1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu cơ sở khoa học về tiêu chuẩn phế liệu về đề xuất giải pháp kiểm soát ô nhiễm trong hoạt động nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất

160 983 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu cơ sở khoa học về tiêu chuẩn phế liệu và đề xuất giải pháp kiểm soát ô nhiễm trong hoạt động nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất
Tác giả
Người hướng dẫn
Trường học Học Viện Tài Nguyên Và Môi Trường
Chuyên ngành Quản lý Môi trường và Khoa học Vật liệu
Thể loại báo cáo tổng kết khoa học
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 160
Dung lượng 4,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để ngăn chặn chuyển khẩu chất thải, đồng thời khuyến khích tái sử dụng phế liệu làm nguyên liệu sản xuất một cách an toàn, một số nươc trong khu vực như Hồng Kong – Trung Quốc, Malaysia,

Trang 1

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

PHẾ LIỆU LÀM NGUYÊN LIỆU SẢN XUẤT

CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI:TS NGUYỄN ANH TUẤN

8135

HÀ NỘI, 2009

Trang 2

-

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

TỔNG CỤC MÔI TRƯỜNG -

BÁO CÁO TỔNG KẾT KHOA HỌC

ĐỀ TÀI

NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ TIÊU CHUẨN PHẾ LIỆU VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT Ô NHIỄM TRONG HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU

PHẾ LIỆU LÀM NGUYÊN LIỆU SẢN XUẤT

Hà Nội, ngày …… tháng …… năm 20…

CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI

TS Nguyễn Anh Tuấn

Hà Nội, ngày …… tháng …… năm 20…

CƠ QUAN CHỦ TRÌ ĐỀ TÀI TỔNG CỤC MÔI TRƯỜNG TỔNG CỤC TRƯỞNG

Trang 3

MỤC LỤC

CHƯƠNG I : TỔNG QUAN VỀ PHẾ LIỆU VÀ PHẾ LIỆU NHẬP KHẨU 10

I Khái niệm và định nghĩa pháp lý của phế liệu 10

II Phế liệu và môi trường 13

2.1 Tác động tích cực của việc thu hồi, tái chế phế liệu 13

a) Tái chế sắt, thép phế liệu 14

b) Tái chế nhựa phế liệu 14

c) Tái chế giấy phế liệu 18

2.2 Tác động tiêu cực của phế liệu 19

a) Tái chế thép phế liệu 19

b) Tái chế nhựa phế liệu 28

III Nhu cầu nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất 32

3.1 Thị trường thép phế liệu trong nước và quốc tế 32

3.2 Thị trường nhựa phế liệu trong nước và quốc tế 33

3.3 Thị trường giấy phế liệu trong nước và quốc tế 40

CHƯƠNG II: TIÊU CHUẨN VÀ QUY ĐỊNH VỀ QUẢN LÝ PHẾ LIỆU 41

I Tiêu chuẩn và quy định về quản lý phế liệu quốc tế 41

1.1 Quy định quản lý phế liệu của Trung Quốc 41

1.2 Quy định về nhập khẩu nhựa phế liệu tại Ấn Độ 43

1.3 Quy định quản lý phế liệu của Mỹ 44

1.4 Quy định quản lý phế liệu của Châu Âu 45

1.5 Quy định về An toàn sinh học đối với phế liệu nhập khẩu của Úc

và New Zealand 49

1.6 Công ước Basel và thỏa thuận về bảo vệ môi trường liên quan 50

II Quy định quản lý phế liệu nhập khẩu của Việt Nam: 51

CHƯƠNG III: HIỆN TRẠNG KIỂM SOÁT Ô NHIỄM ĐỐI VỚI PHẾ LIỆU 55

I Hiện trạng về kiểm soát ô nhiễm trong nhập khẩu phế liệu 55

II Hiện trạng về kiểm soát ô nhiễm trong sử dụng phế liệu 59

III Đề xuất phương án giải quyết các vấn đề tồn tại 65

CHƯƠNG IV : ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT Ô NHIỄM

TRONG NHẬP KHẨU PHẾ LIỆU 69

I Xây dựng các quy định pháp lý về quản lý phế liệu nhập khẩu 69

1.1 Xây dựng Quyết định của Thủ tướng Chính phủ

về quản lý phế liệu nhập khẩu 69

1.2 Xây dựng các quy định quản lý chuyên ngành 70

II Đề xuất về tăng cường năng lực kỹ thuật trong quản lý phế liệu nhập khẩu 71

Trang 4

2.1 Tăng cường năng lực giám định chất lượng phế liệu 71

2.2 Tăng cường năng lực quản lý ô nhiễm môi trường tại cảng 71

2.3 Tăng cường năng lực quản lý ô nhiễm môi trường

tại doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh phế liệu 72

III Đánh giá tác động của dự thảo quy định pháp lý 73

3.1 Nội dung của quy định cần đánh giá tác động 73

3.2 Quá trình tham vấn ý kiến để đánh giá tác động của quy định 73

3.3 Phân tích rủi ro chính sách: 79

3.4 Phân tích các lĩnh vực và nhóm chịu ảnh hưởng 82

a) Các lĩnh vực chịu tác động do quy định 82

b) Các nhóm lợi ích bị ảnh hưởng do quy định 85

3.5 Phân tích về thực hiện và giám sát thực hiện các quy định 86

a) Nguyên tắc hỗ trợ tuân thủ 86

b) Yếu tố tuân thủ trong các dự thảo quy định 87

c) Phân tích các khó khăn trong việc tuân thủ quy định: 89

CHƯƠNG V: ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP DÀI HẠN ĐỂ PHÒNG NGỪA

VÀ KIỂM SOÁT Ô NHIỄM ĐỐI VỚI PHẾ LIỆU NHẬP KHẨU 91

I Đặc điểm về kinh tế và môi trường liên quan đến phế liệu 91

1.1 Lợi ích của việc sử dụng phế liệu 91

1.2 Rủi ro do sử dụng phế liệu 92

II Đề xuất biện pháp dài hạn để kiểm soát phế liệu nhập khẩu 94

2.1 Chính sách về hài hòa các quy định quốc tế: 94

2.2 Chính sách về tăng cường năng lực kỹ thuật 96

2.3 Chính sách về giá trị đạo đức “xanh” 97

2.4 Chính sách về tăng cường năng lực thể chế 92

CHƯƠNG VI: KẾT LUẬN 103

PHỤ LỤC 104

Phụ lục I Dự thảo Quy chế quản lý phế liệu nhập khẩu và Tờ trình (đã trình Thủ tướng Chính phủ) Phụ lục II Dự thảo Thông tư ban hành các Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về

(1) Thép phế liệu, (2) Nhựa phế liệu, (3) Giấy phế liệu

Phụ lục III Hướng dẫn kỹ thuật Kiểm soát ô nhiễm đối với phế liệu nhập khẩu

Phụ lục IV Tổng hợp ý kiến góp ý của các Bộ, ngành, địa phương, tổ chức, cá nhân

đối với nội dung Dự thảo Quy chế quản lý phế liệu nhập khẩu

Phụ lục V Tài liệu tham khảo

Trang 5

Danh sách các thành viên tham gia thực hiện

1 TS Nguyễn Anh Tuấn Cục Kiểm soát ô nhiễm - Tổng cục Môi trường

2 TS Trần Thế Loãn Cục Kiểm soát ô nhiễm - Tổng cục Môi trường

3 ThS Nguyễn Hoàng Đức Cục Kiểm soát ô nhiễm - Tổng cục Môi trường

5 ThS Đỗ Thanh Bái Trung tâm Bảo vệ Môi trường và An toàn hóa chất

6 Nguyễn Thượng Hiền Cục Quản lý chất thải và Cải thiện Môi trường

7 Nguyễn Hồng Minh Cục Kiểm soát ô nhiễm - Tổng cục Môi trường

8 ThS Trần Thị Hiền Hạnh Cục Kiểm soát ô nhiễm - Tổng cục Môi trường

9 ThS Nguyễn Trường Huynh Cục Kiểm soát ô nhiễm - Tổng cục Môi trường

10 ThS Vũ Tất Đạt Cục Kiểm soát ô nhiễm - Tổng cục Môi trường

11 CN Phan Thị Hà Cục Kiểm soát ô nhiễm - Tổng cục Môi trường

12 CN Nguyễn Thị Hồng Hà Cục Kiểm soát ô nhiễm - Tổng cục Môi trường

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Hình 1: Các loại nhựa phế liệu 14

Hình 2: Các loại bao bì dạng màng nhựa 15

Hình 3: Quá trình sản xuất nhựa từ nhựa phế liệu và nguyên liệu nhựa 16

Hình 4: Thu nhiệt trị từ quá trình sản xuất nhựa 17

Hình 5: Mô hình lò hồ quang (EAF) truyền thống 22

Hình 6: Sơ đồ máy đùn nhựa 30

Hình 7: Dòng nguyên liệu từ nhựa phế liệu 33

Hình 8: Nhựa phế liệu có thể tái chế 34

Hình 9: Nguyên liệu từ nhựa phế liệu (2003) 35

Trang 7

sự tham gia tích cực của doanh nghiệp và ý thức của người dân trong việc phân

loại rác từ nguồn

Tháng 4 năm 2005, Hội nghị Bộ trưởng Môi trường các nước Châu  – Thái Bình Dương đã được tổ chức tại Tokyo, Nhật Bản để thông quan Sáng kiến “3R” (Thu hồi/ giảm thiểu - Tái chế - Tái sử dụng) đối với chất thải, hướng tới việc xây dựng “xã hội tái chế” để bảo vệ môi trường, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên và phát triển bền vững Việt Nam đã tham gia Hội nghị này và cam kết đẩy mạnh triển khai các biện pháp cần thiết để thúc đẩy sự phát triển “xã hội tái chế” tại Việt Nam, trong khu vực và trên toàn cầu

Để ngăn chặn chuyển khẩu chất thải, đồng thời khuyến khích tái sử dụng phế liệu làm nguyên liệu sản xuất một cách an toàn, một số nươc trong khu vực như Hồng Kong – Trung Quốc, Malaysia, Thái Lan đã nghiên cứu và ban hành một số quy định về điệu kiện và tiêu chuẩn phế liệu được phép nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất như: quy định về chất thải điện – điện tử của HongKong, Tiêu chuẩn nhựa phế liệu của Malaysia, v.v…

Tại các nước phát triển, các nghiên cứu về tái sử dụng chất thải, phế liệu cũng được đã và đang thực hiện rộng rãi, trong đó bao gồm cả các nghiên cứu về

cơ chế chính sách do Chính phủ thực hiện, các nghiên cứu về tác động môi trường do các nhóm nghiên cứu về môi trường thực hiện hoặc các nghiên cứu do các công ty công nghiệp thực hiện

Bên cạnh đó, do việc sử dụng nguyên liệu tái chế hay phế liệu làm nguyên liệu sản xuất là một xu hướng chung trên thế giới, các diễn đàn, tổ chức kinh tế thế giới cũng rất quan tâm, hỗ trợ phát triển các họat động kinh doanh này Các

tổ chức Kinh tế Thế giới (WTO) hay AFTA đều có các điều khoản về kinh doanh phế liệu, nguyên liệu tái chế Tuy nhiên, do chưa có sự thống nhất, đồng

bộ giữa các quy định pháp lý giữa các tổ chức kinh tế toàn cầu, kinh tế khu vực

và từng nước thành viên nên việc kiểm soát, quản lý, hỗ trợ các họat đông xuất nhập khẩu phế liệu còn nhiều bất cập Bên cạnh đó, vẫn tồn tại việc lợi dụng sự thiếu chặt chẽ về pháp lý và cơ chế tổ chức trong quản lý xuất nhập khẩu phế liệu để nhập khẩu các loại chất thải vào các nước đang hoặc chậm pháp triển, trong đó có Việt Nam Trong những năm gần đây, hàng trăm công-ten-nơ chất thải đã nhập cảng vào Việt Nam, bao gồm ắc quy chì axit thải, thiết bi văn phòng thải, cac loại nhựa phế liệu không đủ tiêu chuẩn, v.v Bên cạnh đó, do nhiều nước phát triển triển trên thế giới tăng sức ép về bảo vệ môi trường, có quy định pháp lý về bảo vệ môi trường chặt chẽ và chi phí xử lý chất thải cao, việc vận chuyển chất thải sang các nước đang và chậm phát triển có xu hướng gia tăng nhanh chóng

Trang 8

Nhằm mục đích hạn chế việc vận chuyển, trung chuyển trái phép chất thải, đăc biệt là các chất thải nguy hại, cộng đồng quốc tế đã thông qua một thỏa thuận chung về việc vận chuyển và tiêu hủy chất thải nguy hại, thường được biết đến với tên gọi là Công ước Basel Việt Nam là một thành viên của Công ước Basel và đã phê chuẩn Công ước từ năm 1995 Các quy định của Công ước Basel về vận chuyển và tiêu hủy chất thải nguy hại cũng đã được nghiên cứu để hình thành các quy định pháp lý của Việt Nam trong quản lý chất thải như Quyết định 155/1999/QĐ-TTg ngày 16-7-1999 của Thủ tướng Chinh phủ hay một số điều khoản trong Chương VIII, Mục II của Luật bảo vệ môi trường năm 2005 Việt Nam cũng tham gia tích cực trong Mạng lưới thông tin, cảnh báo về vận chuyển chất thải của các nước khu vực Châu Á-Thái Bình Dương

Mặc dù nước ta đã tham gia vào một số các thỏa thuận, hiệp ước quốc tế

về kinh tế và bảo vệ môi trường, các quy định của các hiệp ước này đã và đang được nội luật hóa để áp dụng tại Việt Nam, tuy vậy vẫn còn tồn tại sự thiếu đồng

bộ trong hệ thống pháp lý, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến xuất nhập khẩu phế liệu Mức độ phổ biến và áp dụng các quy định đã được nội luật hóa này cũng còn hạn chế Thực tế cho thấy, việc áp dụng các quy định trong quản lý kinh doanh phế liệu, kiểm soát xuất nhập khẩu chất thải ở Việt Nam cũng còn khó khăn về nhiều mặt Hiện nay, Việt Nam đang trong quá trình tiếp tục xây dựng, bổ sung và hoàn thiện các quy định pháp lý và hướng dẫn kỹ thuật, đồng thời cải cách thể chế và tăng cường năng lực để quản lý kinh doanh phế liệu nhập khẩu và kiểm soát chất thải và chất thải nguy hại an toàn, hiệu qủa hơn Khảo sát ban đầu về họat động kinh doanh, nhập khẩu phế liệu cũng cho thấy, nhận thức và hiểu biết của nhiều doanh nghiệp về bảo vệ môi trường trong kinh doanh phế liệu còn rất hạn chế

Vì vậy, việc nghiên cứu về các tiêu chuẩn phế liệu và xây dựng hướng dẫn thuật kiểm soát ô nhiễm trong hoạt động xuất nhập khẩu một số loại phế liệu dùng làm nguyên liệu sản xuất là hết sức cần thiết và có ý nghĩa thực tế cao Kết quả nghiên cứu sẽ đóng góp giải quyết những vấn đề bức xúc hiện nay là quản lý hiệu quả việc nhập khẩu phế liệu để hỗ trợ phát triển kinh tế, kiểm soát được nhập khẩu chất thải vào Việt Nam và xử lý các vấn đề môi trường liên quan đến họat động kinh doanh phế liệu, phế thải

Đề tài nghiên cứu này được thực hiện nhằm góp phần giải quyết những vấn

đề nêu trên Các mục tiêu cụ thể của Đề tài gồm:

1 Đánh giá được tổng thể các vấn đề pháp lý và kỹ thuật trong kinh doanh

và sử dụng phế liệu làm nguyên liệu sản xuất trên thế giới;

2 Xây dựng được một số loại hướng dẫn kỹ thuật kiểm soát ô nhiễm trong kinh doanh phế liệu làm nguyên liệu sản xuất tuân thủ pháp luật Việt Nam và phù hợp với quy định, thông lệ quốc tế

Để đáp ứng mục tiêu nêu trên, Đề tài đã thực hiện các hoạt động tổng hợp thông tin trong nước và quốc tế, khảo sát thực tế, xây dựng các dự thảo quy định, đánh giá tác động của các quy định, lấy ý kiến rộng rãi của các cơ quan, tổ chức,

Trang 9

cá nhân liên quan và trình các cấp có thẩm quyền xem xét các nội dung dự thảo

để phê duyệt và ban hành quy định mới Các kết quả cụ thể của Đề tài bao gồm:

1 Các báo cáo tổng quan về phế liệu và sử dụng phế liệu quốc tế và trong nước, bao gồm cả các vấn đề về kỹ thuật và pháp lý (Chương I);

2 Đánh giá về tiêu chuẩn, quy định quản lý phế liệu quốc tế và của Việt Nam (Chương II);

3 Phân tích các vấn đề về sử dụng phế liệu và bảo vệ môi trường (Chương III);

4 Xây dựng các dự thảo hướng dẫn kỹ thuật và quy định về quản lý phế liệu nhập khẩu; đánh giá tác động của quy định; đánh giá rủi ro khi triển khai quy định (Chương IV);

5 Dự thảo các quy định, hướng dẫn kỹ thuật để trình các cấp có thẩm quyền xem xét (Phụ luc), bao gồm:

a Dự thảo Quy chế quản lý phế liệu nhập khẩu (đã trình Thủ tướng Chính phủ)

b Dự thảo Thông tư ban hành các Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về (1) Thép phế liệu, (2) Nhựa phế liệu, (3) Giấy phế liệu;

c Dự thảo Hướng dẫn kỹ thuật Kiểm soát ô nhiễm đối với phế liệu nhập khẩu

Trang 10

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ PHẾ LIỆU VÀ PHẾ LIỆU NHẬP KHẨU

I Khái niệm và định nghĩa pháp lý của phế liệu

Tại Việt Nam, về pháp lý, khái niệm phế liệu được định nghĩa trước hết tại khoản 1 Điều 3 Quyết định số 03/2004/QĐ-BTNMT ngày 02/4/2004 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc ban hành Quy định về bảo vệ môi trường đối với phế liệu nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất, trong đó nêu rõ

"Phế liệu là sản phẩm, vật liệu được loại ra từ quá trình sản xuất hoặc tiêu dùng nhưng đáp ứng yêu cầu làm nguyên liệu sản xuất" Khái niệm phế liệu tiếp tục được Luật Bảo vệ môi trường 2005 (Luật BVMT 2005) định nghĩa tại khoản 13 Điều 3: "Phế liệu là sản phẩm, vật liệu bị loại ra từ quá trình sản xuất hoặc tiêu dùng được thu hồi để dùng làm nguyên liệu sản xuất" Mặc dù có sự khác biệt về việc sử dụng một số từ ngữ trong hai định nghĩa này nhưng giữa các định nghĩa này không có sự khác biệt về bản chất pháp lý

Theo các định nghĩa trên, vật chất sẽ trở thành phế liệu khi đáp ứng đầy

đủ các tiêu chí sau [1]:

Thứ nhất: Là sản phẩm hoặc vật liệu

“Sản phẩm” là những thứ do lao động của con người tạo ra Các sản phẩm

mà con người tạo ra có thể tồn tại dưới dạng vật thể hoặc phi vật thể Dưới giác

độ luật môi trường thì đó chỉ có thể là những sản phẩm tồn tại dưới dạng vật thể thuộc thành phần môi trường Do đó, những sản phẩm phi vật thể không thuộc khái niệm phế liệu

“Vật liệu” là những vật để làm cái gì đó Như vậy, vật liệu có thể là những vật chất từ tự nhiên hoặc đã qua chế biến để có thể sử dụng trong sản xuất

Thứ hai: Bị loại ra từ quá trình sản xuất hoặc tiêu dùng

"Bị loại ra" được hiểu là các sản phẩm hoặc vật liệu được đưa ra khỏi quá trình sản xuất hoặc tiêu dùng Đối với hoạt động tiêu dùng, được coi là “được loại ra” khi chủ sở hữu không đưa nó vào khai thác giá trị, công dụng của vật chất đó Trong trường hợp sản xuất, hành vi “loại ra” cần có sự phân biệt giữa hành vi của người trực tiếp sản xuất (công nhân) với hành vi loại ra của chủ sở hữu hoặc người đại diện hợp pháp của chủ sở hữu Chỉ được nhìn nhận là “được loại ra” khỏi quá trình sản xuất khi chủ sở hữu hoặc người đại diện chủ sở hữu chủ động từ bỏ ý định sử dụng sản phẩm hoặc vật liệu đó vào quá trình sản xuất

và tiêu dùng Điều này có nghĩa là một vật chất tồn tại dưới dạng phế liệu hay không phụ thuộc vào hành vi của chủ sở hữu (hoặc người đại diện hợp pháp) sản phẩm hoặc vật liệu đó Hành vi từ bỏ của chủ sở hữu có thể được thể hiện bằng hành động hoặc không hành động

Trang 11

Thứ ba: Được thu hồi dùng làm nguyên liệu

Sản phẩm hoặc vật liệu có trở thành phế liệu hay không phụ thuộc vào việc đánh giá trên thực tế đối với hành vi "từ bỏ ý định khai thác giá trị, công dụng" của chủ sở hữu và phải được xem xét một cách cụ thể đối với từng trường hợp, như thu hồi để bán dưới hình thức hàng hóa, để sử dụng làm nguyên liệu hoặc để xử lý

Cùng với các định nghĩa pháp lý về phế liệu và chất thải, chúng ta cũng có các định nghĩa, khái niệm khác có liên quan đến phế liệu được hiểu như sau:

Tạp chất: Là các chất, vật liệu không cùng loại với phế liệu nhập khẩu, bị

lẫn trong phế liệu

Tạp chất nguy hại: Là các tạp chất có tên trong Danh mục chất thải nguy

hại do Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành, bị lẫn trong phế liệu

Giấy xác nhận đủ điều kiện nhập khẩu phế liệu:Là Giấy xác nhận do Sở Tài nguyên và Môi trường địa phương cấp cho thương nhân nhập khẩu phế liệu theo quy định (theo Thông tư liên tịch 02/2007/TTLT-BCT-BTNMT)

Lô hàng kiểm tra: Là lượng phế liệu được thương nhân nhập khẩu phế

liệu đăng ký kiểm tra

Cơ quan kiểm tra: Là tên gọi chung cho các các cơ quan thực hiện việc

kiểm tra về bảo vệ môi trường trong hoạt động nhập khẩu phế liệu, bao gồm: Cơ quan hải quan cửa khẩu, Tổng cục Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường hoặc Cơ quan cảnh sát môi trường

Thương nhân nhập khẩu: Là tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động nhập

khẩu phế liệu bao gồm các thương nhân nhập khẩu phế liệu trực tiếp để sản xuất, thương nhân nhập khẩu ủy thác và thương nhân nhập khẩu để kinh doanh

Tổ chức giám định: Là tổ chức có chức năng và đủ năng lực được cơ quan

kiểm tra hoặc thương nhân đề nghị giám định phế liệu

Tiêu chuẩn: là quy định về đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý dùng làm

chuẩn để phân loại, đánh giá sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, quá trình, môi trường

và các đối tượng khác trong hoạt động kinh tế - xã hội nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của các đối tượng này Tiêu chuẩn do một tổ chức công bố dưới dạng văn bản để tự nguyện áp dụng

Quy chuẩn kỹ thuật: là quy định về mức giới hạn của đặc tính kỹ thuật và

yêu cầu quản lý mà sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, quá trình, môi trường và các đối tượng khác trong hoạt động kinh tế - xã hội phải tuân thủ để bảo đảm an toàn,

vệ sinh, sức khoẻ con người; bảo vệ động vật, thực vật, môi trường; bảo vệ lợi ích và an ninh quốc gia, quyền lợi của người tiêu dùng và các yêu cầu thiết yếu khác Quy chuẩn kỹ thuật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành dưới dạng văn bản để bắt buộc áp dụng

Cùng với khái niệm phế liệu, Luật Bảo vệ môi trường 2005 đề cập tới khái niệm chất thải như là một khái niệm độc lập với khái niệm phế liệu Luật môi

Trang 12

trường Việt Nam đã đưa ra định nghĩa chất thải tại khoản 10 Điều 3 Luật BVMT

2005 như sau: "Chất thải là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất,

dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác” Theo định nghĩa này, vật chất sẽ trở

thành chất thải khi đáp ứng đầy đủ các tiêu chí sau:

Thứ nhất, chất thải là vật chất, có thể tồn tại dưới những dạng như rắn,

lỏng, khí hoặc các dạng khác Những yếu tố phi vật chất không thể là chất thải Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với những yếu tố cấu thành môi trường theo pháp luật môi trường

Thứ hai, vật chất bị chủ sở hữu thải ra trong các hoạt động của mình, cả

trường hợp chủ động và bị động, sẽ trở thành chất thải

Thứ ba, vật chất sẽ tồn tại dưới dạng chất thải kể từ khi chủ sở hữu hoặc

người sử dụng hợp pháp thải ra cho tới khi con người đưa nó vào sử dụng trong một chu trình sản xuất hoặc chu trình sử dụng khác

Cách tiếp cận của Luật Bảo vệ môi trường 2005, nếu đưa ra được những tiêu chí rõ ràng cho việc phân biệt chất thải với phế liệu, sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình xây dựng và áp dụng các quy định trong hoạt động quản lý chất thải, phế liệu, trong đó có hoạt động nhập khẩu phế liệu Từ những phân tích ở trên, khái niệm chất thải và khái niệm phế liệu được đề cập tại Luật Bảo vệ môi trường 2005 có những sự khác biệt sau đây:

Thứ nhất, các yếu tố có thể trở thành chất thải bao gồm các loại vật chất

trong đó có sản phẩm và vật liệu, là yếu tố có thể trở thành phế liệu

Thứ hai, với trường hợp trở thành phế liệu, việc từ bỏ giá trị, công dụng

của chủ sở hữu vật chất mang tính chủ động Trong trường hợp chất thải, việc từ

bỏ giá trị công dụng của chủ sở hữu vật chất bao gồm cả trường hợp chủ động

và bị động

Thứ ba, khái niệm chất thải không đề cập tới mục đích sau quá trình thải

ra và pháp luật coi thu hồi là một trong những nghĩa vụ của người sản sinh chất thải Trong khi đó, mục đích "được thu hồi dùng làm nguyên liệu sản xuất" là một tiêu chí của khái niệm phế liệu Tiêu chí "được thu hồi dùng làm nguyên liệu sản xuất" là tiêu chí mang tính định tính

Thực tế, chúng ta khó có thể đánh giá được một chất thải cụ thể được thu hồi có thể "dùng làm nguyên liệu" cho một chu trình sản xuất nào đó, được thực hiện ở đâu đó trên lãnh thổ Việt Nam hoặc trên thế giới hay không Pháp luật quốc tế về môi trường và pháp luật các quốc gia không sử dụng tiêu chí này để xác lập khái niệm phế liệu và từ đó không phân biệt phế liệu với chất thải mà chỉ

sử dụng khái niệm duy nhất: chất thải (tiếng Anh: waste, tiếng Đức: Abfall), kể

cả trong trường hợp thu hồi để tái chế, tái sử dụng và trường hợp thu hồi để xử

lý Theo Phụ lục I của Công ước Basel về kiểm soát vận chuyển chất thải nguy hiểm qua biên giới và việc tiêu hủy chúng, hoạt động thu hồi để tái sử dụng cũng

là một công việc tiêu hủy và vì vậy vật chất thải ra của các hoạt động khác nhau nhưng được thu hồi "dùng làm nguyên liệu" cũng là chất thải

Trang 13

Trong thực tế cuộc sống, phế liệu là một khái niệm quen thuộc, phổ biến

Hệ thống thu gom, tái chế, tái sử dụng vật liệu tồn tại ở hầu hết các xã hội, các vùng trên thế giới, là một quá trình sản xuất, sinh hoạt đã có từ rất lâu Xưa kia, ông cha ta đã tận dụng than xương động vật trong sản xuất đường hay tái sử dụng sắt vụn, đồng vụn trong sản xuất nông cụ và vật dụng sinh hoạt Những hoạt động tái chế sơ khai này đã góp phần làm giảm giá thành và giúp giải quyết vấn đề khan hiếm nguyên liệu sản xuất thời đó Ngày nay, trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt, tái chế đóng vai trò như là nguồn cung cấp nguyên, nhiên vật liệu giá rẻ càng trở nên quan trọng hơn Các hệ thống kinh doanh phế liệu, mà thường được gọi dưới tên dân dã là “ve chai”, đã tồn tại, hoạt động hiệu quả về mặt thu hồi vật liệu, tuy nhiên cũng phát sinh nhiều vấn đề về môi trường và sức khỏe cộng đồng

Ở nước ta, Luật Bảo vệ môi trường cấm nhập khẩu rác thải, nhưng phế liệu chủ yếu lại được lựa chọn từ chất thải, nên việc cho phép nhập khẩu các loại phế liệu nào để tận dụng làm nguyên liệu sản xuất thì cần phải cân nhắc để phù hợp với yêu cầu của bảo vệ môi trường và quy định các loại tiêu chuẩn phế liệu nhập khẩu, phải chặt chẽ hơn yêu cầu đối với các loại phế liệu lựa chọn từ các loại chất thải ở trong nước Thực tế, Việt Nam đã cho phép các doanh nghiệp nhập khẩu phế liệu với quy định về điều kiện khá cụ thể, chặt chẽ Tuy vậy, do khác biệt về cách hiểu của mỗi nước và sự khó phân định về khái niệm phế liệu, chất thải trong cuộc sống, trong cộng đồng, đã dẫn đến những bất cập trong việc quản lý và sử dụng phế liệu, phục vụ sản xuất trong thời gian qua Tới nay, việc xây dựng hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng để tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế và đồng thời bảo vệ được môi trường vẫn là bài toán khó, chưa có được giải pháp hiệu quả cuối cùng

II Phế liệu và môi trường

2.1 Tác động tích cực của việc thu hồi, tái chế phế liệu

Phế liệu hay nguồn nguyên liệu từ tái chế có thể coi là vô tận, vì có sản xuất là có phế thải và có cơ hội cho tái chế Mặc khác, tái chế còn là một giải pháp hữu hiệu làm giảm chi phí sản xuất, giảm chi phí xử lý chất thải và do đó

hạ giá thành sản phẩm Bên cạnh những lợi ích kinh tế, tái chế góp phần làm giảm các thiệt hại môi trường do chất thải gây ra, đồng thời nâng cao uy tín và giúp cho việc gắn mác sinh thái trên các sản phẩm của nhà sản xuất Xét về tổng thể, thực hiện tốt biện pháp tái chế đem lại môi trường trong sạch hơn, cải thiện sức khỏe cộng đồng và là một trong những giải pháp quan trọng đảm bảo sự phát triển bền vững của xã hội Ở các nước công nghiệp phát triển, hệ thống tái chế có mặt trong khắp các lĩnh vực sản xuất và đời sống, đóng vai trò là một nguồn cung cấp nguyên, vật liệu quan trọng cho các chu trình sản xuất tiếp theo Thành công của các nước này trong tái chế phế thải là nhờ các chính sách đồng

bộ và nhất quán của chính phủ cùng ý thức tự giác của người dân trong việc phân loại rác, chất thải trước khi vứt bỏ

Ở một khía cạnh khác, nhiều nghệ sỹ còn sử dụng rác thải làm chất liệu cho các sáng tác của mình, chẳng hạn giấy vẽ làm từ giấy tái chế, tranh làm từ

Trang 14

thẻ điện thoại hay tượng làm từ các mảnh kim loại, tượng từ vật liệu sắt thép thải

bỏ, v.v… Dĩ nhiên, đây không phải là một biện pháp hữu hiệu để giải quyết vấn

đề rác thải, nhưng điều đáng nói là cách nhìn nhận của nghệ sỹ và công chúng đối với rác thải đã thay đổi, rác đã không còn bị coi là đồ bỏ đi nữa mà đã được

sử dụng vào các mục đích có ích [2]

a) Tái chế sắt, thép phế liệu

Đối với sắt, thép phế liệu, một trong những loại phế liệu phổ biến nhất, việc sử dụng thép phế liệu để sản xuất thép mang lại những hiệu quả kinh tế và

xã hội rất to lớn Viện Nghiên cứu công nghiệp tái chế phế liệu của Mỹ (Institute

of Scrap Recycling Industries – ISRI) đã tổng kết các lợi ích của việc sử dụng thép phế liệu sản xuất thép so với công nghệ khai thác quặng sắt – Lò cao – Lò thép như sau [2]

- Tiết kiệm năng lượng: 74%

- Tiết kiệm khoáng sản: 90%

- Giảm ô nhiễm không khí: 86%

- Giảm sử dụng nước: 40%

- Giảm ô nhiễm nước: 76%

- Giảm tiêu thụ nước trong khai mỏ: 97%

- Giảm phế thải phát sinh so với sử dụng quặng do lượng Fe có trong thép phế cao hơn nhiều so với quặng

Và tất nhiên là việc tái sử dụng thép phế là tiết kiệm tài nguyên sắt thép từ

tự nhiên Riêng ở Mỹ, lợi ích kinh tế thuần túy hàng năm từ sắt thép phế liệu là khoảng 2 tỷ USD mỗi năm Thị trường sắt, thép phế liệu quốc tế là một thị trường lớn, ước tính lên đến hàng chục tỷ USD mỗi năm và chúng ta cũng cần lưu ý là đây là một thị trường toàn cầu, hòa nhập rất sâu trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay

b) Tái chế nhựa phế liệu

Về nhựa, chúng ta đều nhận thấy rằng sản phẩm nhựa là một trong những mặt hàng thiết yếu của nền kinh tế Cùng với sự tiến bộ của khoa học và công nghệ, ngày càng có nhiều loại vật liệu và sản phẩm với xuất xứ từ Nhựa được hình thành và phát triển có thể thay thế một phần vật liệu truyền thống như sắt, thép, gỗ, sợi bông v.v… Sản phẩm nhựa có mặt xung quanh ta từ những đồ gia dụng đơn giản đến những chi tiết được chế tạo với những tính năng đặc biệt dùng trong hàng không, vũ trụ

Nhựa phế liệu thường được phân loại, thu gom, làm sạch sau đó được đưa vào một quy trình tái sinh Các nguyên liệu sợi công nghiệp làm từ nhựa tái chế được dùng để chế tạo ra nhiều loại sản phẩm khác nhau: quần áo, giày, khăn tắm, chăn, … Các vật liệu composite vốn được xem là loại vật liệu khó tái chế Tuy

Trang 15

nhiên một số công nghệ mới phát triển đã sử dụng composit cùng với thủy tinh trong sản xuất gạch lát vỉa hè

Một số nhà sản xuất còn đi xa hơn nữa trong nỗ lực tái sử dụng và tái chế các sản phẩm của mình nhằm hạ giá thành sản phẩm và thu hút sự chú ý của những khách hàng quan tâm đến vấn đề môi trường Ví dụ, kể từ năm 1992, công ty FujiFilm đã quyết định thiết kế lại sản phẩm máy ảnh sử dụng một lần QuickSnap của mình theo hướng tái sử dụng triệt để Trước đó, sau khi chụp, toàn bộ chiếc máy ảnh, trừ phim, bị vứt bỏ Nhưng sau khi được thiết kế lại, kính, thân máy và đèn flash được tái sử dụng, còn các bộ phận khác được tái chế thành các hạt nhựa nguyên liệu Việc thu gom máy ảnh đã qua sử dụng cũng rất đơn giản: khách hàng chỉ việc mang cả máy ảnh lẫn phim đến hiệu ảnh rồi lấy ảnh về, tất cả các công việc còn lại do cửa hiệu và hệ thống thu gom của công ty đảm nhiệm

Sản phẩm nhựa bao gồm nhiều loại nhựa gốc, do đó nhựa phế liệu cũng rất đa dạng: như PE, PVC, PET, PP… [3]

Hình 1: Các loại nhựa phế liệu

Tên hóa học của các loại polimer tạo nên các sản phẩm nhưa là:

• PP: Poly Propylen

• PE: Poly Etylen

• PET: Polyetylen terephtalat, đôi khi con goi là PETE hay PET-P

Trang 16

• Nylon: Polyamid (có thể bao gồm nhiều loại Nylon thương phẩm như Nylon 66, Nylon 12, Nylon 6…)

Nhựa phế liệu, ngoài về bản chất hóa học, còn được phân chia theo màu sắc, công dụng của sản phẩm gốc và nguồn gốc phế liệu Theo các quy định quốc tế thì việc phân loại này phải gắn với những mã tương ứng

Nhựa phế liệu thường thấy nhất trong là phế liệu chai nhựa và bao bì dưới dạng màng nhựa Vật liệu làm chai nhựa trên thị trường rất đa dạng, nhưng chủ yếu là bao bì dạng PET và HDPE Bao bì dạng màng nhựa là loại phổ biến nhất trong các sản phẩm nhựa dạng màng:

Hình 2: Các loại bao bì dạng màng nhựa

Phổ biến nhất trong các chai nhựa là dạng HDPE và PP

Trang 17

Bảng 1: Các dạng bao bì màng nhựa phổ biến nhất

Loại nhựa bao bì Công dụng Chất bẩn có thể có trong phế liệu

LPDE Các loại bao bì và

film Nhãn; thực phẩm dư, bụi đất cát, hơi ẩm, nhiều vật liệu không thể thu hồi sau sử dụng LLDPE Túi nilon mỏng Nhãn; thực phẩm dư, bụi đất cát, hơi ẩm

HDPE Túi cứng và dày Thực phẩm dư, nhiều vật liệu không thể thu

Hình 3: Quá trình sản xuất nhựa từ nhựa phế liệu và nguyên liệu nhựa

Mặt khác, trong trường hợp nhựa đem đốt để thu hồi lại nhiệt trị của chúng thì ý nghĩa cũng rất lớn Nhiệt trị cung cấp bởi nhựa phế liệu trong những

Trang 18

cơ sở sử dụng nhiên liệu hỗn hợp (than, dầu, nhựa thải) để tạo ra nhiệt là khoảng

ở mức 1/3 tổng năng lượng cung cấp từ hệ thống thiết bị:

Hình 4: Thu nhiệt trị từ quá trình sản xuất nhựa

Từ các kinh nghiệm sử dụng phế thải nhựa để thu hồi nhiệt có thể thấy như sau:

- Nhựa thải là nhiên liệu có nhiệt trị cao;

- Nếu nhựa đem đốt chứa nhiều tạp chất, có thể dẫn đến nguy hiểm cho chính lò đốt và cho môi trường;

- Khoảng 20-30% vật chất đem đốt vẫn nằm trong tro xỉ, cần được quản

lý nghiêm ngặt

Việc tái chế từ nhựa phế liệu thay thế nhựa gốc để sản xuất các sản phẩm nhựa phục vụ cho những mục đích khác nhau cua công nghiệp và dân sinh lại phụ thuộc rất nhiều yếu tố:

- Nhu cầu và giá cả của thị trường:

+ dầu mỏ, nhựa gốc

+ nhu cầu xã hội

- Mầu sắc/ độ trong của nhựa phế liệu;

- Mức độ nhiễm bẩn của nhựa phế liệu;

- Mức độ phân loại;

- Khối lượng/tỷ trọng

c) Tái chế giấy phế liệu

Những nghiên cứu về việc tái chế giấy cho thấy, khi tái chế một tấn giấy

sẽ tiết kiệm được 2.200 kWh năng lượng điện Số năng lượng này đủ dùng cho 1

hộ gia đình có 4 người trong một năm Đồng thời tái chế một tấn giấy cũng sẽ giúp giảm khai thác 17 cây xanh, 26,5 m3 nước và 3,3 m3 đất để chôn lấp chất thải, tính về mặt bảo vệ môi trường So sánh với việc để sản xuất một tấn bột

Trang 19

giấy cần đến 5 m3 gỗ và 100 m3 nước Vì vậy nếu phân loại và tái chế giấy tốt sẽ giúp tài nguyên rừng và nước được bảo vệ lâu dài

Trên thế giới, việc tái chế giấy là một ngành công nghiệp lớn, và là một thị trường toàn cầu

Tại Việt Nam, theo Viện kỹ thuật nhiệt đới và bảo vệ môi trường TP HCM, trong năm 2008, các nhà sản xuất làm ra hơn 760 nghìn tấn bao bì nhựa

và 800 nghìn tấn bao bì giấy, “Trong khi phải mất đến 400 năm tự nhiên mới có thể phân hủy hết loại rác thải nguy hại này” [4] Thực tế tại Việt Nam cũng cho thấy, hệ thống “ve chai” đã hoạt động khá hiệu quả để thu hồi các sản phẩm giấy thải loại, lượng giấy bị chôn lấp tại các bãi rác là không nhiều Tuy nhiên, do việc phân loại rác tại nguồn kém nên hiệu quả thu gom, tái chế, sử dụng giấy loại là không cao, ước tính chỉ khoảng 25% trên tổng số giấy thải, còn lại bị phân hủy trong môi trường

Ngoài ra, còn có các loại phế liệu đặc thù khác như pin-ắc quy, bông vải, chất thải sinh học v.v…, cũng chứa những vật liệu có thể tái chế để làm nguyên liệu sản xuất

Các lợi ích của việc tái chế rác thải không chỉ dừng lại ở khâu sản xuất, nhiều khi những lợi ích môi trường và xã hội gián tiếp còn to lớn hơn những lợi ích kinh tế đo đếm được Chẳng hạn, tái chế giúp khôi phục và duy trì một môi trường trong sạch và lành mạnh, nhờ vậy giảm các chi phí chữa bệnh và chi phí

do nghỉ ốm Môi trường trong lành cũng giúp phát triển ngành du lịch, kéo theo

là các hoạt động kinh tế khác như nhà hàng, khách sạn, thương mại, cơ sở hạ tầng, v.v Về lâu dài, việc duy trì sự phát triển bền vững quan trọng hơn nhiều

so với tăng trưởng nóng trong một thời gian ngắn với chất lượng phát triển thấp, gây áp lực lớn lên hệ thống cơ sở hạ tầng và gây ra những vấn đề môi trường trầm trọng Một xã hội phát triển bền vững là xã hội không những đảm bảo được các nhu cầu hiện tại của mình mà còn có khả năng đảm bảo nhu cầu cho các thế

hệ tương lai Điều này chỉ có thể thực hiện được khi các nguồn tài nguyên được

sử dụng một cách hiệu quả và quan trọng hơn là chúng có thể được tái sinh Trong sản xuất bền vững lý tưởng, các nguyên, vật liệu được sử dụng trong những vòng khép kín với số chu kỳ vô hạn Điều hiển nhiên là chúng ta chỉ có thể tiệm cận chứ không bao giờ đạt tới khái niệm sản xuất bền vững lý tưởng này Nhưng "tiệm cận" đã là rất tốt so với tình hình hiện nay, và là mục tiêu mà các biện pháp quản lý hướng tới

2.2 Tác động tiêu cực của phế liệu

Việc thu gom, tái chế, tái sử dụng phế liệu và chất thải có thể mang lại những lợi ích to lớn cho phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, nhưng cũng có thể góp phần hủy hoại môi trường Điều này là do bản chất của phế liệu và quá trình thu gom, tái chế, tái sử dụng phế liệu tiềm ẩn nhiều rủi ro Dưới đây chúng tôi sẽ phân tích một số nguy cơ và nguyên nhân của những tác động tiêu cực đối với môi trường và sức khỏe do thu hồi và sử dụng phế liệu

a) Tái chế thép phế liệu

Trang 20

Trước hết, về bản chất phế liệu sắt, thép phế liệu có thể chứa những chất gây ô nhiễm rất đa dạng, bao gồm cả kim loại và phi kim, tùy theo nguồn thu gom Các nguồn thu gom chứa chất ô nhiễm có thể bao gồm (xem bảng dưới):

Foreign materials - vật lạ; Electrical components – linh kiện điện, Bearings –

vòng bạc, ổ bi; Galvanising – lớp phủ kim loại, Plating – lớp mạ điện, Paints, coatings & glazes – vật liệu có sơn, keo hay men, Solder-mối hàn, Vehicle scrap- ô tô cũ, Vitreous enamels- vật liệu phủ men sứ; Combustion engines, cylinder blocks – phế thải từ động cơ, vỏ động cơ; Capacitors from electrical & lighting fixtures – tụ điện từ cac linh kiện điện hay thiết bị chiếu sáng; Scrap from sources involving oil use – phế liệu từ những nguồn có sử dụng dầu; Turnings from machining – phoi cắt gọt, Any type stored on soil – tất cả vật liệu

để trên nền đất [2,3]

Bảng 2: Các nguồn thu gom phế liệu sắt thép và các chất ô nhiễm tương ứng

Trang 21

Như vậy có thể thấy ngoài các tác nhân gây ô nhiễm là kim loại, trong đó

có kim loại nặng (Cd, Cu, Cr, Pb, Zn), trong thép phế liệu còn tiềm ẩn nhiều chất phi kim loại nguy hiểm đối với môi trường và sứ khỏe, bao gồm:

Trang 22

- Gần đây người ta quan tâm nhiều đến dầu, mỡ và các chất hữu cơ, chì

và cadimi

Thủy ngân (Hg) cũng là một vấn đề được quan tâm đặc biệt do tính độc

và khả năng tích tự sinh học của nó Trong điều kiện nhất định thủy ngân có thể chuyển thành methyl thủy ngân, chất này có thể đi vào chu trình dinh dưỡng và gây độc cho hệ thần kinh, thận, gan Công nghiệp ôtô là một trong những nguồn chính gây ô nhiễm thủy ngân vì người ta sử dụng thủy ngân để làm các

bộ chuyển đổi, trong cơ cấu phanh ABS, trong hệ thống chiếu sáng Từ năm

1974 đến 2003, 217 triệu bộ công tắc chuyển mạch (switch) có chứa đến 224 tấn

Hg đã được lắp vào xe trên phạm vi toàn cầu, Tính riêng cho năm 2003 có khoảng 8.2 tấn Hg lẫn trong xe ô tô thải, trong khoảng 3 năm có khoảng 24 tấn

Hg thải vào môi trường, và khoảng 117 tấn trong vòng 30 năm

Trên thế giới người ta kiểm soát rất chặt chẽ các phế liệu có lẫn chất phóng xạ Theo thống kê ở Mỹ từ năm 1983 đến 2002, ít nhất có 26 vụ tai nạn trong sản xuất luyện kim liên quan đến chất phóng xạ, mỗi một vụ phải chi tới hàng chục triệu USD để khắc phục hậu quả Ở Mỹ và nhiều nơi trến thế giới,

người ta coi việc phá dỡ các con tầu cũ dùng trong chiến tranh (đặc biệt là từ

Thế chiến thứ 2) là “mối hiểm họa nổi đối với môi trường” do có thể phát thải

PCBs và amiăng vào lưu vực sông

Trang 23

Về mặt tái sử dụng, kim loại phế liệu bản thân là nguồn cung cấp kim loại

cơ bản rất tốt vì hàm lượng kim loại cơ bản rất cao so với quặng Tuy nhiên tùy thuộc vào quá trình phân loại và nguồn thu gom kim loại phế liệu mà trong thép phế có thể chứa nhiều vật liệu ẩn chứa các yếu tố nguy hiểm hay không có lợi cho quá trình nấu luyện về sau

Về công nghệ sản xuất, tùy thuộc vào loại hình công nghệ và trình độ công nghệ, việc tái chế phế liệu có thể phát sinh các chất ô nhiễm khác nhau

Công nghệ phổ biến nhất để tái chế thép phế liệu là sử dụng lò hồ quang Công nghệ luyện thép bằng lò hồ quang là một công nghệ tiên tiến Nguyên tắc hoạt động của lò hồ quang là: hồ quang chuyển năng lượng điện thành nhiệt năng có hiệu suất cao và mật độ năng lượng lớn Trong công nghệ hồ quang, người ta phải sử dụng máy biến thế để chuyển dòng điện có điện thế cao thành dòng điện có thế thấp (600 đến 1000V) dòng cao (55 đến 78kA) Điện cực Graphit dẫn dòng điện và tạo hồ quang cho liệu kim loại Trọng lượng mẻ thép

lò hồ quang ngày nay có thể lên đến 200 tấn, tạo ra sản lượng năm khoảng 1,5 triệu tấn/1 lò Lò điện hồ quang có thể sản xuất mác thép bất kì, hoàn toàn không phụ thuộc liệu nạp (thép phế, kim loại lỏng, cũng như kết hợp của chúng) Các phần tử cấu trúc chính của lò hồ quang là vỏ lò với hệ thống tháo thép lỏng

ở đáy lệch tâm và cửa thao tác, đỉnh lò di chuyển cùng các điện cực, và cơ cấu nghiêng lò Vỏ lò có lớp gạch chịu lửa Để nạp liệu cho lò, đỉnh lò được nâng lên và quay sang 1 bên Thép phế được chất trong các dỏ liệu lớn, nạp qua đỉnh

và đổ vào lò Điện cực di chuyển xuống thấp, khi chạm vào thép phế sinh ngắn mạch, tạo hồ quang sinh nhiệt để nóng chảy thép phế Trong suốt quá trình nấu chảy, nhiệt độ tại vùng hồ quang đạt tới 3000°C, và thép trong bể lò đạt tới 1700°C Nhiệt độ cao cũng cho phép hòa tan chất khó nóng chảy trong thép phế

Để cường hóa quá trình nấu chảy người ta có thể sử dụng quá trình phun thổi Oxy hoặc hỗn hợp khí nhiên liệu Khi thép đạt yêu cầu về thành phần hóa học và nhiệt độ, lò sẽ được tháo thép lỏng vào lò tinh luyện Khí thải từ lò sẽ thoát ra theo chụp hút đến hệ thống lọc bụi túi vải để làm sạch và thải ra ngoài môi trường

Hình 5: Mô hình lò hồ quang (EAF) truyền thống:

Trang 24

Công nghệ mới trong lò hồ quang là công nghệ liên tục, trong đó nguyên liệu sẽ được sấy nóng trước bằng nhiệt của lò hồ quang

Ô nhiễm không khí đối với các cơ sở luyện kim là mối quan tâm lớn về môi trường, tùy thuộc vào nguyên liệu và các giải pháp kiểm soát khí thải những vấn đề ô nhiễm không khí có thể khác nhau như được thấy ở bảng dưới đây:

Bảng3: Các nguồn và chất gây ô nhiễm có thể phát sinh từ lo hồ quang

Từ bảng này có thể thấy khi nguyên liệu sử dụng là phế liệu thì vấn đề ô

nhiễm là ô nhiễm kim loại (Cd, Pb, Zn và có thể Al, Bi, B, Cr, Co, Cu, Ni, Ti) và các chất PAHs (do sự cháy không triệt để của các chất hữu cơ như dầu, plastic)

là chắc chắn Ngoài ra có thể phát thải dioxin và furan nếu có các chất có gốc clo như dầu cắt gọt chứa clo, nhựa PVC, có thể phát thải PCBs nếu có tụ điện Trong khi đó đối với quá trình nấu luyện kim loại từ các nguồn nguyên liệu không phải là phế thải, như được thấy trong bảng, các vấn đề ô nhiễm hữu cơ như PAHs, dioxin, furan PCBs là chưa chắc chắn Đây cũng là lý do tại sao tại các nước giầu và tiên tiến người ta không sử dụng phế liệu kim loai tạp để tái chế mà chỉ sử dụng phế liệu đã được phân loại và làm sạch theo tiêu chuẩn

Trang 25

Cần lưu ý rằng, chất lượng phế liệu, quá trình phân loại và làm sạch phế liệu trước khi đưa vào lò nấu luyện là cực kỳ quan trọng để đảm bảo chất lượng phôi thép và đồng thời ngăn ngừa quá trình tái tạo các chất hữu cơ nguy hiểm từ sau quá trình cháy tại lò, đặc biệt là dioxin và furan (có thể tái hình thành trong pha khí thải nếu có chứa clo và các chất hữu cơ trong nguyên liệu)

Trong những năm gần đây, ô nhiễm do dioxin và furan phát sinh từ việc luyện thép đang là mối quan tâm lớn trong quá trình sử dụng lò hồ quang với kim loại phế liệu Như đã phân tích ở trên, trong khí thải từ công đoạn nấu chảy, nhiệt độ sẽ giảm từ từ ở nhiệt độ trên 1500oC xuống đến nhiệt độ khoảng 400-

700oC Nhiệt độ này là môi trường thuận lợi cho việc tái tạo lại các chất dioxin/furan nếu trong nguyên liệu có các tạp chất chứa các chất hữu cơ clo hoặc dẫn xuất clo vô cơ; đồng thời trong pha khí thải có nhiều hơi, bụi kim loại, nhất

là oxyt đồng hoạt tính, sẽ là những chất xúc tiến quan trọng cho quá trình tái tạo này Bụi trong khí thải là môi trường tốt để hấp phụ các dioxin/furan hình thành,

sẽ được thải vào môi trường nếu không được giữ lại từ thiết bị lọc bụi Bụi chứa dioxin/furan có thể khuyếch tán vào không khí, dẫn đến ô nhiễm dioxin/furan cho môi trường lao động, cho môi trường không khí xung quanh, cho môi trường nước và đất khi sa lắng

Sự tồn tại dioxin/furan phát thải vào môi trường không khí thay đổi tùy thuộc vào công nghệ và nguyên liệu đầu vào của lò hồ quang UNEP đã thống

kê và đưa ra hệ số phát thải dioxin/furan như sau:

- 3 µg TEQ/tấn thép lỏng khi dùng lò hồ quang EAF với thép phế đã được làm sạch và gang, công nghệ lọc túi có làm nguội khí trước lọc;

- 10 µg TEQ/ tấn thép lỏng khi dùng lò hồ quang EAF với thép phế không được làm sạch (bẩn) có chứa dầu cắt gọt (cutting oils) và/hoặc nhựa (plastic), dùng công nghệ sấy nguyên liệu (pre-heating), không

có thiết bị kiểm soát ô nhiễm không khí;

- 0.1 µg TEQ/tấn thép lỏng khi dùng lò hồ quang EAF với thép phế sạch không có chứa dầu cắt gọt và các tạp bẩn khác, khí thải được xử lý đốt thứ cấp, làm lạnh nhanh và lọc bụi

Theo một nghiên cứu của các nhà khoa học Đức tại Malaysia, kết quả phân tích lượng loại nặng, dioxin/furan từ khí thải tại các lò hồ quang nằm trong khoảng giá trị sau đây [2, 30]:

- Trong bụi và khí thải từ EAF chứa nhiều: kim loại bay hơi (Hg, Zn, Pb, Cu), Cl và PCDD/F;

- Hàm lượng PCDD/F trong bụi từ ống khói lò EAF dao động trong khoảng 3.5 đến 6.7 ng TEQ/g ;

- Hàm lượng PCDD/F trong bụi từ ống khói lò EAF dao động trong khoảng 0.9 to 2.5 ng TEQ/Nm3 ;

Trang 26

- Nồng độ PCDD/F trong môi trường lao động PCDD/F dao động trong khoảng 1.557–1.917 pg-TEQ/N m3, tức là cao hơn trong khoảng 5–24 lần nồng độ bên ngoài nhà xưởng (0.080–0.385 pg-TEQ/N m3) ;

- Hàm lượng PCDD/F cao nhất khi nạp thép phế liệu chứa tỷ lệ các chất phi kim loại (nono-metalic) cao

Như vậy, việc kiểm soát ô nhiễm đối với khí thải ra môi trường xung quanh là có ý nghĩa rất quan trọng để kiểm soát phát thải các chất độc hại như Dioxin hay Furan, mặc dù các tiêu chuẩn hoặc biện pháp quản lý không áp dụng trực tiếp cho các chất này

Bên cạnh sự phát sinh ô nhiễm do luyện thép, việc nhập và lưu giữ các loại nguyên liệu ban đầu khác nhau gây nên những tác động khác nhau đến vấn

đề ô nhiễm môi trường đất, nước và không khí:

Bảng 4: Tác động của lưu giữ phế liệu đến môi trường

đã nhiễm dầu, dầu cắt gọt,

phoi tiện, vỏ động cơ

động cơ

Mặt đất có thể nhiễm PAH

Có nguy cơ dẫn đến ô nhiễm nước ngầm và nước mặt

Phế liệu chất lượng thấp

(không được phân loại và

bị nhiễm bẩn không đựoc

Có nguy cơ dẫn đến ô nhiễm nước ngầm và nước mặt

Trang 27

Ô nhiễm do sử dụng thép phế ở Việt Nam:

Đã có một số nghiên cứu gần đây về ô nhiễm không khí tại một số cơ sở luyện thép bằng lò hồ quang như ở Đà Nẵng, Thái Nguyên, Nghệ An, v.v Các kết quả khảo sát cho thấy mức độ ô nhiễm với những chất ô nhiễm thông thường

đã ở mức vượt tiêu chuẩn khá nhiều, thí dụ: Ô nhiễm bụi, kim loại: Bụi vượt

4-14 lần, CO vượt 67-100 lần; NOx vượt 2-6 lần, đặc biệt là hơi chì có nơi vượt 65-500 lần; bụi kẽm: 7,91 mg/m3, đồng 0,03 mg/m3, sắt 0,05 mg/m3 Hiện chưa có số liệu đầy đủ về ô nhiễm hữu cơ đối với khí thải nên chưa thể khẳng định mức độ ô nhiễm này Tuy nhiên nếu suy từ các mức độ ô nhiễm bụi và hơi kim loại nói trên thì có thể ngoại suy rằng những khu vực đó ít nhiều sẽ bị tác động của các khí độc hại: VOC, PAH, dioxin/furan hay Hg [5]

Ô nhiễm nước cũng đã được phát hiện với chất ô nhiễm là dầu, kim loại nặng (Đà Nẵng, Phú Mỹ, Thái Nguyên), tuy nhiên chưa đủ số liệu để khẳng định

ô nhiễm này có phải là do hoạt động lò hồ quang hay do quá trình quản lý phế liệu nhập khẩu chưa hợp lý nên đã tạo ra một nguồn ô nhiễm nước mặt

Về tai nạn trong sản xuất, cũng đã có thông tin về một sự cố nổ lò tại công

ty Vạn Lợi, Hải Phòng và một số nơi khác và nguyên nhân có thể là do trong thép phế có bình kín khí Tuy nhiên, không có đánh giá về mức độ ô nhiễm do

sự cố

Những nghiên cứu về sức khỏe do hoạt động của lò hồ quang tại Việt Nam hầu như chưa có Tuy nhiên những khiếu kiện của dân chúng xung quanh khu vực lò luyện thép tại một số địa phương có thể liên quan đến yếu tố sức khỏe Trước sức ép về bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng, một số địa phương đã cho tạm dừng hoặc di dời hoàn toàn các lò luyện thép gây ô nhiễm môi trường

Kết quả khảo sát và đánh giá về ô nhiễm môi trường từ các cơ sở luyện thép sử dụng thép phế liệu tại Việt Nam cho thấy một số nguyên nhân nổi bật sau:

- Do nguyên liệu đầu vào:

+ Lẫn nhiều yếu tố kim loại có hại cho luyện thép (Zn, Sn, Mn, Pb)

+ Nguyên liệu chứa nhiều vật liệu hữu cơ: dầu, sơn, hóa chất

- Do quản lý nguyên liệu đầu vào:

Trang 28

+ Không có kho mái che;

+ Không có hệ thống thu gom, xử lý nước chảy tràn và nước thải sản xuất; + Phân loại kém

Bên cạnh việc sử dụng phế liệu, quá trình thu gom, tái chế phế liệu từ các nguồn khác nhau cũng gây ô nhiễm môi trường Ví dụ, tại Hải Phòng, việc phá

dỡ tầu cũ đã gây ra ô nhiễm môi trường trên bãi triều cao của Sông Cấm và Sông Bạch Đằng, nơi có một hệ sinh thái đặc trưng bao gồm rừng cây nước mặn,

có tác dụng bảo vệ đê điều, bảo vệ lớp trầm tích bề mặt bãi triểu là môi trường sống của nhiều loại thủy sinh Việc thu gom và lưu giữ phế liệu của hệ thống

“ve chai” ngay trong các khu vực dân cư cùng tiềm ẩn rui ro rất cao đối với môi trường và sức khỏe con người

b) Tái chế nhựa phế liệu

Cũng tương tự như sắt thép, nhựa phế liệu thu hồi sau quá trình sản xuất,

sử dụng cũng chứa nhiều chất độc hại, có thể gây ô nhiễm môi trường Nhựa phế liệu thường được thu gom phân loại theo một số tiêu chí khác nhau:

- Theo bản chất nhựa và nguồn gốc chi tiết nhựa trước khi trở thành phế liệu;

Trang 29

- Theo mầu sắc;

- Theo đô nhiễm bẩn và loại nhiễm bẩn;

- Theo mục đích sử dụng của sản phẩm tái chế

Tùy thuộc vào nguồn gốc nhựa phế liệu, như các loại bao bì nhựa đã qua

sử dụng như chai đựng nước giải khát các loại (Coca cola, Pepsi, Lenonlime,

7up ), các loại chai nhựa, bình nhựa, nhựa phân loại từ chất thải sinh hoạt (chai

đựng chất tẩy rửa, các loại chai dùng cho mỹ phẩm ), ni-lông dạng tấm, dạng

túi được đồ, từ các siêu thị, nhà hàng, …, nên các loại chất thải còn lẫn trong

phế liệu sẽ rất khác nhau, nhiều loại rất độc hại và khó kiểm soát Vì vậy, việc

thu gom, tái chế phế liệu nhựa sẽ tạo ra một lượng chất thải rắn, chất thải lỏng

với những đặc trưng, khối lượng dao động trong khoảng rất rộng

Ví dụ, có nhiều loại chất thải lỏng chứa trong các bao bì phế liệu Trong

trường hợp là các chai đựng chất lỏng dễ bị phân hủy như thực phẩm, đồ uống,

đây sẽ là nguồn gây mùi khó chịu nếu thời gian bảo quản phế liệu quá lâu

Trong trường hợp phế liệu là các bao bì đã dùng để chứa dầu, chất thải lỏng có

thể là dầu khoáng, và thâm chí là dầu PCB hay một số hóa chất nguy hiểm khác

Sau khi đã được phân loại, nhựa phế liệu sẽ phải được xử lý để đạt các

tiêu chí kỹ thuật của công đoạn tái chế thành sản phẩm Việc xử lý, rửa nhựa phế

liệu thường phát sinh nhiều chất thải Công nghệ rửa, xứ lý có vai trò quyết định

về mức độ ô nhiễm, các tác động đến sức khỏe (công nhân thao tác và cộng

đồng)

Hiện tại, công nghệ phân loại và rửa ở các cơ sở tái chế nhựa tại Việt Nam

vẫn chủ yếu là rửa thủ công Nước thải từ các công đoạn rửa này thường được

sử dụng lại nhiều lần nên hàm lượng các chất ô nhiễm thường rất cao Ví dụ,

bảng dưới đây cho thấy mức độ ô nhiễm từ một cống thải từ khu vực tái chế

nhựa tại Hưng Yên [3]:

Trang 30

Tại Làng nghề tái chế nhựa ở Hưng Yên, nhựa được nhập về từ nhiều nguồn khác nhau, trong đó có cả nhựa phế liệu nhập khẩu từ nước ngoài như được thấy trong ảnh dưới đây:

Người lao động phải tiếp xúc trực tiếp với nước thải với nồng độ cao hơn nhiều so với các chỉ tiêu trên Hình ảnh dưới đây cho thấy rõ nguy cơ đó:

Dòng nước thải từ khu vực rửa nhựa cũng thoát trực tiếp ra ngoài môi trường hầu như không được xử lý:

Trang 31

Trong nhiều khu vực làng nghề, những loại nhựa không thể tái chế được chuyển đến các khu đổ rác của địa phương, hoặc được đốt trong những lò rất đơn giản, thậm chí còn được dùng để thay thế nhiên liệu Trong những trường hợp này, cũng rất có thể có các loại nhựa từ PCV hoặc từ một số chất ô nhiễm chứa chất hữu cơ clo, khi đốt sẽ là nguồn phát sinh dioxin/furan hoàn toàn không kiểm soát được

Một trong những thiết bị phổ biến, sử dụng trong sản xuất phế liệu nhựa

là máy đùn nhựa

Hình 6: Sơ đồ máy đùn nhựa

Trang 32

Yêu cầu cơ bản của nguyên liệu tái chế trên máy đùn nhựa:

- Nhựa nguyên lệu hoặc phế liệu phải đảm bảo có độ đồng nhất về bản chất hóa học

- Không có các hóa chất dẫn đến gây khó khăn cho quá trình nóng chảy

và tạo hình nhựa

- Không có các vật rắn làm biến dạng bề mặt bên trong của máy ép đùn Như vậy, để hạn chế ô nhiễm, chất lượng nhựa phế liệu, quá trình phân loại và rửa nhựa nguyên liệu là rất quan trọng

III Nhu cầu nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất

Trước tiên, yếu tố quan trọng nhất đối với các hoạt động tái chế rác, thu hồi phế liệu là lợi nhuận mang lại do nguồn nguyên liệu đầu vào rẻ, phong phú

và được hưởng các chính sách khuyến khích do bảo vệ môi trường Lợi ích kinh

tế chính là động lực quan trọng nhất thu hút dòng đầu tư vào phát triển các công nghệ sử dụng chất thải, phế liệu và xây dựng các cơ sở tái chế Ví dụ, có nhiều nguồn thu nhập đối với ngành công nghiệp tái chế: từ việc bán nguyên liệu cho các ngành sản xuất, bán các sản phẩm tiêu dùng đã qua sửa chữa, tân trang hay bán điện do các lò đốt rác sản xuất ra, v.v…

Dưới đây, chúng tôi sẽ phân tích một số yếu tố liên quan đến thị trường của một số loại hình phế liệu phổ biến: thép, nhựa và giấy

3.1 Thị trường thép phế liệu trong nước và quốc tế

Đây là một thị trường lớn và có tính toàn cầu hóa

Trong công nghệ luyện thép hiện tại của thế giới, tỷ lệ thép luyện bằng lò điện đã tăng dần từ 30% lên gần 40% Luyện thép theo công nghệ lò điện với những trang thiết bị hiện đại, nguyên liệu là sắt thép phế, tạo được môi trường sạch hơn rất nhiều so với công nghệ cổ điển sử dụng quặng qua thiêu kết rồi đưa vào luyện ở lò cao và lò thổi ôxy Vì vậy, nhu cầu về thép phế liệu ngày càng tăng cao

Về thép thành phẩm ở Việt Nam, trong nhiều năm gần đây, giá thép liên tục chịu sức ép từ những biến động lên xuống của giá thép trên thế giới do phần lớn lượng thép phải nhập khẩu vì sản xuất không đáp ứng đủ nhu cầu nội địa Năm 2006, tổng sản lượng thép thành phẩm cả nước đạt 3.600.000 tấn, đáp ứng trên 80% nhu cầu thép tròn xây dựng Để có thể bình ổn thị trường thép trước nhu cầu ngày một tăng, năm 2007, Việt Nam đã sản xuất 4,3 triệu tấn thép thành phẩm, trong đó có 250.000 tấn thép dẹt Với mức tăng trưởng như vậy, trong tương lai không xa ngành thép Việt Nam sẽ đáp ứng đủ nhu cầu trong nước và hướng đến xuất khẩu đối với thép tròn xây dựng (năm 2006 đã xuất khẩu được 160.000 tấn thép dài, cuộn và góc)

Tại Việt Nam, hiện đang có khoảng 10 nhà máy sản xuất phôi thép công suất 1,7 triệu tấn/năm đi từ nguồn nguyên liệu chủ yếu là thép phế liệu Để hạn chế vấn đề nhập khẩu phôi thép, từ năm 2007 đến 2010, các nhà máy luyện thép

VN sẽ đạt công suất khoảng 4,5 triệu tấn/năm, chủ yếu sử dụng nguyên liệu từ

Trang 33

nguồn nguyên liệu thép phế Tuy nhiên, lượng thép phế trong nước chỉ cung cấp được khoảng 30%, còn lại phải nhập khẩu từ bên ngoài, ước tính khoảng 1,5 - 2 triệu tấn thép phế/ năm và từ nguồn phá dỡ tàu cũ là khoảng 1 triệu tấn / năm (nếu việc phá dỡ tầu cũ được thực hiện)

Như vậy, việc sản xuất phôi thép trong nước hiện nay lại phụ thuộc phần lớn vào nguyên liệu nhập khẩu mà nguồn chủ yếu từ thép phế Lượng thép phế nhập khẩu năm 2006 là 536.000 tấn và lên tới 1.050.000 tấn vào năm 2007, năm 2008 là hơn 1.100.000 tấn Cũng cần lưu ý rằng, việc nhập khẩu nguồn nguyên liệu này phần lớn đều nhờ vào các doanh nghiệp thương mại Thực tế,

kể từ năm 2000, để có đủ nguyên liệu sản xuất, các công ty sản xuất thép đã phải tìm nguồn thép phế nhập khẩu từ nước ngoài (chủ yếu từ Nga, Nhật, Mỹ,…) với giá cao để bổ sung hòa trộn với thép phế thu mua trong nước có giá rẻ hơn, nhằm bảo đảm giá thành phôi thép ngang với giá phôi thép nhập khẩu

Trong những năm trước 2007, đã xuất hiện một số công ty phá dỡ tàu cũ, nhập tầu của nước ngoài hoặc thu mua tàu cũ trong nước tháo dỡ, thu hồi thép tấm và phụ tùng của tàu, còn lại, sử dụng để bán cho các nhà máy luyện thép làm nguyên liệu lò điện Tuy nhiên, việc tháo dỡ tàu cũ cũng tồn tại nhiều bất cập, đặc biệt là các vấn đề về ô nhiễm môi trường nên các quy định gần đây của Chính phủ đã cấm nhập khẩu các tàu cũ còn chứa các chất gây ô nhiễm để phá

dỡ, vì vậy, hoạt động này đã giảm đi nhiều

3.2 Thị trường nhựa phế liệu trong nước và quốc tế

Chất thải nhựa (plastic wastes) được nhiều nước coi là nguồn tài nguyên

có thể tái chế, do đó hoạt động xuất nhập khẩu chất thải nhựa rất phổ biến trên thế giới

Sơ đồ sau đây cho thấy hoạt động xuất nhập khẩu nhựa trên thê giới là rất phổ biến và diễn ra tại nhiều quốc gia trên thế giới [3]:

Trang 34

Hình 7: Dòng nguyên liệu từ nhựa phế liệu

Việc thu gom và buôn bán, tái chế nhựa phế liệu kể cả phục vụ nhu cầu riêng của từng quốc gia cũng như của các nước khác do nhiều đối tượng tham gia vào chu trình này Chu trình bắt đầu từ việc hình thành các công ty chuyên thu gom nhựa phế liệu từ công nghiệp và từ gia đình Các công ty này có thể chuyển vật liệu thu gom đến những công ty chuyên về xử lý phế liệu trước khi chuyển vật liệu hoàn toàn có thể tái chế được đến các công ty sản xuất sản phẩm nhựa

Tuy nhiên có thể nhận thấy rằng, sau khi đã xử lý để đạt tiêu chuẩn để có thể tái chế, loại vật liệu này có thể phục vụ cho cả doanh nghiệp tái chế trong nước và xuất khẩu đi nước khác tái chế Sơ đồ dưới đây cho thấy mối quan hệ này giữa 2 quốc gia là Nhật Bản và Trung quốc: trung quốc sau khi thu gom và

xử lý, chỉ sử dụng trong nước khoảng 80%, còn 20% xuất khẩu lại sang Nhật Bản Trong khi đó Nhật Bản, sau khi thu gom, họ chuyển sang Trung quốc chứ không xử lý để tái chế trong nước Điều này có thể lý giải là do nhu cầu sản xuất tại Trung Quốc, đồng thời do giá nhân công và giá trị môi trường ở Nhật Bản cao hơn nhiều so với Trung Quốc

Trang 35

Hình 8: Nhựa phế liệu có thể tái chế

Tính theo tổng sản lượng nhựa năm 2003 ở Nhật là khoảng 14 triệu tấn, thì trong đó [3,7]:

- Nhựa sử dụng là 11 triệu tấn (có 2,5 triệu tấn nhập khẩu và 4,6 triệu tấn xuất khẩu;

- Tạo ra một lượng phế thải nhựa là khoảng 10 triệu tấn;

- Trong 10 triệu tấn phế thải chỉ tái sử dụng khoảng 1,6 triệu tấn, 4,1 triệu tấn cho thu hồi năng lượng, và khoảng 4,1 triệu tấn đêm chôn lấp hay tiêu hủy bằng nhiệt;

- Trong 1,6 triệu tấn tái sử dụng, Nhật bản tái chế nội địa khoảng 970 ngàn tấn, còn lại xuất khẩu khoảng 680 ngàn tấn

Trang 36

Hình 9: Nguyên liệu từ nhựa phế liệu (2003)

Việc tái chế nhựa phế thải đang mang lại nhiều lợi ích cho các quốc gia trên thế giới Ví dụ, thống kê về tái chế nhựa phế thải tại Balan và Úc cho thấy [3]: Tại Úc, năm 2004, tái chế và thu hồi năng lượng một năm đã làm giảm khối lượng chất thải nhựa chôn lấp là 60% tại Úc và 8% ở Balan; Tái chế nhựa đã thay thế dầu mỏ với tỷ lệ 3.7% ở Balan và 6.6% ở Úc

Về thị trường nhựa Việt Nam, trong hơn mười năm qua, ngành nhựa Việt Nam phát triển khá nhanh với tốc độ tăng trưởng hằng năm đạt từ 15 đến 25% Với hơn 2.000 doanh nghiệp (trong đó doanh nghiệp tư nhân chiếm tới 95%), ngành nhựa được coi là một trong những ngành công nghiệp năng động

Bằng các nguồn vốn khác nhau, hằng năm, các doanh nghiệp nhựa đầu tư hơn hai tỷ USD nhập các thiết bị máy móc hiện đại từ các nước như: Ðức, I-ta-li-a, Nhật Bản, Pháp để trang bị như: cán, tráng, ép đùn, ép phun, đùn thổi, ghép, in , đáp ứng cơ bản nhu cầu của bốn lĩnh vực: tiêu dùng, xây dựng, bao

bì và kỹ thuật cao Nhờ có công nghệ chế tạo khuôn hiện đại có thể sản xuất những bộ khuôn dài hơn 2 m, ngành nhựa đã sản xuất được những mặt hàng đòi hỏi kỹ thuật cao như: tàu thuyền composite, các phụ tùng phục vụ công nghiệp sản xuất: xe gắn máy, ti-vi, tủ lạnh, máy lạnh cũng như nhiều sản phẩm thay thế hàng nhập khẩu khác như: ống HDPE chịu áp lực cao, ống xoắn, bao bì đạt tiêu chuẩn, chai PET, sản phẩm bao bì nhiều lớp

Năm 2007, ngành nhựa Việt Nam đã sản xuất và tiêu thụ gần ba triệu tấn sản phẩm Sản phẩm nhựa tính trên đầu người năm 1990 chỉ đạt 3,8 kg/năm thì nay đã tăng lên 32,1 kg/năm Nhiều doanh nghiệp tạo dựng được những thương

Trang 37

hiệu sản phẩm uy tín trong nước như: ống nhựa của Bình Minh, Tiền Phong, Minh Hùng; bao bì nhựa của Tân Tiến, Vân Ðồn; chai PET và chai ba lớp của Oai Hùng, Ngọc Nghĩa, Tân Phú

Về mặt đầu tư chiều sâu, năm 2007 chi phí nhập khẩu thiết bị sản xuất cho ngành nhựa Việt Nam tăng hơn 80% so với 2006 và lần đầu tiên vượt ngưỡng

300 triệu USD (bảng sau)

Bảng 6: Kim ngạch nhập khẩu thiết bị ngành nhựa Việt Nam

Bảng: Kim ngạch nhập khẩu thiết bị ngành nhựa Việt Nam

(ĐVT: triệu đô la Mỹ)

Từ quốc gia và lãnh thổ

2005 2006 2007 % so với 2006 Đài Loan

Trung Quốc

25,8

38

66,9

76,1 Hàn Quốc

Nhật

32,9

34,2

44,8

31 Đức

Ý

6,5

4,8

11,6

141,7 Các nước khác

PP, Công ty CP nhựa Hưng Yên với túi HDPE đựng hàng siêu thị và bao đựng rác

Năm 2008, các sản phẩm xuất khẩu và phục vụ xuất khẩu của ngành như: bao bì nhựa đóng gói, văn phòng phẩm, nhựa mỹ nghệ, nhựa gia dụng, nhựa xây dựng vào các thị trường EU, Mỹ, Nhật, các nước ASEAN, ước đạt gần 1 tỷ USD, tăng trên 30% so với năm 2007 Đây cũng là cố gắng rất lớn của các doanh nghiệp trong ngành Tuy nhiên, để tiếp tục phát triển, ngành nhựa Việt Nam phải hoàn thiện việc quy hoạch sản xuất và nguồn nguyên liệu; đầu tư mở rộng sản xuất hàng nhựa chất lượng cao, có hàm lượng công nghệ và giá trị gia

Trang 38

tăng cao phục vụ ngành kỹ thuật cao như ôtô, xe máy, tàu thuỷ, máy bay và linh kiện điện tử

Năm 2009, hoạt động sản kinh doanh ngành nhựa không thuận lợi do chi phí nguyên vật liệu đầu vào tăng cao (từ 30 - 40%) trong khi giá bán không tăng Một số doanh nghiệp cổ phần (mục đích chỉ cần lợi nhuận) đã tận dụng cơ hội này bán luôn nguyên liệu chứ không cần sản xuất Một số doanh nghiệp phải tìm mọi biện pháp như cải tiến mẫu mã sản phẩm, phát triển các sản phẩm nhựa kỹ thuật mới có chất lượng cao để đáp ứng nhu cầu đa dạng trong nước cũng như xuất khẩu Tuy nhiên, sản phẩm đưa ra thị trường trong nước giá thành cao, khó cạnh tranh với sản phẩm nhập khẩu cùng loại Tuy vậy, kim ngạch xuất khẩu năm 2009 ước tính vẫn vượt ngưỡng trên 1 tỷ USD tăng 39,8% so với năm 2008

Dự báo, đến năm 2010 tổng doanh thu của ngành sẽ tăng lên đến 7 tỷ USD

so với mức 1,6 tỷ USD của năm 2002 Dự báo sản lượng và mức tăng trưởng của từng nhóm sản phẩm nhựa đến năm 2010 như sau:

Bảng 7: Dự báo sản lượng và mức tăng trưởng của các nhóm nhựa

Lĩnh vực Sản lượng (tấn/năm) Mức tăng trưởng năm

Riêng về mặt cung cấp nguyên liệu, nếu chỉ yêu cầu đảm bảo 30% nguồn nguyên liệu trong nước cho mức sản lượng nêu trên thì đã cần phải có nguồn cung cấp tương đương là 1 triệu tấn nguyên liệu

Về khối lượng nguyên liệu, trừ nhựa PVC, Việt Nam chưa tự sản xuất được nguyên liệu nhựa nên nhu cầu nhập khẩu lớn, thể hiện trong bảng sau:

Trang 39

Bảng 8: Kim ngạch nhập khẩu nguyên liệu nhựa vào Việt Nam

Bảng Kim ngạch nhập khẩu nguyên liệu nhựa vào Việt Nam

lo ngại nhất là giá nguyên liệu nhựa thường tăng đột biến và bất ngờ, khiến các doanh nghiệp sản xuất không kịp trở tay Thế nhưng, họ cũng không thể liên tục điều chỉnh giá sản phẩm của mình vì phải giữ chân khách hàng

Nếu giá nhập khẩu bình quân là 1.800 USD/tấn (nguyên liệu sạch như PE,

PP, PS, PVC, đảm bảo 50% nhu cầu chất dẻo cả nước thì mỗi năm Việt Nam phải chi phí hơn 2,5 tỷ USD để nhập nguyên liệu phục vụ sản xuất Nếu nhập khẩu phế liệu nhựa các loại, đáp ứng 35%-50% nhu cầu nguyên liệu, tương đương trên 1 triệu tấn phế liệu chất lượng tốt với giá hiện nay là 600 USD/tấn, mỗi năm Việt Nam tiết kiệm được khoảng 1 tỷ USD tiền để nhập khẩu nguyên liệu

Việc nhập phế liệu nói chung (thép, nhựa và giấy phế liệu) làm nguyên liệu cho sản xuất một mặt giải quyết sự thiếu hụt của nguyên liệu đầu vào, mặt khác còn tạo điều kiện để hạ giá thành, tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm Ví dụ, việc nhập phế liệu nhựa làm cho giá nguyên liệu đầu vào giảm 25%, giá thành sản xuất giảm hơn 15%, tăng khả năng cạnh tranh trong xuất khẩu so với sản phẩm Trung Quốc, Ấn Độ Ngoài ra, các khách hàng Mỹ, EU, Nhật yêu cầu sản phẩm nhựa Việt Nam phải sử dụng tối thiểu 10% nhựa tái sinh để hạ giá bán

và sản phẩm thân thiện với môi trường

Trang 40

Tuy nhiên, chúng ta cũng đều nhận thấy mặt trái của việc nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu cho sản xuất là, nếu không được quan tâm đúng mức sẽ có những tác động xấu đến môi trường sinh thái hoặc nếu không được kiểm soát chặt chẽ sẽ biến Việt Nam trở thành bãi của thế giới, và hậu quả sẽ rất nghiêm trọng và chi phí khắc phục là vô cùng tốn kém

3.3 Thị trường giấy phế liệu trong nước và quốc tế

Giấy phế liệu cũng là một thị trường rất lớn và có tính toàn cầu Ví dụ, trong vòng 10 năm qua, Trung Quốc nhập khẩu giấy đã qua sử dụng tăng 500%,

từ 3,1 triệu tấn năm 1996 đã tăng lên 19,6 triệu tấn vào năm 2003

Theo các nguồn tin của Bộ Môi trường Trung Quốc, 98% chất thải nhập khẩu vào Trung Quốc có thể tái chế hay sử dụng lại Tổng lượng phế thải rắn nhập khẩu vào Trung Quốc tăng rất mạnh: năm 1999 là 1.068 vạn tấn, đến năm

2005 là 3.954 vạn tấn, năm 2006 là 3.895 vạn tấn Trong lượng phế liệu nhập khẩu năm 2005, có 23% là sắt thép, 17% là phế thải kim loại và thiết bị điện tử, 13% là nhựa thải, 43% là giấy thải

Việt Nam cũng có nhu cầu nhập khẩu rất lớn đối với giấy phế liệu Số liệu thống kê năm 2008 cho thấy, giấy đã qua sử dụng chiếm 70 % tổng lượng nguyên liệu sử dụng cho ngành giấy; là nguồn nguyên liệu chính để sản xuất giấy của Việt Nam, trong đó giấy thu gom trong nước chiếm 50 %; 50 % còn lại phải nhập khẩu giấy phế liệu từ nước ngoài Hiện tại ở nước ta, tỷ lệ giấy đã qua

sử dụng được thu hồi còn quá thấp (24-25%) so với các nước phát triển có tỷ lệ thu hồi giấy qua sử dụng tới 60-70% Chất lượng giấy phế liệu nhập khẩu thường cao hơn chất lượng giấy phế liệu thu hồi trong nước, số lượng nhập khẩu không hạn định, ổn định nhưng giá có cao hơn chút it Tiêu chuẩn giấy thu gom của các nước đều tương tự, thường theo tiêu chuẩn của Mỹ, Nhật Bản hoặc EU

Hiện nay, Việt Nam có 5 dây chuyển mới được đầu tư để sản xuất bột giấy từ giấy phế liệu với tổng công suất thiết kế 190.000 tấn /năm đã được đưa vào hoạt động Các dây chuyền này khá hiện đại và đồng bộ kể cả khâu xử lý chất thải Tại Phong Khê - Bắc Ninh có khoảng 200 hộ sản xuất giấy các loại, mỗi năm cung cấp hơn 40.000 tấn giấy ra thị trường Vốn đầu tư cho mỗi DN từ vài tỷ tới 50 tỷ đồng Thu nhập bình quân đầu ngươi khoảng 20 triệu đồng/lao động.năm

Ngày đăng: 19/04/2014, 00:29

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Các loại nhựa phế liệu - Nghiên cứu cơ sở khoa học về tiêu chuẩn phế liệu về đề xuất giải pháp kiểm soát ô nhiễm trong hoạt động nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất
Hình 1 Các loại nhựa phế liệu (Trang 15)
Hình 2: Các loại bao bì dạng màng nhựa - Nghiên cứu cơ sở khoa học về tiêu chuẩn phế liệu về đề xuất giải pháp kiểm soát ô nhiễm trong hoạt động nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất
Hình 2 Các loại bao bì dạng màng nhựa (Trang 16)
Hình 3: Quá trình sản xuất nhựa từ nhựa phế liệu và nguyên liệu nhựa - Nghiên cứu cơ sở khoa học về tiêu chuẩn phế liệu về đề xuất giải pháp kiểm soát ô nhiễm trong hoạt động nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất
Hình 3 Quá trình sản xuất nhựa từ nhựa phế liệu và nguyên liệu nhựa (Trang 17)
Bảng 1: Các dạng bao bì màng nhựa phổ biến nhất - Nghiên cứu cơ sở khoa học về tiêu chuẩn phế liệu về đề xuất giải pháp kiểm soát ô nhiễm trong hoạt động nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất
Bảng 1 Các dạng bao bì màng nhựa phổ biến nhất (Trang 17)
Hình 4: Thu nhiệt trị từ quá trình sản xuất nhựa - Nghiên cứu cơ sở khoa học về tiêu chuẩn phế liệu về đề xuất giải pháp kiểm soát ô nhiễm trong hoạt động nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất
Hình 4 Thu nhiệt trị từ quá trình sản xuất nhựa (Trang 18)
Bảng 4: Tác động của lưu giữ phế liệu đến môi trường - Nghiên cứu cơ sở khoa học về tiêu chuẩn phế liệu về đề xuất giải pháp kiểm soát ô nhiễm trong hoạt động nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất
Bảng 4 Tác động của lưu giữ phế liệu đến môi trường (Trang 26)
Hình 6: Sơ đồ máy đùn nhựa - Nghiên cứu cơ sở khoa học về tiêu chuẩn phế liệu về đề xuất giải pháp kiểm soát ô nhiễm trong hoạt động nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất
Hình 6 Sơ đồ máy đùn nhựa (Trang 31)
Hình 7: Dòng nguyên liệu từ nhựa phế liệu - Nghiên cứu cơ sở khoa học về tiêu chuẩn phế liệu về đề xuất giải pháp kiểm soát ô nhiễm trong hoạt động nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất
Hình 7 Dòng nguyên liệu từ nhựa phế liệu (Trang 34)
Hình 8: Nhựa phế liệu có thể tái chế - Nghiên cứu cơ sở khoa học về tiêu chuẩn phế liệu về đề xuất giải pháp kiểm soát ô nhiễm trong hoạt động nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất
Hình 8 Nhựa phế liệu có thể tái chế (Trang 35)
Hình 9: Nguyên liệu từ nhựa phế liệu (2003) - Nghiên cứu cơ sở khoa học về tiêu chuẩn phế liệu về đề xuất giải pháp kiểm soát ô nhiễm trong hoạt động nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất
Hình 9 Nguyên liệu từ nhựa phế liệu (2003) (Trang 36)
Bảng 6: Kim ngạch nhập khẩu thiết bị ngành nhựa Việt Nam - Nghiên cứu cơ sở khoa học về tiêu chuẩn phế liệu về đề xuất giải pháp kiểm soát ô nhiễm trong hoạt động nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất
Bảng 6 Kim ngạch nhập khẩu thiết bị ngành nhựa Việt Nam (Trang 37)
Bảng 7: Dự báo sản lượng và mức tăng trưởng của các nhóm nhựa - Nghiên cứu cơ sở khoa học về tiêu chuẩn phế liệu về đề xuất giải pháp kiểm soát ô nhiễm trong hoạt động nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất
Bảng 7 Dự báo sản lượng và mức tăng trưởng của các nhóm nhựa (Trang 38)
Bảng 8: Kim ngạch nhập khẩu nguyên liệu nhựa vào Việt Nam - Nghiên cứu cơ sở khoa học về tiêu chuẩn phế liệu về đề xuất giải pháp kiểm soát ô nhiễm trong hoạt động nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất
Bảng 8 Kim ngạch nhập khẩu nguyên liệu nhựa vào Việt Nam (Trang 39)
Bảng 9: Văn bản pháp luật điều chỉnh việc nhập khẩu hàng hoá của Mỹ - Nghiên cứu cơ sở khoa học về tiêu chuẩn phế liệu về đề xuất giải pháp kiểm soát ô nhiễm trong hoạt động nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất
Bảng 9 Văn bản pháp luật điều chỉnh việc nhập khẩu hàng hoá của Mỹ (Trang 45)
Sơ đồ mô tả quy trình công nghệ tái chế thép (Nhà máy thép Đình Vũ) - Nghiên cứu cơ sở khoa học về tiêu chuẩn phế liệu về đề xuất giải pháp kiểm soát ô nhiễm trong hoạt động nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất
Sơ đồ m ô tả quy trình công nghệ tái chế thép (Nhà máy thép Đình Vũ) (Trang 61)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w