1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu tư duy thẩm mỹ của chủ nhân di chỉ khảo cổ học lũng hoà qua đồ trang sức của họ

16 738 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu tư duy thẩm mỹ của chủ nhân di chỉ khảo cổ học lũng hoà qua đồ trang sức của họ
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Lịch Sử
Thể loại Niên luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 130,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận Văn: Tìm hiểu tư duy thẩm mỹ của chủ nhân di chỉ khảo cổ học lũng hoà qua đồ trang sức của họ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA LỊCH SỬ

-NIÊN LUẬN

TÌM HIỂU TƯ DUY THẨM MỸ CỦA CHỦ NHÂN DI CHỈ

KHẢO CỔ HỌC LŨNG HOÀ QUA ĐỒ TRANG SỨC CỦA HỌ

MỞ ĐẦU

Trang 2

Nền văn minh sông Hồng là một thành tự rực rỡ của cư dân Việt

Cổ trong buổi đầu dựng nước và giữ nước Nền văn minh sông Hồng là một nền văn minh bản địa Nó được chuẩn bị từ những nền văn hoá tiền

sử xa xôi và được trực tiếp tạo thành trong một quá trình văn hoá liên tục từ sơ kì thời đại đồ đồng đến sơ kì thời đại đồ sắt Theo dòng lịch sử, văn hoá Phùng Nguyên chính là cội nguồn của nền văn minh sông Hồng

Do đó, nghiên cứu văn hoá Phùng Nguyên là một nhiệm vụ rất quan trọng của mình Khảo cổ học Từ nhận thức đó, tôi quyết định chọn vấn

đề nghiên cứu qua đó, công trình sẽ góp phần phục dựng lại những nét

cơ bản trong đời sống tinh thần của người Việt Cổ, đồng thời bổ sung nguồn tư liệu nghiên cứu về di chỉ khảo cổ học Lũng Hoà

Đến nay, chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu về vấn

đề này Trong “Báo cáo khai quật đợt I di chỉ khảo cổ học Lũng Hoà”, tác giả Hoàng Xuân Chính mới chỉ đơn thuần đề cập đến vấn đề Dựa vào Báo cáo khai quật đợtI di chỉ khảo cổ học Lũng Hoà”, trên cơ sở nghiên cứu những di vật là đồ trang sức, tôi sẽ đi sâu tìm hiểu vấn đề một cách có hệ thống

Trong quá trình thực hiện, tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp thống kê, phương pháp mô tả, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh Tuy nhiên, do tiến trình nghiên cứu trong điều kiện khó khăn: không được tiếp xúc trực tiếp với hiện vật, phần thống kê

- mô tả trong báo cáo khai quật không đầy đủ và những hạn chế về mặt kiến thức chuyên môn của tôi, công trình nghiên cứu chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót

Trang 3

NỘI DUNG

TƯ DUY THẨM MỸ CỦA CHỦNHÂN DI CHỈ KHẢO CỔ HỌC

LŨNG HOÀ

1 Vài nét về di chỉ khảo cổ học Lũng Hoà

Địa điểm khảo cổ học Lũng Hoà thuộc thôn Hoà Loan, xã Lũng Hoà, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc Năm 1963, nhờ nhân dân địa phương, di chỉ khảo cổ học Lũng Hoà được phát hiện, năm 1965, đội khảo cổ dưới sự chỉ đạo của đồng chí Hoàng Xuân Chinh, đã tiến hành khai quất đợt I di chỉ Lũng Hoà với diện tích 365m2 (Hoàng Xuân Chính, 1968: 1-7)

Tầng văn hoá của di chỉ Lũng Hoà còn tương đối nguyên vẹn Trong tầng văn hoá đã phát triển được nhiều di vật, di tích có giá trị nghiên cứu Qua xác minh những nét đặc trưng của các di vật, di tích này, Hà Văn Tấn đã xếp di chỉ khảo cổ học Lũng Hoà vào giai đoạn thứ

ba của văn hoá Phùng Nguyên (Hà Văn Tấn, 1998 : 49)

2 Tư duy thẩm mỹ

Trên cơ sở đời sống vật chất của cư dân được cải thiện hơn trước, cái đẹp trở thành một nhu cầu không thể thiếu được Người ta không chỉ

lo cái ăn, cái mặc mà còn chú ý làm cuộc sống thêm phong phú, thêm đẹp Những cảm xúc về cái đẹp được nảy sinh và ngày càng phong phú, tinh tế hơn Họ đã thể hiện cảm xúc về cái đẹp của họ bằng nhiều phương pháp khác nhau, trong đó có kích thước khác nhau nghiên cứu

đồ trang sức ở di chỉ Lũng Hoà trên các phương diện : Số lượng, loại hình, kích thước, hình dáng, màu sắc, đồ trang sức, chúng ta sẽ thấy được tư duy thẩm mỹ của cư dân lúc đó

2.1 Số lượng đồ trang sức

Số lượng đồ trang sức phát hiện được ở di chỉ Lũng Hoà tương đối lớn Tổng số đồ trang sức là 117 chiếc, chiếm 23,4% trong tổng số hiện vật đã thu được Số lượng đồ trang sức chỉ đứng sau số lượng rùi bôn và

Trang 4

bàn mài Điều đó nói lên được mối quan tâm đặc biệt của cư dân Lũng Hoà đến làm đẹp Chúng ta không ngạc nhiên về điều này Bởi vì trong nhiều di chỉ khác thuộc văn hoá Phùng Nguyên, chúng ta bắt gặp trường hợp tương tự Ở di chỉ Phùng Nguyên, sau ba đợt khai quật đã phát hiện được 558 hiện vật là đồ trang sức, chiếm 13,9% trong tổng số hiện vật đã thu được Ở di chỉ chùa Gio, đợt khai quật lần I phát hiện được 224 hiện vật là đồ trang sức, chiếm 38,35% trong tổng số hiện vật phát hiện được

Điều đáng lưu ý là trong 117 hiện vật đồ trang sức phát hiện được

ở di chỉ LũngHoà, có 23 chiếc là đồ tuỳ táng, chiếm 19,65% trong tổng

số đồ trang sức Những đồ trang sức này đã phản ánh sinh động quan niệm của người Việt Cổ : Chết không phải là hết, người chết sang thếgiới bên kia vẫn tiếp tục cuộc sống, vẫn cần làm đẹp Nhu cầu làm đẹp đã ăn sâu vào tiềm thức, tín ngưỡng người xưa Rõ ràng, bên cạnh cái ăn, cái mặc là những nhu cầu thiết yếu để duy trì cuộc sống thì cái đẹp là nhu cầu không thể thiếu được Vì cái đẹp làm cho cuộc sống của con người có ý nghĩa hơn

2.2 Loại hình đồ trang sức

Đồ trang sức ở di chỉ Lũng Hoà không chỉ có số lượng lớn mà còn rất phong phú về chủng loại, kích cỡ, hình dáng

Bảng phân loại đồ trang sức:

2.2.1 Vòng

Ở di chỉ Lũng Hoà: Vòng phát hiện được 96 chiếc, chiếm 82,05% trong tổng số đồ trang sức phát hiện được Trong các loại hình đồ trang sức, vàng chiếm tỷ lệ lớn nhất (tỷ lệ vàng là 91,82%) ở di chỉ Phùng Nguyên ; ở di chỉ chùa Gio (khai quật lần 1) là 90,28% Rất tiếc chúng ta không biết được số lượng vàng “thực” là bao nhiêu Vì phần lớn vòng

Trang 5

trang sức thu được đều bị gãy chỉ còn 1/3, 1/4, chỉ có vài chiếc trang sức

là khá nguyên vẹn Tuy nhiên, dựa vào kết quả thống kê, với số lượng

“áp đảo” của mảnh vòng và vòng, ta có thể nhận định : cư dân ở làng Cổ Lũng Hoà nói riêng và cư dân Phùng Nguyên nói chung thích trang sức bằng vòng nhất

Vòng được chế tác với nhiều kích cỡ khác nhau Trong báo cáo khai quật, Hoàng Xuân Chinh đã phân loại và mô tả Trên cơ sở đó, tôi rút ra được một số nhận xét:

- Đa số vòng có đường kính từ 5 - 8cm

- Có một số vòng có kích thước lớn, nặng Đây là những chiếc vòng có mặt cắt hình tam giác

- Bên cạnh những chiếc vòng lớn, ở di chỉ Lũng Hoà còn phát hiện được một số chiếc có kích thước nhỏ nhắn, đường kính từ 2 - 3,5cm

Vòng đa dạng về kích cỡ đã phản ánh tư duy thẩm mỹ phong phú của cư dân Lũng Hoà Tuy nhiên, khi định loại chức năng đây là khó khăn lớn nhất Xung quanh cách định loại chức năng vòng hiện nay tồn tại nhiều quan điểm khác nhau

Hoàng Xuân Chinh cho rằng : những vòng có đường kính từ 5,5cm trở lên, hay những vòng có đường kính 5cm nhưng thành dày, bản rộng

là vòng tay Những vòng có đường kính 3 - 4cm là vòng tai (Hoàng Xuân Chinh Chử Văn Tần, 1968 : 31 ) Những chiếc vòng có đường kính 2 -3,5cm có thể là vòng tai hay nhẫn (Hoàng Xuân Chinh, 1968 : 29) Đối với loại vòng có mặt cắt hình tam giác, Hoàng Xuân Chinh rất “dao động” khi xác định chức năng của chúng Trong “Báo cáo khai quật đợt I

di chỉ Lũng Hoà”, ông cho rằng “Những chiếc vòng này… không nhất định là vòng tay, có thể là vòng chân hay một loại vòng trang sức nào đó (Hoàng Xuân Chinh, 1968: 29) Trong “Báo cáo khai quật đợt I di chỉ Chùa Gio” khi gặp loại vòng này, ông lại đưa ra giả thuyết : “phải chăng đây là loại vòng đá dùng để ném thú trong lúc săn bắn (Hoàng Xuân Chinh, Chử Văn Tần, 1968 : 32)

Trang 6

Trịnh Sinh và Nguyễn Văn Huyên cho rằng : Vòng là vòng tay chỉ cầncó đường kính lớn hơn đường kính cổ tay Hai tác giả trên đã lấy đường kính trung bình của cổ tay người Việt hiện đại làm giới hạn tối thiểu của đường kính lỗ vòng tay Kích thước này là 4,70,8cm dựa trên

số đo vòng cổ tay trên tập thể nam sinh viên trường Đại học Y năm

1969 Theo đó, những chiếc vòng có đường kính lớn hơn 4,7cm đều có thể là vòng tay (Trịnh Snh - Nguyễn Văn Huyên, 2001 : 32)

Đối với loại vòng có mặt cắt hình tam giác, các tác giả lại cho rằng : “Những chiếc vòng này không có thể là vòng đeo tay mà chỉ có thể là vòng đeo tai được mà thôi” (Trịnh Sinh - Nguyễn Văn Huyên, 2001 : 35)

Một số nhà khoa học cho rằng : loại vòng này có kích thước quá lớn, lỗ vòng lại nhỏ nên nghi ngờ chức năng trang sức của loại vòng này

và cho rằng chúng là công cụ sản xuất Tài liệu dân tộc học cho thấy : cư dân Pa-pua ở châu Đại Dương đã xô gậy vào bên trong những chiếc vòng này làm công cụ sản xuất (Trịnh Sinh - Nguyễn Văn Huyên, 2001: 35)

Theo tôi, việc định chức năng vòng dựa vào đường kính vòng của các tác giả trên đều thiếu cơ sở chắc chắn và mang tính chủ quan Những chiếc vòng mà các tác giả cho là vòng tay, trong thực tế có thể là vòng tai Người ta đeo những chiếc vòng này vào tai bằng cách luồn sợi dây qua vòng rồi buộc vào tai Đồng bào dân tộc ở Tây Nguyên cũng đeo những chiếc vòng rất to, không có khe hở như vậy (Trịnh Sinh - Nguyễn Văn Huyên, 2001: 118)

Ngược lại, nhiều chiếc vòng mà Trịnh Sinh và Nguyễn Văn Huyên cho rằng không phải là vòng tay (tức những chiếc có đường kính nhỏ hơn 4,7cm) theo tôi có thể là vòng tay Trong thực tế, đối tượng đeo vòng không chỉ có nam mà cả nữ, không chỉ có người lớn mà cả trẻ con (ở Thiệu Dương người ta đã tìm thấy những chiếc vòng ống bằng đồng tồn tại bên cạnh những bộ xương trẻ con ( Trịnh Sinh - Nguyễn Văn Huyên, 2001: 118) Đường kính trung bình cổ tay của nữ giới nhỏ hơn

Trang 7

của nam, đường kính cổ tay của trẻ con nhỏ hơn nhiều của người lớn Do

đó, việc các tác giả Trịnh Sinh và Nguyễn Văn Huyên lấy đường kính trung bình cổ tay nam sinhviên trường Đại học Y để xác định đường kính giới hạn vòng tay là chưa chính xác

Đối với những chiếc vòng có mặt cắt hình tam giác, theo tôi vì nó nặng và đường kính lỗ (đường kính trong) nhỏ mà nghi ngờ chức năng trang sức của nó là không có cơ sở chắc chắn Trong thực tế, chúng có thể được đeo cho cả người lớn và trẻ em Những chiếc có đường kính trong lớn có thể được sử dụng làm vòng chân, những chiếc có đường kính trung bình có thể được sử dụng làm vòng tay, những chiếc có đường kính nhỏ có thể được sử dụng làm vòng tai

Trong thực tế, có nhiều chiếc vòng chân, vòng tay được phát hiện còn nặng hơn những chiếc vòng này Tiêu biểu là những vòng tay, vòng chân bằng đồng tìm thấy ở Làng Vạc, tỉnh Nghệ An (Xem bản ảnh II, hình 1,2, 3) Đôi khi sức nặng của vòng trang sức mới là mối quan tâm của chủ nhân chúng, đặc biệt với loại hình hoa tai Bởi vì : đeo những chiếc hoa tai nặng có thể làm tai căng ra chạm vai Cách trang sức này gắn liền với tục căng tai của người Việt Cổ Hiện nay, một số dân tộc ở nước ta vẫn giữ được tục căng tai Tiêu biểu là dân tộc Brâu ở Tây Nguyên Người Brâu quan niệm : tai được căng càng rộng thì càng đẹp (Nguyễn Văn Huy, 2001 : 15) (Xem bản ảnh II, hình 4)

Những chiếc vòng loại này được cư dân Papua sử dụng làm công

cụ lao động Điều đó không có gì lạ (chúng cũng giống như chiếc ấm cổ

ở các nước phương Đông Ở phương Đong người ta sử dụng chúng để pha trà, còn ở phương Tây người ta lại sử dụng chúng để bài trí) Mỗi sản phẩm của con người làm ra thường có sự kết hợp giữa giá trị thực dụng và giá trị thẩm mỹ, do đó ở nơi này nơi kia tính năng sử dụng của chúng có thể khác nhau

Tóm lại, vòng được chế tác với nhiều kích cỡ khác nhau là để phù hợp với nhiều đối tượng khác nhau và để đeo lên các bộ phận khác nhau

Trang 8

của cơ thể Để định chức năng của vòng, chúng ta cần phải đẩy mạnh công tác nghiên cứu, khai quật các di chỉ khảo cổ, đặc biệt là các di chỉ

mộ táng để thu thập thêm tư liệu về cách đeo vòng của ngưỡi xưa Trên

cơ sở đó, việc xác định chức năng vòng sẽ khách quan hơn

Hình dáng vòng ở di chỉ Lũng Hoà rất đa dạng Theo cách phân loại của Hoàng Xuân Chinh, tôi thống kê được 8 loại :

Bảng thống kê phân loại vòng trang sức ở di chỉ Lũng Hoà

loại

Số lượng (chiếc)

Tỷ lệ

cung

ngang hình chữ nhật

rộng có mộtđường gờ nổi

dục

(Xem bản vẽ I, II, III, IV, bản ảnh I hình 1, 2, 3, 4, 5)

Qua bảng thống kê, ta thấy loại vòng có mặt cắt hình chữ nhật chiếm tỷ lệ lớn nhất Ở di chỉ Phùng Nguyên, loại vòng này phát hiện được 423 chiếc, chiếm 78,3% trong tổng số vòng trang sức Ở di chỉ Tràng Kênh, loại vòng này phát hiện được 265 chiếc, chiếm 49% trong tổng số vòng trang sức Vòng có mặt cắt hình chữ nhật là một trong những loại vòng được cư dân Lũng Hoà nói riêng, cư dân Phùng Nguyên nói chung ưa thích nhất Phải chăng, vì loại vòng này hội tụ được nhiều

ưu điểm nhất : khá đẹp, chế tác tiết kiệm được nguyên liệu và thời gian, đặc biệtlà dễ dàng trao đổi vì giá rẻ hơn

Trang 9

Các loại vòng khác có số lượng hạnchế hơn, phải chăng vì chúng không có nhiều ưu điểm như loại vòng trên Vòng có mặt cắt hình tam giác tốn nhiều nguyên liệu hơn, vì kích thước lớn nhất Nguyên liệu dùng chế tác một chiếc vòng loại này có thể chế tác được mấy chiếc vòng thuộc loại vòng khác Nguyên liệu để chế tác đồ trang sức ở Lũng Hoà không có sẵn tại chỗ Cư dân Lũng Hoà phải đi rất xa để tìm kiếm hay trao đổi mới có được Do đó, xu hướng tiết kiệm nguyên liệu là tất yếu Vì lý do đó nên loại vàng có mặt cắt hình tam giác được chế tác hạn chế

Vòng có mặt cắt hình tròn, vòng có mặt cắt hình bán nguyệt (mặt ngoài bảnvòng có hình vòng cung) chế tác mắt nhiều thời gian hơn, vì phải mài kỹ hơn Do đó, những loại vòng này cũng được chế tác với số lượng hạn chế

Vòng có những đường gờ nối chế tác tốn nhiều thời gian nhất Chế tác loại vòng này ngoài sử dụng kỹ thuật của khoan, mài, còn phải sử dụng kỹ thuật tiện để tạo gờ nổi Mặt khác, loại vòng này trao đổi khó khăn hơn, vì giá đắt nhất Khi trao đổi với số lượng lớn thì càng khó khăn hơn

Giả cả thực sự là mối quan tâm của cư dân bấy giờ Lúc đó, của cải

dư thừa chưa nhiều Do đó, khi trao đổi người ta sẽ chọn những sản phẩm có giá “bình dân” phù hợp với khả năng kinh tế của họ Vì những

lí do trên mà loại vòng này được chế tác với số lượng hạn chế, chỉ chiếm 5,2% trong tổng số vòng trang sức được phát hiện

2.2.2 Hạt chuỗi

Mặc dù, di chỉ Lũng Hoà chỉ phát hiện được 19 hạt chuỗi nhưng kích cỡ, hình dáng rất đa dạng Dựa vào kích cỡ, hình dáng hạt chuỗi, Hoàng Xuân Chinh đã chia chúng thành ba loại : hạt chuỗi hình vành khăn, hạt chuỗi hình ống dài, hạt chuỗi hình cầu (Xem bản vẽ V, hình 1, 2… 18, bản ảnh I, hình 6)

Trang 10

Hạt chuỗi hình vành khăn phát hiện được 12 hạt, chiếm 63,15% trong tổng số hạt chuỗi thu được Hạt chuỗi loại này dài trung bình 0,3cm, rộng 0,7cm, lỗ giữa rộng 0,31cm

Hạt chuỗi hình ống dài phát hiện được 5hạt, chiếm 26,3% trong tổng số hạt chuỗi thu được Chúng trung bình dài 1,2cm, rộng 0,95cm, lỗ giữa rộng 0,38cm

Hạt chỗi hình cầu có 2 hạt, chiếm 10,55% trong tổng số hạt chuỗi Hạt M13-14 dài 0,8 cm, rộng 0,35cm, dày 0,9cm Hạt 14 : 25 dài 0,9cm, rộng 0,3cm, dày 0,8cm

Kích cỡ hạt chuỗi ở di chỉ Lũng Hoà nhìnchung nhỏ nhắn Hạt chuỗi hình vành khăn chiếm tỷ lệ lớn nhất Theo tôi có thểcó nhiều cách xâu hạt chỗi Hạt chuỗi được xâu riêng rẽ từng loại Cũng có thể có sự kết hợp giữa 2, 3 loại (như cách xâu hạt chuỗi của cư dân Sa Huỳnh) Hạt chuỗi có thể được đeo vào cổ hay vào tay như ngày nay

2.2.3 Hoa tai

Ở di chỉ Lũng Hoà phát hiện được 2 chiếc thuộc hai loại hình khác nhau Giá trị nghiên cứu của những hoa tai này vượt qua số lượng nhỏ bé của chúng (xem bản vẽ V, hình 19, 20; bản ảnh I, hình 6)

Bên cạnh chiếc hoa tai hình tròn mang kí hiệu M13:3 đã từng phát hiện được ở một số di chỉ khác thuộc văn hoá Phùng Nguyên, ở di chỉ Lũng Hoà còn phát hiện được chiếc hoa tai hình vuông 4 mấu, mang ký hiệu M16 :15, được làm bằng loại đá màu trắng ngà “nó là một phiến đá mỏng 0,15cm, hình vuông, được mài nhẵn, mỗi cạnh dài 13cm, ở mỗi cạnh gần 2 góc có cưa lõm xuống sâu chừng 0,1cm, ở giữa có khoan một

lỗ tròn rộng 0,5cm, và cưa một đường rãnh rộng 0,2cm từ lỗ tròn ra mỗi cạnh vuông, làm cho hoa tai có hình vuông khá xinh xắn” (Hoàng Xuân Chinh, 1968 : 102)

2.3 Màu sắc đồ trang sức

Ngày đăng: 26/12/2012, 10:57

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng phân loại đồ trang sức : - Tìm hiểu tư duy thẩm mỹ của chủ nhân di chỉ khảo cổ học lũng hoà qua đồ trang sức của họ
Bảng ph ân loại đồ trang sức : (Trang 4)
Bảng thống kê phân loại vòng trang sức ở di chỉ Lũng Hoà. - Tìm hiểu tư duy thẩm mỹ của chủ nhân di chỉ khảo cổ học lũng hoà qua đồ trang sức của họ
Bảng th ống kê phân loại vòng trang sức ở di chỉ Lũng Hoà (Trang 8)
Bảng thống kê phân loại màu sắc đồ trang sức. - Tìm hiểu tư duy thẩm mỹ của chủ nhân di chỉ khảo cổ học lũng hoà qua đồ trang sức của họ
Bảng th ống kê phân loại màu sắc đồ trang sức (Trang 12)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w