói hoặc lao động vất vả, chứkhông phải là do người đàn ông gây ra, đã đổ trách nhiệm và tội lỗi gây ra bạo lực lênđầu người phụ nữ Vì thế, phụ nữ xuất hiện sự mặc cảm, tự ti về bản thân [54,tr 24]

Như vậy, tâm thế chấp nhận sống trong bạo lực được các tác giả lý giải bởimột số loại hành vi bạo lực được nhiều tầng lớp xã hội kể cả nạn nhân coi là có thểchấp nhận được Một loạt lý do của sự im lặng là vì xấu hổ, muốn giữ thể diện chogia đình, coi đó là việc riêng của gia đình và nghĩ rằng không ai có thể giúp được họhoặc e ngại bạo lực sẽ tiếp diễn Phụ nữ che dấu hành vi bạo lực của chồng xuất

Trang 32

phát từ nhận thức về vai trò của mình trong gia đình “Lấy chồng thì phải theochồng” được bố mẹ đẻ giáo dục rất cẩn thận, chu đáo trước khi lấy chồng và cả saunày khi đã làm dâu Vì thế người phụ nữ phải âm thầm chịu đựng khổ nhục màkhông dám “Vạch áo cho người xem lưng” vì “Xấu chàng hổ ai”

* Về cách ứng phó của phụ nữ đối với bạo lực gia đình

Cách giải quyết bạo lực của phụ nữ luôn là vấn đề trung tâm của nhiều

nghiên cứu gần đây Theo báo cáo của Vũ Song Hà (2011) trong Hội thảo “Tăng

cường các giải pháp chấm dứt bạo lực với phụ nữ”, có một nửa (49,6%) phụ nữchưa từng kể với ai về hành vi bạo lực của chồng; 87 % phụ nữ từng bị chồng đánhchưa từng tìm đến bất kỳ cơ quan tổ chức nào để nhận sự giúp đỡ [12]

Cách phụ nữ ứng phó trong hoàn cảnh bạo lực gia đình khá đa dạng Trong

bài viết “Tình trạng bạo lực trong quan hệ vợ chồng” (2011), Nguyễn Hữu Minh đã

nêu ra các cách giải quyết bạo lực giữa vợ và chồng như:“Để lâu rồi qua”, chồnglàm lành trước, vợ làm lành trước, cả hai cùng làm lành, bạn bè hòa giải, chínhquyền tổ chức xã hội hòa giải, người trong gia đình hòa giải Theo kết quả nghiêncứu, 38,9% gia đình giải quyết bạo lực bằng cách “Để lâu rồi qua” vì lý do việc traođổi, đối thoại giữa hai vợ chồng không giải quyết được mâu thuẫn Cách làm nàygiúp nạn nhân tránh được hành vi bạo lực tiếp theo Tuy nhiên, cách giải quyết này

có thể khiến tình trạng bạo lực bùng phát trở lại khi thiếu sự sẻ chia, trao đổi thẳngthắn giữa vợ và chồng về những bất đồng đã xảy ra Cách thức giải quyết này gâytâm lý không tốt cho người gây bạo lực, khiến họ bị ức chế về tâm lý vì khôngnói ra được Đây là cách giải quyết phổ biến ở thành thị hơn nông thôn, đồngthời cũng xuất hiện nhiều ở những gia đình mà vợ và chồng có chênh lệch vềtrình độ học vấn [57, tr71-76]

Theo Báo cáo của Ngân hàng thế giới về “Đánh giá giới tại Việt Nam”, trong

các cuộc phỏng vấn định tính, những phụ nữ đã từng phải chịu tình trạng bạo lựccho biết họ thường giữ kín mọi chuyện, thậm chí không kể cho cả những người thânthiết trong gia đình Khi họ báo cáo sự việc lên công an hoặc cơ quan có thẩmquyền khác, tố cáo của họ thường bị bỏ qua và họ được trả lời rằng đây là chuyệngia đình [35, tr 42]

Do không nhận được sự hỗ trợ của cộng đồng, nhiều phụ nữ đã mất niềm tinvào sự thay đổi tình trạng của bản thân Họ lại im lặng hoặc bỏ qua hành vi bạo lực

24

Trang 33

của chồng Cách này thể hiện một sự sẵn sàng chấp nhận sống trong bạo lực, không

cố gắng để giải quyết xong vấn đề Nhiều người cho rằng phụ nữ nên chịu nhịnhoặc bỏ qua bạo lực ít nghiêm trọng hoặc không xảy ra thường xuyên Chỉ khi nàobạo lực thực sự nghiêm trọng, đe dọa đến tính mạng và hạnh phúc gia đình thìngười phụ nữ mới buộc phải hành động

Trung tâm nghiên cứu và ứng dụng khoa học về giới- Gia đình- phụ nữ và vị thành niên (CSAGA) đã tiến hành đánh giá “Thực trạng bạo lực tình dục và cách

ứng phó của nạn nhân bạo lực gia đình trong các Câu lạc bộ do CSAGA hỗ trợ”(2011) Khách thể nghiên cứu là 165 phụ nữ bị bạo lực đang sinh hoạt tại các Câulạc bộ tại quận Ba Đình- Hà Nội (gồm 57 phụ nữ di cư đến Hà Nội làm ăn) huyệnThạch Thất- Hà Nội và Tân Lạc- Hòa Bình

Kết quả khảo sát chỉ ra rằng: Khi bị cưỡng ép quan hệ tình dục, phụ nữ cảmthấy chán nản, đau đớn, nhục nhã nhưng vẫn nhẫn nhịn và cam chịu Có 83% phụ

nữ cho biết đây là phản ứng phổ biến Theo họ, chuyện đáp ứng nhu cầu tình dụccủa chồng, chiều theo ý thích của đàn ông là trách nhiệm và bổn phận của ngườiphụ nữ, họ sẽ cam chịu và hy sinh cảm xúc của mình để thực hiện trách nhiệm ấy

Có 33% trong tổng số phụ nữ được khảo sát cho rằng phụ nữ không được phép bày

tỏ việc thích hay không thích trong quan hệ tình dục với chồng Khoảng 38% phụ

nữ cho biết họ đã được mẹ, chị - những thế hệ đi trước truyền dậy tư tưởng: làm vợthì phải chiều chồng và chấp nhận mọi thứ trong đó có chuyện chăn gối để gia đìnhyên ấm Có thể nói, những lý do trên đã giải thích vì sao phụ nữ có thể cam chịusống chung với bạo lực tình dục.[49]

Kết quả nghiên cứu quốc gia về Bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam

do Tổng cục thống kê thực hiện năm 2010 nêu ra một số phát hiện chính liên quan

đến chiến lược ứng phó và cách xử trí của phụ nữ khi bị bạo lực đó là: a) Một nửa

số phụ nữ từng bị bạo lực thể chất hoặc tình dục chưa từng bao giờ nói với bất cứ ai

về vấn đề mà mình phải chịu đựng cho đến khi tham gia phỏng vấn trong khảo sát.Trường hợp họ có nói điều này với ai đó thì thường là thành viên trong gia đình; b)

Có 87% phụ nữ chưa bao giờ tìm kiếm sự hỗ trợ từ các dịch vụ chính thống hoặcnhững người có thẩm quyền và nếu có thì thường là lúc bạo lực đã nghiêm trọng và

Trang 34

họ tìm đến trưởng thôn/ấp/bản; c) Khoảng 20% số phụ nữ bị bạo lực đã từng rờikhỏi nhà ít nhất là qua 1 đêm Gia đình là lý do khiến người phụ nữ quay về [50]

Lý do phụ nữ bị bạo lực không trình báo với cán bộ tư pháp/trợ giúp pháp lý

được Tổ chức UNODC (Cơ quan phòng chống ma túy và tội phạm Liên hiệp quốc)

đánh giá qua “Nghiên cứu về chất lượng dịch vụ tư pháp hình sự hiện nay dành chonạn nhân bạo lực gia đình ở Việt Nam” (2011) trên 900 phụ nữ là nạn nhân bạo lựcgia đình tại 9 tỉnh thành trong cả nước đã chỉ ra một số điểm cơ bản như sau: Có29% phụ nữ được hỏi coi đây là vấn đề gia đình, là chuyện nhỏ nhặt và tự giảiquyết; 13% phụ nữ không báo cáo vì cảm thấy xấu hổ, tự trách cứ; 12% muốn giữkín chuyện Một tỉ lệ đáng kể phụ nữ lựa chọn lý do khác hoặc không nhớ, khôngbiết vì sao không trình báo (chiếm 23% tổng số phụ nữ tham gia khảo sát) đã gợi

mở cho những người nghiên cứu cần tìm hiểu sâu hơn Có lẽ, trong số này có thểbao gồm cả những người không biết đến dịch vụ hỗ trợ pháp lý Một lý do nữa đó làmột số chị sợ bị chồng trả thù nếu chồng họ phát hiện ra việc họ đến gặp tư pháp/trợ giúp pháp lý.[55]

Đỗ Ngọc Khanh và Bahr Weiss, Amie Pollack (2013) trong bài viết

“Niềm tin văn hóa, bạo lực gia đình và vấn đề sức khỏe tinh thần của phụ nữ ViệtNam” đã thực hiện nghiên cứu trên 105 phụ nữ trưởng thành ở 5 tỉnh của Việt Nam.Nghiên cứu cho thấy bạo lực gia đình có liên quan với những cảm xúc lo lắng, chánnản và ý định tự sát ở phụ nữ, mối quan hệ giữa bạo lực gia đình với các triệu chứng

về sức khỏe tinh thần là nhiều hơn đối với phụ nữ có niềm tin rằng không gì có thểngăn chặn được bạo lực Những phát hiện trong nghiên cứu cho thấy, thay đổi niềmtin ở người phụ nữ không thể diễn ra trong một thời gian ngắn [88]

Qua phân tích và đánh giá tình hình nghiên cứu về khó khăn tâm lý của phụ

nữ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình ở Việt Nam, chúng tôi cho rằng vấn đềnày đang nhận được sự quan tâm của các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực khácnhau: Tâm lý học, xã hội học, công tác xã hội, văn hóa học, luật học, y học… Cácnghiên cứu đã chỉ ra khó khăn tâm lý của phụ nữ biểu hiện thông qua nhận thức,thái độ và hành vi trong đấu tranh chống bạo lực gia đình Kết quả chung cho thấy

có nhiều điểm tương đồng với nghiên cứu của các quốc gia khác song vẫn còn thiếunhững nghiên cứu trong lĩnh vực Tâm lý học về vấn đề này

26

Trang 35

1.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHÓ KHĂN TÂM LÝ CỦA PHỤ NỮ TRONG ĐẤU TRANH CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH.

1.2.1 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1.1 Khó khăn tâm lý

Khó khăn tâm lý là một thuật ngữ được sử dụng khá rộng rãi trong lĩnh vựcTâm lý học trong thời gian gần đây Hiện tượng tâm lý này được xem xét trong hoạtđộng thuộc nhiều mối quan hệ khác nhau như quan hệ giữa cấp trên- cấp dưới, quan

hệ thầy- trò, quan hệ gia đình…Tuy nhiên, cùng để chỉ về khó khăn tâm lý, các tácgiả đã sử dụng nhiều thuật ngữ khác nhau như “trở ngại tâm lý”, “cản trở tâm lý”,

“hàng rào tâm lý”…[2],[6],[18] Thực chất, trong Từ điển tiếng Việt, “khó khăn” cónghĩa là cản trở/ trở ngại [40], nó tương đương với các từ “Barriers” hoặc

“Difficulty” trong Từ điển Anh -Việt [52] Do đó, những thuật ngữ trên là gầnnghĩa và có thể sử dụng đồng nghĩa với nhau

Xem xét khó khăn tâm lý là hàng rào tâm lý có các tác giả Vũ Dũng, TrầnHiệp, Đỗ Long,…[6],[18] “Hàng rào tâm lý” là trạng thái tâm lý thể hiện ở tính thụđộng quá mức của chủ thể gây cản trở trong việc thực hiện hành động Cơ chế tìnhcảm của hàng rào tâm lý là sự gia tăng những mặc cảm và tâm thế tiêu cực, hổ thẹn,cảm giác tội lỗi, sợ hãi…Trong hành vi xã hội của con người, hàng rào tâm lý nhưnhững cản trở làm nảy sinh khó khăn trong quá trình hiểu biết lẫn nhau và thiết lậphoạt động chung

Xem xét khó khăn tâm lý là trở ngại tâm lý có tác giả Nguyễn Thanh Bình,Nguyễn Phương Lan… [2], [27] Trở ngại tâm lý là những yếu tố tâm lý gây khókhăn cho chủ thể trong việc thực hiện một hoạt động nào đó, là toàn bộ những đặcđiểm tâm lý cá nhân và kiểu hành vi ứng xử không phù hợp với nội dung, đối tượng

và hoàn cảnh giao tiếp

Tiếp cận trực tiếp thuật ngữ khó khăn tâm lý có các tác giả của Trung tâmSHARE, Trần Trọng Thủy, Vũ Ngọc Hà, Nguyễn Xuân Thức,…[3],[11],[46] “Khókhăn tâm lý” là một khái niệm rộng, chỉ tất cả các nhân tố tâm lý gây khó khăn choviệc thực hiện một hành động nào đó, cụ thể hoá ở những mặt biểu hiện: nhận thức-thái độ- hành vi, khiến cho hoạt động của cá nhân kém hiệu quả

Trang 36

Đánh giá các công trình nghiên cứu của tác giả trong và ngoài nước, chúngtôi thấy có nhiều quan niệm khác nhau về khó khăn tâm lý Về cơ bản, các quanniệm này nhìn nhận khó khăn tâm lý ở những khía cạnh sau đây:

- Khó khăn tâm lý là hiện tượng tâm lý thể hiện tính thụ động quá mức củachủ thể gây cản trở trong việc thực hiện hành động Tính thụ động quá mức nảysinh theo cơ chế gia tăng mặc cảm, tâm thế tiêu cực, hổ thẹn, cảm giác tội lỗi, sợhãi…Sự tăng cường những trải nghiệm âm tính này cản trở trực tiếp hành động của

cá nhân, khiến cá nhân gặp những khó khăn trong quá trình hiểu biết lẫn nhau vàthiết lập hoạt động chung với người khác [6],[18] Theo cách giải thích này, các tácgiả đang xem xét khó khăn tâm lý như là một sự thiếu sẵn sàng hành động tronghoàn cảnh nhất định được biểu hiện trong thái độ tiêu cực của chủ thể

- Khó khăn tâm lý là sự không phù hợp giữa đặc điểm tâm lý cá nhân vàhành vi ứng xử của nhân cách với nội dung, đối tượng, hoàn cảnh hoạt động củachủ thể.[2],[46] Các tác giả cho rằng tính không phù hợp về tâm lý của chủ thể vớiđối tượng hoạt động là nguyên nhân gây cản trở kết quả hoạt động

- Khó khăn tâm lý là sự thiếu hụt tâm lý của cá nhân khiến cho hoạt động của

cá nhân kém hiệu quả [11] Sự thiếu hụt những phẩm chất tâm lý cá nhân được thểhiện ở chỗ cá nhân đã có những phẩm chất tâm lý cần thiết cho hoạt động nhưngnhững phẩm chất tâm lý này chưa phù hợp hoặc mức độ của các phẩm chất tâm lýchưa đáp ứng được yêu cầu của hoạt động, do đó cá nhân gặp khó khăn khi tiếnhành hoạt động Với cách lý giải này, khái niệm khó khăn tâm lý được nhìn nhậnmột cách toàn diện hơn, không chỉ ở thái độ tiêu cực như các tác giả trên nêu ra màcòn thể hiện ở những thiếu hụt trong nhận thức và hành vi của chủ thể

Mặc dù có nhiều cách định nghĩa về khó khăn tâm lý khác nhau, song nhìnchung các tác giả đều cho rằng đây là những yếu tố tâm lý gây cản trở hoạt độngcủa cá nhân và làm cho hoạt động đó kém hiệu quả Đặc biệt, hầu hết các tác giảđều căn cứ vào 3 mặt nhận thức- thái độ và hành vi trong hoạt nhất định của chủ thể

để đánh giá khó khăn tâm lý.[3],[11],[46]

Thực vậy, theo quan điểm của Tâm lý học Mác- xít [30], hoạt động là quátrình diễn ra sự chuyển hóa giữa chủ thể và khách thể, bên trong và bên ngoài.Trong quá trình này, ở chủ thể có thể xuất hiện những khó khăn tâm lý Khó khăn

về tri thức, vốn hiểu biết, kinh nghiệm sống, kinh nghiệm thuộc lĩnh vực hoạt

28

Trang 37

động… (mặt nhận thức); khó khăn về tinh thần, thái độ hoạt động: Động cơ, nhucầu, hứng thú, việc xác định mục đích hành động, các trạng thái tâm lý tích cực…(mặt thái độ); khó khăn về hành vi, hành động như: Sự tích cực hoạt động, làm chủhoạt động, kiểm soát được hành vi, hoạt động của mình, huy động được tri thức vàvốn hiểu biết, kinh nghiệm vào hoạt động có kết quả, thực hiện các thao tác hànhđộng…(mặt hành vi) Bên cạnh đó, cũng có những khó khăn tâm lý xuất hiện từphía khách thể như sự không hợp tác, sự chống đối, sự thờ ơ, kém hiểu biết…

Ngoài việc nghiên cứu các khó khăn tâm lý của cá nhân còn phải xem xétnhững yếu tố xã hội tác động đến cá nhân đó như: Môi trường hoạt động, điều kiệnhoàn cảnh, dư luận xã hội…

Như vậy, trong quá trình thực hiện hoạt động, cá nhân không tránh khỏinhững tác động tiêu cực của yếu tố bên ngoài (khách quan) và yếu tố bên trong (chủquan) Những yếu tố bên ngoài có ảnh hưởng gián tiếp đến tiến trình hoạt động củacon người Những yếu tố bên trong, những yếu tố xuất phát từ bản thân nội tại mỗi

cá nhân khi tham gia vào hoạt động đó có ảnh hưởng trực tiếp đến tiến trình và kếtquả hoạt động của con người Tác động tiêu cực của những yếu tố bên ngoài và bêntrong đã gây nên cản trở tâm lý ở mỗi cá nhân khi thực hiện hoạt động: cá nhânnhận thức không đúng hoặc lệch lạc, hình thành thái độ tiêu cực dẫn đến hành vithiếu đúng đắn, không phù hợp

Theo chúng tôi, khó khăn tâm lý là những yếu tố tâm lý gây cản trở hoạt

động của chủ thể, có thể biểu hiện ở nhận thức, thái độ và hành vi.

Khó khăn tâm lý có thể xuất hiện ở một hay nhiều mặt biểu hiện trên của chủ thể

* Đặc điểm của khó khăn tâm lý trong hoạt động

Phân tích khái niệm khó khăn tâm lý nêu trên, chúng tôi nhận thấy một sốđặc điểm cơ bản của khó khăn tâm lý như sau:

- Tính cản trở: Chủ thể tiến hành hoạt động không dễ dàng hoặc nói cách

khác là khó thực hiện hành động Xuất phát từ chỗ chủ thể thiếu hiểu biết hoặc hiểubiết không đúng đắn về bản thân hoạt động Từ đó, chủ thể xuất hiện những thái độtiêu cực đối với hoạt động (chần chừ, e ngại, thiếu dứt khoát) dẫn đến thực hiệnhành vi không phù hợp làm cho hoạt động kém hiệu quả

- Tính không phù hợp: Trong hoạt động, chủ thể có cách thức giải quyếtchưa đúng với tình huống, hoàn cảnh của bản thân Lý do là ở chủ thể không có

Trang 38

những năng lực và phẩm chất đáp ứng với yêu cầu, đòi hỏi của một hoạt động nhấtđịnh Chẳng hạn, sự thiếu hiểu biết và chưa có những kỹ năng trong lĩnh vực hoạtđộng đó

- Tính kém hiệu quả: Là việc tiến hành hoạt động của cá nhân không đạtđược kết quả như mong muốn Có nhiều yếu tố dẫn đến tính kém hiệu quả tronghoạt động Thứ nhất, do chủ thể xác định mục tiêu không rõ ràng nên có thể dẫn đếnnhững hành động ngẫu nhiên, thiếu định hướng; hoặc mục tiêu được xác địnhkhông có tính khả thi (chủ thể không có khả năng thực hiện) Thứ hai, chủ thể lựachọn cách thức không phù hợp với yêu cầu của hoạt động nên không đạt hiệu quả

Tuy nhiên, trong điều kiện nghiên cứu của luận án, chúng tôi chỉ tiếp cận đặcđiểm thể hiện tính cản trở của khó khăn tâm lý làm tiêu chí đánh giá khó khăn tâm

lý trong hoạt động của cá nhân

* Các biểu hiện của khó khăn tâm lý trong hoạt động:

Khó khăn tâm lý được xem xét trên 3 mặt biểu hiện: Nhận thức, thái độ vàhành vi Cụ thể là:

- Về nhận thức: Chủ thể chưa có những kiến thức cần thiết đảm bảo việc tiếnhành hoạt động, cho nên cản trở việc thực hiện hoạt động

- Về thái độ: Chủ thể xuất hiện những thái độ tiêu cực đối với bản thân vàđối với hoạt động, thái độ tiêu cực này đã cản trở chủ thể hành động

- Về hành vi: Chủ thể có hành động chưa phù hợp với tình huống, hoàn cảnh

vì thế đã cản trở việc đạt mục tiêu của hoạt động

- Cản trở nhiều: Tính cản trở biểu hiện ở hai trong 3 mặt: Nhận thức, thái độ

và hành vi trong hoạt động của cá nhân

- Cản trở rất nhiều: Tính cản trở biểu hiện ở cả 3 mặt: Nhận thức, thái độ vàhành vi trong hoạt động của cá nhân

1.2.1.2 Bạo lực gia đình đối với phụ nữ

30

Trang 39

Trong Tuyên bố của Liên hiệp quốc về Xóa bỏ bạo lực đối với phụ nữ tạiĐiều 1 đã khẳng định bạo lực đối với phụ nữ là: “Bất cứ hành động bạo lực nào dựatrên cơ sở giới mà gây tổn hại hoặc đau đớn cho phụ nữ về mặt thân thể, tình dụchoặc tâm lý kể cả việc đe doạ thực hiện những hành động như vậy, việc ép buộchoặc tước đoạt sự tự do, dù diễn ra ở nơi công cộng hay trong đời sống riêng tư”.Bạo lực đối với phụ nữ bao gồm cả bạo lực xã hội và bạo lực gia đình.[54]

Tuyên bố của Liên hiệp quốc và Tổ chức Y tế thế giới cho rằng bạo lực đốivới phụ nữ bao gồm: Bạo lực thể chất, bạo lực tinh thần và bạo lực tình dục Bạolực thể chất được hiểu là một hay nhiều hành động tấn công có chủ ý về thể chấtbao gồm những hành vi: Xô đẩy, tát, ném, giật tóc, đấm đá…được thực hiện vớikhả năng gây đau đớn, thương tích hoặc tử vong Bạo lực tinh thần được xác định lànhững hành động hoặc đe doạ hành động như chửi bới, hăm doạ, làm nhục, kiểmsoát nạn nhân Bạo lực tình dục là việc sử dụng sức mạnh cưỡng bức hoặc đe doạ vềtâm lý để ép buộc người phụ nữ quan hệ tình dục ngoài ý muốn của mình.[54] Tuynhiên, 3 hình thức bạo lực và những hành vi nêu trên chỉ là dấu hiệu cơ bản của bạolực đối với phụ nữ

Theo Báo cáo của Tổng thư ký Liên hiệp quốc về nghiên cứu “Bạo lực đốivới phụ nữ tại kỳ họp lần thứ 61của Đại Hội đồng Liên hiệp quốc” khoản 60(a) vì

sự tiến bộ của phụ nữ, có các hình thức bạo lực sau[60]:

- Bạo lực thể chất: Bao gồm các hành động cố ý dùng vũ lực hay vũ khí đểxâm hại hoặc làm bị thương người phụ nữ

- Bạo lực tình dục: Bao gồm lạm dụng tình dục, quan hệ tình dục với ngườiphụ nữ khi chưa có sự ưng thuận của họ, các hành động cố tình quan hệ tình dục vớiphụ nữ khi họ bị ốm, bị tàn tật, bị mất khả năng hoặc quan hệ dưới sự ép buộc haylạm dụng rượu và các chất kích thích

- Bạo lực tinh thần: Bao gồm việc kiểm soát, cách ly, làm nhục hay làm bẽmặt người phụ nữ

- Bạo lực kinh tế: Bao gồm việc cấm phụ nữ tiếp cận hoặc kiểm soát cácnguồn lực cơ bản

Các hình thức bạo lực được đánh giá một cách khá khái quát Tuy nhiên, cónhững biểu hiện cụ thể hơn và rất đa dạng trong từng hình thức bạo lực nói trên

Trang 40

Chẳng hạn, hành vi được coi là bạo lực tinh thần có thể như ngăn cản phụ nữ khôngcho tham gia các hoạt động xã hội, cấm tiếp xúc với người thân hoặc bạn bè…Trongmột số tài liệu nghiên cứu khác, hành vi kiểm soát như vậy được coi là một dạng bạolực riêng biệt, không thuộc bạo lực tinh thần Cách phân chia thành các hình thức bạolực khác nhau đã cho thấy tính chất phức tạp của hành vi bạo lực Trong thực tế, cáchình thức bạo lực này thường đan xen lẫn nhau Một người có thể đồng thời chịu 2hoặc 3 hình thức Cho nên cách phân chia này chỉ mang tính chất tương đối

Các hình thức bạo lực nêu trên không chỉ xảy ra đối với phụ nữ trong giađình mà còn ở các quan hệ ngoài xã hội Tuy nhiên, dạng bạo lực phổ biến nhất mànhững người phụ nữ đã trải qua trên toàn cầu là bạo lực trong mối quan hệ thânthiết (được đề cập đến là bạo lực gia đình hay bạo lực giữa vợ và chồng) Nó đượccoi là sự ngược đãi về thể chất, tinh thần, tình dục do chồng hoặc bạn tình nam gây

ra đối với vợ hoặc bạn tình nữ.[32,tr.15]

Theo tác giả Lê Thị Quý, bạo lực gia đình đối với phụ nữ là một dạng bạolực giới diễn ra trong gia đình khi người chồng dùng sức mạnh và bạo lực trongviệc xử lý mối quan hệ vợ chồng.[41,tr.28]

Trong nhiều nghiên cứu, dạng bạo lực này còn được gọi là bạo lực do bạntình gây ra Đây là các hành vi bạo lực về thể chất hoặc tình dục hoặc tâm lý và tìnhcảm do vợ/chồng, vợ/ chồng cũ hoặc bạn trai/bạn gái hiện tại hay trước đây hoặcngười đang hẹn hò hiện tại hoặc trước đây gây ra.[23], [115] Như vậy, bạn tình cóthể là người đang chung sống như vợ chồng hoặc không

Luật Phòng, Chống bạo lực gia đình của Việt Nam đã quy định các hành

vi bạo lực gia đình đối với phụ nữ được áp dụng cả trong những trường hợp vợchồng đã ly hôn hoặc sống với nhau như vợ chồng mà không có đăng ký kếthôn Theo khoản 1, điều 2 của Luật, các hành vi bạo lực bao gồm sự ngược đãi

về thể chất, tinh thần, tình dục và kinh tế.[4] Cụ thể là:

a Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sứckhoẻ, tính mạng;

b Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm;

c Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quảnghiêm trọng;

32

Ngày đăng: 19/04/2014, 00:55

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Đặc điểm khách thể nghiên cứu - Khó khăn tâm lý của phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình
Bảng 2.1. Đặc điểm khách thể nghiên cứu (Trang 71)
Đồ thị 2.1: Phân bố điểm khó khăn tâm lý về nhận thức của phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình - Khó khăn tâm lý của phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình
th ị 2.1: Phân bố điểm khó khăn tâm lý về nhận thức của phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình (Trang 76)
Đồ thị 2.2a: Phân bố điểm khó khăn tâm lý về thái độ của phụ nữ trong  đấu tranh chống bạo lực gia đình - Khó khăn tâm lý của phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình
th ị 2.2a: Phân bố điểm khó khăn tâm lý về thái độ của phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình (Trang 76)
Đồ thị 2.2b. Phân bố điểm về KKTL trong thái độ (sau khi đã xử lý) - Khó khăn tâm lý của phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình
th ị 2.2b. Phân bố điểm về KKTL trong thái độ (sau khi đã xử lý) (Trang 77)
Đồ thị 2.3: Phân bố điểm khó khăn tâm lý về hành vi của phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình - Khó khăn tâm lý của phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình
th ị 2.3: Phân bố điểm khó khăn tâm lý về hành vi của phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình (Trang 77)
Bảng 3.1. Tỷ lệ phụ nữ bị bạo lực tinh thần - Khó khăn tâm lý của phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình
Bảng 3.1. Tỷ lệ phụ nữ bị bạo lực tinh thần (Trang 84)
Hình thức bạo lực - Khó khăn tâm lý của phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình
Hình th ức bạo lực (Trang 85)
Bảng 3.2. Tỷ lệ phụ nữ bị bạo lực thể chất - Khó khăn tâm lý của phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình
Bảng 3.2. Tỷ lệ phụ nữ bị bạo lực thể chất (Trang 85)
Hình thức bạo lực - Khó khăn tâm lý của phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình
Hình th ức bạo lực (Trang 86)
Bảng 3.4. Tỷ lệ phụ nữ bị bạo lực kinh tế - Khó khăn tâm lý của phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình
Bảng 3.4. Tỷ lệ phụ nữ bị bạo lực kinh tế (Trang 87)
Bảng 3.10. Thái độ thiếu tin tưởng vào sự giúp đỡ của người thân và cộng đồng trong đấu tranh chống bạo lực gia đình - Khó khăn tâm lý của phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình
Bảng 3.10. Thái độ thiếu tin tưởng vào sự giúp đỡ của người thân và cộng đồng trong đấu tranh chống bạo lực gia đình (Trang 100)
Bảng 3.11. Hành vi của phụ nữ trong mối quan hệ với người xung quanh - Khó khăn tâm lý của phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình
Bảng 3.11. Hành vi của phụ nữ trong mối quan hệ với người xung quanh (Trang 104)
Hình 3.2. Tương quan giữa các biểu hiện trong từng mặt khó khăn tâm lý - Khó khăn tâm lý của phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình
Hình 3.2. Tương quan giữa các biểu hiện trong từng mặt khó khăn tâm lý (Trang 110)
Bảng 3.13. Đánh giá mức độ khó khăn tâm lý của phụ nữ (tính theo %) - Khó khăn tâm lý của phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình
Bảng 3.13. Đánh giá mức độ khó khăn tâm lý của phụ nữ (tính theo %) (Trang 111)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w