1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chủ đất trong cộng đồng người Ma Coong ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình

199 392 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chủ đất trong cộng đồng người Ma Coong ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình
Tác giả Nguyễn Văn Trung
Người hướng dẫn Cô Giáo - TS. Trần Hồng Hạnh, Thầy Giáo - TS. Lý Hành Sơn
Trường học Học Viện Khoa Học Xã Hội
Chuyên ngành Dân tộc học
Thể loại Luận án
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 199
Dung lượng 2,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chủ đất trong cộng đồng người Ma Coong ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình

Trang 1

Tôi xin cam đoan luận án này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các

số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận án là trung thực Nhữngluận điểm mà luận án kế thừa của những tác giả đi trước đều có nguồn gốc,xuất xứ rõ ràng Nếu có gì sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Hà Nội, ngày tháng 3 năm 2014

Tác giả luận án

Nguyễn Văn Trung

Trang 2

làng, trưởng bản trong cộng đồng người Ma Coong ở huyện Bố Trạch, tỉnhQuảng Bình đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong quá trình đi khảo sát, điền dãphục vụ cho luận án

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các cán bộ, chiến sĩ đồn biên phòng CồnRoòng; UBND xã Thượng Trạch, UBND xã Tân Trạch, Phòng văn hoá,UBND huyện Bố Trạch đã giúp đỡ tôi thu thập thông tin, tư liệu liên quan đếnluận án

Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô giáo ở Học Viện khoa học xãhội, Viện Dân tộc học và đặc biệt với sự hướng dẫn của Cô giáo - TS TrầnHồng Hạnh và Thầy giáo - TS Lý Hành Sơn đã tận tình giúp đỡ để tôi hoànthành luận án này

Hà Nội, ngày… tháng 3 năm 2014

Tác giả luận án

Nguyễn Văn Trung

Trang 3

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục sơ đồ

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 7

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 7

1.1.1 Tình hình nghiên cứu về người Ma Coong nói riêng, dân tộc Bru-Vân Kiều nói chung 7

1.1.2 Tình hình nghiên cứu về chủ đất, trong đó có chủ đất người Ma Coong 14

1.2 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu 18

1.2.1 Một số khái niệm cơ bản 18

1.2.2 Cơ sở lý thuyết 26

1.2.3 Phương pháp nghiên cứu 28

Tiểu kết chương 1 31

Chương 2: SỰ HÌNH THÀNH CHỦ ĐẤT VÀ HÌNH THỨC TRAO TRUYỀN 32

2.1 Khái quát về người Ma Coong ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình 32

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, dân cư, dân tộc huyện Bố Trạch 32

2.1.2 Lịch sử vùng đất người Ma Coong ở huyện Bố Trạch 33

2.1.3 Người Ma Coong ở hai xã Thượng Trạch và Tân Trạch 38

2.2 S ự hình thành, chức năng, quyền lợi của chủ đất 43

2.2.1 Sự hình thành chủ đất và dòng họ chủ đất 43

2.2.2 Chức năng, quyền lợi và một số vấn đề liên quan đến chủ đất 48

2.3 Dòng họ chủ đất - cơ sở trao truyền và duy trì chủ đất 53

2.3.1 Mối liên hệ giữa chủ đất và dòng họ chủ đất 53

2.3.2 Hình thức trao truyền chủ đất trong dòng họ chủ đất 59

Tiểu kết chương 2 62

Chương 3: VAI TRÒ CỦA CHỦ ĐẤT TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở CỘNG ĐỒNG MA COONG 63

3.1 Chủ đất trong phát triển kinh tế 63

3.1.1 Cơ cấu kinh tế ở cộng đồng Ma Coong 63

3.1.2 Vai trò của chủ đất trong việc tổ chức định canh, định cư 64

3.1.3 Vai trò chủ đất trong việc quản lý và sử dụng tài nguyên (đất, nước, tài nguyên rừng…) trước đây và hiện nay 65

Trang 4

3.1.6 Vai trò của chủ đất trong duy trì các nghi lễ, hình thức tương trợ

liên quan đến các hoạt động sinh kế 78

3.2 Chủ đất trong duy trì ổn định và phát triển xã hội 82

3.2.1 Chủ đất trong thiết chế xã hội truyền thống 82

3.2.2 Chủ đất trong việc thiết lập làng và đề ra các luật tục 87

3.2.3 Chủ đất trong việc góp phần duy trì ổn định và phát triển cộng đồng hiện nay 91

Tiểu kết chương 3 99

Chương 4: CHỦ ĐẤT VỚI VIỆC DUY TRÌ CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG Ở CỘNG ĐỒNG MA COONG 100

4.1 Chủ đất trong việc tổ chức và duy trì những sinh hoạt văn hóa cộng đồng 100

4.1.1 Lễ hội đập trống (toong rịt chi cơ rơ) 101

4.1.2 Lễ tế trâu 113

4.2 Chủ đất trong việc bảo tồn giá trị của các sinh hoạt văn hóa cộng đồng 120

4.2.1 Biểu tượng trống trong lễ hội và trong đời sống của người Ma Coong 121

4.2.2 Các giá trị khác 124

Tiểu kết chương 4 127

Chương 5: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 129

5.1 Kết quả 129

5.1.1 Khái quát chung 129

5.1.2 Chủ đất và những vấn đề liên quan đến chủ đất 132

5.2 Bàn luận 136

5.2.1 Vấn đề tiếp tục phát huy vai trò chủ đất người Ma Coong trong việc duy trì sự ổn định xã hội và an ninh biên giới 136

5.2.2 Vấn đề tiếp tục phát huy vai trò của chủ đất người Ma Coong trong việc bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống 140

5.3 Một số kiến nghị nhằm phát huy vai trò chủ đất trong ổn định, phát triển cộng đồng người Ma Coong trong giai đoạn hiện nay 142

Tiểu kết chương 5 145

KẾT LUẬN 146

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 150

TÀI LIỆU THAM KHẢO 151

PHỤ LỤC 162

Trang 5

Bảng 3.1: Kết quả phát triển kinh tế năm 2009 và 2011 ở xã Thượng Trạch 77Bảng 3.2: Tình hình phát triển lớp và số lượng học sinh (2007 - 2012)

trường Dân tộc nội trú xã Thượng Trạch 98

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 2.1: Sơ đồ gia phả dòng họ chủ đất 56

Sơ đồ 3.1: Cơ cấu tổ chức trong thiết chế xã hội truyền thống ở cộng

đồng người Ma Coong 84

Trang 6

UBND : Uỷ ban nhân dân

HĐND : Hội đồng nhân dân

VHDT : Văn hóa dân tộc

GDP : Tốc độ tăng trưởng kinh tếBV&PTR : Bảo vệ và phát triển rừng

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ở Việt Nam, người Ma Coong là một nhóm địa phương của dân tộcBru-Vân Kiều, cư trú chủ yếu tại 19 bản làng nằm rải rác dọc biên giới Việt -Lào, thuộc hai xã Thượng Trạch và Tân Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh QuảngBình Theo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, cộng đồng MaCoong nơi đây có 400 hộ với 1.950 người [19, tr.4] Địa bàn cư trú của người

Ma Coong bị chia cắt, heo hút giữa đại ngàn Trường Sơn Đời sống của đồngbào cho đến nay còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, chủ yếu dựa vào nương rẫy,săn bắt, hái lượm; kinh tế tự cung tự cấp vẫn là cơ bản

Có thể nói, đã có nhiều bài viết, ấn phẩm của nhiều tác giả nước ngoàicũng như trong nước đề cập đến dân tộc Bru-Vân Kiều dưới nhiều khía cạnhkhác nhau Tuy nhiên, những nghiên cứu về người Ma Coong - một trongnhững nhóm địa phương của dân tộc Bru-Vân Kiều - lại rất hiếm thấy Rõràng, đây vẫn là một khoảng trống nghiên cứu về người Ma Coong nói chung Cũng như nhiều dân tộc thiểu số, cộng đồng khác ở Việt Nam, trướcđây khi chưa có sự vận hành bằng cơ chế nhà nước, để thiết lập trật tự xã hộicủa người Ma Coong ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình được xem là “tựquản” này và duy trì nó, rõ ràng phải có vai trò của cá nhân “thủ lĩnh” Ở cộng

đồng người Ma Coong, những “thủ lĩnh” này chính là chủ đất/chủ xứ… (a châu cu téc/a châu k ruông…)

Huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình vốn là quê hương của tôi Tôi đã có

sự đồng cảm và hiểu biết nhất định về làng quê của mình, trong đó có cộngđồng người Ma Coong Cho đến nay, trong khi ở nhiều cộng đồng lân cậnkhác như người Vân Kiều, Khùa, Trì, A Rem…, hình ảnh chủ đất/chủ xứ của

họ rất mờ nhạt, thậm chí không tồn tại mà chỉ còn là các câu chuyện kể, thì ởcộng đồng người Ma Coong nơi đây, đang tồn tại ngôi vị “chủ đất/chủ xứ” và

Trang 8

đi kèm với nó những ảnh hưởng lớn của người này tới cộng đồng Điều nàyđược thể hiện ở chỗ, cho đến nay, mặc dù chính quyền nơi đây từ lâu đã đượcvận hành và hoạt động, nhưng nhiều cuộc họp bàn về việc triển khai một sốchủ trương, chính sách của Nhà nước, những vấn đề liên quan đến an ninh,trật tự trong cộng đồng, triển khai xây dựng một số công trình cơ sở hạ tầng,những sự việc liên quan đến mối quan hệ đồng tộc ở hai bên biên giới… củachính quyền nơi đây vẫn đang cần đến sự hỗ trợ, tham vấn của ông chủ đất.Bên cạnh đó, người Ma Coong cũng tôn trọng và tuân thủ nghiêm ngặt nhiềuluật tục của cộng đồng, trong đó có những điều cấm kỵ linh thiêng, quy ướcbất thành văn của dòng họ ông chủ đất… Thực tế cho thấy, hiện nay chủ đấtcùng với dòng họ của mình đang chủ động tổ chức, điều hành, duy trì các sinhhoạt văn hóa tín ngưỡng cộng đồng như lễ hội, lễ tế trâu, cúng tế làng bản…

Từ đó, nhiều câu hỏi được đặt ra: Chủ đất của người Ma Coong là ai?

Họ được hình thành và nối truyền như thế nào? Chủ đất có vị trí, vai trò gìtrong đời sống và thiết chế xã hội truyền thống cũng như hiện tại? Trong bốicạnh hiện nay, sự tương tác trong các mối quan hệ ấy bởi các chủ trương,chính sách của Nhà nước cùng với sự vào cuộc của các cấp, các ngành, các tổchức xã hội? Niềm tin và sự nhìn nhận, đánh giá của cộng đồng đối với ôngchủ đất…?

Trả lời được những câu hỏi này sẽ giúp chúng ta nhận diện được bảnchất, vị trí, vai trò và giá trị của người chủ đất trong cộng đồng Từ đó, cónhững chính sách, giải pháp nhằm tiếp tục phát huy vai trò của người chủ đất,người có uy tín trong cộng đồng… trong việc góp phần duy trì ổn định vàphát triển xã hội cũng như bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống ở cộngđồng người Ma Coong ở khu vực biên giới Việt - Lào Đây là lý do để tôi

chọn đề tài: “Chủ đất trong cộng đồng người Ma Coong ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình” làm đề tài luận án tiến sĩ Nhân học văn hóa của mình.

Trang 9

2 Mục đích nghiên cứu

Thực hiện đề tài luận án này nhằm những mục đích sau:

- Tìm hiểu về sự hình thành và đặc điểm người chủ đất cũng như cơ sởduy trì, trao truyền chức chủ đất trong cộng đồng người Ma Coong ở huyện

Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình;

- Làm rõ vị trí, vai trò và sự đóng góp của người chủ đất trong việc ổnđịnh và phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa ở cộng đồng người Ma Coongtrước đây cũng như hiện nay;

- Đề xuất kiến nghị nhằm phát huy vai trò của người chủ đất để ổn định

và phát triển cộng đồng người Ma Coong ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng và phạm vi nội dung nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của luận án là người chủ đất trong cộng đồngcủa người Ma Coong - một nhóm địa phương của dân tộc Bru-Vân Kiều

Phạm vi nội dung nghiên cứu của luận án được xác định là người chủđất và vai trò của ông trong cộng đồng người Ma Coong Người chủ đất ở đâyđược nhìn nhận tương đối toàn diện về nhiều mặt như: nhân thân, quá trìnhhình thành, hình thức nối truyền, thế giới quan Bên cạnh đó, luận án đặcbiệt quan tâm đến vai trò người chủ đất trong phát triển kinh tế - xã hội vàduy trì văn hóa truyền thống của người Ma Coong

Phạm vi thời gian để nghiên cứu biến đổi làng bản và vai trò chủ đấtcủa người Ma Coong được xác định là trước và sau Đổi mới đất nước (1986)

Sở dĩ có sự lựa chọn phạm vi thời gian như vậy là do sau năm 1986, nhất làgần đây khi cơ chế thị trường ngày càng thâm nhập và phát triển ở nhiều vùngmiền cùng với các chính sách hỗ trợ của Nhà nước, vùng người Ma Coong cónhững biến đổi khá rõ rệt

Trang 10

3.2 Phạm vi địa bàn nghiên cứu

Phạm vi địa bàn nghiên cứu được chọn chủ yếu là hai xã Thượng Trạch

và Tân Trạch thuộc huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình Bên cạnh đó, địa bànnghiên cứu còn được mở rộng tới một số bản người Ma Coong ở huyện Bua

La Pha, tỉnh Khăm Muộn - Lào để so sánh hình ảnh người chủ đất của người

Ma Coong ở hai quốc gia khác nhau nhằm tìm ra những tương đồng và khácbiệt do ảnh hưởng của các yếu tố chính sách của mỗi quốc gia, môi trường xãhội, địa lý tự nhiên Ngoài ra, các cộng đồng khác cận cư với người MaCoong như người Vân Kiều, Trì, Khùa và một số tộc người cùng chung sống

trên dãy Trường Sơn cũng ít nhiều được quan tâm

4 Nguồn tư liệu nghiên cứu

Nguồn tư liệu chính của luận án được dựa trên các tài liệu, tư liệu điền dã dân tộc học mà tác giả đã trực tiếp thu thập trong nhiều năm, quanhiều đợt đi thực địa tại các địa bàn sinh sống của người Ma Coong ở hai xãThượng Trạch và Tân Trạch thuộc huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, và ởmột số địa bàn khác như bản Nòong Ma, bản Pà Ác thuộc xã Nòong Ma,huyện Bua La Pha, tỉnh Khăm Muộn - Lào để nghiên cứu so sánh

Bên cạnh nguồn tài liệu và tư liệu thu thập được tại thực địa, tác giảluận án còn sử dụng các tài liệu thứ cấp sẵn có ở địa phương như các số liệuthống kê, các báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hộihàng năm của Phòng Dân tộc huyện Bố Trạch, các xã Thượng Trạch và TânTrạch thuộc huyện Bố Trạch

Ngoài ra, tác giả luận án cũng kế thừa những nghiên cứu, ấn phẩm đãcông bố của các nhà khoa học trong lĩnh vực Dân tộc học, Văn hóa học trong

và ngoài nước liên quan đến đề tài luận án Đồng thời, kết quả nghiên cứu từ

luận văn thạc sĩ của tác giả luận án về “Lễ hội đập trống của người Ma Coong (xã Thượng Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình)”, các luận văn,

Trang 11

luận án khác đã được bảo vệ hoặc công bố có liên quan đến đề tài luận án nàycũng được quan tâm.

5 Đóng góp của đề tài

- Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên có tính hệ thống và chuyên sâu

về chủ đất của cộng đồng người Ma Coong Thông qua nghiên cứu này, luận

án muốn làm rõ diện mạo văn hóa - lịch sử, thiết chế xã hội (cả truyền thống

và hiện tại) của người Ma Coong, trong đó, đặc biệt nhấn mạnh vai trò củangười chủ đất trong đời sống cộng đồng người Ma Coong

- Luận án góp phần chỉ ra và làm rõ những nét tương đồng và khác biệt

về vị trí, vai trò của chủ đất người Ma Coong ở huyện Bố Trạch, tỉnh QuảngBình so với chủ đất của một số dân tộc khác

- Luận án không chỉ là bức tranh phong phú về cộng đồng người MaCoong và giúp ích cho việc hiểu biết thêm về dân tộc Bru-Vân Kiều ở nước

ta, mà còn đóng góp thêm nhiều tư liệu mới cho nhiều ngành khoa học, nhất

là Dân tộc học/Nhân học, Văn hóa học

- Nghiên cứu này còn góp phần cung cấp những luận cứ khoa học, làm

cơ sở cho các nhà quản lý và các nhà hoạch định chính sách để tìm ra nhữnggiải pháp quản lý xã hội sao cho hợp lý và hiệu quả hơn đối với cộng đồngngười Ma Coong ở vùng biên giới Việt - Lào cũng như các dân tộc thiểu sốkhác Trong đó, đặc biệt lưu tâm đến việc quản lý xã hội dựa vào cộng đồng

và những đóng góp của những người có uy tín với tầm ảnh hưởng lớn trongcộng đồng các dân tộc

6 Bố cục luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án

được kết cấu thành 5 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và phươngpháp nghiên cứu

Chương 2: Sự hình thành chủ đất và hình thức trao truyền

Trang 12

Chương 3: Vai trò của chủ đất trong phát triển kinh tế - xã hội ở cộngđồng người Ma Coong

Chương 4: Chủ đất với việc duy trì các giá trị văn hóa truyền thống củangười Ma Coong

Chương 5: Kết quả và bàn luận

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU,

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Người Ma Coong cùng người Trì, Khùa là những nhóm địa phương củadân tộc Bru-Vân Kiều [114, tr.61] Do đó, giữa họ có những nét tương đồng

về phong tục tập quán, ngôn ngữ, đặc điểm cư trú Trong các nhóm ngườinày đều có những mối quan hệ văn hóa - lịch sử rất gần gũi với nhau Vì vậy,khi đề cập tới lịch sử nghiên cứu về người Ma Coong, không thể không đềcập đến những nghiên cứu về dân tộc Bru-Vân Kiều

1.1.1 Tình hình nghiên cứu về người Ma Coong nói riêng, dân tộc Bru-Vân Kiều nói chung

1.1.1.1 Tình hình nghiên cứu của các học giả nước ngoài về người

Ma Coong và dân tộc Bru-Vân Kiều

Có thể nói, trước thời kỳ thuộc Pháp (1858), chưa thấy một tư liệu, bàiviết thành văn nào của tác giả nước ngoài đề cập đến dân tộc Bru-Vân Kiều,trong đó có người Ma Coong ở nước ta Tuy nhiên, trong và sau thời kỳ thuộcPháp, đã xuất hiện khá nhiều tài liệu, ấn phẩm của các tác giả nước ngoài nóiđến các nhóm của dân tộc Bru-Vân Kiều Có thể kể đến một số ví dụ điển

hình như: Những con đường sang Lào: Từ Savanakhet đến Lao Bảo của Anonyme (1906) [5]; Dân tộc học Đông Dương của Anonnyme (1921) [4]; Các đồn bốt quân sự ở Quảng Bình và Quảng Trị của Cadière, L và H Cosserat (1929) [14]; Nước Lào và các cư dân dã man ở Đông Dương của

Harmand, J F (1879) [37] Tuy nhiên, do xuất phát từ nhiều mục đích, lĩnhvực khác nhau như quân sự, địa lý, thám hiểm, du lịch nên các tài liệu nàychỉ nhắc đến hoặc đề cập rất sơ lược về dân tộc Bru-Vân Kiều, chưa có những

Trang 14

nghiên cứu cụ thể, nhất là đôi khi còn nhầm lẫn tên gọi giữa tộc người này vớitộc người khác.

Trong các tài liệu của các tác giả nước ngoài, đáng chú ý, có một số bàiviết, ấn phẩm đã ít nhiều đề cập khá cụ thể về dân tộc Bru-Vân Kiều, trong đó

có một số phong tục tập quán, thiết chế xã hội của dân tộc này Đặc biệt,một số công trình cũng đã nhắc đến những cái tên như người đầu làng, ngườichủ làng, già làng Cụ thể như sau:

Cuốn sách Người Bru của tác giả Joaan L Bchroch và cộng sự, do Bộ

Quân lực Mỹ xuất bản năm 1966 (bản dịch của Phạm Khắc Hồng), đã nhắcđến tên gọi “người Bru”, nhưng tôi cho rằng tác giả đang nói về dân tộc Bru-Vân Kiều Trong phạm vi địa lý cùng với nhóm ngôn ngữ Môn – Khơ-me màtác giả Joaan L Bchroch và cộng sự đề cập đến, chưa thấy tài liệu nào nói vềngười “Hương Kong” như tác giả đề cập đến trong cuốn sách này So với cácnhóm địa phương của dân tộc Bru-Vân Kiều, người Ma Coong lại có nhiềunét tương đồng với người Vân Kiều như ngôn ngữ, tập quán, kể cả các mốiquan hệ thân thuộc Hơn nữa, ngay từ phần nhập đề, tác giả cũng cho rằngngười Bru còn có tên gọi khác là Vân Kiều và Hương Kong với dân sốkhoảng 40.000 - 50.000 người, sống ở từng làng biệt lập; họ không có tổ chứcchính trị trọng tâm của các bộ lạc, tự trị trong các tỉnh Quảng Trị và ThừaThiên, ở Lào và Bắc Việt Nam, ngôn ngữ thuộc hệ Môn – Khơ-me [10, tr.2].Như vậy, có thể thấy rằng, người Bru và Hương Kong được đề cập trong cuốnsách của Joaan L Bchroch và cộng sự chính là dân tộc Bru-Vân Kiều, baogồm cả người Ma Coong mà luận án đang quan tâm

Ngoài ra, trong cuốn sách vừa đề cập ở trên, các tác giả đã bàn đến một

số vấn đề như cảnh quan, hình thức cư trú, tổ chức kinh tế và một số phongtục tập quán, nghi lễ tín ngưỡng Trong đó, có lễ hiến tế súc vật (phổ biến làhiến tế con trâu) để tạ lỗi với các thần linh, tránh dịch bệnh và các tai nạn

Trang 15

khác cho làng bản Trong các lễ hiến tế này, người già làng đứng ra điềukhiển lễ hiến sinh của toàn làng [10, tr.15] Qua cách miêu tả nghi thức củacác tác giả về lễ hiến sinh ấy, có rất nhiều nét tương đồng với nghi lễ tế trâu

của người Ma Coong, mà tiếng Ma Coong gọi là toong la pe chi riếc

Năm 1972, John D Miller có bài viết với tiêu đề “Quan hệ thân thuộc của người Bru” đăng trên Tạp chí Quốc tế “Đông Nam Á” Bài viết dài 15

trang, mở đầu tác giả khái quát các hoạt động kinh tế để duy trì cuộc sống củacộng đồng và tập tục thừa kế tài sản Tác giả nhấn mạnh đến một vấn đề màbản thân tác giả đã có thời gian nghiên cứu nghiêm túc tại thực địa1, và đâyđược xem là nội dung cơ bản của tài liệu này Cụ thể là tác giả đã đề cập đếnmột người có vai trò quan trọng trong xã hội Bru, tức “người đầu làng” Theotác giả, người đầu làng trong xã hội Bru là người có kiến thức uyên thâm vềcác luật tục của bộ lạc, tinh thông trong các nghi lễ sinh hoạt tín ngưỡng Người đó có quyền đặt ra một số luật tục, đồng thời có quyền hành hợp pháptrong việc xử lý các công việc của cộng đồng, mọi quyền sở hữu đất đai trongmột làng đều nằm dưới sự kiểm soát của người đầu làng [66, tr.5] Các thôngtin về người đầu làng của người Bru như vừa đề cập ở trên có rất nhiều néttương đồng với người “chủ đất” trong cộng đồng người Ma Coong Đây lànhững thông tin, tư liệu rất quan trọng và đáng quan tâm cho luận án này

Ngoài Joaan L Bchroch và cộng sự, Gabor Vargyas cũng nghiên cứu

về người Bru và xuất bản ấn phẩm Người Bru qua một thế kỷ văn học (bản dịch của Nguyễn Bích Lợi) dài 95 trang Đây là một trong những cuốn sách

được đầu tư nghiêm túc, có chú thích và tài liệu tham khảo phong phú, rõràng Theo Gabor Vargyas, người Bru ở Việt Nam và trong nền văn học ViệtNam được gọi là người Vân Kiều; bên cạnh đó, còn có tên gọi khác là

1 John D Miller, Giáo sư về ngôn ngữ học, đã làm việc tại Cộng Hòa Việt Nam từ năm 1959 đến năm 1971, theo lời tựa của cuốn sách.

Trang 16

Makong (hay Mang Kong) [118, tr.1] Như vậy, tác giả cho rằng tuy có nhiềucách gọi, nhưng người Bru, người Vân Kiều và người Ma Coong chỉ là một

Trong nửa phần đầu của cuốn sách, Gabor Vargyas đề cập đến nhữngcuộc thám hiểm để chinh phục lưu vực sông Mê Kông và Đông Dương củacác nhà thám hiểm; vào thời gian đầu, phải kể đến Harmand, Malglaive,Lemire Đa số các nhà thám hiểm là lính đánh thuê trong quân đội hoặc dân

sự với mục đích trước tiên là phục vụ quân sự Chính họ đã có nhiều cuốnsách và tài liệu có giá trị (viết về địa lý, cảnh quan, một số phong tục tậpquán ) đáp ứng một số yêu cầu về thông tin cho quân sự

Nhà thám hiểm Châu Âu mô tả vùng lãnh thổ của người Bru đầu tiên làFrancois Jules Harmand, diễn ra khoảng năm 1880 Tuy nhiên, theo GaborVargyas, đến năm 1905, bản tóm tắt dân tộc học trước tiên về người Bru mớiđược xuất bản Đó là bản tóm tắt về người Bru ở Lào - công trình của Macey(1905), vốn là Ủy viên của Tổng trấn Cammon (nay là tỉnh Khăm Muộn -Lào, giáp với tỉnh Quảng Bình - Việt Nam) Cuốn sách ấy có giá trị lớn vìnhờ đó, tộc danh Bru lần đầu tiên xuất hiện trong văn học [118, tr.33]

Trong nửa cuối của cuốn sách nói trên, tác giả Gabor Vargyas đã lầnlượt liệt kê các tác giả khác có những bài viết, ấn phẩm đề cập đến sự xuấthiện và cách sử dụng tộc danh Bru (có tính văn học trong các ấn phẩm) Tuynhiên, nội dung của những bài viết và ấn phẩm đó chủ yếu giới thiệu nhữngcâu chuyện, giai thoại, truyền thuyết có liên quan đến người Bru

Có thể nói, dù chưa phải là phổ biến, với số lượng còn ít ỏi và khá sơlược, những bài viết, công trình nghiên cứu về dân tộc Bru-Vân Kiều, trong

đó có người Ma Coong của các tác giả nước ngoài chủ yếu đề cập đến một sốphong tục, tập quán, vị trí địa lý, một số nghi lễ của dân tộc này Bên cạnh

đó, có tác giả cũng đã nhắc đến “người đầu làng”, tức người “chủ làng” - vấn

đề mà luận án này đang quan tâm Mặc dù vậy, những nghiên cứu vừa kể trên

Trang 17

cũng cung cấp một bức tranh sơ lược và những thông tin cơ bản về dân tộc

mà luận án muốn nhắm đến; chúng có thể là những tư liệu tham khảo hữu íchcho luận án này

1.1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước về dân tộc Bru-Vân Kiều, trong đó có người Ma Coong

Nghiên cứu tư liệu cho thấy, trước năm 1975, tình hình nghiên cứu vềdân tộc Bru-Vân Kiều ở trong nước ít được chú ý Có lẽ nguyên nhân là dovào thời kỳ ấy tình hình chiến tranh ác liệt kéo dài và dân tộc Bru-Vân Kiều

cư trú ở những nơi tương đối hẻo lánh, biệt lập, đường sá đi lại quá khó khăn

và khó tiếp cận Tuy nhiên, vẫn có một vài công trình nổi bật trong thời kỳ ấyliên quan, dù ít hay nhiều, đến dân tộc Bru-Vân Kiều Có thể kể một số cuốn

sách như: Các dân tộc nguồn gốc Nam Á ở miền Bắc Việt Nam của Vương Hoàng Tuyên (1963) [112]; Các dân tộc miền núi Bắc Trung Bộ của Mạc Đường (1963) [32]; Các dân tộc Môn-Khơme ở miền Bắc Việt Nam của Phan

Hữu Dật (1964) [25] Trong các tài liệu này, các tác giả đã đề cập đến nguồngốc, di cư và sự hình thành của một số dân tộc, trong đó có các nhóm địaphương của dân tộc Bru - Vân Kiều; tuy nhiên, mới chỉ có các giả thuyết, màchưa có những khẳng định chắc chắn về các vấn đề được nêu

Năm 1975, đất nước được hoàn toàn giải phóng, Đảng và Nhà nước tarất quan tâm đến đồng bào các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, trong đó có dântộc Bru-Vân Kiều Chính vì vậy, sau mốc thời gian này, tình hình nghiên cứu

về người Bru-Vân Kiều đã có những bước tiến đáng ghi nhận cả về số lượng

và chất lượng Có thể kể đến Ngô Đức Thịnh với nghiên cứu Mối quan hệ tộc người của các nhóm Bru ở Bình Trị Thiên (1975) [90] Như tiêu đề của bài

viết, qua các tài liệu thu thập được kết hợp với nghiên cứu thực địa, tác giả đã

đi sâu nghiên cứu những mối quan hệ của tộc người này và đã chỉ ra các cáchgọi “Bru” Theo tác giả, người Bru bao gồm nhiều nhóm khác nhau, được

Trang 18

phân biệt trước tiên ở tên gọi như Bru Ma Coong, Bru Trì, Bru Khùa [90,tr.53] Bên cạnh đó, cách gọi khác của người Bru cũng khá phức tạp và chồngchéo nhau Ví dụ như Bru Trì được người Việt gọi là Ca Lơ (Ka Lơ), LeuLeung, Mọi

Cuốn Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Bắc) của Viện Dân tộc học (1978) [114] đã dành 14 trang để viết về người Bru, trong đó có

đề cập đến sự hình thành tộc người Bru ở Việt Nam Theo đó, người Bruđược cho rằng xưa kia đã từng sinh tụ ở miền Trung Lào Sau nhiều biến độngcủa lịch sử diễn ra hàng thế kỷ, họ phải di cư theo nhiều hướng Một bộ phận

có lẽ được mang tên là Trì, đi về hướng Đông và tụ cư ở miền Tây Quảng TrịViệt Nam Họ dừng lại ở khu vực xung quanh hòn núi Vân Kiều (còn gọi làViên Kiều) Về sau, người ta lấy tên của hòn núi đặt cho một tổng của họ; do

đó, đồng bào thường được gọi là người Vân Kiều [114, tr.126] Một nhómkhác là Bru Ma Coong cũng từ Lào di cư sang, nhưng muộn hơn nhóm BruVân Kiều hiện đang sống ở các xã Tân Trạch, Thượng Trạch thuộc huyện BốTrạch, tỉnh Quảng Bình ngày nay Cuốn sách cũng đề cập đến ngôn ngữ và sosánh các mối quan hệ giữa các nhóm, nhưng mới chỉ dừng lại ở một số ví dụ.Ngoài ra, các phong tục tập quán, tín ngưỡng, nhà ở của tộc người này cũngđược bàn đến nhiều Tuy nhiên, các thông tin có liên quan được nêu ra mớichỉ tập trung vào nhóm Bru thứ nhất, đó là nhóm Bru Vân Kiều (theo cáchchia của nhóm tác giả trong cuốn sách ấy), còn nhóm Bru thứ hai (Bru MaCoong) thì chưa được bàn luận hoặc nếu có, cũng rất ít Như vậy, bên cạnhnhững nét tương đồng trong một số phong tục tập quán của các nhóm Bru nóichung, người Ma Coong cũng có những khác biệt chưa được đề cập trongcuốn sách này

Trong khoảng thời gian 1995 - 1998, đã có rất nhiều bài viết về một sốphong tục tập quán liên quan đến chu kỳ vòng đời của người Bru: hôn nhân,

Trang 19

tập tục sinh đẻ, tang ma Đó là các bài viết như Hôn nhân và gia đình của người Bru-Vân Kiều ở miền Tây Quảng Trị của Hồ Xuân Linh [53]; Hôn nhân - gia đình - ma chay của người Tà Ôi, Cơ-Tu, Bru-Vân Kiều ở Quảng Trị - Thừa Thiên của Lê Phạm Minh Quý [76]; Hôn nhân và thân phận lệ thuộc của người phụ nữ Bru-Vân Kiều của Lý Tùng Hiếu [40]; Tập tục sinh

đẻ và nuôi con ở người Bru-Vân Kiều huyện Hướng Hóa, Quảng Trị của Vũ Đình Lợi [56]; Những hình thức tang lễ của người Bru-Vân Kiều của Hồ Chư

[17] Điểm đáng chú ý là các công trình, bài viết vừa kể trên chứa đựng nguồn

tư liệu thực địa phong phú, công phu Điều đó cũng dễ hiểu bởi một số côngtrình, khóa luận tốt nghiệp do tác giả là người địa phương thực hiện Tuynhiên, các bài viết ấy đều giống nhau về cách tiếp cận: chủ yếu theo lối khảo

tả, hầu như không phân tích; càng hiếm có những nghiên cứu so sánh giữa cácnhóm địa phương, cho dù là các nhóm ấy thuộc một dân tộc Nếu có sự diễngiải và so sánh, chắc sẽ chỉ ra những điểm riêng và khác biệt rõ hơn giữa cácnhóm địa phương của tộc người Bru-Vân Kiều

Như vậy, so với nguồn tư liệu về dân tộc Bru-Vân Kiều của các học giảnước ngoài, các nhà khoa học Việt Nam, đặc biệt là các nhà dân tộc học, đã

có những quan tâm, nghiên cứu nhiều hơn về dân tộc này Tuy nhiên, cho đếnnay vẫn còn hiếm những nghiên cứu chuyên sâu về người Ma Coong - mộtnhóm địa phương của dân tộc Bru-Vân Kiều

Liên quan trực tiếp đến nghiên cứu người Ma Coong, đáng chú ý nhất

là một số bài viết của tác giả Nguyễn Văn Trung đăng trên một số tạp chí

chuyên ngành trong thời gian gần đây Cụ thể là các ấn phẩm: Lễ hội đập trống của người Ma Coong [105]; Một số phong tục tập quán của người Ma Coong ở phía Tây Quảng Bình [106]; Yếu tố tâm linh trong đời sống của người Ma Coong [107]; Biểu tượng trống trong lễ hội và trong đời sống của người Ma Coong [108]; Trống trong đời sống xã hội của người Ma Coong

Trang 20

[110] và Lễ hội đập trống của người Ma Coong [109] Có thể nói, đây là

những bài viết và luận văn thạc sĩ đầu tiên nghiên cứu về người Ma Coong,cũng chính do tác giả luận án thực hiện Trong đó, tác giả đã giới thiệu một sốphong tục tập quán, đời sống vật chất và tâm linh của người Ma Coong Đặc

biệt, luận văn thạc sĩ của tác giả về Lễ hội đập trống của người Ma Coong

chủ yếu mô tả diễn biến của lễ hội đập trống Thông qua lễ hội ấy, tác giả đãchỉ ra một số vấn đề như nét độc đáo trong lễ hội, trống thể hiện bản sắc vănhóa tộc người và như là một biểu tượng cố kết cộng đồng, một số vấn đề đặt

ra trong bối cạnh hiện nay đối với lễ hội của người Ma Coong Tuy nhiên,các bài viết cũng như luận văn vừa đề cập cũng chỉ dừng lại ở mức độ khảo tả

về văn hóa của người Ma Coong, chưa có điều kiện tập trung phân tích, đánhgiá, hay so sánh với tộc người khác để thấy được nét tương đồng và khác biệttrong đời sống văn hóa - xã hội của đồng bào Ma Coong

Tóm lại, cho đến nay đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về dântộc Bru-Vân Kiều, trong đó có người Ma Coong Những nghiên cứu ấy đã đềcập đến khá nhiều khía cạnh Song, vẫn chưa có một nghiên cứu chuyên khảo

về người Ma Coong, ngoại trừ một số bài viết, luận văn thạc sĩ của chính tácgiả luận án Tuy nhiên, các bài viết và luận văn của tác giả cũng chỉ đề cậpđến một số phong tục, tập quán, lễ hội Mặc dù vậy, những công trình nghiêncứu vừa kể trên cũng cung cấp nguồn thông tin và tư liệu quý, làm nền tảngcho nghiên cứu sâu hơn về người Ma Coong, trong đó có vai trò của chủ đất -người có uy tín trong cộng đồng Ma Coong ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình

1.1.2 Tình hình nghiên cứu về chủ đất, trong đó có chủ đất người

Ma Coong

Ở người Ma Coong, trong mỗi bản làng đều có một đến hai người giàlàng Song, khi nói đến già làng của cả cộng đồng Ma Coong ở huyện BốTrạch, tỉnh Quảng Bình thì chỉ có một, và người ấy cũng chính là người chủ

Trang 21

đất Vì thế, chủ đất của người Ma Coong, ngoài cương vị và trách nhiệm củamình, còn giữ vai trò như một già làng Bởi vậy, trước khi điểm qua tình hìnhnghiên cứu về chủ đất, không thể bỏ qua những nghiên cứu về già làng

1.1.2.1 Tình hình nghiên cứu về già làng

Nhận thức được tầm quan trọng của những người có uy tín trong cộngđồng, đặc biệt là những người lớn tuổi, ở nhiều nơi còn được coi là “giàlàng”, cho đến nay đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về già làng.Trong đó, có thể kể đến một số ấn phẩm sau:

Trần Khải Định với bài viết Phát huy vai trò các già làng ở Đắc Lắc2

[27] cho thấy trước đây già làng rất am hiểu về luật tục nên thường đứng ragiải quyết các xích mích, mâu thuẫn trong nội bộ cộng đồng; ngay nay, giàlàng ở tỉnh Đắk Lắk vẫn là người vận động, giải thích và thực hiện các chủtrương, chính sách của Đảng và Nhà nước Theo tác giả, già làng ở tỉnh ĐắkLắk cũng chính là Trưởng bản [36, tr.49]

Bàn về vai trò của già làng ở Tây Nguyên trong phát triển kinh tế có

Vai trò của người cao tuổi và già làng dân tộc thiểu số trong phát triển ở Tây Nguyên hiện nay của Nguyễn Thế Huệ [48] và Người cao tuổi dân tộc và già làng trong phát triển bền vững Tây Nguyên cũng của chính tác giả này [47].

Đây là những công trình nghiên cứu khá công phu về người cao tuổi và giàlàng ở Tây Nguyên - cũng là khía cạnh được luận án chú ý bởi mối quan tâmtương đồng về vấn đề người cao tuổi, già làng, người có uy tín trong cộng đồng

Linh Nga Niê Kdam với Già làng Tây Nguyên [69] đã chỉ ra hai vấn đề

đáng chú ý nhất: 1) Hình ảnh các già làng trong trường ca - sử thi và truyệncổ; và 2) Ảnh hưởng của già làng trong luật tục cổ truyền Hai vấn đề vừa kểtrên có liên quan trực tiếp đến luận án này; do vậy, chúng cũng là nguồn tưliệu tham khảo rất hữu ích

2 Nay địa danh này được viết là Đắk Lắk.

Trang 22

Có thể nói, các công trình nghiên cứu vừa kể trên tuy chưa đề cập nhiềuđến thuật ngữ “chủ đất”, có chăng mới chỉ chung chung, song đây là những tưliệu rất đáng quan tâm, hữu ích để có được những so sánh trong luân án.

1.1.2.2 Tình hình nghiên cứu về chủ đất và chủ đất người Ma Coong

Quá trình tìm kiếm và thu thập tư liệu cho thấy đã có một số bài viết,

ấn phẩm có bóng dáng, hình ảnh của người “chủ đất” nhưng chưa đặt thànhnhững chương, mục, nội dung cụ thể về vấn đề này Tuy vậy, đó cũng lànhững tư liệu đáng quan tâm Chẳng hạn như một số tài liệu dưới đây:

Cuốn Cơ cấu tổ chức làng Bru cổ truyền ở huyện Hướng Hóa, Bình Trị Thiên của Vũ Lợi [55], tuy chỉ dài 12 trang, nhưng chứa đựng rất nhiều thông tin gần với thực tiễn liên quan đến chủ làng (xuất - vil), chủ đất (xuất cu tẹ).

Bàn đến chủ đất, tác giả viết: “quyền sở hữu đất đai được biểu hiện ở ngườichủ đất, những người từ nơi khác đến, muốn được sinh sống trong làng phải

có một lễ nhỏ (con gà và một chai rượu) để xin phép chủ đất, lễ này được tiếnhành tại nhà chủ đất và có sự tham gia của hội đồng già làng Như vậy, theotác giả Vũ Lợi, chủ đất là người thay mặt cộng đồng quản lý đất đai và giữgìn luật tục, có quyền cho phép hoặc xử phạt những trường hợp vi phạm đấtđai của cộng đồng

Đề cập đến thiết chế của xứ (vùng), Tạ Long và Ngô Thị Chính có bài

viết Đôi nét về tổ chức trên làng của người Chứt và người Bru-Vân Kiều ở Quảng Bình Đây cũng là một trong những bài viết hiếm hoi đề cập đến chủ

đất, trong đó có chủ đất của người Ma Coong: khái niệm, phân loại, chứcnăng, quyền lợi của chủ đất/chủ xứ [59, tr.30]

Có thể cho rằng, các tác giả Tạ Long, Ngô Thị Chính và Vũ Lợi cócùng một số quan niệm khi đề cập đến chủ đất như là người có công khai phá

ra vùng đất mới, chịu trách nhiệm về các nghi lễ cúng tế cộng đồng và làng

(vil) là một tổ chức xã hội cơ bản trong xã hội truyền thống của người Bru, và

Trang 23

mỗi vil có một bộ máy điều hành và quản lý mọi sinh hoạt của cộng đồng.

Tuy nhiên, theo tác giả Vũ Lợi, chủ đất của người Bru ở đây là chủ của một

làng (vil), còn hai tác giả Tạ Long và Ngô Thị Chính lại cho rằng chủ đất là chủ của xứ (k’ruông), tức chủ của cả một vùng mà trong đó có rất nhiều làng (vil) Song, có điều đáng lưu ý là, do hai tác giả Tạ Long và Ngô Thị Chính

không phân biệt chủ đất của người Bru-Vân Kiều và người Ma Coong nên khi

đề cập đến các lễ cúng, những thông tin mà các tác giả đưa ra mới chỉ nói đếnchủ đất người Bru-Vân Kiều Trong khi đó, trên thực tế, người Ma Coong cóhai lễ cúng rất quan trọng mà chủ lễ chính là ông chủ đất, nhưng chưa thấycác tác giả trên nhắc đến trong các công trình của mình, đó là: cúng trong lễhội và cúng trong lễ tế trâu (lễ hiến tế súc vật) Hai lễ cúng này của người MaCoong có tính cộng đồng rất cao và có tầm ảnh hưởng rộng lớn, không chỉ ở

phạm vi làng mà còn ở phạm vi xứ (k’ruông).

Như đã trình bày ở trên, năm 2011, Nguyễn Văn Trung với đề tài luậnvăn thạc sĩ về Lễ hội đập trống của người Ma Coong cũng đề cập đến ông chủđất trong vai trò là một chủ lễ cúng trong lễ hội Tuy vậy, tác giả luận án mớidừng lại ở nội dung bài cúng và cũng như việc thực hành nghi lễ bài cúng đó.Trong khi đó, vẫn còn rất nhiều khía cạnh khác liên quan đến ông chủ đất nhưđối tượng cúng tế, các thần linh tôn thờ, con người cũng như bản chất và vai tròcủa ông chủ đất trong đời sống kinh tế - xã hội chưa được quan tâm làm rõ

Tóm lại, đến nay đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về dân tộc

Bru-Vân Kiều, trong đó có người Ma Coong, của nhiều tác giả trong và ngoàinước Các tác giả cũng đã đề cập đến phong tục, tập quán, đời sống tinh thần,thiết chế xã hội, ngôn ngữ của dân tộc này Tuy nhiên, chưa thấy một côngtrình nghiên cứu chuyên biệt nào về người Ma Coong, ngoại trừ một số bàiviết và luận văn của tác giả luận án; đặc biệt là vai trò của người chủ đất trongđời sống của người Ma Coong vẫn đang là một khoảng trống

Trang 24

Trong các công trình nghiên cứu về dân tộc Bru-Vân Kiều, trong đó cóngười Ma Coong, nhiều tác giả mới chỉ đề cập rất sơ lược và đôi khi cònnhầm lẫn giữa người Ma Coong với nhóm người khác Thậm chí, có nhữngđánh giá và những con số (về dân cư, địa bàn cư trú ) chưa chính xác về họ,

chẳng hạn như trong nghiên cứu Mối quan hệ tộc người của các nhóm Bru ở Bình Trị Thiên của Ngô Đức Thịnh (1975) [90, tr.55]; Chân dung các tộc người thiểu số miền tây Quảng Bình của Nguyễn Hữu Thông và cộng sự

(2007) [99, tr.20] Như đã trình bày, nguyên nhân có lẽ do người Ma Coong

ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình xưa nay cư trú tương đối lẩn khuất, biệtlập, xa xôi và khó có thể tiếp cận nên có ít nghiên cứu về nhóm người ấy

Như vậy, mục tiêu đặt ra cho nghiên cứu này là góp phần bổ sungnhững thông tin còn thiếu về người Ma Coong, nhất là về người chủ đất Trong

đó, những vấn đề cần được làm rõ là: sự hình thành, vai trò của chủ đất trongthiết chế xã hội cổ truyền và hiện tại; chủ đất trong hoạt động kinh tế, duy trì cácgiá trị văn hóa, kể cả vai trò của chủ đất trong bối cảnh hiện nay dưới sự tươngtác, tác động bởi các chủ trương, chính sách của Nhà nước cũng như sự nhìnnhận của các cấp chính quyền, niềm tin của người dân đối với chủ đất Từ đó,

đề xuất những giải pháp nhằm phát huy vai trò của chủ đất trong việc ổn định,

phát triển cộng đồng người Ma Coong trong giai đoạn hiện nay

1.2 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

1.2.1 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1.1 Chủ đất

Khi nhắc đến thuật ngữ “chủ đất”, thông thường chúng ta cho rằng đó

là để chỉ những người có quyền sở hữu về một phạm vi diện tích đất đai nào

đó Trong những phạm vi diện tích đất ấy, tùy theo địa hình, địa thế, lớn,nhỏ mà có thể bao gồm cả rừng núi, sông suối, đất ngập nước Tuy nhiên,chủ đất trong nghiên cứu này là chủ đất của một cộng đồng dân cư Chính vì

Trang 25

vậy, ở đây quan tâm và đề cập đến các khái niệm chủ đất trong các mối quan

hệ gắn liền với cộng đồng được nghiên cứu

Khi nói đến chủ đất trong một cộng đồng làng bản, theo một số tài liệu

đã công bố: “Chủ đất là người tìm ra và khai khẩn chỗ đất đai đó Ông ta làngười vừa có uy thế, lại am hiểu phong tục” [115, tr.31] “Chủ đất là ngườiđầu tiên phát hiện ra vùng đất mới và cũng là người có công sáng lập ra làng.Ông ta là người thay mặt cộng đồng quản lý đất đai và gìn giữ luật tục” [55,tr.54] “Chủ đất là người chủ xứ, vốn là con cháu của người cắm đất đầu tiêncủa xứ, được kế truyền thế tập theo lối anh truyền cho em, chú truyền lại chocon trưởng của anh cả, nếu không có cháu trưởng thì người chú mới truyền lạicho con trai mình” [59, tr.29] Người Ma Coong cho rằng, chủ đất của họ làngười được bầu ra trong một dòng họ đã có công tìm ra vùng đất của họ hiệnđang cư trú, được cộng đồng tôn trọng giao cho ông chủ đất quyền đặt ra luậttục và người duy nhất được phép tổ chức, chủ lễ trong việc cúng “xứ” (vùng)

Nhiều dân tộc thiểu số ở Việt Nam gọi chủ đất hay chủ xứ theo cách

riêng của mình: người Mày gọi chủ đất là chăm yàng hay chăm sần (người cúng thần/người cúng ma rừng); người Rục và người Sách Cọi gọi là chô blú (người chủ núi rừng); người A Rem gọi là chăm brâu (chủ rừng); người Sách Mai lại gọi là ôông chăm sần (ông trông nom/cúng rừng); người Mã Liềng gọi là pchô mgấu (chủ rừng); người Bru-Vân Kiều và Ma Coong gọi là a châu kruông (chủ xứ hay chủ vùng) [59, tr.30-31]

Rõ ràng, chủ đất thường được đề cập đến trong các cộng đồng làng, bảncủa một số tộc người thiểu số ở Việt Nam Khi nói đến chức vụ và quyền hạncủa đối tượng này, nhiều tác giả cho rằng chủ đất là chủ xứ [59, tr.29]; ngườiđầu làng kiêm luôn chủ đất [33, tr.73]; ở một số vùng, người tộc trưởng kiêmluôn cả chủ đất lẫn chức đầu làng [115, tr.131]; luật tục người Bru quy định:

mu gốc (làng gốc) là mu đến sinh cơ lập nghiệp, có công khai phá vùng đất

Trang 26

mới, lập làng sẽ được làm chủ đất [55, tr.56] Tuy nhiên, phần lớn các tác giảđều có một số điểm chung cơ bản: chủ đất là người có công tìm ra và khaikhẩn vùng đất mới mà họ hiện đang sinh sống; chủ đất có quyền cai quản vàứng xử với vùng đất đó; chủ đất được cộng đồng tôn trọng và giao cho họquyền đặt ra các luật tục; chủ đất là người tổ chức và chủ lễ cúng tế trong cácsinh hoạt tín ngưỡng có tính cộng đồng; và chức chủ đất được nối truyền theonhững quy định riêng của cộng đồng.

Đối với cộng đồng người Ma Coong tại các địa bàn mà luận án này muốnnhắm đến, chủ đất lại được gọi với nhiều cái tên khác nhau Cụ thể như sau:

- A châu cu téc (chủ đất), đây là cách gọi của phần lớn những người nơi

khác đến và một bộ phận người Ma Coong tại chỗ (gọi theo rồi thành quen)

- A châu kruông (chủ xứ/chủ vùng), tên được mọi người Ma Coong

thường hay gọi hàng ngày (bình dân)

- A chuôi gieng (ông trời), đó là cách gọi của đa số trẻ em và người Ma

Coong ở Lào sang

- A chuôi toong gieng (ông cúng trời), cách gọi này thường là của

những người lớn tuổi (không phổ biến)

Tuy nhiên, trong các tài liệu, văn bản ở địa phương (xã, huyện, tỉnh)khi đề cập đến họ thì đều viết là “chủ đất” đi liền với họ tên Bên cạnh đó, khi

tiếp xúc với người ở nơi khác đến, người Ma Coong thường gọi là a chuôi cu téc (chủ đất) mỗi khi đề cập đến họ Vì vậy, trong tên đề tài luận án cũng như

trong suốt quá trình thực hiện và trình bày luận án của mình, chúng tôi thốngnhất tên gọi phổ biến là “chủ đất”

1.2.1.2 Cộng đồng

Một học giả nước ngoài Robert Redfel, khi nói về khái niệm cộng đồng(community) đã cho rằng: “cộng đồng được nhận biết qua bốn đặc tính thenchốt, đó là: một phạm vi xã hội thu nhỏ; hoạt động mang tính đồng nhất tại

Trang 27

một lãnh thổ chung được sở hữu bởi các thành viên; mang một ý thức riêngbiệt; có thẩm quyền riêng trong phạm vi không gian và thời gian cần thiết”[123, tr.144].

Trong Luật Đất đai năm 2003, khái niệm cộng đồng cũng được đề cập:

“Cộng đồng dân cư gồm cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng mộtđịa bàn, làng, ấp, bản, buôn, phun, sóc và các điểm dân cư tương tự có chung

quyền sử dụng đất” [70, tr.17] Tại Điều 3, số 29/2004/QH, Luật Bảo vệ và

Phát triển rừng năm 2004 đã định nghĩa: “Cộng đồng dân cư thôn là toàn bộcác hộ gia đình, cá nhân sống trong cùng một thôn, làng, bản, ấp, buôn,phun, sóc hoặc đơn vị tương đương” [12, tr.7]

Trong cuốn cẩm nang của ngành Lâm nghiệp của Bộ Nông nghiệp vàPhát triển nông thôn, trong một chương trình thuộc dự án GTZ-REFAS, nhómtác giả Nguyễn Hồng Quân, Phạm Xuân Phương, Vũ Long cho rằng: “Cộngđồng là một tập thể người sống gắn bó với nhau thành một xã hội nhỏ cónhững đặc điểm tương đồng về mặt văn hóa, kinh tế, xã hội truyền thống,phong tục tập quán, có các quan hệ trong sản xuất và đời sống gắn bó vớinhau” [12, tr.3]

Như vậy, thuật ngữ “cộng đồng” được dùng nhiều trong các lĩnh vựccủa đời sống xã hội cũng như trong các nghiên cứu Do đó, thuật ngữ nàyđược hiểu theo nhiều cách khác nhau tùy vào hoàn cảnh và mục đích sử dụng.Trong phạm vi luận án này, cộng đồng được hiểu là cộng đồng người MaCoong ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình Ở đó, người Ma Coong cư trú tậptrung thành nhiều bản làng dọc biên giới Việt - Lào Vì vậy, đây chính là cộngđồng dân cư thôn bản của người Ma Coong ở huyện Bố Trạch, tỉnh QuảngBình; trong đó, có các cá nhân, các hộ gia đình, các dòng họ của người MaCoong cùng tụ cư và sinh tồn

Trang 28

Cũng như nhiều tộc người thiểu số khác, người Ma Coong trước đây cómột thiết chế xã hội riêng, tương đối khép kín và được vận hành trên cơ sởluật tục Đến nay, một số quy định, luật tục đó vẫn tồn tại trong dân gian vàđang được cộng đồng Ma Coong tôn trọng Vì vậy, bên cạnh đối tượng

nghiên cứu chính là ông chủ đất, cộng đồng luôn được coi như một tổ chức xã

hội Qua đó, cho thấy sự quản lý, vận hành trong thiết chế xã hội truyền thống

và sự tương tác của nó trong các chính sách, pháp luật của Nhà nước hiệnnay, nhất là sự tương tác đó ảnh hưởng thế nào đến sự biến đổi trong các quan

Khi nghiên cứu về dòng họ của người Bru-Vân Kiều, tác giả Vũ Lợicho rằng người Bru cũng như các tộc người khác trong vùng, đều có từ riêng

để gọi tổ chức “dòng họ” là mu Mỗi mu có tên gọi riêng và các thành viên trong mu nhận nhau qua tên gọi ấy [55, tr.59] Rõ ràng, thiết chế trong dòng

họ đã hình thành từ lâu đời và tổ chức đặc thù ở đây chính là đặc thù về tính

huyết thống Người Pa-Cô gọi dòng họ là tông; người Tà-Ôi gọi là yă; người Cơ-Tu gọi là cabu Sau Cách mạng tháng Tám, người Bru-Vân Kiều đều

mang họ Hồ Đó là thể hiện lòng tôn kính đối với Bác Hồ, mà không có ý

Trang 29

nghĩa về huyết thống cũng như tính thiết chế trong dòng họ cả Đối với người

Ma Coong cũng vậy, trước Cách mạng tháng Tám các dòng họ của đồng bào

cũng đều có tên của riêng mình như: nòi Chi re (dòng họ Chi re), nòi Ra bôi, nòi Senl (dòng họ chủ đất bây giờ), nòi Bơ hơ Sau Cách mạng tháng Tám,

tất cả người con trai Ma Coong đều mang họ Đinh và con gái đều mang họ Y

- như là sự phân biệt về giới hơn là có ý nghĩa về họ Tuy vậy, họ vẫn có cách

để phân biệt những người cùng một dòng họ Theo quan niệm của người Ma

Coong, người cùng một dòng họ là những người thờ chung ma tổ tiên (ma mót) và được quy định thờ tại một gia đình nào đó (ở đây không quy định thứ

bậc, thường là những gia đình có uy tín trong dòng họ) Theo phong tục củangười Ma Coong, khi người con gái đã đi lấy chồng thì coi như đã cắt bỏ têndòng họ của cha mình để nhập vào họ của nhà chồng Các dòng họ của người

Ma Coong cũng như các dòng họ của tộc người khác, các thành viên trongcùng một dòng họ luôn gắn bó mật thiết với nhau, cùng chia sẻ và giúp đỡnhau trong cuộc sống Đó chính là cơ sở để duy trì và củng cố thêm các mốiquan hệ huyết thống trong cùng dòng họ

Có thể nói, dòng họ là một tập hợp nhiều gia đình có cùng huyết thống,

do cùng một người sinh ra (thường gọi là tổ, thủy tổ) Sau nhiều đời con cháusinh sôi ngày một đông, trong thị tộc đó lại được chia ra thành nhiều chi;thông thường, các con cháu lại có thể phân hóa ra thành nhiều họ Cụm từ

“dòng họ chủ đất” mà luận án này đề cập đến, về bản chất thiết chế dòng họ,

cũng không nằm ngoài quy luật chung như đã đề cập ở trên

1.2.1.4 Già làng

Theo Từ điển tiếng Việt: Già làng là người cao tuổi được dân làng cử ra

để điều khiển công việc chung ở các vùng dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên[119, tr.396] Về thuật ngữ “già làng”, theo nhiều nhà nghiên cứu: Thực tếtrong ngôn ngữ của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên không có hai

Trang 30

từ này, mà chỉ có khái niệm người đứng đầu một bộ tộc hay một vùng đất.Nói cách khác là các chủ buôn, bon, chủ đất… theo cách gọi của một số tộc

người Tây Nguyên là: kruanh bon, u ruanh bon, pô pin ea [69, tr.107]

Như vậy, thuật ngữ “già làng” là do các nhà sưu tầm, nghiên cứu khoahọc phiên âm ra từ cách gọi của người dân tộc thiểu số về những người già có

uy tín cao trong cộng đồng nơi họ cư trú “Già làng là sự tổng hợp ý thức củahai khái niệm: cá nhân và cộng đồng Cá nhân ở đây được sàng lọc và lựachọn theo những tiêu chuẩn nghiêm ngặt như: tuổi tác, kinh nghiệm, sự tínnhiệm được tập thể cùng đồng lòng tôn vinh” [69, tr.109]

Với người Ma Coong, già làng của cả cộng đồng (19 bản) và già làng

của mỗi bản được gọi chung là pake Khi họ không còn giữ chức, hay già yếu thì gọi là thâu (không còn làm được việc nữa) Có thể nói, tuy mỗi tộc người

có những quan niệm khác biệt về già làng ở một số khía cạnh như hình thứctôn vinh, chức năng song, điểm chung ở chỗ, những người có uy tín, có kinhnghiệm sống, tinh thông về luật tục là chỗ dựa tinh thần cho cộng đồng.Theo đó, rõ ràng ở cộng đồng người Ma Coong, già làng thì có nhiều nhưng chủđất thì chỉ có một và từ để chỉ “già làng” không giống với từ chỉ “chủ đất”

1.2.1.5 Hội đồng già làng

Thuật ngữ “hội đồng già làng” cũng là cách gọi của các nhà sưu tầm,nghiên cứu khoa học xã hội Trong công trình về già làng của các dân tộcthiểu số ở Tây Nguyên, tác giả Linh Nga Niê Kdam viết: “Tộc người Êđê cómột hội đồng già làng, gồm một tập hợp số những người có chức vị chínhthức trong cộng đồng, như: tù trưởng, chủ buôn, người xử kiện, người khấnthần, thầy cúng kiêm chữa bách bệnh ” [69, tr.106] Đối với tộc người GiaRai3, hội đồng già làng gồm chủ làng và những người đàn ông trên 40 tuổi ở

3 Trong Danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam công bố năm 1979, được viết là Gia-rai.

Trang 31

các bếp, mỗi người chịu trách nhiệm một vấn đề riêng của cộng đồng Người

xử kiện theo luật tục, cũng là một thành viên trong hội đồng [69, tr.73]

Với người Ma Coong ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, người dânđịa phương không có thuật ngữ “hội đồng già làng” Tuy nhiên, qua nghiêncứu thực tế cũng như những người Ma Coong lớn tuổi cho biết, trong nhữngcông việc quan trọng liên quan đến cả cộng đồng hoặc của riêng một bản nào

đó, các già làng cùng với các trưởng dòng họ, thầy cúng, những người lớntuổi có uy tín… thường tập hợp nhau để trao đổi và đi đến những quyết địnhchung Như vậy, có thể hiểu: hội đồng già làng là một tập hợp nhiều già làng,những người có uy tín trong những lĩnh vực cụ thể của một cộng đồng làng

bản để cùng nhau bàn bạc, xử lý các công việc chung của cộng đồng

1.2.1.6.Văn hóa truyền thống

Có thể nói, văn hóa là một khái niệm tương đối rộng, đa nghĩa, đa tầng

và đã có rất nhiều định nghĩa về văn hóa Song, các định nghĩa đó có một

điểm chung căn bản: văn hóa là những sáng tạo của con người và mang lại

những giá trị, đáp ứng nhu cầu, đòi hỏi của sự sinh tồn Theo GS TS Ngô

Đức Thịnh, không phải tất cả những gì con người tạo ra đều là văn hóa, mà chỉ có những cái gì đã kết tinh thành giá trị thì cái đó mới là cốt lõi của văn hóa [98, tr.20].

Theo cuốn Bách khoa thư Từ điển của Liên Xô (cũ), cụm từ truyền thống được hiểu: “Đó là những yếu tố của di tồn văn hóa, xã hội truyền thống

từ đời này qua đời khác, và được lưu giữ trong các xã hội, giai cấp và nhóm

xã hội trong một quá trình lâu dài, truyền thống được thể hiện trong chế định

xã hội, chuẩn mực và hành vi, các giá trị, tư tưởng, phong tục tập quán và lốisống Truyền thống tác động khống chế đến mọi xã hội và tất cả mọi lĩnh

vực trong đời sống xã hội” [52, tr.10] Trong tiếng Việt, thuật ngữ truyền thống được dùng khá rộng rãi, ví dụ như: truyền thống hiếu học, truyền thống

Trang 32

dòng họ Bên cạnh đó, cụm từ cổ truyền cũng được dùng, chẳng hạn: “âm

nhạc cổ truyền”, “lễ hội cổ truyền” Theo GS TS Ngô Đức Thịnh, hai khái

niệm truyền thống và cổ truyền có phần giống và khác nhau Khác ở chỗ,

không phải những gì sản sinh trong xã hội cũ còn truyền lại trong xã hội

đương đại đều là truyền thống, mà chỉ có những cái đã kết tinh trong môi

trường xã hội cũ, có sức mạnh chi phối hành vi của con người xã hội hiện nay

mới được coi là truyền thống Ngoài ra, cái truyền thống thường gắn kết với cái hiện đại trong một thực thể văn hóa hữu cơ, còn cái cổ truyền phần lớn

biểu hiện trong đời sống hiện đại chỉ là cái di vết, tàn dư mà thôi [98, tr.20-21]

Như vậy, văn hóa truyền thống được hiểu là các giá trị văn hóa do con

người sáng tạo nên, đã hình thành từ lâu, được truyền từ thế hệ này sang thế

hệ khác Bên cạnh đó, văn hóa truyền thống còn mang tính lịch sử, tính kếtnối, kế thừa và tính bền vững Qua đó cho thấy, văn hóa truyền thống đượcbiểu hiện trong mọi lĩnh vực đời sống Đó là những giá trị văn hóa trong cácmối quan hệ xã hội như dòng họ, gia đình, làng bản ; trong đời sống hàngngày như ăn, mặc, ở ; đó là các loại hình diễn xướng, văn học nghệ thuật,luật tục ; trong đời sống tôn giáo, tín ngưỡng Qua thời gian, chúng đượckết tinh thành hệ giá trị văn hóa truyền thống, được lưu truyền từ đời này sangđời khác Như vậy, mỗi cộng đồng, mỗi dân tộc, mỗi vùng đều có một hệcác giá trị văn hóa truyền thống với những sắc thái riêng

1.2.2 Cơ sở lý thuyết

1.2.2.1 Thuyết đặc thù lịch sử

Franz Boas (1858-1942) được coi là người có ảnh hưởng lớn đến ngànhnhân loại học và là cha đẻ của ngành này tại Mỹ Boas được xem là ngườikhởi xướng khái niệm thuyết tương đối văn hóa trong nhân loại học Vì Boaschú trọng vào lịch sử cụ thể của mỗi cá thể xã hội nên trường phái lý thuyếttheo phong cách của ông được gọi là thuyết đặc thù lịch sử, mặc dù ông chưa

Trang 33

bao giờ dùng tên gọi này Marvin Harris là người đầu tiên sử dụng cái tên họcthuyết này vào thập kỷ 1960 Theo đó, Franz Boas cho rằng, để giải thích cáctập quán văn hóa thì phải kiểm chứng chúng trên ba phương diện căn bản sau:điều kiện môi trường, yếu tố tâm lý và các mối quan hệ lịch sử, trong đó lịch

sử là yếu tố quan trọng nhất Ông cho rằng các xã hội được tạo ra bởi chínhcác hoàn cảnh lịch sử của chúng Vì thế, những cách giải thích tốt nhất về cáchiện tượng văn hóa được rút ra từ việc nghiên cứu sự phát triển lịch sử củanhững xã hội mà các hiện tượng văn hóa này được phát hiện [65, tr.176]

Lý thuyết này giúp tìm hiểu, coi trọng tầm quan trọng và tác động củacác điều kiện môi trường sinh sống, tâm lý, nhất là đặc điểm lịch sử của người

Ma Coong, chủ đất và vai trò của người chủ đất trong đời sống xã hội củanhóm người này, kể cả trước đây và hiện nay

1.2.2.2 Thuyết chức năng

Thuyết chức năng có hai hệ tư tưởng, mỗi hệ kết hợp với một tên tuổi

chủ chốt: 1) Chức năng tâm lý học do Bronislaw Malinowski (1884-1942) khởi xướng; và 2) Cấu trúc - chức năng do A R Radcliffe-Brown (1881-

1955) khởi xướng Các nhà theo thuyết Cấu trúc - chức năng quan tâm đếncấu trúc bên trong của xã hội, tiến hành nghiên cứu các quy luật xã hội bằngphương pháp nghiên cứu so sánh các nền văn hóa khác nhau [65, tr.207].Thuyết này cũng cho rằng, chức năng của một tập tục hay tập quán là sự đónggóp của nó vào đời sống liên tục của “cơ thể xã hội” Bên cạnh đó, thuyếtChức năng tâm lý cũng cho là nền tảng cơ bản của việc phân tích xã hội theo

quan niệm Chức năng là khái niệm địa vị và vai trò, một người giữ một địa vị

khi họ được giao cho quyền hoặc nhiệm vụ ứng xử và được đối xử theo mộtcách nào đó trong giao tiếp xã hội Khi họ hành động như được mong đợitheo vị trí đó, đương nhiên họ thực hiện một vai trò có liên quan [50, tr.64-71]

Trang 34

Thuyết chức năng tạo cơ sở không chỉ cho việc phân tích sâu về vị thế

và vai trò chủ đất người Ma Coong trong hoạt động kinh tế, quản lý xã hội,thực hành các nghi lễ tâm linh của nhóm người Ma Coong ở huyện BốTrạch, tỉnh Quảng Bình, mà còn so sánh với các nhóm khác của dân tộc Bru-Vân Kiều

1.2.2.3 Thuyết cấu trúc nghi lễ

Các nhà lý thuyết Chức năng người Anh như Malinowski và Brown lấy từ lý thuyết của Durkheim với quan niệm rằng tôn giáo của mộtdân tộc vừa phản ánh cấu trúc hệ thống xã hội của họ vừa có chức năng duytrì hệ thống đó trong tình trạng hiện tại của nó Bên cạnh đó, một số nhà nhânhọc châu Âu khác đưa ra nhận định rằng, hệ thống tín ngưỡng của một nềnvăn hóa có một lôgíc nội tại đem lại ý nghĩa cho các hành động nghi lễ.Trường phái Anh Quốc lập luận rằng sự hiện diện của mỗi tập tục phải được

Radcliffe-giải thích bằng hiệu quả hiện thời của nó đối với hệ thống xã hội, ý nghĩa của mỗi

tập tục phải được suy ra từ vị trí của nó trong một cấu trúc nhận thức [50, tr.127]

Dựa vào thuyết cấu trúc nghi lễ, luận án này có cơ sở để phân tích vàđánh giá vai trò của chủ đất người Ma Coong trong các hoạt động tâm linhcủa cộng đồng, đồng thời thấy được những tác động của các nghi lễ tínngưỡng đến uy tín của người chủ đất

1.2.3 Phương pháp nghiên cứu

1.2.3.1 Phương pháp luận

Về phương pháp luận, tác giả luận án áp dụng và dựa vào phép duy vậtbiện chứng của chủ nghĩa Mác-Lênin Trong số nội dung của các tiền đề củaphương pháp duy vật biện chứng và lịch sử đã chỉ ra rằng:

Viết về lịch sử phải luôn xuất phát từ những cơ sở tự nhiên và sự biếnđổi của chúng trong tiến trình lịch sử thông qua hoạt động của conngười Những mối quan hệ giữa các dân tộc khác nhau phụ thuộc vào

Trang 35

mức độ phát triển lực lượng sản xuất và sự giao tiếp nội bộ của bảnthân từng dân tộc [65, tr.100]

Chính vì vậy, đây là cơ sở lý luận để xem xét các vấn đề liên quan đếnchủ đất và vai trò chủ đất người Ma Coong ở huyện Bố Trạch, tỉnh QuảngBình Với phương pháp luận này, các vấn đề cần nghiên cứu được xem xéttrong tương quan với chủ thể văn hóa là người Ma Coong, kể cả với các điềukiện cụ thể ở địa phương và với cả tộc người cận cư Đồng thời, xem xét cácmối liên quan giữa các vấn đề nghiên cứu nằm trong khung cảnh thời gian vàkhông gian, tức trên cơ sở đồng đại và lịch đại

1.2.3.2 Phương pháp nghiên cứu

- Để hoàn thành luận án, tác giả luận án chủ yếu sử dụng hệ thốngphương pháp nghiên cứu Nhân học, trong đó ưu tiên hàng đầu là điền dã dântộc học truyền thống Cuộc điền dã được thực hiện trong nhiều ngày, nhiềuđợt tại các cộng đồng người Ma Coong ở Bố Trạch, Quảng Bình và sử dụngcác phương pháp khác nhau để thu thập thông tin, tư liệu Cụ thể như sau:

+ Quan sát trực tiếp: Phương pháp này cho phép quan sát toàn cảnh

làng bản của người Ma Coong (khu dân cư, sản xuất, điều kiện tự nhiên ),điều kiện sống, việc hành lễ của chủ đất người Ma Coong để có một cáinhìn chung về người Ma Coong và cuộc sống của họ

+ Quan sát tham gia: Tác giả luận án sử dụng phương pháp này để trực

tiếp thâm nhập vào cộng đồng bản và từng hộ gia đình của người Ma Coong ởmột số bản bằng cách đến với họ vào các thời điểm khác nhau và “cùng ăn,cùng ở, cùng làm” với họ nhằm tạo sự thân thiện, cởi mở và tin cậy trong quátrình giao tiếp và lưu trú tại cộng đồng của họ Từ đó, có thể thu thập cácthông tin về đời sống, kinh tế, văn hóa xã hội của họ, và những vấn đề khácliên quan đến đề tài

+ Phỏng vấn sâu cá nhân được sử dụng để thu thập những tư liệu liên

quan đến lịch sử làng, sự hình thành và phát triển làng, các dòng họ trong

Trang 36

làng, nhất là dòng họ chủ đất; những truyền thuyết dân gian có liên quan;những khó khăn và thuận lợi của người Ma Coong trong việc tổ chức và quản

lý bản làng cũng như phát triển kinh tế hộ và duy trì các nét văn hóa truyềnthống; những biến đổi của các yếu tố trên trong cộng đồng người Ma Coong

Để có được những thông tin, tư liệu khách quan, đa chiều và có tính xác thựccao, nhiều đối tượng, từ cán bộ xã, thôn bản, bộ đội biên phòng cho đếnnhững người dân bình thường, và đặc biệt là những người lớn tuổi, đều đượcthu hút vào những cuộc phỏng vấn

+ Trong quá trình điền dã, phương pháp thảo luận nhóm tập trung cũng

được sử dụng để thu thập các tư liệu về sự biến đổi kinh tế - văn hóa - xã hộicủa người Ma Coong và sự phối kết hợp giữa chính quyền địa phương vớinhững người có uy tín trong bản làng người Ma Coong nhằm ổn định và pháttriển xã hội Các cuộc thảo luận nhóm được tổ chức với nhiều hình thức vàdành cho nhiều nhóm đối tượng khác nhau như nhóm người già; nhóm trungniên; nhóm thanh niên; nhóm phụ nữ; nhóm lãnh đạo và nhóm hỗn hợp Bêncạnh đó, chủ đề thảo luận nhóm cũng tập trung vào những vấn đề liên quanđến người chủ đất, dòng họ chủ đất và vai trò của họ trong đời sống xã hộicũng như trong các mối quan hệ, duy trì văn hóa của người Ma Coong

- Phương pháp chuyên gia được áp dụng để trao đổi, lấy ý kiến của các

chuyên gia, đồng nghiệp về các vấn đề liên quan đến đề tài, cũng như cáchđánh giá các thông tin, tư liệu thu thập được qua điền dã tại các cộng đồngngười Ma Coong

- Tác giả luận án cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu liên ngành

để xử lý, hệ thống hoá các tư liệu, thông tin đã được thu thập

- Ngoài ra, các phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê, đốichiếu được đề cao để xử lý các tư liệu và viết luận án

Trang 37

Tiểu kết chương 1

Người Ma Coong là một nhóm địa phương của dân tộc Bru-Vân Kiều

Ở Việt Nam, người Ma Coong cư trú chủ yếu tại 19 bản làng nằm rải rác dọcbiên giới Việt - Lào, thuộc hai xã Thượng Trạch và Tân Trạch, huyện BốTrạch, tỉnh Quảng Bình

Có thể nói, cho thấy, đến nay vẫn còn khuyết những khoảng trốngnghiên cứu về nhóm người Ma Coong nói chung và chủ đất trong cộng đồngnày nói riêng

Để làm rõ bản chất, vai trò của chủ đất trong đời sống xã hội cũng nhưphần nào thấy được diện mạo văn hóa của người Ma Coong ở huyện BốTrạch, tỉnh Quảng Bình, luận án đã dựa vào một số lý thuyết phù hợp cơ bảnnhư đã đề cập Bên cạnh đó, các quan điểm về văn hóa, văn hóa và pháttriển của Đảng, Nhà nước ta, của một số tổ chức quốc tế cũng được ápdụng Những lý thuyết và quan điểm đó là cơ sở để vận dụng và có ý nghĩasoi chiếu, hỗ trợ để lý giải nhiều hiện tượng văn hóa, kể cả cấu trúc của mộtthiết chế xã hội truyền thống của một cộng đồng dân cư sống tương đối biệtlập như người Ma Coong ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình

Trong quá trình thực hiện luận án, tác giả đã sử dụng hệ thống phươngpháp nghiên cứu Dân tộc học/Nhân học, trong đó ưu tiên hàng đầu là điền dãdân tộc học truyền thống với các phương pháp quan sát trực tiếp, quan sáttham gia, phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm Ngoài ra, tác giả còn sử dụngphương pháp chuyên gia để trao đổi ý kiến; sử dụng phương pháp nghiên cứuliên ngành để xử lý, hệ thống hoá các tư liệu, thông tin đã được thu thập; kể

cả các phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê, đối chiếu để tiếptục xử lý các tư liệu và viết luận án

Trang 38

Chương 2

SỰ HÌNH THÀNH CHỦ ĐẤT VÀ HÌNH THỨC TRAO TRUYỀN

Nghiên cứu cho thấy rằng, sự hình thành chủ đất trong một số tộcngười ở Việt Nam nói chung và cộng đồng người Ma Coong ở huyện BốTrạch, tỉnh Quảng Bình nói riêng luôn gắn liền với lịch sử vùng đất Chính vìvậy, trước khi bàn về sự hình thành chủ đất của người Ma Coong, là vài nétkhái quát về người Ma Coong ở địa bàn nghiên cứu, trong đó có lịch sử vùngđất này

2.1 Khái quát về người Ma Coong ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, dân cư, dân tộc huyện Bố Trạch

2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên

Huyện Bố Trạch nằm giữa dải đất miền Trung Trung Bộ ở tọa độ

17013’19 đến 17043’3 vĩ độ Bắc và từ 103054’ đến 106057’ kinh độ Đông vớitổng diện tích khoảng 264.000ha, dân số có hơn 18 vạn người [20, tr.11] Về

vị trí địa lý, phía Tây của Bố Trạch giáp với huyện Bua La Pha của Lào; phíaĐông giáp biển; phía Bắc giáp với các huyện Quảng Trạch, Tuyên Hóa vàMinh Hóa; phía Nam giáp với thành phố Đồng Hới và huyện Quảng Ninh(xem Bản đồ - Phụ lục I, tr.165) Huyện Bố Trạch được biết đến với các giátrị địa chất, địa mạo, đa dạng sinh học, cảnh quan tự nhiên và sở hữu tronglòng nó nhiều hệ thống hang động kỳ vĩ (Phong Nha - Kẻ Bàng) Cấu tạo địatầng và quá trình đứt gãy địa chất phức tạp, nơi đây đã tạo nên các thung lũng

và các dòng suối ở giữa những dãy núi đá vôi Vùng thung lũng này là nơi tụ

cư của cộng đồng người Ma Coong

Trang 39

2.1.1.2 Dân cư, dân tộc ở huyện Bố Trạch

Theo Niên giám thống kê năm 2009 của huyện Bố Trạch (Cục Thống

kê Quảng Bình), toàn huyện có 41.940 hộ gồm 176.161 người Trong đó, 560

hộ với 2.722 khẩu là người dân tộc thiểu số, được phân bố như sau: xã SơnTrạch có 28 hộ gồm 138 người Vân Kiều; Nông trường Việt - Trung có 66 hộvới 294 người Vân Kiều, số còn lại cư trú ở hai xã Thượng Trạch và TânTrạch Xã Tân Trạch có 14 hộ gồm 65 người Ma Coong; 34 hộ gồm 143người A Rem, 2 hộ gồm 7 người Vân Kiều; xã Thượng Trạch có 381 hộ gồm1.888 người Ma Coong, 5 hộ gồm 6 người A Rem, 7 hộ gồm 8 người VânKiều, 4 hộ gồm 21 người Mường, 4 hộ gồm 8 người Sách, 15 hộ gồm 70người Trì và chỉ có 1 hộ với 1 khẩu là người Việt [19, tr.2]

Số liệu tổng hợp dân số, dân tộc của huyện Bố Trạch chỉ rõ người dântộc thiểu số sống tập trung ở hai xã Tân Trạch và Thượng Trạch; trong đó,người Ma Coong cư trú chủ yếu ở xã Thượng Trạch Đây cũng là lý do khiếntác giả luận án chọn xã Thượng Trạch làm địa bàn nghiên cứu chính Tuynhiên, xã Tân Trạch cũng được xem xét trong sự đối sánh với xã ThượngTrạch do người Ma Coong ở hai xã này có mối quan hệ hôn nhân hoặc di cưvới nhau

2.1.2 Lịch sử vùng đất người Ma Coong ở huyện Bố Trạch

Đề cập về nguồn gốc người Ma Coong, tác giả Ngô Đức Thịnh chorằng, nhóm người Ma Coong trước kia vốn không phải cư trú ở vùng núi tỉnhQuảng Bình Người Bru Ma Coong ở phía Tây Bắc Quảng Bình hiện nay thực

ra là một bộ phận của người Bru Ma Coong từ Lào di cư sang [90, tr.55]

Một tác giả nước ngoài khi đề cập đến khu vực định cư của một sốnhóm Bru, trong đó có người Ma Coong, cho rằng:

Lợi dụng sự suy yếu nhất thời của đế chế Việt bị thất bại do cuộckhởi nghĩa Tây Sơn (1788 - 1802), đế chế Xiêm đã thừa thắng xông

Trang 40

lên, sự bành trướng thuộc địa này là vùng từ Savanakhet đến QuảngTrị Dưới thời Hoàng Đế Minh Mạng (1820 - 1841) người Việt đãtừng bước đẩy lùi biên giới của họ [118, tr.4]

Có thể thấy rằng, còn rất ít tài liệu nói về lịch sử vùng đất hiện nay màcộng đồng người Ma Coong ở huyện Bố Trạch đang cư trú Mặc dù vậy,nguồn tài liệu trên đây là những thông tin đáng quý, cung cấp những cứ liệu

để đối chiếu, so sánh trong quá trình nghiên cứu, thu thập tư liệu điền dã tạicác địa bàn của người Ma Coong

Theo các già làng và những người trong dòng họ chủ đất người MaCoong ở xã Thượng Trạch, huyện Bố Trạch, trước đây tổ tiên của họ khôngphải ở vùng này, mà ở cách đây mấy ngày đường đi bộ, nơi đó có thể là khuvực đường 9 (Quảng Trị) sát biên giới với Lào hay khu vực bên kia biên giớithuộc tỉnh Sanavakhet ngày nay Họ có câu chuyện truyền lại bao đời rằng:Giặc xiêm đã đến nơi họ ở, đánh đập và bắt đi rất nhiều người mà không thấyquay về, và rồi ông tổ của họ có tên là Senl, dẫn đầu cùng với rất nhiều người

Ma Coong khác, băng qua những cánh rừng đại ngàn, cố gắng đi càng xacàng tốt để tránh giặc Xiêm Vùng đất mà họ dừng chân cư trú chính là bản

Cà Roòng thuộc xã Thượng Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình ngàynay

Qua điền dã ở vùng người Ma Coong, có một câu chuyện khác có tên là

Người cầm đầu và cây gậy (Pa tức liêu păn ưrace) Chuyện kể rằng: Nhiều

lần giặc Xiêm kéo đến khu vực đồng bào sinh sống, đánh đập, bắt bớ và lùa

họ về nước Xiêm, không về thì bị đánh hoặc giết chết, một số khác chạy trốnvào rừng sâu và núp trong các hang đá Những người bị bắt, sau một thờigian vua Xiêm thả về và cho họ mang theo một cái gậy để đi đường, có chỉđịnh người dẫn đầu cầm theo cái gậy đó Trên đường đi về, họ gặp biết baotrở ngại như thú dữ, sông suối Họ đi mãi mà không tới được nơi ở trước,

Ngày đăng: 19/04/2014, 00:52

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.1: Sơ đồ gia phả dòng họ chủ đất - Chủ đất trong cộng đồng người Ma Coong ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ gia phả dòng họ chủ đất (Trang 60)
Sơ đồ 3.1: Cơ cấu tổ chức trong thiết chế xã hội truyền thống ở cộng  đồng người Ma Coong - Chủ đất trong cộng đồng người Ma Coong ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình
Sơ đồ 3.1 Cơ cấu tổ chức trong thiết chế xã hội truyền thống ở cộng đồng người Ma Coong (Trang 88)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w