Con đường đấu tranh giành độc lập dân tộc của Malaya (từ cuối thế kỉ XIX đến năm 1957)
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-LÝ TƯỜNG VÂN
CON ĐƯỜNG ĐẤU TRANH GIÀNH ĐỘC LẬP DÂN TỘC CỦA MALAYA
TỪ CUỐI THẾ KỈ XIX ĐẾN NĂM 1957
Chuyên ngành: Lịch sử Thế giới cận đại và hiện đại
Trang 3Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan: Luận án này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả và số liệu được nêu trong luận án là trung thực Những kết luận của Luận án chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả Luận án
Lý Tường Vân
Trang 4Lời cảm ơn
Tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TSKH Trần Khánh, TS Vũ Công Quý - hai người thầy trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện Luận án và GS Vũ Dương Ninh - người thầy không chỉ ủng hộ ý tưởng khoa học của tôi ngay từ những ngày đầu tôi lựa chọn đề tài này mà còn chia sẻ với tôi các tư liệu nghiên cứu liên quan đến Luận án, cùng nhiều thầy cô giáo khác đã cho tôi những góp ý quí báu về chuyên môn.
Chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, bạn bè đồng nghiệp ở Khoa Lịch
sử - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Viện Nghiên cứu Đông Nam
Á - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, Khoa Sử học - Học viện Khoa học
Xã hội đã quan tâm, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình tôi học tập và nghiên cứu.
Tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Viện Nghiên cứu Châu Á (Asia Research Institute) - Đại học Quốc gia Singapore (National University of Singapore) đã cho tôi cơ hội được đến học tập và nghiên cứu tại Singapore và Malaysia Tại hai đất nước này, những cơ quan tôi đến làm việc như Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (Institute of Southeast Asian Studies), Lưu trữ Quốc gia Singapore (National Archives of Singapore), Thư viện Quốc gia Singapore, Thư viện Đại học Quốc gia Singapore và Lưu trữ Quốc gia Malaysia (Arkib Negara - National Archives of Malaysia)… đã luôn tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi, giúp tôi hoàn thành bản Luận án này
Quĩ Sumitomo là nơi tôi được hợp tác trong các năm 2011-2012, không chỉ cho phép tôi được trao đổi về chuyên môn khi thực hiện Đề tài “The Japanese occupation of Malaya (1941-1945) and its impact on the development
of Malay political consciousness” mà nguồn tài trợ của Quĩ đã cho tôi điều kiện tài chính để tôi có thể thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu thực địa của mình tại Malaysia và Singapore.
Tôi gửi tới gia đình và bạn bè lời biết ơn sâu sắc nhất về mọi sự cảm thông, sẻ chia và khích lệ
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ……… i
DANH MỤC BẢN ĐỒ VÀ BẢNG BIỂU ……… ii
MỞ ĐẦU ……… 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ ………
1.1 Tình hình nghiên cứu ở trong nước ………
1.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài ………
Nhận xét 10 10 14 25 Chương 2: MALAYA DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH THỰC DÂN CỦA ANH (CUỐI THẾ KỈ XIX - ĐẦU THẾ KỈ XX) 27 2.1 Từ Vương quốc Hồi giáo Malacca đến thuộc địa Malaya của Anh 27
2.1.1 Hồi quốc Malacca và những thế kỉ đầu tiếp xúc với phương Tây (1400-1786) ………
27 2.1.2 Malaya trở thành thuộc địa của Anh (1786-1914) ………… 31
2.1.2.1 Thành lập Khu định cư Eo biển (Straits Settlements) ……… 32
2.1.2.2 Quá trình mở rộng can thiệp vào các tiểu quốc Malay và củng cố chế độ cai trị ở Malaya ……… 33
2.2 Tác động của chính sách thực dân của Anh ở Malaya………. 40
2.2.1 Biến đổi cơ cấu kinh tế với vai trò chủ thể của ngoại kiều ……… 40
2.2.2 Hình thành xã hội đa tộc người và các nguyên nhân mâu thuẫn tộc người 43 2.2.3 Sự phát triển của đội ngũ trí thức người Malay ……… 47
2.2.4 Sự phát triển của báo chí bản địa ……… 53
Tiểu kết chương 2 ……… 56
Chương 3: PHONG TRÀO DÂN TỘC CỦA NGƯỜI MALAY TRONG NHỮNG NĂM GIỮA HAI CUỘC CHIẾN TRANH THẾ GIỚI ……… 58
3.1 Những yếu tố tác động ……… 59
3.2 Phong trào cải cách dưới sự dẫn đường của đội ngũ trí thức tôn giáo 64
3.3 Nhóm trí thức chịu ảnh hưởng của nền giáo dục Anh và phong trào đấu tranh vì “Quyền đặc biệt” của người Malay ………… …… 69
3.4 Phong trào dân tộc dưới sự lãnh đạo của nhóm trí thức cấp tiến … 75
Tiểu kết chương 3 ……… 83
Chương 4: CON ĐƯỜNG ĐẤU TRANH GIÀNH ĐỘC LẬP DÂN TỘC CỦA MALAYA (TỪ SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI II ĐẾN NĂM 1957) 8 5
Trang 64.1 Tác động của giai đoạn Nhật Bản chiếm đóng Malaya (1942-1945) … 85
4.1.1 Tầm quan trọng của Malaya trong chiến lược Đại Đông Á của Nhật Bản … 85 4.1.2 Chính sách Quân sự hóa và Nhật Bản hóa xã hội Malaya ……… 86
4.1.2.1 Chính sách Quân sự hóa xã hội Malaya ……… 86
4.1.2.2 Nhật Bản hóa xã hội Malaya thông qua các chính sách văn hóa, giáo dục ……… 88
4.1.3 Sự chuyển biến ý thức chính trị của người Malay ……… 90
4.2 Malaya ngay sau Chiến tranh thế giới II: Chính sách của Anh và tình trạng phân cực của nền chính trị Malaya ……… 96
4.2.1 Bối cảnh quốc tế thời hậu chiến ……… 96
4.2.2 Từ “Liên hiệp Malaya” đến “Liên bang Malaya” và vai trò của Tổ chức Dân tộc Thống nhất Malay ……… 97
4.2.3 Đảng Cộng sản Malaya và “Tình trạng Khẩn cấp” ……… 107
4.2.4 Đảng Dân tộc Malay và sự kết thúc lý tưởng “Indonesia Raya” …… 110
4.3 Đảng Liên minh đấu tranh giành độc lập dân tộc 115 4.3.1 Quan điểm mới trong chính sách thuộc địa Malaya của chính quyền Anh từ cuối thập niên 1940 ……… 115
4.3.2 Từ những thử nghiệm với ý tưởng “phi cộng đồng” đến sự hình thành Liên minh UMNO - MCA - MIC ……… 119
4.3.2.1 Cuộc thử nghiệm trên quan điểm của người Anh với “Ủy ban Liên lạc các cộng đồng” ……… 121
4.3.2.2 Cuộc thử nghiệm trên quan điểm của người Malay với “Tổ chức Dân tộc thống nhất Malay” và “Đảng Malaya Độc lập” ………… 122
4.3.2.3 Hình thành Liên minh UMNO - MCA - MIC … 123
4.3.3 Đảng Liên minh đàm phán độc lập ……… 130
4.4 Một số nhận xét ……… 137
4.4.1 Về phhía thực dân Anh ……… 137
4.4.2 Về phía người Malay/Malaya……… 138
4.4.3 Về sự lựa chọn khác nhau các con đường đấu tranh giành độc lập dân tộc 140 KẾT LUẬN 146
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ 152
TÀI LIỆU THAM KHẢO 153
PHỤ LỤC 167
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
API - Angkatan Pemuda Insaf (Youth for
Justice Corps)
Đội quân thanh niên vì công lý
BMA - British Military Administration Chính quyền quân sự Anh
CLC - Communities Liaison Committee Ủy ban Liên lạc các cộng đồngEIC - British East India Company Công ty Đông Ấn Anh
FMS (Federation of Malay States) Liên bang các bang Malay
IMP - Independence of Malaya Party Đảng Malaya Độc lập
KMM - Kesatuan Malayu Muda (The Union
of Malay Youths)
Liên hiệp Thanh niên Malay
KMS - Kesatuan Melayu Singapura Hiệp hội người Malay SingaporeKMT - Koumintang Malaya Quốc Dân Đảng (Malaya)
MCA - Malayan Chinese Association) Hiệp hội người Hoa Malaya MCP - Malayan Communist Party Đảng Cộng sản Malaya
MIC - Malayan Indian Congress Đại hội Ấn kiều Malaya
MMA - Malayan Military Administration Chính quyền quân sự Malaya MNP - Malay National Party Đảng Dân tộc Malay
MPAJA - Malayan People’s Anti-Japanese
Army
Quân đội nhân dân Malaya kháng Nhật
NAM – National Archives of Malaya Lưu trữ Quốc gia Malaya
NAS - National Archives of Singapore Lưu trữ Quốc gia Singapore PETA - Pembela Tanahair (Defenders of the
Motherland)
Đội quân bảo vệ đất mẹ
PNI - Parti Nasional Indonesia Đảng Dân tộc Indonesia
SITC - Sultan Idris Training College Trường Cao đẳng Sư phạm Sultan
Idris
SS - Straits Settlements Khu định cư Eo biển
UMNO - United Malays National
Organization
Tổ chức Dân tộc Thống nhất Malay
UMS - Un-Federated Malay States Các bang Malay ngoài Liên bangVOC - Vereenigde Oostindische Compagnie Công ty Đông Ấn Hà Lan
Trang 8DANH MỤC BẢN ĐỒ VÀ BẢNG BIỂU
Trang
Quá trình bành trướng thuộc địa của Anh ở bán đảo Malaya (1786 - 1914) 169
Bảng 2.3: Tương quan dân số giữa các cộng đồng tộc người ở UMS 172Bảng 2.4: Tỉ lệ người Malay và người Hoa, người Ấn ở UMS (%) 172Bảng 2.5: Số liệu phản ánh tình hình kinh tế ở các bang UMS 173
Bảng 2.6: Số lượng trường Malay ở Liên bang các bang Malay (1901 - 1931) 173Bảng 2.7: Tổng số học sinh được tuyển vào các trường Anh ở FMS 174
Trang 9Bản đồ Liên bang Malaysia ngày nay
Trang 10Bản đồ Malaya thời kì thuộc Anh
MỞ ĐẦU
Trang 111 Lý do chọn đề tài
Quá trình lịch sử của Malaya/Malaysia dường như chịu ảnh hưởng bởi yếu
tố địa lý mạnh hơn bất cứ yếu tố nào khác, đặc biệt dưới thời kì cận đại của lịch
sử thế giới Với eo Malacca giữ vị trí địa chiến lược trên con đường hàng hải từ
Ấn Độ Dương sang Thái Bình Dương, vương quốc Malacca nhanh chóng đượchình thành và phát triển thành một trung tâm thương mại xuất nhập khẩu hàngđầu thế giới với các nguồn thương phẩm đặc biệt hấp dẫn Tuy nhiên, chính sự
hấp dẫn đó lại là lý do khiến cho bán đảo Malaya được ví như một “cánh cửa
kỉ Có thể so sánh điều này với một số quốc gia khu vực: Trong khi Inđônêsia chỉ
là thuộc địa của Hà Lan, Đông Dương luôn là thuộc địa của Pháp, Mianma và Ấn
Độ là các thuộc địa của Anh trong nhiều thế kỉ, Philippin trở thành thuộc địa của
Mĩ cho đến khi độc lập hoàn toàn sau 300 năm dưới ách thống trị của Tây BanNha, thì trường hợp Malaya có thể được xem như là một ngoại lệ Bồ Đào Nha làthực dân châu Âu đầu tiên bước vào “cánh cửa” này vào năm 1511, cai trịMalacca trong suốt 130 năm Hà Lan thay thế Bồ Đào Nha ở Malacca từ năm
1641 Năm 1795, nhân cơ hội được tạm quyền sở hữu Malacca, Anh đã tiến lênloại bỏ hoàn toàn quyền lực Hà Lan ra khỏi bán đảo Hiệp ước Anh - Hà Lan năm
1824 phân “thế giới Malay” ra thành Inđônêsia thuộc Hà Lan và bán đảo Malaya
thuộc Anh Hơn 130 năm tiếp theo, Malaya tồn tại dưới cái tên “Malaya thuộc
Anh” - “British Malaya”
Nhận thức đầu tiên về Malaysia là nhận thức như thế về lịch sử đầy biếnđộng của vùng bán đảo ở thời kì cận đại, nhưng khi bắt tay vào nghiên cứu đấtnước này từ năm 2002, tôi lại lựa chọn những vấn đề hiện đại: cho Luận văn
Thạc sĩ là Chính sách Kinh tế mới và vấn đề hòa hợp dân tộc ở Malaysia
(1971-1990), cho hai đề tài nghiên cứu khoa học (cấp Trường là Vấn đề Hồi giáo trong chính sách dân tộc của Malaysia (1957-2000) và cấp Đại học Quốc gia vẫn với
vấn đề nghiên cứu trên nhưng thời gian nghiên cứu được kéo dài từ 1957 đến
2010) Mặc dù luôn nhận được sự đánh giá cao đối với các kết quả nghiên cứu
nhưng bản thân tôi vẫn chưa thực sự thỏa mãn bởi cảm giác chưa đi đến tận cùngcủa vấn đề khi giải quyết mối liên hệ giữa xã hội Malaysia hiện đại với xã hội
1 “revolving door” - từ dùng của Henri P Frei trong “Malaya in World War II - The Revolving Door of Colonialism” http://www.tsukuba-g.ac.jp/library/kiyou/2001/3.FREI.pdf
Trang 12Malaya truyền thống, di sản từ quá khứ, nhất là quá khứ thuộc địa đã tác động ởmức độ nào đối với xã hội đương đại Malaysia.2 Đó là lý do ban đầu nhất đưa tôi
ngược trở lại tiến trình lịch sử của Malaysia, lựa chọn giai đoạn “thuộc Anh” củaMalaysia làm vấn đề nghiên cứu cho Luận án Tiến sĩ của mình
Mặt khác, trong các nội dung của giai đoạn thuộc địa, tôi lại lựa chọn vấn
đề con đường đấu tranh giành độc lập dân tộc - một vấn đề bấy lâu nay không dễ
lý giải ngay cả với chính người Malaya và do đó vấn đề này ở Việt Nam vẫnchưa được nhìn nhận, đánh giá đúng với bản chất của nó mà thường bị gộp vàovới các phong trào có nhiều điểm tương đồng Hơn thế, “Ý chí luận” một thờikhiến chúng ta máy móc khi cho rằng các dân tộc thuộc địa chỉ có thể giành độclập thực sự khi nó thông qua con đường đấu tranh bạo lực do giai cấp vô sản lãnhđạo Sẽ bị cho là không triệt để hoặc tiếp tục phụ thuộc vào chủ nghĩa tư bản nếuphong trào dân tộc diễn ra dưới sự lãnh đạo của giai cấp tư sản và đi theo conđường tư bản chủ nghĩa Nay, quan điểm của chúng ta đang ngày càng kháchquan hơn Trên cơ sở đó, phải thừa nhận rằng giải phóng dân tộc gắn với cáchmạng vô sản là hoàn toàn đúng đắn và phù hợp với bối cảnh Việt Nam từ đầu thế
kỉ XX, nhưng đó không phải là con đường chung cho tất cả các dân tộc thuộc địa.Con đường đi đến độc lập của Malaya như đã được thừa nhận bấy lâu nay là conđường dân chủ tư sản, con đường đấu tranh ôn hòa Nhưng đó mới chỉ là xét vềhình thức, xét về mặt bản chất, xã hội Malaya có rất nhiều lý do chi phối quátrình lựa chọn và tiến hành con đường đấu tranh của mình nhưng lại chưa đượclàm sáng tỏ Bởi vậy, vấn đề này nên được nghiên cứu, lý giải
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Trong bối cảnh cả nhân loại tiến bộ đang lấy thập kỉ 2011-2020 là thập kỉ
2 Chính Thủ tướng Malaysia Mahathir Mohammad trong The Malay Dilemma (tạm dịch là Thế tiến thoái
lương nan của người Malay) được xuất bản ngay sau cuộc xung đột giữa hai dân tộc Malay - Hoa lớn
nhất trong lịch sử Malaysia tháng 5/1969, ông đã đổ lỗi cho các chính sách thực dân của Anh trong thời kì
thuộc địa là căn nguyên của tình trạng xã hội hiện tại của Malaysia
3 Khóa họp này thông qua 12 Nghị quyết về Phi thực dân hóa, kêu gọi các nước thành viên Liên Hợp Quốc tăng cường các biện pháp tập thể, thúc đẩy các bên có liên quan nỗ lực hành động để kết thúc tiến trình phi thực dân hoá đối với các vùng lãnh thổ còn lại trên thế giới hiện vẫn là thuộc địa hay nằm dưới quyền ủy trị của các nước khác Như vậy, dù đã qua hơn hai thập kỉ quốc tế nỗ lực thực hiện phi thực dân hóa nhưng tiến trình xem ra vẫn rất trì trệ nếu so sánh với khoảng thời gian gần 5 thập kỉ trước (từ năm 1961 đến năm 2009) với khoảng 750 triệu người trên 80 vùng lãnh thổ một thời là thuộc địa đã giành được độc lập, được hưởng các quyền tự do và tự quyết chính đáng Theo www.vietnamplus.vn/Home/LHQ-thong-qua-12-nghi-quyet-ve- chu-nghia-thuc-dan/201010/64078.vnplus và www.vietnamplus.vn/Home/Can-ket-thuc-nhanh-qua-trinh- phi-thuc-dan-hoa/200910/20057.vnplus
Trang 13và Phi thực dân hóa tại phiên họp thứ 65 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc năm
2010, đứng từ góc độ lịch sử có thể nhận thấy tầm quan trọng của việc đặt lạinhững vấn đề liên quan đến chủ nghĩa thực dân, quá trình thực dân hóa, phi thựcdân hóa, hay vấn đề đấu tranh giành độc lập dân tộc - những vấn đề tưởng như làrất cũ nhưng đến nay vẫn có tính thời sự và ý nghĩa khoa học Cũng khoảng năm
2007, 2008 Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt
Nam trong chương trình biên soạn bộ Lịch sử Đông Nam Á đã triển khai Đề tài
“Đông Nam Á trong thời kì thuộc địa và phong trào đấu tranh giành độc lập (từcuối thế kỉ XVI đến năm 1945)” Nhìn chung, các tác giả và các nhà thẩm định
đề tài đều có chung một nhận định: thời kỳ thuộc địa của Đông Nam Á là thời kìhết sức quan trọng trong toàn bộ tiến trình lịch sử khu vực bởi nó không chỉ gắnvới các mối quan hệ quốc tế trong quá khứ, hiện tại và tương lai mà nó còn gắnvới nhiều vấn đề có tầm ảnh hưởng lớn, thậm chí tác động và chi phối trực tiếpđến đặc điểm và khuynh hướng phát triển của từng quốc gia trong khu vực Hơn nữa, trong thời kì thuộc địa của Đông Nam Á, Malaya lại được coi làmột trường hợp khá đặc biệt bởi vì người ta vẫn thường cho rằng, trước Chiếntranh thế giới II “người Malay là tộc người ít quan tâm đến chính trị nhất trong sốcác tộc người ở Đông Nam Á” [34, tr.1182] Ở Malaya hoàn toàn không có khái
niệm “người Malaya” mà chỉ có “người Malay”, “người Hoa” và “người Ấn
Độ”, ngay bản thân “người Malay” cũng không thể tồn tại với tư cách là một
cộng đồng thống nhất, do đó cũng không tồn tại khái niệm “quốc gia Malaya”
mà chỉ có các tiểu quốc của người Malay (sau này là các bang Malay), mà nếu có(vào cuối thập niên 1930) thì nó cũng chỉ được hiểu là “quốc gia của ngườiMalay” Tình hình đó đưa đến một cảm quan chung là “chẳng có gì thực sự đángchú ý xảy ra ở Malaya cho đến tận năm 1945” hay phong trào dân tộc của người
Malay trước Chiến tranh thế giới II “mới chỉ ở giai đoạn phôi thai” [172, tr.xvi]
Tuy nhiên, chỉ chưa đầy một năm sau khi Chiến tranh thế giới II kết thúc, người
ta lại thấy “Anh đang phải đối mặt với sức mạnh đoàn kết toàn diện chưa từngthấy của người Malay” [87, tr.18-19] Lại tiếp tục được coi là đặc biệt nếu so
sánh với một số thuộc địa khác ở Đông Nam Á Trong công trình chuyên khảo A
Modern History of Southeast Asia: Decolinization, Nationalism and Separatism,
Clive Christie chỉ ra rằng, trong số các quốc gia Đông Nam Á lục địa, 3 nước chủyếu Thái Lan, Mianma, Việt Nam ngay từ thời kì tiền thuộc địa mặc dù đều chịu
Trang 14ảnh hưởng văn hóa và tôn giáo từ bên ngoài nhưng cả ba đều có ý thức độc lập
mãnh liệt Mianma và Việt Nam cùng được thừa hưởng một quốc gia hùng mạnh
và một bản sắc dân tộc, tôn giáo rõ ràng - những yếu tố cần thiết để tạo nên nềntảng cho các phong trào dân tộc hiện đại hình thành ở Mianma và Việt Nam vàođầu thế kỉ XX [87, tr.7] Tuy nhiên, cả hai nước này - một là thuộc địa của Anh,một là thuộc địa của Pháp - đều phải tiến hành cuộc đấu tranh lâu dài, thậm chívới Việt Nam là rất lâu dài và gian khổ mới có thể tiến đến nền độc lập và toànvẹn lãnh thổ Ở vùng Đông Nam Á hải đảo, ý thức độc lập dân tộc của Inđônêsia
đã xuất hiện ngay từ thập niên đầu tiên của thế kỉ XX và luôn là mục tiêu caonhất của tất cả các phong trào dù dưới ảnh hưởng của trào lưu vô sản hay dân chủ
tư sản Mặc dù vậy, Inđônêsia vẫn phải trải qua một chặng đường dài gần nửa thế
kỉ mới đạt được nền độc lập Với trường hợp Malaya, tính đến thời điểm ngaysau Chiến tranh thế giới II kết thúc, độc lập dân tộc chưa bao giờ là mối quan tâmsâu sắc của người bản địa Malay dù dưới sự thống trị của bất kì thực dân nào -
Bồ Đào Nha, Hà Lan hay Anh (ngoại trừ tư tưởng cấp tiến của nhóm trí thức
bình dân Malay từ cuối những năm 1930) Vậy mà, “Quá trình tiến đến độc lậpcủa Liên bang Malaya chưa kể đến những tiến bộ kinh tế sau đó, là nhanh nhất sovới bất cứ lãnh thổ phụ thuộc nào ở thời kì hậu chiến” [34, tr.1247] Thực tế đókhiến người ta phải kinh ngạc “Tại sao người Malay có thể giành được độc lậpnhanh đến như vậy” vào năm 1957? [163, tr.133-134] Cũng có nhiều câu hỏiđược đặt ra với cá nhân tôi: Có phải Malaya đã có được nền độc lập từ con số 0:không khát vọng độc lập, không đoàn kết lực lượng dân tộc, nghĩa là nền độc lậpcủa Malaya năm 1957 đơn giản chỉ là sự “trao trả” của thực dân Anh như bấy lâunay nó vẫn được thừa nhận? Hoặc đã có một “phép màu” chuyển biến chỉ diễn ratrong vòng 12 năm? Hay Malaya phải trải qua một chặng đường chuyển biến dài
hơn thế nhưng lại không dễ quan sát hoặc chưa quan sát được? Việc nghiên
cứu, phân tích để làm sáng tỏ những vấn đề vừa nêu bằng hiện thực của lịch sử
xã hội Malaya sẽ làm nên ý nghĩa khoa học của đề tài Luận án
Cũng quan trọng không kém khi chúng tôi quyết định chọn đề tài “Con
đường đấu tranh giành độc lập dân tộc của Malaya từ cuối thế kỉ XIX đến năm 1957” vì thực tế ở Việt Nam cho đến nay còn rất thiếu vắng những công trình
nghiên cứu về Malaysia nói chung, càng thiếu vắng những nghiên cứu chuyên
Trang 15sâu các vấn đề liên quan đến lịch sử chính trị của Malaysia Chúng tôi hy vọng đềtài này sẽ bù đắp phần nào khoảng trống nghiên cứu đó
3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu về con đường đấu tranh giành độc lập dân tộc của Malaya,chúng tôi mong muốn đưa đến nhận thức toàn diện hơn về một nội dung trọngtâm của thời kì có vị trí quan trọng trong tiến trình lịch sử của mỗi quốc gia-dântộc cũng như của cả khu vực Bằng cách tiếp cận lịch sử và xã hội học lịch sử,chúng tôi muốn làm sáng tỏ quá trình định hình một con đường trong cuộc đấutranh giành độc lập của Malaya Đề tài luận giải con đường mà Malaya đã lựachọn là con đường không hoàn toàn dựa trên một học thuyết chính trị quốc tế cụthể nào mà được căn cứ trên các đặc tính quốc gia, dân tộc, tôn giáo của đất nướcMalaya Với ý nghĩa đó, nghiên cứu trường hợp Malaya, đề tài muốn góp thêmvào sự đa dạng các con đường đi đến độc lập dân tộc của các dân tộc thuộc địa vàphụ thuộc ở khu vực và trên thế giới
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Trong trường hợp Malaya, để lý giải con đường đấu tranh giành độc lập dântộc rất cần phải xem xét những yếu tố chi phối tình cảm dân tộc, sự hình thành,phát triển của ý thức quốc gia-dân tộc không chỉ của các cộng đồng nhập cư màcủa cả người bản địa Malay, do đó cũng chi phối sự phát triển của chủ nghĩa dântộc Malay/Malaya và đương nhiên chi phối sự lựa chọn hay cách thức tiến hànhcon đường đấu tranh giành độc lập ở đất nước này Các yếu tố đó gồm đặc tính
đa cộng đồng (cộng đồng bản địa và các cộng đồng nhập cư), sự tồn tại và pháttriển của chủ nghĩa cộng đồng, yếu tố đa đảng phái chính trị và đặc tính tâm lýdân tộc-tôn giáo của người Malay Hồi giáo
- Về sử dụng thuật ngữ: Luận án sử dụng “Malaya” hay “Malaysia” trong phần
Mở đầu và Tổng quan theo đúng tên gọi của đất nước trong từng giai đoạn lịch
sử để tiện cho việc theo dõi Trong phần nội dung, Luận án sử dụng “Malaya” làtên gọi của đất nước trong suốt thời kì thuộc Anh Thuật ngữ “người Malay” chỉcộng đồng người Malay bản địa để phân biệt với hai cộng đồng nhập cư là
“người Hoa” và “người Ấn Độ” Luận án sử dụng thuật ngữ “người Malaya” vớinghĩa bao gồm toàn bộ người dân sinh sống ở đất nước Malaya
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Trang 16- Về không gian: “Malaya thuộc Anh” có giới hạn địa lý là toàn bộ phần phía
Tây của lãnh thổ Malaysia ngày nay
- Về thời gian: Khung thời gian nghiên cứu của đề tài Luận án là từ cuối thế kỉ
XIX - khi thực dân Anh hoàn thành về cơ bản quá trình bành trướng thuộc địa ởbán đảo Malaya đến năm 1957 là năm Malaya tuyên bố độc lập
- Về phạm vi vấn đề nghiên cứu:
Đề tài phân tích quá trình định hình một con đường đấu tranh giành độc lậpcủa Malaya thông qua sự vận động, phát triển của các yếu tố đặc thù trong xã hộiMalaya như đã nêu ở trên, qua đó chỉ ra khả năng tối ưu của con đường được lựachọn trong việc đáp ứng các yêu cầu thực tiễn của đất nước Malaya và của hoàncảnh lịch sử Trong quá trình đó, một số vấn đề và nội dung có liên quan đượcđặt trong mối liên hệ với Inđônêsia - quốc gia trong cùng “thế giới Malay”, “thếgiới Hồi giáo” và có nhiều tác động trực tiếp với Malaya Vấn đề so sánh giữacác con đường đấu tranh giành độc lập của các dân tộc thuộc địa đòi hỏi phải hếtsức thận trọng vì như học giả D.G Hall trong phần nghiên cứu về phong trào dân
tộc ở Đông Nam Á đã cho rằng “khó có thể so sánh giữa các phong trào khác
nhau và khái quát hóa sẽ rất nguy hiểm” [34, tr.1043] Chúng tôi cũng cho rằng
không đơn giản chỉ là trả lời các câu hỏi chủ nghĩa thực dân là ai, chính sách caitrị như thế nào, trên cơ sở đó các dân tộc thuộc địa đã lựa chọn con đường đấutranh ra sao, mà còn phụ thuộc rất nhiều vào sự phát triển của các lực lượng dântộc, sự chi phối của các yếu tố tộc người, truyền thống lịch sử-văn hóa, tôngiáo… cũng là những lý do quan trọng góp phần vào sự định hình con đường đấutranh và cách thức tiến hành con đường đấu tranh giành độc lập Bởi vậy trongkhuôn khổ của Luận án này, chúng tôi bước đầu phân tích những yếu tố trên đốivới sự lựa chọn khác nhau các con đường đấu tranh giành độc lập của một sốtrường hợp rất điển hình chứ chưa phải là tất cả Những nghiên cứu toàn diện hơnđối với vấn đề này chắc chắn sẽ là hướng nghiên cứu trong tương lai của tác giảLuận án
4 Phương pháp nghiên cứu
Trước hết, phương pháp nghiên cứu tư liệu là phương pháp không thể thiếu
trong nghiên cứu lịch sử Phương pháp này được triển khai để thu thập và xử lýnguồn tài liệu lưu trữ, phân tích các tài liệu tham khảo liên quan đến đề tài Luận
án Thông qua việc tổng hợp, hệ thống hóa tài liệu, các bước phân tích tài liệu
Trang 17được tiến hành để nhận diện quan điểm của người nghiên cứu, phương phápnghiên cứu, nội dung vấn đề nghiên cứu (đã nghiên cứu đến đâu, đâu là “khoảngtrống” cần được nghiên cứu thêm…)
Thứ hai, vì đây là một đề tài lịch sử nên phương pháp lịch sử được tôn trọng
và được sử dụng để phân tích mối liên hệ giữa các sự kiện lịch sử (cả đồng đại vàlịch đại) Nghiên cứu và luận giải các vấn đề thông qua các sự kiện cụ thể trongquá trình lịch sử cũng đòi hỏi phải tuân theo trật tự logic chặt chẽ và mang tínhliên kết Để hỗ trợ cho việc phân tích các nội dung nghiên cứu, chúng tôi có sử
dụng một số phương pháp bổ trợ như phương pháp thống kê, so sánh Ngoài ra,
phương pháp nghiên cứu liên ngành dân tộc học và xã hội học văn hóa cũng
được sử dụng trong một số phân tích về chính sách cách ly tộc người, tình trạngtộc người, mâu thuẫn tộc người hay chủ nghĩa cộng đồng… ở Malaya
Thứ ba, để nghiên cứu con đường đấu tranh giành độc lập của Malaya,
chúng tôi không thể không dựa trên cách tiếp cận hệ thống bởi phải đặt Malaya
trong bối cảnh chung khu vực và quốc tế, phải đặt Malaya trong “thế giớiMalay”, “thế giới Hồi giáo”, lại vừa phải xem xét đối tượng này trong “chính nó”chúng tôi mới có điều kiện để nhận diện và phân tích mọi khía cạnh của vấn đề
nghiên cứu và trả lời các câu hỏi nghiên cứu đã nêu Như thế, phương pháp cấu
trúc cũng được vận dụng trong nghiên cứu đề tài Luận án
5 Nguồn tài liệu
Nguồn tài liệu gốc chúng tôi tiếp cận và khai thác từ các cơ quan Lưu trữquốc gia của Malaysia và Singapo Đó là những tài liệu chính thức được công bốbởi Bộ Thuộc địa, Bộ Quốc phòng, Chính quyền Hoàng gia Anh, bên cạnh đó lànhững tài liệu được công bố bởi chính quyền Liên hiệp Malaya (1946-1948), vàchính quyền Liên bang Malaya (1948-1957) Nguồn tài liệu này gồm các báo cáo(Official Report), các kế hoạch/dự thảo kế hoạch (Proposal), dự luật (Bill), bàiphát biểu (Speech) hoặc điện tín (Telegram), tài liệu về các cá nhân và các tổchức chính trị (Papers) Chúng tôi cũng sử dụng những tư liệu lưu trữ được xuấtbản dưới dạng Documentary Collection Qua đó, tác giả có điều kiện được tham
khảo khối tài liệu lưu trữ của Lưu trữ Quốc gia Anh trong Bitish documents on
Ngoài nguồn tài liệu lưu trữ, các tài liệu khác được sử dụng trong Luận ángồm các sách chuyên khảo, chuyên luận, luận án tiến sĩ, các bài nghiên cứu đăng
Trang 18trên các tạp chí chuyên ngành ở hai khối ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng Anh Bêncạnh đó, chúng tôi cũng sử dụng một số tờ báo bằng tiếng Anh ở Malaya như
Malay Mail, Straits Times và Syonan Sinbun.
6 Đóng góp của đề tài Luận án
- Luận án phân tích sự chuyển biến ý thức chính trị của người Malay qua các
lần tác động (lần thứ nhất của chính sách thực dân của Anh và lần thứ hai của
giai đoạn chiếm đóng của phát xít Nhật), đồng thời làm rõ sự phát triển của nội
dung dân tộc chủ nghĩa trong các phong trào dân tộc của người Malay ở giai
đoạn trước và sau Chiến tranh thế giới II
- Phân tích quá trình phát triển ý thức quốc gia-dân tộc Malaya trong bối
cảnh chịu sự chi phối sâu sắc của chủ nghĩa cộng đồng, qua đó làm rõ vai tròchính trị của các Đảng cộng đồng của người Malay và người Hoa trong trạng tháiphân cực của nền chính trị Malaya Sự phát triển ý thức quốc gia-dân tộc Malayachính là nền tảng của sự hợp tác giữa các Đảng cộng đồng và giữa quần chúngcủa các cộng đồng Đó cũng đồng thời quá trình định hình dần một con đườngtrong cuộc đấu tranh giành độc lập của người Malaya
- Phân tích con đường hướng đến nền độc lập của Malaya sau Chiến tranh thế
giới II luôn được đặt trong các mối quan hệ: ở cấp độ quốc tế là cục diện 2 cực
và chiến tranh lạnh; ở cấp độ quốc gia là sự suy giảm vị thế quốc tế của Anh và
những điều chỉnh chính sách để thích nghi với những chuyển biến mới ở thuộc
địa Malaya; ở cấp độ địa phương (bản thân thuộc địa) là sự trưởng thành vượt
bậc về chính trị của người Malaya được đánh dấu bằng sự ra đời của Đảng Liênminh với UMNO làm nòng cốt và sự đóng góp rất có ý nghĩa của hai Đảng thành
viên (của cộng đồng người Hoa là Hiệp hội người Hoa Malaya - MCA và của cộng đồng người Ấn Độ là Đại hội Ấn kiều Malaya - MIC).
- Khẳng định con đường đấu tranh giành độc lập dân tộc mà Malaya là conđường không hoàn toàn dựa trên một học thuyết chính trị quốc tế cụ thể nào màcăn cứ trên các đặc tính quốc gia, dân tộc, tôn giáo của đất nước Malaya Nềnđộc lập của Malaya do đó không phải là “món quà” do thực dân Anh trao tặngnhư nó vẫn thường được hiểu mà là thành quả đầy ý nghĩa của sự đoàn kết, thốngnhất giữa các đảng phái chính trị và giữa các cộng đồng dân tộc ở Malaya
7 Bố cục của Luận án
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Luận án gồm 4 chương chính:
Trang 19Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề Qua việc hệ thống hóa
tư liệu nghiên cứu ở trong nước và ngoài nước liên quan đến đề tài Luận án,chúng tôi tiến hành phân tích, đánh giá tư liệu trên các phương diện về cách tiếpcận, phương pháp nghiên cứu, nội dung nghiên cứu, những giá trị tham khảo đốivới đề tài Luận án, khoảng trống trong các nghiên cứu… trên cơ sở đó xây dựngnhững luận cứ chặt chẽ cho việc đi sâu phân tích những vấn đề nghiên cứu màLuận án đặt ra
Chương 2 Malaya dưới tác động của chính sách thực dân của Anh (cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX) Bắt đầu với phần 2.1 “Từ Vương quốc Hồi giáo
Malacca đến thuộc địa Malaya của Anh”, chúng tôi làm rõ: sự khởi đầu vữngchắc của Malaya từ thời vương quốc Malacca và những thế kỉ đầu tiếp xúc vớithực dân phương Tây, quá trình can thiệp, mở rộng can thiệp, tiến đến xác lậpchế độ cai trị của Anh ở Malaya Phần 2.2 “Tác động của chính sách thực dâncủa Anh ở Malaya” phân tích bốn tác động mà chúng tôi cho là có mối liên quantrực tiếp nhất đến sự hình thành và phát triển của phong trào dân tộc của ngườiMalay cũng như liên quan tới quá trình lựa chọn con đường đấu tranh giành độclập dân tộc của Malaya Bốn tác động đó gồm: biến đổi cơ cấu kinh tế với vai tròchủ thể của ngoại kiều, hình thành xã hội đa tộc người và các nguyên nhân mâuthuẫn tộc người, sự phát triển của đội ngũ trí thức người Malay và báo chí bảnđịa
Chương 3 Phong trào dân tộc của người Malay trong những năm giữa hai cuộc chiến tranh thế giới: phân tích các nhân tố khách quan và chủ quan tác động
tới phong trào dân tộc của người Malay, phân tích ba phong trào dưới sự lãnhđạo của ba nhóm trí thức là sản phẩm của ba dòng giáo dục gồm đội ngũ trí thứctôn giáo, đội ngũ trí thức chịu ảnh hưởng của nền giáo dục Anh và đội ngũ tríthức được đào tạo bởi nền giáo dục bản địa Chúng tôi cố gắng chỉ ra những cácyếu tố đã chi phối nội dung dân tộc chủ nghĩa của các phong trào (như yếu tố tôngiáo và đặc tính tâm lý dân tộc-tôn giáo, yếu tố đa cộng đồng và chủ nghĩa cộngđồng) tạo điều kiện nhận diện chiều hướng phát triển chính trị, cũng là cơ sở đểđịnh hình con đường đấu tranh giành độc lập dân tộc của Malaya ở giai đoạn sau
Chương 4 Con đường đấu tranh giành độc lập dân tộc của Malaya (từ sau
người Malay là sự chuyển biến ý thức chính trị dưới tác động của giai đoạn Nhật
Trang 20Bản chiếm đóng, là sự khẳng định vai trò của UMNO trong cuộc cạnh tranh vớicác lực lượng chính trị-xã hội ở Malaya giai đoạn hậu chiến, đồng nghĩa với việckhẳng định một con đường đấu tranh có khả năng tối ưu nhất trong việc đáp ứngcác yêu cầu của lịch sử và tình hình thực tiễn của đất nước để tiến tới mục tiêuđộc lập; (2) Về phía thực dân Anh là quá trình điều chỉnh chính sách để thíchứng với những hoàn cảnh mới sau Thế chiến II, song điều đáng nói là, sự điềuchỉnh chính sách của Anh chịu tác động rất lớn từ một UMNO ngày càng trưởngthành và sức mạnh chính trị của Đảng Liên minh được củng cố bởi các Đảngcộng đồng của người Malay, người Hoa và người Ấn Kết quả của sự đoàn kếtthống nhất giữa các Đảng cộng đồng và quần chúng của các cộng đồng đã đemlại thành quả là nền độc lập cho Malaya vào tháng 8/1957.
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Trang 211.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở TRONG NƯỚC
Quan hệ ngoại giao Việt Nam - Malaysia đã được thiết lập ngay trongnhững năm tháng ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mĩ của Việt Nam vàđang diễn ra ngày càng tốt đẹp trên tất cả các lĩnh vực nhất là từ sau khi ViệtNam trở thành thành viên chính thức của ASEAN Mặc dù vậy, việc nghiên cứuMalaysia chỉ thực sự bắt đầu từ thập niên 1990 ở Viện Nghiên cứu Đông Nam Ánhưng văn học và ngôn ngữ lại được xem là thế mạnh của nghiên cứu Malaysia.4
Tại các cơ sở đào tạo bộ môn Đông Nam Á học cũng cho thấy một thực tế: hơnmột thập niên trở lại đây, mặc dù số lượng luận văn, luận án về Malaysia (chủyếu là luận văn) có tăng lên, song chủ yếu lại tập trung vào các vấn đề kinh tế-xãhội, ngôn ngữ (tiếng Malay), tôn giáo (Đạo Hồi) mà ít có những đề tài lịch sử,hoặc tiếp cận lịch sử Malaysia từ phương diện chính trị, xã hội Đi tiên phong
trong số những công trình viết riêng về Malaysia là Malaysia trên đuờng phát
triển của Phạm Đức Thành (1993) được xem như một cuốn sách phổ cập kiến
thức Sau đó 5 năm, tập thể tác giả Viện nghiên cứu Đông Nam Á cho xuất bản
cuốn Liên bang Malaysia - Lịch sử, văn hoá và những vấn đề hiện đại [49].Tuynhiên, như chính các tác giả thừa nhận, “đây mới chỉ là những thông tin kháilược và mới chỉ là những nhận thức bước đầu về đất nước, con người, lịch sử,văn hóa, kinh tế xã hội và đường lối đối ngoại của Malaysia” [49, tr.10] Điều
quan trọng là nội dung về cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc của Malaya dù
được đề cập rất ít nhưng lại chưa phản ánh đúng thực tiễn lịch sử và quan điểm
năm 2001 Hồi giáo trong nền chính trị, văn hoá, xã hội Malaysia (1957-1987) [47] và gần đây nhất là khảo luận của chính nữ tác giả này Islam ở Malaysia
(2008) thực sự là dấu hiệu phát triển mới trong nghiên cứu Malaysia - đi sâukhảo cứu một lĩnh vực rất cụ thể là lĩnh vực tôn giáo dựa trên cách tiếp cận lịch
sử Cũng theo hướng nghiên cứu chuyên sâu đó nhưng với cách tiếp cận xã hội
học lịch sử là công trình Xã hội dân sự ở Malaysia và Thái Lan6 Cái nhìn lịch sử
4 Nguyễn Đức Ninh (2003), “Thành tựu nghiên cứu Malaixia” trong Phạm Đức Thành, cb., Viện Nghiên
cứu Đông Nam Á: 30 năm xây dựng và trưởng thành (1973-2003), NXB KHXH Hà Nội, tr 345-353.
5 Chẳng hạn, trang 65 viết: “Cuộc đấu tranh do Đảng Cộng sản Malaya tiến hành dù không thành công nhưng cũng có tác động mạnh mẽ đến phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Malaya, góp phần không nhỏ vào việc làm suy yếu hệ thống thuộc địa của thực dân Anh nói chung và ách thống trị thực dân ở Malaya nói riêng Đứng trước xu thế hướng tới độc lập ngày càng mạnh mẽ của nhân dân Malaya, thực dân Anh không còn con đường nào khác là trao trả độc lập cho đất nước này”.
6 Lê Thị Thanh Hương cb (2009), Xã hội dân sự ở Malaysia và Thái Lan, NXB KHXH., Hà Nội
Trang 22ở khía cạnh xã hội dân sự Malaysia thời kì thuộc địa được coi là tiền đề của xãhội dân sự hậu thuộc địa và xã hội hiện đại ngày nay là nội dung chúng tôi có thể
kế thừa
Một số công trình lịch sử Đông Nam Á với cách tiếp cận khu vực, trong đó
Malaya được đặt trong “chỉnh thể khu vực Đông Nam Á” được tác giả Luận án
quan tâm khảo cứu Hai công trình tiêu biểu theo hướng nghiên cứu này gần đây
có Lịch sử Đông Nam Á, tập IV Đông Nam Á trong thời kì thuộc địa và phong
trào đấu tranh giành độc lập dân tộc từ thế kỉ XVI đến năm 1945 [37] do
PGS.TSKH Trần Khánh chủ biên7 có giá trị tham khảo trực tiếp đối với đề tài
Luận án; Được xuất bản vào năm 2005 là cuốn Lịch sử Đông Nam Á do GS.
Lương Ninh chủ biên [41] Qua những “lát cắt” của lịch sử có thể thấy rõ quátrình thực dân hóa vùng bán đảo Malaya của chủ nghĩa thực dân Anh và sau đó làgiai đoạn chiếm đóng của chủ nghĩa quân phiệt Nhật cùng những hệ quả kinh tế,chuyển biến xã hội và sự ra đời của các lực lượng chính trị-xã hội mới củaMalaya Điều đáng nói là tất cả những nội dung trên đều được các tác giả xemxét không chỉ trong bối cảnh chung của khu vực mà còn được xem xét trong sựchi phối của các mối quan hệ quốc tế qua các giai đoạn lịch sử Trước đó, hai
công trình được dịch từ tiếng Anh là Lịch sử Đông Nam Á của D.G.E Hall [34]
và Lịch sử Đông Nam Á hiện đại của Clive J Christie [33] có ý nghĩa rất lớn đối
với nghiên cứu Đông Nam Á với tư cách là một khu vực ở Việt Nam Mặc dù đôichỗ còn mang quan điểm thực dân trong nhận thức cũng như trong luận giải một
số vấn đề, song phải thừa nhận rằng sự xuất hiện của hai công trình này bằngtiếng Việt làm phong phú thêm cách tiếp cận nghiên cứu Đông Nam Á mới củacác bộ sử Đông Nam Á thật sự bề thế ở Việt Nam như hai công trình đã đề cập ởtrên.8 Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng hai tài liệu này, để trích dẫn một số luận
7 Khi Viện Nghiên cứu Đông Nam Á triển khai triển khai biên soạn bộ Lịch sử Đông Nam Á, vào năm
2007 tác giả Luận án được phân công viết 2 chuyên đề liên quan đến phong trào dân tộc theo khuynh hướng dân chủ tư sản ở Malaya và Inđônêsia Đây thực sự là cơ hội quí cho tác giả trong quá trình thực hiện luận án.
8 Trước khi có những công trình được biên soạn theo cách tiếp cận khu vực ở Việt Nam, trong thập niên 1990 với xu thế hội nhập và nhu cầu tìm hiểu các quốc gia láng giềng đã đưa đến sự xuất hiện của nhiều công trình
trong đó từng nước trong khu vực Đông Nam Á được trình bày một cách độc lập, riêng lẻ và rất khái quát: Về
lịch sử Đông Nam Á hiện đại của Nguyễn Khánh Toàn (1983), Các nước Đông Nam Á - Lịch sử và hiện tại của Viện Đông Nam Á (1990), Đông Nam Á trên đường phát triển (1993), Lịch sử các quốc gia Đông Nam Á từ thế kỷ XIX đến thập niên 90 của Huỳnh Văn Tòng (1997)… Ở một khía cạnh khác, như GS.
Lương Ninh đã chia sẻ qua bài viết “Đông Nam Á - Sử liệu và vấn đề”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 5 (110), tr.8-14: Lần đầu khi biên soạn Lịch sử Đông Nam Á, năm 1983 (Nxb Đại học và THCN), tôi “biên soạn
riêng từng nước và đến chủ nghĩa thực dân thì chỉ kể vài trận đánh là coi như đã chiếm xong Nếu như thế thì chỉ nên gọi tên sách là ‘Sơ giản lịch sử các nước Đông Nam Á’, thực tế cũng không phải là các nước mà là một
Trang 23điểm quan trọng, chúng tôi luôn trở về với bản gốc bằng tiếng Anh9 vì đôi chỗbản dịch tiếng Việt không thể chuyển tải hết được tinh thần của các nhà nghiên
cứu Cũng là tài liệu dịch từ tiếng nước ngoài, Lịch sử phát triển Đông Nam Á
của Mary Sommers Heidhues [40], tuy không dày dặn như công trình của Hall,cũng không chuyên sâu như công trình của Christie nhưng vẫn phản ánh đượcnhiều phương diện của lịch sử khu vực Nhìn chung, trong những công trình này,
nhiều trang tư liệu về Malaya đã được các tác giả phân tích, lý giải từ cách tiếp cận khu vực nên vừa mang màu sắc riêng của Malaya cũng vừa mang những đặc
điểm chung của khu vực Trong số những tài liệu liên quan đến chủ nghĩa tư bản
Anh, chúng tôi đặc biệt lưu tâm đến công trình Lịch sử chủ nghĩa tư bản từ 1500
đến 2000 của Michel Beaud [39] phân tích sự phát triển của chủ nghĩa tư bản nói
chung và chủ nghĩa tư bản Anh nói riêng trên khía cạnh lịch sử kinh tế thời kìcận-hiện đại, trong đó xâm lược thuộc địa được coi là phương thức tối quan trọng
để phát triển kinh tế đặc biệt ở giai đoạn đế quốc chủ nghĩa Các Luận án Tiến sĩngành Lịch sử của Lê Thanh Thủy “Quá trình xâm nhập Đông Nam Á của công
ty Đông Ấn Anh từ đầu thế kỉ XVII đến giữa thế kỉ XIX” nghiên cứu quá trìnhviễn chinh Đông Nam Á và vai trò của Công ty đối với việc hình thành đế chếAnh ở phương Đông và Luận án của Trần Thị Thanh Vân “Chính sách thực dâncủa Anh ở Ấn Độ từ thế kỉ XVII đến giữa thế kỉ XX” cung cấp cho chúng tôinhững hiểu biết tốt hơn về chính sách cai trị của Anh ở một thuộc địa khác là Ấn
Độ
Chuyên luận Lịch sử phong trào giải phóng dân tộc thế kỉ XX - Một cách
tiếp cận [32] của tác giả Đỗ Thanh Bình bao quát những nét chung cả về lý luận
lẫn thực tiễn của các phong trào ở châu Á, châu Phi, và Châu Mĩ Latinh.10 Khôngchỉ dừng lại ở việc phân tích quá trình thực dân hóa của các nước thực dân,phong trào đấu tranh của các nước thuộc địa và phụ thuộc, mà chuyên luận còndành một chương trình bày về sự phát triển của các nước sau độc lập, lý giải sự
số nước” Giáo sư cũng thừa nhận, “Đó là hạn chế của ‘thời đại’, của bản thân tôi về hiểu biết và về lý luận của
25 năm trước” 25 năm sau, vẫn con người ấy, nhưng với cách nhìn mới, với quan điểm và phương pháp nghiên cứu mới, công trình do Giáo sư làm chủ biên xuất bản năm 2005 có thể coi là một bước tiến dài trong nghiên cứu Đông Nam Á ở Việt Nam.
9 Của D.G Hall là History of South-East Asia và của C Christie là A modern history of Southeast Asia:
decolonization, nationalism and separatism.
10 Từ năm 1999, tác giả đã cho xuất bản công trình Con đường cứu nước trong đấu tranh giải phóng dân
tộc ở một số nước châu Á (từ cuối thế kỉ XIX đến năm 1945) Sau đó là chuyên đề “Các con đường cứu
nước trong đấu tranh giải phóng dân tộc ở một số nước châu Á” được in trong Vũ Dương Ninh cb.
(2001), Một số chuyên đề lịch sử thế giới, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 24lựa chọn con đường phát triển và công cuộc xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ.Phần phụ lục của chuyên luận tương đối hữu ích với đề tài Luận án bởi nhữngnghiên cứu so sánh giữa chính sách thuộc địa của Anh và của Pháp, hệ quả củacác chính sách ấy được nhìn từ hai phía: thực dân và các thuộc địa Quan điểmcủa tác giả trong chuyên luận này được chúng tôi chia sẻ là “Mỗi dân tộc đều cóthể lựa chọn con đường riêng cho mình, không có một mô hình nào làm kiểu mẫu
để áp đặt cho các dân tộc khác” hay “Con đường đi đến độc lập của các dân tộckhông giống nhau… mỗi con đường ấy đều có công sức góp chung làm sụp đổ
hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân, đế quốc.” [32, tr.44]
Với nguồn tư liệu là các bài nghiên cứu đăng tải trên các tạp chí chuyênngành có liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài trước hết phải đề cập đến
loạt bài viết có tính tranh luận học thuật, chẳng hạn như: “Vấn đề xác định thời
điểm thiết lập chủ nghĩa thực dân phương Tây ở Đông Nam Á” của Trần Khánh[36], “Bối cảnh Đông Nam Á trước sự xâm nhập và thôn tính thuộc địa củaphương Tây” của Nguyễn Văn Kim và Trần Khánh [38] hay “Những vấn đề đặt
ra đối với biên soạn lịch sử phong trào giải phóng dân tộc ở Đông Nam Á thờicận-hiện đại” của Đỗ Thanh Bình và bài “Cần đổi mới nhận thức và biên soạngiáo trình lịch sử thế giới cận đại” của Nguyễn Văn Hồng.11 Chúng tôi cũng dành
sự chú ý đặc biệt đến các bài nghiên cứu “Vài nét cơ bản của quan hệ quốc tế ởĐông Nam Á từ giữa thế kỉ XIX đến giữa thế kỉ XX” [42], “Chính sách thống trịcủa thực dân Anh ở Miến Điện trong những năm cuối thế kỉ XIX - nửa đầu thế kỉ
XX và tác động của nó tới phong trào giải phóng dân tộc” [46], đặc biệt là bài
“Nhìn lại cuộc đấu tranh giành độc lập của Đông Nam Á thế kỉ XX” của tác giả
Vũ Dương Ninh [43] Chúng tôi hoàn toàn đồng ý với ý kiến của Giáo sư: “Cácnước Đông Nam Á dù chọn con đường nào thì cuối cùng cũng đã thành côngtrong việc thành lập nhà nước độc lập và đạt nhiều thành tựu trong công cuộc xâydựng đất nước Điều đó cho thấy không nên coi con đường nào là duy nhất đúng
mà tất cả phụ thuộc vào tầm nhìn và năng lực lãnh đạo biết chọn lựa con đườngphù hợp với hoàn cảnh cụ thể của từng nước.” [43, tr.20] Nhìn chung, các bài
viết trên đây tuy vẫn không phải là những trang tư liệu trực tiếp về Malaya
11 Bài viết của GS Đỗ Thanh Bình trong Nghiên cứu Đông Nam Á, số 5 (110), tr.33-39 bàn về cách tiếp cận và
sự phân kì trong biên soạn lịch sử phong trào giải phóng dân tộc Bài của PGS Nguyễn Văn Hồng trong
Nghiên cứu Đông Nam Á, số 11 (140), tr.12-15 nêu lên sự cần thiết phải đổi mới tư duy nhận thức về sứ mạng
lịch sử của chủ nghĩa thực dân đối với châu Á lạc hậu, về vai trò của trí thức trong đấu tranh giành độc lập
Trang 25nhưng đề cập đến vấn đề nghiên cứu là phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc được nhìn trên bình diện khu vực, đặc biệt có một số vấn đề được nhìn nhận lại, nhìn nhận mới bằng những quan điểm khoa học mới đã tạo điều kiện cho chúng tôi mạch lạc hơn trong ý tưởng cũng như triển khai các luận giải cho vấn
đề nghiên cứu của mình
1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI
Ngành Malaya học ở Anh được khởi động bởi những nghiên cứu đầu tiên là
về ngôn ngữ - tiếng Malay - được mở ra từ thế kỉ XVII Sự khởi đầu này hoàntoàn trùng với thời điểm người Anh bắt đầu quan tâm đến thương mại ở “thế giớiMalay” Bài viết của nhà nghiên cứu ngôn ngữ Malay - Russell Jones [160] táihiện bức tranh chi tiết về thành tựu nghiên cứu tiếng Malay ở Anh từ đầu thế kỉXVII Sự hiểu biết ngôn ngữ bản địa mở ra một chân trời khám phá mới về conngười, lịch sử, văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng và phong tục tập quán của xứ sởMalaya - nơi mà càng ngày lợi ích kinh tế tư bản chủ nghĩa của thực dân Anhcàng được thắt chặt Từ giữa thế kỉ XVIII, sau khi giành thắng lợi tuyệt đối trongviệc nắm quyền kiểm soát Ấn Độ, Anh bắt đầu chuyển thế chủ động thương mạithành sức mạnh chính trị và tiến lên ở Đông Nam Á Trong bối cảnh của “cơnkịch phát thực dân hóa”12 nửa sau thế kỉ XIX, mối quan tâm của đế quốc Anh đếnMalaya trên khía cạnh chính trị đặc biệt được đẩy mạnh Quá trình “thực dânbằng mậu dịch” của Công ty Đông Ấn chính thức kết thúc vào năm 1858 đểchính sách thuộc địa trong thời đại mới trở thành công cuộc của Hoàng gia và làvấn đề tối quan trọng của Nghị viện Anh
Để phục vụ nghiên cứu Malaya thời kì thuộc địa trước hết phải kể đến khối
tài liệu được viết bởi các nhà nghiên cứu đồng thời là các nhà quản lý người Anh.
Vì trách nhiệm của mình, những ghi chép/nghiên cứu đó có giá trị khoa học nhất
định, mặc dù không thể không thừa nhận rằng những tư liệu này bị bao trùm bởi
tư tưởng và quan điểm thực dân Các công trình, bài viết được xuất bản trong
nửa đầu thế kỉ XIX là của thế hệ các viên chức người Anh đầu tiên như: T.Stamford Raffles, người có công khai phá và đưa đến sự phát triển kì diệu của
Singapo với On the Malayu Union (1816) hay công trình của T John Newbold
Political and statistical account of the British Settlements in the Strait of
12 Từ dùng của Michel Beaud [39, tr.241]
Trang 26Malacca (With a History of the Malayan States on the Peninsula of Malacca)
(1839) cùng nhiều bài viết được đăng trên tập san Journal of the Indian
Malaya mà trong quá trình khảo cứu tư liệu chúng tôi đã được tiếp cận Một số
công trình rất tiêu biểu của thế hệ thứ hai các nhà cai trị-nhà nghiên cứu người
Anh vào nửa cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX mà chúng tôi lựa chọn tham khảo
như Malay sketches [175], British Malaya: An account of the origin and
progress of British influence in Malaya [176], hay “British rule in Malaya” [177]
của F A Swettenham14; của Richard James Wilkinson15 có: A History of
Peninsular Malays [195]; hay các công trình được đánh giá là xuất sắc nhất của
R O Winstedt16 gồm có: Malaya and its history [203] và The Malays: A
Cultural History [204] Những công trình trên là những trang tư liệu vô giá phản
ánh lịch sử xã hội và con người Malaya đương đại Nhưng nếu so sánh với tư liệu
của thế hệ các nhà cai trị thứ nhất thì những tư liệu này mang dấu ấn thực dân
mạnh hơn và bị chi phối bởi quan điểm châu Âu trung tâm (Euro-centric) nặng
nề hơn, tiêu biểu là cuốn British Malaya: An account of the origin and progress
of British influence in Malaya của F.A Swettenham Cũng tương tự như vậy, thế
hệ thứ ba các quan chức thực dân đồng thời là nhà nghiên cứu trong những năm
1940, 1950 ở Malaya có thể kể đến như Slicock T.H [177], Robert Heussler
[156], [157] hay Victor Purcell [150, 151, 152] Các công trình này đều nhìn sựcan thiệp của Anh ở Malaya là cần thiết để mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho
đất nước Malaya nghèo nàn, lạc hậu Robert Heussler trong British rule in
Malaya: The Malayan Civil Service and its predecessors 1867-1942 [156] xem
thuộc địa Malaya như là “gánh nặng của người da trắng”, coi người bản xứ như
13 Tập san này được thành lập năm 1847, từ năm 1887 được đổi tên là Journal of the Straits Branch, Royal
Asiatic Society - JSBRAS
14 Frank Athelstane Swettenham (1850-1946) là người trực tiếp tham gia lễ kí Hiệp ước Pangkor năm
1874, Công sứ ở Selangor (1882-1889), Công sứ ở Perak (1889-1895), Tổng Công sứ của FMS năm
1896, năm 1901 là Cao ủy FMS và Thống đốc SS Có thể tìm thấy danh mục bài viết và công trình nghiên cứu của ông về Malaya tại Lưu trữ Quốc gia Malaysia (Swettenham’s Papers, 1970) Năm 1967, William
Roff đã sưu tầm, biên soạn và giới thiệu những bài viết, công trình của ông trong Stories and Sketches by
Sir Frank Swettenham.
15 Richard James Wilkinson (1867-1941) bắt đầu phục vụ trong ngành dân chính Malaya từ năm 1889, là
Bộ trưởng thuộc địa ở Singapo từ 1911-1916 Wilkinson được phong là “Raffles thứ hai” - “ the second Raffles” bởi rất nhiều cải cách phát triển giáo dục ở Malaya.
16 Richard Olaf Winstedt (1878-1966) được coi là “học giả thực dân cuối cùng và vĩ đại nhất về Malaya”
bởi theo thống kê của John Bastin năm 1964, tổng số bài viết của Winstedt lên đến 340 bài, trong đó 135 bài được đăng trên JSBRAS Ông bắt đầu phục vụ ở Malaya từ năm 1902 Năm 1916, ông được bổ nhiệm làm Trợ lý phụ trách giáo dục ở SS và cống hiến 32 năm cho ngành giáo dục của SS và Malaya.
Wilkinson và Winsted được đánh giá là hai hoc giả thực dân lớn nhất thế kỉ XX về Malaya.
Trang 27là “những chủng tộc non nớt” và “trách nhiệm của người da trắng là phải dẫn dắt
họ đi đến văn minh”, như thế mới được coi là “hoàn thành cương vị của người
quản lý” - Completing a stewardship: the Malayan Cilvil Service, 1942-1957 [157] Cùng chia sẻ với Heussler, Purcell trong Communist or Free cũng viết
“Malaya được cai trị bởi ngành Dân chính Malaya” mà những quan chức trongngành này “là những người không vụ lợi, chỉ có mục đích làm hết sức ở nhữngtrọng trách của mình [150, tr.42] Nhìn chung, những công trình như thế này rõràng là mang nặng quan điểm thực dân nên khó có thể phản ánh trung thực lịch
sử Malaya Mặc dù vậy, với tinh thần khách quan khoa học, chúng tôi vẫn kếthừa một số giá trị khoa học từ nguồn tư liệu này
Đi vào chi tiết hơn, những nghiên cứu về Malaya trong buổi đầu của quátrình xâm thực cho đến trước năm 1874 đáng chú ý nhất là chuỗi các chuyênluận, bài viết truy tìm về nguồn gốc, căn nguyên của sự can thiệp của Anh vào
Malaya gồm Nineteenth-century Malaya: The origins of British political control
của Cowan C.D [89], “Britain’s intervention in Malaya: the origin of LordKimberley’s instruction to Sir Andrew Clarke in 1873” của MacIntyre D [125]
và “The reasons for British intervention in Malaya: review and thereconsideration” của Chew E [85] Các công trình này đã xem xét chi tiết các
động cơ đằng sau hành động can thiệp vào các bang Malay, trong đó động cơ
kinh tế được xem là ưu tiên số một Hiệp ước Pangkor năm 1874 đã hợp pháphóa sự can thiệp của Anh vào các bang Malay và dọn đường cho sự xâm nhập
sâu rộng của Anh vào bán đảo Giai đoạn này do vậy đã trở thành trọng tâm cho
những nghiên cứu về chính sách thuộc địa của thực dân Anh Đi đầu trong nhữngnghiên cứu thuộc chủ đề này là chuyên luận được xuất bản lần đầu tiên năm
1937: Malaysia, A study in direct and indirect rule, [159] được coi là một nghiên
cứu kinh điển của học giả người Mĩ tại Đại học Harvard Rupert Emerson
-nghiên cứu các nét đặc trưng trong chính sách cai trị trực tiếp và gián tiếp củaAnh ở các phần khác nhau trên bán đảo Malaya Emily Sadka với chuyên luận
The Protected Malay States 1874-1895 [92] đã có những phân tích rất sắc sảo,
sinh động về bức tranh chính trị của thiết chế Công sứ cho đến trước khi Liênbang các bang Malay chính thức được thành lập Sadka cũng bàn đến vai trò củacác nhà cai trị người Malay trong cấu trúc chính quyền mới mẻ này Bàn vềchính sách phân quyền (Decentralization) diễn ra ở Malaya từ những năm 1920
Trang 28có hai chuyên khảo xuất sắc của Ghosh K Kumar, Twentieth-century Malaysia:
Politics of decentralization of power, 1920-1929 [98] và Yeo Kim Wah, The Politics of decentralization: Colonial controversy in Malaya 1920-1929 [187].
Yeo và Ghosh với quan điểm phê phán thậm chí còn gọi giới viên chức Malay là
“những con rối” hay “những kẻ bị sai khiến trong ngành dân chính” Bên cạnh đó
là những nghiên cứu về các chính sách của chính quyền Anh trong suốt quá trìnhcai trị ở Malaya trên các lĩnh vực: Về kinh tế, điển hình có các công trình:
Economic development of modern Malaya của Lim Chong Yah [124], nhà kinh tế
học hàng đầu của Malaysia, Western enterprise in Indonesia and Malaya: A
study in economic development của Allen G C., Donithorne A.G [59] phân tích
các khía cạnh phát triển kinh tế của Malaya trong thế kỉ XX, hay British policy in the Malay Peninsula 1880-1910 [93] của Eunice Thio Về xã hội, chính sách nhập
cư lao động người Hoa, người Ấn của chính quyền Anh đã làm biến dạng cấutrúc nhân khẩu của Malaya đưa đến sự hình thành xã hội Malaya đa tộc người.Hai công trình tiêu biểu của Victor Purcell, một quan chức trong chính quyền
Anh trực tiếp phụ trách vấn đề người Hoa ở Malaya: The Chinese in Southeast
Tan Chee-Beng, The Chinese in Malaysia [122] cùng với Indians in Malaysia
and Singapura của Sinapah Arasaratnam [171] và The Role of Indian Minorities
in Burma and Malaya của Usha Mahajani [184] là những công trình phân tích chi
tiết về quá trình hình thành và phát triển của cộng đồng người Hoa và người Ấn ởMalaya, phân tích các đặc tính tâm lý tộc người, phong tục tập quán, tôn giáo,đặc biệt là sự phát triển của chủ nghĩa dân tộc của cộng đồng người Hoa, người
Ấn ở đất nước Malaya
Từ nhiều cách tiếp cận khác nhau: lịch sử, xã hội học lịch sử hay lịch sửchính trị, bức tranh chuyển biến xã hội Malay trong những thập niên đầu của thế
kỉ XX đã được khắc họa sinh động qua các chuyên luận, bài viết của các tác giả
Chúng tôi đặc biệt quan tâm đến giáo dục vì tập trung vào giáo dục sẽ chỉ ra được những chuyển biến chính trị quan trọng diễn ra ở Malaya những năm đầu thế kỉ XX Sự hình thành ngày càng đông đảo đội ngũ trí thức bản địa có tác động
sâu sắc đối với phong trào dân tộc của người Malay được dẫn dắt bởi 3 nhóm tríthức là sản phẩm của 3 dòng giáo dục, đó là nhóm trí thức tôn giáo, nhóm trí thứcchịu ảnh hưởng của nền giáo dục Anh và nhóm trí thức được đào tạo bởi nền
Trang 29giáo dục bản địa Đề tài của chúng tôi phân tích con đường đấu tranh giành độclập dân tộc của Malaya, do đó các nhóm trí thức có sự liên quan mật thiết tới cácquan điểm chính trị-xã hội, nội dung và phương thức đấu tranh của phong trào.
Cũng quan trọng không kém là sự phát triển của báo chí bản địa, góp phần
chính trị hóa người Malay trên nhiều phương diện Hai vấn đề giáo dục và báo
chí luôn đi liền nhau trong những nghiên cứu về sự hình thành và phát triển củachủ nghĩa dân tộc của người Malay nói riêng và sự “chính trị hóa” người Malay
nói chung Chuyên khảo của William R Roff, The Origins of Malay Nationalism [201] có thể được coi là nghiên cứu chuẩn mực về tác động của sự chuyển biến
xã hội Malay đối với sự hình thành và phát triển chủ nghĩa dân tộc của ngườiMalay trong những năm 1930 Roff nhận diện các nhóm tinh hoa mới của ngườiMalay dựa trên nguồn gốc xuất thân và nền giáo dục mà họ được hưởng Luậnđiểm của Roff qua khảo sát báo chí bằng tiếng Malaya cho rằng chủ nghĩa dântộc của người Malay trước thập niên 1940 chủ yếu nghiêng về khía cạnh văn hóa
và tôn giáo hơn là chính trị Về mặt này chúng tôi cho rằng, yếu tố chính trị đã
tồn tại ít nhất trong phong trào dân tộc dưới sự lãnh đạo của nhóm trí thức bình dân vì những nỗ lực hướng người Malay theo chiều hướng cấp tiến Những phân
tích của Roff dừng lại ở thời điểm cuối những năm 1930 nhưng chuyên khảo rất
có ý nghĩa vì nó gợi mở cho chúng tôi nhiều ý tưởng nghiên cứu ở giai đoạn sau.
Hai chuyên khảo của Khasnor Johan bàn đến vai trò của giáo dục theo mô hìnhAnh đối với sự phát triển của giới trí thức quý tộc mới và giới viên chức người
Malay trong chính quyền thực dân: The Emergence of the modern Malay
administrative elite [114] và Educating the Malay elite: the Malay College Kuala Kangsar, 1905-1941 [115] Nền chính trị cấp tiến hay tư tưởng cấp tiến
của giới trí thức chịu ảnh hưởng của nền giáo dục bản địa được khắc họa qua
Radical Malay politics: Its origins and early development của Firdaus Haji
Abdullah, [96], Social roots of the Malay left của Rustam A Sani [161] Hai chuyên luận của Philip Loh F.S với Seed of separatism: Educational policy in
Malaya 1874-1940 [148] và của Rex Stevenson với Cultivators and Administrators: British educational policy towards the Malays, 1875-1906 [155]
nghiên cứu chính sách giáo dục của thực dân và hệ quả xã hội của nó đã trởthành những tài liệu được trích dẫn nhiều nhất trong tất cả những nghiên cứu vềgiáo dục thực dân ở Malaya Các chuyên luận này đều chia sẻ quan điểm giáo
Trang 30dục thực dân là “mầm mống của sự chia rẽ” ở Malaya Ở một khía cạnh khác,
Abrahim Collin với Devide and rule: The roots of race relations in Malaysia
[50], bao quát hơn so với Philip Loh, ông nhìn nhận vấn đề mâu thuẫn tộc ngườihay chủ nghĩa cộng đồng ở Malaysia hiện nay chính là bắt nguồn từ chính sách
“chia” để “trị” của thực dân trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị và đương nhiên cảgiáo dục Công trình này sau đó cũng được nhắc đến rất nhiều trong các nghiênliên quan đến quan hệ tộc người ở Malaya Ngoài ra, không thể không kể đến
công trình Official Reports on Education: Straits Settlements and the Federated
Malay States, 1870 - 1939 (1970) Nhóm tác giả Francis H.K.Wong và Gwee YeeHean đã tập hợp được 12 Báo cáo của chính quyền thực dân về giáo dục ở Khu định
cư Eo biển và Liên bang các bang Malay - có ý nghĩa như là nguồn tư liệu gốc rất có
giá trị trong nghiên cứu phát triển giáo dục ở Malaya
Bắt đầu từ cuối những năm 1940, đầu những năm 1950 trở đi, vấn đề NhậtBản chiếm đóng Đông Nam Á trong Chiến tranh thế giới II và tác động chính trịcủa nó đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu rộng rãi của nhiều học giả, đưa vấn đềtrở thành nội dung nghiên cứu của hàng loạt các công trình chuyên khảo, luận
văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ và các bài viết Thực tế đã tồn tại hai quan điểm đánh
giá tác động của Nhật Bản trong thời gian chiếm đóng các quốc gia Đông Nam
Á với một bên là quan điểm Biến đổi (transformation) đại diện là Harry Benda và một bên là quan điểm Tiếp diễn (continuity) đại diện là Alfred McCoy Quan
điểm Biến đổi cho rằng giai đoạn chiếm đóng của Nhật Bản đã kích thích sự pháttriển ý thức chính trị, thậm chí đưa đến sự thống nhất mạnh mẽ trong ý thức dântộc của người Đông Nam Á, do đó đã tạo ra một bước ngoặt đáng kể trong sựphát triển chính trị ở hầu hết các nước Đông Nam Á Trong khi đó, theo quan
điểm Tiếp diễn, mọi chuyển biến chính trị ở các nước Đông Nam Á sau chiến
tranh chỉ là sự tiếp diễn những phát triển chính trị của thời kì trước, có thể trongnhững hoàn cảnh mới do chiến tranh mang lại, sự chiếm đóng của Nhật Bản
trong một số trường hợp dễ tạo ra ảo tưởng là có sự biến đổi.17 Chúng tôi chorằng cuộc tranh luận này khó có thể đi đến một kết luận cuối cùng nếu vấn đề
được khái quát hóa ở cấp độ khu vực Nói một cách khác, nghiên cứu tác động
17 Alfred W McCoy (1985), Southeast Asia under Japanese Occupation, Yale University Southeast Asia
Studies [57] là công trình chuyên khảo (Monograph) tập hợp các bài viết theo hai quan điểm nói trên Xem thêm Phạm Quang Minh “Nhật Bản và Đông Nam Á: Từ “Khối Đại Đông Á Thịnh vượng chung” đến “Ủy ban Kinh tế khu vực Đông Á” trong Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học KHXH & NV
(2004), Đông Á, Đông Nam Á những vấn đề lịch sử và hiện tại, Nxb Thế giới, Hà Nội, tr.423-434
Trang 31của giai đoạn Nhật Bản chiếm đóng từ cách tiếp cận khu vực có thể đưa đến khả
năng không bao quát hết được mọi sự chuyển biến trong đó có những chuyển
biến rất cụ thể nhưng lại không dễ phát hiện, hoặc có những chuyển biến chỉ xuất hiện ở nước này mà lại không xuất hiện ở nước khác Vấn đề như thế dứt
khoát sẽ gây tranh cãi ở Việt Nam bởi ở đây vốn là nơi có phong trào yêu nướcchống thực dân phát triển mạnh mẽ và liên tục từ giai đoạn trước đó, trong thời
gian chiến tranh phong trào lại càng phát triển mạnh hơn Vì vậy chỉ nên đặt vấn
đề trong khuôn khổ của từng quốc gia Dù có rất nhiều điểm tương đồng, song
các quốc gia Đông Nam Á trước khi bị Nhật Bản chiếm đóng đều bị thống trị bởicác thế lực thực dân khác nhau từ hàng thế kỉ trước Do đó, mức độ tác động củaNhật Bản đối với các quốc gia này như thế nào phụ thuộc rất nhiều vào tiền đềkinh tế, xã hội, đặc biệt là mức độ phát triển chính trị dưới các tác động trước đó
của chính sách cai trị thuộc địa của mỗi thực dân Bằng cách tiếp cận này chúng
tôi có điều kiện để phân tích những tác động trực tiếp hoặc gián tiếp, thậm chí có
những tác động hoàn toàn nằm ngoài chủ ý của Nhật Bản, tương tự như thế làcách thức tiếp nhận tác động và sự chuyển biến ý thức chính trị từ phía người bảnđịa Malay
Nhiều chuyên luận đã giúp chúng tôi làm sáng tỏ vấn đề của Malaya theohướng tiếp cận trên Trước hết phải kể đến hai Luận án Tiến sĩ, của ByungkuhSoh “From Parochial to National Outlook: Malay society in transition, 1920-1948” [71] và của Halinah Bamadhaj “The Impact of Japanese Occupation ofMalaya on Malay Society and Politics (1941-1945)” [104] Nếu Byungkuh Sohnhìn sự chuyển biến xã hội Malay từ năm 1920 dưới tác động của Anh đến năm
1948 sau những tác động của Nhật Bản thì Halinah Bamadhaj lại phân tích sựchuyển biến xã hội và nền chính trị Malaya ngay trong những năm chiến tranh.Giáo sư ngành Malaya học ở Đại học Sains Malay - Cheah Boon Kheng - người
có rất nhiều công trình, bài viết về Malay liên quan đến giai đoạn Nhật Bản
chiếm đóng Các tài liệu từ [75] đến [82] đã nêu bật hai vấn đề: thứ nhất là sự
xung đột tộc người Malay-Hoa do các chính sách của Nhật Bản đã làm sâu sắcthêm mối quan hệ vốn đã phức tạp từ thời thuộc Anh, ông cũng phân tích quan
hệ trong thời kì hậu chiến giữa các lực lượng: Đảng Cộng sản Malaya với thànhviên chủ yếu là người Hoa với các Đảng cộng đồng của người Malay và Chính
quyền quân sự Anh; thứ hai là vấn đề các tổ chức cánh tả ở Malaya giai đoạn hậu
Trang 32chiến, trong đó ông rất quan tâm đến bộ phận trí thức được đào tạo bởi nền giáodục bản địa, tư tưởng và hoạt động của họ được phản ánh qua cuộc đấu tranh vìnền độc lập của Malaya trong Đại Inđônêsia Các chính sách quân sự hóa haychính sách văn hóa của Nhật Bản ở Malaya được Lebra Joyce phản ánh trong
Japanese - trained Army in Southeast Asia [121], hay Japanese Cultural policies
in Southeast Asia during World War II của Grant K Goodman [101] Dưới góc
nhìn của một người Nhật, loạt 4 bài viết của Yoji Akashi (từ tài liệu số [189] đến[192]) cung cấp nhiều thông tin về các chính sách văn hóa, giáo dục và chínhsách tôn giáo được chính quyền quân sự Nhật Bản triển khai ở Malaya trong thờigian chiếm đóng Rất có giá trị đối với nghiên cứu của chúng tôi là những tư liệugốc được các tác giả sử dụng trong các nghiên cứu trên mà chúng tôi chưa có
điều kiện được tiếp cận Công trình Sources of Japanese Tradition [162] của
Ryusaku Tsunoda tập hợp một số tư liệu liên quan đến chính sách của Nhật ởĐông Nam Á nói chung và ở Malaya nói riêng đã được chúng tôi khai thác.Toàn bộ chính sách của Anh đối với thuộc địa Malaya từ sau năm 1945 cómối liên quan chặt chẽ đến những tác động của tình hình khu vực và quốc tế bịchi phối bởi cục diện hai cực của chiến tranh lạnh, sự vươn lên mạnh mẽ của cácphong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc của các thuộc địa trong khu vực Ởbên trong thuộc địa Malaya là sự chuyển biến mạnh mẽ ý thức chính trị của cáccộng đồng, đặc biệt là cộng đồng người Malay bản địa, đã đưa đến cục diện phâncực nền chính trị Malaya với biểu hiện là sự cạnh tranh quyết liệt vai trò chính trị
của các Đảng cộng đồng: của người Hoa là Đảng Cộng sản Malaya cùng lực lượng Quân đội nhân dân Malaya kháng Nhật, của người Malay là Đảng Dân
tộc Malay với đội quân chính trị là Đội quân Thanh niên vì công lý và Tổ chức Dân tộc Thống nhất Malay (UMNO), cũng không thể không kể đến sự xuất hiện
của các tổ chức/đảng phi cộng đồng như Ủy ban Liên lạc các cộng đồng (CLC) hay Đảng Malaya độc lập.Những nghiên cứu về chính sách đối ngoại nói chung
và chính sách đối với thuộc địa Malaya nói riêng giai đoạn sau Chiến tranh thế
giới II tiêu biểu có The Foreign policy of the British Labour Government,
1945-1951 của Fitzsimon M.A [97], Colonial issues in British politics, 1945-1961 của
David Goldsworthy [90], Defence and Decolonization in Southeast Asia của Karl Hack [112] hay Luận án Tiến sĩ ngành Chính trị học của Archana Pathak British
Trang 33Foreign Policy towards Malaysia, 1957-1967 [66]… A.J Stockwell được đánh
giá là nhà nghiên cứu hàng đầu về tiến trình phi thực dân hóa của Anh ở ĐôngNam Á, ông cũng là chuyên gia về lịch sử Malaya/Malaysia Phải kể đến công
trình Malaya, Bitish documents on the end of Empire [173] gồm 3 tập, là công
trình tập hợp các tư liệu liên quan đến các sự kiện kể từ khi Singapo thất thủ năm
1942 đến khi Malaya giành được độc lập năm 1957 Công trình rất có ý nghĩa bởi
sự cung cấp những tài liệu lưu trữ đã được phép xuất bản của Anh; British policy and Malay politics during the Malayan Union experiment, 1942-1948 [172] được
xuất bản từ Luận án Tiến sĩ của ông năm 1973 “The Development of Malay:Politics during the course of the Malay Union experiment, 1942-1948” là mộtđóng góp quan trọng trong nghiên cứu giai đoạn quyết định của nền chính trịMalaya Cũng liên quan đến giai đoạn 1942-1948 của Malaya còn có công trình
The Malayan Union của Allen Jame de V [58] và công trình tương đối dày dặn
hơn được xuất bản sau gần 2 thập kỉ của Albert Lau, The Malayan Union
controversy, 1942-1948 [55] Các công trình này đề cập đến Liên hiệp Malay như
là một cải cách về hành chính và hiến pháp đối với Malaya ngay sau khi chiếntranh kết thúc, nhưng chỉ 2 năm sau, người Anh đã buộc phải thay thế Liên hiệp
Malaya bằng Liên bang Malaya trước những phản ứng quyết liệt của người Malay Với các tác giả, sự xuất hiện của UMNO được xem là một biểu hiện phát
triển chính trị của người Malay bản địa trong giai đoạn hậu chiến Đặc biệt với
A.J Stockwell thì sự phát triển chính trị của giới trí thức quý tộc chịu ảnh hưởngnền giáo dục Anh trong những năm 1946-1948 với mục tiêu “Tự trị” đã hơn hẳn
so với giai đoạn trước chiến tranh khi họ chỉ quan tâm đến đấu tranh bảo vệquyền lợi của người Malay mà thôi
Bị thất bại trong kế hoạch Liên hiệp, chính quyền Anh vẫn không từ bỏ cácchiến lược của mình đối với Malaya vì tầm quan trọng về kinh tế và chính trị củaMalaya, vì ảnh hưởng của Anh ở châu Á và vì sự phục hồi của nước Anh ở chínhquốc Anh phải thích ứng bằng sự điều chỉnh chính sách trong giai đoạn 1948-
1951 để tiến đến “chiều hướng mới” trong những năm 1952-1957 Nhưng kể từkhi bị thất bại trong kế hoạch Liên hiệp, các chính sách/chiến lược của Anh đốivới Malaya ngày càng bị phụ thuộc vào những chuyển biến chính trị mạnh mẽ ở
Trang 34Malaya Tình trạng phân cực trong nền chính trị Malaya ngày càng phức tạp bởi
sự nổi dậy của cộng sản với mục tiêu lật đổ sự thống trị của thực dân Anh và
kiểm soát Malaya đã đưa đến Tình trạng Khẩn cấp: Anthony Short với
“Nationalism and Emergency in Malaya” [63] và The communist insurrection in
Malaya, 1948-1960 [64], Ching O.H với Chinese politics in Malaysia, 1955: The dynamics of British policy [86], Hanrahan Gene với The Communist struggle in Malaya [106]… đã phản ánh cuộc đấu tranh chống thực dân Anh của
1942-người Hoa cộng sản và những phản ứng về chính sách cũng như những hoạt động
kiên quyết chống trả của chính quyền Anh từ năm 1948 Sự nổi dậy của cộng sản
đã nhân lên những khó khăn của chính quyền Anh song lại mở ra cơ hội để người Malay khẳng định mình Đó là những vấn đề tiếp tục được phản ánh trong
một số công trình và bài viết như: From Malayan Union to Singapore
separation: Political unifiacation in the Malayan region, 1945-1965 [135], “The
British and Malayan Nationalism, 1946-1957” [146], Federalism of Malaya
1945-1963: A study of federal problems in a plural society [169], The end of Empire and the making of Malaya [105]… Qua những tư liệu này rất dễ nhận ra
một điểm chung là quá trình đi đến độc lập dân tộc của Malaya hầu như chỉ được
đề cập từ sau năm 1945, thậm chí chỉ từ sau khi Đảng Liên minh được thành lập.Trên một khía cạnh nào đó, nền độc lập của Malaya lại chỉ được xem là kết quảcủa tiến trình phi thực dân hóa trên thế giới Bản thân Tunku Abdul Rahman -
Chủ tịch Tổ chức Dân tộc Thống nhất Malay (UMNO), người trực tiếp dẫn dắt
cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc cho Malaya trong những năm 1950 qua hai
công trình Political awakening [182] và The Alliance road to independence [181]
cũng cơ bản phản ánh con đường đi đến độc lập của Malaya chỉ từ sau khi Chiến
tranh thế giới II kết thúc Political awakening đã phản ánh những nỗ lực thống
nhất của người Malay kể từ sau khi chấm dứt sự chiếm đóng của Nhật Bản, đặcbiệt với sự ra đời của UMNO và cuộc đấu tranh giành độc lập dưới sự lãnh đạocủa tổ chức này Đó là chủ đề xuyên suốt của 23 bài báo của ông từng được in
trên tờ The Star (một tờ báo hàng ngày bằng tiếng Anh ở Malaya) Tương tự như thế là sự tập hợp 26 bài phát biểu của ông từ 1955 đến 1957 trong The Alliance
road to independence được chia thành các vấn đề gồm: “Phát triển kinh tế”,
Trang 35“Cộng sản”, “Thống nhất dân tộc, Văn hóa và ngôn ngữ tiếng Malay”, “Đàmphán độc lập” và “Con đường phía trước” Với ý nghĩa đó, chúng tôi cũng coinhững bài báo, bài phát biểu của Tunku Abdul Rahman như những tư liệu gốc rất
có giá trị
Tuy nhiên, như đã nêu trong mục đích nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu quá
trình định hình một con đường trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc của Malaya nên những tư liệu chỉ mang tính mô tả quá trình đấu tranh từ sau năm
1945 đến năm 1957 chưa thể đáp ứng nhu cầu nghiên cứu của chúng tôi Vì vậy,những tư liệu chúng tôi hệ thống hóa ở phần trên sẽ giúp chúng tôi có được cáinhìn toàn diện theo cả chiều rộng lẫn chiều sâu vấn đề nghiên cứu đặt ra Mặtkhác, khi nghiên cứu về sự định hình con đường đấu tranh của Malaya, chúng tôibuộc phải có những hiểu biết về con người Malay, đặc tính xã hội Malay/Malayavới sự chi phối của tôn giáo Đạo Hồi, tính chất đa cộng đồng và chủ nghĩa cộngđồng… Không hiểu biết tốt những vấn đề đó, chúng tôi khó có thể lý giải đượcnhững nguyên nhân bên trong của sự định hình con đường đấu tranh giành độclập dân tộc của Malaya Ở khía cạnh này, chúng tôi đặc biệt quan tâm đến khối tư
liệu gồm một số công trình tiêu biểu như The Malay sultanate of Malacca: a
history của Muhammad Yosoff Hashim, 1992 [138] cung cấp những hiểu biết về
Đạo Hồi, hệ thống chính trị, luật pháp, và các vấn đề văn hóa-xã hội của vươngquốc Hồi giáo Malacca Những phân tích của Hashim hết sức mới mẻ và thú vị
về vị trí của Malacca trong lịch sử Malaysia nói riêng và lịch sử Đông Nam Ánói chung "Islam, society and political behavior: Some comparative implications
of the Malay case" của Kessler A [119] và “History of identity, an identity of ahistory: the idea and practise of ‘Malay identity’ in Malaysia reconsidered” củaShamsul, A.B., 2004 [166] trên một khía cạnh nào đó cùng chia sẻ những quanđiểm về mối liên hệ giữa tôn giáo với văn hóa dân tộc, tôn giáo với chính trị, góp
phần tạo nên những “đặc tính Malay” Thực tế là, từ sau cuộc khủng hoảng sắc
tộc Malay-Hoa (tháng 5/1969) ở Malaysia đã chứng kiến sự gia tăng đột biến của
tư tưởng “Malay trung tâm” - “Malay-centric” của các nhà sử học Malaysia, tậptrung nhấn mạnh đặc tính lịch sử và văn hóa Malay trước các nhóm cộng đồngdân tộc khác trong nước Đây chỉ là hai trong số rất nhiều công trình, bài viếtnhìn nhận lại một cách khách quan về cái gọi là “đặc tính Malay” trong xã hội
Trang 36Malaya/Malaysia.18 Trên một khía cạnh khác, trong bối cảnh khá đặc biệt của xã
hội Malaya đa nguyên (đa dân tộc, đa văn hóa…), sự gia tăng chủ nghĩa cộng
đồng và sự chi phối của nó đối với nền chính trị Malaya thực sự là một trở ngại
Boon Kheng “Sino-Malay Conflicts in Malaya, 1945-1946: Communist vendetta
and Islamic resistance”, The masked comrades: A study of the Communist United
Front in Malaya 1945-1948 về “mối thù truyền kiếp” (vendetta) trong quan hệ
tộc người Malay-Hoa đã dẫn đến tình trạng xung đột thậm chí là xung đột vũ
trang giữa hai cộng đồng này Đến Malaysia, the making of a nation (History of
Nation-building Series) [80] và Communalism and the political process in Malaya [154], cả Cheah và K.J Ratnam đều cùng chia sẻ một nhận định: đối với
người Malay, người Hoa đồng nghĩa với cộng sản và ngược lại cộng sản cũngchính là người Hoa, đó là lý do lớn nhất cản trở sự hợp tác giữa các cộng đồngtrong suốt quá trình lịch sử Thậm chí qua những nghiên cứu chuyên sâu về mốiquan hệ giữa người Anh với các nhà cai trị truyền thống người Malay như Rulers and Residents: Influence and power in the Malay states, 1870-1920 của Gullick
J M [103], British relations with the Malay rulers from decentralization to
Malayan independent, 1930-1957 của Simon C Smith [170] đã phân tích vai trò
của các Quốc vương Malay đối với thần dân của họ là toàn bộ cộng đồng ngườiMalay theo Hồi giáo trên mọi khía cạnh tôn giáo, xã hội và chính trị Chính ýthức đó đã dẫn dắt người Anh liên minh với các nhà cai trị truyền thống kể từ khi
“chế độ Công sứ” (Resident system) được thiết lập cho đến khi chuyển giao
quyền lực cho người Malay Đây lại là một gợi ý rất thú vị đối với ý tưởng
nghiên cứu của chúng tôi Nói chung những tư liệu vừa nêu giúp chúng tôi xây
dựng thêm những luận cứ để chứng minh cho một trong những luận điểm đượcđưa ra: con đường đấu tranh giành độc lập mà Malaya đã thực hiện là con đườngkhông hoàn toàn dựa trên một học thuyết chính trị quốc tế cụ thể nào mà căn cứtrên các đặc tính quốc gia, dân tộc, tôn giáo của đất nước Malaya
Cuối cùng, không thể không nhắc đến những công trình thông sử về đất
nước Malaya/Malaysia như Malaysia của Norton Ginsburg và Chester F Roberts [145], A History of modern Malaya của K.G Tregonning [179], History of
18 Cũng trên tinh thần đó, năm 1996 Cheah Boon Kheng có bài “Writing indigenous history in Malaysia.
A survey on approaches and problems, Crossroad: An interdisciplinary Journal of Southeast Asian
Studies, Vol.10, No.2, 1996, tr.33-81.
Trang 37Malaya của Kennedy J [113] hay Malaysia của Gullick J M [102] và một công
trình được đánh giá là hay nhất trong giới thiệu thông sử về đất nước Malaya kể
từ khi công trình được xuất bản cho đến nay, A History of Malaysia của hai học
giả Barbara Watson Andaya và Leonard Y Andaya [67] Những công trình viếtchung về Đông Nam Á cũng rất có giá trị tham khảo đối với đề tài này bởi nhưtrên đã nói, giá trị của chúng chính là ở chỗ cung cấp một bức tranh toàn cảnhtheo “lát cắt dọc” của thời gian và “lát cắt ngang” của vấn đề nghiên cứu trên
bình diện khu vực Công trình A History of South East Asia của D G E Hall (được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1955) là công trình đi tiên phong trong ý
tưởng coi Đông Nam Á là một khu vực lịch sử Một số công trình khác theo
hướng đó cũng được chúng tôi quan tâm khảo cứu như In search of Southeast
Asia - A modern history của Chandler P David, David Joel Steinberg, Alexander
Woodside [74], A modern History of Southeast Asia: Decolonization,
Nationalism and Separatism của Clive J Christie [87], hay Nationalism in Southeast Asia của Nicholas Tarling [142].
Nhận xét:
- Được ví như một “cánh cửa quay” của những cuộc “đến” và “đi” của nhiều
thực dân Âu, Á như Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh và Nhật Bản nên mặc nhiên là,Malaya đã sớm đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều quốc gia và vẫnluôn là đối tượng nghiên cứu đấy sức hấp dẫn của giới học giả thế giới từ khoảngnhững năm 1940 Muộn hơn một chút, trong những năm 1950, 1960, giới học giảkhu vực bắt đầu quan tâm nghiên cứu Malaya/Malaysia Đối với giới học giả làngười bản địa Malaya/Malaysia thì những năm 1960, 1970 mới thực sự là thờiđiểm bùng nổ các nghiên cứu về mọi khía cạnh của đất nước Trên cơ sở đa dạnglĩnh vực nghiên cứu, phạm vi chuyên môn, mục đích nghiên cứu, đa dạng vềphương pháp tiếp cận cũng như cách thức luận giải vấn đề, thành quả nghiên cứucủa các thế hệ học giả đi trước đã cung cấp những tri thức vô giá đối với chúngtôi trong quá trình khảo cứu tư liệu để triển khai đề tài nghiên cứu này
- Khác với những tư liệu được viết bởi các nhà nghiên cứu đồng thời là nhàcai trị còn mang nặng quan điểm thực dân, quan điểm “châu Âu trung tâm” như
đã chỉ ra ở trên, các công trình chuyên khảo, chuyên luận, luận văn, luận án, các
Trang 38bài nghiên cứu của các học giả, các chuyên gia nghiên cứu về Malaya/Malaysiangày càng đánh giá khách quan và công bằng hơn trước các sự thực lịch sử.Nhưng, xét trên một ý nghĩa nào đó, khối tư liệu của các thế hệ các nhà cai trịđồng thời là nhà nghiên cứu Malaya có thể coi như những “tư liệu gốc” bởi vớichức trách, nhiệm vụ của những người trực tiếp soạn thảo, hoặc triển khai cácchính sách của chính quyền Anh, những ghi chép, bình luận của họ cũng có giátham khảo nhất định đối với đề tài Luận án
- Qua sự khảo cứu và hệ thống hóa tư liệu liên quan đến đề tài luận án có thểthấy tư liệu rất tản mạn trên nhiều khía cạnh: lịch sử, chính trị, kinh tế, xã hội,đến các khía cạnh văn hóa, tôn giáo, tộc người Những tài liệu đề cập đến quátrình đi đến độc lập của Malaya lại hầu như chỉ mang tính chất mô tả diễn biến từsau Chiến tranh thế giới II, thậm chí sau khi xuất hiện Đảng Liên minh đến năm
1957 Trên cơ sở của vấn đề nghiên cứu được xác định, ‘bức tranh đa chiều’ nóitrên cho phép chúng tôi quan sát vấn đề nghiên cứu theo cả chiều rộng lẫn chiềuchiều sâu, đưa lại cho chúng tôi khả năng phân tích toàn diện vấn đề nghiên cứu,luận giải có tính hệ thống về quá trình định hình và lựa chọn một con đường đấutranh giành độc lập dân tộc của Malaya
- Những công trình chúng tôi nêu ra trong chương Tổng quan này là nhữngcông trình tra cứu quan trọng nhất đối với đề tài Luận án và nhiều khi có tínhchất đại diện về trường phái nghiên cứu, quan điểm nghiên cứu hay nội dung vấn
đề nghiên cứu… Vì vậy, danh mục đầy đủ các tài liệu tham khảo chắc chắn sẽdài hơn
Chương 2
MALAYA DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH THỰC DÂN CỦA ANH
CUỐI THẾ KỈ XIX - ĐẦU THẾ KỈ XX
2.1 TỪ VƯƠNG QUỐC HỒI GIÁO MALACCA ĐẾN THUỘC ĐỊA MALAYA CỦAANH
Trang 392.1.1 Hồi quốc Malacca và những thế kỉ đầu tiếp xúc với phương Tây
(1400-1786)
Thành phố Malacca được thành lập vào khoảng năm 1400, gắn với tên tuổicủa một hoàng tử Hindu giáo người Sumatra là Paramesvara khi ông quyết địnhchọn Malacca làm nơi định cư Chỉ sau mấy thập kỉ, Malacca đã nhanh chóng trởthành một hải cảng thương mại quan trọng, thậm chí được coi là một trong những
cảng thị quốc tế sầm uất nhất của châu Á Sự hưng thịnh đó trước hết là do vị trí
địa-chiến lược của eo Malacca trên con đường hàng hải từ Ấn Độ Dương sang
Thái Bình Dương.19 Bên cạnh đó, các học giả cũng xem xét sự kết nối trực tiếp
với huyền thoại Srivijaya - một thể chế biển từng một thời hưng thịnh không chỉ
trên phương diện kinh tế, chính trị mà cả trên phương diện văn hóa đã tạo cho
Malacca những nền tảng vững chắc để phát triển [67, tr.34, 54-55] Mặt khác, do
nhận thức được nhiều lợi ích của việc tiếp nhận tôn giáo Đạo Hồi đối với sự phát
triển của vương quốc, Paramesvara đã quyết định cải sang Đạo Hồi Gia nhập
vào thế giới Hồi giáo khiến cho vương quốc cảng này có thêm cơ hội tham giavào guồng máy buôn bán quốc tế Nhờ đó Malacca đã đạt tới vị trí có tầm quantrọng đặc biệt trong hệ thống thương mại ở khu vực và trên thế giới
Nếu Hồi giáo thúc đẩy mở rộng mạnh mẽ các hoạt động trao đổi buôn bánthì chính các hoạt động trao đổi buôn bán lại gia tăng sự lan nhanh của Đạo Hồitrên bán đảo Đạo Hồi nhanh chóng thâm nhập vào các tầng lớp xã hội khác nhau
và ngày càng có vai trò to lớn trong đời sống tinh thần và vật chất của ngườiMalay Từ các nhà lãnh đạo đến thường dân Malay đều dễ dàng tiếp nhận tôngiáo mới mà không thấy có bất cứ sự xáo trộn xã hội nào Thậm chí, truyền thốngvăn hóa Malay được làm giàu thêm bởi những yếu tố văn hóa Hồi giáo Nềnchính trị vốn đang hỗn tạp, dưới ảnh hưởng của Hồi giáo đã đưa đến môi trườngthống nhất Quan trọng hơn cả là khái niệm vương quyền truyền thống của ngườiMalay vẫn được duy trì thậm chí phát triển mạnh thêm trên cơ sở của niềm tinHồi giáo Từ trước khi Hồi giáo đến, các vương công Malay (Raja) đã hợp pháphóa vương quyền của mình bằng niềm tin của người theo Hindu giáo vào sự caitrị thần thánh vì họ chính là hiện thân của Thần thánh Các vương công vốn đã lànhững người rất chuyên quyền, độc đoán, là người không phải chịu trách nhiệmtrước bất kì ai, giờ đây với sự hiện diện của Đạo Hồi, họ lại có thêm nhiều quyền
19 Phụ lục tr.168: Bản đồ Eo Malacca trên tuyến đường buôn bán quốc tế
Trang 40năng siêu nhiên và được coi là người có sức mạnh đặc biệt Các nhà cai trị lúc
này đều mang tước hiệu Sultan của người Ả rập tức Hồi vương hay các Quốc
vương Hồi giáo Họ tự cho mình là “sứ giả của Thánh Allah”, là “cái bóng củaThượng đế trên trái đất” và tự đặt mình vào vị trí là người bảo vệ tôn giáo củangười Malay Quốc vương đã chiếm lĩnh vị trí trung tâm trong xã hội Malay Ôngchính là hình ảnh thu nhỏ của cộng đồng và của đất nước Một người bình thường
không thể có tính đồng nhất như vậy Về phía thần dân, bên cạnh tinh thần phục
tùng vốn có, họ còn phải có nghĩa vụ trung thành với Quốc vương như trungthành với Thánh Allah và nhà tiên tri Mohammad Lời nói của Quốc vương làluật pháp Mọi điều Quốc vương làm đều tuyệt đối đúng Mọi hành động chốnglại Quốc vương đều bị coi là hành động phản bội, hành động nghịch đạo nhất vì
nó cũng có nghĩa là chống lại Đấng Tối cao Thần dân Malay cũng có nghĩa vụphải trung thành với cộng đồng và với (sultanate) tiểu quốc nơi họ sinh sống
Qua khảo cứu nguồn sử liệu gốc bằng tiếng Malay rất có giá trị là Sejarah
Melayu (Truyện sử Malay), B.W Andaya và L.Y Adaya đã chỉ ra chủ đề chế ngự
trong Truyện sử Malay là lòng trung thành tuyệt đối với các Quốc vương và nóđược chấp nhận như là luật tục của người Malay Sự phục từng mọi ý chí củaQuốc vương là một nét văn hóa quan trọng nhất của người Malay từ trong lịch sử.Những yếu tố này trong hệ thống chính quyền truyền thống của người Malayđược phản ánh như sau: Một mặt, “Nếu bất cứ nhà cai trị nào tự đặt mình hơn hẳnthần dân của ông ta thì đó là dấu hiệu cho thấy vương quốc của ông ta sẽ bị hủyhoại bởi Thượng đế toàn năng Nhưng, Thượng đế Toàn năng cũng buộc các thầndân Malay không bao giờ được phép bất trung hay phản bội các nhà cai trị của họngay cả khi họ bị đối xử bất công và độc ác như thế nào.” [67, tr.44-45] Mặtkhác, dù là người nắm quyền lực thế tục tối cao, Quốc vương Malay vẫn luôn ýthức về vai trò của thần dân: “Vua là cây, dân là rễ, sẽ không có cây nếu nhưkhông có rễ, vì thế sẽ không có nhà lãnh đạo nếu như không có thần dân” [67,tr.48] Hay vai trò của tập thể lãnh đạo trong việc cai trị vương quốc cũng rất quantrọng bởi “Không một nhà cai trị nào có thể đạt được sự công bằng cho dù ông ta
có thông minh và hiểu biết đến mức nào nếu không tham vấn những người dướiquyền của ông ta, vì các nhà cai trị được ví như lửa và đội ngũ cận thần của họ
được ví như củi, lửa cần có củi để cháy” [67, tr.46] Như vậy, Quốc vương
-người nắm giữ cả vương quyền lẫn thần quyền trở thành -người có vai trò thống