1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu tình hình tiêu dùng tập luyện thể dục thể thao của cán bộ công chức, viên chức, doanh nhân ở thành phố Hà Nội

176 747 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu Tình hình Tiêu dùng Tập luyện Thể dục Thể thao của Cán bộ Công chức, Viên chức, Doanh nhân ở Thành phố Hà Nội
Tác giả Phan Quốc Chiến
Người hướng dẫn PGS.TS Lương Kim Chung, TS Hoàng Công Dân
Trường học Viện Khoa Học Thể Dục Thể Thao, Bộ Văn Hóa, Thể Thao Và Du Lịch
Chuyên ngành Giáo dục thể chất
Thể loại Luận án Tiến sĩ Khoa học Giáo dục
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 176
Dung lượng 1,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu tình hình tiêu dùng tập luyện thể dục thể thao của cán bộ công chức, viên chức, doanh nhân ở thành phố Hà Nội

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

VIỆN KHOA HỌC THỂ DỤC THỂ THAO

PHAN QUỐC CHIẾN

NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH TIÊU DÙNG TẬP LUYỆN THỂ DỤC THỂ THAO CỦA CÁN BỘ CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC, DOANH NHÂN Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

HÀ NỘI – 2013

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

VIỆN KHOA HỌC THỂ DỤC THỂ THAO

PHAN QUỐC CHIẾN

NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH TIÊU DÙNG TẬP LUYỆN THỂ DỤC THỂ THAO CỦA CÁN BỘ CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC, DOANH NHÂN Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành: Giáo dục thể chất

Mã số: 62.14.01.03

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1 PGS.TS Lương Kim chung

2 TS Hoàng Công Dân

HÀ NỘI - 2013

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

Tác giả luận án

Phan Quốc Chiến

Trang 4

MỤC LỤC

Trang Trang bìa

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục ký hiệu viết tắt trong luận án

Danh mục biểu bảng, biểu đồ trong luận án

1.1.1.Phương thức sản xuất hiện đại công nghiệp hóa 7 1.1.2.Đô thị hóa làm thay đổi môi trường tự nhiên và môi trường xã hội 12 1.1.3.Văn hóa, văn minh xã hội và lối sống xã hội 14 1.1.4.Khoa học hóa và sự phát triển của thể dục thể thao 16

1.2 Khái quát lý luận về nhu cầu và nhu cầu tiêu dùng thể dục thể thao 20 1.2.1 Lý luận về nhu cầu và tiêu dùng thể dục thể thao 20 1.2.2 Nhu cầu và nhu cầu tiêu dùng thể dục thể thao 23

1.3.1.1 Tiêu dùng và tiêu dùng thể dục thể thao 26

1.3.1.2 Hàm tiêu dùng và hàm tiêu dùng thể dục thể thao 28 1.3.2 Loại hình và phân loại nội dung tiêu dùng thể dục thể thao 29 1.3.3 Tính chất, đặc điểm của tiêu dùng thể dục thể thao 31 1.3.4 Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tiêu dùng thể dục thể thao 34

1.3.4.1.Nhân tố cá nhân người tiêu dùng thể dục thể thao 35

1.3.4.2 Những nhân tố kinh tế - xã hội tạo ra năng lực tiêu dùng thể

Trang 5

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 44

2.2.1 Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu 48 2.2.2 Phương pháp phỏng vấn và tọa đàm (phiếu hỏi) 49

2.2.6 Phương pháp điều tra tâm lý hành vi tiêu dùng 52

3.1 Tình hình tiêu dùng tập luyện thể dục thể thao của công chức, viên

chức, doanh nhân ở một số cơ sở công lập và ngoài công lập trên đại

bàn Hà Nội

55

3.1.1 Loại hình tiêu dùng tập luyện TDTT của công chức, viên chức,

3.1.1.1 Loại hình tiêu dùng tập luyện thể dục thể thao 55 3.1.1.2 Nghề nghiệp và môn thể thao của người tập 59 3.1.1.3 Cơ cấu người tập theo lứa tuổi 60

3.1.2 Tình hình tập luyện TDTT của công chức, viên chức, doanh nhân 61

3.1.2.1 Tính thường xuyên của tập luyện thể dục thể thao 61

3.1.2.2 Thời gian rảnh rỗi của các đối tượng dùng cho các hình

loại tiêu dùng TDTT khác

66

3.1.3 Những yếu tố tâm lý tác động đến tiêu dùng tập luyện thể dục

thể thao

68

3.1.3.1 Những yếu tố có tính chủ quan và khách quan chủ yếu

quyết định tham gia tập luyện TDTT

68

3.1.3.2 Tình hình thu nhập và chi tiêu cho việc tập luyện TDTT 72

Trang 6

3.1.4 Bàn luận mức độ tiêu dùng tập luyện thể dục thể thao của cán bộ

công chức, viên chức, doanh nhân

81

3.1.4.1 Về tình hình chi tiêu cho tập luyện thể thao 81 3.1.4.2 Về động cơ tiêu dùng tập luyện thể dục thể thao 83

3.1.4.3 Về tính thường xuyên tập luyện thể dục thể thao 84

3.2 Tình hình tổ chức cung ứng dịch vụ tập luyện TDTT đối với công

chức, viên chức, doanh nhân tại các cơ sở trên địa bàn thành phố Hà

Nội

86

3.2.1.1 Tình hình cung ứng dịch vụ tại Trung tâm thể thao Ba Đình 87

3.2.1.2 Tình hình sân bãi dịch vụ về mật độ tập luyện tại các cơ sở

TDTT công lập và ngoài công lập của quận nội thành phố Hà Nội

89

3.2.2 Tình hình tổ chức thi đấu tại các cơ sở dịch vụ TDTT 91

3.2.3.Tình hình môi trường dịch vụ sự thỏa mãn dịch vụ tập luyện của

người tập

95

3.2.3.1 Tình hình môi trường cung cấp dịch vụ 95

3.2.3.2 Sự thỏa mãn trong tập luyện TDTT tại các cơ sở công lập

và ngoài công lập

99

3.2.4 Bàn luận tình trạng tổ chức cung ứng dịch vụ tập luyện thể dục

thể thao của các cơ sở công lập và ngoài công lập

103

3.2.4.1 Về tình trạng sân và mật độ thời gian tập luyện 104

3.2.4.2 Về sự hạn chế cung ứng dịch vụ liên quan đến tập luyện thể thao 106

3.2.4.3 Về nâng cao năng lực, phong cách dịch vụ tập luyện thể dục

thể thao

108

3.3 Ứng dụng một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tập luyện thể dục

thể thao của công chức, viên chức, doanh nhân

110

3.3.2.1 Mục đích, yêu cầu chọn lựa giải pháp 111

3.3.3 Nội dung các giải pháp ứng dụng vào thực tiễn 114

3.3.3.1 Nội dung các giải pháp 114

3.3.3.2 Triển khai các giải pháp 117

3.3.4.1 Mức độ hài lòng của người tập luyện TDTT 121

Trang 7

3.3.4.2 Sự gia tăng các cuộc thi đấu và số lượng hội viên tham gia

khi áp dụng các giải pháp.

thao Hà Nội trong những năm tới (2014-2020)

135

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN

DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN ÁN

3.1 Hiện trạng nghề nghiệp và sự lựa chọn môn thể thao (n= 861) 603.2 Tình trạng lứa tuổi người tập thể dục thể thao(n= 861) 61

Trang 9

3.4 Thời điểm tập luyện thể thao trong ngày(n= 861) 633.5 Thời lượng một buổi tập của đối tượng điều tra 653.6 Thời gian đã tham gia tập luyện TDTT thường xuyên(n= 861) 653.7 Thời điểm dành cho tiêu dùng TDTT (n= 861) Sau trang

663.8 Những yếu tố có tính chủ quan quyết định tham gia tập luyện

3.9 Những yếu tố có tính khách quan quyết định tham gia tập luyện

3.12 Tỷ lệ % chi phí TDTT so với lương cơ bản (tháng) 773.13 Tình hình cung ứng dịch vụ sân bãi tập luyện (Trung tâm TDTT

3.14 Tình hình cung ứng dịch vụ sân bãi tập luyện (cơ sở công lập) 903.15 Tình hình cung ứng dịch vụ sân bãi tập luyện (cơ sở ngoài công lập) 903.16 Số lần tổ chức các cuộc thi đấu trong năm (Môn Quần vợt) 923.17 Số lần tổ chức các cuộc thi đấu trong năm (Môn Cầu lông) 933.18 Số lần tổ chức các cuộc thi đấu trong năm (Môn Bóng bàn) 943.19 Kết quả đánh giá về môi trường cung cấp dịch vụ 963.20 Dịch vụ tập TDTT của cơ sở tập luyện công lập 1003.21 Dịch vụ tập TDTT của cơ sở tập luyện ngoài công lập (tư nhân) 1013.22 So sánh mức độ yếu kém giữa cơ sở công lập và ngoài công lập 1033.23 Kết quả phỏng vấn người tập luyện TDTT về lựa chọn giải pháp

nâng cao chất lượng dịch vụ tập luyện ( n = 135)

Sau trang112

3.25 Mức độ hài lòng của người tập tại cơ sở công lập (n=96) 1213.26 Tỷ lệ hài lòng trước và sau thực nghiệm (cơ sở công lập) 1243.27 Mức độ hài lòng của người tập tại cơ sở ngoài công lập (n =102) 1253.28 Tỷ lệ hài lòng trước và sau thực nghiệm (cơ sở ngoài công lập) 1273.29 Sự gia tăng số cuộc thi đấu nội bộ và thi đấu giao lưu tại các cơ sở

dịch vụ thể thao

Sau trang127

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ TRONG LUẬN ÁN

Trang 10

3.2 Số người và số buổi tập thể thao trong tuần 633.3 Yếu tố có tính chủ quan quyết định việc tập luyện TDTT 703.4 Yếu tố có tính khách quan quyết định việc tập luyện TDTT 723.5 Tổng điểm đánh giá sự hài lòng về dịch vụ tại cơ sở công lập 1223.6 Tỷ lệ % sự hài lòng về các tiêu chí tại cơ sở công lập 1223.7 Tổng điểm đánh giá sự hài lòng về dịch vụ tại cơ sở ngoài công lập 1253.8 Tỷ lệ % sự hài lòng về dịch vụ tại cơ sở ngoài công lập 1263.9 Tỷ lệ tăng trưởng các cuộc thi đấu sau thực nghiệm môn Quần Vợt Sau trang

1273.10 Tỷ lệ tăng trưởng các cuộc thi đấu sau thực nghiệm môn Cầu lông Sau trang

1273.11 Tỷ lệ tăng trưởng các cuộc thi đấu sau thực nghiệm môn Bóng bàn 128

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU

Thể dục thể thao (TDTT) là một bộ phận quan trọng của nền văn hóa xãhội nhằm bảo vệ và tăng cường sức khỏe cho con người, nâng cao thành tíchthể thao, góp phần làm phong phú sinh hoạt văn hóa và giáo dục con ngườiphát triển toàn diện Mục tiêu cơ bản phát triển TDTT của nước ta nhằm gópphần bảo vệ và tăng cường sức khỏe cho nhân dân, phục vụ cho việc bảo vệ

và xây dựng đất nước giàu mạnh Mục tiêu này đồng thời cũng là chiến lượclâu dài về con người mà trong đó, sức khỏe là vốn quý của con người và là tàisản của mỗi quốc gia [1]

Với quan điểm: Con người là vốn quý nhất của quốc gia, Đảng và Nhànước ta xem việc “Bảo vệ và tăng cường sức khỏe của nhân dân là một vấn đềrất quan trọng, gắn liền với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ chủ nghĩa xã hội,với hạnh phúc của nhân dân Đó là một trong những mối quan tâm hàng đầucủa chế độ ta, là trách nhiệm cao quý của Đảng và Nhà nước ta [57]

Sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất, ngày 18/11/1975 Ban bí thưtrung ương Đảng đã ra chỉ thị số 227 chỉ đạo công tác thể dục thể thao(TDTT) cho cả nước trong tình hình mới Chỉ thị nêu rõ: công tác TDTT cầnphấn đấu vươn lên, đưa phong trào quần chúng rèn luyện thân thể vào nềnnếp, phát triển công tác TDTT có chất lượng, có tác dụng thiết thực nhằmmục tiêu "Khôi phục và tăng cường sức khoẻ của nhân dân góp phần xâydựng con người mới phát triển toàn diện, phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng

và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền TDTT xã hội chủ nghĩaphát triển cân đối, có tính dân tộc, nhân dân và khoa học" [7]

Cuộc vận động ''Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại''được tiến hành từ năm 2000 đang trở thành động lực thúc đẩy các tầng lớpnhân dân tham gia các hoạt động TDTT Theo số liệu của ngành TDTT năm

2008, tỷ lệ người tập TDTT thường xuyên đã đạt trên 22,5 % so với tổng dân

số cả nước, trong đó những người đang ở độ tuổi lao động tại các cơ quan nhànước tham gia ngày một nhiều, đặc biệt là trên các địa bàn thành phố Điều đó

Trang 12

bắt nguồn từ quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về chăm sóc và bồidưỡng nâng cao chất lượng nguồn lực lao động có tri thức, có sức khoẻ màĐại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (2001), lần thứ X (2006) và lần thứ XI(2011) đã xác định [34],[35],[36]

Đặc biệt đối với công tác TDTT được Bộ chính trị, Ban chấp hànhTrung ương Đảng khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW của BộChính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ

về thể dục, thể thao đến năm 2020 đã nêu rõ:

“Sự nghiệp phát triển thể dục thể thao nước ta đã có nhiều tiến bộ Thểdục thể thao quần chúng tiếp tục phát triển với nhiều hình thức đa dạng, gópphần nâng cao sức khỏe, xây dựng lối sống lành mạnh, cải thiện đời sống vănhóa, tinh thần của nhân dân Thể thao thành tích cao có bước phát triển, thànhtích một số môn đạt trình độ châu Á và thế giới Cơ sở vật chất, kỹ thuật chothể dục thể thao từng bước được nâng cấp và xây dựng mới Hợp tác quốc tế

về thể dục thể thao được tăng cường, vị thế của thể thao Việt Nam được nângcao, nhất là ở khu vực Đông Nam Á”

Nội dung quan điểm của Nghị quyết được tập trung vào 3 vấn đề chủ yếu:

- Phát triển thể dục, thể thao là một yêu cầu khách quan của xã hội,nhằm góp phần nâng cao sức khỏe, thể lực và chất lượng cuộc sống của nhândân, chất lượng nguồn nhân lực; giáo dục ý chí, đạo đức, xây dựng lối sống

và môi trường văn hóa lành mạnh, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàndân, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác quốc tế; đồng thời, là trách nhiệmcủa các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể, tổ chức xã hội và của mỗi ngườidân Các cấp ủy đảng có trách nhiệm thường xuyên lãnh đạo công tác thể dụcthể thao, bảo đảm cho sự nghiệp thể dục, thể thao ngày càng phát triển”

- Đầu tư cho thể dục thể thao là đầu tư cho con người, cho sự phát triểncủa đất nước Tăng tỷ lệ chi ngân sách nhà nước, ưu tiên đầu tư xây dựng cơ

sở vật chất thể dục, thể thao và đào tạo vận động viên thể thao thành tích cao;

Trang 13

đồng thời phát huy mạnh mẽ vai trò của các tổ chức xã hội trong quản lý điềuhành các hoạt động thể dục, thể thao.

- Giữ gìn, tôn vinh những giá trị thể dục thể thao dân tộc, tiếp thunhững tinh hoa văn hóa nhân loại, phát triển nền thể dục, thể thao nước tamang tính dân tộc, khoa học, nhân dân và văn minh

Nhiệm vụ và giải pháp đã được thể hiện qua 6 giải pháp là:

- Nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục thể chất và hoạt động thể thaotrường học;

- Mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động thể dục thể thao quầnchúng;

- Nâng cao hiệu quả đào tạo tài năng trẻ;

- Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nghiên cứu ứng dụngkhoa học và công nghệ;

- Đổi mới tổ chức, quản lý, nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước,phát triển các tổ chức xã hội về thể dục thể thao; tăng cường hợp tác quốc tế;

- Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền.[36]

Trong thời kỳ xây dựng phát triển đất nước trên con đường hội nhập vớithế giới thì vấn đề sức khoẻ lao động, nghỉ ngơi của công chức nhà nướctrong bối cảnh đô thị hoá đã trở thành mối quan tâm mang tính xã hội, nhưngtrong thời đại hiện nay có rất nhiều loại hình nghỉ ngơi, giải trí, nhu cầu vănhóa văn nghệ cùng nhu cầu học tập, trau dồi nghề nghiệp để làm việc có hiệuquả cao hơn Trong khi đó thời gian ngoài giờ lao động lại quá ít ỏi Chọn lựacách nghỉ ngơi giải trí bằng hoạt động TDTT là một phương pháp được nhiềunhà khoa học cho là thông minh nhất Sức khoẻ là tiền đề để làm ra của cảivật chất cho xã hội, là khởi nguồn cho cuộc sống hạnh phúc bình yên [6]

Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đã và đangdiễn ra biết bao đổi thay về cơ chế hoạt động TDTT, phong trào rèn luyện

Trang 14

thân thể của quần chúng nhân dân ở nước ta nói chung và ở nội thành Hà Nộinói riêng đang vận hành phát triển một cách rõ rệt [13] Rèn luyện thân thểthông qua hoạt động tập luyện TDTT đòi hỏi tiêu dùng thời gian rất đáng kểnếu chưa tính đến tiêu dùng tiền bạc cho các phương tiện tập luyện, đi lại,dinh dưỡng liên quan Nhu cầu sử dụng thời gian để lao động sản xuất khôngchỉ ở mức tối đa khi cần thiết mà còn tiêu dùng cho rất nhiều nhu cầu sinh tồn(ăn, ngủ, sinh hoạt và chăm lo gia đình ) do đó phần thời gian tự do ngoàigiờ lao động còn lại để tiêu dùng cho nhu cầu phát triển bản thân chỉ có tỷ lệkhông nhiều Việc nghiên cứu thời gian tự do trong mối quan hệ với nhu cầuvăn hóa, giáo dục, sức khỏe và các nhu cầu khác trong tình hình xã hội hiệnnay, trong đó nhu cầu thưởng thức thể thao trong nước, thế giới và tập luyệnthể dục thể thao là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với việc cung ứngtiêu dùng thể dục thể thao cho xã hội.

Phong trào tập luyện TDTT của các tầng lớp nhân dân, trong đó lựclượng lao động trong các cơ quan hành chính nhà nước, các đoàn thể chính trị

- xã hội và các doanh nghiệp nhà nước có bước khởi sắc với một số lượngđáng kể, nhất là nam công chức, viên chức, doanh nhân như nhiều báo cáotổng kết hàng năm của ngành TDTT trong những năm qua Điều đó cũng chỉ

ra rằng vai trò, vị trí và tác dụng của hoạt động TDTT theo quan điểm, đườnglối chính sách của Đảng và Nhà nước đang đi vào cuộc sống hiện thực ở nước

ta Sử dụng thời gian và nguồn lực vật chất cho việc tiêu dùng TDTT củangười lao động trong các cơ quan nhà nước hiện chiếm 15% lực lượng laođộng cả nước có những ý nghĩa quan trọng về kinh tế xã hội [20], [21] Cùngvới việc đánh giá công tác TDTT hàng năm của ngành TDTT còn có một số

đề tài nghiên cứu tình hình tập luyện TDTT của nhân dân tại các thành phố

Hồ Chí Minh, Nghệ An….[45],[47] nhưng chưa có công trình nào nghiên cứutình hình tập luyện TDTT của quần chúng nhân dân trên địa bàn thành phố HàNội

Xuất phát từ những điều lý giải trên đây cho thấy việc nghiên cứu tìnhhình tiêu dùng tập luyện TDTT không chỉ có ý nghĩa về củng cố tăng cường

Trang 15

sức khoẻ mà còn là vấn đề lối sống xã hội văn minh, tiến bộ khi mỗi ngườidân dù hoàn cảnh nào vẫn có thể thu xếp công việc và thời gian, tiền bạc đểhoạt động TDTT nhằm bồi dưỡng sức khoẻ, vui chơi giải trí Xuất phát từ cơ

sở tiếp cận trên, đề tài tiến hành: “Nghiên cứu tình hình tiêu dùng tập luyện thể dục thể thao của cán bộ công chức, viên chức, doanh nhân ở thành phố

Hà Nội”.

MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu tình hình tiêu dùng tập luyện thể dục thể thao của cán bộcông chức, viên chức, doanh nhân tại các cơ sở TDTT công lập và ngoài cônglập ở nội thành Hà Nội nhằm làm rõ những yếu tố thuận lợi và hạn chế để tìm

ra những giải pháp phù hợp nâng cao chất lượng tiêu dùng tập luyện TDTT

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:

Mục tiêu 1: Điều tra hiện trạng tiêu dùng dưới hình thức tập luyện thể

dục thể thao của cán bộ, viên chức, doanh nhân trên địa bàn thành phố HàNội Mục tiêu này gồm các vấn đề cơ bản cần giải quyết dưới đây:

+ Tình hình tiêu dùng tập luyện TDTT của công chức, viên chức, doanhnhân tại một số cở sở công lập, ngoài công lập Hà Nội gồm: loại hình tiêudùng tập luyện, nghề nghiệp và lứa tuổi người tập;

+ Nghiên cứu tình hình tập luyện thể dục thể thao của cán bộ, viênchức, doanh nhân ở một số cơ sở nội thành Hà Nội gồm: tính thường xuyêntập luyện và sử dụng các loại hình tiêu dùng khác;

+ Những nhân tố tác động đến tiêu dùng tập luyện TDTT gồm: động cơ,tiêu dùng, tình trạng thu nhập, chi tiêu cho tiêu dùng tập luyện TDTT

Mục tiêu 2: Tình hình tổ chức cung ứng dịch vụ tập luyện thể dục thể

thao đối với cán bộ công chức, viên chức, doanh nhân

- Tình hình sân bãi, tổ chức dịch vụ tập luyện thể dục thể thao đối vớicông chức, viên chức và doanh nhân tại các cơ sở công lập và ngoài công lập

- Tình hình tổ chức thi đấu tại các cơ sở dịch vụ thể dục thể thao

Trang 16

- Tình hình môi trường dịch vụ và sự thỏa mãn tập luyện TDTT củangười tập.

Mục tiêu 3: Nghiên cứu một số giải pháp tổ chức quản lý của cơ sở

dịch vụ nhằm nâng cao chất lượng tiêu dùng tập luyện thể dục thể thao đốivới công chức, viên chức, doanh nhân

- Cơ sở lý luận về giải pháp

- Cơ sở thực tiễn lựa chọn các giải pháp

- Ứng dụng những giải pháp

GIẢ THUYẾT KHOA HỌC:

Nghiên cứu thực trạng tình hình tiêu dùng tập luyện thể dục thể thao lànhu cầu tăng cường sức khỏe và tinh thần của cán bộ công chức, viên chức,doanh nhân trong đời sống và làm việc hàng ngày có mối quan hệ với nhiềunhân tố thời gian nhàn rỗi, chi trả tiền, nghề nghiệp và tình trạng cung ứngdịch vụ của các cơ sở TDTT Điều đó giúp cho các cơ sở công lập và ngoàicông lập thể dục thể thao cải tiến công tác tổ chức dịch vụ cho đông đảo cán

bộ công chức, viên chức, doanh nhân tích cực tham gia tập luyện thể dục thểthao góp phần xây dựng phong trào rèn luyện thân thể của quần chúng nhândân một cách bền vững

Trang 17

CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Đặc điểm xã hội hiện đại:

Xã hội loài người đang trong quá trình biến đổi và phát triển biến thiênvào thời kỳ xã hội hiện đại và sự hiện đại hóa Quá trình biến đổi và phát triểncủa thể dục thể thao vừa là quy luật tất yếu vừa là sản phẩm của xã hội biếnthiên Do vậy thể dục thể thao hiện đại là một tiêu chí quan trọng của xã hộihiện đại Bởi lẽ, thể dục thể thao có mối tương quan chặt chẽ với sự biến thiêncủa xã hội và xã hội hiện đại Nước ta đang trong giai đoạn phát triển hiện đạihóa, công nghiệp hóa và đô thị hóa nhanh dẫn đến những ảnh hưởng quantrọng tới thể dục thể thao

Thể dục thể thao hiện đại là tài sản vô giá mà nhân loại đã sáng tạo ra

để thỏa mãn nhu cầu sống và phát triển, thể dục thể thao là hiện tượng xã hội,chính thể dục thể thao đã và đang là một bộ phận cấu thành lối sống của conngười và xã hội Trên thế giới không có một Quốc gia nào (cho dù nhỏ bé đếnđâu) mà không có thể dục thể thao, cho nên có thể nói trong lối sống của conngười, của xã hội về bản chất không thể thiếu trò chơi, thể dục thể thao khôngchỉ nhằm hoàn thiện chất lượng sống mà còn là giải trí tinh thần Mức độ, quy

mô, trình độ đỉnh cao của thể dục thể thao ở mỗi Quốc gia khác nhau như mộtgiá trị về trình độ phát triển xã hội [68], [69], [74]

1.1.1 Phương thức sản xuất hiện đại công nghiệp hóa

Đặc trưng của phương thức sản xuất hiện đại: Phương thức sản xuấthiện đại có các đặc trưng cơ khí hóa, quy mô hóa, cao tốc hóa và tự động hóa[21],[22]

Ảnh hưởng của sự thay đổi phương thức sản xuất hiện đại tới sức khỏecủa người lao động:

+ Thay đổi phương thức lao động:

Trang 18

Lao động thể lực Lao động trí thức = Giảm nhẹ cường độ lao động

cơ bắp, thể lực Lao động thể lực và lao động trí óc đều gây ra mệt mỏi vàtính chất mệt mỏi được các nhà sinh lý học xác định như mô hình dưới đây:

Mệt mỏi

Mệt mỏi về thể lực - mệt mỏi

cục bộ gia tăng, các bộ phận khác

giảm thiểu hoạt động cơ bắp

Mệt mỏi tinh thần - tâm lýcăng thẳng, mệt mỏi triền miên giatăng

+ Thay đổi hình thức làm việc:

Đơn điệu trong thao tác trình tự quy trình liên tục làm việc = căngthẳng, đơn điệu, mất đi chính mình

Trình tự thao tác với tần suất nhanh, dễ gây ra phản ứng xấu về tâm lý,căng thẳng về tinh thần và mệt mỏi cục bộ

Phương pháp thao tác cố định, đơn điệu gây ra ức chế, mệt mỏi về tâm

lý, đồng thời một bộ phận chức năng bị ức chế

Phân công lao động tự động hóa là một trong những đặc trưng của xãhội công nghiệp hóa Trình tự thao tác coi người lao động như một cỗ máy,định mức chi tiết quy phạm hành vi, dễ làm mất tính năng động của cá nhân,làm việc luôn trong trang thái bị động (bị khống chế)

+ Thay đổi kết cấu sản nghiệp

Sản nghiệp thứ nhất là chủ chốt sản nghiệp thứ hai là chủ chốt ngành dịch vụ xã hội phát triển

Dịch vụ xã hội luôn lấy nhu cầu làm cơ chế điều tiết, nhu cầu tăngcường sức khỏe con người (loại bỏ mệt mỏi, giải trí, bảo trì, tăng cường sứckhỏe) và nhu cầu giải tỏa tinh thần (giải trí, xã giao, giảm Stress bằng trò

Trang 19

chơi.v.v…) đã tạo diều kiện thuận lợi cho sự hưng thịnh của các dịch vụ xãhội trong đó bao gồm dịch vụ thể dục thể thao.

+ Vai trò của thể dục thể thao đối với phương thức sản xuất hiện đại

Phương thức sản xuất hiện đại luôn theo đuổi “hiệu suất cao” Tiền đềthực hiện hiệu suất cao là nhiệt tình làm việc hăng say và tinh lực làm việcsung mãn của đội ngũ nhân công Trong khi đó thể dục thể thao lại có khảnăng phát huy vai trò tích cực nhằm sản sinh nhiệt tình làm việc và tinh lựclàm việc tràn trề Nhưng nếu kéo dài quá trình đó sẽ trở thành Stress tiêu cực[84]

Các nhà tâm lý học đã khái quát khả năng đó theo sơ đồ dưới đây:

Nhiệt tình

Nhu cầu ( giải tỏa Stress tinh thần, tâm lý)

Nhu cầu thể dục thể thao

Hoạt động thể lực

có định hướng

Tinh lực làm việc Hồi phục tốt

Nghỉ ngơi tích cực (Hoạt động chân tay, giải trí.v.v…)

Chất lượng cuộc sống với trình độ sức khỏe của xã hội:

Chất lượng cuộc sống gồm yếu tố vật chất và tinh thần, môi trườngsống và làm việc Nhìn chung, xã hội hiện đại làm ra của cải vật chất nhưngcũng gây không ít tác động xấu tới con người, ở đây chỉ nói tới vấn đềphương thức sinh hoạt Phương thức sinh hoạt có mối quan hệ gắn bó với sứckhỏe của mọi người Sự biến đổi của phương thức sinh hoạt, nhịp độ sinh hoạtđều sẽ ảnh hưởng tới sức khỏe của cá nhân, thậm chí sức khỏe của cả cộngđồng và xã hội Trong cuộc đời của mỗi con người, phương thức sinh hoạtkhông thể hình thành bất biến Cùng với sự biến đổi của phương thức sinhhoạt, sự phong phú hoặc nghèo nàn của nội dung sinh hoạt, rộng mở hoặcchật hẹp về lĩnh vực, sự nâng cao hay hạ thấp về chất lượng, tăng nhanh hoặc

Trang 20

giảm chậm nhịp độ sống đều mang đến ảnh hưởng tốt hoặc xấu cho sức khỏe.[21], [69].

Con người muốn diệt tận gốc các loại bệnh tật xã hội do phương thứcsinh hoạt dẫn đến, không thể không đưa thể dục thể thao vào hợp thành nộidung của y học Bởi vì, thể dục thể thao có tác dụng điều chỉnh toàn bộphương thức hoạt động sống Nó điều tiết và cải thiện hiệu quả sức khỏe vàsinh hoạt của con người do ăn uống, dinh dưỡng, nghỉ ngơi, hưởng thụ và laođộng bất hợp lý, thiếu khoa học Ở Việt Nam, thể dục thể thao với loại hìnhthể dục dưỡng sinh đã trở thành một biện pháp tích cực hạn chế tốc độ lão hóacủa người cao tuổi, điều chỉnh tâm năng căng thẳng như Stress, góp hiệu ứngdương tính vào chữa một số bệnh và đề phòng các bệnh do tác động xấu củaphương thức sinh hoạt, môi trường sống do công nghiệp hóa, đô thị hóa dẫntới [22], [23] [84]

Chất lượng cuộc sống vật chất và tinh thần của nhân dân đã nâng dần.Theo số liệu năm 2006, trẻ em dưới 5 tuổi chỉ còn gần 24% suy dinh dưỡng,chiều cao cân nặng của trẻ em tăng lên hơn hẳn so với 20 năm trước Nhữngngười tập thể dục thể thao thường xuyên đã nhận ra rằng hoạt động thể dụcthể thao là một nhu cầu không thể thiếu trong phương thức sống thời hiện đại

Thời gian rảnh rỗi là tiền đề quan trọng của việc phát triển thể dục thểthao cho mọi người Mọi người dùng thời gian một cách hợp lý để tăng quátrình hoạt động sinh tồn Dựa vào chu kỳ hoạt động sinh tồn của một ngàyđêm, xu hướng phát triển thời gian rảnh rỗi của xã hội là:

+ Thời gian rảnh rỗi của mọi người có xu hướng kéo dài dần Cùng với

sự tăng trưởng của cải vật chất xã hội, mọi người được một ơn huệ thứ hai đó

là sự gia tăng thời gian rảnh rỗi Hầu hết các nước có nền kinh tế phát triểnđều áp dụng chế độ lao động 5 ngày/tuần;

+ Sự phân chia thời gian cần thiết cho lao động bắt buộc và sinh tồnngày càng rõ ràng, thời gian rảnh rỗi ngày càng tập trung vào mục đích pháttriển con người [20], [25]

Trang 21

Thời đại nông nghiệp, sinh hoạt của mọi người chịu sự chi phối của tựnhiên, thích ứng với mùa màng thời tiết và nhịp độ tự nhiên, không có thờigian rảnh rỗi cố định Trong thời đại công nghiệp, thời gian rảnh rỗi và thờigian làm việc đã có sự khác biệt rõ ràng hơn Đến xã hội thời đại thông tin,thời gian lao động của mọi người sẽ rút ngắn rõ rệt, đồng thời tương đối tậptrung Quan niệm của mọi người sử dụng thời gian rảnh rỗi hữu ích được mởrộng, trong đó xu thế phát triển mạnh mẽ các hoạt động nghỉ ngơi, giải tríđang trở thành một bộ phận cấu thành của thời gian rảnh rỗi, thể dục thể thaocho mọi người cũng theo đó mà phát triển [20]

Hiện nay, thời gian rảnh rỗi ở các thành phố lớn của nước ta tương đốingắn đã ảnh hưởng đến việc triển khai thể dục thể thao cho mọi người Trình

độ sản xuất của nước ta thấp là nguyên nhân căn bản hạn chế thời gian rảnhrỗi của cư dân ở nông thôn và thành phố Hiện tượng này được biểu hiện ởcác mặt sau:

+ Thời gian sản xuất tương đối dài, lao động thể lực nặng nề và dàyđặc Một số công nhân viên chức ngoài 8 giờ lao động hàng ngày còn phảitham gia các công việc sự vụ hoặc làm nghề phụ để tăng thu nhập;

+ Phí tổn “thời gian có quan hệ với học tập và công tác” tương đối nhiều,

kể cả những sinh hoạt cá nhân, bạn bè trong ăn uống liên tục diễn ra hàng ngày

+ Thời gian lao động phục vụ gia đình quá dài, cán bộ công chức namgiới ở nước ta bình quân chi phí nhiều hơn 2,5 - 2,8 giờ mỗi ngày vào côngviệc gia đình so với các nước khác trên thế giới Thời gian tự do của nam cán

bộ công chức ít hơn 1,6 - 2,3 giờ, nữ ít hơn 1,3 - 2,6 giờ mỗi ngày so với cácnước công nghiệp tiên tiến khác Theo quy luật cạnh tranh của kinh tế thịtrường ở một số quốc gia có nền sản xuất nông nghiệp còn chiếm đa số như ởnước ta thì cư dân nông thôn hầu như không có thời gian rảnh rỗi để sử dụngvào mục đích cao quý theo sự phát triển của văn minh xã hội Nếu có các hoạtđộng trong thời gian rảnh rỗi của hầu hết cư dân nước ta phần lớn dừng ở các

“loại hình loại trừ mệt mỏi” Một số nhà xã hội học thế giới cho rằng: hoạt

Trang 22

động trong thời gian rảnh rỗi có thể được chia làm 3 ngôi thứ là “loại hìnhloại trừ mệt mỏi”, “loại hình đầu tư thể chất” và “loại hình vui chơi tiêukhiển” Cư dân nước ta phần lớn ở vào loại hình thứ nhất, song cũng có một

bộ phận bắt đầu chuyển hướng sang loại hình thứ hai và thứ ba, tuy khôngnhiều Điều này vừa có nguyên nhân về mặt trình độ nhận thức, thói quen cũ

và điều kiện cuộc sống, đồng thời lại có quan hệ tới sự hạn chế của các yếu tốnhư cơ chế chính sách đầu tư chăm sóc phong trào thể dục thể thao ở các cơ

sở, trong đó các cơ sở sân bãi, dụng cụ thể dục thể thao rất hạn chế [5],[25]

1.1.2 Đô thị hóa làm thay đổi môi trường tự nhiên và môi trường xã hội

Đô thị phát triển mạnh mẽ dẫn đến nhân khẩu tập trung cao độ, sự cộnghưởng của điều đó dẫn đến môi trường sống suy giảm;

Công nghiệp hóa kéo theo ô nhiễm không khí và nguồn nước, việc đódẫn đến khí thải độc hại, mưa axit v.v Tất cả những yếu tố trên là nguyênnhân gây ra môi trường tự nhiên bị suy giảm;

Chinh phục tự nhiên gây ra diện tích rừng cây bị tàn phá và thu hẹp, đó

là nguyên nhân của việc đất đai bị xói mòn, mất cân bằng sinh thái Ảnhhưởng lớn đến môi trường sinh thái ngày càng suy giảm

Thay đổi môi trường xã hội:

- Hiện tượng “Sa mạc đô thị” ngày càng gia tăng dẫn đến mối quan hệgiữa con người với con người có khoảng cách xa Những yếu tố trên đều ảnhhưởng tới con người khiến con người càng ngày càng cảm thấy cô độc;

- Sự cạnh tranh xã hội ngày càng gay gắt trong nhiều lĩnh vực, conngười là trung tâm của việc tạo nên những gay gắt đó, quan hệ con người vớicon người căng thẳng dẫn đến tinh thần căng thẳng

- Nhịp sống nhanh dẫn đến cơ thể, tâm lý căng thẳng, mệt mỏi về thểxác và tinh thần

Trang 23

Cuộc sống xã hội hiện đại đem đến cho con người rất nhiều lợi ích và

sự tiện nghi, đồng thời cũng gây ra nhiều tác động bất lợi đối với sức khỏecon người Để ngăn ngừa và loại bỏ các nhân tố bất lợi, các nước và các nhàkhoa học đang tích cực nghiên cứu áp dụng các biện pháp, trong đó tập luyệnthể dục thể thao là một trong những biện pháp hữu hiệu được đưa ra [21],[32], [42]

Đô thị hóa là quá trình lịch sử tự nhiên chuyển biến từ xã hội nông thôntruyền thống lạc hậu sang xã hội thành thị hiện đại tiên tiến Xét từ góc độ kếtcấu không gian thành thị, chủ yếu chia thành hai giai đoạn và được biểu hiệnqua quá trình phát triển từ phân tán tới tập trung rồi lại chuyển hóa tới phântán

Giai đoạn đô thị hóa tập trung

Quá trình đô thị hóa cận đại cho thấy, tập trung là hình thức biểu hiệnnổi trội nhất của đô thị hóa giai đoạn ban đầu Tập trung khiến nhân khẩuthành thị gia tăng, quy mô thành phố mở rộng, biến nông thôn thành đô thị,biến thành thị nhỏ thành thành thị lớn Tập trung khiến thành thị trở thànhtrung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa và là trọng tâm của phát triển xã hội

Kết cấu không gian và phân bổ của đô thị tập trung thường được quyhoạch bằng thuyết đường tròn đồng tâm và thuyết xèo quạt, thông thường baogồm các khu vực chức năng như khu thương mại, khu công nghiệp, khu vănhóa - công viên, khu thể dục thể thao quy mô lớn và tập trung khu dân

cư v.v Trong những năm gần đây, đã có những công trình nghiên cứu sửdụng vành đai sinh hoạt thể dục thể thao để đối ứng với vành đai sinh hoạt đôthị, có ảnh hưởng tới sự hình thành kết cấu không gian thể dục thể thao theophương thức tập trung của Nhà nước và các đoàn thể, các thành phần kinh tếcung ứng dịch vụ thể dục thể thao

Giai đoạn đô thị hóa phân tán

Quá trình đô thị hóa tập trung cao độ không những làm gia tăng áp lựccủa đô thị, mà còn tạo ra lực bức xạ khá lớn Cùng với sự phát triển của các

Trang 24

phương tiện giao thông và kỹ thuật truyền thông, không gian sống và phạm vihoạt động kinh tế của nhân loại không ngừng mở rộng, thúc đẩy sự phân tánnhân khẩu thành thị và khu vực hoạt động của họ, dẫn đến sự biến đổi to lớncủa hình thức đô thị Biểu hiện nổi bật nhất của quá trình đô thị hóa phân hóa

là ngoại ô hóa nhà ở, cho ra đời các thành phố vệ tinh và đô thị hóa ngược (đôthị hóa sau khi đạt tới giai đoạn nhất định, hình thành hiện tượng nhân khẩuthành thị lưu chuyển theo hướng ngược lại)

Kết cấu không gian và sự phân bố đô thị hóa phân tán thường được giảithích bằng “lý luận đa hạt nhân”, đó là trong một thành phố có nhiều khu vựchạt nhân (hiện tượng phân tán khu vực chức năng) hoặc có nhiều thành phố

vệ tinh Do đô thị hóa phân tán vào giai đoạn cao cấp của quá trình đô thị hóa.Mấy năm gần đây, đã có những quan điểm đề cập tới bố cục phân tán cânbằng trang thiết bị, cơ sở vật chất thể dục thể thao, đây chính là phương ántính toán tới đặc trưng của giai đoạn đô thị hóa phân tán [6], [20], [21]

1.1.3 Văn hóa, văn minh xã hội và lối sống xã hội

Con người trong xã hội văn minh hiện đại với nền kinh tế tri thức caongày càng nhận thức và hiểu sâu hơn về giá trị văn hóa và lối sống xã hộitrong xã hội hiện đại Nâng cao chất lượng sống để phát triển trường tồn bằngcác biện pháp mang tính tổng thể từ di truyền, môi trường dinh dưỡng, lốisống, chăm sóc và tự nâng cao năng lực miễn dịch bằng khả năng thích ứngqua tập luyện vận động không ngừng Cộng đồng các nước ngày càng thấy rõ

cả về lý luận và thực tế là con người phải nâng cao sức khỏe phát triển thểchất bằng rèn luyện vận động suốt đời từ lúc sinh ra đến lúc chết, trước đây

do rèn luyện thể lực vận động và lao động chân tay con người chưa sống thọnhưng năng lực miễn dịch chống nhiều chứng bệnh tốt hơn Ngày nay, conngười thiếu, lười, ngại vận động nên đã mắc nhiều chứng bệnh trước kia ítthấy Vận động, vận động suốt đời là tiêu chí của con người hiện đại trong xãhội văn minh, vận động chính là làm cho trái tim rèn luyện thích ứng thường

Trang 25

xuyên, từ đó cơ thể được hoạt động đều tăng năng lượng thích nghi, thíchứng [66], [68]

Trong quá trình phát triển xã hội, do công cụ sản xuất thay đổi nhờkhoa học kỹ thuật công nghệ, sức lao động chân tay đơn giản vốn là phươngtiện chính để sản xuất đã dần thay đổi Vào xã hội công nghiệp, xã hội kinh tếtri thức, con người đã dần thay sức lao động thể lực chân tay đơn thuần bằngmáy móc cơ giới hóa, tự động hóa

Xã hội văn minh hiện đại không phải hoàn toàn có lối sống lành mạnh.Không ít nhà nghiên cứu chỉ ra nếu chỉ chạy theo hưởng thụ vật chất và tinh thầnđơn thuần, không có lối sống văn minh trong xã hội khỏe mạnh thông qua trạngthái thể chất (hình thái, chức năng, thể lực, tâm lý, thích nghi ) thì cộng đồngngười không tạo ra một xã hội khỏe mạnh đúng nghĩa phù hợp phát triển sinhhọc tự nhiên và xã hội văn minh hiện đại Nhiều Nguyên thủ quốc gia của thếgiới đã hưởng ứng khuyến nghị của Liên hiệp quốc về 2 chính sách một mụctiêu là chăm lo sức khỏe phòng chống chữa bệnh do ngành y tế đảm nhiệm vàchăm lo sức khỏe thể chất do ngành Thể dục thể thao đảm nhiệm là chính sáchquốc gia phải có trong cấu thành hệ thống chính sách của thiên niên kỷ đươngđại [73]

Những năm gần đây kinh nghiệm toàn thế giới đã chỉ ra: Rèn luyệnthường xuyên để con người vận động về thể lực về tâm lý tinh thần chính làphương tiện hữu hiệu bù đắp cho thiếu vận động thể lực Tất nhiên phải chú ýviệc làm con người tham gia vận động khỏe hơn với mục đích vận động phùhợp tăng sự thích ứng về thể lực cho từng cá nhân, không phải là “thể thaohóa” để đạt kỷ lục mà phổ cập hóa thi đấu quần chúng vận động như các mônthể thao giải trí thúc đẩy mọi người tập hiệu quả cao hơn [17], [22]

Năm 1995, Liên hợp quốc khuyến nghị các quốc gia là năm giáo dụcthể chất theo tinh thần thể thao Olympic để có ý thức rèn luyện suốt đời thôngqua hoạt động thể thao

Trang 26

Nước ta trong thời kỳ xây dựng đất nước công nghiệp hóa, hiện đại hóa

để trong thời gian ngắn nhất có nền kinh tế vững vàng, cũng không thể khôngchú ý đến những chuyển biến của kinh tế xã hội trong đó chăm sóc thể lựctoàn dân lấy phương tiện vận động thể lực làm giải pháp nâng cao thể lực conngười do ngành Thể dục thể thao phụ trách, quản lý, tổ chức, đưa vận độngcho mọi người tăng thể lực sức khỏe không chỉ vì tăng sức khỏe thể lực cóđời sống khỏe và hình thành một xã hội khỏe mạnh đúng nghĩa của nó [21],[23]

1.1.4 Khoa học hóa và sự phát triển của thể dục thể thao.

Khoa học công nghệ hiện đại thúc đẩy quá trình hiện đại hóa của xãhội, quan điểm phát triển khoa học trở thành tư tưởng chỉ đạo quan trọng củaphát triển xã hội Tư duy và hành vi lý tính được đề cao, các tư tưởng tôn giáothần linh, thượng đế v.v dần dần bị đẩy lùi, ứng dụng của khoa học kỹ thuậttrở thành sự lựa chọn phổ biến cho phương thức sống của con người Sự pháttriển của thể dục thể thao cũng dựa trên sự phát triển khoa học kỹ công nghệ,chẳng hạn nhờ có những thành tựu mới của y học, sinh vật học làm trình độnghiên cứu về cơ thể con người không ngừng nâng cao, thúc đẩy sự tiến bộcủa trình độ nghiên cứu khoa học vận động, tạo nền tảng khoa học cho việcnâng cao thành tích thi đấu thể thao Tiến bộ khoa học công nghệ còn tạo điềukiện thuận lợi để quảng bá văn hóa thể dục thể thao, cải tiến trang thiết bị tậpluyện và nghiên cứu ra các kỹ thuật vận động mới

Kiến thức khoa học thể dục thể thao cho mọi người sẽ được nâng cao rõrệt cùng với những giải pháp hướng dẫn, bồi dưỡng, tuyên truyền về phươngpháp luyện tập thể dục thể thao một cách khoa học của ngành Thể dục thểthao, các cơ quan xuất bản, báo chí truyền hình rất quan tâm truyền dẫn phổbiến kiến thức khoa học thể dục thể thao Khai thác, chỉnh lý, sáng tạo mới,quy chuẩn, chọn ra các phương pháp, biện pháp rèn luyện sức khỏe và vuichơi giải trí là khâu quan trọng của khoa học Khoa học thể dục thể thao triểnkhai các hệ thống biện pháp, phương pháp có nội dung phong phú đa dạng,

Trang 27

vừa khoa học hiện đại lại mang truyền thống dân tộc và màu sắc phươngĐông Hiện nay, người tập thể dục thể thao tích lũy ngày càng nhiều kiến thứckhoa học thể dục thể thao Kiến thức khoa học của thể dục thể thao cho mọingười là then chốt của việc nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng xãhội Ứng dụng kiến thức khoa học cùng với việc động viên các thành viên xãhội hoạt động thể dục thể thao làm cho quần chúng được rèn luyện sức khỏevới hiệu quả tốt nhất Thể chế kinh tế thị trường đã tạo điều kiện nhiều công

ty quảng cáo các thiết bị tập luyện bằng máy nhập từ nước ngoài Điều đócũng giúp người dân có thêm kiến thức cần thiết cho việc rèn luyện thân thể.Hiện nay, nhiều môn thể dục thể thao giải trí được phát triển nhiều phươngpháp tập luyện phổ cập như đi bộ sức khỏe, thể dục dưỡng sinh, Yoga, bóngmềm cần được hướng dẫn khoa học Người tập càng nhiều, môn tập nào phùhợp với lứa tuổi, đối tượng cần được giới thiệu [22], [31], [46], [54]

1.1.5 Xã hội hóa và xã hội hóa thể dục thể thao

Theo John J Macionis nhà xã hội học người Mỹ (Sociology, 1987) chorằng xã hội hóa, định nghĩa như một quá trình tương tác xã hội kéo dài suốtcuộc đời, qua đó cá nhân phát triển khả năng con người và học hỏi các mẫuvăn hóa của mình Xã hội hóa, với góc độ của xã hội học là một nền tảngquan trọng trong loài người chúng ta Không như các chủng loại khác vớiđịnh nghĩa theo sinh học, con người cần phải hiểu biết xã hội để có khả năngtồn tại Ngoài sự tồn tại đơn thuần, kinh nghiệm xã hội sẽ tạo ra nền tảng nhâncách Khái niệm về xã hội hóa con người, các học giả đã nghiên cứu từ nhiềugóc độ khác nhau, Trịnh Hàng Sinh (học giả Trung quốc) đã định nghĩa về

“xã hội hóa” như sau “gọi là xã hội hóa, tức là chỉ một cá thể từ một ngườisinh vật phát triển lên thành người xã hội, đồng thời dần dần thích ứng vớicuộc sống xã hội Trong quá trình này, văn hóa xã hội được tích lũy và duytrì, kết cấu xã hội được duy trì và phát triển, nhân cách của con người đượchình thành và phát triển” [48]

Trang 28

Nhà xã hội học Cawe Poler người Mỹ cho rằng: “Xã hội hóa chính làquá trình tương tác xã hội mà con người hình thành được nhân cách của mình

và học tập được phương pháp tham gia vào tổ chức hoặc xã hội”

Tống Thu Vỹ, nhà xã hội học Trung quốc đưa ra khái niệm: “Xã hộithông qua các phương thức giáo dục khác nhau, làm cho con người tự nhiêndần dần học được kiến thức xã hội, kỹ năng xã hội, từ đó hình thành quanniệm giá trị của phương thức hành vi, tự giác tuân thủ và duy trì trật tự xã hội,

có được tư cách của con người trong xã hội Quá trình giáo dục này chính là

xã hội hóa” Theo giáo sư người Mỹ E.From đã từng rút ra định nghĩa về xãhội hóa như sau: “xã hội hóa là hướng dẫn các thành viên trong xã hội đi làmnhững việc bắt buộc phải làm để duy trì xã hội một cách bình thường Đó làthủ đoạn để xã hội và văn hóa được duy trì”

Vì vậy, xã hội hóa chính là chỉ quá trình mà một cá thể xã hội, từ mộtngười sinh vật, thông qua tương tác xã hội, học tập văn hóa xã hội, thích ứngvới cuộc sống xã hội, phát triển lên thành con người xã hội Xã hội hóa conngười là sự thống nhất giữa học tập xã hội và tham gia vào hoạt động xã hộicủa con người [20],[43]

Về phương diện cá nhân thì trước hết, chỉ thông qua xã hội hóa cá nhânmới có thể thích ứng với đời sống xã hội, tham gia vào các hoạt động xã hội,mới có thể tồn tại độc lập trong môi trường xã hội Quá trình xã hội hóa conngười là quá trình cá thể học tập kiến thức xã hội, tuân thủ các quy tắc xã hội,dần dần thích ứng với đời sống xã hội Trong quá trình này yêu cầu con ngườiphải học tập những cái mình chưa biết, những cái mình chưa thuần thục, thậmchí phải loại bỏ những thói quen, hành vi có sẵn của mình Chẳng hạn, sựthay đổi về phương thức cuộc sống của những người vào đại học, gia nhậpquân đội, thanh niên trí thức đi vào hoạt động thực tế ở vùng sâu vùng xa, vậnđộng viên thể thao đi tìm việc làm mới khi kết thúc sự nghiệp thi đấu, nhữngngười đến tuổi nghỉ hưu…Ở những mức độ khác nhau, họ đều phải không

Trang 29

ngừng học tập, xây dựng ý thức, xác định vai trò mới của mình để thích ứngvới môi trường mới, yêu cầu mới của xã hội [53], [79].

Tiếp theo là xã hội hóa con người còn có lợi cho cá nhân, thích ứng vớithay đổi của cuộc sống xã hội

Trong quá trình tiến hóa của mình, xã hội loài người yêu cầu các cánhân trong xã hội thích ứng với mọi biến đổi không gian sinh tồn của mình.Trong cuộc sống của mình, đa số con người đều phải trải qua những thay đổi

về môi trường cuộc sống và địa vị xã hội Có người do không thể ứng phóđược những thay đổi này nên thường mắc sai lầm, người khác do trang bị chomình năng lực thích ứng dẻo dai nên đã thành công Có được năng lực thíchứng này là kết quả học tập không ngừng, là quá trình nhận thức, mô phỏng,vận dụng kiến thức xã hội, phong tục tập quán, quy tắc xã hội…

Xã hội hóa thể dục thể thao là chỉ quá trình chuyển đổi trong lĩnh vựctham gia, quản lý và hoạt động thể dục thể thao: từ phương thức Nhà nướchoàn toàn làm thể dục thể thao theo cơ chế kế hoạch tập trung sang phươngthức Nhà nước kết hợp với xã hội cùng làm thể dục thể thao trong cơ chế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa, tiến tới phương thức xã hội làm thể dụcthể thao là chính, Nhà nước chỉ đóng vai trò định hướng chỉ đạo, kiểm soát,ban hành chính sách Thứ hai là, về mặt lý giải từ “hóa” trong cụm từ “xã hộihóa” tuy đều chỉ là một quá trình chuyển đổi, nhưng sự chuyển đổi trong xãhội hóa con người nhấn mạnh tính “giai đoạn của chuyển đổi”, còn sự chuyểntrong xã hội hóa thể dục thể thao lại nhấn mạnh về tính “Mức độ của chuyểnđổi” [20] [43]

Do quản lý thể dục thể thao chuyển từ cơ chế kinh tế kế hoạch tập trungsang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chỉ tồn tại ở một số nước

xã hội chủ nghĩa (như Việt Nam, Trung quốc ), vì vậy khái niệm xã hội hóathể dục thể thao mang tư tưởng xã hội chủ nghĩa tồn tại ở những nước đangtrong giai đoạn tiến lên xã hội chủ nghĩa Xã hội hóa thể dục thể thao là chủtrương lớn, sáng tạo của Đảng và Nhà nước ta được thể hiện trong các kỳ Đại

Trang 30

hội toàn quốc của Đảng Những căn cứ đề xuất của chủ trương xã hội hóa thểdục thể thao và các khái niệm về xã hội hóa thể dục thể thao ở nước ta đãđược nêu tại nhiều văn kiện, tài liệu của Việt Nam [77],[79]

Căn cứ vào các văn bản của Đảng và Nhà nước ta, xã hội hóa các lĩnhvực xã hội được coi là hệ thống giải pháp xã hội bao gồm hai vế: Thứ nhất,vận động và tổ chức tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội; Thứ hai;từng bước nâng cao mức hưởng thụ về vật chất và tinh thần của nhân dân.Phát triển tư tưởng xã hội hóa vào lĩnh vực thể dục thể thao, ta có thể coi: “xãhội hóa thể dục thể thao là hệ thống giải pháp xã hội để vận động, tổ chứcnhân dân và xã hội tham gia phát triển sự nghiệp thể dục thể thao, đồng thờinâng cao mức hưởng thụ thể dục thể thao cho nhân dân và xã hội” Với tưtưởng này, ta có thể coi chủ trương xã hội hóa thể dục thể thao là điểm tựa đểgiúp chuyển đổi cơ chế quản lý thể dục thể thao từ cơ chế kinh tế kế hoạch tậptrung sang cơ chế kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa [33], [34]

1.2 Khái quát lý luận về nhu cầu và nhu cầu tiêu dùng thể dục thể thao.

1.2.1 Lý luận về nhu cầu và tiêu dùng thể dục thể thao

Sản xuất xã hội hiện đại thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa tạo ranhững điều kiện thuận lợi chọn lựa nội dung hoạt động để thỏa mãn nhu cầu

về đời sống vật chất và tinh thần, mở ra những cơ hội để con người thỏa mãnnhu cầu vui chơi giải trí, trong đó nhu cầu tập luyện thể dục thể thao là mộtnhu cầu ngày càng lớn trong xã hội hiện đại

Nguyên nhân sử dụng thể dục thể thao trong lao động và đời sống xãhội hiện đại bởi sản xuất công nghiệp gây nhiều mặt tiêu cực về sức khỏe, thểchất, tinh thần, nhưng song hành cùng với đời sống nâng cao thì thể thao giảitrí lại được xã hội quan tâm hơn bao giờ hết

Trong nền kinh tế sản xuất hàng hóa thì nhu cầu thể dục thể thao đượcquan niệm dưới góc độ kinh tế, nhiều sản phẩm thể dục thể thao đáp ứng nhu

Trang 31

cầu của con người đã được quan niệm là tiêu dùng thể dục thể thao Chính vìvậy tiêu dùng thể dục thể thao là phạm trù kinh tế học đã được xem xét theocác quy luật của kinh tế Thực tế trong 25 năm đổi mới của nước ta đã chỉ ra

sự xuất hiện các loại hình cung ứng dịch vụ thể dục thể thao để thỏa mãn nhucầu tập luyện, vui chơi giải trí cho các lứa tuổi, các đối tượng, các thành phần

xã hội ở nước ta Theo số liệu của ngành Thể dục thể thao năm 2008, tỷ lệngười tập thể dục thể thao thường xuyên đã đạt trên 22,5 % so với tổng dân số

cả nước, trong đó những người đang ở độ tuổi lao động tại các cơ quan nhànước tham gia ngày một nhiều, đặc biệt là trên các địa bàn thành phố Điều đóbắt nguồn từ quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về chăm sóc và bồidưỡng nâng cao chất lượng nguồn lực lao động có tri thức, có sức khoẻ màĐại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (2001) và lần thứ X (2006) đã xác định.[34];[35]

Phong trào rèn luyện thân thể của nhân dân đã chiếm hơn 22,5% dân

số, chưa kể việc tập luyện và học tập môn thể dục trong nhà trường Cácthành phần xã hội khác như doanh nhân, nhà ngoại giao, nhà chính trị - xã hộingười nước ngoài ở Việt Nam cũng có nhu cầu lớn về hoạt động thể dục thểthao Chính vì vậy việc nghiên cứu nhu cầu tập luyện thể dục thể thao dướigóc độ tiêu dùng thể dục thể thao ở nước là hết sức cần thiết Điều đó phảnánh mối quan hệ giữa hoạt động thể dục thể thao với hoạt động kinh tế trongnhững năm đầu của chặng đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta Nghiêncứu nhu cầu tiêu dùng thể dục thể thao trong phạm trù kinh tế học để xác địnhnhững đặc điểm tính chất vận hành cung ứng dịch vụ thể dục thể thao ở nước

ta phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trên cơ sở

đó có những giải pháp về tổ chức, quản lý các hoạt động thể dục thể thaotrong nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội hiện nay [69], [77]

Nhu cầu là một trạng thái tâm lý của con người; là đòi hỏi, mong

muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và pháttriển Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh

lý, mỗi người có những nhu cầu khác nhau

Trang 32

Nhu cầu là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận được.Nhu cầu là yếu tố thúc đẩy con người hoạt động Nhu cầu càng cấpbách thì khả năng chi phối hoạt động theo nhu cầu của con người càng cao.[24]

Theo lý luận của các nhà xã hội học thế kỷ 18-19 thì con người có 2

nhu cầu: vật chất và tinh thần.

Cũng theo các nhà nghiên cứu xã hội học, tâm lý học hiện đại thì nhucầu có 3 cấp độ:

Nhu cầu sinh tồn;

Nhu cầu phát triển;

Nhu cầu hưởng thụ;

Nhu cầu là động lực phát triển, có mục đích mới trở thành động cơ, nhưyếu tố tích cực của tâm lý Nhu cầu thể dục thể thao là loại nhu cầu phát triển

- Tiêu dùng là mục đích và cũng là động cơ của sản xuất hay dịch vụ và

đó là giai đoạn cuối cùng của quá trình lao động sản xuất hay dịch vụ của conngười, sau tiêu dùng tiếp đến tái sản xuất mở rộng sản xuất dịch vụ [69]

Như vậy, nhu cầu tiêu dùng thể dục thể thao gắn liền với nhu cầu tiêudùng xã hội nhằm phục vụ nhu cầu hưởng thụ và phát triển Đồng thời là mụcđích và động cơ của sản xuất dịch vụ trong quá trình lao động sản xuất của

Trang 33

con người tạo ra của cải vật chất và tái tạo nhằm cung cấp cho con người tiêudùng.

1.2.2 Nhu cầu và nhu cầu tiêu dùng thể dục thể thao.

Con người tham gia vào các hoạt động khác nhau, với tư cách là chủ thểhoạt động, đều xuất phát từ nhu cầu của hiện thực Nhu cầu được xem là nhân

tố tiền đề, cơ sở để nảy sinh động cơ hoạt động Nói cụ thể là con người chỉ

có hành động khi thấy có nhu cầu Vậy tham gia hoạt động thể dục thể thaochỉ có được khi có nhu cầu, như vậy: “Nhu cầu là trạng thái tâm lý cá nhânphản ánh sự mong muốn được thỏa mãn một đòi hỏi nào đó liên quan đến sựtồn tại và phát triển”

Cầu - nhu cầu trong phạm trù kinh tế học bao giờ cũng gồm 2 yếu tốhợp thành đó là ý muốn mua và khả năng mua Nếu muốn mua sản phẩm nào

đó nhưng không có tiền thì nhu cầu không thực hiện, hoặc có tiền nhưng sảnphẩm đó không thích thì nhu cầu đó không tồn tại Vậy “cầu đối với hàng hóahoặc dịch vụ chỉ tồn tại khi người tiêu dùng vừa mong muốn và sẵn sàng chitrả cho hàng hóa hay dịch vụ đó” [25]

Phát triển nhu cầu và mức độ thực hiện nhu cầu xã hội đối với thể thaoxét cho cùng vẫn được quyết định nhờ mức độ phát triển sản xuất.Tiêu dùngthể thao thuộc vào loại tiêu dùng phát triển và tiêu dùng hưởng thụ ở tầng cao,cùng với sự phát triển sản xuất của xã hội và sự nâng cao của sức sản xuất,thu nhập của con người cũng tăng lên, tỉ trọng của tiêu dùng thể thao trong cơcấu tiêu dùng cũng sẽ tăng dần lên Như vậy sự phát triển của sức sản xuất vànâng cao hiệu xuất lao động không chỉ làm tăng nhu cầu và sáng tạo thêm sốlượng và chủng loại của sản phẩm tiêu dùng mà còn dẫn đến sự thay đổi trong

cơ cấu tiêu dùng Cùng với sự phát triển của sức lao động và thu nhập củangười dân ngày càng cao, tỉ trọng của hoạt động hưởng thụ và hoạt động pháttriển bao gồm cả thể thao trong cơ cấu tiêu dùng cũng tăng dần tăng lên

Thể dục thể thao có tác dụng tăng cường sức khỏe, phát triển thể chất,vui chơi giải trí tinh thần hoàn toàn phù hợp với nhu cầu của con người ở các

Trang 34

lứa tuổi, giới tính và nghề nghiệp Con người sử dụng thể dục thể thao để giáodục sức khỏe, bồi dưỡng kỹ năng vận động, phát triển thể chất, hạn chế bệnhtật vì vậy, tổ chức hoạt động thể dục thể thao đã thành thiết chế văn hóa xãhội (với hàm ý cả văn hóa, cả giáo dục, giáo dưỡng) Hơn nữa, giá trị của thểdục thể thao chính là giúp con người phát triển về thể lực, tầm vóc, tinh thần,

ý chí để lao động, học tập có kết quả, nhưng hoạt động thể dục thể thao lạiđem đến giá trị về văn hóa, tinh thần, sự thích thú cái đẹp, cái hay thì lại bổsung sự hưởng thụ cho con người Vì vậy, các nhà khoa học xã hội học hiệnđại đã đánh giá thể dục thể thao đáp ứng con người cả về phát triển và hưởngthụ mà sâu xa nhất là phát triển, hoàn thiện toàn diện trí, đức, thể, mỹ, chocon người [54],[55],[56]

Nhiều công trình nghiên cứu khoa học ở nước ngoài và trong nước đãnghiên cứu và chứng minh vai trò, tác dụng của thể dục thể thao trong việcthỏa mãn nhu cầu của con người về: sức khỏe, thể chất, tinh thần và đặc biệtvới thanh thiếu niên thỏa mãn nhu cầu vui chơi giải trí Một trong những nộidung chính của ngành Thể dục thể thao trong nhưng năm đầu bước vào giaiđoạn đổi mới quản lý là Đề án: “Xã hội hóa thể dục thể thao”, Ủy ban Thểdục thể thao (trước đây) nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch luôn luôn coitrọng chỉ đạo và hướng dẫn các hoạt động TDTT theo tinh thần xã hội hóa màĐảng và Nhà nước đã xác định như một chính sách quan trọng trong sựnghiệp đổi mới ở nước ta [77]

Trong thực tế hiện nay, tốc độ phát triển đô thị hóa tại các thành phốlớn trong cả nước, thành phố Hà Nội đi đầu trong việc hiện đại hóa, côngnghiệp hóa trong nhiều lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội, giáo dục y

tế và thể dục thể thao Một bộ phận cán bộ công chức, viên chức và doanhnhân hiện đang góp một phần không nhỏ tạo ra của cải vật chất đem lại sựthịnh vượng cho xã hội Tuy nhiên, việc dành thời gian rảnh rỗi để tham giavào các hoạt động TDTT tập thể và cá nhân thì lại chưa được chú trọng quantâm nhiều Với những cản trở có thể dẫn đến việc không tham gia tập luyệnTDTT thường xuyên được như: thời gian làm việc kéo dài dẫn đến không còn

Trang 35

thời gian để tập luyện TDTT; bận rộn với công việc gia đình (đối với nhữngđối tượng là phụ nữ); các công trình công cộng phục vụ cho việc tập luyệnTDTT chưa đáp ứng được về số lượng cũng như sự thuận tiện tới từng cụmdân cư.

Nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã hệ thống về nhu cầu thamgia tập luyện TDTT, vui chơi giải trí và nghỉ ngơi trong những khoảng thờigian nhàn rỗi (thời gian tự do cá nhân); đặc biệt là trong bộ phận cán bộ côngchức, viên chức và doanh nhân Nhóm nghiên cứu đã tiến hành phỏng vấntrực tiếp đối với cán bộ công chức, viên chức đang công tác đều có mongmuốn được tham gia tập luyện TDTT nhằm tăng cường sức khỏe cho bảnthân nhưng lại có rất nhiều cản trở việc tập luyện TDTT như: không có thờigian nhàn rỗi; địa điểm tập luyện công cộng quá ít và quá xa nơi ở; các điểmdịch vụ mức thu phí quá cao so với thu nhập

Tóm lại, nhu cầu tham gia tập luyện TDTT không nằm ngoài nhữngnhu cầu thông thường được hiện hữu trong đời sống hàng ngày của mỗi conngười Nó trở nên cấp thiết và là điều kiện tiên quyết cho một xã hội pháttriển toàn diện Đặc biệt trong một bộ phận đang là cán bộ công chức, viênchức và doanh nhân, đang tập trung tại các khu đô thị lớn, các trung tâm kinh

tế chính trị và văn hóa của cả nước nói chung, tại khu vực nội thành Hà Nộinói riêng Mức sống càng cao thì đòi hỏi cung ứng dịch vụ công lập và ngoàicông lập cho việc tập luyện TDTT càng cao, phát triển đồng bộ về số lượngcũng như chất lượng phục vụ nhằm thỏa mãn được nhu cầu tập luyện củanhân dân nói chung và của cán bộ công chức, viên chức và doanh nhân nóiriêng

1.3 Tiêu dùng thể dục thể thao

1.3.1 Khái niệm chung

Trên cơ sở nghiên cứu những tài liệu về kinh tế học TDTT, Xã hội họcTDTT đã rút ra được những vấn đề chung về khái niệm tiêu dùng TDTT liênquan đến đề tài nghiên cứu

Trang 36

Theo kinh tế học thể thao, tiêu dùng thể dục thể thao là sử dụng nhữngdịch vụ tập luyện thể dục thể thao để thỏa mãn nhu cầu về tăng cường sứckhỏe, phát triển thể chất, đề phòng và hạn chế bệnh tật cũng như bồi dưỡngphẩm chất , tinh thần: sự năng động, sáng tạo, giao lưu Tiêu dùng thể dục thểthao thuộc loại tiêu dùng dịch vụ đời sống.[20],[21],[23],[25]

Tiêu dùng thể dục thể thao thể hiện ở những loại dịch vụ sau:

- Tập luyện tập luyện thể dục thể thao để tăng cường sức khỏe, hạn chếbệnh tật;

- Xem thể thao (trực tiếp và tường thuật truyền hình);

- Đọc sách, báo về thể dục thể thao;

- Huấn luyện thể thao để nâng cao trình độ kỹ thuật;

- Các hoạt động khác có liên quan tới thể dục thể thao v.v

Như vậy tiêu dùng TDTT rất đa dạng dưới nhiều hình thức khác nhaunhư: tập luyện TDTT; xem thể thao; đọc sách báo về TDTT; huấn luyện thểthao; các hoạt động khác liên quan tới TDTT, nhưng trong phạm vi của đề tàichỉ nghiên cứu về tiêu dùng TDTT thông qua việc tập luyện TDTT để tăngcường sức khỏe và vui chơi giải trí Theo khái niệm và quan điểm của xã hộihọc và kinh tế học thể dục thể thao “Người tiêu dùng dịch vụ tập luyện thểdục thể thao chính là người tập luyện thể dục thể thao”

Người tập thể thao thường xuyên, theo quan điểm của ngành TDTT làtập mỗi tuần ít nhất từ 2 đến 3 lần và mỗi lần từ 30 phút trở lên Đó cũng làmột chỉ tiêu cơ bản trong thống kê về sự phát triển TDTT quần chúng tại cơ

sở [20]

1.3.1.1 Tiêu dùng và tiêu dùng thể dục thể thao

Tiêu dùng là thuật ngữ kinh tế chỉ sử dụng những của cải vật chất hoặcphi vật chất được sáng tạo trong quá trình sản xuất dịch vụ để thỏa mãn nhucầu của xã hội Nhiều trường hợp thuật ngữ tiêu dùng và tiêu thụ được sửdụng đồng nghĩa với nhau để chỉ cụ thể “người tiêu dùng” hoặc “sản phẩm

Trang 37

tiêu thụ” [76] Tiêu dùng là một hành vi rất quan trọng của con người Nóchính là hoạt động nhằm thỏa mãn những nhu cầu vật chất, tinh thần của một

số cá nhân hoặc hộ gia đình nào đó thông qua việc mua sắm và sử dụng cácsản phẩm đó Các sản phẩm này có thể là những hàng hóa hoặc các dịch vụ.[30]

Người tiêu dùng thể dục thể thao: người tiêu dùng thể thao là người sửdụng những sản phẩm vật thể hoặc phi vật thể dưới dạng dịch vụ thể dục thểthao thông qua hình thức trả tiền.[21],[22]

Tiêu dùng thể dục thể thao chỉ chi tiêu của cá nhân trong hoạt động thểthao Tiêu dùng thể dục thể thao không chỉ chi phí mua vé đi xem các trận thiđấu thể thao hay biểu diễn thể thao, mà quan trọng hơn là tham gia các hoạtđộng thể thao cá nhân để tăng cường sức khỏe, nâng cao chất lượng cuộcsống, thúc đẩy phát triển thể lực và trí lực một cách cân đối, hài hòa Tiêudùng TDTT thuộc tiêu dùng cho đời sống, tiêu dùng mang tính cá nhân [21]

Tiêu dùng thể dục thể thao có thể hiểu theo nghĩa hẹp và cũng có thểhiểu theo nghĩa rộng Tiêu dùng thể dục thể thao hiểu theo nghĩa hẹp là tiêuthụ thể dục thể thao cá nhân có liên quan trực tiếp đến hoạt động thể dục thểthao; như mua vé xem thi đấu thể thao, biểu diễn thể thao, tham gia các lớphọc như võ, thẩm mỹ, thể dục; cá nhân đặt mua các thiết bị thể thao, thiết bịthể dục hay trang phục thể thao Tiêu dùng thể dục thể thao theo nghĩa rộng

là tiêu thụ những sản phẩm liên quan thể dục thể thao của cá nhân một cáchtrực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động thể thao Hay nói cách khác, người tiêudùng chi tiêu tiền tệ trực tiếp về thể thao và các chi tiêu khác đi kèm Ví dụ,tham gia các hoạt động thể thao hoặc theo dõi các tiết mục thể thao mà phảichi tiêu một số chi phí như giao thông, ăn ở, thực phẩm đồ uống, thực phẩmtăng lực, báo chí, truyền hình các sự kiện thể thao Tiêu thụ thể thao phải chitiêu một lượng nhất định, là điều kiện tiền đề để mọi người tham gia các hoạtđộng thể thao, cũng là tiền đề và bảo đảm cho sự sinh tồn và phát triển sự

Trang 38

nghiệp thể dục thể thao Đồng thời cũng là cơ sở xã hội hình thành và pháttriển lớn mạnh thị trường tiêu thụ thể thao [69],[21],[22]

Tiêu dùng thể thao là tiêu dùng một loại hình sản phẩm do con ngườisáng tạo ra, tiêu dùng thể thao là hoạt động tiêu dùng cá nhân mà con ngườitheo đuổi nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển và hưởng thụ sau khi đáp ứng nhucầu tiêu dùng sinh tồn cơ bản Đồng thời là hoạt động tiêu dùng cá nhân trongthời gian rảnh rỗi ngoài thời gian hoàn thành công việc Tiêu dùng thể thao làmột bộ phận cấu thành quan trọng trong tiêu dùng vui chơi giải trí và tiêukhiển xã hội, chiếm một vị trí quan trọng trong tiêu dùng thời gian nghỉ ngơi

cá nhân Do đó tiêu dùng thể thao là một bộ phận cấu thành quan trọng trongtiêu dùng đời sống cá nhân Với sự phát triển của nền kinh tế xã hội như hiệnnay, nhu cầu lao động và thời gian nghỉ ngơi được tăng lên thì các hoạt độngthể thao giải trí đang trở thành nhân tố ưu tiên của lối sống văn minh Tài liệukinh tế học TDTT xuất bản năm 2003 đã trích dẫn rằng: trong thế kỷ 20 khiđánh giá quan niệm tiêu thụ xã hội của Mỹ đã nói: thập niên 50 là rượu vàthuốc; thập niên 60 là thuốc phiện; còn thập niên 70 là chạy bộ Khi khái quát vềquan niệm tiêu dùng của phụ nữ Pháp, một nhà xã hội học Pháp đã nói: thậpniên 60 là trang điểm; thập niên 70 là nước hoa; thập niên 80 là thẩm mĩ Vì thế,tiêu dùng thể thao là tiêu dùng vui chơi giải trí của phong cách sống văn minhnhằm nâng cao chất lượng cuộc sống Tiêu dùng thể thao không ngừng pháttriển là biểu hiện của một xã hội tiến bộ và văn minh [22]

3.1.1.2 Hàm tiêu dùng và hàm tiêu dùng thể dục thể thao

Hàm tiêu dùng biểu thị mối quan hệ giữa tổng tiêu dùng và tổng thu nhậpkhả dụng Sự tiêu dùng của dân cư (cá nhân, tập thể…) luôn phụ thuộc vào nhiềuyếu tố như:

- Thu nhập (tiền công, tiền lương….);

- Của cải, tài sản vật chất, tiền bạc…;

- Các yếu tố xã hội như tâm lý, thói quen, tập quán…;

Trang 39

Trong ba nhóm yếu tố đó thì thu nhập có vai trò quan trọng và quyết địnhđến tiêu dùng hơn cả [2],[30],[75]

Từ cơ sở lý luận trên thì tiêu dùng thể dục thể thao có đặc điểm riêng nữa

là tiêu dùng thời gian, bởi tiêu dùng dịch vụ thể dục thể thao như tập luyện,thưởng thức xem, thi đấu… chi dùng rất nhiều thời gian [21],[22]

Vì vậy nghiên cứu về tiêu dùng thể dục thể thao các nhà khoa học bao giờcũng đề cập đến yếu tố “thời gian tự do” mà con người có được Hay nói cáchkhác đó là cách thức tiêu dùng, người ta dự tính tiêu dùng sản phẩm hàng hóahay dịch vụ dựa trên thu nhập có tính lâu dài hay ngắn hạn Tiêu dùng còn do sởthích quyết định sẵn sàng chi tiền để tiêu dùng và sở thích có quan hệ thuậnchiều với nhau [30] Thời gian tự do có thể không sử dụng vào tiêu dùng thểthao mà thay thế bằng những tiêu dùng văn hóa, văn nghệ…

Trên đây là một số khái niệm kinh tế liên quan chặt chẽ tới quá trìnhnghiên cứu của đề tài

1.3.2 Loại hình và phân loại nội dung tiêu dùng thể dục thể thao

Loại hình tiêu dùng thể dục thể thao

Trong thuật ngữ kinh tế thể dục thể thao gồm 2 loại hình: tiêu dùng vậtdụng TDTT và tiêu dùng dịch vụ TDTT Trong đề tài nghiên cứu này chủ yếu

đề cập tiêu dùng sản phẩm phi vật chất thể dục thể thao (sản phẩm dịch vụTDTT)

Xuất phát từ chức năng khác nhau trong việc đáp ứng nhu cầu tiêu thụcủa người tiêu dùng, tiêu dùng thể thao có thể phân loại như sau:

- Tiêu dùng vật dụng thể dục thể thao có liên quan đến hoạt động thểthao dưới sự tồn tại hình thái sản phẩm vật chất như thiết bị thể thao, trangphục thể thao, thực phẩm dành cho thể thao, đồ uống, tranh ảnh sách báo tạpchí thể thao Tiêu dùng thể thao hiện vật nhằm đáp ứng nhu cầu tham gia hoạtđộng thể thao của người tiêu dùng, trong đó các vật dụng có tác dụng phòng

hộ hay có tác dụng là một thiết bị, công cụ thể thao như các loại thiết bị hoạt

Trang 40

động hay trang phục thể thao Thông thường chức năng của nội dung tiêudùng thể thao không thể thay thế cho nhau, do đó ranh giới chức năng giữachúng rất rõ ràng, ví dụ như quả bóng chuyền, quả bóng bàn, bóng Tennis,quả cầu lông Nhưng một số chức năng của nội dung, đối tượng tiêu dùngthể thao không có gì khác biệt so với chức năng các loại tiêu dùng sinh hoạthàng ngày Trang phục thể thao, giầy thể thao được dùng trong tập luyện thểthao nhưng có thể dùng trong sinh hoạt hàng ngày, như vậy chức năng tiêudùng thể thao và chức năng tiêu dùng sinh hoạt có thể thay đổi lẫn nhau.

- Tiêu dùng dịch vụ thể thao dưới sự tồn tại của hình thái hoạt động, nóđáp ứng nhu cầu tiêu dùng thể thao của người tiêu dùng theo phương thứchoạt động dịch vụ nhất định Như các hoạt động tư vấn sức khỏe, biểu diễnthể thao, thi đấu thể thao, tập luyện TDTT [21],[23]

Phân loại nội dung tiêu dùng thể dục thể thao

Tiêu dùng thể dục thể thao mang hàm ý rất rộng bởi ngày nay TDTT đãphát triển đa dạng cả nội dung, hình thức, phương pháp mà con người sử dụng

để thỏa mãn ý muốn khác nhau trong tiêu dùng đời sống Vì vậy, phân loạitiêu dùng TDTT phải dựa trên tiêu chí tính chất sử dụng trong quá trình tiêuthụ Trong kinh tế học TDTT trình bày một số loại hình tiêu dùng TDTT chủyếu dưới đây:

+ Tiêu dùng thể thao mang tính thưởng thức:

Tiêu dùng thể thao mang tính thưởng thức chỉ các hoạt động tiêu dùng

mà người tiêu dùng dùng tiền mua các loại vé với mục đích thỏa mãn nhu cầuthưởng thức Ví dụ như các loại thi đấu thể thao, biểu diễn thể thao, triển lãmthể thao và các phim ảnh có liên quan đến thể thao, đồng nghĩa với ý này còn

là đọc báo chí, xem phim ảnh chủ yếu về các hoạt động TDTT Người tiêudùng thể thao mang tính thưởng thức đại bộ phận đều là những người hâm mộ

và theo tính chất từng môn thể thao có nhu cầu thưởng thức khác nhau

+ Tiêu dùng thể thao mang tính vật dụng:

Ngày đăng: 19/04/2014, 00:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. A.A. Mikulin (2000), Sự sống lâu tích cực, Nxb TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự sống lâu tích cực
Tác giả: A.A. Mikulin
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 2000
2. Vũ Đình Bách và cộng sự (2000), Những vấn đề cơ bản về Kinh tế vĩ mô.Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản về Kinh tế vĩ mô
Tác giả: Vũ Đình Bách và cộng sự
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2000
3. Báo cáo chính trị Đại hội Đảng lần thứ IV (1997), Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị Đại hội Đảng lần thứ IV
Tác giả: Báo cáo chính trị Đại hội Đảng lần thứ IV
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1997
4. Đặng Quốc Bảo, Chấn thương và các bài tập hồi phục, Nxb TDTT Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chấn thương và các bài tập hồi phục
Nhà XB: Nxb TDTT HàNội
5. Đỗ Thị Bình, Lê Ngọc Văn, Nguyễn Linh Khiếu (2002), Gia đình Việt Nam và người phụ nữ trong các gia đình thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình ViệtNam và người phụ nữ trong các gia đình thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đạihóa đất nước
Tác giả: Đỗ Thị Bình, Lê Ngọc Văn, Nguyễn Linh Khiếu
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2002
6. Phan Đức Bình (2003), Hãy vận động để bảo vệ sức khỏe, Thuốc và Sức khỏe, 249, Tr 6-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hãy vận động để bảo vệ sức khỏe
Tác giả: Phan Đức Bình
Năm: 2003
10. Phạm Đình Bẩm, Đặng Đình Minh (1998), Giáo trình quản lý TDTT, Nxb Hà Nội tr.30, 39-50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản lý TDTT
Tác giả: Phạm Đình Bẩm, Đặng Đình Minh
Nhà XB: NxbHà Nội tr.30
Năm: 1998
11. Phạm Đình Bẩm (2003), Quản lý chuyên ngành TDTT (tài liệu chuyên khảo dùng cho hệ Trung học và Đại TDTT), Nxb Hà Nội, Tr. 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý chuyên ngành TDTT
Tác giả: Phạm Đình Bẩm
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2003
12. Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban TDTT, Quy chế tổ chức và hoạt động của CLB TDTT cơ sở (Ban hành theo Quyết định số 1589/2003/QĐ-UBTDTT ngày 19/9/2003) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế tổ chức và hoạt động củaCLB TDTT cơ sở
14. Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp (1977), Tài liệu giảng dạy Thể dục thể thao, Tập 1, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu giảng dạy Thểdục thể thao
Tác giả: Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Nhà XB: Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1977
15. Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp (1979), Tài liệu giảng dạy Thể dục thể thao, Tập 2, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu giảng dạy Thểdục thể thao
Tác giả: Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Nhà XB: Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1979
16. Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp (1980), Tài liệu giảng dạy Thể dục thể thao, Tập 3, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu giảng dạy Thểdục thể thao
Tác giả: Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Nhà XB: Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1980
17. Vương Cang (Trung Quốc), “Giá trị thực tiễn của thể dục thể thao trong thời đại tri thức kinh tế ”, Thông tin Khoa học TDTT, số 16, Viện Khoa học TDTT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị thực tiễn của thể dục thể thao trongthời đại tri thức kinh tế ”, "Thông tin Khoa học TDTT
19. Dương Nghiệp Chí (1991), Đo lường thể thao, Nxb TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đo lường thể thao
Tác giả: Dương Nghiệp Chí
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 1991
20. Dương Nghiệp Chí, Lương Kim Chung (2001), Xã hội học thể dục thể thao, Nxb TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học thể dục thểthao
Tác giả: Dương Nghiệp Chí, Lương Kim Chung
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 2001
21. Dương Nghiệp Chí, Lương Kim Chung (2003), Kinh tế học Thể dục thể thao, Nxb TDTT Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học Thể dục thểthao
Tác giả: Dương Nghiệp Chí, Lương Kim Chung
Nhà XB: Nxb TDTT Hà Nội
Năm: 2003
22. Dương Nghiệp Chí, Lương Kim Chung, Lê Tấn Đạt (2008), Thể dục thể thao giải trí, Nxb TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thể dục thểthao giải trí
Tác giả: Dương Nghiệp Chí, Lương Kim Chung, Lê Tấn Đạt
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 2008
23. Dương Nghiệp Chí (2009) “Thể dục thể thao phục vụ an sinh xã hội”, Tạp chí Khoa học TDTT, số 1, Viện Khoa học TDTT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thể dục thể thao phục vụ an sinh xã hội”,"Tạpchí Khoa học TDTT
24. Nguyễn Đình Chính (1999), Tâm lý học xã hội, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học xã hội
Tác giả: Nguyễn Đình Chính
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
25. Lương Kim Chung, Trần Hiếu (2010), Kinh tế học Thể dục thể thao, Nxb TDTT Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học Thể dục thể thao
Tác giả: Lương Kim Chung, Trần Hiếu
Nhà XB: NxbTDTT Hà Nội
Năm: 2010

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Hiện trạng nghề nghiệp và sự lựa chọn môn thể thao (n= 861)                 Môn thể thao - Nghiên cứu tình hình tiêu dùng tập luyện thể dục thể thao của cán bộ công chức, viên chức, doanh nhân ở thành phố Hà Nội
Bảng 3.1. Hiện trạng nghề nghiệp và sự lựa chọn môn thể thao (n= 861) Môn thể thao (Trang 70)
Bảng 3.3. Số buổi tập thể thao trong tuần - Nghiên cứu tình hình tiêu dùng tập luyện thể dục thể thao của cán bộ công chức, viên chức, doanh nhân ở thành phố Hà Nội
Bảng 3.3. Số buổi tập thể thao trong tuần (Trang 72)
Bảng 3.4. Thời điểm tập luyện thể thao trong ngày - Nghiên cứu tình hình tiêu dùng tập luyện thể dục thể thao của cán bộ công chức, viên chức, doanh nhân ở thành phố Hà Nội
Bảng 3.4. Thời điểm tập luyện thể thao trong ngày (Trang 73)
Bảng 3.6. Thời gian đã tham gia tập luyện TDTT thường xuyên (n = 861) - Nghiên cứu tình hình tiêu dùng tập luyện thể dục thể thao của cán bộ công chức, viên chức, doanh nhân ở thành phố Hà Nội
Bảng 3.6. Thời gian đã tham gia tập luyện TDTT thường xuyên (n = 861) (Trang 75)
Bảng 3.5. Thời  lượng một buổi tập của đối tượng điều tra (n = 861) TT - Nghiên cứu tình hình tiêu dùng tập luyện thể dục thể thao của cán bộ công chức, viên chức, doanh nhân ở thành phố Hà Nội
Bảng 3.5. Thời lượng một buổi tập của đối tượng điều tra (n = 861) TT (Trang 75)
Bảng 3.8. Những yếu tố có tính chủ quan quyết định tham gia tập luyện TDTT (n = 386) - Nghiên cứu tình hình tiêu dùng tập luyện thể dục thể thao của cán bộ công chức, viên chức, doanh nhân ở thành phố Hà Nội
Bảng 3.8. Những yếu tố có tính chủ quan quyết định tham gia tập luyện TDTT (n = 386) (Trang 81)
Bảng 3.9.  Những yếu tố có tính khách quan quyết định tham gia tập luyện TDTT (n = 475) - Nghiên cứu tình hình tiêu dùng tập luyện thể dục thể thao của cán bộ công chức, viên chức, doanh nhân ở thành phố Hà Nội
Bảng 3.9. Những yếu tố có tính khách quan quyết định tham gia tập luyện TDTT (n = 475) (Trang 83)
Bảng 3.11. Giá và chi phí tiêu dùng theo môn thể thao  (n=861) - Nghiên cứu tình hình tiêu dùng tập luyện thể dục thể thao của cán bộ công chức, viên chức, doanh nhân ở thành phố Hà Nội
Bảng 3.11. Giá và chi phí tiêu dùng theo môn thể thao (n=861) (Trang 86)
Bảng 3.12. Tỉ lệ % chi phí tập TDTT so với lương cơ bản (tháng)               Đối tượng - Nghiên cứu tình hình tiêu dùng tập luyện thể dục thể thao của cán bộ công chức, viên chức, doanh nhân ở thành phố Hà Nội
Bảng 3.12. Tỉ lệ % chi phí tập TDTT so với lương cơ bản (tháng) Đối tượng (Trang 89)
Bảng  3.13. Tình hình cung ứng dịch vụ  sân bãi tập luyện  Trung tâm Thể thao Ba Đình - Nghiên cứu tình hình tiêu dùng tập luyện thể dục thể thao của cán bộ công chức, viên chức, doanh nhân ở thành phố Hà Nội
ng 3.13. Tình hình cung ứng dịch vụ sân bãi tập luyện Trung tâm Thể thao Ba Đình (Trang 100)
Bảng  3.14. Tình hình cung ứng dịch vụ  sân bãi tập luyện cơ sở công lập (n=7) - Nghiên cứu tình hình tiêu dùng tập luyện thể dục thể thao của cán bộ công chức, viên chức, doanh nhân ở thành phố Hà Nội
ng 3.14. Tình hình cung ứng dịch vụ sân bãi tập luyện cơ sở công lập (n=7) (Trang 102)
Bảng 3.15. Tình hình cung ứng dịch vụ  sân bãi tập luyện cơ sở ngoài công lập (tư nhân) - Nghiên cứu tình hình tiêu dùng tập luyện thể dục thể thao của cán bộ công chức, viên chức, doanh nhân ở thành phố Hà Nội
Bảng 3.15. Tình hình cung ứng dịch vụ sân bãi tập luyện cơ sở ngoài công lập (tư nhân) (Trang 102)
Bảng 3.18. Số lần tổ chức các cuộc thi đấu trong năm môn Bóng bàn - Nghiên cứu tình hình tiêu dùng tập luyện thể dục thể thao của cán bộ công chức, viên chức, doanh nhân ở thành phố Hà Nội
Bảng 3.18. Số lần tổ chức các cuộc thi đấu trong năm môn Bóng bàn (Trang 106)
Bảng 3.19. Kết quả đánh giá về môi trường cung cấp dịch vụ  (n = 156) - Nghiên cứu tình hình tiêu dùng tập luyện thể dục thể thao của cán bộ công chức, viên chức, doanh nhân ở thành phố Hà Nội
Bảng 3.19. Kết quả đánh giá về môi trường cung cấp dịch vụ (n = 156) (Trang 108)
Bảng 3.20. Dịch vụ tập TDTT của cơ sở tập luyện công lập (n = 85) - Nghiên cứu tình hình tiêu dùng tập luyện thể dục thể thao của cán bộ công chức, viên chức, doanh nhân ở thành phố Hà Nội
Bảng 3.20. Dịch vụ tập TDTT của cơ sở tập luyện công lập (n = 85) (Trang 112)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w