1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề hình thành con người mới Việt Nam trong quá trình định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay

167 522 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vấn đề hình thành con người mới Việt Nam trong quá trình định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay
Tác giả Phạm Mậu Tuyển
Trường học Trường Đại học Chính trị thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Chính trị học
Thể loại Luận án
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 167
Dung lượng 1,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vấn đề hình thành con người mới Việt Nam trong quá trình định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay

Trang 1

MỞ ĐẦU 1Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 61.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề con người, con người mới và tác động của sự nghiệp đổi mới tới sự biến đổi của con người Việt Nam hiện nay 101.2 Tổng quan nghiên cứu về hiện trạng, hướng phát triển và giải pháp xây dựngcon người mới trong sự nghiệp đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 25Chương 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CON NGƯỜI VÀ SỰ HÌNH

THÀNH CON NGƯỜI MỚI 352.1.Khái niệm con người, con người mới 352.2 Những nhân tố tác động đến quá trình hình thành con người mới 66Chương 3 CON NGƯỜI MỚI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY - NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG CHÍNH VÀ THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG 823.1 Những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình hình thành con người mới ở nước tahiện nay 823.2 Thực trạng xây dựng và những vấn đề đang đặt ra đối với sự hình thành con người mới Việt Nam hiện nay 91Chương 4 QUAN ĐIỂM, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CÓ TÍNH ĐỊNH HƯỚNG NHẰM THÚC ĐẨY SỰ HÌNH THÀNH CON NGƯỜI MỚI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 1134.1 Quan điểm, phương hướng phát triển con người mới Việt Nam ở nước ta hiện nay 1134.2 Một số giải pháp có tính định hướng nhằm thúc đẩy sự hình thành con ngườimới ở nước ta hiện nay 122PHẦN KÊT LUẬN 149CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 151DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152PHỤ LỤC 161

Trang 2

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu

nêu trong luận án là trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa

từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Phạm Mậu Tuyển

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Với tính cách là tổng hòa các quan hệ xã hội con người đặc trưng chotrình độ hoàn thiện của chế độ xã hội Sự phát triển con người là mục đích tốithượng của xã hội, là chỉ báo quan trọng nhất đánh dấu sự phát triển của xã hộiloài người Chúng ta tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xét đếncùng cũng là nhằm tạo ra những điều kiện tốt nhất cho sự phát triển, sự hoànthiện con người và ngược lại, chính điều đó là động lực của công nghiệp hóa,hiện đại hóa Văn kiện Hội nghị Trung ương V Ban chấp hành Trung ương khóa

VIII đã khẳng định: “Nguồn lực quý báu nhất, có vai trò quyết định nhất là nguồn lực con người Việt Nam; là sức mạnh nội sinh của chính bản thân dân tộc Việt Nam”[25, 93]

Khẳng định trên, được Đảng ta nhấn mạnh lại lần nữa tại Đại hội Đạibiểu toàn quốc lần thứ IX “nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xãhội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” “Mọi hoạt động văn hóa nhằm xâydựng con người Việt Nam phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạođức, thể chất, năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái, khoan dung,tôn trọng nghĩa tình, lối sống có văn hóa, quan hệ hài hòa trong gia đình cộngđồng xã hội”[26, 114]

Trong công cuộc đổi mới toàn diện do Đảng ta khởi xướng, vấn đề conngười luôn được đặc biệt quan tâm Bởi chúng ta hiểu rằng đổi mới trước hếtphải bắt đầu từ việc đổi mới con người, sẽ không có sự đổi mới xã hội nếukhông có sự đổi mới từ chính bản thân con người Đổi mới bắt đầu từ con ngườikhông phải được xây dựng một cách chung chung, trừu tượng mà phải hướngvào từng con người cụ thể Đây là nền tảng sâu xa để xã hội phát triển, bởi mụcđích xã hội nếu không chuyển thành những động cơ tư tưởng bên trong của các

cá nhân thì không thể thực hiện được, không có những con người để thực hiệnthì mục đích đó mãi là lý tưởng mà không trở thành hiện thực được Vì “Muốnxây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa”

Trang 4

[87, 130], nên chúng ta phải thông qua việc phát triển từng cá nhân với tư cách

là chủ thể có ý thức đủ năng lực và phẩm chất để thực hiện mục tiêu đó

Ngày nay, trước sự tác động của của toàn cầu hóa và thời đại công nghệthông tin, cũng như do thực tiễn phát triển của sự nghiệp đổi mới ở nước ta, conngười Việt Nam đã có những biến đổi nhất định cả trong thực tiễn và trong lýluận về con người mới, con người cần xây dựng để đáp ứng được yêu cầu pháttriển mới của đất nước Cùng với những biến đổi ấy, so với trước đây, vị trí vàvai trò của con người trong sự nghiệp đổi mới cũng được đánh giá lại Trong đó,con người được xem là nhân tố nội tại, cơ bản, quyết định sự nghiệp đổi mới,được xem là nguồn lực của mọi nguồn lực giữ vị trí trung tâm trong toàn bộ sựnghiêp đổi mới hiện nay

Nhìn lại sau hơn hai mươi lăm năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của ĐảngCộng sản Việt Nam thì vấn đề đào tạo và sử dụng con người đã có những bướcphát triển vượt bậc, đời sống vật chất và tinh thần của con người không ngừngđược nâng lên Tuy vậy, để đáp ứng xu hướng phát triển của thời đại, thực hiệnthành công sự nghiệp đổi mới, thì vấn đề hình thành và phát triển con người mớivẫn còn là vấn đề cần được tiếp tục được giải quyết

Trong thực tế cuộc sống hiện nay, vấn đề dạy “người”, dạy “chữ”, dạy

“nghề” trong giáo dục gia đình, giáo dục nhà trường, giáo dục xã hội vẫn là vấn

đề chưa được giải quyết một cách thấu đáo Trong nội dung giáo dục hầu nhưchỉ chú ý tới trang bị tri thức khoa học, nghề nghiệp chuyên môn mà còn xemnhẹ giáo dục đạo lý làm người, trách nhiệm công dân Điều đó đang làm méo

mó nhân cách của một bộ phận không ít thanh niên, viên chức, cán bộ, đảngviên khi ra công tác và ảnh hưởng xấu đến sự phát triển về mặt đạo đức của xãhội

Sự nghiệp đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đang đivào chiều sâu Nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn đang đặt ra và đòi hỏi các nhàkhoa học trên nhiều lĩnh vực khác nhau phải nghiên cứu và giải quyết; trong đó

có vấn đề hình thành và xây dựng chiến lược về con người thực sự khoa học,phù hợp với thời đại và hoàn cảnh nước ta, nhằm phục vụ cho việc phát triểnnhanh và bền vững của đất nước Hơn thế nữa, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện

Trang 5

đại hóa ở nước ta đang được tiến hành Chúng ta đang từng bước chuyển từ xãhội truyền thống sang xã hội hiện đại Sự đụng độ giữa các giá trị truyền thống

và hiện đại, dân tộc và quốc tế, sự bất cập của những năng lực, phẩm chất conngười trong mẫu người truyền thống trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, của

xã hội hiện đại khiến cho việc tích cực chủ động nghiên cứu vấn đề hình thànhcon người mới trở thành vấn đề cấp thiết cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn

Tuy nhiên, trong khuôn khổ nghiên cứu con người như là mục tiêu vàđộng lực của sự phát triển đất nước thì vẫn chưa có được những giải pháp toàndiện và sâu sắc, nên chưa có tính hệ thống và đồng bộ Yêu cầu ấy đòi hỏi côngtác lý luận phải xúc tiến nhiều hơn nữa, chuyên sâu hơn nữa những nghiên cứu

về con người và con người mới Luận án này cố gắng góp thêm một số suy nghĩ

về vấn đề hình thành và phát triển con người theo hướng đó

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của luận án: Trên cơ sở những quan điểm của triết học Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về conngười và con người mới luận án phân tích đặc điểm của con người Việt Nam vànhững nhân tố ảnh hưởng đến việc hình thành con người mới Việt Nam Từ đó

-đề xuất một số giải pháp có tính định hướng nhằm thúc đẩy sự hình thành conngười mới ở nước ta trong quá trình phát triển theo định hướng xã hội chủnghĩa

Để đạt được mục đích này, luận án có những nhiệm vụ sau:

- Thứ nhất: Tổng quan tình hình nghiên cứu về con người và con ngườimới ở Việt Nam trong những năm gần đây

- Thứ hai: Xác định rõ nội dung quan điểm triết học Mác - Lênin và của

Hồ Chí Minh về con người và con người mới

- Thứ ba: Trình bày và phân tích một số nhân tố cơ bản tác động đến quátrình hình thành con người mới Việt Nam Nêu ra và phân tích những thànhcông và hạn chế của quá trình xây dựng con người mới ở nước ta hiện nay

- Thứ tư: Đề xuất và phân tích một số giải pháp có tính định hướng nhằmthúc đẩy sự hình thành con người mới ở nước ta hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

Trang 6

Đối tượng nghiên cứu của luận án: Luận án nghiên cứu vấn đề hình thành

con người mới Việt Nam trong quá trình định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta

hiện nay Trong luận án này cụm từ “quá trình định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay” được hiểu là “quá trình xây dựng, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”

Xuất phát từ những nhiệm vụ được nêu trên, trong phạm vi một luận ántriết học, chúng tôi chỉ phân tích những tác động của sự nghiệp đổi mới, củakinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đối với con người Việt Namhiện nay Phân tích thực trạng của con người Việt Nam trước sự tác động của sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, của xu hướng hội nhập quốc tế.Xác định những nội dung cơ bản cần hướng tới xây dựng con người mới trongquá trình xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ởnước ta hiện nay Từ đó đề xuất một số giải pháp có tính định hướng để xâydựng con người mới Việt Nam đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp đổi mớitheo định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận của luận án là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩaduy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng Cộng sản ViệtNam về con người và về con người mới

Phương pháp nghiên cứu: Luận án sử dụng các phương pháp biện chứngduy vật, kết hợp nghiên cứu lý luận với tổng kết thực tiễn, phân tích và tổnghợp, lô gích và lịch sử, thống kê, đối chiếu, so sánh

5 Đóng góp mới của luận án

- Trình bày một cách có hệ thống quan điểm của triết học Mác - Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh về con người và con người mới

- Làm rõ những nhân tố quy quy định sự hình thành, phát triển con ngườimới Việt Nam trong quá trình định hướng xã hội chủ nghĩa

- Đề xuất và phân tích một số giải pháp có tính định hướng nhằm thúcđẩy sự hình thành con người mới Việt Nam trong quá trình định hướng xã hộichủ nghĩa hiện nay

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Trang 7

- Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho nghiên cứu và giảngdạy vấn đề con người, con người mới, vấn đề nhân cách.

- Luận án cũng là những gợi ý, những khuyến nghị đối với sự nghiệp xâydựng con người mới ở nước ta nhằm đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựngchủ nghĩa xã hội ở nước ta trong những năm tới

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, phụ lụckết cấu của luận án được chia làm 4 chương, 8 tiết

Trang 8

Chương 1

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

Vấn đề con người từ xưa đến nay vẫn là vấn đề rất được quan tâm nghiêncứu trong triết học Cả triết học phương Đông hay phương Tây, châu Âu hay châu

Á đều coi con người là vấn đề quan trọng nhất trong triết học Thậm chí có cảtrường phái triết học còn cho rằng con người là đối tượng nghiên cứu của triết học

Trong triết học Phương Đông, con người chủ yếu được nghiên cứu ởphương diện con người xã hội Các nhà tư tưởng chủ yếu đề cao mặt xã hội củacon người Trong nền triết học Trung Quốc Cổ, Trung đại, vấn đề bản tính conngười là vấn đề được quan tâm hàng đầu Giải quyết vấn đề này, các nhà tưtưởng của Đạo gia, ngay từ Lão tử thời Xuân Thu đã tiếp cận dưới góc độ “vôvi” đã đi tới kết luận bản tính tự nhiên của con người Các nhà tư tưởng của Nhogia và Pháp gia lại tiếp cận vấn đề bản tính con người dưới góc độ hoạt độngthực tiễn chính trị, đạo đức của xã hội và đi tới kết luận bản tính người là tínhthiện và bản tính con người là tính ác Chính sự khác nhau về góc độ tiếp cận vàvới kết luận khác nhau về bản tính con người đã là cơ sở xuất phát cho nhữngquan điểm khác nhau của các trường phái triết học này trong việc giải quyết cácvấn đề về quan điểm chính trị, đạo đức và nhân sinh của họ Khác với triết họcTrung Hoa, các nhà tư tưởng của triết học Ấn Độ tiêu biểu là Đạo Phật lại tiếpcận từ góc độ khác, từ sự suy tư về con người và đời người ở tầm chiều sâu triết

lý siêu hình đối với những vấn đề nhân sinh quan Kết luận về bản tính vô ngã,

vô thường và tính hướng thiện của con người trên con đường truy tìm sự giácngộ là một trong những kết luận độc đáo của triết học Phật giáo nguyên thủy

Trong triết học phương Tây, các nhà tư tưởng đã khẳng định những giá trịngười, ca ngợi lý tưởng của con người và khẳng định các quyền tự nhiên củacon người Suốt chiều dài lịch sử triết học Phương Tây từ Cổ Hy Lạp trải quathời Trung cổ, Phục hưng và Cận đại cho đến nay, vấn đề con người vẫn là một

đề tài được tranh luận chưa có hồi kết Thực tế lịch sử đã chỉ ra rằng cách tiếpcận giải quyết vấn đề con người trong nền triết học phương Tây có nhiều điểmkhác với nền triết học phương Đông Nhìn chung, các nhà triết học theo lập

Trang 9

trường duy vật đã lựa chọn góc độ khoa học tự nhiên để lý giải về bản chất conngười Từ thời Cổ đại, các nhà triết học duy vật đã đưa ra quan niệm về bản chất

tự nhiên của con người, xem con người cũng như vạn vật trong giới tự nhiênkhông có gì là thần bí, bí hiểm, đều được tạo nên từ vật chất Nổi bật là quanniệm của Đêmôcrít về bản tính vật chất nguyên tử cấu tạo nên thể xác và linhhồn của con người Những quan niệm duy vật như vậy đã được tiếp tục pháttriển trong nền triết học thời Phục Hưng và Cận đại; nó cũng là một trong những

cơ sở lý luận cho chủ nghĩa duy vật nhân bản của Phoiơbắc Mặc dù có những tưtưởng đúng đắn về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và xã hội, nhữngnhà duy vật trước Mác nhìn chung vẫn giải thích duy tâm về sự tồn tại của conngười

Đối lập với các nhà triết học duy vật, các nhà triết học duy tâm lại chútrọng góc độ hoạt động lý tính của con người Tiêu biểu cho cách tiếp cận này làquan điểm của Platon thời Cổ Hy Lạp, Đêcáctơ trong nền triết học Pháp thờiCận đại và Hêghen trong triết học Cổ điển Đức Vì không đứng trên lập trườngduy vật, các nhà triết học duy tâm đã lý giải bản chất lý tính của con người từgiác độ siêu tự nhiên

Có thể nói, tiêu biểu cho hai trường phái triết học duy vật và duy tâm nóitrên là hai nhà triết học Cổ điển Đức Hêghen và Phoiơbắc Đối với triết học củaHêghen, C Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ ra rằng khiếm khuyết cơ bản của triếthọc này là ở chỗ Hêghen quy con người về tự ý thức, coi bản chất của con người

là cái thuộc về thế giới tinh thần Ở Hêghen, “chỉ có tinh thần là bản chất chânthật của con người, còn hình thức chân chính của tinh thần là tinh thần đang tưduy, tinh thần lôgíc tư biện” [68, 193] Đối với Hêghen toàn bộ sự vận động củađời sống con người thể hiện ra là sự vận động của tinh thần, của tự ý thức; cáchình thức hiện thực của đời sống con người, các yếu tố vật chất của đời sống conngười, chỉ là các yếu tố mà trong sự vận động của nó, thể hiện ra là các yếu tốkhông có tính độc lập, không có lôgíc phát triển nội tại Với Hêghen, không có

và không thể có sự đối lập thực sự của tinh thần Ông không biết đến tồn tại thật

sự khách quan, tồn tại không thể quy về và không thể bị hòa tan trong tinh thần.Với Hêghen, các sự vật và các vật thể vật chất - cảm tính chỉ là sản phẩm của

Trang 10

tinh thần, chỉ là “sự tha hóa của tự ý thức thiết định tính vật thể Vì con người là

tự ý thức cho nên bản chất đối tượng hóa đã tha hóa nó, và tính vật thể là do sựtha hóa ấy thiết định” [68, 198] Với tư tưởng đó, Hêghen đã xem tha hóa và lột

bỏ tha hóa, về thực chất, là một quá trình tinh thần, tư duy

Đối lập với Hêghen, ngược lại, Phoiơbắc lại xem con người là sản phẩmcủa tự nhiên, là một bộ phận của giới tự nhiên Theo ông, con người là một sinhvật có hoạt động tâm - sinh lý, có cảm giác, có tư duy và giữa người với ngườiluôn có mối quan hệ gắn kết với nhau Phoiơbắc đã kịch liệt phê phán và bác bỏquan niệm của tôn giáo xem con người là sản phẩm của thượng đế Đứng trênlập trường duy vật, ông khẳng định không phải thượng đế sáng tạo ra con người

mà, ngược lại, chính con người đã sáng tạo ra thượng đế theo hình ảnh củamình Nhưng vì đứng trên lập trường nhân bản, ông cho rằng con người chỉ làmột sinh vật nhục thể Đối với Phoiơbắc con người chỉ là một sinh vật có cảmgiác, chứ không phải là một sinh vật xã hội có tính lịch sử - cụ thể Đó là conngười chung chung, trừu tượng nằm ngoài các quan hệ xã hội cụ thể TheoPhoiơbắc, sự tự do của con người không phải là một cái siêu nhiên, mà ở chỗcon người sống trong tự nhiên, phụ thuộc vào tự nhiên vì vậy, sự giải phóng conngười là làm cho con người thoát ra khỏi sự thống trị của tự nhiên bằng hoạtđộng cải tạo tự nhiên một cách có mục đích của con người Nhưng tư tưởng đó

đã không được Phoiơbắc phát triển một cách hoàn chỉnh

Trong quá trình hình thành quan điểm duy vật về con người, về bản chấtcon người và giải phóng con người, C Mác và Ph Ăngghen thường sử dụng kháiniệm tha hóa để trình bày quan niệm của mình Dựa vào những quan niệm này,

C Mác và Ph Ăngghen không những làm rõ tính độc đáo trong quan niệm củacác ông mà còn làm rõ quan niệm của hai ông khác về nguyên tắc so với các nhàtriết học cổ điển Đức như Hêghen và Phoiơbắc

Khác với Hêghen và Phoiơbắc, ngay từ đầu khi nói đến sự tha hóa củacon người, C Mác đã chú ý tới đời sống xã hội và từ những điều kiện của đờisống ấy, những điều kiện do chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất quy định, Ông rút

ra kết luận về sự tha hóa Theo C Mác “tha hóa” trước hết là một quan hệ xãhội, là sự giao tiếp xã hội của con người, trong đó những điều kiện sống và lao

Trang 11

động của họ, kết quả lao động của họ và những quan hệ của họ với nhau thể hiện

ra bên ngoài như là một lực lượng xa lạ và thù địch Và sự tha hóa trong kinh tế

là cơ sở của những hình thức tha hóa khác trong các lĩnh vực tinh thần, trongnhững quan hệ xã hội Việc con người tha hóa khỏi sản phẩm lao động của họ,

sự đối lập mang tính thù địch giữa người với người là do những điều kiện sảnxuất ra điều kiện vật chất của họ đẻ ra Theo C Mác, chính điều đó nhất định sẽdẫn tới “sự tha hóa con người khỏi con người” Vì thế theo C Mác, việc khôiphục lại những mối liên hệ, quan hệ xã hội bình thường giữa người với người,phù hợp với bản chất của con người chỉ có thể thực hiện được bằng cách cải tạo

xã hội, cải tạo các quan hệ sở hữu của xã hội tư bản Trên cơ sở đó C Mác đã điđến kết luận về sự giải phóng xã hội khỏi chế độ tư hữu và xem đó là điều kiệntất yếu của sự giải phóng con người về kinh tế và chính trị, giải phóng con ngườikhỏi mọi sự tha hóa

Khi xuất phát từ quan điểm duy vật về con người, xem bản chất con người

là tổng hòa các mối quan hệ xã hội và nhìn nhận con người trong mối quan hệcon người - tự nhiên - xã hội, chủ nghĩa Mác đã lấy tư tưởng “vì con người vàgiải phóng nhân loại” và “xã hội không thể nào giải phóng cho mình được, nếukhông giải phóng cho mỗi cá nhân riêng biệt”[79, 406] làm nền tảng tư tưởng đểxây dựng học thuyết của mình về xã hội nói chung, về xã hội cộng sản chủ nghĩanói riêng Xã hội cộng sản mà nhân loại cần phải hướng tới, theo C Mác và Ph.Ăngghen là “sự giải quyết hiện thực mâu thuẫn giữa con người và tự nhiên, giữacon người và con người” Từ cách đặt vấn đề như vậy về việc xây dựng một chế

độ xã hội công bằng, văn minh, không còn hiện tượng người bóc lột người,không còn hiện tượng con người bị tha hóa, mọi người đều bình đẳng, đều cóquyền được hưởng tự do, có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, hai Ông đã xem mộttrong những đặc trưng cơ bản nhất của chế độ xã hội mới mà giai cấp vô sản có

sứ mệnh phải xây dựng thành công là giải phóng con người, giải phóng nhânloại khỏi mọi áp bức, bất công Trong tư tưởng của C Mác và Ph Ăngghen,mục tiêu cao nhất của chế độ xã hội mới - xã hội chủ nghĩa, xã hội cộng sản làphát triển con người toàn diện, “tạo nên những con người mới” - những conngười “có khả năng sử dụng một cách toàn diện năng lực phát triển toàn diện

Trang 12

của mình” Những tư tưởng đó được C Mác và Ph Ăngghen khẳng định trongtuyên ngôn của Đảng Cộng sản: Thay cho xã hội tư bản cũ, với giai cấp và đốikháng giai cấp của nó, xuất hiện một liên hiệp mới, trong đó sự phát triển tự docủa mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người Sau này,trong Tư bản Mác tiếp tục khẳng định: “Để sản xuất ra những con người pháttriển toàn diện”, cần phải tạo ra được một xã hội có một nền kinh tế phát triển,một nền văn hóa mới, một nền khoa học - kỹ thuật hiện đại, một nền giáo dụctiên tiến Việc tạo ra những thành tựu kinh tế - xã hội ấy, như Mác khẳng định

“không phải chỉ là một phương pháp để làm tăng thêm nền sản xuất xã hội màcòn là một phương pháp duy nhất để sản xuất ra những con người phát triển toàndiện nữa”[72, 688]

Như vậy có thể thấy, mặc dù các nhà tư tưởng trong lịch sử đều cố gắng

lý giải về bản chất con người, nhưng chỉ đến C Mác, Ph Ăng ghen mới đưa raquan điểm đúng đắn về bản chất con người, coi con người không phải là trừutượng, chung chung, mà là con người thực tiễn Ngày nay các nhà lý luận ởnước ta trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin đã tiếp tục nghiên cứuvấn đề con người trong điều kiện thực hiện sự nghiệp đổi mới, xây dựng nềnkinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề con người, con người mới và tác động của sự nghiệp đổi mới tới sự biến đổi của con người Việt Nam hiện nay

1.1.1 Những quan điểm về con người và con người mới

Vấn đề con người nói chung và con người mới nói riêng từ lâu đã thu hútnhững nhà nghiên cứu lý luận ở nước ta Những nghiên cứu trước thời kỳ đổimới, mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu nhưng không tránh khỏi tính chất giáođiều, giản đơn Tính chất đó thể hiện nỗi bật ở chỗ nhấn mạnh quá mức tính quyđịnh của chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa (sở hữu nhà nước và sở hữu tập thểkhông dựa trên trình độ phát triển thực tế của lực lượng sản xuất) đối với sựhình thành và phát triển con người Trong thời gian này đã có không ít nhữngcông trình có ý nghĩa lớn trong việc nghiên cứu con người trên nhiều phươngdiện nhằm mục đích quan trọng là xây dựng con người Việt Nam mới Từ những

ngày đầu nghiên cứu triết học ở Việt Nam những tài liệu dịch “Nguyên lý triết

Trang 13

học Mác - Lênin” của một số tác giả Liên Xô, những bài giới thiệu hoặc một số chuyên luận về các tác phẩm kinh điển như “Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844” của Phạm Như Cương, “Hệ tư tưởng Đức” của Phạm Huy Châu , vào

cuối những năm năm mươi đầu những năm sáu mươi của thế kỷ hai mươi đềuthể hiện rõ điều ấy Một số chuyên luận về triết học Mác - Lênin cuối những

năm sáu mươi đầu những năm bảy mươi của thế kỷ trước như “Mác thời trẻ và chủ nghĩa Mác” của Nguyễn Thế Phong, “Về vấn đề nghiên cứu quá trình xây dựng con người Việt Nam mới” của Phạm Như Cương thực chất đã đi vào

nghiên cứu những vấn đề con người nói chung và vấn đề con người mới nóiriêng Vào thời kỳ này, trọng tâm nghiên cứu vấn đề con người là làm rõ vị trí,vai trò của con người trong xã hội và trong lịch sử Dựa trên cơ sở nhữngnguyên lý triết học Mác - Lênin, quan niệm về vai trò, vị trí của con người lúc

đó là khẳng định khả năng nhận thức và cải tạo thế giới của con người; chứngminh vị trí vai trò của quần chúng nhân dân và của các vĩ nhân trong sự pháttriển của xã hội, trong các cuộc cách mạng xã hội

Trong những nguyên lý triết học cũng như trong hệ thống các vấn đề triếthọc Mác - Lênin ở thời kỳ này, vấn đề bản chất con người trở thành đối tượngnghiên cứu có tính chất cơ bản Dựa trên nền tảng tư tưởng của triết học Mác coicon người là thực thể tối cao tồn tại hiện thực trong thế giới và bản chất conngười là “tổng hòa các quan hệ xã hội”, giới nghiên cứu triết học tiếp tục mở

rộng, đi sâu nghiên cứu bản chất của con người, con người mới Trong Thông báo Triết học (giữa những năm sáu mươi) đã xuất hiện một số những chuyên luận về bản chất con người như: “Quá trình nghiên cứu phức hợp về con người” của Đặng Xuân Kỳ, hay “Lênin bàn về con người mới xã hội chủ nghĩa” của Phạm Hựu Ở thời điểm này, các nhà nghiên cứu chủ yếu xuất phát

từ quan điểm duy vật biện chứng để phê phán các quan điểm duy tâm về con

người thời kỳ trước Mác Dựa vào những luận điểm trong “Luận cương về Phoiơbắc” của Mác, các tác giả đã phê phán tính siêu hình của quan niệm xem

con người như là những thực thể phi lịch sử, tuyệt đối hóa mặt tự nhiên của conngười, hoặc xem con người như những chủ thể chung chung, trừu tượng Đếnthời kỳ này các nhà nghiên cứu quan tâm nhiều tới vấn đề bản chất xã hội của

Trang 14

con người khi cho rằng, con người là chủ thể tối cao của muôn loài cả tự nhiênlẫn xã hội, các điều kiện kinh tế - xã hội là yếu tố quyết định bản chất con người

và con người vừa là sản phẩm của lịch sử vừa là chủ thể của lịch sử

Trong những năm sáu mươi - bảy mươi mục tiêu và nhiệm vụ chính trị,

xã hội ở nước ta là đấu tranh giải phóng dân tộc ở miền Nam và xây dựng chủnghĩa xã hội ở miền Bắc Vì vậy vấn đề nghiên cứu con người ở giai đoạn nàygắn liền với con người truyền thống Nhiều tác phẩm của Vũ Khiêu, Bùi ĐăngDuy, Nguyễn Đức Sự, Chương Thâu đã đi sâu làm rõ bản chất khí phách conngười Việt Nam truyền thống, kết hợp với những phẩm chất lý tưởng cộng sảnđược nhận thức từ triết học Mác - Lênin Việc nghiên cứu con người ở giai đoạnnày đã phê phán hình mẫu con người theo tư tưởng Nho giáo và cố gắng đưa ramẫu người chân chính làm cơ sở cho việc xây dựng hình mẫu con người mớiViệt Nam

Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, đất nước thống nhất, cả nước bước vàoxây dựng chủ nghĩa xã hội và dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốclần thứ IV, vấn đề nghiên cứu triết học về con người được mở ra nhiều hướng.Việc trực tiếp tiếp xúc với nguồn tài liệu văn nghệ và triết học của chế độ xã hội

cũ, cùng những mảng đề tài nghiên cứu triết học phương Tây hiện đại đã làm chonhững quan điểm về con người mang tính đa dạng và nhiều chiều hơn trên cơ sởphê phán nhữn quan điểm sai lầm về vấn đề con người Mục đích chủ yếu củaviệc nghiên cứu này là tìm hiểu chính xác hơn, sâu sắc hơn thực chất của các triếtthuyết con người phương Tây, về tâm lý, tư tưởng, tình cảm suy nghĩ về xã hội,

cuộc sống, nhân sinh Các ấn phẩm về mảng đề tài này khá phong phú như: “Sai lầm của chủ nghĩa cấu trúc trong nghiên cứu về con người” của Vũ Hoàng Địch;

“Về một số quan điểm triết học gây mơ hồ của chủ nghĩa kỹ trị” của Phong Hiền.

Kết quả nghiên cứu của các vấn đề trên là vạch ra những quan niệm sai lầm vềcon người trong chủ nghĩa hiện sinh, trong hiện tượng luận, thuyết hội tụ, thuyết

kỹ trị vv và tiếp tục khẳng định quan điểm mácxít về vấn đề con người, gópphần vào cuộc đấu tranh ý thức hệ giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản

Nhưng ở thời kỳ này trọng tâm của việc nghiên cứu về con người chính là nghiêncứu con người Việt nam, nhằm đưa ra những cơ sở lý luận cho việc xây dựng con

Trang 15

người mới xã hội chủ nghĩa Với tác phẩm “Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, tiến lên giành những thắng lợi mới” của đồng chí

Lê Duẩn ra đời vào đầu những năm bảy mươi đánh dấu một bước nghiên cứutương đối tập trung về vấn đề con người Tác phẩm đã vạch ra tính tất yếu, nhữngnội dung và những biện pháp xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa Cùngthời gian này Viện triết học và các cơ quan lý luận khác tổ chức các hội thảo khoahọc tìm hiểu quan điểm của chủ nghiã Mác - Lênin và Đảng ta về con người vàxây dựng con người mới trên cơ sở thực tiễn của đất nước cũng như của các nước

xã hội chủ nghĩa trên thế giới

Cũng trong thời gian này, Tạp chí Triết học vừa mới ra đời đã công bố rất

nhiều bài thể hiện quan niệm về con người mới từ nhiều phương diện như đạo

đức học, tâm lý học, văn học, nghệ thuật như: “Đạo đức học Mác -Lênin và vấn

đề xây dựng con người mới” của Trần Thanh; “Tâm lý học Mác - Lênin và vấn

đề xây dựng con người mới” của Đỗ Long; “Con người mới trong văn nghệ hiện nay” của Vũ Khiêu; “Văn học xã hội chủ nghĩa và con người mới xã hội chủ nghĩa” của Thành Duy Đóng góp của các công trình này trước hết là xác

định nội dung con người mới Bằng nhiều cách thể hiện khác nhau, các tác giả

đã cụ thể hóa, phát triển, bổ sung những nội dung con người mới mà Đại hội IVcủa Đảng đã nêu: Con người mới là những con người có tư tưởng, tác phong xãhội chủ nghĩa, có năng lực làm chủ; lao động có nhiệt tình cách mạng, có tổchức, có kỷ luật, có kỹ thuật, có năng suất cao; thật thà trong lao động sản xuất

và trong quản lý; gắn liền lợi ích riêng với lợi ích tập thể, lợi ích nhà nước,không xâm phạm của công; cống hiến tất cả cho sự nghiệp xây dựng cuộc sốngmới độc lập tự do và phồn vinh của đất nước

Một đóng góp nữa của các công trình trên là việc nêu ra các biện pháp xâydựng con người mới Các tác giả cho rằng, con người mới là sản phẩm của bacuộc cách mạng: cách mạng quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học - kỹ thuật vàcách mạng tư tưởng - văn hóa, trong đó cách mạng khoa học kỹ thuật là thenchốt Xây dựng con người mới phải kết hợp những điều kiện khách quan và chủquan, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật với giáo dục rèn luyện; kết hợp côngtác tổ chức quản lý với công tác tư tưởng, xây với chống Như vậy, qua nội dung

Trang 16

các quan điểm đưa ra thời kỳ này có thể thấy rằng, con người mới chỉ có thểhình thành từ thực tiễn đấu tranh cách mạng và lao động sản xuất

Năm 1978, Viện triết học đã cho ra đời công trình tập thể của nhiều tác

giả dưới sự chủ biên của Phạm Như Cương “Vấn đề xây dựng con người mới”,

trong đó có những bài viết phân tích quan niệm của Hêghen, của Phoiơbắc và

của triết học Mác - Lênin về con người Còn trong những công trình “Chủ nghĩa Mác và vấn đề con người, xây dựng con người mới” của Trần Côn, “Quá trình hình thành và phát triển con người Việt Nam mới xã hội chủ nghĩa” của Lê Thi,

“Con người mới là sản phẩm của xã hội mới, là chủ thể có ý thức xây dựng nên

xã hội mới” của Trần Nhâm nổi lên nội dung cơ bản là vấn đề xây dựng con

người Việt Nam hiện đại Ngoài ra còn nhiều công trình khác nghiên cứu quan

điểm về con người trong lịch sử như: “Con người trong triết học phương Đông” của Nguyễn Tài Thư, “Con người trong lịch sử triết học phương Tây”

của Đặng Xuân Kỳ

Vào những năm tám mươi, vấn đề nghiên cứu và xây dựng con ngườimới được phát triển thêm một bước Các nhà nghiên cứu thời kỳ này đã khắcphục được vấn đề nghiên cứu con người một cách chung chung trước đó và đi

sâu vào các khía cạnh cụ thể hơn Về nội dung này có các công trình như: “Quá trình xây dựng con người mới” của Tương Lai, “Tâm lý hoạt động sáng tạo của con người” của Nguyễn Văn Huyên “Thế hệ mới - con người mới - cộng đồng mới” của Hồ Ngọc Đại, “Những tư tưởng của Ph Ăngghen về quan hệ giữa con người và tự nhiên trong Biện chứng của tự nhiên” của Nguyễn Trọng Chuẩn,

“Đạo đức của nhân cách” của Đỗ Long, “Hoạt động tâm lý và nhân cách” của Nguyễn Thị Khoa, “Lối sống xã hội chủ nghĩa và sự phát triển mặt tinh thần con người” của Lê Văn Dương, v.v Nhìn chung các công trình này đã đề cập

đến vấn đề con người từ những cách tiếp cận khác nhau do đó đã góp phần làmcho quan điểm về con người phong phú hơn, sâu sắc hơn và làm rõ hơn nhữngluận điểm chung về con người của triết học Mác- Lênin Hội nghị khoa học vềvấn đề xây dựng con người mới do Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam (nay làViện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam) tổ chức vào năm 1981lúc đó đã khẳng

định: Mục tiêu con người mới cần đạt tới là con người có trình độ và năng lực

Trang 17

làm chủ tự nhiên, làm chủ xã hội và làm chủ bản thân Trong điều kiện ở nước

ta lúc đó, mục tiêu này chỉ thực hiện được khi gắn liền với các cuộc cách mạngkhoa học - kỹ thuật, cách mạng quan hệ sản xuất và cách mạng tư tưởng - vănhóa; khi từng bước xác lập vai trò của con người trong cải tạo tự nhiên, quản lý

xã hội và tự nâng cao năng lực bản thân Nội dung của việc xây dựng con người

mới là xây dựng thế giới quan mới, đạo đức mới và nếp sống mới Bộ mặt tinh

thần của con người mới phải tiêu biểu cho sự phát triển của xã hội mới cao đẹp

Con người mới phải có những phẩm chất cơ bản như: thế giới quan khoa học, luôn quan tâm tới lợi ích tập thể, có tinh thần và thái độ đúng đắn, tư tưởng và tình cảm lành mạnh, yêu nước xã hội chủ nghĩa nồng nàn Qua toàn bộ sự khái

quát các quan điểm về con người trong thời kỳ trước đổi mới nêu trên có thểthấy quan điểm nổi bật chủ đạo ở giai đoạn này chính là quan điểm về con ngườilàm chủ tập thể, con người cộng đồng và con người mới là con người hòa tan cái

cá nhân vào trong cộng đồng

Vào năm 1986 chúng ta bắt đầu thực hiện sự nghiệp đổi mới với việcchuyển sang cơ chế thị trường, đồng thời với sự thừa nhận tồn tại nhiều thànhphần kinh tế Sự hình thành và phát triển con người, do vậy mang tính chất khácvới giai đoạn trước đổi mới Sự mở cửa, giao lưu, hội nhập quốc tế cùng quátrình hiện đại hóa xã hội mang tính toàn cầu khiến cho vấn đề con người cầnphải được nghiên cứu đầy đủ và gắn liền với bối cảnh kinh tế - xã hội mới Việcnghiên cứu con người trong giai đoạn này có những đặc điểm riêng và nội dungcủa nó có bước chuyển về chất Sự đổi mới tư duy kinh tế, tư duy chính trị, vănhóa, khoa học đã mở rộng tầm nhìn cho giới nghiên cứu; cách quan niệm mới vềcon người, hướng đi sâu vào các khía cạnh đa dạng của bản thân con người vàcủa đời sống, cách tiếp cận những vấn đề con người cũng được đổi mới Kháiniệm “con người mới” dường như rất ít được sử dụng trong giai đoạn này màthay vào đó là khái niệm “con người toàn diện” Thực ra hai khái niệm này vềsau đều có cùng một nghĩa Tức là nói đến con người mới chính là nói đến conngười phát triển toàn diện

1.1.2 Những quan điểm nghiên cứu sự tác động của sự nghiệp đổi mới đối với sự biến đổi con người Việt Nam hiện nay

Trang 18

Những nghiên cứu gần đây ở nước ta đã tập trung nhiều vào việc phântích sự tác động của sự nghiệp đổi mới đối với sự biến đổi của con người và vaitrò con người trong sự nghiệp đổi mới đó Con người mới nói riêng và conngười nói chung được nhìn nhận trong quan hệ biện chứng với những điều kiệnmới do sự nghiệp đổi mới đem lại Liên quan đến những hướng nghiên cứu này

có những công trình, những tác giả sau :

Lê Hữu Tầng “Để thực hiện lý tưởng cao đẹp tất cả xuất phát từ con người và vì con người” (Tạp chí Triết học số 1/1990); “Vai trò của con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa” (Nghiên cứu xã hội học, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia , Hà Nội, 1996); Nguyễn Trọng Chuẩn “Đôi điều suy nghĩ về giá trị và sự biến đổi giá trị khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường” (Tạp chíTriết học số 1/1995); “Con người và nguồn lực con người trong phát triển” (Viện thông tin khoa học xã hội,Tài liệu dịch, Hà nội 1995); Nguyễn Thế Kiệt “Quan hệ đạo đức và kinh tế trong việc định hướng các giá trị đạo đức hiện nay” (Tạp chí Triết học số 6/1996); Lê Hữu Tầng “Về con người Việt Nam trước và sau 10 năm đổi mới” (Tạp chí triết học, số 4, năm 1997); Đoàn Đức Hiếu “Cá nhân và sự phát triển cá nhân trước những yêu cầu và trong điều kiện hiện nay ở nước ta”(Tạp chí Triết học số 3/1996); Phạm Như Cương “Vấn đề xây dựng con người mới” (Nhà xuất bản khoa học xã hội, Hà Nội 1998); Hồ Sỹ Quý “Con người và phát triển con người” (Nhà xuất bản khoa học xã hội, Hà Nội 2007); Nguyễn Hữu Công “Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện” (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2010).

Nhìn chung những bài viết này đều nhấn mạnh đến yếu tố con người trong thời

kỳ đổi mới, đến vai trò nguồn lực con người cho công cuộc đổi mới và các thanggiá trị biến đổi khi đánh giá con người mới cũng như những tiêu chí đánh giá vaitrò nguồn lực của con người Các ý kiến khi phân tích vấn đề này đều xuất phát

từ quan điểm cho rằng, toàn bộ sự biến đổi của con người Việt Nam trên cáccung bậc khác nhau là do sự tác động của điều kiện mới cả trong nước và quốc

tế tạo nên Ngoài ra có tác phẩm tuy không đề cập đến vấn đề con người từ cấp

độ lý luận nhưng đáng để cho những nhà nghiên cứu lý luận tham khảo để hiểu

Trang 19

về con người Việt Nam hơn như tác phẩm “Người Việt phẩm chất và thói hư tật xấu” của nhiều tác giả (Nhà xuất bản Thanh niên, Hà Nội 2009)

-Ngoài ra còn phải kể đến nhưng công trình liên quan đến vấn đề chung vềcon người trên cơ sở trở lại và phân tích sâu hơn quan điểm về con người của

triết học Mác - Lênin Nhà nghiên cứu Trần Đức Thảo, trong tác phẩm “Vấn đề con người và chủ nghĩa Lý luận không có con người” do Nhà xuất bản Thành

Phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 1989, khi đưa ra những luận cứ để bác bỏ quanđiểm sai lầm của triết học phương Tây về con người đã khẳng định tính đúngđắn, khoa học và cách mạng trong quan niệm của Mác về bản chất con người.Tiếp sau đó, trên các tạp chí Triết học, tạp chí Cộng sản, Nghiên cứu lý luận,Thông tin lý luận đã đăng tải nhiều bài viết của các tác giả về quan niệm của C.Mác, Ph Ăngghen về con người, về bản chất con người, mối quan hệ giữa con

người - tự nhiên - xã hội Liên quan đến vấn đề này có bài viết“Một vấn đề cần được quan tâm: Mối quan hệ giữa các yếu tố sinh học và các yếu tố xã hội trong con người” của tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn (Tạp chí triết học, số 3, năm 1992); tác giả Phạm Thị Ngọc Trầm có bài “Những tư tưởng cơ bản của C Mác, Ph Ăngghen, V.I Lênin về mối quan hệ giữa con người, xã hội và tự nhiên” (Tạp chí triết học, số 1, năm 1992) và bài “Vấn đề con người, cá nhân và xã hội trong học thuyết Mác”của tác giả Trần Hữu Tiến (Tạp chí Cộng sản, số 1, năm

1994) Nói chung các bài viết này đều khai thác quan điểm của triết học Mác Lênin về con người nhằm phục vụ cho thực tiễn xây dựng con người mới ViệtNam trong giai đoạn mới

-Khi chủ nghĩa xã hội sụp đổ ở Liên Xô và các nước Đông Âu đã xuất hiệnmột loại bài viết bảo vệ chủ nghĩa Mác nói chung và quan điểm về con người

của triết học Mác nói riêng Đó là các bài viết như: “C Mác vĩ đại sống mãi” (Nguyễn Trọng Chuẩn, Tạp chí triết học, số 2, năm 1993); “Chủ nghĩa nhân văn Mác xít phải chăng đã lỗi thời”(Hồ Bá Thâm, Tạp chí cộng sản, số 3, năm 1994); “Phải chăng tư tưởng giải phóng con người của Mác đã cũ, một chiều

và không tưởng” (Phạm Văn Duyên, Tạp chí triết học, số 1, năm 1994); “Hai mặt trong tư tưởng giải phóng con người của học thuyết Mác: sự cống hiến vĩ đại và những luận điểm phải bị vượt qua”(Trường Lưu, Tạp chí triết học, số 3,

Trang 20

năm 1993); “Tìm hiểu tư tưởng giải phóng con người của C Mác” (Đặng Hữu Toàn, Tạp chí triết học, sô 4, năm 1993); “Quan điểm của C Mác về những tiền

đề lịch sử và ý nghĩa của nó đối với xã hội ta hiện nay”(Phạm Văn Đức, Tạp chí triết học, số 3, năm 1993 ) “Chủ nghĩa Mác là chủ nghĩa nhân đạo hiện thực mang đặc trưng khoa học và cách mạng” (Hoàng Chí Bảo, Tạp chí triết học, số

2, năm 1996 ); “Tư tưởng vĩ đại về giải phóng con người” (Trần Hữu Tiến, Tạp

chí cộng sản, số 3, năm 1998 ) Trong những bài viết này các tác giả đã đề cậpđến tư tưởng nhân văn, chủ nghĩa nhân đạo trong triết học Mác, quan niệm của

C Mác và Ph Ăngghen về con người, con người mới và sự giải phóng conngười như là cơ sở lý luận cho việc xây dựng con người mới ở nước ta trongthời kỳ đổi mới

Bàn về quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về con người, con ngườimới và sự tác động của sự nghiệp đổi mới, của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất

nước đối với sự biến đổi của con người có thể kể đến những công trình: “Mục tiêu con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay ” (Nguyễn Thanh, Tạp chí triết học, số 5, năm 1996); “Một số quan điểm cơ bản về phát triển con người Việt Nam và thực trạng phát triển con người Việt Nam hiện nay” (Luận văn thạc sỹ triết học của Hoàng Thanh Sơn, bảo vệ tại Hà Nội, năm 2005); “Vấn đề phát triển con người Việt Nam hiện nay” (Luận án tiến

sỹ triết học của Bùi Thị Phương Thùy, bảo vệ tại Hà Nội, năm 2008); “Phát triển quan điểm triết học của C Mác - Ph Ăngghen về con người trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam” (Luận văn thạc sỹ triết học của Lưu Thị Hà, bảo vệ

tại Hà Nội, năm 2008) Trong các công trình nghiên cứu trên, các tác giả đãkhái quát các quan điểm của Đảng về con người và con người mới trong quátrình đổi mới từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đến Đại hội Đảng toàn quốclần thứ X Những quan điểm này đã tập trung luận chứng cho quan điểm củaĐảng xem con người, con người mới vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sựnghiệp đổi mới, của sự phát triển xã hội Trên cơ sở đó các tác giả đều khẳngđịnh: Mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đều phải hướng đếnviệc phát triển con người, lấy việc phát huy nguồn lực con người Việt Nam hiệnđại làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững và phải gắn tăng

Trang 21

trưởng kinh tế với cải thiện đời sống nhân dân, phát triển văn hóa, giáo dục, thựchiện tiến bộ và công bằng xã hội Đồng thời các tác giả cũng chỉ ra tác động của

sự nghiệp đổi mới, của kinh tế thị trường đối với sự hình thành những phẩmchất, năng lực của con người Việt Nam hiện nay

Ở khía cạnh vai trò của con người, con người mới đối với sự nghiệp xâydựng, phát triển đất nước và ảnh hưởng của sự nghiệp đổi mới đối với thang giátrị trong con người, con người mới được đề cập đến trong Chương trình khoa

học - công nghệ KX - 07 “Con người Việt Nam - mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội” do GS, TS Phạm Minh Hạc làm chủ biên với sự

tham gia của các nhà khoa học có uy tín thuộc các chuyên ngành khác nhau theo

các đề tài như: “Vấn đề con người trong sự nghiệp CNH, HĐH” (Phạm Minh Hạc chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 1996); “Bồi dưỡng

và đào tạo lại đội ngũ nhân lực trong điều kiện mới” (Nguyễn Minh Đường chủ biên); “Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện nay” (Phan Huy Lê chủ biên); “Về động lực của sự phát triển kinh tế xã hội” (Lê Hữu Tầng chủ

biên) Các công trình nghiên cứu này đã có sự phân tích rất sâu sắc nhiều khíacạnh về con người,về sự biến đổi của con người trong những điều kiện mới như:Con người Việt Nam truyền thống và hiện đại, sự biến đổi về định hướng cácgiá trị trong xã hội, những động lực chính trị - tinh thần quan trọng nhất hiệnnay, thực trạng và vấn đề đào tạo lại nguồn nhân lực, Đặc biệt các công trình

đã đưa ra được cái nhìn tổng thể mang tầm chiến lược về vấn đề con người trong

sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đó là: Thứ nhất, đưa ra nhận thức chung về con người Việt Nam; Thứ hai, nêu ra các biến động thang giá trị trong con người Việt nam trong công cuộc đổi mới; Thứ ba, phân tích về vấn đề sinh

thể con người Việt Nam và giáo dục, bồi dưỡng nhân tài Mặc dù vậy, theochính các nhà khoa học đã tham gia chương trình khẳng định, thì đây là vấn đềlớn, cần được tiếp tục nghiên cứu lâu dài trên nhiều phương diện khác nhaunhằm phát huy cao nhất vai trò của yếu tố con người cho sự phát triển kinh tế -

xã hội

Ngoài ra còn có các công trình “Vấn đề tiềm năng con người” (Phạm Minh Hạc, Nhà xuất bản khoa học xã hội, Hà Nội, năm 2005); “ Mấy suy nghĩ

Trang 22

về vai trò của nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa” (Phạm Văn Đức, Tạp chí triết học, số 6, năm1998); “Nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” (Luận án tiến sỹ triết học của Đoàn Văn Khái, bảo vệ tại Hà Nội, năn 2000); “Nhân tố con người trong lực lượng sản xuất với vấn đề đào tạo người lao động trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay” (Luận án tiến sỹ triết học

của Trần Thanh Đức, bảo vệ tại Hà Nội, năm 2002) Ở đây, các tác giả đã kháiquát vai trò quan trọng của con người trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội

ở nước ta, nhất là trong sự nghiệp đổi mới, trong quá trình công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nước Con người trong sự nghiệp đổi mới luôn đóng vai trò với tưcách hoặc là một yếu tố trong lực lượng sản xuất, hoặc là nguồn lực trí tuệ, lànguồn nhân lực để phát triển kinh tế - xã hội và “vai trò của nguồn lực conngười được thể hiện vừa với tư cách là chủ thể vừa với tư cách là khách thể củacác quá trình kinh tế - xã hội ”[33, 7]

Bàn về dân chủ hóa xã hội và tác động của dân chủ hóa xã hội đối với con

người Việt Nam hiện nay có các công trình: “Vai trò của Nhà nước đối với việc tiếp tục thực hiện quyền dân chủ của nhân dân Việt Nam” (Luận án tiến sỹ của Trần Thị Băng Thanh, bảo vệ tại Hà Nội, năm 2002 ); “Đảm bảo quyền con người trong hoạt động của Quốc hội Việt Nam ” (Luận án tiến sỹ của Tường Duy Kiên, bảo vệ tại Hà Nội, năm 2004); “Dân chủ và tập trung dân chủ - Lý luận và thực tiễn” (Nguyễn Tiến Phồn, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội -

2001)

Ở các công trình này các tác giả đã nghiên cứu mối quan hệ giữa sựnghiệp đổi mới với dân chủ hóa đời sống xã hội; khẳng định vai trò của dân chủhóa xã hội đối với sự biến đổi của con người nói chung và con người mới nóiriêng; khẳng định dân chủ có nội dung toàn diện trong đó có “ Hai lĩnh vực quantrọng hàng đầu và nổi bật nhất là Dân chủ kinh tế và Dân chủ chính trị Nó quyđịnh dân chủ trong lĩnh vực xã hội, tư tưởng và văn hóa Nó cũng biểu hiện trựctiếp quyền con người (nhân quyền) và quyền công dân (dân quyền) Điểm cốt lõicủa dân chủ kinh tế là lợi ích Điểm cốt lõi của dân chủ chính trị là quyền lực vàchế độ ủy quyền thông qua bầu cử qua phương thức dân chủ đại diện Dân chủ

Trang 23

trong xã hội đòi hỏi sự đảm bảo công bằng trong phân phối lợi ích và công bằngtrong cơ hội phát triển, bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật Dân chủtrong lĩnh vực tư tưởng, tinh thần đòi hỏi sự giải phóng tiềm năng sáng tạo, tự

do tư tưởng” [96, 17]

Vai trò của nhân tố chính trị còn được thể hiện thông qua việc xác lập cáctiêu thức, định ra các mô hình, vạch ra các đặc trưng của con người mới ở từnggiai đoạn cụ thể trong quá trình phát triển của nó Trên cơ sở đó, định hướng choviệc đào tạo, phát triển con người mới, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội vàyêu cầu của thực tiễn đất nước Bàn về vấn đề này tác giả Nguyễn Hữu Công

trong cuốn “Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện” đã

khẳng định: “Nghiên cứu sự phát triển của con người qua các thời kỳ lịch sử,chúng ta thấy bất kỳ một chế độ chính trị nào muốn tồn tại, phát triển phát triểncũng phải tạo ra xây dựng cho được những con người lý tưởng của mình Trongvấn đề này, hệ thống chính trị có vai trò to lớn Con người ngoài những đặctrưng chung của giống loài, bao giờ cũng mang dấu ấn lịch sử, của thời đại đãsản sinh ra nó, bao giờ cũng mang bản chất giai cấp mà họ xuất thân Mỗi chế

độ xã hội đều có những quan niệm, những tiêu thức, những mẫu hình về conngười mà nó sẽ xây dựng Những mẫu hình này thể hiện quan điểm, tư tưởngcủa giai cấp thống trị xã hội, nắm giữ bộ máy nhà nước Trên cơ sở mẫu hìnhnày, hệ thống chính trị thông qua những biện pháp trực tiếp và gián tiếp, nhất làthông qua hệ thống giáo dục đào tạo, phát triển con người theo chủ đích củamình” từ đó “hệ thống chính trị nước ta, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Hồ ChíMinh, căn cứ vào điều kiện kinh tế - xã hội và yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạngViệt Nam trong từng giai đoạn, đã nêu ra những định hướng cơ bản cho việc đàotạo, phát triển con người mới ở nước ta” [15, 163]

Ở góc độ sự tác động của văn hóa, giao lưu văn hóa, hội nhập quốc tế đốivới sự biến đổi của đời sống tinh thần, lối sống của con người Việt Nam có các

công trình như “Bốn mươi năm Viện Triết học - một số kết quả nghiên cứu” (GS,

TS Nguyễn Trọng Chuẩn chủ biên, Viện Triết học, Hà Nội, năm 2002) Trong

công trình này tác giả Lê Ngọc Anh trong bài “Vấn đề giáo dục đạo đức và nếp sống văn hóa gia đình truyền thống trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện

Trang 24

nay” khẳng định rằng, trong thời kỳ đổi mới cùng với sự phát triển nền kinh tế

thị trường và xu hướng hội nhập quốc tế đã có sự gia tăng lối sống ích kỷ, tâm lýhưởng thụ và tâm lý tiêu dùng làm suy giảm một số giá trị đạo đức truyền thốngcủa con người và của xã hội Đồng thời, tác giả đưa ra những kiến nghị cần tăngcường giáo dục đạo đức và nếp sống văn hóa gia đình cũng như sự cần thiết kếthợp chặt chẽ ba yếu tố: gia đình, nhà trường và xã hội trong việc giáo dục conngười và nếp sống xã hội

Trong công trình nghiên cứu “Tìm về bản săc văn hóa Việt Nam” (GS,

TSKH Trần Ngọc Thêm, Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh, năm 2004).Tác giả đã nghiên cứu, hệ thống hóa các loại hình văn hóa và tìm hiểu về đờisống cá nhân cũng như đời sống tập thể trong văn hóa tổ chức cộng đồng, vănhóa ứng xử với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Đồng thời phân tích

và lý giải một số đặc điểm của lối sống con người Việt Nam trong lịch sử như:trọng tình nghĩa, đề cao tính cộng đồng và một vài sự biến đổi của lối sốngcon người trong giai đoạn hiện nay dưới sự tác động của các nhân tố như nềnkinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế, giao lưu văn hóa Vấn đề giao lưuvăn hóa, hội nhập quốc tế ảnh hưởng tới các giá trị truyền thống của con người

Việt Nam còn được phân tích trong công trình “Giá trị truyền thống trước những thách thức của toàn cầu hóa” (Nguyễn Trọng Chuẩn và Nguyễn Văn

Huyên đồng chủ biên, Nhà xuất bản chính trị Quốc gia, Hà Nội - 2002) Trongcông trình này các tác giả khẳng định rằng, con người Việt Nam vốn có truyềnthống yêu nước mãnh liệt, có ý thức liên kết cộng đồng và đoàn kết dân tộc vôcùng bền chặt, đức tiết kiệm và tự lập tự cường, ý chí vượt qua mọi gian khổ,khó khăn và tinh thần cần cù, sáng tạo trong chiến đấu và lao động, có cách ứng

xử linh hoạt và thích nghi nhanh với cái mới và cả những biến động bất thường.Các tác giả còn khẳng định cùng với các các truyền thống quý giá kể trên “dântộc Việt Nam còn có hàng loạt các truyền thống khác mà chúng ta không thểkhông nhắc tới như tinh thần hiếu học, lòng tôn sư trọng đạo, đức tính kínhtrọng người già giàu kinh nghiệm, lòng nhân ái, tính khoan dung ” Đồng thờicác tác giả cũng khẳng định: Trong “xu thế mở rộng giao lưu quốc tế và quátrình toàn cầu hóa mạnh mẽ, đặc biệt là toàn cầu hóa kinh tế theo hướng kinh tế

Trang 25

thị trường tự do, đang kéo theo tình trạng đổ bộ ồ ạt từ các nước phát triển vàocác nước đang phát triển và kém phát triển những sản phẩm văn hóa vật thể xa

lạ đe dọa phá vỡ truyền thống và cũng làm mất bản sắc văn hóa cùng các giá trịtruyền thống lâu đời khác” [ 5, 12-13 ]

Ở khía cạnh nghiên cứu con người, con người mới về mặt nhân cách có

công trình “Hồ Chí Minh - Những vấn đề Tâm lý học nhân cách” (PGS, PTS.

Đỗ Long, Chương trình khoa học - công nghệ KX – 07, Hà Nội 1995) Trongcông trình này các tác giả đã phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân cách vàcấu trúc nhân cách Tác giả Phạm Minh Hạc nhấn mạnh đến việc nghiên cứu cácquan điểm của Hồ Chí Minh về nhân cách và nêu lên phạm trù thái độ như làmột vấn đề lý luận trong tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân cách Tác giả Ngô CôngHoàn khi bàn tới con đường giáo dục nhân cách đã cụ thể hóa bằng sự phân loạinhư: Đối với trẻ mầm non thì có định hướng con ngoan, trò ngoan, bé ngoan.Đối với thanh thiếu niên thì thể dục, trí dục, đức dục, lao động kỹ thuật và phảirèn luyện thông qua học tập, giáo dục, tự giáo dục, hoạt động tích cực trong laođộng, trong các quan hệ xã hội mới có nhân cách Tác giả Đức Uy cho rằng HồChí Minh lúc đầu đã đồng nhất khái niệm nhân cách với khái niệm tư cách Tácgiả cho rằng, khái niệm nhân cách không chỉ gồm hai thành phần đức và tài mà

là một khái niệm tĩnh và động, phẩm chất và hoạt động, tự ý thức của bản thân.Tác giả Vũ Kim Thanh khẳng định tính đặc sắc, tính riêng, tính giản dị được kếthợp trong cái đức cái tài của một nhân cách Cũng theo tác giả, thì đức - tínhcách và tài - năng lực phải cân đối và hài hòa Đức gồm các yếu tố như: nhân,nghĩa, trí, dũng, liêm Tác giả Nguyễn Đình Tập xem đạo đức là cái gốc củangười cách mạng Tác giả khẳng định rằng, Hồ Chí Minh rất quan tâm khái quátcác mô hình nhân cách của các nhóm xã hội như: các cháu thiếu niên, thanhniên, phụ nữ, thầy thuốc Đó là những kiểu nhân cách mà ngành nào, giới nàocũng phải dựa vào đó để giáo dục và hoàn thiện Tác giả Lê Thị Bừng nhấnmạnh tới tình thương, lòng nhân ái như một biểu hiện của tình cảm trong cấutrúc nhân cách Cá nhân thông qua tình thương xây dựng bản lĩnh cá nhân bằngtình thương là nét độc đáo của chủ nghĩa nhân đạo cao cả, mà cuộc đời và sựnghiệp của Hồ Chí Minh thể hiện rõ nhất, đậm nét nhất, sâu sắc nhất Mặc dầu

Trang 26

có những cống hiến rất lớn trong việc nghiên cứu nhân cách và cấu trúc củanhân cách, nhưng đây là cách tiếp cận nhân cách ở góc độ tâm lý học chứ chưa

lý giải toàn diện về các nội dung khác của con người

Cũng tiếp cận con người từ góc độ nhân cách còn có các công trình như

“Hình thành và phát triển nhân cách trong kinh tế thị trường” (Lê Đức Phúc, Tạp chí cộng sản, số 6, năm 1995); “Vai trò của đạo đức đối với với sự phát triển nhân cách trong cơ chế thị trường” (Nguyễn Văn Phúc, Tạp chí triết học, số 5, năm 1996); “Vai trò của gia đình trong việc xây dựng nhân cách con người Việt Nam” (Lê Thi, Nhà xuất bản phụ nữ, Hà Nội, năm 1997); “Về khắc phục những tác động tiêu cực của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đối với sự phát triển nhân cách” (Nguyễn Văn Phúc, Tạp chí triết học, số 1, năm 1998) Ở các công trình

này, các tác giả đã phân tích tính hai mặt của tác động của kinh tế thị trường, củacông nghiệp hóa, hiện đại hóa đối với việc hình thành và phát triển nhân cách conngười Việt Nam nói chung cũng như con người mới nói riêng Đồng thời nêu lênmột số giải pháp để khắc phục những tác động tiêu cực, phát huy những yếu tốtích đối với sự phát triển nhân cách con người việt Nam hiện nay

Tóm lại, có thể khẳng định các công trình nghiên cứu về con người, conngười mới, về nhân cách con người và vai trò của con người đối với sự nghiệpđổi mới và tác động của sự nghiệp đổi mới đối với sự biến đổi con người ở nước

ta trong thời gian qua đã đạt một số kết quả nhất định Các công trình đã đưa rađược cách nhìn tương đối tổng thể và có hệ thống sự tác động của con người đốivới sự nghiệp đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theođịnh hướng xã hội chủ nghĩa cũng như sự biến đổi về những phẩm chất, nănglực của con người do ảnh hưởng của sự nghiệp đổi mới Sự tác động của dânchủ hóa xã hội, của giao lưu văn hóa, hội nhập quốc tế tạo ra sự biến đổi nhữngphẩm chất, năng lực, tài năng, giá trị tinh thần, đạo đức, lối sống của conngười Việt Nam hiện nay Mặc dù vậy, theo các nhà khoa học thì đây là vấn đềlớn cho nên cần được tiếp tục nghiên cứu lâu dài, trên nhiều phương diện khácnhau và bổ sung để được hoàn thiện về mặt lý luận, phản ánh được đầy đủ hơn,ngày càng phù hợp hơn mọi mặt của thực tiễn đất nước luôn vận động, biến đổi

và phát triển không ngừng

Trang 27

1.2 Tổng quan nghiên cứu về hiện trạng, hướng phát triển và giải pháp xây dựng con người mới trong sự nghiệp đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

1.2.1 Tổng quan nghiên cứu hiện trạng và hướng phát triển của con người Việt Nam hiện nay

Về vấn đề phân tích thực trạng phát triển con người ở nước ta trong thờigian qua, các tác giả đã nêu lên một số giải pháp phát triển con người cũng nhưcon người mới trên các lĩnh vực cụ thể, trên các khía cạnh cụ thể Có thể nêu ra

một số công trình như : “Quan điểm của Mác về tha hóa và ý nghĩa của nó đối với phát triển con người Việt Nam hiện nay” (Luận án tiến sỹ triết học của Nguyễn Thị Thanh Huyền, bảo vệ tại Hà Nội, năm 2008); “Phát triển văn hóa

và xây dựng con người thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” (Phạm Minh Hạc

và Nguyễn Khoa Điềm chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia , Hà Nội năm

2003); Chương trình khoa học - công nghệ KX - 07 “Con người Việt Nam - mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội” (GS,TS Phạm Minh Hạc chủ

biên, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia , Hà Nội, năm 1996)

Các công trình trên đã chỉ ra một số hạn chế về phẩm chất và năng lực củacon người còn tồn tại trong thời gian qua, trên cơ sở đó các tác giả đưa ra nhữngbiến động trong thang giá trị và quan niệm về phẩm chất nhân cách con ngườiViệt Nam trong sự nghiệp đổi mới Đồng thời trong khi phân tích mẫu hình conngười lý tưởng do biến đổi giá trị trong thời kỳ đổi mới đang có sự giằng cogiữa con người kinh tế và con người đạo đức đã đưa ra một số giải pháp nhằmxóa bỏ sự “tha hóa”, nâng cao lý tưởng đạo đức, nâng cao trình độ dân trí, nângcao trình độ hiểu biết về văn hóa xã hội cho con người trong xu thế hội nhậpquốc tế hiện nay

Trong công trình “Trí thức nữ trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay, tiềm năng và phương pháp xây dựng” (Luận án tiến sỹ triết học của Đỗ Thị

Thanh, bảo vệ tại Hà Nội, năm 1999) tác giả đã chỉ ra vai trò to lớn của nữ tríthức mới Việt Nam đối với sự nghiệp đổi mới của đất nước cũng như phân tíchhiện trạng, những tiềm năng của trí thức nữ cần được phát huy hơn nữa đối với

sự nghiệp đổi mới và các giải pháp xây dựng đội ngũ nữ trí thức mới trong giai

Trang 28

đoạn hiện nay Còn ở công trình “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục đào tạo thanh niên ở nước ta” (Luận án tiến sỹ triết học của Đoàn Nam Đàn,

bảo vệ tại Hà Nội, năm 2000 ) thông qua Văn kiện các kỳ Đại hội Đảng tác giả

đã nêu và phân tích rằng, việc giáo dục và đào tạo thanh niên thế hệ mới là mộtnội dung quan trọng cần được Đảng và Nhà nước quán triệt và vận dụng vàothực tiễn để đề ra những chủ trương, chính sách, mục tiêu giáo dục và đào tạothanh niên phù hợp với thời kỳ mới

Về mặt thực tiễn phát triển con người, con người mới với tư cách lànguồn lực trí tuệ, nguồn nhân lực, lực lượng sản xuất trong công cuộc đổi mới ở

Việt Nam có các công trình: “Nhân tố con người và những biện pháp phát huy nhân tố con người trong điều kiện đổi mới ở Việt Nam hiện nay” (Luận án tiến

sỹ triết học của Trần Thị Thúy bảo vệ tại Hà Nội, năm 2000) ; “Phát huy nguồn lực con người - kinh nghiệm và thực tiễn ở nước ta” (Trần Văn Tùng và Lê Ái Lâm, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội, năm1996); “Vị trí và vai trò của con người trong hệ thống quản lý xã hội ở nước ta hiện nay ” (Nguyễn Hữu Để, Tạp chí triết học, số 6, năm 1998); “Nhân tố con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay” (Luận án tiến sỹ triết học của Bùi Thị Ngọc Lan, bảo vệ tại Hà Nội, năm 2005); “Tư tưởng Hồ Chí Minh với

sự nghiệp xây dựng con người toàn diện ” (Thành Duy, Nhà xuất bản khoa học

xã hội, năm 2010) Trong các công trình nghiên cứu này, các tác giả đã kháiquát các thành tựu đạt được cũng như những hạn chế và những vấn đề đặt ratrong việc phát triển con người và con người mới Việt Nam trong việc quản lý

và sử dụng con người về trí tuệ, về giáo dục và đào tạo, về chăm sóc sức khỏecon người hoặc về giáo dục đạo đức, lý tưởng Trên cơ sở đó các tác giả nêu ramột số giải pháp phù hợp với thực tiễn nhằm phát triển con người mới một cáchtoàn diện Vì theo các tác giả thì “Chính nền kinh tế thị trường thường đẻ ra conngười phát triển phiến diện, quá coi trọng đời sống vật chất mà coi nhẹ nhữnggiá trị tinh thần, quá thiên về nghiệp vụ chuyên môn mà không có sự hiểu biết

về đời sống xã hội”[31, 11]

Mặt khác, khi phân tích thực trạng con người Việt Nam hiện nay ở góc độnguồn nhân lực và vị trí nguồn nhân lực trong quan hệ với nguồn lực khác trong

Trang 29

các bài viết “Nguồn nhân lực trong CNH, HĐH đất nước” (Tạp chí triết học, số

3, năm 1994); “Nguồn nhân lực và phát triển” (Tạp chí giáo dục lý luận, số 4, năm 1995 ); “Vai trò động lực của dân chủ với sự hoạt động và sáng tạo và sáng tạo của con người” (Tạp chí triết học số 5, năm 1996) tác giả Nguyễn

Trọng Chuẩn đã khẳng định nguồn lực quan trọng nhất, quyết định nhất chỉ cóthể là con người Từ đó, tác giả nêu lên một số yếu tố cần thiết để kích thích tính

tích cực của con người, khai thác tốt nhất nguồn nhân lực Trong bài viết “Trí tuệ - Nguồn lực vô tận của sự phát triển xã hội” (Tạp chí triết học, số 1, năm

1993 ) tác giả Phạm Thị Ngọc Trầm khi bàn về trí tuệ đã nhấn mạnh: Trí tuệ lànguồn lực vô tận và có sức mạnh to lớn đối với sự phát triển xã hội Còn tác giả

Phạm Văn Đức khẳng định trong bài viết “Một số gjải pháp nhằm khai thác có hiệu quả nguồn lực con người” (Tạp chí triết học , số 6, năm 1999) rằng, để

khai thác có hiệu quả nguồn lực con người phải thực hiện nhiều giải pháp trong

đó việc tạo ra cơ hội có việc làm là một giải pháp rất quan trọng và được sửdụng như một công cụ quản lý hữu hiệu

Bàn về thực trạng lối sống và sự thay đổi của lối sống của con người Việt

Nam hiện nay có các công trình “Bốn mươi năm Viện triết học - một số kết quả nghiên cứu” (GS,TS Nguyễn Trọng Chuẩn chủ biên, Viện Triết học, Hà Nội, năm 2002) Đăng trong công trình này, tác giả Lê Ngọc Anh có bài “Vấn đề giáo dục đạo đức và nếp sống văn hóa gia đình truyền thống trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay” Trong đó tác giả đã khẳng định rằng, trong thời

kỳ đổi mới cùng với sự phát triển nền kinh tế thị trường và xu hướng hội nhậpquốc tế đã có sự gia tăng lối sống ích kỷ, tâm lý hưởng thụ và tâm lý tiêu dùnglàm suy giảm một số giá trị đạo đức truyền thống dân tộc Đồng thời, tác giả cònđưa ra những giải pháp cần tăng cường giáo dục đạo đức và nếp sống văn hóagia đình cũng như sự cần thiết kết hợp chặt chẽ ba yếu tố: gia đình, nhà trường

và xã hội trong việc giáo dục con người và nếp sống xã hội

Với công trình nghiên cứu “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam”

(GS,TSKH Trần Ngọc Thêm, Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh, năm 2004)tác giả đã nghiên cứu, hệ thống hóa thực trạng các loại hình văn hóa và tìm hiểu

về đời sống cá nhân cũng như đời sống tập thể trong văn hóa tổ chức cộng đồng,

Trang 30

văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Trong công trìnhcủa mình tác giả đã phân tích và lý giải một số đặc điểm lối sống của con ngườiViệt Nam đã định hình trong lịch sử như: trọng tình, trọng nghĩa, đề cao tínhcộng đồng , và phân tích một vài sự biến đổi của lối sống con người Việt Namhiện nay dưới sự tác động của các nhân tố như nền kinh tế thị trường, hội nhậpkinh tế quốc tế

Bàn về vấn đề thực trạng quyền con người và các giải pháp nhằm phát

triển quyền con người ở Việt Nam hiện nay có công trình“Vai trò của Nhà nước đối với việc tiếp tục thực hiện quyền dân chủ của nhân dân Việt Nam” (Luận án tiến sỹ của Trần Thị Băng Thanh, bảo vệ tại Hà Nội, năm 2002); “Đảm bảo quyền con người trong hoạt động của Quốc hội Việt Nam” (Luận án tiến sỹ của

Tường Duy Kiên, bảo vệ tại Hà Nội, năm 2004) Trong đó các tác giả nhấnmạnh đến mối quan hệ giữa thực hiện quyền con người với dân chủ hóa đờisống xã hội, vấn đề thiết chế xã hội trong việc đảm bảo quyền con người ở nước

ta hiện nay

Trong bài viết “15 năm đổi mới tư duy về các vấn đề văn hóa - xã hội và xây dựng con người” các tác giả Phạm Ngọc Quang và Nguyễn Viết Thông đã

phân tích thực trạng và hướng phát triển của con người Việt Nam hiện nay là

“bồi dưỡng con người Việt Nam về trí tuệ, bản lĩnh, đạo đức, tâm hồn, tình cảm,lối sống nhân cách xây dựng thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cộng sảnchủ nghĩa hướng con người vào những giá trị chân thiện mỹ Trong thời kỳ côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và phát triển nền kinh tế thị trường theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa, cần hướng vào việc xây dựng con người Việt Nam cótinh thần yêu nước và yêu chủ nghĩa xã hội, có ý thức tự cường dân tộc, có tráchnhiệm cao trong lao động, có lương tâm nghề nghiệp và tác phong côngnghiệp.”[102, 10 ]

Ngoài ra còn có các tác giả nghiên cứu vấn đề con người, con người mới

trong tư tưởng Hồ Chí Minh như: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và chính sách xã hội” (Lê Sỹ Thắng ( chủ biên ) Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia,

Hà Nội, năm 1996) Trong công trình này tác giả đã đi sâu phân tích quan niệmcủa Hồ Chí Minh về con người, chỉ rõ con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Trang 31

không phải là trừu tượng mà là con người cụ thể, tồn tại và phát triển trongnhững điều kiện nhất định, rằng con người được đặt trong các mối quan hệ với

vũ trụ - tự nhiên, với tộc loại, với cộng đồng, với nhóm xã hội và với chính bản

thân mình Còn tác giả Đặng Xuân Kỳ trong bài “Quan điểm của Hồ Chí Minh

về con người và bản chất con người” (Tạp chí triết học, số 10, năm 2002 ) đã

phân tích và nhấn mạnh rằng, con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh được đặttrong quan hệ ba chiều: Quan hệ với cộng đồng nhất định trong đó mỗi người làmột thành viên; quan hệ với xã hội nhất định trong đó con người được làm chủhay bị áp bức, bóc lột; quan hệ với tự nhiên trong đó con người không tách rời

tự nhiên và luôn nhân hóa tự nhiên trong cộng động xã hội nhất định Tác giả

Nguyễn Văn Tài trong bài viết “Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và phát huy nhân tố con người” (Tạp chí triết học, số 2, năm 2004) đã phân tích tư tưởng

Hồ Chí Minh về con người với tư cách là một thực thể xã hội, sự thống nhấtgiữa con người với dân tộc, giai cấp và nhân loại, về con người với tư cách chủthể sáng tạo lịch sử trong điều kiện Việt Nam hiện nay

Nhìn chung các công trình kể trên đã cố gắng chỉ ra hiện trạng của conngười Việt Nam và trên cơ sở nêu ra những nhân tố tác động đến quá trình hìnhthành con người Việt Nam các tác giả còn chỉ ra yêu cầu của con người ViệtNam nhằm đáp ứng được xu thế phát triển tất yếu của xã hội Việt Nam trongcông cuộc đổi mới Tuy nhiên sự hạn chế căn bản của các quan niệm này là mớinêu nên những giải pháp chung về phát triển con người Việt Nam, mà chưa có

sự định hướng cụ thể và lâu dài con đường xây dựng con người Việt Nam nhằmđáp ứng sự phát triển của Việt Nam qua mỗi chặng đường Vì thế trong nhữngnăm gần đây các công trình nghiên cứu đã tập trung nhiều hơn vào vấn đề địnhhướng xây dựng con người mới Việt Nam trên cả các khía cạnh và cả theohướng toàn diện của sự phát triển Nói về nội dung này phải kể đến công trình

“Về những điểm mới của Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011)” của PGS, TS Phạm Văn

Linh và TS Nguyễn Tiến Hoàng Trong công trình này các tác giả đã nêu lênđịnh hướng xây dựng con người Việt Nam hiện nay theo những nội dung sau:

Trang 32

“- Xác định con người Việt Nam trong thời kỳ mới là con người có ýthức làm chủ, ý thức trách nhiệm công dân; có tri thức, sức khỏe và lao độnggiỏi, sống có văn hóa và tình nghĩa; giàu lòng yêu nước và tinh thần quốc tếchân chính.

- Phát huy nhân tố con người trên cơ sở bảo đảm công bằng, bình đẳng

về quyền lợi và nghĩa vụ công dân là phương hướng lớn của chính sách xã hội

- Kết hợp và phát huy đầy đủ vai trò của xã hội, các đoàn thể nhàtrường, gia đình, từng tập thể lao động và tập thể dân cư trong việc chăm lo bồidưỡng hình thành con người mới” [63, 110]

Có thể khẳng định rằng, qua các công trình nghiên cứu của mình, các tácgiả tập trung phân tích quan niệm về con người và con người mới trên nhiềumặt: Con người cá nhân, con người xã hội, con người trong các mối quan hệ giađình, dân tộc, nhân loại Ngoài ra các tác giả còn phân tích hiện trạng và sự biếnđổi của con người Việt Nam trước sự tác động của kinh tế thị trường, của dânchủ hóa xã hội, của giao lưu văn hóa và hội nhập quốc tế cũng như những địnhhướng phát triển của con người trong điều kiện thực hiện sự nghiệp đổi mới.Trên cơ sở đó, tạo nền tảng cho việc nghiên cứu các nội dung khác liên quan đếncon người và con người mới như: Đấu tranh giải phóng con người, xây dựng vàphát triển con người

1.2.2 Tổng quan nghiên cứu các giải pháp xây dựng con người mới trong sự nghiệp đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Vấn đề xây dựng và phát triển con người, con người mới trong sự nghiệpđổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa cũng là một nội dung quan trọng đượcnhiều nhà nghiên cứu quan tâm Trong số các công trình nghiên cứu về vấn đề

này phải kể đến bài viết “Tư tưởng Hồ Chí Minh về quan niệm và giải pháp xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện” được in trong cuốn “Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện” (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà

Nội, năm 2000) của Thành Duy Ở đây tác giả đã khái quát tư tưởng Hồ ChíMinh về vị trí, vai trò và ý nghĩa của giáo dục đối với việc đào tạo con người.trên cơ sở đó tác giả khai thác phương pháp xây dựng con người toàn diện trong

tư tưởng của Người

Trang 33

Bàn về một số giải pháp cụ thể trong việc xây dựng, phát triển văn hóa và

con người việt Nam hiện nay trong bài “15 năm đổi mới tư duy về các vấn đề văn hóa - xã hội và xây dựng con người” (Phạm Ngọc Quang và Nguyễn Viết

Thông, Tạp chí triết học, sô 1 năm 2001) đã nêu ra các giải pháp nhằm giáo dục

và xây dựng con người mới:

- Cần coi trọng chính sách đầu tư cho văn hóa và con người trong quátrình phát triển kinh tế xã hội

- Báo chí, phát thanh truyền hình và các phương tiện thông tin đại chúngkhác cần phải tăng cường chức năng giáo dục, tuyên truyền về những nhân tốmới, những giá trị cao đẹp của xã hội; đồng thời phê phán những gì đang cản trởquá trình đổi mới và phát triển đất nước, góp phần đẩy lùi các tệ nạn xã hội

- Cần phát động phong trào toàn dân bài trừ hủ tục, khắc phục tình trạng

mê tín dị đoan đang phát triển trong nhân dân và trong một bộ phận đảng viên

- Cần đẩy mạnh việc xuất khẩu văn hóa phẩm giới thiệu lịch sử đất nước,văn hóa, con người Việt Nam ra nước ngoài Phê phán tư tưởng sùng ngoại, tiếpthu không chọn lọc những văn hóa phẩm từ bên ngoài đưa vào

- Nâng cao đời sống văn hóa và tinh thần cho nhân dân, xây dựng conngười có văn hóa bắt đầu từ mỗi gia đình và trong cộng đồng dân cư Gia đình,cộng đồng và trường học cần phối hợp hoạt động trong định hướng cho thế hệtrẻ vào những giá trị chuẩn mực để xây dựng nhân cách có văn hóa trong họctập, lao động sản xuất và kinh doanh, trong ứng xử và giao tiếp

Ngoài ra có thể kể đến luận án tiến sỹ triết học của Nguyễn Hữu Công với

đề tài “Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện” bảo vệ năm

2001 và “Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện” (2010) Ở

các công trình này tác giả đã tập trung nghiên cứu tư tưởng của Hồ Chí Minh vềbồi dưỡng và phát triển con người toàn diện nhằm tạo ra những con người mới,những thế hệ người đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước vàxây dựng chủ nghĩa xã hội Tác giả cho rằng, “Qua nghiên cứu, phân tích nhữngnội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện,

có thể rút ra những vấn đề có ý nghĩa phương pháp luận để chỉ đạo sự nghiệpxây dựng và phát triển con người mới ở nước ta trong thời kỳ công nghiệp hóa,

Trang 34

hiện đại hóa đất nước”; và “Xây dựng và phát triển con người mới ở Việt Namphải theo hướng toàn diện Đó là quy luật khách quan trong sự phát triển củacon người Phải quan tâm phát triển tất cả các mặt, các yếu tố cấu thành nêntổng thể nhân cách con người” Từ đó tác giả khẳng định: “Muốn đưa sự nghiệpxây dựng và phát triển con người mới ở nước ta đến thành công nhất thiết phảitạo lập được các cơ sở kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội vững chắc, phù hợp” và

“Phương thức cơ bản để giáo dục, đào tạo, phát triển con người mới là phải gắnvới thực tiễn của cuộc đấu tranh cách mạng, xây dựng, bảo vệ và phát triển đấtnước trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể Phải tổ chức giáo dục đào tạo một cáchtoàn diện, khoa học Phải tạo ra được tính tích cực, chủ động và tinh thần tự giácvươn lên về mọi mặt cho các cá nhân” [15, 209 - 210]

Ở khía cạnh bàn về các giải pháp cụ thể để xây dựng con người mới toàn

diện ở nước ta hiện nay luận án tiến sỹ “Vấn đề văn hóa sinh thái trong sự phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay” của Trần Thị Hồng Loan (bảo vệ năm

2012), trên cơ sở khái quát những công trình khoa học nghiên cứu về con ngườimới trước đó đã khẳng định:

Thứ nhất, phát triển công tác giáo dục đào tạo theo hướng tạo ra những

con người vừa hồng vừa chuyên trong xã hội Giáo dục và đào tạo có vai trò đặcbiệt quan trọng trong việc tạo ra con người mới phát triển toàn diện Nếu xã hộiquan tâm và có sự đầu tư thỏa đáng cho công tác này, có một một nền giáo dụcphát triển thì sẽ tạo ra được một thế hệ trẻ vừa có phẩm chất đạo đức tốt vừa cókiến thức khoa học vững vàng Mặt khác, phải tiến hành đổi mới nội dung vàphương pháp giáo dục, đào tạo theo hướng vừa phù hợp với hoàn cảnh của đấtnước vừa phù hợp với sự phát triển của thời đại Nội dung giáo dục phải truyềntải cả tri thức khoa học và cách thức làm người Giáo dục phải quan tâm hơn nữađến việc hình thành nhân cách đạo đức của con người trong xã hội nhằm tạo ranhững con người Việt Nam vừa nắm vững những tri thức của thời đại vừa cókhả năng vận dụng tốt những tri thức đó vào hoạt động thực tiễn ở nước ta mộtcách tốt nhất với hiệu quả đạt được ở mức cao nhất

Thứ hai, chú trọng đầu tư cho hệ thống y tế, bảo hiểm nhằm bảo vệ và

nâng cao sức khỏe cho con người Việt Nam hiện nay Việc phát triển hệ thống y

Trang 35

tế, bảo hiểm sẽ tạo điều kiện nâng cao sức khỏe cho người lao động do đó nó sẽgóp phần tạo ra con người phát triển toàn diện cho xã hội.

Bổ sung thêm về các giải pháp xây dựng phát triển con người Việt nam

hiện nay công trình “Về những điểm mới của Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ( bổ sung, phát triển năm 2011)” của

PGS TS Phạm Văn Linh và TS Nguyễn Tiến Hoàng tiếp tục khẳng định:

“+ Kết hợp và phát huy đầy đủ vai trò của xã hội, gia đình, nhà trường,từng tập thể lao động, các đoàn thể và cộng đồng dân cư trong việc chăm lo xâydựng con người

+ Đơn vị sản xuất, công tác, học tập, chiến đấu phải là môi trường rènluyện phong cách làm việc có kỷ luật, có kỷ thuật, có năng suất cao và hiệu quảcao, bồi đắp tình bạn, tình đồng chí, đồng đội, hình thành nhân cách con người

và nền văn hóa Việt Nam ” [63, 113]

Nhìn chung, các công trình nêu trên đã đề cập đến một số mặt của hiệntrạng con người Việt Nam hiện nay, bàn đến một số nội dung về hướng pháttriển của con người Việt nam, bước đầu có một số công trình đã đưa ra một sốgiải pháp để xây dựng con người mới ở nước ta hiện nay Tuy nhiên, những nộidung đó vẫn cần được làm sâu sắc hơn nữa trong từng thời kỳ, từng giai đoạnmới của sự phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Kết luận chương 1

Như vậy, qua tổng quan nghiên cứu vấn đề trên, có thể nói rằng, vấn đềcon người và con người mới đã được đặt ra và nghiên cứu ở Việt Nam ngay từnhững ngày đầu nghiên cứu triết học cho tới nay Mặc dù, trong các công trìnhtrước thời đổi mới có rất nhiều thành tựu nhưng nhìn chung không tránh khỏitính chất giáo điều, giản đơn Tính chất đó thể hiện nỗi bật chỗ nhấn mạnh quámức tính quyết định của chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa đối với sự hình thành

và phát triển con người

Từ sau sự nghiệp đổi mới của Đảng năm 1986 đến nay thì vấn đề đó đượcđặt ra trên những cách nhìn mới, việc nghiên cứu con người trong thời gian này

có những đặc điểm riêng, nội dung của nó có bước chuyển biến mới về chất Sựđổi mới tư duy kinh tế, tư duy chính trị, văn hóa, khoa học đã mở rộng tầm nhìn

Trang 36

cho giới nghiên cứu lý luận như: Cách quan niệm mới về con người, về hướng

đi sâu vào các khía cạnh đa dạng của bản thân con người và đời sống, về cáchtiếp cận những vấn đề con người vv cũng được đổi mới

Điểm nổi bật của sự nghiệp đổi mới ở nước ta là xây dựng một nền kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Chính điều này đã tác động rất lớnđến cả quan điểm về con người mới Việt Nam so với quan điểm cũ, đến cảchính thực tế hình thành con người mới Việt Nam Vì thế các công trình nghiêncứu về con người lúc này thường luôn đề cập đến kinh tế thị trường trên nhiềuphương diện lý luận

Mặc dù, các công trình nghiên cứu về con người thường độc lập với cáccông trình nghiên cứu về mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa Nhưng có thể nói, các công trình nghiên cứu con người, con người mới,

về nhân cách và vai trò của con người đối với sự nghiệp đổi mới ở nước ta trongthời gian qua đã đạt được một số kết quả nhất định Tuy nhiên, các công trìnhnêu trên mới chỉ đề cập đến một số mặt của hiện trạng con người Việt Nam hiệnnay, bàn đến một số nội dung về hướng phát triển của con người Việt Nam,bước đầu đưa ra một số giải pháp để xây dựng con người mới và chưa nghiêncứu sâu, có hệ thống mối quan hệ giữa hiện trạng với hướng phát triển cũng nhưgiải pháp xây dựng con người mới Việt Nam trong quá trình định hướng xã hộichủ nghĩa Do vậy, nội dung nghiên cứu về vấn đề hình thành con người mớiViệt nam trong quá trình định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay củaluận án không có sự trùng lặp với các công trình đó bởi vì nó đã nghiên cứu nộidung này một cách tương đối toàn diện và có hệ thống

Qua những kết luận trên, chúng tôi có thể khẳng định rằng, mặc dù cùngnghiên cứu về con người trong quá trình định hướng xã hội chủ nghĩa ở ViệtNam hiện nay nhưng luận án không trùng lặp với bất kỳ luận án hay công trìnhnào đã được công bố Những tài liệu nêu trên chỉ có giá trị tham khảo giúp choviệc nghiên cứu đề tài của tác giả luận án

Trang 37

Chương 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CON NGƯỜI

VÀ SỰ HÌNH THÀNH CON NGƯỜI MỚI

2.1 Khái niệm con người, con người mới

2.1.1 Khái niệm con người

Khi nghiên cứu vấn đề xây dựng con người mới Việt Nam hiện naychúng ta cần phải dựa trên cơ sở lý luận của triết học Mác và quan điểm củaĐảng ta về con người Chính triết học Mác lần đầu tiên trong lịch sử triết học

đã nêu quan điểm khoa học về bản chất con người và về con người nói chung

Theo C Mác, con người trước hết là phương thức tồn tại đặc thù củaloài người, là phương thức sinh hoạt tộc loại (tính loài) đặc thù của conngười Thông qua việc “sáng tạo ra một cách thực tiễn thế giới đối tượng”,thông qua “việc cải tạo tự nhiên vô cơ” con người trở thành một thực thểmang tính tộc loại có ý thức, “một thực thể đối xử với tộc loại như với bảnchất của chính mình, hoặc đối xử với bản thân mình như với một thực thể cótính chất tộc loại” [68, 93] Sự khác nhau giữa phương thức hoạt động củacon người so với con vật là ở chỗ, theo C Mác, hoạt động sản xuất của conngười là hoạt động phổ biến, hoạt động đó diễn ra cả khi con người thoát khỏinhu cầu thể xác trực tiếp Hoạt động này là sự tái tạo lại toàn bộ giới tự nhiên,

tự do đối lập với sản phẩm hoạt động của chính mình, hoạt động “theo thước

đo của bất cứ giống nào và ở đâu cũng có thể áp dụng thước đo thích dụngcho đối tượng”, hoạt động theo phương thức “nhào nặn vật chất theo quy luậtcủa cái đẹp” [81, 138] Khi phân tích hoạt động của con người với con vật C.Mác cho rằng, động vật trực tiếp đồng nhất với hoạt động sinh hoạt của chính

nó, còn con người thì biến bản thân hoạt động sinh hoạt của mình thành đốitượng của ý chí của ý thức của mình Hoạt động sinh hoạt của con người làhoạt động có ý thức Hoạt động sinh hoạt có ý thức của con người là cái trựctiếp phân biệt hoạt động con người với hoạt động sinh hoạt của động vật.Đồng thời Mác còn khẳng định rằng, do chỗ con người là thực thể tộc loại,

Trang 38

thực thể có ý thức, nên “sinh hoạt của bản thân con người là một đối tượngcho nên hoạt động của con người là hoạt động tự do”.

Như vậy, C Mác cho rằng, quan hệ hiện thực, thực tiễn đối bản thâncon người với tư cách là thực thể tộc loại và sự biểu hiện của nó trong thực tếvới tư cách là “thực thể con người” chỉ có được khi con người rút ra từ bảnthân nó tất cả những lực lượng tộc loại của nó thông qua toàn bộ hoạt độngcủa loài người với tư cách là kết quả của lịch sử Đây là luận điểm rất quantrọng trong việc hiểu và nhìn nhận về con người xã hội của Mác

Cùng với điều ấy, C Mác còn nói tới phương thức tồn tại của conngười với tư cách là toàn bộ hoạt động cải tạo thế giới vật chất của con người

- hoạt động sản xuất vật chất Hoạt động này diễn ra một cách thường xuyênphổ biến, mang tính kế thừa và có tổ chức xã hội của con người Theo Mác,con người còn là những cá thể riêng biệt, là những cá nhân hiện thực với hoạtđộng lao động của họ C Mác viết: “Con người là một cá nhân đặc thù nào đó

và chính tính đặc thù của nó làm cho nó thành ra một cá nhân và một thực thể

xã hội cá thể hiện thực” [68, 133]

Hơn thế nữa, ở C Mác, con người còn được xem xét với tư cách là conngười tự nó - con người được trừu tượng hóa bởi các mối quan hệ, các điềukiện, các hình thức và phương tiện hoạt động hiện thực của nó, là “sự tồn tạitrừu tượng của con người coi như chỉ là con người lao động” và do vậy, hàngngày nó có thể “bị đẩy từ cái hư không đầy đủ của mình vào cái hư khôngtuyệt đối”, vào lĩnh vực “không tồn tại có tính chất xã hội” của nó [68, 107]

Tóm lại, khi xây dựng quan niệm của mình về con người, thuật ngữ

“con người” đã được C Mác sử dụng với nội dung phong phú: con người làphương thức tồn tại của giống loài người trong thế giới, là một cá nhân riêngbiệt, và cuối cùng là con người với tư cách con người tự nó còn là đại biểucho nhân loại

Một trong những vấn đề cốt lõi khi luận giải về con người chính là chỉ

ra bản chất của nó Khác với toàn bộ những nhà triết học trước mình bàn vềbản chất con người C Mác khẳng định: “Phoiơbắc hòa tan bản chất tôn giáo

vào bản chất con người Nhưng bản chất con người không phải là một cái trừu

Trang 39

tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội ” [76, 11] Tuy nhiên việc nghiên cứu,

xem xét nội dung quan điểm này của C Mác thường được một số nhà triết họctrước đây tiến hành ở cấp độ trừu tượng thuần túy thuật ngữ Vì thế, quan điểmcủa C Mác về bản chất con người trong “Luận cương về Phoiơbắc” đã được lýgiải theo rất nhiều cách khác nhau mà mỗi cách giải thích ấy đều có yếu tố hợp

lý của nó Vì thế ở đây cần bàn về thêm nội dung quan điểm này của C Mác

Muốn hiểu được nội dung cơ bản quan điểm mà C Mác đã đưa ra trong

“Luận cương về Phoiơbắc” chúng ta cũng cần phải chú ý đến vấn đề có tínhphương pháp luận là phải hiểu quan điểm của C Mác trong hoàn cảnh cụ thể vàtrong tính hệ thống của nó Như đã biết, “Luận cương về Phoiơbắc” là sự chuẩn

bị cho sự ra đời của “Hệ tư tưởng Đức” của Mác và Ăngghen Vì vậy, nội dungcủa nó cần được hiểu trong tính toàn thể của nó có liên quan đến tư tưởng vềcon người trong những tác phẩm tiếp theo

Trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”, mặc dù C Mác và Ph Ăngghen tậptrung phê phán các quan niệm tư biện về bản chất con người, song các ôngkhông nhắc lại nguyên xi hay nhắc lại từng phần định nghĩa về bản chất conngười C Mác cho rằng, khi khẳng định cần chấm dứt các cuộc tranh luận chungchung trừu tượng về con người và bản chất của nó thì phải nghiên cứu conngười hiện thực trong những điều kiện hiện thực của nó Vì thế C Mác và Ph.Ăngghen đã tập trung vào việc luận chứng cho con đường và các phương phápnghiên cứu con người Đó chính là câu trả lời của hai ông cho quan niệm tư biện

về bản chất con người Chính bản thân định nghĩa bản chất con người là tổnghòa các mối quan hệ xã hội đã cho thấy sự đối lập của nó với quan niệm tư biện

về bản chất con người

Xuất phát từ con người hiện thực để nghiên cứu đời sống sinh hoạt của conngười, C Mác và Ph Ăngghen khẳng định rằng, con người cần phải được hiểutrong hoàn cảnh sinh hoạt hiện thực - cụ thể của họ C Mác quan niệm rằng, “lànhững con người, không phải những con người ở trong một tình trạng biệt lập và

cố định trừu tượng mà là những con người trong quá trình phát triển - quá trìnhhiện thực hóa và có thể thấy được bằng kinh nghiệm - của họ dưới những điều

Trang 40

kiện nhất định” [76, 38] và “Những tiền đề xuất phát của chúng tôi, không phải lànhững tiền đề tùy tiện, không phải là giáo điều, đó là những tiền đề hiện thực màngười ta chỉ có thể bỏ qua trong trí tưởng tượng mà thôi Đó là những cá nhânhiện thực, là hoạt động của họ và những điều kiện sinh hoạt vật chất của họ,những điều kiện mà họ thấy có sẵn cũng như những điều kiện do hoạt động củachính họ tạo ra Như vậy, những tiền đề ấy là có thể kiểm nghiệm được bằng conđường kinh nghiệm thuần túy” [76, 28 - 29] Đó chính là những tiền đề quantrọng trong sự hình thành quan điểm duy vật về lịch sử sau này của C Mác.

Khi nói đến những tiền đề của quá trình sinh hoạt hiện thực của con người,

C Mác và Ph Ăngghen luôn chú ý tới những điều kiện và yếu tố hoạt động sinhhoạt cụ thể của con người Hai ông không nói một cách chung chung, trừu tượng

về con người, mà về những con người cụ thể, hoạt động cụ thể của họ trongnhững điều kiện lịch sử cụ thể Với Mác và Ăngghen, quan niệm duy vật lịch sử

là phương pháp đem lại khả năng xác nhận hệ thống những tiền đề xuất phát, màdựa vào đó, có thể hiểu được quá trình phát triển của con người trong sự vậnđộng, trong tính đa dạng của nó

Dựa trên quan điểm duy vật lịch sử, C Mác và Ph Ăngghen đã đưa ra mộtquan niệm cụ thể và đúng đắn về con người với tư cách là chủ thể hiện thực của

xã hội Mọi cái diễn ra trong xã hội đều tồn tại, đều diễn ra trong hoạt động vàthông qua hoạt động của con người Nhưng trong hoạt động của mình, con người

bị quy định bởi tổng thể các lực lượng sản xuất, bởi những quan hệ sản xuất vàgiao tiếp, hình thành trên cơ sở những lực lượng sản xuất ấy, đến lượt nó, nhữngquan hệ sản xuất lại quy định các quan hệ tư tưởng - chính trị đa dạng Trên cơ sởtính đến tất cả những yếu tố đó mới có thể hiểu được tính chất, khuynh hướng vàkết quả hoạt động của con người, mới có thể nhận thức được các nội dung đã hìnhthành và bộc lộ ra trong hoạt động ấy “Nội dung con người”, theo C Mác và Ph.Ăngghen, luôn “phụ thuộc vào các giai đoạn của sản xuất và của sự giao tiếp củacon người” Từ lập trường đó, hai ông đã xem xét hàng loạt vấn đề có liên quanđến tính đặc thù của tồn tại con người

Khi bàn về con người C Mác và Ph Ăngghen còn đề cập tới mối tươngquan giữa con người với những điều kiện sinh hoạt của con người Đây là một

Ngày đăng: 19/04/2014, 00:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban tổ chức cán bộ - chính phủ (1998) Đạo đức, phong cách, lề lối làm việc của cán bộ, công chức theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo đức, phong cách, lề lối làm việccủa cán bộ, công chức theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
2. Bộ văn hóa thông tin và thể thao (1992), Thập kỷ quốc tế phát triển văn hóa. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thập kỷ quốc tế phát triển vănhóa
Tác giả: Bộ văn hóa thông tin và thể thao
Năm: 1992
3. Chủ nghĩa xã hội và nhân cách (1983). Tập 1, Nxb Sách giáo khoa Mác -Lênin, Hà Nội, 243 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa xã hội và nhân cách
Tác giả: Chủ nghĩa xã hội và nhân cách
Nhà XB: Nxb Sách giáo khoa Mác-Lênin
Năm: 1983
4. Chủ nghĩa xã hội và nhân cách ( 1984). Tập 2, Nxb Sách giáo khoa Mác – Lênin, Hà Nội, 262 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa xã hội và nhân cách
Nhà XB: Nxb Sách giáo khoa Mác –Lênin
5. Nguyễn Trọng Chuẩn - Nguyễn Văn Huyên ( 2002 ) Giá trị truyền thống trước những thách thức của toàn cầu hóa, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị truyền thốngtrước những thách thức của toàn cầu hóa
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
6. Nguyễn Trọng Chuẩn. ( 1995)“ Đôi điều suy nghĩ về giá trị và sự biến đổi của giá trị khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường ” Tạp chí triết học, số 1/1995, tr3 – 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đôi điều suy nghĩ về giá trị và sự biến đổicủa giá trị khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường ” "Tạp chí triếthọc
7. Nguyễn Trọng Chuẩn. (1996) “ Vai trò động lực của dân chủ đối với sự hoạt động và sáng tạo của con người ”Triết học, số 5, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò động lực của dân chủ đối với sựhoạt động và sáng tạo của con người ”"Triết học
8. Nguyễn Trọng chuẩn (1998) “ Vấn đề khai thác giá trị truyền thống vì mục tiêu phát triển ” Triết học, số 2, tr 16 - 19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề khai thác giá trị truyền thống vì mụctiêu phát triển ” "Triết học
9. Nguyễn Trọng Chuẩn (2002) Một số vấn đề triết học - con người - xã hội, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề triết học - con người - xã hội
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
10. Nguyễn Trọng Chuẩn - Phạm Văn Đức - Hồ Sỹ Quý (2001). Tìm hiểu giá trị văn hóa truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu giátrị văn hóa truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn - Phạm Văn Đức - Hồ Sỹ Quý
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
11. Chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước - Đề tài KX - 07 - 01 Giá trị - định hướng giá trị nhân cách và giáo dục giá trị. Hà Nội 1995, 204 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giátrị - định hướng giá trị nhân cách và giáo dục giá trị
12. Chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước - Đề tài KX07 - Hồ Chí Minh - Những vấn đề tâm lý học nhân cách, Hà Nội 1995, 208 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề tâm lý học nhân cách
13. Chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước. Con người Việt Nam - mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội (KX07); Nghiên cứu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con người Việt Nam -mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội" (KX07)
14. Con người khoa học kỹ thuật (1982), Nxb Sự thật Hà Nội, 247 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con người khoa học kỹ thuật
Tác giả: Con người khoa học kỹ thuật
Nhà XB: Nxb Sự thật Hà Nội
Năm: 1982
15. Nguyễn Hữu Công (2010) Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 226 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con ngườitoàn diện
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
16. Phạm Như Cương (1998) Vấn đề xây dựng con người mới, Nxb khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề xây dựng con người mới
Nhà XB: Nxb khoa họcxã hội
17. Thành Duy (2001) Tư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 18. Đảng cộng sản Việt Nam (1986) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng conngười Việt Nam phát triển toàn diện", Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 18. Đảng cộng sản Việt Nam (1986)" Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần"thứ VI
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
19. Đảng cộng sản Việt Nam (1991) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ VII
Nhà XB: Nxb Sự thật
20. Đảng cộng sản Việt Nam (1991): Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế -xã hội đến năm 2000
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
22. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII, tháng 01/1994, 110 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữanhiệm kỳ khóa VII

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w