1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Pháp luật về đánh giá, xếp loại viên chức ở việt nam hiện nay

65 9 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Pháp luật về đánh giá, xếp loại viên chức ở Việt Nam hiện nay
Tác giả Nguyễn Thị Như Ý
Người hướng dẫn GS.TS. Phạm Hồng Thái
Trường học Trường Đại Học Nội Vụ Hà Nội
Chuyên ngành Luật Hiến Pháp và Luật Hành Chính
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 849 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ NỘI VỤ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI NGUYỄN THỊ NHƯ Ý PHÁP LUẬT VỀ ĐÁNH GIÁ, XẾP LOẠI VIÊN CHỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG CHUYÊN NGÀNH LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍN[.]

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

Chuyên ngành: Luật hiến pháp và luật hành chính

Mã số: 8380102

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS Phạm Hồng Thái

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 01 tháng 7 năm 2022

Trang 3

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 02

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 05

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT

VỀ ĐÁNH GIÁ, XẾP LOẠI VIÊN CHỨC

07

1.1 Những vấn đề lý luận về đánh giá, xếp loại viên chức 07

1.2 Pháp luật về đánh giá, xếp loại viên chức 15

1.2.1 Khái niệm pháp luật về đánh giá, xếp loại viên chức 15

1.2.2 Đặc điểm của pháp luật về đánh giá, xếp loại viên chức 16

1.2.3 Vai trò của pháp luật về đánh giá, xếp loại viên chức 16 1.3 Sự điều chỉnh của pháp luật về đánh giá, xếp loại viên chức 16

Trang 4

1.3.1 Chủ thể 18

1.3.2 Đối tượng đánh giá, xếp loại viên chức 18

1.3.3 Mục đích đánh giá, xếp loại viên chức 18

1.3.4 Nguyên tắc đánh giá, xếp loại viên chức 19

1.3.5 Nội dung đánh giá, xếp loại viên chức 20

1.3.6 Tiêu chí đánh giá, xếp loại viên chức 22

1.3.7 Phương pháp, quy trình đánh giá, xếp loại viên chức 23

1.3.8 Quy chế đánh giá, xếp loại viên chức 24

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật và thi hành pháp luật về

đánh giá, xếp loại viên chức

24

TIỂU KẾT CHƯƠNG I

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN

ĐÁNH GIÁ, XẾP LOẠI VIÊN CHỨC THEO PHÁP LUẬT Ở

2.1.1 Quy định pháp luật về đánh giá, xếp loại viên chức 29

2.1.2 Những hạn chế của pháp luật về đánh giá, xếp loại viên

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ

QUAN ĐIỂM ĐỔI MỚI CÔNG TÁC ĐÁNH GIÁ, XẾP LOẠI

45

Trang 5

VIÊN CHỨC

3.1 Yêu cầu đổi mới đánh giá, xếp loại viên chức ở nước ta 45 3.2 Quan điểm đổi mới pháp luật đánh giá xếp loại viên chức 47

3.4 Các giải pháp đổi mới đánh giá, xếp loại viên chức 51 TIỂU KẾT CHƯƠNG III

Trang 6

LỜI CAM ĐOAN

Tôi Nguyễn Thị Như Ý xin cam đoan Luận văn “Pháp luật về đánh giá, xếp loại viên chức ở Việt Nam hiện nay” là công trình nghiên cứu của cá nhân Tôi

Tôi xin được cam đoan và đảm bảo các số liệu, nội dung được Tôi trình bày trong Luận văn này chưa được công bố ở bất kỳ luận văn nào khác Các trích dẫn cũng như các ví dụ trong luận văn này đảm bảo tính trung thực, chính xác và tin cậy

Trải qua 02 học tập, tôi đã hoàn thành xong tất cả các môn học của chương trình và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Pháp luật hành chính, Đại học Nội vụ Hà Nội

Những lời cam đoan nêu trên là đúng, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về những lời cam đoan

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Thị Như Ý

Trang 7

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên học viên xin được gửi lời chân thành cảm ơn và bày tỏ lòng biết ơn tới GS.TS Phạm Hồng Thái, người hướng dẫn khoa học, người thầy đã dành nhiều thời gian và quan tâm sâu sắc, đồng hành hướng dẫn và chỉ bảo cho học viên trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này Học viên xin chân thành cảm ơn quý thầy/cô Trường Đại học Nội vụ Hà Nội đã cho học viên nhiều kiến thức quý báu trong quá trình học tập và nghiên cứu tại trường

Đồng thời học viên xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu ĐHNV, Khoa Pháp luật Hành chính (phân hiệu Thành phố Hồ Chí Minh) đã tạo điều kiện thuận lợi cho học viên trong quá trình học tập, nghiên cứu đề tài

Học viên xin chân thành cảm ơn!

Tp Hồ Chí Minh, ngày 01 tháng 7 năm 2022

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Như Ý

Trang 8

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Nghĩa đầy đủ ĐGXLVC Đánh giá, xếp loại viên chức

CBCCVC Cán bộ, công chức, viên chức ĐVSN Đơn vị sự nghiệp

Trang 9

Trước yêu cầu cải cách hành nền hành chính nhà nước, trong đó cải cách đối với đội ngũ CBCCVC nhà nước được xác định là một trong những nội dung quan trọng, nhằm từng bước tinh giản biên chế, sắp xếp theo vị trí việc làm đối với CBCCVC.

Song song đó là tác động của khoa học, công nghệ và yêu cầu của quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, hiệu quả trong công tác quản lý cán bộ, công chức, viên chức Trong đó việc đánh giá, xếp loại cán bộ, công chức, viên chức

ở Việt Nam cũng đòi hỏi phải có sự thay đổi sao cho đảm bảo tính khoa học, sát với thực tiễn và hội nhập

Việc cải cách tổ chức bộ máy và nâng cao chất lượng cán bộ, công chức

và viên chức trong bộ máy các cơ quan nhà nước và các đơn vị sự nghiệp là nhu cầu cấp thiết trong giai đoạn mới đã được các cấp các ngành chỉ rõ, khẳng định yêu cầu phải thực hiện việc đánh giá, xếp loại cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống các cơ quan nhà nước nhằm để đo lường hiệu quả công việc và mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cán bộ, công chức, viên chức Theo

đó, mỗi loại nhân sự trong bộ máy có phương pháp và cách thức thực hiện đánh giá khác nhau dựa vào đặc điểm lao động của từng nhóm đối tượng

Ở nước ta từ năm 1945 tới nay đã có nhiều văn bản pháp luật quy định

về đánh giá, xếp loại cán bộ, công chức, viên chức, pháp luật về đánh giá, xếp loại viên chức ngày một hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu thực tiễn của quản lý viên chức, tuy vậy còn nhiều bất cập, chưa phù hợp với thực tiễn, nhiều tiêu chuẩn vẫn chung chung, quy định giống nhau giữa cán bộ, công chức, viên chức, khó đánh giá một chính khách quan, xác thực để xếp loại viên chức

Trang 10

Đánh giá, xếp loại viên chức là một nội dung của quản lý viên chức, có vai trò, ý nghĩa quan trọng trong thực tiễn trong việc tiếp tục ký kết hợp đồng, xắp xếp, luân chuyển, thăng thưởng, kỷ luật, đào tạo, bồi dưỡng viên chức đáp ứng yêu cầu của vị trí việc làm, góp phần bảo đảm thực hiện nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị

Hàng năm, tất cả các đơn vị sự nghiệp công lập đều tiến hành đánh giá, xếp loại viên chức, nhưng việc đánh giá còn mang nhiều tính hình thức, tình trạng nể nang, qua loa, bao che cho nhau vẫn xảy ra trong các đơn vị Việc đánh giá, xếp loại viên chức chưa thực sự đạt được mục đích của việc đánh giá, xếp loại

Nguyên nhân của tình trạng này có nhiều, nhưng một trong những nguyên nhân là pháp luật về đánh giá, xếp loại viên chức chưa hoàn chỉnh về nội dung, hình thức, chưa thực sự phù hợp với thực tiễn

Vì vậy việc nghiên cứu nhằm làm rõ những vấn đề lý luận pháp luật về đánh giá, xếp loại viên chức, đánh giá được thực trạng pháp luật và thực tiễn đánh giá, xếp loại viên chức, đưa ra những quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về đánh giá, xếp loại viên chức là cần thiết, khách quan đáp ứng yêu cầu đang đặt ra ở nước ta hiện nay

Chính vì vậy tác giả chọn đề tài “Pháp luật về đánh giá, xếp loại viên chức ở Việt Nam hiện nay” làm luận văn thạc sỹ Luật Hiến pháp và Luật

Hành chính

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Về công chức, viên chức đã có nhiều công trình nghiên cứu, trong đó trong một chừng mực cũng đề cập đến vấn đề đánh giá, xếp loại công chức, viên chức, có thể kể đến một số công trình sau đây:

- Sách chuyên khảo “Công vụ, công chức nhà nước”, NXB tư pháp năm 2004 của tác giả Phạm Hồng Thái, phân tích về chế độ công vụ cũng đề cập đến trách nhiệm kỷ luật đối với công chức;

- Giáo trình Luật hành chính Việt Nam NXB ĐHQGHN, 2017 chủ biên Phạm Hồng Thái và Nguyễn Thị Minh Hà, chương V cuốn sách viết về công

Trang 11

vụ, cán bộ, công chức, trong đó giành một phần viết về trách nhiệm pháp lý của cán bộ, công chức, trong đó cũng đề cập đến đánh giá công chức;

- Sách tham khảo: Pháp luật về công vụ và đạo đức công vụ, Nxb ĐHQGHN, 2015, chủ biên GS.TS Phạm Hồng Thái, trong đó tác giả chủ yếu phân tích, trách nhiệm tích “cực”- bổn phận của công chức trong thực thi công

vụ

Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu trực tiếp liên quan đến ĐGXLVC

và liên quan đến vấn đề này như:

- Nội dung cần có của Luật Viên chức qua bài viết của GS.TS Phạm Hồng Thái: Sự điều chỉnh của pháp luật về viên chức, trong bài tác giả nói về cách tiếp cận khi ban hành Luật viên chức, chỉ rõ thực trạng đối tượng làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập, đăng trên Tạp chí Tổ chức Nhà nước, ngày 29/9/2013;

- Yêu cầu đặt ra trong việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật về viên chức của tác giả Ngô Tự Nam: tác giả nói về thực trạng pháp luật viên chức của Việt Nam và những yêu cầu đặt trong việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật về viên chức, bài được đăng trên báo điện tử Đại biểu Nhân dân, ngày 31 tháng 3 năm 2010

- Viên chức và những vấn đề cần chú ý khi xây dựng Luật Viên chức bài viết phân tích về khái niệm và phân loại viên chức, đạo đức nghề nghiệp của viên chức, tính nghề nghiệp của viên chức, tuổi tuyển dụng và tuổi nghỉ hưu, thời giờ làm việc, của viên chức, của tác giả Văn Tất Thu;

- "Đổi mới, hoàn hiện cơ chế quản lý CBCCVC" đăng trên Cổng thông tin điện tử Sở Nội vụ tỉnh Bắc Giang ngày 08/02/2022;

- "Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện thể chế về tuyển dụng, sử dụng và quản lý CBCCVC" đăng trên Tạp chí điện tử Tổ chức nhà nước ngày 31/01/2022 của tác giả Hà Linh;

Nhìn chung, các bài viết, công trình đã tập trung nghiên cứu nội dung đổi mới, hoàn thiện cơ chế quản lý viên chức, tuyển dụng viên chức Tuy nhiên đến nay tác giả nhận thấy vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu sâu về

Trang 12

thực tiễn, cả lý luận và đầy đủ các nội dung ĐGXLVC hiện nay Với mong muốn nâng cao kiến thức của bản thân để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, tôi mong muốn nghiên cứu pháp luật về ĐGXLVC và thực tiễn thực hiện pháp luật về ĐGXLVC tại Việt Nam và hy vọng công trình nghiên cứu của tôi sẽ có những đóng góp nhất định trong việc nâng cao chất lượng thực hiện pháp luật ĐGXLVC hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Nhằm làm rõ những vấn đề lý luận, pháp luật về ĐGXLVC, đề xuất những quan điểm và các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và việc thực hiện pháp luật trong công tác ĐGXLVC ở Việt Nam, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ viên chức ở Việt Nam hiện nay

Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Làm rõ những vấn đề lý luận về đánh giá, xếp loại viên chức;

- Nghiên cứu và đánh giá thực trạng các quy định pháp luật hiện nay

về ĐGXLVC và thực trạng công tác này ở nước ta hiện nay; từ đó rút ra những những vấn đề cần quan tâm thực hiện trong công tác đánh giá, xếp loại viên chức ở Việt Nam

- Đề xuất các phương hướng, các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật

về ĐGXLVC và đổi mới công tác ĐGXLVC làm sao để đáp ứng được yêu cầu, đẩy mạnh cải cách chế độ viên chức góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ viên chức ở Việt Nam hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: pháp luật về ĐGXLVC ở Việt Nam hiện nay; thực tiễn ĐGXLVC trong đơn vị sự nghiệp công lập

Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu việc đánh giá, xếp loại viên chức của một số đơn vị sự nghiệp công lập của nhà nước

Trang 13

Trên cơ sở phương pháp luận duy vật lịch sử và phương pháp duy vật biện chứng, quan điểm của Đảng và nhà nước ta về công tác cán bộ, về pháp luật, về viên chức, để thực hiện mục đích, nhiệm vụ của luận văn, tác giả sử dụng các phương pháp tổng hợp, phân tích, hệ thống hóa các tài liệu, công trình nghiên cứu khoa học đã được công bố để xác định những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu của đề tài, để làm rõ các nội dung, kết quả nghiên cứu có liên quan đến đề tài,

+ Chương 1: Tác giả sử dụng phương pháp tổng hợp, phương pháp quy nạp, diễn dịch, phân tích, hệ thống hóa, để phân tích, luận giải, khái quát các khái niệm pháp luật về đánh giá, xếp loại viên chức Trong chương này, tác giả cũng sử dụng phương pháp luật học để so sánh để tìm hiểu về ĐGXLVC

+ Chương 2: Sử dụng phương pháp phân tích, thống kê, tổng hợp để hệ thống, đánh giá và phân tích về thực trạng pháp luật về ĐGXLVC và thực trạng triển khai ĐGXLVC theo pháp luật ở nước ta

+ Chương 3: Sử dụng phương pháp tổng hợp, quy nạp, diễn dịch, phân tích để luận giải và đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác ĐGXLVC theo pháp luật ở Việt Nam hiện nay

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Trong điều kiện cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả, hiệu lực của bộ máy hành chính ở Việt Nam hiện nay, đánh giá xếp loại viên chức đóng vai trò quan trọng Về lý luận Luận văn cung cấp thêm thông tin lý luận về ĐGXLVC theo pháp luật ở Việt Nam và có ý nghĩa, giá trị tham khảo nhằm xây dựng pháp luật về ĐGXLVC và có thể là tài liệu để phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy

7 Kết cấu của luận văn

Chương 1 Những vấn đề lý luận và pháp luật về đánh giá, xếp loại viên chức

Chương 2 Thực trạng pháp luật và thực tiễn về đánh giá, xếp loại viên chức theo pháp luật ở Việt Nam

Trang 14

Chương 3 Quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật và đổi mới công tác đánh giá, xếp loại viên chức

Trang 15

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐÁNH GIÁ, XẾP LOẠI VIÊN CHỨC

1.1 Những vấn đề lý luận về đánh giá viên chức

1.1.1 Khái niệm viên chức

Viên chức thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong pháp luật Việt Nam, trong khoa học luật học, hành chính học, những mỗi giai đoạn có phạm vi, nội hàm riêng, không thống nhất

Trước khi có Luật cán bộ, công chức năm 2008, Luật viên chức năm

2010, viên chức như là một bộ phận nằm trong khái niệm “cán bộ, công chức”, vì vậy công chức được phân thành hai loại viên chức trong cơ quan nhà nước, viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập Khi Luật cán bộ, công chức được ban hành, trong đơn vị sự nghiệp công lập có cả công chức, viên chức

Khái niệm có trong Luật Viên chức định nghĩa như sau: “Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”[13, T8]

Khi tiến hành hoạt động nghề nghiệp, viên chức tuân theo các nguyên tắc sau:

Giống như cán bộ, công chức trong hoạt động công vụ, viên chức phải tuân thủ pháp luật của nhà nước, những quy định thuộc về chuyên môn, nghiệp vụ trong quá trình viên chức tác nghiệp

Với những định nghĩa trên chúng ta có thể hiểu rõ hơn viên chức là chủ thể con người được tuyển dụng trong đơn vị hành chính sự nghiệp công lập theo một quy trình cụ thể để vào làm tại các vị trí công việc cụ thể

Chế độ hợp đồng làm việc của viên chức được quy định ở Điều 2 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức năm 2019 có hiệu lực thi hành từ 01/07/2020 là chế độ hợp đồng làm việc có xác định thời hạn Vì thế, những đối tượng đáp ứng được xem là viên chức thì phải thỏa được các điều kiện nêu trên

Trang 16

Khái niệm về viên chức trong Luật viên chức, giúp chúng ta hiểu rõ và xác định thế nào là viên chức, viên chức khác với cán bộ và công chức như thế nào, trong đó còn nêu rõ được các vấn đề chung và cả các nguyên tắc cơ bản đối với các hoạt động nghề nghiệp của viên chức

Luật Viên chức hiện hành đã giúp chúng ta hiểu rõ được các khái niệm như đơn vị sự nghiệp công lập, hợp đồng làm việc, vị trí việc làm, tuyển dụng, chức danh nghề nghiệp, …

Viên chức khác với cán bộ, công chức ở những điểm căn bản sau: cán

bộ, công chức là những người thực thi công vụ, còn viên chức là những người

thực hiện dịch vụ công nhằm phục vụ, đáp ứng những nhu cầu thiết yếu, đa dạng và những quyền và nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức ví dụ như dịch vụ giáo dục, dịch vụ y tế

Nếu như CBCC là những người nằm trong biên chế và hưởng lương từ

nguồn ngân sách Nhà nước thì việc sử dụng CBCC có thể được thực hiện dưới các hình thức như điều động hay bổ nhiệm, biệt phái, luân chuyển trong các tổ chức Đảng, tổ chức chính trị - xã hội và Nhà nước

Nhưng đối với viên chức Nhà nước thì việc sử dụng viên chức được thực hiện trong một phạm vi hẹp hơn: đó là theo hợp đồng làm việc cụ thể, quy trình nhất định Hợp đồng làm việc là một căn cứ pháp lý quan trọng để viên chức bắt đầu quá trình hoạt động nghề nghiệp của mình, người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập bắt đầu quá trình sử dụng viên chức tại vị trí việc làm xác định

Nếu cán bộ, công chức hưởng lương từ ngân sách nhà nước, còn viên chức làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập của Nhà nước, tổ chức chính trị,

tổ chức chính trị - xã hội, hưởng lương của đơn vị sự nghiệp công lập do pháp luật quy định

Hiện nay ở Việt Nam do đặc thù của các đơn vị sự nghiệp, có đơn vị sự nghiệp được nhà nước cấp ngân sách, có đơn vị sự nghiệp hoạt động trên cơ

sở nguồn thu của đơn vị sự nghiệp

Trong Luật viên chức cũng nhấn mạnh và nêu vị trí việc làm và chức danh nghề nghiệp là căn cứ về trình độ, chức vụ, năng lực của viên chức

Trang 17

Ví dụ như: trợ giảng, giảng viên… PGS GS là những chức danh nghề nghiệp trong lĩnh vực giảng dạy đại học

1.1.2 Khái niệm đánh giá

Trong Từ điển tiếng Việt, nhận định giá trị có nghĩa là đánh giá Đánh giá là quá trình hình thành những phán đoán, nhận xét về kết quả của công việc, dựa vào sự lý giải những thông tin thu được, đối soát với tiêu chuẩn, những mục tiêu đề ra nhằm đề xuất những quyết định hợp lý để cải tạo, điều chỉnh thực trạng, nâng cao hiệu quả công việc và chất lượng

Chúng ta có thể hiểu: Đánh giá là một trong những hoạt động nhằm xác nhận giá trị, nhận định thực trạng về các mức độ hoàn thành nhiệm vụ công tác, trình độ chuyên môn, chất lượng hiệu quả công việc, sự phát triển và những kinh nghiệm được thể hiện ở thời điểm hiện tại so với những mục tiêu hay những chuẩn mực trước đó đã được xác lập

Đánh giá là quá trình thu nhận và xử lý thông tin nhằm để nhận định tình hình hiện tại và kết quả công việc giúp cho quá trình thiết lập các quyết định, kế hoạch và hành động đạt kết quả

Đánh giá luôn gắn với một đối tượng cụ thể, một hoạt động cụ thể nào

đó

Đánh giá là vấn đề cần quan tâm và cũng rất quan trọng trong việc quản

lý và là quy trình cần thiết nhằm nâng cao các hoạt động hoàn thiện công tác của tổ chức, đơn vị Trên cơ sở đánh giá mà tiến hành xếp loại các đối tượng được đánh giá

Đánh giá, xếp loại viên chức là một trong những nội dung quan trọng có

ý nghĩa, vai trò rất lớn đối với nhà nước và xã hội

Đánh giá viên chức, cũng như việc tiến hành xếp loại viên chức dựa trên kết quả đánh giá sao cho phù hợp, là một trong những khâu quan trọng của công tác cán bộ, là tiền đề và cơ sở để thực hiện tốt các khâu khác

Nếu đánh giá và xếp loại viên chức một cách đúng đắn, viên chức có thể được bố trí, đề bạt, sử dụng đúng với năng lực sở trường, được đào tạo, bồi

Trang 18

dưỡng, rèn luyện, giúp phát huy ưu điểm và nhận thức khuyết điểm của mình

để sửa chữa

Trái lại, nếu ĐGXLVC không đúng thì có thể dẫn đến việc viên chức

bị giảm động lực phấn đấu, mất niềm tin vào sự lãnh đạo, thậm chí làm mai một tài năng, và ảnh hưởng tới thực hiện nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn

vị

Tuy nhiên, đây cũng là một khâu vô cùng khó khăn và phức tạp, vì chủ thể và đối tượng đánh giá xếp loại đều là con người, khó tránh khỏi những ảnh hưởng tâm lý cả tích cực và tiêu cực từ môi trường chính trị, kinh tế, xã hội nơi cá nhân sống và làm việc

Thậm chí, trong công tác cán bộ, việc ĐGXLVC cũng có thể bị ảnh hưởng từ những khâu khác – viên chức có thể không thực hiện tốt công việc đúng với năng lực của mình nếu được tuyển dụng, bố trí, sử dụng không phù hợp, hoặc đánh giá viên chức có thể xảy ra sai sót nếu cán bộ lãnh đạo không

đủ năng lực để đánh giá một cách chính xác, công bằng về viên chức do mình quản lý Quá trình viên chức hoạt động nghề nghiệp hoặc làm công tác quản lý cần phải được đánh giá

Việc thực hiện việc ĐGXLVC cần được các quy định, nguyên tắc đã được thể như: cam kết đã thỏa thuận trong hợp đồng, đạo đức, quy tắc, hay công việc đã được giao, nhiệm vụ được giao của viên chức

Nội dung đánh giá viên chức bao gồm:

(1) Kết quả thực hiện công việc

(2) Đạo đức

(3) Trách nhiệm, thái độ

(4) Nghĩa vụ khác của viên chức

Đánh giá và xếp loại chất lượng viên chức là việc người có thẩm quyền dựa trên các tiêu chí theo quy định của luật, nguyên tắc đánh giá để xếp loại từng viên chức trong đơn vị sau một năm làm việc Đây là hoạt động diễn ra thường niên tại các đơn vị sự nghiệp công lập nhằm đánh giá năng lực phẩm chất, thái độ làm việc của viên chức

Trang 19

Việc ĐGXLVC dựa trên 05 nhóm tiêu chí chung là:

+ Chính trị tư tưởng;

+ Đạo đức lối sống;

+ Tác phong lề lối làm việc;

+ Ý thức tổ chức kỉ luật

+ Kết quả thực hiện nhiệm vụ, chức trách được giao

Theo đó, tiêu chí xếp loại chất lượng viên chức cũng được chia thành bốn mức độ:

(1) Viên chức ở mức hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ;

(2) Viên chức ở mức hoàn thành tốt nhiệm vụ;

(3) Viên chức ở mức hoàn thành nhiệm vụ và

(4) Viên chức ở mức không hoàn thành nhiệm vụ

Việc ĐGXLVC cũng được hiểu là một hình thức (một loại hình) đánh giá nguồn nhân lực ở mỗi vị trí việc làm; khác với đánh giá công chức hoặc người lao động; quá trình đánh giá viên chức thường phải căn cứ vào quy định trong từng lĩnh lực, đơn vị

Chẳng hạn khi đánh giá công chức, trong các tiêu chí đánh giá, có tiêu chí phẩm chất đạo đức (tiêu chí này còn phải gắn với đạo đức công vụ của công chức) còn đối với viên chức (tiêu chí phẩm chất đạo đức thường có đạo đức nghề nghiệp) và viên chức trong đơn vị sự nghiệp thuộc lĩnh vực khác nhau thì cũng có những quy định về đạo đức nghề nghiệp khác nhau như viên chức làm việc trong các cơ sở y tế (y sĩ, bác sĩ, dược sĩ) có các chuẩn mực, quy định đạo đức nghề nghiệp khác với viên chức giáo dục (giáo viên, giảng viên), viên chức trong lĩnh vực pháp lý

Trên thực tế, đánh giá viên chức là một hoạt động cụ thể giúp cho tổ chức, đơn vị đánh giá quá trình làm việc của viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập (không phải là cơ quan nhà nước, không thực thi công vụ) nên thực hiện này không đơn giản, có nhiều khó khăn trong việc đánh giá đảm bảo khách quan không qua loa vì để thực hiện tốt việc đánh giá thì trước hết mỗi

Trang 20

cá nhân viên chức tự đánh giá mình; tiếp đến là đơn vị trực tiếp sử dụng viên chức và sau cùng là đơn vị quản lý viên chức đánh giá

Nhằm đảm bảo các quy trình theo quy định, đảm bảo nguyên tắc tập trung, dân chủ, công khai, minh bạch, chính xác và điều cần thiết không thể thiếu là phải bảo đảm quyền, nghĩa vụ của mỗi cá nhân đối với những nội dung do mình tự đánh giá và thông qua tập thể đánh giá sau một năm thực hiện nhiệm vụ được giao

1.2 Pháp luật về đánh giá, xếp loại viên chức

1.2.1 Khái niệm pháp luật về đánh giá, xếp loại viên chức

Hiện nay ở Việt Nam, trong các giáo trình của các trường, các cơ sở đào tạo luật học cũng như trong sách, từ điển, báo chí thì pháp lý tồn tại rất nhiều định nghĩa về pháp luật dưới góc độ là pháp luật thực định

Viên chức trong các đơn vị hành chính sự nghiệp là một nhóm chủ thể,

có vị trí quan trọng, cùng với quá trình xây dựng và phát triển của đội ngũ viên chức ở nước ta, các quy định pháp luật về ĐGXLVC cũng được nhà nước ban hành số lượng tương đối

Ở cấp độ luật, các quy định pháp luật về ĐGXLVC được quy định ở Nghị định, Quyết định

Từ những phân tích như trên có thể hiểu: Pháp luật về đánh giá, xếp loại viên chức là tổng thể các quy phạm pháp luật, do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình đánh giá, xếp loại viên chức

1.2.2 Đặc điểm của pháp luật về đánh giá, xếp loại viên chức

Trong Nghị định số 90/2020/NĐ-CP của Chính phủ quy định về đánh giá, xếp loại chất lượng cán bộ, công chức, viên chức chính thức có hiệu lực từ ngày 0/8/2020, theo đó thẩm quyền và trình tự, thủ tục đánh giá, xếp loại chất lượng viên chức đã được quy định rất cụ thể, chi tiết

Với đặc điểm là đội ngũ viên chức ở Việt Nam công tác trong các lĩnh vực rất rộng với những đặc thù khác nhau phụ thuộc vào từng công việc, vùng miền, do đó luật cũng quy định giao người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền

Trang 21

quản lý công chức quy định phù hợp với địa phương, bộ, ngành mình, bảo đảm đúng tiêu chí được đề ra

1.1.3 Vai trò của pháp luật về đánh giá, xếp loại viên chức

Pháp luật về viên chức đóng vai trò rất quan trọng trong việc điều chỉnh, định hướng các hoạt động quản lý, sử dụng viên chức, quy định về quyền và nghĩa vụ của viên chức

Nhằm hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân đã đề ra yêu cầu nhiệm vụ về tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, khả thi, thống nhất, công khai minh bạch, tạo công cụ pháp lý quan trọng để điều chỉnh các quan hệ xã hội, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển nhanh, mạnh, bền vững

1.3 Sự điều chỉnh của pháp luật về đánh giá, xếp loại viên chức

Từ những đòi hỏi thực tế của đời sống xã hội, trong những năm gần đây (nhất là từ những năm 1992 đến nay), Nhà nước ta đã ban hành khá nhiều các văn bản pháp luật; trong đó, nhiều quy định pháp luật về viên chức tiếp tục được kế thừa và phát triển, với sự ra đời của Pháp lệnh cán bộ, công chức năm

1998 (sửa đổi, bổ sung năm 2000 và năm 2003) đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng để điều chỉnh các quan hệ xã hội về CBCCVC nhà nước

Từ những quy định về quản lý CBCCVC nhà nước, Chính phủ và các

cơ quan trong hệ thống hành pháp đã ban hành nhiều văn bản (như Nghị định, Thông tư, Quyết định) để quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh,

áp dụng thống nhất, hiệu quả các quy định của pháp luật về đánh giá CBCCVC trong các cơ quan, đơn vị của nhà nước.Tuy nhiên, bên cạnh những điểm tiến bộ của Pháp lệnh cán bộ, công chức (điều chỉnh cả những công chức làm việc trong đơn vị sự nghiệp công lập), còn những hạn chế, tồn tại do pháp lệnh chưa xác định, phân biệt giữa công chức với viên chức Do đó, việc đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, đánh giá viên chức trong quá trình quản lý nhà nước đối với nguồn nhân lực này còn chung chung, chưa cụ thể và chưa thực sự khoa học, phù hợp

Trang 22

Để phân biệt cán bộ, công chức với viên chức, năm 2010, Quốc hội đã ban hành Luật Viên chức, đây là lần đầu tiên các quan hệ xã hội về viên chức được Quốc hội quy định trong một đạo luật cụ thể; với những quy định đó không chỉ thể hiện sự phát triển, những điểm tiến bộ về quá trình hình thành, phát triển hướng đến việc hoàn thiện cơ sở pháp lý đối với viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập mà còn thể hiện sự chú trọng, quan tâm đặc biệt của Nhà nước và xã hội đối với đội ngũ viên chức; những người trực tiếp thực hiện các hoạt động cung cấp dịch vụ công sự nghiệp cho nhân dân; đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Để các quy định mới của pháp luật CBCCVC đi vào trong đời sống xã hội một cách hiệu quả, thống nhất thì vào ngày 13/8/2020 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 90/2020/NĐ-CP về đánh giá, xếp loại chất lượng CBCCVC.; Nghị định này đã thể hiện sự phát triển và dần hoàn thiện thể chế

về đánh giá CBCCVC; Quy định chi tiết, cụ thể về các nội dung như:

Nguyên tắc đánh giá, xếp loại chất lượng CBCCVC;

Tiêu chí chung về đánh giá, xếp loại chất lượng CBCCVC (các tiêu chí này đã cụ thể hóa quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức năm 2019 về chính trị, tư tưởng;

Đạo đức, lối sống; tác phong, lề lối làm việc;

Ý thức tổ chức kỷ luật;

Kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao;

Các tiêu chí xếp loại chất lượng viên chức (tại Mục 3, từ Điều 12 đến Điều 15)

Điểm đánh giá xếp loại chất lượng viên chức hằng năm cũng như việc

sử dụng kết quả và lưu giữ tài liệu đánh giá, xếp loại chất lượng viên chức

Với những quy định mới được nghị định số 90/2020/NĐ-CP quy định

đã rất cụ thể rồi, nghị định thể hiện bước tiến bộ, phù hợp, chặt chẽ, tương đối thống nhất với xã hội đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng; bảo đảm cho việc ĐGXLVC khắc phục những hạn chế, bất cập trong hệ thống các quy định về ĐGXLVC trước đây

Trang 23

Đồng thời, trên cơ sở kế thừa từ những quy định, nghị định đã được đưa vào cuộc sống với sự tiến bộ, hợp lý, thống nhất giúp tiếp tục tạo cơ chế cho việc ĐGXLVC tại đơn vị sự nghiệp công lập đi vào nề nếp đúng quy định, quy trình, theo những chuẩn mực pháp lý cần thiết, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ viên chức; bảo đảm hiệu lực, hiệu quả trong công tác bố trí, sắp xếp,

sử dụng và quản lý viên chức trong tình hình mới

Cùng với những quy định về các quyền, nghĩa vụ của viên chức tại đơn vị

sự nghiệp công lập; việc đánh giá viên chức được Luật viên chức năm 2010 quy định cụ thể như sau:

1.3.1 Chủ thể:

Trong đánh giá, xếp loại viên chức thì chủ thể tham gia vào quá trình này gồm: các tập thể, cá nhân có liên quan (cấp dưới, cùng cấp, cấp trên trực tiếp)

1.3.2 Đối tượng đánh giá, xếp loại viên chức

- Viên chức

- Lao động hợp đồng

1.3.3 Mục đích đánh giá, xếp loại viên chức

Mục đích của đánh giá viên chức hiện nay được quy định tại Điều 39 Luật Viên chức, theo đó:

- Đầu tiên, việc đánh giá, xếp loại viên chức sẽ giúp họ có được sự nhìn nhận đúng đắn về bản thân khi thực hiện công việc tại vị trí việc làm của mình như: ưu điểm cũng như các nhược điểm của bản thân; điểm mạnh, điểm yếu về

tư tưởng, phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực, trình độ, chuyên môn nghiệp vụ và nhận thấy rõ kết quả thực hiện công việc Từ đó, viên chức

sẽ phát huy điểm mạnh và tự khắc phục những điểm yếu để tiếp tục nỗ lực, phấn đấu hoặc thay đổi để hoàn thành tốt hơn nữa những công việc, nhiệm vụ được giao

- Thứ hai, kết quả đánh giá, xếp loại viên chức là căn cứ để người có thẩm quyền trong đơn vị sự nghiệp công lập xem xét để làm căn cứ tiếp tục bố trí, sử dụng, bổ nhiệm, miễn nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng, khen thưởng, kỷ luật

Trang 24

và thực hiện chế độ, chính sách đối với viên chức Đánh giá, xếp loại viên chức có thể coi là một trong những khâu quan trọng nhất trong quá trình sử dụng, quản lý viên chức để có thể đánh mức độ hoàn thành công việc, sự phù hợp với công việc trong đơn vị sự nghiệp công lập

- Thứ ba, kết quả đánh giá, xếp loại viên chức còn là cơ sở để các chủ thể có thẩm quyền đưa ra được kế hoạch quy hoạch, phát triển nhân lực, bố trí, sắp xếp, luân chuyển, điều động, tuyển dụng, bổ nhiệm viên chức vào những

vị trí phù hợp với năng lực, xây dựng quy hoạch lãnh đạo nguồn kế cận

- Thứ tư, kết quả đánh giá, xếp loại viên chức còn là căn cứ để đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực, trình độ cho viên chức trong đơn vị cho phù hợp Để đánh giá, xếp loại viên chức một cách hiệu quả, khi đánh giá cần phải dựa trên các tiêu chí nhất định

để đảm bảo sự khách quan, công bằng, bình đẳng, thuyết phục đối với các viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập đó Bởi với mục đích của việc đánh giá, xếp loại viên chức vừa nêu trên, kết quả đánh giá viên chức ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của các viên chức, thậm chí còn có thể tác động lớn đối với công việc của viên chức như dựa vào đó viên chức có thể được khen thưởng, xét nâng lương trước thời hạn hoặc viên chức có thể bị kỷ luật bằng hình thức khiển trách, cảnh cáo,…

1.3.4 Nguyên tắc đánh giá, xếp loại viên chức

- Tại Điều 2 của Nghị định số 90/2020/NĐ-CP về nguyên tắc đánh giá, xếp loại viên chức đã đặt ra 04 nguyên tắc đối với việc đánh giá, xếp loại CBCCVC bao gồm:

+ Khách quan, công bằng, chính xác

Đây là nguyên tắc rất quan trọng và cần được coi là kim chỉ nam trong suốt quá trình đánh giá viên chức, là yếu tố đầu tiên tạo nên tính khách quan, công bằng, bình đẳng trong việc đánh giá và như vậy mới tạo ra được sự thuyết phục từ phía các viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập đó

+ Việc ĐGXLVC căn cứ vào chức trách, nhiệm vụ và kết quả thực hiện

Trang 25

Nguyên tắc này giúp việc đánh giá, xếp loại viên chức bảo đảm khách quan, chính xác, khả quan bởi xác định đúng được năng lực của viên chức gắn với từng vị trí công tác, đơn vị công tác, nhiệm vụ công tác, xác định viên chức đó có hoàn thành mục tiêu, chất lượng các yêu cầu của công việc, vị trí việc làm đề ra hay không

+ CBCCVC thời gian làm việc dưới 06 tháng làm bản kiểm điểm nhưng không đủ điều kiện để ĐGXLV; CBCCVC nghỉ chế độ thai sản theo quy định vẫn được đánh giá

Đây là nguyên tắc hoàn toàn phù hợp bởi việc đánh giá, xếp loại viên chức có được sự hài hòa, bảo đảm bình đẳng giới và giúp cho viên chức nữ yên tâm vừa chăm sóc gia đình và vừa tâm huyết với công việc ngay sau thời gian nghỉ thai sản

+ Kết quả ĐGXLVC được sử dụng làm cơ sở liên thông ĐGXL chất lượng đảng viên

Nguyên tắc này giúp tiết kiệm thời gian trong quy trình đánh giá đảng viên, đồng thời là cơ sở để các đảng viên cũng phải luôn tự đề cao vai trò tiên phong, gương mẫu của mình trong công việc để đạt được kết quả đánh giá, xếp loại cao

- Những nguyên tắc này về cơ bản đã kế thừa từ Nghị định số 56/2015/NĐ-CP, tuy nhiên có bổ sung một số quy định liên quan đến căn cứ

để đánh giá, xếp loại chất lượng (công việc, sản phẩm cụ thể), và liên quan đến những trường hợp đặc biệt về thời gian công tác trong năm đánh giá

1.3.5 Nội dung đánh giá, xếp loại viên chức

Theo quy định tại khoản 5 Điều 2 Luật Viên chức và Luật Viên chức sửa đổi 2019 sửa đổi, bổ sung Điều 41 Luật viên chức 2010 thì nội dung đánh giá viên chức cụ thể như sau:

- Đối với viên chức không giữ chức vụ quản lý, được thực hiện đánh giá dựa trên cơ sở những nội dung như:

+ Đánh giá về việc chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, các quy định của cơ quan, tổ chức, đơn vị

Trang 26

+ Đánh giá những kết quả đã thực hiện trong một năm làm việc cụ thể là các công đã được giao, nhiệm vụ được giao, theo thỏa thuận được ký kết trong hợp đồng khi được ký kết hoặc theo kế hoạch, chất lượng tiến độ

+ Đánh giá về việc thực hiện quy định về đạo đức nghề nghiệp như có nếp sống lành mạnh, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, có tinh thần tu dưỡng, rèn luyện đạo đức nghề nghiệp…

+ Đánh giá về tinh thần hợp tác với đồng nghiệp, tinh thần trách nhiệm, thái độ phục vụ nhân dân, và việc thực hiện quy tắc ứng xử của viên chức; viên chức phải tôn trọng nhân dân, có thái độ lịch sự, , có tinh thần hợp tác, tác phong khiêm tốn; không cửa quyền, hách dịch, phiền hà, gây khó khăn, đối với nhân dân…

+ Đánh giá về việc thực hiện các nghĩa vụ khác của viên chức như có những hành vi thoái thác công việc hoặc nhiệm vụ được giao trốn tránh trách nhiệm, gây bè phái, mất đoàn kết; tham gia đình công; tự ý bỏ việc; sử dụng tài sản của cơ quan, tổ chức, đơn vị và của nhân dân trái với quy định của pháp luật; lợi dụng hoạt động nghề nghiệp để tuyên truyền chống lại chủ trương đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, phân biệt đối xử dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo dưới mọi hình thức; hoặc gây phương hại đối với thuần phong, mỹ tục, đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân và xã hội; xúc phạm nhân phẩm, uy tín, danh dự của người khác

- Đối với viên chức giữ chức vụ quản lý, việc đánh giá được thực hiện trên cơ sở những nội dung bao gồm:

+ Thứ nhất, nội dung đánh giá tương tự như trên, ngoài các chức năng trên thì việc đánh giá viên chức giữ chức vụ quản lý còn chú trọng thêm chức năng quản lý

+ Thứ hai, đánh giá về năng lực, khả năng quản lý, tổ chức thực hiện nhiệm vụ và điều hành thông qua việc viên chức quản lý có quyền chỉ đạo và

tổ chức thực hiện theo đúng chức trách, thẩm quyền được giao các nhiệm vụ của đơn vị; giữ gìn đoàn kết, thực hiện dân chủ, xây dựng và phát triển nguồn nhân lực; đạo đức nghề nghiệp trong đơn vị; quản lý và sử dụng có hiệu quả

Trang 27

tài chính, cơ sở vật chất trong đơn vị được giao phụ trách, quản lý, …

+ Thứ ba, đánh giá về kế hoạch công việc được phân kỳ làm việc theo năm, quý, tháng và đánh giá kết quả hoạt động đạt được của cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao quản lý;

+ Thứ tư, việc đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ của viên chức phải gắn với kết quả thực hiện nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, đơn vị trực tiếp phụ trách;

+ Thứ năm, mức xếp loại chất lượng của cơ quan, tổ chức, đơn vị trực tiếp phụ trách không được thấp hơn mức xếp loại của cá nhân

- Thời điểm thực hiện để ĐGXLVC hàng năm là

+ Trước khi ký tiếp hợp đồng làm việc;

+ Khi kết thúc thời gian tập sự;

+ Chuyển đổi việc làm khác;

+ Khi được bổ nhiệm hay bổ nhiệm lại, đến thời gian làm công tác quy hoạch, đợt xét thưởng hay khen

1.3.6 Tiêu chí đánh giá, xếp loại viên chức

- Tiêu chí chung

Điều 3 của Nghị định số 90/2020/NĐ-CP quy định 05 nhóm tiêu chí chung để đánh giá cán bộ, công chức, viên chức, gồm: Chính trị tư tưởng, Đạo đức lối sống, Tác phong và lề lối làm việc, Ý thức tổ chức kỷ luật, Kết quả thực hiện chức trách và nhiệm vụ được giao Các nhóm tiêu chí này đều được quy định rõ các nội dung cụ thể để làm cơ sở đánh giá, khác biệt nhiều so với quy định tại khoản 3 Điều 4 của Nghị định số 56/2015/NĐ-CP, khi sử dụng các tiêu chí đánh giá viên chức từ Luật Viên chức năm 2010

- Tiêu chí cụ thể

Mục 3 của Nghị định số 90/2020/NĐ-CP (từ Điều 12 đến Điều 15) về

cơ bản cũng kế thừa những quy định của Nghị định số 6/2015/NĐ-CP, nhưng

bỏ đi yêu cầu bắt buộc đối với viên chức về công trình khoa học, đề án, đề tài hay sáng kiến, đồng thời bổ sung và làm rõ các tiêu chí cũng như giới hạn số lượng công việc hoàn thành hoặc chưa hoàn thành tương ứng với từng mức độ

Trang 28

đánh giá

Hiện nay việc thực hiện công tác đánh giá viên chức được tuân thủ theo quy định của Nghị định 90/2020/NĐ-CP của Chính phủ ngày 13/8/2020 về đánh giá, xếp loại chất lượng cán bộ, công chức, viên chức Để đánh giá viên chức một cách khách quan, đảm bảo công bằng cũng như đảm bảo chất lượng công tác sử dụng quản lý viên chức một cách hiệu quả nhất, Nghị định 90 đã đưa ra tiêu chí chung về đánh giá xếp loại chất lượng viên chức về:

+ Chính trị tư tưởng;

+ Đạo đức, lối sống, tác phong lề lối làm việc,

+ Ý thức tổ chức, kỷ luật

+ Kết quả thực hiện chức trách được giao

Đối với công chức, viên chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý pháp luật còn quy định về kết quả thực hiên nhiệm vụ được giao; thái độ của công chức, viên chức trong thi hành công vụ, thực hiện nhiệm vụ

1.3.7 Phương pháp đánh giá, xếp loại viên chức

Việc ĐGXLVC hằng năm được thực hiện: Tự đánh giá, xếp loại: Căn cứ tiêu chí đánh giá, xếp loại, cá nhân tự phân tích chất lượng, mức độ thực hiện

và tự xếp loại đánh giá vào 1 trong 4 mức theo quy định

1.3.8 Quy chế đánh giá, xếp loại viên chức

Nội dung Quy chế đánh giá phải xác định rõ: Tiêu chí đánh giá chất lượng, hiệu quả, thời điểm đánh giá theo quý, tháng ; Sản phẩm cụ thể gắn với từng vị trí việc làm; Các tiêu chí thành phần để đánh giá xếp loại chất lượng CBCCVC đã thực hiện so với khối lượng công việc chung của đơn vị Căn cứ để xác định tỷ lệ % mức độ hoàn thành công việc

Đây là một nội dung mới tại Điều 23, khoản 1 của Nghị định số 90/2020/NĐ- CP về tổ chức thực hiện hoạt động đánh giá, xếp loại cán bộ, công chức, viên chức Trên cơ sở các tiêu chí đánh giá và căn cứ điều kiện cụ thể của đơn vị, các cơ quan, tổ chức, đơn vị sử dụng công chức, viên chức phải xây dựng và ban hành Quy chế đánh giá phù hợp với đặc thù của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình

Trang 29

Điều 42 Luật Viên chức năm 2010 về phân loại đánh giá viên chức, tùy theo tiêu chí đánh giá, các nội dung cụ thể đối với viên chức, thì việc phân loại đánh giá viên chức hàng năm được xếp như sau:

+Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ;

+ Hoàn thành tốt nhiệm vụ;

+ Hoàn thành nhiệm vụ;

+ Không hoàn thành nhiệm vụ

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật và thi hành pháp luật về đánh giá, xếp loại viên chức

Có rất nhiều yếu tố gây tác động đến việc ĐGXLVC có thể phân thành theo nhóm yếu tố sau đây:

1.4.1 Các yếu tố khách quan

ĐGXLVC có những điểm chung cũng có những đặc điểm riêng biệt

Vì vậy, đặc điểm cơ bản của đối tượng được đánh giá cần lưu ý những yếu tố là:

- Quy định của pháp luật

Đối với viên chức quy định về nghiệp vụ, chuyên môn, tiêu chuẩn ngạch, bậc, đạo đức nghề nghiệp viên chức rất quan trọng, cơ bản được áp dụng trên cả nước Đây là một trong những cơ sở quan trọng đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của viên chức

- Đặc điểm về nhân cách

Cá nhân mỗi viên chức là một cá thể độc lập, ứng xử, cách thức hành động, mang một đặc điểm nhân cách khác nhau chi phối đến tư duy của họ Việc này cho ra những kết quả khác nhau trong giao tiếp, trong cách thức thực hiện thực thi nhiệm vụ, trong quan hệ đồng nghiệp, quan hệ xã hội, …

- Đặc điểm về lao động

Mỗi viên chức trong cùng một đơn vị, được bố trí những vị trí công tác khác nhau, mỗi người có những đặc thù riêng, đặc điểm riêng, một công việc riêng, vì vậy khi đánh giá cần phải chú ý đến những đặc điểm này Không nên đánh đồng đánh giá chung chung giữa một viên chức ở ngạch này với một

Trang 30

viên chức ở ngạch khác Giữa các viên chức lãnh đạo, viên chức quản lý với viên chức không có giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý

- Đặc điểm về chuyên môn, nghiệp vụ

Mỗi viên chức có trình độ và chuyên môn khác nhau nên được đào tạo cũng khác nhau, phù hợp với vị trí công tác mà viên chức đảm nhận Cho nên trong đánh giá cần lưu ý đến đặc điểm này

- Môi trường thực hiện nhiệm vụ

Môi trường thực hiện nhiệm vụ trong các cơ quan, đơn vị sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến công tác ĐGXLVC Môi trường dân chủ, công bằng, minh bạch sẽ tạo động lực, viên chức làm việc tận tân, tận tình, hết lòng, tăng động lực công tác và cũng thúc đẩy đánh giá khách quan, công tâm Trái lại môi trường không rõ ràng, thiếu công bằng, sẽ làm ảnh hưởng lớn đến những ý kiến đánh giá khách quan, viên chức làm việc không được thoải mái, tận tân, tận tình, hết lòng

Chủ thể đánh giá là người người quản lý, người sử dụng viên chức, còn những kết quả đánh giá là giá trị được đưa ra là nhằm để định hướng cho người dụng lao động có thể sử dụng tiếp tục, phát triển hay là căn cứ chấm dứt hợp đồng đối với trường hợp đó

Thường thì, con người chỉ tin vào dự đoán của chính mình là đúng nên

ít quan tâm đến ý kiến của người khác, nhất là khi không trùng hợp với ý muốn của bản thân chủ yếu dễ nhìn nhận sự vật, hiện tượng và dự đoán nó theo ý muốn chủ quan của cá nhân mình

Nên khi đánh giá, thường chủ thể hay chịu tác động mạnh mẽ đối với hiện tại gần, các hành vi, môi trường, sự kiện mới diễn ra hơn, vì thế sẽ làm lu

Trang 31

mờ những cái cũ hơn, thời gian đã lâu, dù cho đó là những điểm sáng, điểm tốt, cần được nhân rộng

Theo đó kết quả là chủ thể nhận xét, đánh giá chủ quan, chưa xem trọng chất lượng, mức độ những sự việc, những hành vi mới xảy ra thường sẽ được đánh giá quá mức so với thực tế (tốt hơn hoặc xấu hơn) Bắt nguồn cũng từ niềm tin, quan hệ chủ quan của chủ thể đánh giá, nếu chủ thể có thành kiến tốt thì đánh giá,nhận xét thường tốt lên, ngược lại nếu thành kiến không tốt, bị hạn chế thì khi nhận xét, đánh giá sẽ xấu đi

Cho nên để tránh những yếu tố tâm lý trên và để khách quan, công tâm trong đánh giá, ngoài việc chủ thể đánh giá thì cần có các chủ thể khác cùng tham gia sự tham gia để tạo nên sự công bằng, đánh giá đủ, đánh giá đúng, trọng tâm

- Đối tượng đánh giá

Trong cùng đơn vị đối tượng được đánh giá là tất cả các viên chức Mỗi viên chức có trình độ khác nhau, vị trí việc làm khác nhau, có sự khác nhau về nhiệm vụ, quan điểm, cách sống, tính cách và đều có ảnh hưởng đến công tác đánh giá Trong thực tế hiện nay cho thấy việc đánh giá theo cảm tính, chưa thực chất, những những người có kết quả đánh giá thấp thường là những viên chức nhân viên bình thường, không có chức vụ, địa vị trong đơn vị Người đang giữ chức vụ trong đơn vị thường thì được đánh giá là tốt là hoàn thành, ít chú tâm kết quả công tác của họ thực tế ra sao

- Mục đích đánh giá

Đây là yếu tố có ảnh hưởng đến kết quả đánh giá Vì vậy, trong đơn vị người đứng đầu sẽ bị tác động rất lớn.khi quyết định, xem xét kỹ ĐGXLVC cuối năm

- Nội dung, tiêu chí đánh giá

Trong đơn việc chú trọng đến nội dung, các tiêu chí đánh giá viên chức, tiêu chí chung, tiêu chí riêng vì nó rất quan trọng, không phù hợp với từng đối tượng bị đánh giá sẽ không thể đưa đến một kết quả đánh giá khách quan, công bằng và sát thực được, cần không minh bạch, rõ ràng, khoa học, cụ thể

Trang 32

- Phương pháp đánh giá

Phương pháp đánh giá viên chức được lựa chọn áp dụng cách một hợp

lý, logic là tiền đề, là cơ sở để có được kết quả đánh giá khách quan, công bằng, không thì sẽ làm kết đánh giá lệch lạc, không đúng, không thực trong các kết quả đánh giá

Có thể nói, các văn bản pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức nói chung, công tác đánh giá, xếp loại viên chức nói riêng đã xây dựng bộ tiêu chí đánh giá, xếp loại viên chức khá chi tiết và cụ thể Đây là “khung” cơ sở pháp

lý để mỗi cơ quan, đơn vị xây dựng quy chế, đề ra các tiêu chí đánh giá, xếp loại cụ thể phù hợp với vị trí việc làm, chức năng, nhiệm vụ của đơn vị mình Đồng thời, bộ quy chế đã góp phần đánh giá, xếp loại viên chức một cách thống nhất, bảo đảm tính khách quan, chính xác, phù hợp với mỗi đối tượng viên chức, hạn chế tình trạng đánh giá, xếp loại hàng năm mang tính chất chủ quan và cảm tính

Ngày đăng: 27/03/2023, 22:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
15. Bộ Nội vụ (2022), Báo cáo số 5392/BC-BNV ngày 28 tháng 10 năm 2022 của Bộ Nội vụ về một số điều liên quan đến nhóm vấn đề chất vấn thuộc lĩnh vực Nội vụ tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XV Sách, tạp chí
Tiêu đề: về một số điều liên quan đến nhóm vấn đề chất vấn thuộc lĩnh
Tác giả: Bộ Nội vụ
Năm: 2022
20. Vũ Khoan (2009), Một số suy nghĩ về việc xây dựng Luật Viên chức 21. Trần Anh Tuấn (2010), Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số suy nghĩ về việc xây dựng Luật Viên chức "21. Trần Anh Tuấn (2010)
Tác giả: Vũ Khoan (2009), Một số suy nghĩ về việc xây dựng Luật Viên chức 21. Trần Anh Tuấn
Năm: 2010
23. Nguyễn Tư Long (2020), Các chính sách mới áp dụng với CBCCVC 24. Ngô Tự Nam (2010), Pháp luật về viên chức và những đổi mới về phương thức, cơ chế quản lý viên chức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các chính sách mới áp dụng với CBCCVC" 24. Ngô Tự Nam (2010)
Tác giả: Nguyễn Tư Long (2020), Các chính sách mới áp dụng với CBCCVC 24. Ngô Tự Nam
Năm: 2010
28. Ngô Thành Can (2020): Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực thực thi công vụ cho CBCCVC, NXB Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực thực thi công vụ cho CBCCVC
Tác giả: Ngô Thành Can
Nhà XB: NXB Tư pháp
Năm: 2020
1. Chính phủ (2015), Nghị định số 56/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 về đánh giá và phân loại CBCCVC Khác
2. Chính phủ (2017), Nghị định số 88/2017/NĐ-CP ngày 27 -7 -2017 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 56/2015/NĐ-CP Khác
3. Chính phủ (2020), Nghị định số 90/2020/NĐ-CP 13/8/2020 về đánh giá, xếp loại chất lượng CBCCVC Khác
4. Chính phủ (2020), Nghị định số 115/2020/NĐ-CP ngày 25-9-2020 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức Khác
5. Chính phủ (2020), Nghị định 112/2020/NĐ-CP ngày 18-10-2020 về xử lý kỷ luật CBCCVC Khác
6. Chính phủ (2020), Nghị định số 106/2020/NĐ-CP, ngày 10-9-2020 của Chính phủ về vị trí việc làm và số lượng người làm việc trong đơn vị SNCL Khác
7. Chính phủ (2020), Nghị định số 112/2020/NĐ-CP, ngày 18- 9-2020 của Chính phủ về xử lý kỷ luật CBCCVC Khác
8. Chính phủ (2017), Nghị định số 101/2017/NĐ-CP ngày 01 tháng 9 năm 2017 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức Khác
9. Chính phủ (2021), Nghị định 89/2021/NĐ-CP, ngày 18 tháng 10 năm 2021 về Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 101/2017/NĐ-CP ngày 01 tháng 9 năm 2017 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức Khác
10. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (2022), NXB Chính trị Quốc gia Sự thật Khác
11. Pháp lệnh cán bộ, công chức (1998), NXB Chính trị Quốc gia Quốc gia Sự thật Khác
12. Luật cán bộ, công chức (sửa đổi, bổ sung năm 2019), NXB Chính trị Quốc gia Sự thật Khác
13. Luật Viên chức (sửa đổi, bổ sung năm 2019), NXB Chính trị Quốc gia Sự thật Khác
14. Luật Hành chính (2021), NXB Công an nhân dân Khác
17. Thành ủy (2019), Quyết định số 2371-QĐ/TU ngày 24/06/2019 của Ban Thường vụ Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh về ban hành Quy định thực hiện cơ chế tự chủ của các đơn vị sự nghiệp công thuộc Đảng bộ thành phố) Khác
18. Phạm Hồng Thái (2009), Sự điều chỉnh của pháp luật về viên chức Tạp chí Tổ chức nhà nước, website Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w