1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Đánh giá chính sách khen thưởng, bảo vệ người tố cáo tham nhũng trong giai đoạn hiện nay

63 4 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh Giá Chính Sách Khen Thưởng, Bảo Vệ Người Tố Cáo Tham Nhũng Trong Giai Đoạn Hiện Nay
Tác giả Đặng Thúy Nhài
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Vân Hà
Trường học Trường Đại Học Nội Vụ Hà Nội
Chuyên ngành Chính Sách Công
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, thực tiễn bảo vệ, khen thưởng người TC, phát hiện hành vi TN còn có một số hạn chế, bất cập, vướng mắc như: Quy định của pháp luật hiện hành quy định chưa thực sự cụ thể, chi

Trang 1

BỘ NỘI VỤ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI

ĐẶNG THÚY NHÀI

ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH KHEN THƯỞNG, BẢO VỆ NGƯỜI

TỐ CÁO THAM NHŨNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

CHUYÊN NGÀNH: CHÍNH SÁCH CÔNG

Hà Nội - 2022

Trang 2

BỘ NỘI VỤ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI

ĐẶNG THÚY NHÀI

ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH KHEN THƯỞNG, BẢO VỆ NGƯỜI

TỐ CÁO THAM NHŨNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Trang 3

“Đánh giá chính sách khen thưởng, bảo vệ người tố cáo tham nhũng trong giai đoạn hiện nay” là luận văn thạc sĩ ứng dụng của tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Thị Vân Hà Số liệu sử dụng trong luận văn này là trung thực

Tôi xin cam đoan về điều này

Trang 4

Em xin được cảm ơn TS Nguyễn Thị Vân Hà và các Thầy Cô ở Trường Đại học Nội vụ Hà Nội đã giúp em có những kiến thức chuyên ngành chính sách công để em hoàn thành Luận văn

Em cũng muốn bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến các Thầy Cô trong Hội đồng đánh giá luận văn này Em rất biết ơn vì những ý kiến quý báu của các Thầy Cô

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn và thực hiện đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 4

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 4

7 Kết cấu của luận văn 5

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH KHEN THƯỞNG BẢO VỆ NGƯỜI TỐ CÁO THAM NHŨNG 6

1.1 Một số khái niệm cơ bản 6

1.2 Chính sách khen thưởng, bảo vệ người TCTN 10

1.3 Nguyên tắc, chủ thể, tiêu chí và các yếu tố ảnh hưởng đến đánh giá chính sách khen thưởng, bảo vệ người TCTN 11

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến đánh giá chính sách khen thưởng, bảo vệ người TCTN 16

Tiểu kết Chương 1 21

Chương 2 THỰC TRẠNG ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH KHEN THƯỞNG, BẢO VỆ NGƯỜI TỐ CÁO THAM NHŨNG TẠI VIỆT NAM 2.1 Thực tiễn ban hành và thực hiện chính sách khen thưởng bảo vệ người TCTN 22

2.2 Thực tiễn đánh giá chính sách khen thưởng, bảo vệ người TCTN 30

2.3 Nhận xét về đánh giá chính sách khen thưởng, bảo vệ người TCTN 39

Tiểu kết chương 2: 42

Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHÍNH SÁCH BẢO VỆ, KHEN THƯỞNG NGƯỜI TCTN 43

3.1 Phương hướng về khen thưởng, bảo vệ người TCTN 43

3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả khen thưởng, bảo vệ người TCTN 44

Tiểu kết chương 3 54

KẾT LUẬN 55

Trang 7

Trong những năm qua, với quyết tâm chính trị của Đảng và Nhà nước, sự

nỗ lực của các cấp, các ngành, sự tham gia tích cực của người dân, nhiều vụ án

TN đã được phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh, có tác dụng răn đe, ngăn chặn và góp phần hạn chế TN Nhiều cá nhân có thành tích xuất sắc trong PCTN nói chung, TC hành vi TN nói riêng đã được biểu dương, tôn vinh Tuy nhiên, cũng vì đấu tranh chổng TN, không ít người TC đã bị xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp, thậm chí bị trả thù, trù dập, ảnh hưởng rất lớn đến công việc và cuộc sống hàng ngày

Luật Phòng chống tham nhũng năm 2005 (sửa đổi, bổ sung các năm 2007, 2012), Nghị định số 59/2013/NĐ-CP ngày 17 tháng 6 năm 2013 đã có những quy định riêng về bảo vệ người TC Điều 64 Luật PCTN quy định: “Công dân

có quyền TC hành vi TN với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền” Nghị định số 59/2013/NĐ-CP (tại Điều 58) cũng quy định: “Các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền có trách nhiệm thực hiện các biện pháp để bảo vệ người

TC Việc bảo vệ người TC được thực hiện theo quy định của pháp luật về TC” Trên thực tiễn, trong công cuộc đấu tranh PCTN đã xuất hiện nhiều cá nhân tiêu biểu, đại diện cho đông đảo quần chúng nhân dân tích cực trong việc phản ánh, lên án, TC các hành vi vi phạm pháp luật (TN), tiêu cực nơi sinh sống, công tác và làm việc, góp phần đáng kể vào việc ngăn ngừa và từng bước đẩy lùi nạn

TN ở nước ta

Theo tổng hợp của Cục Chống tham nhũng, Thanh tra Chính phủ, kể từ khi có Luật TC năm 2011 đến tháng 3/2015, chỉ có 32% số yêu cầu được bảo vệ của người tố cáo được tiến hành Trong số đó, có 21 trường hợp liên quan đến

TC hành vi TN Ngoài ra, khảo sát của Thanh tra Chính phủ và Ngân hàng Thế giới gần đây cũng đưa ra con số 62% số người được hỏi trả lời lý do khiến họ không TC hành vi TN là “sợ bị trả thù”

Trên thực tế, các hình thức khen thưởng về tinh thần, vật chất đối với người có thành tích xuất sắc trong việc TC, phát hiện hành vi TN được triển khai thực hiện khá tích cực Việc khen thưởng cho cá nhân có thành tích xuất sắc trong TC hành vi TN đã góp phần động viên về mặt tinh thần đối với người TC nói riêng, khích lệ cá nhân khác trong xã hội nỗ lực, phát huy vai trò, trách

Trang 8

nhiệm của mình trong PCTN nói chung Khen thưởng người có thành tích xuất sắc trong TCTN gắn với việc khuyến khích bằng lợi ích vật chất đã góp phần tạo động lực để các cá nhân tích cực hơn trong TCTN

Tuy nhiên, thực tiễn bảo vệ, khen thưởng người TC, phát hiện hành vi TN còn có một số hạn chế, bất cập, vướng mắc như: Quy định của pháp luật hiện hành quy định chưa thực sự cụ thể, chi tiết về cơ chế bảo vệ người TC hành vi

TN, cũng như quy định trong những trường hợp cụ thể nào thì người TC và nhân thân của họ được bảo vệ; Đang có quá nhiều cơ quan có trách nhiệm trong việc bảo vệ người TC trong khi thẩm quyền của các cơ quan này còn hạn chế và chồng chéo, không có cơ quan chuyên biệt bảo vệ người TC; Các biện pháp bảo

vệ người TC còn mang tính định tính, chưa quy định cụ thể về từng biện pháp bảo vệ, trình tự, thủ tục, thẩm quyền quyết định, lực lượng tiến hành bảo vệ, kinh phí để bảo vệ người tố giác, cũng như quy định trong những trường hợp cụ thể nào thì người TC và nhân thân của họ được bảo vệ

Trong bối cảnh tình hình TN và điều kiện thực tiễn ở nước ta hiện nay, bảo

vệ, khen thưởng người TC hành vi TN là biện pháp có thể mang lại hiệu quả tích cực trong công tác PCTN Thực tiễn đặt ra vấn đề để phát huy vai trò của người dân, sự tham gia của xã hội trong PCTN, thì nhất thiết phải quan tâm đến việc bảo vệ cũng như việc khen thưởng người TC hành vi TN

Bên cạnh đó, Việt Nam đã chủ động tham gia các vòng đàm phán xây dựng Công ước của Liên hợp quốc về chống TN và năm 2009 đã phê chuẩn Công ước, trở thành thành viên chính thức của Công ước Việt Nam có trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ của quốc gia thành viên, trong đó có nghĩa vụ bảo

vệ nhân chứng, chuyên gia, nạn nhân của TN và thân nhân của họ

Vì các lý do trên, em chọn đề tài “Đánh giá chính sách khen thưởng, bảo

vệ người TCTN” làm đề tài luận văn tốt nghiệp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả chính sách khen thưởng, bảo vệ người TCTN, nâng cao hiệu quả công tác PCTN và tuân thủ các cam kết quốc tế trong quá trình hội nhập

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trong những năm gần đây, nhiều vấn đề về bảo vệ người TCTN đã được đặt ra những yêu cầu cấp bách nhưng chưa thu hút được nhiều sự quan tâm các nhà nghiên cứu luật học Văn phòng Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN năm

2011 đã chủ trì phối hợp với các cơ quan nội chính Trung ương nghiên cứu về

đề tài “Giải pháp bảo vệ người chống tham nhũng” Tuy nhiên, nội dung mới chỉ dừng lại ở mức độ đánh giá khái quát về công tác đấu tranh PCTN ở góc độ chính trị chứ chưa nghiên cứu quyền được bảo vệ tố cáo hành vi TN từ góc độ kinh tế, văn hóa hay hành chính, dân sự sâu sắc và toàn diện

Năm 2015, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về phòng, chống TN, Thanh tra Chính phủ đã có văn bản đề nghị UBND các tỉnh, thành phố trực

Trang 9

thuộc trung ương, các bộ ngành trung ương và các cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ đề nghị đánh giá, tổng hợp, báo cáo về việc thực hiện qui định pháp luật về bảo vệ người TC

Một số công trình khoa học đã được công bố gồm:

Đề tài luận văn thạc sĩ của Phạm Linh Chi (2017) “Pháp luật về bảo vệ người tố cáo tham nhũng ở Việt Nam hiện nay”, khoa Luật, trường Đại học Quốc gia Hà Nội;

Đề tài cấp Bộ “Bảo vệ, khen thưởng người tố giác hành vi TN của TS Phạm Thị Thu Hiền, Phó Viện trưởng Viện Khoa học Thanh tra, Thanh tra Chính phủ (năm 2017);

Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Văn Sỹ (2018) về Bảo vệ người tố cáo hành

vi tham nhũng ở Việt Nam hiện nay, Học viện Khoa học xã hội;

Sách chuyên khảo: “Bảo vệ người tố cáo trong pháp luật Việt Nam” của Nguyễn Văn Quốc, Vũ Công Giao - Hà Nội, nhà xuất bản Hồng Đức, 2017;

“Phát huy vai trò của xã hội trong phòng, chống tham nhũng” tác giả Nguyễn Quốc Văn, Vũ Công Giao, Xuất bản: Nxb Hồng Đức, 2017;

Đề tài “Cơ chế bảo vệ người TCTN” và để tài “Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác tiếp nhận và giải quyết TCTN của Thanh tra Chính phủ”

- Sách tham khảo “Giải pháp thay thế sự im lặng – Bảo vệ người tố cáo ở

10 quốc gia Châu Âu” do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự thật xuất bản

năm 2011;

- Các bài báo, Tạp chí đăng tải liên quan đến nghiên cứu lý luận về giải quyết TC và bảo vệ người TC; Nâng cao hiệu quả công tác đầu tranh phòng, chống tham nhũng”; “Một số kiến nghị tăng cường các biện pháp bảo vệ người TCTN”…

Các đề tài nói trên đã nhận diện, đánh giá được thực trạng chính sách bảo vệ người TCTN, kiến nghị một số giải pháp về bảo vệ người TCTN Tuy nhiên, việc đánh giá còn dừng ở góc độ bảo vệ người TC nói chung trong giải quyết khiếu nại,

tố cáo hoặc đánh giá chung về việc bảo vệ người TCTN chứ chưa nghiên cứu toàn diện và kiến nghị giải pháp toàn diện

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu nhằm góp phần nâng cao hiệu quả chính sách khen thưởng, bảo vệ người TCTN

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nhằm hoàn thành mục đích nghiên cứu nêu trên luận văn giải quyết các nhiệm vụ cụ thể sau:

- Hệ thống hóa, làm sáng tỏ lý luận đánh giá chính sách khen thưởng, bảo

vệ người TCTN của Việt Nam

Trang 10

- Làm rõ thực trạng đánh giá chính sách khen thưởng, bảo vệ người TCTN ở Việt Nam

- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả của chính sách khen thưởng, bảo vệ người TCTN

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là đánh giá chính sách khen thưởng, bảo vệ người TCTN trong giai đoạn hiện nay

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về nội dung: Trong khuôn khổ đề tài luận văn, tác giả tiếp cận

đánh giá chính sách khen thưởng, bảo vệ người TCTN từ góc độ đánh giá chính sách công Tác giả không xem xét khen thưởng người TCTN như một chính sách độc lập từ góc độ của Luật Thi đua khen thưởng mà xem xét khen thưởng là một hình thức, một cấp độ bảo vệ người TCTN, công khai việc bảo vệ người TCTN

- Phạm vi thời gian: Luận văn nghiên cứu nội dung đánh giá chính sách

chính sách khen thưởng, bảo vệ người TCTN trong vòng 10 năm (từ năm 2012

là năm Luật PCTN sửa đổi có hiệu lực đến nay Phần đề xuất quan điểm và giải pháp đến năm 2025

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận: Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử

- Phương pháp cụ thể: Phân tích và tổng hợp Phương pháp này được sử

dụng khi phân tích các số liệu thực tế về kết quả thực hiện chính sách khen thưởng, bảo vệ người TCTN, từ đó tổng hợp, đánh giá và phân tích Việc tổng hợp nhằm mục đích đưa ra những luận giải, nhận xét và đề xuất của tác giả ở các chương về thực trạng và quan điểm, giải pháp

- Phương pháp thống kê, tổng kết thực tiễn: Luận văn thống kê các báo cáo,

đề án, đề tài có liên quan đến chính sách khen thưởng, bảo vệ người TCTN

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

- Luận văn góp phần hệ thống hóa những vấn đề lý luận đánh giá chính sách công Cung cấp những luận cứ khoa học cho việc thực hiện đánh giá chính sách khen thưởng, bảo vệ người TCTN

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn nhằm hoàn thiện đánh giá chính sách, góp phần nâng cao hiệu quả việc đánh giá chính sách khen thưởng, bảo vệ người TCTN trong thời gian tới Tham mưu trong công tác hoạch định chính sách công

Từ những kết quả nghiên cứu đạt được, luận văn mong muốn cung cấp tài liệu tham khảo trong các công trình nghiên cứu về đánh giá chính sách công, đặc biệt là chính sách khen thưởng, bảo vệ người TCTN

Bên cạnh đó, luận văn cũng mong muốn góp phần vào công tác vận động,

Trang 11

tuyên truyền quá trình xây dựng chính sách khen thưởng, bảo vệ người TCTN đến cán bộ, đảng viên và nhân dân

7 Kết cấu của luận văn gồm

Trang 12

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH KHEN THƯỞNG,

BẢO VỆ NGƯỜI TỐ CÁO THAM NHŨNG 1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Khái niệm tố cáo và tham nhũng

1.1.1.1 Quan niệm về tố cáo

TC là quyền của công dân, là phương thức để công dân giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước và bảo vệ lợi ích của nhà nước, xã hội và công dân

Đại Từ điển tiếng Việt nêu “tố” là “nói về những sai phạm, tội lỗi của

người khác một cách công khai trước người có thẩm quyền hoặc trước nhiều người” [4, tr.358],

hay “nói công khai cho mọi người biết việc làm sai trái,

phạm pháp của người khác” [4, tr.358]; “TC là “vạch rõ tội lỗi của kẻ khác trước cơ quan pháp luật hoặc trước dư luận” [4, tr.358] Đây là cách hiểu và sự

nhìn nhận dưới phương diện xã hội, được sử dụng rộng rãi và phổ biến Theo đó,

“TC là phản ứng thể hiện sự bất bình của cá nhân trước các hành vi tiêu cực, trái pháp luật của người, chủ thể khác và thông báo cho người, tổ chức khác biết về hành vi đó để có thái độ, biện pháp giải quyết Dưới góc độ khoa học pháp lý, TC là phương thức để công dân giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân,

cơ quan, tổ chức” [4, tr.359]

Luật Tố cáo năm 2011: “TC là việc công dân theo thủ tục do Luật này

quy định, báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức” [9, Điều 2]

1.1.1.2 Quan niệm về tham nhũng

Theo Tổ chức Minh bạch Quốc tế (Transparency International - TI), tham nhũng là “hành vi lợi dụng quyền hành để gây phiền hà, khó khăn và lấy của

dân” [31]

Luật Phòng chống tham nhũng 2018 nêu:“TN là hành vi của người có

chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi”[13, Điều 3]

Luật Phòng chống tham nhũng năm 2018 quy định các hành vi tham

nhũng gồm: “Tham ô tài sản; Nhận hối lộ; Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm

đoạt tài sản; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ

vì vụ lợi; Lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi; Giả mạo trong công tác vì vụ lợi; Đưa hối lộ, môi giới hối lộ để giải quyết công việc của

cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản công vì vụ lợi; Nhũng nhiễu vì vụ lợi; Không thực

Trang 13

hiện, thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật vì

vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc giám sát, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi” [13, Điều 2]

1.1.1.2 Quan niệm về tố cáo hành vi tham nhũng

Trong xã hội tồn tại nhiều dạng TC khác nhau Tuy nhiên, ở góc độ khoa học pháp lý, TC phải được tiếp cận hướng vào những hành vi, việc làm trái pháp luật xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức

Tố cáo hành vi TN và TC thông thường có một số điểm khác nhau cơ bản

về hình thức, đối tượng và nội dung Phân tích cụ thể như sau:

- Về hình thức: TC thông thường chỉ được thực hiện dưới hai hình thức là

TC trực tiếp và TC bằng đơn, trong khi đó TC hành vi TN còn có thể thực hiện bằng nhiều hình thức khác như TC bằng điện thoại, TC bằng thông điệp dữ liệu,

TC bằng các hình thức khác theo quy định của pháp luật

- Về đối tượng: TC thông thường có rất nhiều đối tượng khác nhau Trong

TC hành vi TN, đối tượng bị TC chỉ có thể là cá nhân và phải là người có chức

vụ, quyền hạn

- Về nội dung: Trong TC hành vi TN, ngoài việc báo cho cơ quan, người

có thẩm quyền về hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó, người TC thường mô tả cả biểu hiện cụ thể về lợi ích vật chất, tinh thần mà người thực hiện hành vi đạt được hoặc có thể đạt được Nghĩa là phải xem xét đồng thời cả yếu tố “hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn” và yếu

tố “vụ lợi” trong việc thực hiện hành vi đó

Như vậy, TC hành vi TN là hành động của cá nhân theo thủ tục pháp luật quy định thông tin cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vỉ của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đổ để vụ lợi, xâm phạm tới lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích của cơ quan, tổ chức, cá nhân

Trong khuôn khổ luận văn này, TC hành vi TN được gọi chung là TCTN

1.1.2 Khái niệm bảo vệ người tố cáo tham nhũng

Theo Đại Từ điển Tiếng Việt thì “bảo vệ” là “chống lại mọi sự hủy hoại,

xâm phạm để giữ cho được nguyên vẹn; bênh vực bằng lý lẽ để giữ vững ý kiến hay quan điểm”[4, tr.129] Bảo vệ một người đơn giản được hiểu là bảo đảm an

toàn cho người đó

Bảo vệ người TC không chỉ là bảo vệ bản thân người TC mà bao gồm bảo

vệ người thân thích của người TC, tài sản của người TC, danh dự, nhân phẩm và việc làm của người TC Thuật ngữ bảo vệ người TC có thể được hiểu là hành động ngăn chặn hành vi đe dọa, trả thù hay trù dập, phân biệt đối xử bất bình đẳng (gọi chung là trả thù) người TC bởi những đối tượng bị TC hoặc chống lại

Trang 14

những rủi ro pháp lý mà người TC có thể phải gánh chịu để giữ cho sự nguyên vẹn và an toàn về tính mạng, sức khỏe, tình trạng việc làm, trạng thái tâm lý và các quyền lợi khác sau khi có hành động TC

Bảo vệ người TCTN là tổng thể các hoạt động của cá nhân, cơ quan, tổ chức được nhà nước trao quyền nhằm phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý các hành vi

đe dọa, trả thù của người bị TC đối với người TC hoặc người thân thích của người TC; đồng thời khôi phục lại quyền, lợi ích hợp pháp của người TC và bồi thường thiệt hại cho người bị trả thù (nếu có); miễn, giảm trách cho người TC

khi họ phải chịu trách nhiệm pháp lý từ việc thực hiện quyền TC

Như vậy, chủ thể bảo vệ người TCTN là các cơ quan, tổ chức, cá nhân có

thẩm quyền được pháp luật quy định, bao gồm các cơ quan hành chính nhà nước

và sự tham gia của các cơ quan tư pháp, các thiết chế xã hội như báo chí hay các

tổ chức xã hội mà người TC là thành viên của tổ chức đó như Mặt trận tổ quốc,

tổ chức Công đoàn, Đoàn thanh niên mà trách nhiệm chính thuộc về người giải

quyết TC; Đối tượng bảo vệ người TC gồm người TC và những người thân thích

của người TC như vợ hoặc chồng, con cái, bố mẹ, anh em ruột thịt

1.1.3 Khái niệm khen thưởng người tố cáo tham nhũng

Theo Đại Từ điển tiếng Việt “Khen thưởng là khen và thưởng bằng hiện

vật xứng với thành tích, công lao” [4, tr.567] Còn Luật Thi đua khen thưởng

2022 nêu: “Khen thưởng là việc ghi nhận, biểu dương, tôn vinh và khuyến khích

bằng lợi ích vật chất đối với cá nhân, tập thể, hộ gia đình có thành tích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [14, Điều 3]

TCTN là hành động dũng cảm của người TC, hành động này có ý nghĩa quan trọng đối với cơ quan nhà nước trong việc kịp thời phát hiện, xử lý TN, tiêu cực Với vai trò tích cực trong việc phản ánh, lên án, TC các hành vi TN, tiêu cực nơi sinh sống, công tác và làm việc đó, người TC xứng đáng được khen thưởng để được động viên, khích lệ kịp thời

Theo đó, có thể hiểu khen thưởng người TCTN là việc Nhà nước ghi nhận, biểu dương, tôn vinh công trạng và khuyến khích bằng lợi ích vật chất đối với cá nhân có thành tích trong việc phát hiện, chỉ ra sai phạm của người có

chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó để vụ

Điều kiện tiên quyết để khen thưởng người TCTN là hành vi đó phải giúp

Nhà nước phát hiện yếu tố TN Yêu cầu của khen thưởng phải tương xứng với thành tích đạt được, thủ tục khen thưởng phù hợp nhằm tích cực động viên, khuyến khích cá nhân lập thành tích xuất sắc trong việc TCTN, thu hồi tài sản

TN cho Nhà nước

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, người nghiên cứu không xem xét khen thưởng người TCTN như một chính sách độc lập từ góc độ của Luật Thi đua khen thưởng mà xem xét khen thưởng là một hình thức, một cấp độ bảo

Trang 15

vệ người TCTN, công khai việc bảo vệ người TCTN

Bảo vệ và khen thưởng người TCTN có mối liên hệ khá chặt chẽ, thể hiện trên một số điểm sau:

Một là, bảo vệ người TCTN và khen thưởng người TCTN đều có gốc chung là “TC hành vi TN”: Việc bảo vệ hay khen thưởng người TCTN đều hướng đến việc giúp công dân thực hiện quyền TC, quyền hiến định được nhà nước đảm bảo và ghi nhận Việc khen thưởng cá nhân có thành tích xuất sắc trong PCTN nói chung là công khai nhưng trong nhiều trường hợp, người TCTN cần được bảo vệ bí mật thông tin Do đó, trong khi tiến hành bảo vệ người TC vẫn thực hiện được đầy đủ chính sách khen thưởng, động viên đối với thành tích của người đó và nêu gương để người khác noi theo

Hai là bảo vệ, khen thưởng người TCTN có tác dụng động viên, khuyến khích người dân tham gia PCTN: Bảo vệ, khen thưởng người TCTN nhìn chung đều có tác dụng động viên, khuyến khích người dân tích cực tham gia vào công cuộc đấu tranh PCTN, đồng thời góp phần tạo niềm tin của công dân đối với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước

Ba là, bảo vệ, khen thưởng người TCTN đều giúp phát huy vai trò của xã hội trong PCTN: Theo quan niệm chung hiện nay, phát huy vai trò của xã hội trong PCTN là một yếu tố thiết yếu trong hệ thống các biện pháp PCTN hiệu quả Đấu tranh chống TN do Đảng và Nhà nước lãnh đạo được coi là một nhiệm

vụ trọng tâm của công tác xây dựng Đảng, nhiệm vụ trực tiếp, thường xuyên của

cả hệ thống chính trị và toàn xã hội Vì vậy, việc khuyến khích người dân tham gia TCTN, đồng thời phải có hình thức khen thưởng xứng đáng là hai biện pháp

hỗ trợ tích cực cho nhau nhằm đảm bảo phát huy vai trò của xã hội trong PCTN

1.1.3 Khái niệm đánh giá chính sách công

Khái niệm chính sách công

Trên thế giới và ở Việt Nam, có nhiều nhà nghiên cứu đưa ra các khái niệm

về chính sách công: Hugh Heclo (năm 1972) đưa ra định nghĩa về chính sách như

là “một đường lối hành động hoặc không hành động thay vì những quyết định hoặc các hành động cụ thể”

Các nghiên cứu ở Việt Nam thống nhất: Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào chính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa… Chính sách công là thuật ngữ dùng để chỉ một chuỗi các quyết định hoạt động của nhà nước nhằm giải quyết một vấn đề chung đang đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo mục tiêu xác định

Khái niệm đánh giá chính sách công

Đánh giá chính sách công được hiểu là một giai đoạn của quy trình chính sách bao gồm hệ thống các hoạt động nghiên cứu nhằm đánh giá kết quả của

Trang 16

việc lựa chọn, thực thi chính sách, và đánh giá khả năng cần thiết dẫn đến sự thay đổi chính sách [6, tr.120 ]

Do đó, đánh giá chính sách công là để cung cấp các thông tin liên quan đến kết quả chính sách và các giá trị đạt được của chính sách; dựa trên nhiều tiêu chí đánh giá như hiệu suất, hiệu quả, công bằng hay tính tương thích; hoặc các nguồn lực để thực hiện, các yêu cầu đào tạo, nhân lực thực thi

Khái niệm đánh giá chính sách khen thưởng, bảo vệ người TCTN: Đánh giá chính sách khen thưởng, bảo vệ người TCTN là một giai đoạn của quy trình chính sách bao gồm hệ thống các hoạt động nghiên cứu nhằm đánh giá kết quả của việc lựa chọn, thực thi chính sách và đánh giá khả năng cần thiết dẫn đến sự thay đổi chính sách

Đánh giá chính sách khen thưởng, bảo vệ người TCTN là để cung cấp các thông tin liên quan đến kết quả chính sách và các giá trị đạt được của chính sách; tiếp tục kiến nghị các giải pháp hoàn thiện chính sách khen thưởng, bảo vệ

người TCTN; nâng cao hiệu quả chính sách khen thưởng, bảo vệ người TCTN

Đánh giá chính sách chính sách khen thưởng, bảo vệ người TCTN là khâu quan trọng của chu trình chính sách khen thưởng, bảo vệ người TCTN trong quá khứ, từ đó hình thành căn cứ xây dựng các chính sách khen thưởng, bảo vệ người TCTN mới

Kết quả đánh giá chính sách giúp ta biết được vấn đề chính sách có thay đổi gì không? Các nguyên nhân vấn đề chính sách có thay đổi không? Các giải pháp chính sách có được thực hiện hiệu quả? Tính kinh tế của các giải pháp chính sách? Các giải pháp chính sách có giải quyết được các nguyên nhân chính sách không? Cần điều chỉnh gì đối với chính sách mới không? Đã đến lúc kết thúc chính sách khen thưởng, bảo vệ người TCTN chưa?

Quan điểm gốc của việc đánh giá này là bên cạnh việc hoạch định và xây dựng các chính sách hoàn toàn mới, chính sách công thường được sửa đổi và ban hành từ các chính sách công đã thực hiện trong quá khứ Kết quả của hoạt động giám sát, đánh giá chính sách là căn cứ quan trọng cho việc sửa đổi chính sách công Các kết quả đánh giá chính sách cũng là căn cứ để kết thúc một chính sách, khẳng định chỉnh sách có thành công hay không Nội dung đánh giá chính sách khen thưởng, bảo vệ người TCTN thông qua các bước trong phạm vi đề tài này cũng nhằm tới mục tiêu nói trên

1.2 Chính sách khen thưởng, bảo vệ người tố cáo tham nhũng

Được thể hiện ở nhiều văn bản qui phạm pháp luật khác nhau: Luật Tố cáo, Luật Phòng chống tham nhũng, Bộ Luật Hình sự… nội dung chính của hệ thống chính sách khen thưởng, bảo vệ người TCTN gồm:

Về hình thức khen thưởng:

Hình thức khen thưởng áp dụng cho trường hợp người TC có hành động

Trang 17

dũng cảm cứu tài sản của Nhà nước, của Nhân dân với thành tích đạt được có tác dụng động viên, giáo dục, nêu gương sáng; hoặc với trường hợp người TC

đã hy sinh anh dũng trong khi cứu người, cứu tài sản của Nhà nước, được nhân dân kính phục, nêu gương, học tập

Hình thức khen thưởng áp dụng cho trường hợp người TC đã dũng cảm

TC, tích cực cộng tác với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc phát hiện, ngăn chặn, xử lý hành vi vi phạm pháp luật gây hậu quả rất nghiêm trọng; thành tích đạt được có tác dụng động viên, giáo dục, nêu gương sáng; hoặc bị thương tích, tổn hại cho sức khỏe mà tỷ lệ thương tật đạt tỷ lệ phần trăm

do pháp luật quy định do TC đã ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật

Hình thức khen thưởng cá nhân có thành tích xuất sắc trong việc TC, phát hiện TN cũng khá đa dạng, đó là giấy khen, bằng khen, huân huy chương của

cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền kèm theo đó là thưởng về vật chất nhằm khuyến khích, động viên người TCTN Các hình thức khen thưởng áp dụng cho các trường hợp người TCTN đạt thành tích xuất sắc phải tùy theo mức

độ tương ứng

Về nội dung bảo vệ người TCTN gồm:

Một là, bí mật thông tin người TC gồm bí mật thông tin cá nhân gồm họ

tên, tuổi, địa chỉ, nơi làm việc, gia đình, người thân được bảo vệ

Hai là, tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm, uy tín và các

quyền nhân thân khác của người TC và người thân thích của người TC được bảo

vệ

Ba là, vị trí công tác, việc làm của người TC, người thân thích của người

TC được bảo vệ Chính quyền cơ sở trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm bảo đảm để người TC không bị phân biệt đối xử trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của công dân tại nơi cư trú; không bị phân biệt đối xử, trả thù, trù dập, đe dọa, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người TC tại nơi cư trú Bên cạnh đó, người TC và người thân thích không

bị trù dập, cản trở trong công việc, người có thẩm quyền quản lý, sử dụng cán

bộ, công chức, viên chức, người lao động phải bảo đảm vị trí công tác, không được phân biệt đối xử về việc làm đối với người TC và người thân thích dưới mọi hình thức, không được trả thù, trù dập, đe dọa, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người TC tại nơi công tác

1.3 Nguyên tắc, chủ thể, tiêu chí và các yếu tố ảnh hưởng đến đánh giá chính sách khen thưởng, bảo vệ người tố cáo tham nhũng

1.3.1 Nguyên tắc

Luật Ban hành văn bản Quy phạm pháp luật quy định: “Đề nghị xây dựng

luật, pháp lệnh phải dựa trên các căn cứ sau đây:… Kết quả tổng kết thi hành pháp luật hoặc đánh giá thực trạng quan hệ xã hội liên quan đến chính sách của

Trang 18

dự án luật, pháp lệnh” [8, Điều 32] Như vậy, đánh giá chính sách gồm chính

sách hiện hành có liên quan, đang được thực thi hoặc trường hợp chính sách đã kết thúc và chưa có quy định mới… dẫn đến lý do cần đề xuất chính sách đưa

vào đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh

Còn Nghị định 34/2016/NĐ-CP quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản Quy phạm pháp luật, thì tác động của chính sách được

đánh giá gồm: “Tác động về kinh tế; Tác động về xã hội của CS; Tác động về

giới của CS (nếu có); Tác động của thủ tục hành chính (nếu có); Tác động đối với hệ thống pháp luật được ĐG trên cơ sở phân tích, dự báo khả năng về thi hành và tuân thủ của các cơ quan, tổ chức, cá nhân, tác động đối với tổ chức bộ máy nhà nước, khả năng thi hành và tuân thủ của Việt Nam đối với các điều ước quốc tế” [15, Điều 6]

Nghị định 34/2016/NĐ-CP quy định phương pháp đánh giá tác động của

chính sách “theo phương pháp định lượng, phương pháp định tính” [15, Điều 7]

Trong khuôn khổ của đề tài này, tác giả chọn nguyên tắc đánh giá theo qui định tại [14, Điều 6]

1.3.2 Chủ thể đánh giá

Luật Ban hành văn bản Quy phạm pháp luật về đánh giá tác động của

chính sách trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh qui định: “Cơ quan, tổ chức

có trách nhiệm tiến hành đánh giá tác động của từng chính sách trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh” [8, Điều 35]

Như vậy, ở đây, chủ thể đánh giá chính sách khen thưởng, bảo vệ người TCTN gồm:

- Cơ quan hành chính nhà nước gồm: Chính phủ và các Bộ, ban ngành như Thanh tra Chính phủ, Bộ Công an, Bộ Nội vụ, Bộ Lao động, Thương binh

và Xã hội, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (trong vai trò phản biện xã hội theo qui định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Trong đó, Chính phủ chịu trách nhiệm đánh giá chính sách khen thưởng, bảo vệ người TCTN sau một quá trình ban hành các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật; đánh giá sự phù hợp hay bất cập của từng chính sách trong thực tiễn; đánh giá tác động của chính sách trong đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và trong dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật về khen thưởng, bảo vệ người TCTN Các Bộ, ban ngành như Thanh tra Chính phủ, Bộ Công an,

Bộ Nội vụ, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội; tùy chức năng nhiệm vụ của mình mà tiến hành đánh giá chính sách chung do Chính phủ ban hành (Nghị định, Chỉ thị ) đồng thời thực hiện đánh giá sâu đối với phần chính sách do mình xây dựng, ban hành và việc triển khai các chính sách đó trong thực tiễn; từ

đó kiến nghị bổ sung, duy trì hay chấm dứt chính sách

Trang 19

Cụ thể: Thanh tra Chính phủ sẽ là đầu mối đánh giá việc thực hiện Luật PCTN và các Nghị định hướng dẫn thực hiện Đồng thời, Thanh tra Chính phủ

và Bộ Nội vụ có trách nhiệm báo cáo việc thực hiện chính sách khen thưởng người TCTN đối với các Thông tư do Thanh tra Chính phủ và Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính ban hành; rà soát việc triển khai tại các địa phương có điểm vướng nào; địa phương nào thực hiện đúng, địa phương nào thực hiện chưa đúng để hướng dẫn, điều chỉnh Bộ Lao động Thương binh và Xã hội có trách nhiệm đánh giá việc bảo vệ vị trí việc làm của người TCTN và người thân (gồm bố mẹ,

vợ, chồng, con của người TCTN) Bộ Công an có trách nhiệm đánh giá việc bảo

vệ an toàn sức khỏe, tính mạng và tài sản của người TCTN; việc thực hiện cơ

chế bảo vệ người TCTN…

- Các cơ quan, tổ chức khác: Có thể là các cơ quan Nhà nước khác như Quốc hội, Hội đồng nhân dân thông qua cơ chế giám sát, các cơ quan tòa án; các nhóm đánh giá độc lập gồm các thành viên hoạt động với tư cách chuyên gia đánh giá, có thể từ cơ quan nhà nước hoặc ngoài nhà nước, song các thành viên

sẽ thực hiện việc đánh giá độc lập, khách quan theo mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể của nhóm

1.3.3 Tiêu chí đánh giá chính sách khen thưởng, bảo vệ người tố cáo

(i) Đánh giá tính hiệu lực của chính sách

Hiệu lực của chính sách công phản mối quan hệ giữa kết quả đạt được so với mục tiêu chính sách đề ra; là phản ánh mức độ ảnh hưởng của chính sách trên thực tế có đạt được mục tiêu của chính sách hay không; mức độ tuân thủ của các cơ quan, tổ chức, cá nhân Hiệu lực của chính sách thường được đo lường dưới hình thức các đơn vị sản phẩm hoặc dịch vụ hoặc giá trị tiền tệ [7, tr.98]

Các giáo trình về hoạch định chính sách đều nêu, đánh giá hiệu lực chính sách rất có ích cho các nhà hoạch định chính sách Tuy nhiên, đây cũng là khâu khó thực hiện nhất Việc đánh giá này đòi hỏi người đánh giá thực hiện tốt việc đánh giá đầu ra kết quả đầu ra và hiểu một cách đầy đủ và rõ ràng các mục tiêu của chính sách

Đánh giá hiệu lực của chính sách có thể xác định các đầu vào đầu ra và kết quả đầu ra của một chính sách Bên cạnh đó, nó còn xác định liệu phương án chính sách đang thực hiện này có tạo ra các kết quả phù hợp với mục tiêu của chính sách công hay không

Trong đánh giá này, kết quả thực thi của chính sách khen thưởng, bảo vệ người TC được so sánh với những mục tiêu mong muốn để xác định liệu chính sách đó có đang đạt được các mục tiêu hay không, hoặc có cần điều chỉnh các mục tiêu chính sách hay không, từ đó đưa ra khuyến nghị sửa đổi chính sách

(ii) Đánh giá tính hiệu quả của chính sách

Trang 20

Đánh giá tính hiệu quả của một chính sách sẽ lượng tính được kết quả đạt được của chính sách đó với đầu vào đã bỏ ra để thực thi chính sách Đánh giá hiệu quả chính sách khen thưởng, bảo vệ người TC đặc biệt có ý nghĩa trong thực tiễn quản lý ngân sách hiện nay

Đây là tiêu chí phổ biến nhất, thường xuyên được đề cập và là tiêu chí để đánh giá sự thành công của chính sách trong thực tiễn quản lý Nhà nước Đề ra mục tiêu của chính sách cũng chính là tính đến hiệu quả của chính sách; là lý do đầu tiên, cơ bản nhất để bất kỳ một Nhà nước nào xây dựng chính sách công trong quản lý

(iii) Đánh giá tính thống nhất, đồng bộ của chính sách

Tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật được xem xét trong cả hệ thống pháp luật cũng như trong từng bộ phận hợp thành của hệ thống ở các cấp

độ khác nhau

Điều đó có nghĩa là, giữa các ngành luật trong hệ thống pháp luật; giữa các chế định pháp luật trong cùng một ngành luật; giữa các quy phạm pháp luật trong một chế định pháp luật phải thống nhất, đồng bộ, không chồng chéo, mâu thuẫn hay không trái ngược nhau Đặc biệt, không có hiện tượng trùng lặp, chồng chéo, mâu thuẫn giữa các quy phạm pháp luật trong mỗi bộ phận và trong các bộ phận khác nhau của hệ thống pháp luật Sự thống nhất của hệ thống pháp luật là điều kiện cần thiết bảo đảm cho sự triệt để, công bằng và khả thi trong việc thực hiện pháp luật

Điều này đòi hỏi các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành phải đảm bảo sự thống nhất về nội dung và cả tính thứ bậc trong nguyên tắc phân cấp, thực thi

(iiii) Đánh giá tính công bằng của chính sách

Một chính sách công bằng là chính sách mà có tác động hoặc các đóng góp được phân bố đều nhau hoặc bằng nhau Đánh giá tính công bằng của chính sách cần xem xét đến các khái niệm về công lý, sự công bằng và cả những mâu thuẫn đạo đức xung quanh, là cơ sở thích hợp cho việc phân bổ các nguồn lực trong xã hội trong việc xác định rõ ràng các mục tiêu cho toàn xã hội

Thực tiễn chỉ ra rằng, các cá nhân và các nhóm xã hội có những giá trị khác nhau Vì vậy, cần xem xét việc thực thi một chính sách có tối đa khoa phúc lợi xã hội và phúc lợi của các cá nhân hoặc một nhóm cụ thể hay không?

Đánh giá tính công bằng của một chính sách là đi tìm câu trả lời cho câu hỏi, chi phí và lợi ích của chính sách có được phân bổ công bằng giữa các cá nhân và nhóm người khác nhau trong xã hội hay không?

(iiiii) Đánh giá tính đáp ứng của chính sách

Tính đáp ứng của một chính sách cho thấy mức độ mà chính sách đó thỏa mãn các nhu cầu, sở thích, hoặc các giá trị của nhóm xã hội cụ thể Ở đây có thể

Trang 21

hiểu là bản chất giữa các nhóm lợi ích, nhóm đối tượng khác nhau có nhu cầu lợi ích và nhu cầu thỏa mãn khác nhau Việc một chính sách đáp ứng được nhu cầu, yêu cầu của nhóm này mà không đáp ứng được nhu cầu, yêu cầu của nhóm khác là hoàn toàn bình thường Vì vậy, cần xem xét, đánh giá chính sách khen thưởng, bảo vệ người TCTN ở tiêu chí tính đáp ứng của chính sách

Do vậy, đánh giá tính đáp ứng của một chính sách là quan trọng Bởi lẽ, một chính sách công được thực hiện có thể thỏa mãn tất cả các tiêu chí như hiệu lực, hiệu quả, công bằng nhưng vẫn không đáp ứng được những nhu cầu thực sự của một nhóm cụ thể

(iiiiii) Đánh giá tính đầy đủ của chính sách

Tính đầy đủ của một chính sách công cho thấy mức độ giải quyết vấn đề của một chính sách công Đánh giá tính đầy đủ của chính sách nghĩa là trả lời câu hỏi việc đạt được các kết quả của chính sách đã giải quyết được vấn đề ở mức độ nào?

Vì thế, để đánh giá được tính đầy đủ của một chính sách người đánh giá cần phải theo dõi kết quả của chính sách và biểu hiện của vấn đề chính sách trong một giai đoạn dài và phải tiến hành định kỳ; có thể được tiến hành bởi nhiều nhóm, tổ chức và góc độ khác nhau

1.3.2 Qui trình đánh giá chính sách khen thưởng, bảo vệ người tố cáo tham nhũng

Hoạt động đánh giá chính sách khen thưởng, bảo vệ người TCTN được thực hiện theo quy trình đánh giá chính sách công gồm nhiều bước khác nhau trong đó những bước chủ yếu gồm:

(i) Xác định đối tượng

Xác định đối tượng là bước đầu tiên và quan trọng nhất của đánh giá chính sách Cá nhân hay tổ chức tiến hành đánh giá chính sách phải xác định rõ các thành tố của mô hình logic về kết quả chính sách, bao gồm xác định rõ các đầu ra và kết quả đầu ra của chính sách

(ii) Xây dựng chỉ tiêu đánh giá

Các chỉ tiêu đánh giá kết quả là các biến số định tính hoặc định lượng cung cấp một phương tiện đơn giản và tin cậy để đo lường thành tựu phản ánh những thay đổi liên quan đến một can thiệp chính sách chương trình hoặc dự án giúp đánh giá kết quả thực thi chính sách so với kết quả mong muốn đã tuyên bố [7, tr.107]

Việc xây dựng các chỉ số đo lường kết quả cho phép các nhà quản lý đánh giá được mức độ đạt được các kết quả mong muốn Xây dựng các chỉ số đo lường kết quả là hoạt động chính trong đánh giá chính sách, giúp định hướng tất

cả việc thu thập dữ liệu phân tích và báo cáo kết quả đánh giá

(iii) Xác định chỉ tiêu kết quả

Trang 22

Chỉ tiêu kết quả là một mục tiêu xác định được biểu thị bằng những con

số thời gian và địa điểm và mục tiêu đó được hoàn thành

Việc thiết lập các chỉ tiêu kết quả được dựa trên cơ sở các kết quả các chỉ

số kết quả và dữ liệu cơ sở Vì vậy, khi xây dựng các tiêu chí kết quả cần tham khảo mức độ kết quả hoặc xu hướng trong quá khứ hoặc chỉ tiêu kết quả của các địa phương cơ quan tổ chức khác nhau

Xác định các chỉ tiêu kết quả căn cứ vào các yếu tố: Dữ liệu cơ sở vào nguồn lực để thực thi chính sách; Bản chất chính trị của quá trình thiết lập chỉ tiêu kết quả; Chỉ số đo lường kết quả

(iiii) Đo lường kết quả thực tế

Bước tiếp theo sau khi chúng ta đã xác định được các chỉ tiêu kết là tiến hành đo lường kết quả thực tế tương ứng với các chỉ số đo lường kết quả đã xác định Để đo lường được các kết quả thực tế, tổ chức, cá nhân đánh giá chính sách cần tiến hành thu thập dữ liệu phản ánh hiện trạng các kết quả

(iiiii) Phân tích kết quả đo lường

Việc phân tích kết quả đo lường giúp cải thiện các dự án chương trình và chính sách Phân tích và báo cáo dữ liệu cung cấp thông tin liên tục, quan trọng

về tình trạng của dự án chương trình và chính sách và cung cấp các bằng chứng

về những vấn đề phát sinh trong suốt quá trình thực hiện và tạo ra cơ hội cải thiện quá trình thực hiện

(iiiiii) Lưu trữ và sử dụng kết quả đánh giá

Kết quả đánh giá chính sách được sử dụng trong: Khởi đầu cho các kiểm tra sâu về các vấn đề kết quả thực hiện tồn tại và những điều chỉnh cần thiết; Trình bày rõ ràng chính xác và giám sát kết quả thực hiện của các bên và người thụ hưởng; Cung cấp dữ liệu cho các đánh giá chính sách sau đặc biệt giúp cung cấp các dịch vụ hiệu quả hơn; Hỗ trợ cho hoạch định chiến lược và dài hạn khác nhau; thông tin tốt hơn cho nhân dân để xây dựng niềm tin của họ đối với nhà nước; Đáp ứng các nhu cầu của nhà chính trị và người dân về trách nhiệm giải trình của các cơ quan hoạch định và thực thi chính sách; Giúp trình bày rõ ràng chính xác và biện minh cho các yêu cầu ngân sách; Giúp đưa ra các quyết định phân bổ nguồn lực; Giúp động viên nhân sự tiếp tục tạo ra những cải thiện chính sách

Đánh giá chính sách không chỉ thu thập thông tin về kết quả của chính sách mà còn cung cấp thông tin cho những người sử dụng thích hợp theo cách thức kịp thời để thông tin phản hồi kết quả thực hiện có thể được sử dụng nhằm quản lý tốt hơn Sử dụng các kết quả đánh giá chính sách để cải thiện kết quả thực hiện là mục đích chính của việc đánh giá chính sách

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến đánh giá chính sách khen thưởng, bảo

vệ người tố cáo tham nhũng

Trang 23

1.4.1 Yếu tố chính trị và pháp lý

Yếu tố chính trị: Việt Nam là nước XHCN, do Đảng Cộng sản lãnh đạo toàn diện, về mọi mặt Trong lịch sử Việt Nam, các triều đại phong kiến đã quan tâm tới việc đảm bảo cho người dân thực hiện quyền TC, với việc ban hành các luật lệ như Bộ luật hình thư năm 1024, Bộ Quốc triều hình luật của thời Trần năm 1341, Bộ luật Hồng Đức thời Lê năm 1483, Bộ luật Gia Long thời Nguyễn năm 1815, Bộ luật Khám tụng điều lệ ban hành thời Hậu Lê năm 1777 Như vậy, TC đã có từ xa xưa, gắn với sự phát triển của các nhà nước, song do pháp luật phong kiến chưa phát triển nên nội dung TC chủ yếu đối với các vi phạm các chuẩn mực xã hội đương thời

Ngay từ những ngày đầu giành chính quyền, Đảng và Nhà nước Việt Nam

đã quan tâm tới việc giải quyết các TC; luôn coi việc thực hiện quyền TC là phương thức dân chủ trực tiếp Nhận thức được tác hại của tham nhũng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng công tác PCTN, đặc biệt là từ khi tiến hành công cuộc đổi mới, trong mỗi giai đoạn phát triển, ở mỗi kỳ đại hội, Đảng và nhà nước Việt Nam đều có các chỉ thị, nghị quyết, văn bản pháp luật đề cập đến công tác giải quyết TC

Gần đây nhất, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam nêu đưa ra nhiều chủ trương và giải pháp căn cơ quyết liệt về phòng, chống tham

nhũng: “Triển khai đồng bộ có hiệu quả quy định của pháp luật về phòng,

chống tham nhũng Thực hiện quyết liệt nghiêm minh có hiệu quả cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng”; “Nâng cao vai trò phát huy tính tích cực, chủ động và phối hợp của Mặt trận Tổ quốc, tổ chức chính trị xã hội, nhân dân, doanh nghiệp, báo chí trong phát hiện, đấu tranh phòng, chống tham nhũng”;

“Có cơ chế khuyến khích và bảo vệ người tố cáo hành vi tham nhũng, lãng phí”… [32, tr.]

Yếu tố pháp lý: Cơ sở pháp lý là yếu tố quan trọng bảo đảm việc bảo vệ,

khen thưởng người TCTN được thực hiện trên thực tế Nếu không có quy định pháp luật, việc bảo vệ, khen thưởng người TC sẽ không có cơ sở

Cơ sở pháp lý bảo đảm thực hiện bảo vệ, khen thưởng người TCTN được thể hiện thông qua: Pháp luật xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức

cá nhân có liên quan trong việc bảo vệ, khen thưởng người TC; quy định rõ quyền và nghĩa vụ của người TC được bảo vệ, khen thưởng; trình tự, thủ tục pháp lý, các biện pháp và điều kiện vật chất, kỹ thuật bảo đảm để người dân thực hiện quyền của mình và cơ quan nhà nước thực hiện nghĩa vụ của người TCTN Pháp luật phải qui định rõ về thẩm quyền, nhiệm vụ bảo vệ, khen thưởng người TC; Về quyền và nghĩa vụ của người TC, nếu quy định nặng về trách nhiệm của người TC; Về trình tự, thủ tục, quy định về trình tự, thủ tục giải quyết

TC, trong đó có việc tiếp nhận, thụ lý, giải quyết yêu cầu bảo vệ người TC; hồ

Trang 24

sơ, thủ tục khen thưởng và trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền; Về chế tài

xử lý, các biện pháp cụ thể để bảo vệ người TC bao gồm biện pháp hành chính, biện pháp kinh tế, biện pháp kỹ thuật

Đảng và Nhà nước ta luôn coi việc thực hiện quyền TC là phương thức thể hiện dân chủ trực tiếp để nhân dân tham gia quản lý Nhà nước, quản lý xã hội và bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và công dân, đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và các vi phạm pháp luật khác Xuất phát từ quan điểm đó, ở mỗi giai đoạn phát triển đất nước, Đảng

và Nhà nước đều có các chỉ thị, nghị quyết, ban hành các văn bản pháp luật về công tác giải quyết khiếu nại, TC, trong đó có đề cập đến vấn đề bảo vệ người

TC

Hiến pháp năm 1959 tại Điều 29 nêu: “Công dân nước Việt Nam dân chủ

Cộng hoà có quyền khiếu nại, TC với bất cứ cơ quan nào của nhà nước về những hành vi vi phạm của nhân viên cơ quan nhà nước” [5, Điều 29]

Hiến pháp năm 1980 quy định: “Các khiếu nại, TC phải được xem xét và

giải quyết kịp thời Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, TC”[5, Điều 73]

Hiến pháp năm 1992 nêu: “Việc khiếu nại, TC phải được cơ quan nhà

nước xem xét, giải quyết trong thời gian pháp luật quy định Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, TC hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, TC để vu khống, vu cáo làm hại người khác”[5, Điều 74]

Quan điểm này tiếp tục được khẳng định tại Hiến pháp năm 2013:

“Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, TC hoặc lợi dụng quyền khiếu nại,

TC để vu khống, vu cáo làm hại người khác” [5, Điều 30]

Để thể chế hóa quyền TC và trách nhiệm bảo vệ người TC, trong đó có TCTN đã được Hiến pháp quy định, nhiều văn bản pháp luật được ban hành quy định cụ thể về việc TC và việc giải quyết TC Nội dung này sẽ được làm rõ trong các Chương sau của Luận văn

1.4.2 Yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội

Tâm lý xã hội và truyền thống văn hóa hướng nội của phương Đông hàng nhìn năm vô hình chung là một rào cản đối với TCTN Thực tế xã hội đã hình thành một quan niệm “đấu tranh - tránh đâu?”, không ít người TCTN bị “lên bờ xuống ruộng”, thiếu cơ chế bảo vệ nên họ cảm thấy đơn độc, bị cô lập giữa cuộc đấu tranh vô cùng gay go, phức tạp là chống tham nhũng, nhất là trong xã hội còn nặng văn hóa á đông, tâm lý chung là sợ điều tiếng và văn hóa “một sự nhịn

là chín sự lành”

Thời gian qua, rất nhiều hành vi TN, tiêu cực của những người có chức

vụ, quyền hạn trong bộ máy nhà nước được phát hiện thông qua việc TC của

Trang 25

quần chúng và báo chí chứ không phải qua các thiết chế khác Khả năng tự phát hiện TN trong nội bộ các đơn vị, trong tổ chức cơ sở Đảng không cao

Qua thống kê, trong đa số các trường hợp, người bị TC là những người có chức vụ, quyền hạn hoặc những người có thế lực trong xã hội, còn người TC thường ở vị trí yếu thế hơn, do vậy họ lo sợ sẽ bị trù dập, trả thù, có những trường hợp, không chỉ người TC mà còn cả người thân của họ bị đe doạ đến sức khoẻ và tính mạng do người bị TC trù dập, trả thù Mặc dù, pháp luật cũng đã có những quy định về bảo vệ người TC như đã nêu trên, tuy nhiên, các cơ quan có thẩm quyền có “kịp” bảo vệ người TC trước hành vi đe doạ, trù dập trả thù hay không và hiệu lực thực tế của những quy định này đến đâu thì vẫn còn nhiều điều phải suy nghĩ

1.4.3 Yếu tố quốc tế

Trong vấn đề bảo vệ nhân chứng, xu hướng quốc tế ngày càng đồng thuận với việc bảo vệ nhân chứng cần được giao cho một cơ quan độc lập với cơ quan điều tra và tố tụng của vụ án liên quan Nhiều nước trên thế giới còn thiết lập riêng chương trình bảo vệ nhân chứng, cho dù cách vận hành có khác nhau

Ở châu Âu, các chương trình bảo vệ nhân chứng hoàn toàn độc lập nhưng vẫn giữ mối liên hệ chặt chẽ với các cơ quan thực thi pháp luật Trong đó, các biện pháp bảo vệ cho nhân chứng phải hoàn toàn tuyệt mật và các cá nhân bảo vệ nhân chứng hoàn toàn không tham gia vào quá trình điều tra hay tố tụng đối với

vụ án liên quan Tại Canada, Đức, Úc các biện pháp bảo vệ nhân chứng, tùy theo hoàn cảnh cụ thể và mối nguy đối với nhân chứng gồm: bảo đảm an toàn, thay đổi danh tính và chỗ ở, hỗ trợ tài chính và các dịch vụ khác…

Việt Nam đã chủ động tham gia 07 vòng đàm phán xây dựng Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng và năm 2001 đã ký Công ước này Việt Nam phê chuẩn Công ước và trở thành thành viên chính thức năm 2009 Việt Nam có trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ của quốc gia thành viên, trong đó có nghĩa vụ bảo vệ nhân chứng, chuyên gia, nạn nhân của tham nhũng và thân nhân của họ Cụ thể:

Công ước quy định mang tính nguyên tắc về sự tham gia của xã hội trong

PCTN như sau: “1 Trong khả năng có thể và phù hợp với các nguyên tắc cơ

bản của pháp luật nước mình, mỗi quốc gia thành viên sẽ tiến hành các biện pháp thích hợp nhằm thúc đẩy sự tham gia chủ động của các cá nhân và tổ chức ngoài khu vực công, như xã hội dân sự, các tổ chức phi chính phủ và các tổ chức cộng đồng, vào công tác phòng ngừa và đấu tranh chống tham nhũng; và nhằm nâng cao nhận thức của công chúng về sự tồn tại, nguyên nhân và tính chất nghiêm trọng cũng như sự đe doạ của tham nhũng… 2 Mỗi quốc gia thành viên sẽ tiến hành các biện pháp thích hợp đảm bảo công chúng biết đến các cơ quan chống tham nhũng nêu trong Công ước này và phải cho phép tiếp cận với

Trang 26

các cơ quan này khi thích hợp để công chúng có thể thông báo, kể cả dưới hình thức nặc danh, về bất kỳ sự kiện nào có thể được coi là cấu thành một tội phạm được quy định theo Công ước này”[3, Điều 13 ]

Trang 27

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Trong Chương 1, tác giả đã trình bày cơ bản những vấn đề về cơ sở lý luận về đánh giá chính sách khen thưởng, bảo vệ người TCTN, trong đó luận văn đã nêu khái quát một số khái niệm cơ bản về TC và TN, khen thưởng, bảo

vệ người TCTN; Những yếu tố ảnh hưởng đến đánh giá chính sách khen thưởng, bảo vệ người TCTN Tiếp đến, luận văn đã đưa ra được những nội dung cơ bản

về chính sách khen thưởng, bảo vệ người TCTN, chỉ ra những nội dung về Chính sách công; Nội dung chính sách khen thưởng, bảo vệ người TCTN

Đặc biệt, trong chương này luận văn đã đánh giá chính sách khen thưởng, bảo vệ người TCTN, trong đó chỉ ra khái niệm và chủ thể đánh giá chính sách khen thưởng, bảo vệ người TCTN; vai trò đánh giá chính sách xây khen thưởng, bảo vệ người TCTN; yêu cầu khi đánh giá chính sách khen thưởng, bảo vệ người TCTN; tiêu chí đánh giá chính sách khen thưởng, bảo vệ người TCTN; quy trình đánh giá chính sách khen thưởng, bảo vệ người TCTN Trên cơ sở khoa học này, ở Chương II tác giả sẽ làm sáng tỏ vấn đề này ở phần thực trạng nội dung đánh giá chính sách khen thưởng, bảo vệ người TCTN ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay (10 năm qua)

Trang 28

Chương 2 THỰC TRẠNG ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH KHEN THƯỞNG, BẢO VỆ NGƯỜI TỐ CÁO THAM NHŨNG TẠI VIỆT NAM

2.1 Thực tiễn ban hành và thực hiện chính sách khen thưởng bảo vệ người tố cáo tham nhũng

2.1.1 Về chính sách bảo vệ người tố cáo tham nhũng

Luật PCTN qui định về bảo vệ người phản ánh, TC, báo cáo về hành vi

tham nhũng như sau: “Việc bảo vệ người TC hành vi TN được thực hiện theo

quy định của pháp luật về TC; Người phản ánh, báo cáo về hành vi TN được áp dụng các biện pháp bảo vệ như bảo vệ người TC” [13, Điều 67] Do vậy, luận

văn xin được phân tích việc thực hiện chính sách pháp luật về bảo vệ, khen thưởng người TCTN từ các góc độ:

Đối tượng và phạm vi, thời hạn được bảo vệ

Theo Luật TC, đối tượng được bảo vệ bao gồm người TC và người thân thích của người TC [9, Điều 34) Người thân thích của người TC gồm vợ hoặc chồng, bố đẻ, mẹ đẻ, bố nuôi, mẹ nuôi, bố mẹ bên vợ hoặc bên chồng, con đẻ, con nuôi, anh ruột, chị ruột, em ruột của người TC

Theo quy định của Luật TC thì thời hạn bảo vệ do cơ quan có thẩm quyền quyết định tùy thuộc vào tình hình thực tế của từng vụ việc, mức độ, tính chất của hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của đối tượng cần được bảo vệ [10, Điều 34]

Đối với người tố giác tội phạm, thời gian bảo vệ được quy định cụ thể hơn việc áp dụng các biện pháp bảo vệ được thực hiện trong suốt thời gian mà có căn

cứ về việc đã hoặc sẽ bị xâm hại là có thực và không giới hạn về thời gian Theo

Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 thì “Thời gian bảo vệ được tính từ khi áp

dụng các biện pháp bảo vệ cho đến khi có quyết định chấm dứt áp dụng biện pháp bảo vệ” [10, Điều 488]

Thông tư số 145/2020/TT-BCA ngày 29/12/2020 của Bộ Công an quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục, biện pháp bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người TC về hành vi TN, lãng phí còn nêu rõ, người được bảo vệ bao gồm cả người giải quyết TCTN Theo đó:

Cơ quan, cá nhân có trách nhiệm bảo vệ người TC

“Pháp luật hiện hành quy định trách nhiệm bảo vệ người TC thuộc về nhiều cơ quan khác nhau Đối với TC hành chính và TCTN, Luật TC quy định: Việc xác định cơ quan, cá nhân có trách nhiệm bảo vệ người TC tùy thuộc vào các hình thức bảo vệ và đối tượng được bảo vệ, cụ thể:

- Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền khi tiếp nhận TC, giải quyết

TC, khai thác, sử dụng thông tin, tài liệu do người TC cung cấp có trách nhiệm bảo vệ danh tính người TC” [26, Điều 36]

Trang 29

- Người đã giải quyết TC, người đứng đầu cơ quan cấp trên trực tiếp của người có thẩm quyền quản lý người TC có trách nhiệm bảo vệ tại nơi công tác, làm việc nếu người TC là CBCC, viên chức; tổ chức công đoàn cơ sở, cơ quan quản lý lao động hoặc cơ quan có thẩm quyền khác ở địa phương có trách nhiệm bảo vệ tại nơi công tác, làm việc nếu người TC là người làm việc theo hợp đồng lao động mà không phải là viên chức [26, Điều 37]

- Chủ tịch UBND cấp có thẩm quyền (theo yêu cầu của người giải quyết TC) bảo vệ người TC tại nơi cư trú [26, Điều 38]

- Người giải quyết TC hoặc cơ quan công an bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, tài sản, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người TC [26, Điều 39]

- Ngoài các cơ quan, cá nhân nói trên, Thông tư quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục, biện pháp bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân

phẩm của người TC về hành vi TN, lãng phí:“Công an cấp xã hoặc Công an nơi

gần nhất với người được bảo vệ có trách nhiệm bảo vệ người TCTN Trường hợp người được bảo vệ là phạm nhân tại trại giam; trại viên tại cơ sở giáo dục bắt buộc; học sinh tại trường giáo dưỡng: Người có thẩm quyền giải quyết TC kịp thời đề nghị, yêu cầu áp dụng biện pháp bảo vệ đến Giám thị trại giam, Giám đốc

cơ sở giáo dục bắt buộc, Hiệu trưởng trường giáo dưỡng” [26, Điều 5]

Các biện pháp, căn cứ, điều kiện và thủ tục yêu cầu bảo vệ

Nghị định số 76/2012/NĐ-CP quy định 5 biện pháp bảo vệ người TC,

gồm: “(1) Bảo vệ bí mật thông tin về người TC trong quá trình tiếp nhận, thụ lý,

giải quyết TC; (2) Bảo vệ tính mạng, sức khỏe của người TC và người thân thích của người TC; (3) Bảo vệ tài sản của người TC, người thân thích của người TC; (4) Bảo vệ uy tín, danh dự, nhân phẩm và các quyền nhân thân khác của người

TC, người thân thích của người TC; (5) Bảo vệ vị trí công tác, việc làm của người TC, người thân thích của người TC”

Thông tư số 145/2020/TT-BCA ngày 29/12/2020 của Bộ Công an quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục, biện pháp bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người TC về hành vi TN, lãng phí cũng nêu rõ những người được bảo vệ gồm: Người TC về hành vi tham nhũng, lãng phí; vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người TC về hành

vi tham nhũng, lãng phí

Như vậy, người được bảo vệ đang sinh sống, làm việc, học tập tại nước ngoài không thuộc phạm vi điều chỉnh của Thông tư này

Trang 30

Mục đích của việc phân loại các hình thức bảo vệ là để xây dựng và thực hiện các biện pháp bảo vệ phù hợp, hiệu quả Mỗi một hình thức bảo vệ cần phải đảm bảo các tiêu chí: bảo vệ cái gì, ai là người được bảo vệ, bảo vệ như thế nào?

Và việc bảo vệ phải được thực hiện mọi lúc, mọi nơi (nơi cư trú, nơi công tác,

cơ quan công quyền, khu vực công cộng )

- Căn cứ, điều kiện và thủ tục yêu cầu bảo vệ:

Theo quy định tại Luật TC, mọi nguời TC khi có căn cứ cho rằng mình bị phân biệt đối xử về việc làm dẫn đến giảm thu nhập, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình; Hoặc mình bị phân biệt đối xử trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của công dân tại nơi cu trú; Hoặc việc TC có thể gây nguy hại đến tính mạng, sức khoẻ, tài sản, danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình hoặc nguời thân thích của mình đều có quyền yêu cầu nguời giải quyết TC, hoặc người đứng đầu cơ quan cấp trên trực tiếp của nguời có thẩm quyền quản lý, sử dụng mình, Chủ tịch UBND cấp có thẩm, cơ quan công an nơi nguời TC, người thân thích của người TC cư trú, làm việc, học tập hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ [9, Điều 37, Điều 38 và Điều 39]

Yêu cầu bảo vệ của người TC phải bằng văn bản Trường hợp người giải quyết TC tự áp dụng thì sẽ thông báo cho người được bảo vệ biết [18, Điều 14,

15, 16, 17]

Nếu nhận được yêu cầu của người TC, người có thẩm quyền có trách nhiệm kiểm tra, xác minh Nếu yêu cầu của người TC là chính đáng thì áp dụng các biện pháp theo thẩm quyền hoặc yêu cầu người có thẩm quyền áp dụng các biện pháp bảo vệ [9, Điều 37, Điều 39]

- Trình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp bảo vệ:

Mỗi biện pháp bảo vệ, pháp luật quy định thủ tục và cách thức khác nhau,

cụ thể như sau:

Về bảo vệ danh tính người TC: Luật TC quy định cơ quan, tổ chức, cá

nhân có thẩm quyền khi tiếp nhận TC, giải quyết TC, khai thác, sử dụng thông tin, tài liệu do người TC cung cấp có trách nhiệm giữ bí mật họ, tên, địa chỉ, bút tích và các thông tin cá nhân khác của người TC; đồng thời phải áp dụng biện pháp cần thiết theo thẩm quyền hoặc đề nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền có biện pháp cần thiết để giữ bí mật thông tin và bảo vệ cho người TC [9, Điều 36];

Giải quyết TC là một quá trình với nhiều công đoạn, mỗi công đoạn lại do các cơ quan, bộ phận khác nhau đảm nhận Vì thế, với mỗi công đoạn của quá trình giải quyết TC, pháp luật quy định trách nhiệm cụ thể để bảo vệ danh tính cho người TC, cụ thể như sau:

+ “Khi tiếp công dân: Trong quá trình tiếp người TC, người tiếp công

dân phải giữ bí mật họ tên, địa chỉ, bút tích người TC trừ khi người TC đồng ý công khai; không được tiết lộ thông tin có hại cho người TC; nếu thấy cần thiết

Trang 31

hoặc khi người TC yêu cầu thì người tiếp công dân áp dụng những biện pháp cần thiết hoặc kiến nghị áp dụng những biện pháp cần thiết để bảo vệ người TC, người thân thích của người TC” [9, Điều 36]

+ Khi xử lý đơn TC: “Người xử lý đơn TC phải giữ bí mật họ tên, địa chỉ,

bút tích của người TC theo quy định của pháp luật; áp dụng hoặc kiến nghị cơ quan, tổ chức, đơn vị người có thẩm quyền áp dụng những biện pháp cần thiết theo quy định của pháp luật để bảo vệ người TC, người thân thích của người TC khi có yêu cầu”[9, Điều 36]

+ Khi tiếp nhận TC, thụ lý giải quyết TC: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có

thẩm quyền phải nghiên cứu, xác định nội dung vụ việc, những thông tin nếu tiết

lộ sẽ gây bất lợi cho người TC để áp dụng biện pháp phù hợp nhằm giữ bí mật thông tin cho người TC Trường họp cần thiết có thể lược bỏ họ tên, địa chỉ, bút tích, các thông tin cá nhân khác của người TC ra khỏi đơn TC và các tài liệu, chứng cứ kèm theo, đồng thời lưu trữ và quản lý thông tin về người TC theo chế

độ thông tin mật” [9, Điều 36]

+ Trong quá trình giải quyết TC: “Trong quá trình giải quyết TC, nếu có

yêu cầu làm việc trực tiếp với người TC, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan, người giải quyết TC, người được giao xác minh nội dung TC phải bố trí thời gian, địa điểm và lựa chọn phương thức làm việc phù hợp để bảo vệ bí mật thông tin cho người TC” [9, Điều 36]

Khi phát hiện người không có thẩm quyền có hành vi thu thập thông tin

về người TC, người giải quyết TC có trách nhiệm áp dụng biện pháp theo thẩm quyền hoặc kiến nghị người có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn hoặc

xử lý đối với người có hành vi vi phạm [18, Điều 12]

Ngoài ra, pháp luật còn quy định cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc cung cấp thông tin, tài liệu, phối hợp giải quyết TC, thi hành quyết định xử lý hành vi vi phạm pháp luật bị TC có trách nhiệm áp dụng các biện pháp cần thiết, phù hợp để bảo vệ bí mật thông tin cho người TC [18, Điều 13]

Người giải quyết TC nếu tiết lộ họ, tên, địa chỉ, bút tích của người TC và những thông tin khác có thể lộ danh tính của người TC thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường [9, Điều 8, Điều 46]

Về bảo vệ tính mạng, sức khỏe:

+ Đối với tố giác tội phạm: Việc áp dụng biện pháp bảo vệ về tính mạng, sức khỏe được áp dụng theo Bộ luật Tố tụng hình sự

+ Đối với TC hành vi vi phạm pháp luật mà không phải là tội phạm: Việc

áp dụng các biện pháp bảo vệ về tính mạng, sức khỏe được áp dụng theo Luật

TC và Nghị định số 76/2012/NĐ-CP Theo đó, pháp luật quy định ba nguồn thông tin để người giải quyết TC hoặc cơ quan công an có thể tiến hành áp dụng

Ngày đăng: 27/03/2023, 22:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Chính trị (2019), Chỉ thị 27/CT-TƯ ngày 10/01/2019 của về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo vệ người phát hiện, tố giác, người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị 27/CT-TƯ ngày 10/01/2019 của về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo vệ người phát hiện, tố giác, người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2019
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2011, t. 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật
Năm: 2011
3. Đại hội đồng Liên hợp quốc (2003), Công ước của Liên hợp quốc về phòng, chống tham nhũng (có hiệu lực ngày 14/12/2005) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ước của Liên hợp quốc về phòng, chống tham nhũng
Tác giả: Đại hội đồng Liên hợp quốc
Năm: 2003
4. Đại từ điển tiếng Việt (1999) Nguyễn Nhƣ Ý, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại từ điển tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Nhƣ Ý
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
Năm: 1999
5. Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013-1992-1980- 1959-1946 (2017); NXB Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013-1992-1980-1959-1946
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2017
6. Nguyễn Hữu Hải và Lê Văn Hòa (2014), Đại cương về Chính sách công, XNB Chính trị Quốc gia –Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương về Chính sách công
Tác giả: Nguyễn Hữu Hải, Lê Văn Hòa
Nhà XB: XNB Chính trị Quốc gia –Sự thật
Năm: 2014
7. Lê Văn Hòa (2016), Giám sát và đánh giá chính sách công, NXB Chính trị Quốc gia sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giám sát và đánh giá chính sách công
Tác giả: Lê Văn Hòa
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia sự thật
Năm: 2016
10. Bộ Luật Tố tụng Hình sự số 101/2015/QH13 ngày 27/11/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Luật Tố tụng Hình sự số 101/2015/QH13
Năm: 2015
11. Luật Phòng, chống tham nhũng 2005 số 55/2005/QH11 ngày 29/11/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Phòng, chống tham nhũng 2005
Năm: 2005
13. Luật Phòng, chống tham nhũng 2018 số 36/2018/QH14 ngày 20 tháng 11 năm 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Phòng, chống tham nhũng 2018
Năm: 2018
15. Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/05/2016 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản Quy phạm pháp luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/05/2016 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản Quy phạm pháp luật
Năm: 2016
16. Nghị định số 42/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật thi đua, khen thưởng và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi đua, khen thưởng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 42/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật thi đua, khen thưởng và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi đua, khen thưởng
Năm: 2010
17. Nghị định số 59/2013/NĐ-CP ngày 17/6/2013 của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống tham nhũng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 59/2013/NĐ-CP ngày 17/6/2013 của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống tham nhũng
Nhà XB: Chính phủ
Năm: 2013
18. Nghị định số 76/2012/NĐ-CP ngày 3/10/2012 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tố cáo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 76/2012/NĐ-CP ngày 3/10/2012 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tố cáo
Năm: 2012
19. Nghị quyết số 21/NQ-CP ngày 12/5/2009 của Chính phủ ban hành Chiến lƣợc Quốc gia PCTN đến năm 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược Quốc gia Phòng chống Tham nhũng đến năm 2020
Nhà XB: Chính phủ
Năm: 2009
20. Thông tƣ liên tịch số 01/2015/TTLT-TTCP-BNV ngày 16/3/2015 của liên bộ Nội vụ, Thanh tra Chính phủ về quy định khen thưởng cá nhân có thành tích Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tƣ liên tịch số 01/2015/TTLT-TTCP-BNV ngày 16/3/2015 của liên bộ Nội vụ, Thanh tra Chính phủ về quy định khen thưởng cá nhân có thành tích
Năm: 2015
21. Thông tƣ Liên tịch số 03/2011/TTLT-BNV-TTCP ngày 06/05/2011 của liên Bộ Nội vụ, Thanh tra Chính phủ về Quy định khen thưởng cho cá nhân có thành tích xuất sắc trong tố cáo, phát hiện hành vi tham nhũng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư Liên tịch số 03/2011/TTLT-BNV-TTCP ngày 06/05/2011 của liên Bộ Nội vụ, Thanh tra Chính phủ về Quy định khen thưởng cho cá nhân có thành tích xuất sắc trong tố cáo, phát hiện hành vi tham nhũng
Nhà XB: Liên Bộ Nội vụ
Năm: 2011
24. Thông tƣ 08/2020/TT-BLĐTBXH ngày 15/10/2020 của Bộ Lao động, Thương binh và xã hội cũng qui định về bảo vệ việc làm của người TC là người làm việc theo hợp đồng lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tƣ 08/2020/TT-BLĐTBXH ngày 15/10/2020 của Bộ Lao động, Thương binh và xã hội cũng qui định về bảo vệ việc làm của người TC là người làm việc theo hợp đồng lao động
Năm: 2020
25. Thông tƣ liên tịch số 70/2016/TTLT-BTC-TTCP ngày 06/05/2016 của liên bộ Tài Chính, Thanh tra Chính phủ về quy định việc lập, quản lý và sử dụng Quỹ khen thưởng về PCTN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tƣ liên tịch số 70/2016/TTLT-BTC-TTCP ngày 06/05/2016 của liên bộ Tài Chính, Thanh tra Chính phủ về quy định việc lập, quản lý và sử dụng Quỹ khen thưởng về PCTN
Năm: 2016
26. Thông tƣ số 145/2020/TT-BCA ngày 29/12/2020 của Bộ Công an quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục, biện pháp bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người TC về hành vi TN, lãng phí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 145/2020/TT-BCA ngày 29/12/2020 của Bộ Công an quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục, biện pháp bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người TC về hành vi TN, lãng phí
Tác giả: Bộ Công an
Nhà XB: Bộ Công an
Năm: 2020

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w