MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3. Mục đích nghiên cứu 4. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 5. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
Trang 1- Thứ hai, thi Đình là kì thi cuối cùng trong khoa thi Tiến sĩ, tác động toàn
bộ từ khâu đầu đến khâu cuối cùng của qúa trình thi cử, giáo dục
- Thứ ba, thi Đình là mũi sinh thiết, tập trung bộ mặt thi cử của mỗi triềuđại phong kiến Do đó, kì thi này luôn được nhà nước chú trọng, quan tâm vàcũng chính vì thế mà qua thi Đình chúng ta sẽ có cái nhìn toàn diện, sâu sắc hơn
về thi cử
1.3 Thế kỷ XVII - XVIII ở Việt Nam tương ứng với thời gian trị vì và tan
rã của tập đoàn phong kiến Lê - Trịnh Sự tồn tại song song hai hệ thống chínhquyền cùng điều khiển đất nước và sự lấn át quyền lực của chúa Trịnh đối vớivua Lê đã khiến không ít các nhà sử học phong kiến và cả về sau đánh giá đây là
thời kỳ “phi chính thống”, trì trệ, khủng hoảng Tuy nhiên, nếu xem xét kỹ càng
và thấu đáo, trên một số phương diện, chẳng hạn như trên lĩnh vực giáo dục,chúng ta sẽ nhận thấy các chúa Trịnh đã có nhiều cố gắng đưa ra các chủ trươngnhằm chấn chỉnh học phong, cứu vãn nền giáo dục, thi cử đang dần suy đồi,xuống dốc
1.4 Tuy được coi là “quốc sách hàng đầu” nhưng nền giáo dục Việt Nam
đến nay vẫn còn tồn tại nhiều bất cập dù chúng ta đã không ngừng đưa ra cácgiải pháp Song rốt cục chưa đem lại kết quả hữu dụng và khả quan nào, tệ nạn
Trang 2trong dạy, học và thi cử tiếp diễn ở mọi cấp, mọi nơi Bởi thế, nghiên cứu về thi
cử là vấn đề có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc
Từ tất cả các nguyên nhân trên, tác giả đã quyết định chọn đề tài là Về các
kỳ thi Đình thế kỷ XVII - XVIII.
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Đã xuất hiện nhiều tác phẩm tìm hiểu về khoa cử Việt Nam trước
năm 1945, chẳng hạn: Lược khảo về giáo dục và khoa cử Việt Nam từ khởi thuỷ đến năm 1918 của Trần Văn Giáp, Khoa cử và giáo dục Việt Nam của Nguyễn
Q Thắng, Tìm hiểu nền giáo dục Việt Nam trước năm 1945 của Nguyễn Văn
Khánh… Điểm chung của hầu hết các cuốn sách này là khái lược, sơ lược lịch
sử giáo dục và thi cử thời phong kiến lần lượt theo một tiến trình: Lý - Trần - Lê
sơ - Lê trung hưng - Nguyễn - Pháp thuộc Thi Đình không được coi trọngnghiên cứu vì hầu hết các tác giả đều quan niệm đấy là kì thi gắn liền với kì thiHội, là kì thi cuối cùng của thi Hội
Trong các chuyên khảo về thi cử, đáng chú ý hơn cả là cuốn Sự phát triển giáo dục và chế độ thi cử ở Việt Nam thời phong kiến của Nguyễn Tiến Cường.
Rõ ràng hơn và mới mẻ hơn, ông cho rằng thi Đình là một kì thi riêng rẽ, độc lậpvới thi Hội Từ đó, ông đề cập đến đối tượng dự thi, quan coi thi, cách chấm thi,học vị tiến sĩ, ân điển Tuy nhiên, vì thi Đình không phải là trọng tâm của quyểnsách nên Nguyễn Tiến Cường vẫn không đi sâu vào phân tích, mở rộng chủ đềnày Mặt khác, những tìm hiểu của ông về thi Đình mang tính chung chung cho
cả thời kỳ phong kiến chứ không riêng cho một giai đoạn nào
Bên cạnh đó, có một số tác giả đã đi sâu khảo cứu một cách có hệ thống
và tương đối toàn diện về các nhà khoa bảng Việt Nam (tóm tắt tiểu sử, khoa thi,
sự nghiệp) như: Các nhà khoa bảng Việt Nam do Ngô Đức Thọ chủ biên, Các vị trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa qua các triều đại phong kiến Việt Nam của
Trần Hồng Đức, Trạng nguyên, tiến sĩ, Hương cống Việt Nam do Bùi Hạnh Cẩn,
Minh Nghĩa, Việt Anh biên soạn…
2.2 Đề cập đến thi cử thời phong kiến, trong đó có thời Lê - Trịnh, còn cómột số luận án tiến sĩ và khóa luận cử nhân khoa Lịch sử, trường Đại học Khoa
Trang 3học xã hội và nhân văn Hà Nội như: Tìm hiểu nền giáo dục và khoa cử thời Hậu
Lê của Đào Duy Đạt, Văn Miếu - Quốc tử giám và chế độ học hành thi cử thời
Lê (1428 - 1788) của Đinh Ngọc Triển… Giới hạn trong phạm vi và quy mô của
một bài khóa luận tốt nghiệp, các khóa luận cử nhân này chỉ đề cập những nétchung, nổi bật của chế độ học hành khoa cử thời Hậu Lê Bên cạnh đó cũng cókhóa luận đi vào tìm hiểu trực tiếp về thi cử thời Lê - Trịnh nhưng mới dừng lại
ở hai cấp thi Hương và thi Hội, đó là khóa luận Chính quyền Lê - Trịnh với các
kỳ thi Hương và Hội thế kỷ XVII - XVIII của Nguyễn Trang.
Thuộc về khoa học Ngữ văn, luận án tiến sĩ Bước đầu tìm hiểu văn chương khoa cử thời Lê sơ của Nguyễn Văn Thịnh ngoài việc đối chiếu so sánh
giữa lịch sử khoa cử Việt Nam và Trung Quốc, tác giả có tiếp cận thi Đình songdưới góc độ văn học, chẳng hạn thể loại văn sách, nội dung văn sách đình đối,cấu trúc và nghệ thuật của văn sách đình đối, ân điển thời Lê sơ
Nhìn chung, ngày càng có nhiều tác phẩm viết về giáo dục và thi cửphong kiến nhưng rất ít tác phẩm quan tâm đến thi Đình và lại càng ít công trìnhnghiên cứu có đề cập đến một hoặc một vài khía cạnh của thi Đình, đặc biệtchưa hề có một chuyên khảo riêng về kì thi này
3 Mục đích nghiên cứu
3.1 Cố gắng khôi phục lại toàn cảnh bức tranh thi Đình thế kỷ XVII XVIII nói riêng và khắc họa phần nào về kì thi Đình của cả chế độ phong kiếnnói chung Đồng thời qua đó phản ánh nền giáo dục và thi cử đương thời
-3.2 Đưa ra một góc tiếp cận khác về thời kỳ Lê - Trịnh - góc nhìn vănhóa, cụ thể là giáo dục, nhằm có được sự đánh giá khách quan về giai đoạn này
3.3 Từ việc tìm hiểu về thi cử thời phong kiến, chúng ta sẽ rút ra đượcnhiều bài học kinh nghiệm quý báu, đồng thời có thể vận dụng, học tập nhữngviệc làm hợp lý của người xưa trong thi cử
4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
4.1 Phạm vi: Tập trung nghiên cứu thi Đình, giới hạn trong khoảng thời gian thế kỷ XVII - XVIII, cụ thể là từ năm 1595 đến năm 1789 và không gian là phía Bắc thuộc sự cai quản của vua Lê - chúa Trịnh.
Trang 44.2 Đối tượng: Các kỳ thi Đình thế kỷ XVII - XVIII đặt trong bối cảnh
lịch sử thế kỷ XVII - XVIII để bước đầu tìm hiểu ảnh hưởng của thi Đình đốivới chính trị, kinh tế - xã hội thời này
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tư liệu
- Các tài liệu chính sử như: Đại Việt sử ký toàn thư và Đại Việt sử ký tục biên của Quốc sử quán triều Lê, Khâm định Việt sử thông giám cương mục của
Quốc sử quán triều Nguyễn
- Các tài liệu của các sử gia phong kiến tư nhân như: Kiến văn tiểu lục của
Lê Quý Đôn, Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, Quốc triều hương khoa lục của Cao Xuân Dục, Lịch triều tạp kỷ của Ngô Cao Lãng, Vũ trung tuỳ bút của Phạm Đình Hổ… So với nguồn chính sử, các sử liệu của tư
nhân cung cấp đầy đủ và chi tiết hơn về thi Đình thế kỷ XVII - XVIII như vềthời gian thi, địa điểm thi, nghi thức thi, họ tên, quê quán và số người đỗ trongmỗi khoa thi
- Nguồn tư liệu quan trọng khác là bi ký Nội dung của bài ký bia Tiến sĩcung cấp các thông tin về tên gọi của tấm bia; ca ngợi công đức của triều vua đã
tổ chức khoa thi; tên các vị quan tham gia tổ chức khoa thi; quy định, cách thức
tổ chức khoa thi; họ tên, quê quán những người thi đỗ; tên những người thamgia dựng bia
- Nguồn tư liệu Hán Nôm: Để phục vụ cho luận văn, tác giả đã dịch một
số bài văn sách thi Đình thế kỷ XVII - XVIII của Nguyễn Quán Nho, NguyễnHuy Oánh, Lê Quý Đôn
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp chủ yếu là phương pháp nghiên cứu lịch sử Vì nguồn tưliệu phục vụ cho đề tài là nguồn tư liệu chữ viết nên các bước tác giả tiến hànhtrong nghiên cứu gồm: Thu thập, tập hợp tư liệu; Thống kê, phân tích, so sánh;Tổng hợp và nhận xét
6 Đóng góp của luận văn
Trang 56.1 Là tác phẩm đầu tiên chuyên sâu và khảo kỹ về thi Đình thế kỷ XVII
- XVIII
6.2 Góp phần hoàn chỉnh bức tranh thi cử phong kiến Việt Nam vì trướcđây và ngay cả hiện nay, hầu hết các nhà nghiên cứu chỉ khảo tả thi Hương vàthi Hội mà bỏ qua thi Đình Ngoài ra, luận văn cũng góp phần làm rõ hơn nềngiáo dục và bộ mặt thi cử thế kỷ XVII - XVIII
Trang 6CHƯƠNG I: THI ĐÌNH TRONG BỐI CẢNH KINH TẾ - XÃ HỘI
THẾ KỶ XVII - XVIII 1.1 Vài nét về thi Đình trước thời Lê - Trịnh
1.1.1 Thi Đình dưới thời Lý, Trần, Hồ
Theo lịch sử khoa cử nước ta, nhà Lý là triều đại đầu tiên tổ chức thi cử,tổng cộng có tất cả 6 khoa Theo đó, thi Đình đã xuất hiện dưới thời Lý vào năm
1152 Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: Năm Đại Định thứ 13 (1152), “mùa đông, tháng 10, thi Điện”
Song do sử cũ không ghi rõ nên về cách thức thi, phép thi trong các khoathi nói chung và thi Đình nói riêng chưa khảo cụ thể được Riêng với thi Đình,
theo Phan Huy Chú: “Thỉnh thoảng có chiếu của vua cử học trò trong nước vào thi, vua tự xem thi ở điện đình” còn nội dung thi gồm những gì không thấy đề
cập đến
Nhà Trần, năm 1232, đặt ra tam giáp Năm 1246, định niên hạn thi, cứ 7năm 1 kỳ Năm 1247, ban danh hiệu Tam khôi Đến năm 1304, vua Trần AnhTôn đặt thêm tên hoàng giáp (người đỗ đầu về đệ nhị giáp)
Về phép thi, năm 1304 mới bắt đầu thấy: Trước hết thi ám tả cổ văn; thứđến thi kinh nghi, kinh nghĩa, thơ, phú; kỳ thứ 3 thi chế, chiếu, biểu; kỳ thứ 4 thiđối sách để định thứ tự đỗ cao đỗ thấp Năm 1396, bỏ bài ám tả cổ văn, dùngvăn thể tứ trường Dưới thời Hồ Hán Thương (năm 1404), có đặt thêm mộttrường nữa thi viết và tính
Về ân điển, mãi đến năm 1304 mới thấy ghi chép rõ: Trạng nguyên bổchức thái học sinh hỏa dũng thủ, sung làm nội thư gia; bảng nhãn bổ chức Chihậu bạ thư mạo sam, sung làm nội thư gia; thám hoa bổ chức hiệu thư quyền
miện, sung làm nhị tư Vào kì thi thái học sinh năm 1314, người thi đỗ ban đầu
được nhận chức Bạ thư lệnh, đợi sau một thời gian rèn luyện học tập sẽ được bổdụng Năm 1374, ban yến và áo xếp cho những người đỗ khoa Đại tỷ
Ngoài các kì thi Thái học sinh, nhà Trần còn tổ chức một kì thi Đình
riêng Đại Việt sử ký toàn thư ghi: Năm 1374, “tổ chức thi đình cho các tiến sĩ” [40, 157 - 158] Sách Khâm định việt sử thông giám cương mục chú : Thi trạng
Trang 7nguyên chính là thi Đình (Đình thí) Như vậy, thi Đình ở thời Lý, Trần đã tồn tạinhư một khoa thi riêng, bên cạnh những khoa thi học sinh, thái học sinh, sĩ nhân
và mang tính bất thường, không định lệ Phải đến năm 1396, thi cử chính thứcphân chia làm ba cấp: thi Hương - thi Hội - thi Đình
1.1.2 Thi Đình dưới thời Lê sơ
1.1.2.1 Thời gian thi, địa điểm thi và đối tượng dự thi
Triều Lê sơ thành lập từ năm 1428 nhưng cho đến năm 1442 đời vua LêThái Tông mới tổ chức khoa thi đầu tiên, tổng cộng có 26 khoa thi tiến sĩ, trong
đó có một khoa không tổ chức kì thi Đình (khoa thi năm 1458), bổ sung thêm
989 tiến sĩ (tính cả khoa thi không có thi Đình là 993 tiến sĩ) vào bộ máy quanlại
- Về thời gian thi Đình: Bảng 1.1.2.1.a cho thấy thi Đình không có “thời gian biểu” cố định, chiếm ưu thế vẫn là các tháng 2 (28,5%), tháng 4 (38,1%).
Thời gian giữa hai kì thi Hội và thi Đình cũng không theo một nguyên tắc nhấtđịnh nào, có thể cùng trong một tháng hoặc cách nhau một, hai tháng
- Về địa điểm thi Đình: Qua bảng thống kê 1.1.2.1.b, chúng ta biết rằng ở
thi Đình, các sĩ tử sẽ vào trong sân (hiên) điện của nhà vua để thi Đa số các kìthi Đình diễn ra ở điện Kính Thiên, thỉnh thoảng có kì thi được tổ chức tại điệnHội Anh hay điện Tập Hiền
- Về đối tượng dự thi Đình: Những người đã đỗ kì thi Hương và thi Hội
chính là đối tượng sẽ tham dự vào thi Đình Để được giáp mặt hoàng thượng, tỏ
rõ tài học của mình, các sĩ tử phải nỗ lực hết sức hòng vượt qua hàng trăm, hàngngàn thí sinh tham dự trong khoa thi tiến sĩ Điều này thể hiện rõ trong bảngthống kê 1.1.2.1.c
Dễ dàng nhận thấy tương ứng với sự gia tăng về số lượng người dự thiHội là sự gia tăng về số lượng lấy đỗ Ban đầu số người dự thi Hội chỉ vài trămrồi tăng dần lên hơn một ngàn, hai ngàn, ba ngàn, có năm lên đến hơn 5000người Số lượng lấy đỗ cũng từ hai, ba chục tăng lên bốn, năm chục người Cábiệt ba khoa thi năm Hồng Đức thứ 9 (1478), Hồng Đức 18 (1487), Cảnh Thống
Trang 85 (1502) con số lấy đỗ lên tận 60 người Về cuối thời Lê sơ, số lượng người lấy
và cho điểm) Sau này đời vua Lê Tương Dực, trong khoa thi năm 1511, có thêmchức Tri cống cử đứng sau chức đề điệu và trên chức giám thí Bảng thống kê1.1.2.2 cho chúng ta biết tên họ và chức vụ của những người giữ chức đề điệu,giám thí, độ quyển trong một số kỳ thi Đình thời Lê sơ
1.1.2.3 Phép thi và nội dung thi
Thi Đình ở thời Lê sơ, về phép thi không có gì thay đổi, vẫn chỉ thi mộtbài văn sách để phân hạng cao, thấp Theo bảng 1.1.2.3, trong số 17 đề thi Đình
có đến 8 đề hỏi về đạo trị nước của các bậc đế vương, còn lại đề cập đến các vấn
đề khác như lễ nhạc, chính hình, nhân tài, vương chính, đạo làm vua, làmthầy…, đặc biệt kì thi Đình khoa thi năm Cảnh Thống 5 (1502) hỏi về kinh Phậtchứng tỏ Nho học tuy phát triển nhưng Phật học vẫn giữ vị trí quan trọng trongđời sống tư tưởng của xã hội người Việt
1.1.2.4 Ân điển đối với người đỗ kì thi Đình
Năm 1448, vua Lê Nhân Tông thay đổi tên gọi và học vị những người đỗthi Đình, chia những người đỗ tiến sĩ làm Cập đệ, chánh bảng và phó bảng Năm
Trang 91484, vua Lê Thánh Tông đổi trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa làm tiến sĩ cập
đệ, chánh bảng làm tiến sĩ xuất thân và phụ bảng làm đồng tiến sĩ xuất thân
Bên cạnh đó, ân điển cho những người đỗ thi Đình thời Lê sơ so với cáctriều đại Lý, Trần cũng có phần long trọng hơn: Năm 1442, chủ trương dựng biatiến sĩ; năm 1466, đặt lệ xướng danh; năm 1466, đặt lệ vinh quy cho các tiến sĩ
về làng; năm 1472, quy định tư cách tiến sĩ; năm 1493, định lệ ban mũ áo, đai vàcho ăn yến
1.2 Thi Đình trong trường kinh tế - xã hội thế kỷ XVII - XVIII
1.2.1 Thể chế vua Lê - chúa Trịnh
Năm 1592, cục diện Nam - Bắc triều về cơ bản đã chấm dứt Nước ĐạiViệt đã hình thành cục diện một chế độ hai chính quyền và một giai đoạn lịch sử
đặc biệt trong chế độ phong kiến Việt Nam với cơ chế “Vua ngồi ngai vàng, Chúa nắm thực quyền” Lịch sử gọi là “thời kỳ Lê - Trịnh” (1592 - 1789) Tất cả
mọi quyền hành quản lý đất nước thực về chúa Trịnh, vua Lê cùng toàn bộ triềuđình chỉ có tính chất tượng trưng và hư danh
Chế độ một nước hai ngôi vị đó đã tạo ra các mâu thuẫn: Mâu thuẫn giữa
hệ tư tưởng Nho giáo với thể chế chính trị, mâu thuẫn giữa danh nghĩa và thựcquyền mà nổi bật là mâu thuẫn giữa những người đứng đầu hai hệ thống chínhquyền: Vua Lê và Chúa Trịnh
Mâu thuẫn giữa Vua - Chúa đã kéo theo toàn bộ hệ thống quan lại vào
cuộc đối đầu, buộc họ phải lựa chọn đứng về một trong hai “chiến tuyến”, hoặc
phe Vua hoặc phe Chúa Do vậy, chính ở thời kỳ Lê - Trịnh, hệ tư tưởng Nhogiáo, chủ yếu là tư tưởng tam cương với trọng tâm là mối quan hệ quân - thầnđang đứng trước thử thách nghiêm trọng Thời kỳ này danh phận không rõ ràng,lời chúa trọng hơn mệnh vua khiến đạo lý cương thường đảo ngược Văn võ báquan phân vân đứng trước hai ngả: trung với vua hay trung với chúa?
Trước tình hình trên, thi Đình với tư cách là kì thi đề cao quyền lực củanhà vua, đào tạo lực lượng trung thành với chính quyền mà người đại diện tốicao là vua Lê ở thế kỷ XVII - XVIII đã có sự thay đổi Từ thời Lý đến thời Lê
sơ, nhiệm vụ của thi Đình chỉ là lựa chọn các nho sĩ có tài bổ sung vào bộ máy
Trang 10quan lại để điều hành tư tưởng Nho giáo làm cho xã hội ổn định và phát triển.
Nhưng thời Lê - Trịnh với thể chế “Lưỡng đầu chế” lại đặt thi Đình vào vị trí trực tiếp đối diện với tư tưởng “trung quân” và nhiệm vụ của thi Đình là phải
tuyển chọn những người trung thành với vua, tài giỏi và có mưu lược để khôiphục lại thực quyền cho vua Lê
1.2.2 Nhu cầu tăng cường đội ngũ quan lại
Chính quyền “lưỡng đầu chế” một bên Vua một bên Chúa đã tạo ra một
hệ thống quan lại cồng kềnh, đồ sộ, không ngừng gia tăng về số lượng nhưngsuy giảm về chất lượng và tăng cường bóc lột, vơ vét của dân Vấn đề đặt ra làlấy người ở đâu để bổ sung vào hệ thống cồng kềnh ấy? Dưới thời Lê - Trịnh, thi
cử vẫn được coi trọng và là nguồn cung cấp quan lại chủ yếu, đáng tin cậy chochính quyền
Nhu cầu đó không phải lúc nào cũng liên tục mà có khi bị gián đoạn bởichiến tranh Trịnh - Nguyễn và các cuộc khởi nghĩa của nông dân Trong chiếntranh hay trong các cuộc nổi loạn, vai trò của quan võ luôn được xem trọng hơnquan văn Nhưng khi chiến tranh, loạn lạc kết thúc thì quan võ lại không đượctrọng bằng quan văn Việc phục hồi, xây dựng đất nước, quản lý xã hội đòi hỏi
vai trò của các quan lại xuất thân từ “cửa Khổng sân Trình”
Nhu cầu về quan lại trong thời bình và sau thời chiến là một trong nhữngnhân tố tác động tích cực đến thi Đình, đòi hỏi thi Đình phải được tổ chứcthường xuyên để đáp ứng Mặt khác cả hai bên Trịnh, Nguyễn đều muốn thu hút
nhân tài về phía mình vậy nên vua Lê chúa Trịnh phải tìm cách để “nguồn chất xám” của Đàng Ngoài không chạy vào Đàng Trong theo chính quyền chúa
Nguyễn Muốn vậy, thi Đình cần được tổ chức đều đặn, liên tục để kẻ sĩ có cơhội tiến thân
1.2.3 Sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa
Sự phát triển của kinh tế hàng hóa trong hai thế kỷ XVII, XVIII đã gây ranhiều biến đổi trong đời sống xã hội Việt Nam Cả xã hội đổ xô vào buôn bán,làm giàu Một hiện tượng phổ biến lúc bấy giờ là người giàu thường dùng tiền
để mua chức quan, không phải mua lén lút mà do nhà nước công khai bán
Trang 11Hệ quả tất yếu của việc mua quan bán tước là chất lượng quan lại bị giảmsút Nó còn dẫn đến tâm lý không coi trọng sự học, thi cử bởi học và thi vừa tốnthời gian vừa hao công tổn sức mà kết quả cũng chỉ là nhận được một chứcquan Những người dùng tiền mua chức khi gia nhập vào chốn quan trường sẽtác động đến các lĩnh vực khác nhau của xã hội, trong đó có giáo dục, thi cử(tham gia vào việc dạy dỗ, khảo hạch, coi thi, chấm thi) và gây ra những ảnhhưởng xấu.
Người ta cũng sử dụng tiền để lũng đoạn trường thi: Làm văn bài để bán,nhờ người làm bài thay, hối lộ quan trường, nộp tiền khỏi thi khảo hạch làm
xuất hiện hạng “sinh đồ ba quan” Mục đích học tập của kẻ sĩ cũng thay đổi.
Học rồi thi không phải để ra làm quan đem tài học giúp dân, giúp nước mà ralàm quan để đi buôn, kiếm tiền, làm giàu
Nằm trong hệ thống các cấp thi của khoa tiến sĩ, mặc dù được tổ chức trựctiếp tại sân điện, do các quan lại cao cấp phụ trách coi thi và vua Lê đích thânchấm thi song điều đó không có nghĩa là thi Đình sẽ ở ngoài sự chi phối của sứcmạnh đồng tiền nếu không được tổ chức nghiêm minh, kiểm tra chặt chẽ Bêncạnh đó, phải gia thêm ân điển để chứng tỏ con đường tiến thân bằng khoa mụcluôn được nhà nước xem trọng và quan lại xuất thân từ tiến sĩ vẫn có danh tiếng
và vị trí cao hơn quan lại dùng tiền mà có chức
1.2.4 Những dạng tiêu cực của thi cử
Giáo dục thời Lê trung hưng tiếp tục sự nghiệp giáo dục thời Lê sơ và cảnhà Mạc nhưng đến lúc này những hạn chế, yếu kém của nền giáo dục Nho họctruyền thống đã bộc phát ngày càng rõ rệt và vô phương cứu chữa Trong haicấp thi Hương, thi Hội tiêu cực xuất hiện mỗi lúc một nhiều, có những hiệntượng không chỉ xảy ra một lần mà lặp đi lặp lại như: Học trò mang sách vàotrường thi; quan trường nhận hối lộ; gửi gắm học trò, người quen; bí mật làmsẵn bài gà cho sĩ tử…
Nếu không đề phòng, tăng cường giám soát trong khi thi Đình thì nhữnggian lận của thi Hương, Hội rất dễ được sử dụng ở kì thi cấp cao này Việc nhànước cho phép nộp tiền thay khảo hạch, quan trường nhận hối lộ, nhà giàu dùng
Trang 12tiền gửi gắm con em, mua bán bài thi, nhờ người thi hộ… làm cho nhiều ngườikhông thực sự có tài cũng lọt vào thi Hội, thi Đình dẫn đến chất lượng của đốitượng dự thi Đình và đỗ tiến sĩ không cao.
Vì vậy, trong môi trường thi cử đầy nhũng tệ đương thời, thi Đình cần tổchức nghiêm túc, tuyển dụng những người có thực học; mặt khác phải côngbằng, sáng suốt, không tiêu cực để chọn được những người giỏi, tinh anh, đạođức phục vụ đắc lực cho dân, cho nước
Tiểu kết
1 Thi Đình ở Việt Nam đã có một lịch sử lâu đời Theo ghi chép của sử
cũ, khoa thi Đình đầu tiên xuất hiện dưới thời Lý Vào cuối thời Trần, nó trởthành kì thi cuối cùng trong hệ thống khoa thi tiến sĩ Đến thời Lê sơ, thi Đình
+ Là kì thi do Vua trực tiếp kiểm tra và ban đỗ
+ Có một “hội đồng” tổ chức thi, coi thi (đề điệu, tri cống cử, giám thí,
tuần xước, di phong, đằng lục, thu quyển, đối độc) và chấm thi (vua Lê, quanđộc quyển) riêng
+ Phép thi chỉ thi một bài văn sách Nội dung thi tập trung vào những vấn
đề trị nước, an dân, minh quân, lương thần, hưng đạo, giáo hóa, phong tục, dụngngười, lý tài, binh bị…
+ Ân điển giành cho người đỗ thi Đình đầy đủ và trọng hậu
2 Sang thế kỷ XVII - XVIII, bối cảnh kinh tế - xã hội mới trong hai thế
kỷ này đã đặt ra nhiều thử thách cho thi cử nói chung và thi Đình nói riêng
Dựa trên cơ cấu tổ chức chính quyền nhà nước Lê sơ, để thực hiện sựchuyên quyền, tập trung quyền hành về phủ chúa, họ Trịnh đã xây dựng mộtchính quyền với cơ cấu hết sức phức tạp, cồng kềnh, nhiều chức quan và chức
Trang 13tước mới được đặt ra Triều đình của vua Lê chỉ là những con rối mặc cho chúaTrịnh giật dây thao túng.
Dưới sự trị vì của vua Lê - chúa Trịnh, kinh tế - xã hội của Việt Namkhông những không có bước phục hồi, chuyển biến, trái lại ngày càng lâm vàotình trạng trì trệ dù chúa Trịnh đã đề ra một số giải pháp để cứu vãn tình thế.Cuộc sống cùng cực không lối thoát đã xô đẩy người nông dân phải rời bỏ quêhương làng xóm, tha phương cầu thực khắp nơi Một cao trào khởi nghĩa nôngdân giữa thế kỷ XVIII làm quân Trịnh bao phen kinh hồn bạt vía và góp phầnlay chuyển nền tảng cơ nghiệp hơn 200 năm của nhà Trịnh
Sự phồn vinh của nền kinh tế hàng hóa Việt Nam trong hai thế kỷ XVII
và XVIII kéo theo sự phát triển của quan hệ tiền tệ đã ảnh hưởng to lớn đến sinhhoạt xã hội, đặc biệt là các quan niệm đạo đức cũ Ý thức hệ Nho giáo ngàycàng suy đồi, tôn ti trật tự, lễ giáo nho gia bị nhân dân biến thành đối tượng đấutranh, đả kích Tiền tài trở thành một vị thần mới làm mê muội và hư hỏng conngười, giữa thế lực và của cải lại hình thành mối liên minh Có năm mất mùa,đói kém, chúa Trịnh còn ra lệnh cho cả nước quyên thóc để được ban quan chức.Như thế, quan tước cũng trở thành một thứ hàng hóa và bộ máy quan lại đã bịtiền làm cho thoái hóa, biến chất
Chúa Trịnh vẫn duy trì và mở rộng giáo dục và thi cử làm phương tiệnđào tạo quan liêu Nhưng nội dung giáo dục và thi cử chỉ còn bề rộng, khôngcòn chiều sâu Việc học tập cũng trở nên sơ sài, nông cạn, lối học từ chương sáorỗng phát triển mạnh mẽ Đồng tiền cũng chui vào giáo dục, khoa cử làm nảysinh nhiều tệ nạn gian lận, mua bán ngày càng lũng đoạn trường thi - nhất là ởcác cấp thấp thi khảo hạch, thi Hương và cả thi Hội
Nhà chúa biết rõ những điều này và tìm mọi cách để ngăn chặn, sửa đổinhư: thay đổi phép thi, phép khảo hạch, cách ra đề thi, định quy chế thi, nghiêmcấm, trừng trị các hành vi vi phạm Trong các chính sách giáo dục, thi cử đókhông phải là không có những chính sách tiến bộ, hợp lý song thói tệ lâu ngày
và sức ì của hệ thống thực thi những chính sách đó (tức bộ máy quan lại phongkiến) quá lớn, do đó kết cục vẫn không thể vực dậy nổi
Trang 14Thi Đình thế kỷ XVII - XVIII, vì diễn ra trong bối cảnh rối ren, có phầnhỗn loạn như thế nên hiển nhiên sẽ có nhiều nét khác biệt so với các thế kỷtrước.
3 Trường kinh tế - xã hội thế kỷ XVII - XVIII như đã đề cập một mặt tácđộng rất lớn đối với chế độ giáo dục, thi cử nói chung và thi Đình nói riêng; mặtkhác tạo ra những thách thức mới buộc thi Đình phải giải quyết
Thể chế chính trị “lưỡng đầu chế”, sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa
với những ảnh hưởng của nó đến xã hội, giáo dục, thi cử, nhu cầu về quan lại vànhững tiêu cực trong thi cử thời Lê - Trịnh đã đặt ra cho thi Đình nhiều vấn đề:Phải tổ chức thi đều đặn để có đủ số lượng bổ sung cho hệ thống quan lại ngàymột phình to; phải tiến hành thi nghiêm minh, chặt chẽ để ngăn chặn các hành vigian trá; phải chọn đúng người thực học, thực tài, có đủ phẩm chất đạo đức vàbản lĩnh thoát khỏi sự cám dỗ của đồng tiền để trở thành vị quan thanh liêm,chính trực, có ích cho dân Quan trọng hơn cả là thi Đình phải đào tạo được mộtđội ngũ quan lại làm lực lượng nòng cốt trong triều đình, có lòng trung thànhvới vua Lê, phò tá vua diệt trừ chúa Tư tưởng trung quân là trụ cột của thuyếttam cương - hạt nhân của Nho giáo Trụ cột có vững thì thuyết mới vững và hệ
tư tưởng Nho giáo mới tiếp tục giữ vai trò là hệ tư tưởng chủ đạo của xã hội
CHƯƠNG II THI ĐÌNH THẾ KỶ XVII - XVIII 2.1 Thời gian thi và địa điểm thi
2.1.1 Thời gian thi Đình
Trang 15Từ bảng thống kê 2.1.1, chúng tôi thấy:
- Thời gian thi Đình: Thời gian thi Đình phổ biến là tháng 4, tháng 5 vàtháng 12 Nếu như thi Hội chủ yếu vào mùa xuân (tháng 1,2,3 - chiếm 52,2%)thì ngược lại các tháng mùa hè (tháng 4,5,6) chiếm phần lớn thời gian tiến hànhcác kì thi Đình, sau đó là mùa đông (28,3%) rồi mới đến mùa xuân (15,2%)
- Thời gian giữa hai kì thi Hội và Đình: Có thể một tháng, hai tháng hoặc
3 tháng, có khi đến 5 tháng So với thời Lê sơ, giữa thi Hội và thi Đình thời Lê Trịnh có sự giãn ra về mặt thời gian Ở thời Lê sơ, khoảng cách từ thi Hội đếnthi Đình đa phần chỉ khoảng 1 tháng, thậm chí trong cùng một tháng và cả thiĐình lẫn thi Hội đều được tổ chức trong một năm Còn thi Đình thời Lê - Trịnhsau thi Hội một hoặc hai tháng là thông dụng bởi yêu cầu phân loại ngay nhữngngười đỗ thi Hội Thời Lê - Trịnh, thi Hội và thi Đình phần nhiều cũng được tổchức ngay trong một năm nhưng xuất hiện vài trường hợp không cùng năm dothi Hội đã vào cuối năm nên thi Đình phải chuyển sang năm sau
-2.1.2 Địa điểm thi Đình
Các nguồn sử liệu cũ cho biết những người đỗ thi Hội sẽ được vào trongsân điện Kính Thiên để dự kì thi Đình đối và làm bài ở lều thi Ngoài ra, cũng cókhoa, thi Đình được Chúa tổ chức ngay tại phủ của mình, đó là hai khoa nămVĩnh Hựu 2 (1736) và Cảnh Hưng 40 (1779)
2.2 Đối tượng dự thi Đình
Điều kiện tất yếu để được dự thi Đình đương nhiên là phải đỗ kì thi Hộinhưng để đỗ được kì thi Hội không phải là một điều dễ dàng Bảng thống kê2.2.a cho thấy số người vào dự thi Hội thời Lê - Trịnh rất đông, đông hơn nhiều
so với thời Lê sơ Khoa thi năm Bảo Đại thứ 3 (1442) có số người dự thi thấpnhất thời Lê sơ là 450 người, trong khi đó thời Lê - Trịnh, khoa thi thấp nhấttheo số liệu có được là khoa thi năm Vĩnh Tộ thứ 3 (1613) là 1000 người, còntrung bình số người dự thi của các khoa là 2000 - 3000 Khoa thi năm DươngHòa thứ 6 (1640) là khoa thi có số người dự thi Hội đông nhất thời Lê - Trịnhnói riêng cũng như chế độ khoa cử phong kiến Việt Nam nói chung với số người
dự thi lên đến 6000 người
Trang 16Số người thi Hội thì đông nhưng số lấy đỗ lại không nhiều, do đó, “tỷ lệ chọi” để được dự thi Đình là rất lớn, một người phải chọi với mấy trăm người.
Thời Lê sơ có những khoa lấy đỗ đến hơn 60 người còn ở thời Lê - Trịnh, khoalấy đỗ nhiều nhất cũng chỉ có 31 người Vì vậy, tỷ lệ chọi để vào thi Đình ở sânđiện của nhà vua càng cao, cao nhất là khoa thi năm Hoằng Định thứ 5 (1604):
Tỷ lệ 1 chọi 714
Bảng 2.2.b cho biết 19 tuổi 29 tuổi (219 người, chiếm 30%) và 30 tuổi
-39 tuổi (284 người, chiếm -39%) là hai lứa tuổi phổ biến nhất trong những người
dự thi Đình Không riêng gì những người trẻ tuổi, có khá nhiều người đã caotuổi cũng dự thi, thậm chí có những người nếu ở làng quê đã được xếp vào hàng
“lão” vui thú điền viên, an hưởng tuổi già Có 9 người thi Đình khi tuổi quá 60
tuổi
Bảng 2.2.c cho thấy Hà Nội là địa phương có số người dự thi Đình quacác khoa dưới thời Lê - Trịnh đông nhất (144 người - chiếm 19,8%), kế đó làcác tỉnh khác thuộc đồng bằng và trung du Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ như HảiDương, Bắc Ninh, Hà Tây, Thanh Hóa, Hưng Yên, Hà Tĩnh, Nghệ An Ít nhất làThái Nguyên và Huế, mỗi tỉnh chỉ có một người dự thi Đình Ngoài ra, hầu hếtcác tỉnh miền núi Bắc Bộ (Lạng Sơn, Cao Bằng, Tuyên Quang…) và một số tỉnhduyên hải miền Trung (Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam) trong suốt 65 khoathi dưới thời vua Lê chúa Trịnh không hề có một người nào lọt vào kì thi Đình
Trong các đối tượng tham gia kì thi Đình, xảy ra một “hiện tượng” là có
không ít người đã đỗ các kì thi khác do triều đình tổ chức như Sĩ vọng, Hoành từnhưng những người đỗ lại vẫn muốn tham gia khoa thi tiến sĩ vì ân điển giànhcho những người đỗ hai kì thi này so với ân điển trong thi Đình thì không thểnào sánh bằng Điều đó chứng tỏ sức hấp dẫn của thi Đình là rất lớn
2.3 Thể lệ thi Đình và các quan chức phụ trách thi Đình
2.3.1 Thể lệ thi Đình
Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú là cuốn sách duy nhất
chính thức ghi chép về thể lệ thi Đình ở thời Lê - Trịnh Qua ghi chép của PhanHuy Chú về nghi thức thi Đình đã thể hiện tầm quan trọng cũng như không khí
Trang 17trang nghiêm của kì thi Đình với sự có mặt của cả vua Lê, chúa Trịnh cùng đạithần các ban, các quan văn võ Trong thể lệ thi Đình, Phan Huy Chú không đểcập gì đến quy tắc trường thi hay luật lệ làm văn bài… song chắc chắn thi Đìnhphải được giám sát, kiểm soát chặt chẽ hơn thi Hương, thi Hội
Cũng như thi Hương, thi Hội, văn bài thi Đình của sĩ tử phải tuân theonhững luật lệ nhất định như kỵ huý, khiếm tị, khiếm trang, khiếm đài, khiếmcung, bất túc, đồ, di, câu, cải… Dù không bị đánh trượt nhưng nếu phạm luật thìbài viết có hay đến mấy cũng bị giáng xuống hạng thấp và không bao giờ lọt vàohàng tam khôi như trường hợp của Nguyễn Huy Cẩn và Nguyễn Tông Quai
họ hàng chúa Trịnh (Trịnh Đỗ, Trịnh Ninh, Trịnh Đệ, Trịnh Khuê, Trịnh Quân,Trịnh Tương, Trịnh Lãng) hoặc có quan hệ thông gia với nhà chúa (NguyễnHoàng), không cũng là những vị thân tín, thủ túc của chúa Trịnh (Lê Lựu,Hoàng Nghĩa Phì) Còn các quan tri cống cử và giám thí phải là những người đã
đỗ tiến sĩ Tri cống cử thì hầu hết do thượng thư các bộ đảm nhiệm, giám thí thìphần lớn là các quan tả hữu thị lang Việc đề cử quan lại có phẩm cấp và học vịcao, có quan hệ mật thiết với nhà chúa một mặt chứng tỏ sự quan tâm, coi trọng
có ý đề cao của triều đình đối với kì thi Đình; mặt khác thể hiện uy quyền củadòng họ chúa đã vươn đến tận cấp cao nhất của khoa thi tiến sĩ mà đáng lẽ phải
Trang 18thuộc về vua Lê Trong một khoa thi tiến sĩ, người nào giữ chức đề điệu, tri cống
cử, giám thí ở kì thi Hội sẽ kiêm luôn các chức đó trong kì thi Đình
- Thứ hai, bộ phận chấm thi: Ở thi Đình, bộ phận chấm thi gồm vua Lê và
có thêm chức độc quyển phụ tá cho vua Về hình thức, quan độc quyển sẽ tiếndâng các quyển thi làm từ hôm trước để vua đọc và chấm điểm định cao thấp,song thực chất việc đọc và chấm bài thi được khoán luôn cho quan độc quyển.Điểm chấm các quyển thi có thể thay đổi hay giữ nguyên tuỳ theo quyết địnhcủa nhà vua Thời Lê - Trịnh, sử sách ghi lại hai trường hợp ngoại lệ: Khoa thinăm Vĩnh Hựu thứ 2 (1736) và khoa thi năm Cảnh Hưng thứ 40 (1779), ngườichấm quyển thi Đình và cho đỗ không phải là vua Lê mà là chúa Trịnh
- Thứ ba, bộ phận giữ gìn an ninh trật tự Để đảm bảo cho kì thi diễn ranghiêm túc, an toàn, 2 viên tuần xước và nhân viên hai vệ Cẩm y Kim ngô sẽ loviệc an ninh, trật tự tại khu vực thi Ngoài ra, vì thi ở điện đình nên có quân línhthiên triều canh giữ xung quanh
Như vậy, cấp thi càng cao thì bộ phận trông coi, tổ chức thi sẽ do cácquan lại có phẩm trật càng cao nắm giữ, đồng thời số lượng người phụ trách,phục vụ trường thi cũng giảm đi do số lượng thí sinh dự thi mỗi lúc một ít
2.4 Phép thi, nội dung thi, cách chấm thi
2.4.1 Phép thi
Thi Đình thì không nhiều trường như thi Hương, thi Hội mà chỉ làm mộtbài văn sách do vua ra đề Một bài văn sách được chia làm hai phần:
- Phần câu hỏi trong đề bài (gọi là sách vấn)
- Phần trả lời (gọi là đối sách) Chia ra hai phần: Phần lấy kinh điển trả lờicâu hỏi và phần đưa ra kiến giải của mình do đề bài nêu ra và phải liên hệ vớitình hình thực tế
2.4.2 Nội dung thi Đình
Nội dung của thi Đình thời Lê - Trịnh được thể hiện qua các đề thi Đềvăn sách thi Đình thời Lê - Trịnh, cả thi Hương và thi Hội, chủ yếu thuộc về vănsách mục Khác với thời Lê sơ, câu hỏi trong văn sách bao quát rộng rãi, thời Lê
Trang 19trung hưng từ niên hiệu Quang Hưng (1578 - 1599) trở về sau, người ra câu hỏichuyên lấy những câu hiểm hóc để làm đề
Qua các đề thi ở bảng bảng 2.3.2, chúng ta thấy vấn đề quan tâm hàng đầu
của triều đình là đường lối trị nước xưa và nay, chiếm 13/15 khoa, 2 khoa còn
lại thì một khoa hỏi về đạo lý trời đất muôn vật, một khoa hỏi về môn học tâmtính của con người
2.4.3 Cách chấm thi Đình
Việc chấm thi Đình trong đời Lê sơ hay Lê trung hưng hoàn toàn theocách chấm điểm theo thang điểm bốn bậc, tức ưu - bình - thứ - liệt, như thiHương, thi Hội và việc lấy đỗ cao thấp thì tính từ trên xuống
Lệ quy định là vậy nhưng quyết định cuối cùng vẫn phải phụ thuộc vào ýmuốn của vua và vua có thể cho đỗ cao thấp, ban hoặc không ban chức tướckhông dựa vào chất lượng văn bài mà do nhiều yếu tố khách quan như xét tuổi,xét tướng mạo… Trước thời Lê - Trịnh, giai thoại Việt Nam cho biết có batrường hợp của Nguyễn Hiền, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Giản Thanh Dưới thời Lê
- Trịnh, Đại Việt sử ký tục biên và Khâm định Việt sử thông giám cương mục có
ghi lại một trường hợp của Trịnh Tuệ - trạng nguyên khoa thi năm 1736 vì quenbiết mà đỗ trạng nguyên
Mặc khác, dù đã có lệ “Đình thí bất truất” song vua là người định ra lệ
mà không cần theo lệ nên trong lịch sử khoa cử vẫn có trường hợp đánh trượt sĩ
tử đã vào thi Đình, đó là: Khoa thi Bính thìn năm Hồng Đức thứ 27 (1496) vàkhoa thi Đinh Sửu năm Cảnh Hưng thứ 18 (1757)
2.5 Thực trạng thi Đình và sử dụng của triều đình đối với người thi đỗ
2.5.1 Thực trạng thi Đình
Trong 65 khoa thi thời Lê - Trịnh, sử cũ chỉ ghi lại 2 trường hợp tiêu cựckhi thi Đình, một vào thời Vĩnh Tộ và một rơi vào thời Lê Cảnh Hưng - TrịnhSâm:
- Khoa thi năm Cảnh Hưng thứ 18 (1757): Nguyễn Khiêm Hanh can tộimang sách vào trường thi nên bị đánh hỏng
Trang 20- Khoa thi năm Vĩnh Tộ 5 (1623): Nguyễn Trật ngầm mượn người làm hộbài, việc bị phát giác, vua không bằng lòng nên không ban cho bảng vàng.
So với thi Hương và thi Hội thì tiêu cực trong thi Đình không đáng kể.Càng lên cấp thi cao hơn thì các hiện tượng gian dối, các tệ nạn trong trường thicàng giảm
2.5.2 Sử dụng của triều đình đối với người thi đỗ
Xét về chế độ đãi ngộ đối với người đỗ tiến sĩ thì thời Lê trung hưng lạihậu hơn và bổ dụng cao hơn thời Lê sơ, thể hiện sự coi trọng nhân tài của nhànước và góp phần nâng cao vị thế, danh dự của các tiến sĩ trong xã hội:
+ Ban mũ áo và cân đai triều phục, cho vinh quy về quê hương, có đủhạng cờ quạt, nghi trượng, phường trống và phường nhạc đón rước
+ Viên quan có trách nhiệm bắt dân làng trước hết phải lập phủ đệ chotiến sĩ
+ Không những người đỗ tam khôi hoặc ứng thí chế khoa trúng cách bổvào Hàn lâm, mà cả người đỗ đồng tiến sĩ cũng được bổ giữ các chức trọngtrong các khoa các đạo, không phải bổ làm quan ở các phủ huyện
+ Trong mỗi khoa thi, một người đỗ trẻ tuổi được bổ chức Hàn lâm việnhiệu thảo
+ Người nào được bổ làm quan ở ngoài các Trấn thì được bổ vào hai TiThừa chính và Hiến sát, đều trao chức chưởng ấn chính thức, không phải giữchức tá nhị
Năm 1674, Trịnh Tạc định lại thể lệ bổ nhiệm các tiến sĩ và đồng tiến sĩxuất thân: Chánh tiến sĩ trao chức Hàn lâm viện hiệu lý, chánh thất phẩm; đồngtiến sĩ trao chức Hàn lâm viện hiệu thảo, tòng thất phẩm Quy định của TrịnhTạc so với thời Lê Thánh Tông đã cao hơn một bậc
Những người đỗ tiến sĩ bên cạnh quyền lợi về chính trị là các quyền lợi vềkinh tế, đơn cử như về ruộng đất Theo chính sách quân điền năm 1711, quanviên có chức phẩm chưa được cấp dân lộc thì căn cứ vào phẩm mà cấp ruộngcho Năm 1741, phủ chúa bỏ lệ cấp dân tuỳ hành và thay vào đó là lệ cấp ruộng