1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Những quy định pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp qua thực tiễn trên địa bàn huyện bắc tân uyên, tỉnh bình dương

130 5 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những quy định pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp qua thực tiễn trên địa bàn huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương
Tác giả Phan Nhật Hoàng An
Người hướng dẫn TS. Lê Thị Tuyết Hà
Trường học Trường Đại Học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật kinh tế
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 5,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong công tác THADS thì biện pháp cưỡng chế THADS đối với DN được CHV áp dụng nhằm buộc người phải THA phải thực hiện những hành vi hoặc nghĩa vụ về tài sản theo BA, QĐ của Tòa án khi h

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TỈNH BÌNH DƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2021

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Chuyên ngành: Luật kinh tế

Mã số chuyên ngành: 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ Giảng viên hướng dẫn: TS LÊ THỊ TUYẾT HÀ

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2021

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan rằng luận văn “Pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp qua thực tiễn trên địa bàn huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương” là bài nghiên cứu của chính tôi

Ngoại trừ những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận văn này, tôi cam đoan rằng toàn phần hay những phần nhỏ của luận văn này chưa từng được công bố hoặc được sử dụng để nhận bằng cấp ở những nơi khác

Không có sản phẩm/nghiên cứu nào của người khác được sử dụng trong luận văn này mà không được trích dẫn theo dúng quy định

Luận văn này chưa bao giờ được nộp để nhận bất kỳ bằng cấp nào tại các trường đại học hoặc cơ sở đào tạo khác

Thành phố Hồ Chí Minh-Năm 2020

Phan Nhật Hoàng An

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Trong suất thời gian học tập và nghiên cứu tại trường ĐH mở thành phố Hồ Chí Minh em luôn nhận được quan tâm, giúp đỡ, khuyến khích và tạo điều kiện của cơ quan, thầy cô, gia đình và bạn bè

Tác giả bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy cô, Khoa sau đại học-Trường ĐH Mở thành phố Hồ Chí Minh và giảng viên hướng dẫn đã tạo điều kiện, đóng góp cho tác giả trong suất quá trình học tập và nghiên cứu hoàn thành luận văn thạc sĩ

Em xin chúc quý thầy cô dồi dào sức khỏe và ngày càng có nhiều thành công trong sự nghiệp

Tuy nhiên, vì kiến thức chuyên môn vẫn còn nhiều hạn chế cùng với việc bản thân chưa có nhiều kinh nghiệm nên bài luận văn của em vẫn còn nhiều thiếu sót Kính mong nhận được sự góp ý và chỉ bảo của quý thầy cô

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 6

TÓM TẮT

Đề tài nghiên cứu của tôi là “Pháp luật về cưỡng chế THADS đối với DN qua thực tiễn trên địa bàn huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương” gồm 02 chương: Chương 1 nói về cơ sở lý luận và quy định pháp luật về cưỡng chế THADS đối với doanh nghiệp và chương 2 nói về thực trạng cưỡng chế THADS đối với DN trên địa bàn huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương - giải pháp và kiến nghị

Trong chương 1 tác giả đã nêu khái quát về cưỡng chế THADS đối với doanh nghiệp, các quy định pháp luật về cưỡng chế THADS đối với doanh nghiệp, các biện pháp cưỡng chế có thể áp dụng đối với doanh nghiệp; trình tự, nguyên tắc áp dụng các biện pháp cưỡng chế THADS đối với doanh nghiệp từ những quy định trên tác giả đã đưa ra những ý nghĩa của việc cưỡng chế THADS đối với doanh nghiệp với các đối tượng khác trong THADS Đối với chương 2 tác giả nói về thực trạng cưỡng chế THADS đối với doanh nghiệp trên địa bàn huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương; các yêu tố tác động đến cưỡng chế trên địa bàn huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương; thực trạng cưỡng chế THADS đối với doanh nghiệp tại Bình Dương và huyện Bắc Tân Uyên, những bất cập thưởng gặp trong việc cưỡng chế THADS đối với doanh nghiệp trên địa bàn và từ đó đưa ra một số giải pháp-kiến nghiệp giúp hoàn thiện hệ thống pháp luật về THADS

Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế THADS là giải pháp có hiệu quả nhằm bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp, bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định và thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật trước thái độ không chấp hành án của người phải THA Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo trong công tác THADS trên địa bàn huyện Bắc Tân Uyên và tỉnh Bình Dương và có thể sử dụng đề tài trong việc đóng góp ý kiến dự thảo trong việc sửa đổi luật THA góp phần hoàn thiện hơn trong hệ thống pháp luật Biện pháp cưỡng chế THADS còn có tác dụng lớn trong việc răn đe, giáo dục ý thức pháp luật cho mọi công dân, nâng cao hiệu quả của công tác tuyên truyền pháp luật trong việc THA

Trang 7

In chapter 1, the author raises overview of CCJE for enterprises and legal regulations on CCJE for enterprises; coercive measures may apply to businesses; the order and principle of applying CCJE measures for enterprises As the results, the author provides the meanings of CCJE for enterprises and the others in the civil judgment execution.Turning into chapter 2, the author illustrates the real situation of CCJE for enterprises in Bac Tan Uyen district, Binh Duong province; the factors affect to coercion in Bac Tan Uyen district, Binh Duong province; reality of CCJE for businesses in Binh Duong and Bac Tan Uyen district; the difficulty cases often happen in CCJE for businesses in the area and thereby proposing some solutions to help improve the legal system on civil judgment enforcement

The application of CCJE measures is an effective solution to ensure the obligations performance of the enterprise, ensure the validity of the judgment, deciding and show the seriousness of law against the uncooperative attitude of the object who has to obey the judgment The topic can be a reference in the civil judgment enforcement work in Bac Tan Uyen district, Binh Duong province and can use the topic to contributing the draft in the amendment of judgment enforcement in the legal system CCJE measures also have a great effect in deterring and educating legal consciousness for all citizens and enhance the effectiveness of legal propaganda in judgment enforcement

Trang 8

MỤC LỤC

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP

1.1 Khái quát chung về cưỡng chế THADS đối với doanh nghiệp 01

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm về THADS 01

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm cưỡng chế THADS với doanh nghiệp 04

1.2 Quy định pháp luật về cưỡng chế THADS đối với doanh nghiệp 13

1.2.1 Các biện pháp cưỡng chế THADS đối với doanh nghiệp 13

1.2.2 Nguyên tắc về việc cưỡng chế THADS đối với doanh nghiệp 21

1.2.3 Quy trình về cưỡng chế THADS đối với doanh nghiệp 25

1.3 Ý nghĩa của việc cưỡng chế THADS đối với doanh nghiệp 28

1.3.1 Thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật 28

1.3.2 Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và cá nhân 30

1.3.3 Góp phần nâng cao ý thức pháp luật trong THADS 32

Tiểu kết chương 1 36

Chương 2: THỰC TRẠNG CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG - GIẢI PHÁP VÀ KIỀN NGHỊ 2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến cưỡng chế THADS đối với doanh nghiệp tại huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương 37

2.1.1 Những quy định pháp lý ảnh hưởng đến cưỡng chế THADS đối với doanh nghiệp 37

2.1.2 Vấn đề kinh tế-xã hội ảnh hưởng đến cưỡng chế THADS đối với doanh nghiệp 39

2.1.3 Vấn đề địa lý tác động đến cưỡng chế THADS đối với doanh nghiệp 42

Trang 9

2.1.4 Công tác phối hợp các cơ quan ban ngành trong cưỡng chế THADS đối với doanh nghiệp 43

2.2 Thực trạng cưỡng chế THADS đối với doanh nghiệp 46

2.2.1 Tình hình cưỡng chế THADS đối với doanh nghiệp trên tỉnh Bình Dương 46 2.2.2 Một số vụ cưỡng chế THADS đối với doanh nghiệp trên địa bàn huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương 49 2.2.3 Những bất cập trong việc cưỡng chế THADS đối với doanh nghiệp trên địa bàn huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương 57

2.3 Những kiến nghị về việc cưỡng chế THADS đối với doanh nghiệp 63

2.3.1 Đề xuất nâng cao hiệu quả trong cưỡng chế THADS đối với Doanh nghiệp trên địa bàn huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương 63 2.3.2 Kiến nghị hoàn thiện các quy định pháp luật về cưỡng chế THADS đối với doanh nghiệp 68

Tiểu kết chương 2 78 KẾT LUẬN 79

Trang 10

DNTN Doanh nghiệp tư nhân

HN&GĐ Hôn nhân và gia đình

HĐTV Hội đồng thành viên

HĐND Hội đồng nhân dân

NSNN Ngân sách nhà nước

NHNN Ngân hàng nhà nước

NN-CN Nông nghiệp-công nghiệp

NN-CN-ĐT Nông nghiệp-công nghiệp-đô thị PNTM Pháp nhân thương mại

KBNN Kho bạc Nhà nước

KH&ĐT Kế hoạch và đầu tư

KT-XH Kinh tế xã hội

Trang 11

KDTM Kinh doanh thương mại

UBND Ủy ban nhân dân

Trang 12

1 Lý do chọn đề tài

Thi hành án dân sự là một trong những hoạt động quan trọng của bộ máy nhà nước; giai đoạn tiếp theo của một quy trình giải quyết tố tụng dân sự nhằm đảm bảo thực hiện đúng các nội dung bên trong các BA, QĐ về dân sự của TA, TTTM, Hội đồng XLVVHCCT được thi hành trên thực tế Hoạt động THADS có hiệu quả góp phần bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật; để đảm bảo tốt nhất quyền lợi cho các đương sự cũng như đảm bảo hiệu lực thi hành của bản án, quyết định, cơ quan THA phải áp dụng các biện pháp thi hành án để tổ chức thi hành các phán quyết này Việc

áp dụng các biện pháp THADS của cơ quan THA là để đảm bảo: “BA, QĐ của TAND

có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức,

cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành”

Trong công tác THADS thì biện pháp cưỡng chế THADS đối với DN được CHV

áp dụng nhằm buộc người phải THA phải thực hiện những hành vi hoặc nghĩa vụ về tài sản theo BA, QĐ của Tòa án khi họ có điều kiện THA mà không tự nguyện THA hoặc trong trường hợp cần ngăn chặn người phải THA tẩu tán, hủy hoại tài sản Cưỡng chế THA là biện pháp nghiêm khắc nhất và cũng là biện pháp thể hiện đầy đủ nhất việc sử dụng quyền lực nhà nước trong công tác THADS để bảo đảm BA, QĐ của TA được thi hành trên thực tế, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật

Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đang diễn ra ngày càng sâu rộng, liên tục phát triển về quy mô, mức độ và hình thức biểu hiện Chúng tác động đến không chỉ ở phạm vi quốc gia, các CQNN mà còn các DN và thậm chí cả mỗi một cá nhân Trong những năm qua, cùng với quá trình tích cực, chủ động hội nhập quốc tế, Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách, pháp luật tạo cơ chế thông thoáng để thu hút nguồn lực từ bên ngoài, đồng thời có các giải pháp để cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN mà nước ta đang xây dựng và hoàn thiện là nền kinh tế gắn kết chặt chẽ với các nền kinh tế trên thế giới Do đó,trách nhiệm của THADS Việt Nam trước yêu cầu hội nhập quốc tế của đất nước nói chung còn rất nặng nề, đặc biệt là thu hẹp khoảng cách

Trang 13

về thời gian thi hành BA, THADS đã trở thành một yếu tố quan trọng bảo đảm sự thông thoáng và tin cậy của môi trường đầu tư kinh doanh

Việc tổ chức hệ thống THADS theo ngành dọc nhưng không tách rời sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương và sự phối hợp, hỗ trợ của các ngành, nhất là VKS, TAND, cơ quan Công an và các cơ quan chuyên môn thuộc UBND Cùng với đó, là việc phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị, thu hút sự tham gia của các tổ chức CT-XH và các đoàn thể quần chúng tham gia vào công tác THADS

Mặc dù hoạt động cưỡng chế THADS đã được quy định trong Luật THADS, văn bản hướng dẫn; hoạt động này được thực hiện có sự quan tâm của Đảng và nhà nước,

có sự phối hợp giữa CQNN và nhân dân, có sự tác động tích cực từ các nước trong khu vực Tuy nhiên, trong quá trình thực thi vẫn gặp nhiều khó khăn vướng mắc xuất phát

từ các quy định pháp luật, từ thực thi đường lối chủ trương của Đảng và nhà nước, sự phối hợp thực hiện chưa nhịp nhàng, chặt chẽ nên hoạt động này vẫn chưa đạt được hiệu quả cao trong quá trình thực thi qua thực tiễn tại Tân Uyên, Bình Dương

Chính vì những lý do nêu trên, nên tác giả chọn đề tài “Những quy định pháp

luật về cưỡng chế thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp qua thực tiễn trên địa bàn huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương”

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

THA là một lĩnh vực khó khăn và nhạy cảm ảnh hưởng đến quyền lợi nhiều người, nhiều cơ quan ban ngành trong việc phối hợp với nhau Trong những năm gần đây THADS được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm; cho đến nay đã có những công trình nghiên cứu về lĩnh vực này, cụ thể như:

Lê Ánh Dương (2017), “Cưỡng chế THADS trên địa bàn huyện Krông Nô, huyện

Đắk Nông, Luận văn thạc sĩ chuyên ngành luật hiến pháp và hành chính”, Học viện

hành chính quốc gia Đề tài nghiên cứu về cơ sở lý luận về cưỡng chế THADS, thực trạng cưỡng chế THADS tại huyện Krông Nô các yếu tốc tác động đến địa phương, phương hướng giải quyết của địa phương trong thời gián tới

Trang 14

Lương Ngọc Hưng (2018), “Cưỡng chế THADS từ thực tiễn tỉnh Nam Định,

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành luật hiến pháp và hành chính”, Viện Hàn Lâm khoa

học và công nghệ Việt Nam Tác giả nghiên cứu về cưỡng chế THADS tại tỉnh Nam Định, thực trạng của tỉnh Nam Định và từ đó tác giã đã có một số nhận xét thực tiễn áp dụng biện pháp cưỡng chế tại tỉnh Nam Định, mục tiêu nghiên cứu làm rõ những vấn

đề lý luận và pháp lý cơ bản về cưỡng chế THADS, khái quát lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật THADS, nêu thực trạng áp dụng các biện pháp cưỡng chế tại tỉnh Nam Định và đề xuất một số giải pháp cụ thể

Bùi Đức Tiến (2018), “Thực hiện cưỡng chế THADS tại Việt Nam, Luận văn

thạc sĩ chuyên ngành luật hiến pháp và hành chính”, Học viện chính trị quốc gia Tính

cấp thiết của đề tài là hoạt đọng đưa các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ra thi hành; đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật; bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước, tổ chức, cá nhân và xã hội; đối với công tác thi hành án nói chung, công tác thi hành án dân sự nói riêng, từ khi thực hiện đường lối đổi mới đến nay Đáng chú ý là để đảm bảo hiệu quả thi hành án, có nhiều

vụ việc, cơ quan thi hành án dân sự phải áp dụng các biện pháp cưỡng chế cho đương

sự

Lê Khắc Đức (2017), “Pháp luật về cưỡng chế THADS từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk,

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành luật hiến pháp và hành chính”, Học viện hành chính

quốc gia

Lê Anh Tuấn, sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về cưỡng chế THADS”

năm 2019, Nxb Tư pháp

Nguyễn Xuân Thu và Bùi Nguyễn Phương Lê,“Giáo trình nghiệp vụ THADS

(phần chung) năm 2016, Nxb Tư pháp

Nguyễn Xuân Thu và Nguyễn Thị Phíp,“Giáo trình nghiệp vụ THADS (phần kỹ

năng tập 1) năm 2016, Nxb Tư pháp

Nguyễn Xuân Thu và Nguyễn Thị Phíp,“Giáo trình nghiệp vụ THADS (phần kỹ

năng tập 2) năm 2016, Nxb Tư pháp

Trang 15

Bài viết “Thực trạng các quy định về cưỡng chế thi hành nghĩa vụ giao, trả tài

sản” của TS Lê Anh Tuấn đề cập về cưỡng chế trả vật, giấy tờ, chuyển quyền sử dụng

đất được quy định tại Mục 9 Luật Thi hành án dân sự từ Điều 114 đến Điều 117, trong

đó đề cập tới 04 biện pháp cưỡng chế, cụ thể là cưỡng chế trả vật; cưỡng chế trả nhà, giao nhà; cưỡng chế chuyển quyền sử dụng đất; cưỡng chế giao, trả giấy tờ Thực trạng các quy định về cưỡng chế thi hành nghĩa vụ giao, trả tài sản

Bài viết “Những nội dung cơ bản pháp luật về cưỡng chế kê biên tài sản của

người phải THA” của Tuấn Hà đề cập về cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản của người

phải thi hành án, kể cả tài sản của người phải THA đang do người thứ ba giữ là biện pháp cưỡng chế THADS có nhiều điều luật quy định nhất trong các điều luật quy định

về các biện pháp cưỡng chế THADS và cũng thường được áp dụng nhiều nhất trong thực tế

Bài viết “Một số vấn đề về cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền” của Trang Tuấn

đề cập về cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền được áp dụng bởi nhiều biện pháp cưỡng chế, tuy nhiên quy định pháp luật về cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền hiện nay có nhiều nội dung rất cần được quan tâm, thực hiện và tháo gỡ bất cập

Có nhiều tác giả nghiên cứu nhiều công trình liên quan đến cưỡng chế THADS, tuy nhiên vì phạm vi nghiên cứu của từng đề tài nên các công trình vẫn chưa thể giải quyết mọi vấn đề liên quan đến quy định pháp luật và thực tiễn thực thi công tác cưỡng chế THADS Vì vậy, đề tài của tác giả sẽ kế thừa những nội dung trong những công trình trên để tiếp tục nghiên cứu theo hướng tiếp cận của mình để từ đó đưa ra những đề xuất mà tác giả kỳ vọng sẽ góp phần hoàn thiện một số quy định pháp luật

và cơ chế thực thi đối với hoạt động cưỡng chế THADS đối với DN

3 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài làm rõ những vấn đề lý luận về cưỡng chế THADS và thực trạng cưỡng chế THADS đối với DN trên địa bàn huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương từ đó có thể nhận dạng được những hạn chế, bất cập quy định của pháp luật và những tồn tại, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng Từ đó, đưa ra

Trang 16

những giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập, vướng mắc còn tồn động; góp phần giải quyết những khó khăn, vướng mắc thường gặp trong công tác cưỡng chế THADS đối với DN trên địa bàn huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương và từ đó có thể giúp hoàn thiện hệ thống pháp luật về THADS

4 Câu hỏi nghiên cứu

(1) Biện pháp cưỡng chế THADS nào thiết yếu nhất đối với doanh nghiệp? (2) Có nên áp dụng biện pháp bảo đảm đối với doanh nghiệp trước khi cưỡng chế hay không?

(3) Những trường hợp nào cơ quan thi hành án dân sự không được cưỡng chế THADS đối với doanh nghiệp?

(4) Phân biệt giữa cưỡng chế thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp với các chủ thể khác?

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận về cưỡng chế THADS đối với DN là những quy định pháp luật về cưỡng chế THADS đối với doanh nghiệp

và thực trạng cưỡng chế THADS đối với doanh nghiệp trên địa bàn huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương

Phạm vi nghiên cứu của đề tài nêu khái quát về THADS; THADS đối với doanh nghiệp và tập trung nghiên cứu tổng quát nhất 06 biện pháp cưỡng chế THA gồm những khái niệm, đặc điểm, nội dung và ý nghĩa của cưỡng thế THADS đối với DN Tình hình thực tiễn tại huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương trong việc áp dụng biện cưỡng chế THADS đối với DN trong những năm qua

6 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận:

Luận văn được thưc hiện trên cơ sở quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin, phương pháp luận biện chứng duy vật; quan điểm của Đảng, Nhà nước và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật

- Phương pháp nghiên cứu:

Trang 17

+ Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

- Ý nghĩa thực tiễn

THADS là công việc có nhiều khó khăn, phức tạp nhưng có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo vệ pháp chế, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, duy trì kỷ cương phép nước Việc THA tác động trực tiếp đến các lợi ích vật chất và tinh thần của người phải THA, người được THA và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan

Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo trong công tác THADS trên địa bàn huyện Bắc Tân Uyên và tỉnh Bình Dương và có thể sử dụng đề tài trong việc đóng góp ý kiến

dự thảo trong việc sửa đổi luật THA góp phần hoàn thiện hơn trong hệ thống pháp luật

Biện pháp cưỡng chế THADS còn có tác dụng lớn trong việc răn đe, giáo dục ý thức pháp luật cho mọi công dân, nâng cao hiệu quả của công tác tuyên truyền pháp luật trong việc THA đồng thời là cơ sở pháp chế XHCN

Trang 18

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP

1.1 Khái quát chung về cưỡng chế thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm về thi hành án dân sự

Khái niệm về thi hành án dân sự

Luật THADS được Quốc hội ban hành năm 2008 từ những pháp lệnh THADS năm 1989, năm 1993, năm 2004 và được sửa đổi bổ sung năm 2014 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng để CHV của cơ quan THADS tổ chức thi hành các BA, QĐ của

TA và các phán quyết của cơ quan tài phán có thẩm quyền Trên sơ sở Hiến pháp Việt Nam năm 2013, những năm gần đây nhiều văn bản pháp luật mới cũng được ban hành có nhiều quy định liên quan đến trình tự, thủ tục THADS như Bộ luật TTDS 2015, Luật TTHC năm 2015, Luật Phá sản năm 2014, Luật DN năm 2014, “Trong thời gian tới Bộ luật Thi hành án dân sự sẽ trình cơ quan có thẩm quyền ban hành nhằm khắc phục những bất hợp lý, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc còn tồn tại trong công tác thi hành án, tập trung nhiệm vụ thi hành án về ngành Tư pháp theo hướng mở rộng phạm vi không chỉ là thi hành án dân sự mà còn một số lĩnh vực thi hành án khác như: Thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo, thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ.v.v Bộ luật Thi hành án xây dựng trên cơ sở quán triệt quan điểm chỉ đạo điều chỉnh toàn diện các lĩnh vực về thi hành án, tạo cơ chế bảo đảm nhiệm vụ quản lý nhà nước về thi hành án tập trung vào một đầu mối là Bộ

Tư pháp nhưng không tách rời sự quản lý, chỉ đạo của cấp uỷ Đảng và chính quyền địa phương, đồng thời xã hội hoá một phần công tác thi hành án là cơ sở pháp lý để tiếp tục tăng cường, nâng cao hiệu quả hoạt động của công tác thi hành án nói riêng

và Ngành Tư pháp nói chung”(1)

Thi hành án được tách ra từ Tòa án (năm 1992) nên gắn liền với hoạt động xét

xử của TA, Trọng tài, Hội đồng XLVVHCCT do đó hiện nay vẫn có nhiều ý kiến khác nhau về THADS sau đây là một số quan điểm về THADS:

(1) Hoàng Thọ Khiêm(2018), “Tập chí dân chủ pháp luật”, “Số chuyên đề 60 năm ngành Tư pháp”

Trang 19

Quan điểm thứ nhất cho rằng: THADS là hoạt động hành chính tư pháp do cơ

quan, tổ chức, người có thẩm quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục luật định để đưa bản án, quyết định của Tòa án hoặc các quy định khác của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật được thực hiện trên thực tế, là giai đoạn cuối cùng của quá trình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong các quan hệ dân sự(2)

Quan điểm thứ hai: Luật THADS Việt Nam là tổng hợp các quy định pháp

luật điều chỉnh các quan hệ giữa cơ quan THADS, văn phòng thừa phát lại với đương sự, cơ quan, tổ chức và cá nhân liên quan đến việc THADS, phát sinh trong quá trình THADS nhằm bảo vệ việc THADS có hiệu quả, bảo vệ lợi của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân tổ chức; THADS là nhằm mục đích đưa bản

án, quyết định ra thực hiện trên thực tế Do vậy, đối tượng THADS trước hết phải là bản án, quyết định giải quyết các vụ việc dân sự, sau đó là các quyết định về tài sản trong các bản án hình sự, hành chính của Tòa án Trước đây, hoạt động THADS được xem là một dạng của hoạt động tố tụng dân sự cho nên tổng hợp các quy phạm luật điều chỉnh các quan hệ giữa cơ quan THADS, cá nhân, tổ chức phát sinh trong quá trình THADS được coi là chế định cơ bản của luật tố tụng dân sự(3)

Từ những phân tích như trên có thể hiểu: THADS là một trong những hoạt động của bộ máy Nhà nước nhằm đảm bảo đảm việc thi hành các BA, QĐ về dân sự của TA, Hội đồng XLVVHCCT, TTTM theo quy định của pháp luật và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong hoạt động THA

Đặc điểm của thi hành án dân sự

Thứ nhất: THADS là hoạt động mang tính chất hành chính - tư pháp: Tính

hành chính thể hiện ở chỗ là dạng hoạt động chấp hành vì thi hành án chỉ được tiến hành trên cơ sở các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và trong khuôn khổ luật định; toàn bộ quá trình THA với những hoạt động, biện pháp, cách thức khác nhau đều nhằm thực hiện những nội dung đã được thể hiện trong các bản án, quyết định của Tòa án và theo các quy định cụ thể của pháp luật Còn tính tư pháp thể

(2) Lê Thị Lành (2017), Luận văn thạc sĩ pháp luật về THADS từ thực tiễn tỉnh Phú Yên

(3) Trường ĐH Luật Hà Nội (2019), Giáo trình Luật THADS, Nxb Công an nhân dân, tr.16

Trang 20

hiện ở chỗ căn cứ để THA là các bản án và quyết định của Tòa án và có sự tham gia của các cơ quan tư pháp vào quá trình THA Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng tính tư pháp trong THA là tư pháp hiểu theo nghĩa rộng Trong thực tiễn ở nước ta, cơ quan

tư pháp thường được hiểu bao gồm Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân, cơ quan điều tra, cơ quan THA

Tính chất hành chính - tư pháp là một đặc điểm rất quan trọng cần lưu ý trong khi quy định về tổ chức và hoạt động của THADS Là hoạt động thuộc trách nhiệm của hệ thống cơ quan THA nên trong các quy định của pháp Luật THADS phải xác định rõ trách nhiệm chính trong tổ chức, quản lý, chỉ đạo công tác THA phải thuộc

về Chính phủ và Ủy ban nhân dân các địa phương Với đặc điểm là hoạt động mang tính chất tư pháp thì những tổ chức và cá nhân có thẩm quyền trực tiếp THA (CHV) phải có tính độc lập tương đối, hoạt động theo luật và chịu trách nhiệm trước Nhà nước(4)

Thứ hai: Hoạt động của THA theo một trình tự nhất định thi hành đúng nội

dung BA, QĐ; áp dụng đúng các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục THA, bảo đảm được lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích của đương sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Những vấn đề chung về trình tự, thủ tục THA như trách nhiệm chuyển giao và giải thích BA, QĐ, thẩm quyền ra quyết định THA, thông báo về THA, xác minh điều kiện THA, cưỡng chế, ủy thác, hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ, trả đơn yêu cầu THA, miễn giảm THA đã có những quy định khá cụ thể và

phù hợp với tình hình phát triển KT-XH của nước ta hiện nay

Thứ ba: Cơ quan THADS chỉ thi hành BA, QĐ của Tòa án; BA, QĐ của

TTTM; Hội đồng XLVVHCCT Nó có tính chất bắt buộc đối với cá nhân, tổ chức,

cơ quan có liên quan, việc không chấp hành có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật Đối với những BA, QĐ về dân sự của TA nước ngoài hoặc Trọng tài nước ngoài phải được TA Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam Theo quy định các BA, QĐ của TA chủ yếu liên quan đến những lĩnh vực là hình sự, hành

(4) Trương Hồng Quang, bản chất của hoạt động thi hành án hành chính, Viện khoa học pháp lý, Bộ Tư

pháp

Trang 21

chính, dân sự Tương ứng với nó có các lĩnh vực THA như THA hình sự, THA hành chính, THA dân sự

Thứ tư: Chủ thể trong quan hệ THADS là Cơ quan THADS (đại diện là CHV),

người được THA và người phải THA đây là ba chủ thể bắt buộc trong quan hệ THADS được hình hành trên cơ sở của BA, QĐ Tuy nhiên trong quá trình THA có thể phát sinh thêm các mối quan hệ như: Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong trường hợp thừa kế hoặc chia tài sản chung; Tòa án trong trường hợp yêu cầu Tòa giải thích BA, QĐ; Công an; Phòng TN&MT; Sở KH&ĐT; Chi cục Thuế,

Thứ năm: CHV thi hành án phải tôn trọng quyền thỏa thuận của đương sự về

thời gian, địa điểm, phương thức thanh toán và nội dung THA, nếu các thỏa thuận

đó không vi phạm pháp luật và không trái đạo đức xã hội, kết quả THA dựa trên thỏa thuận đó được công nhân Trong trường hợp này CHV có trách nhiệm chứng kiến việc thỏa thuận và không có quyền can thiệp vào nội dung của việc thỏa thuận Đây là điểm khác biệt của THADS với THA hình sự, trong THA hình sự khi BA có hiệu lực thi hành trên nguyên tắc mệnh lệnh và phục tùng bắt buộc không có sự thỏa thuận giữa các bên về THA

1.1.2 Khái niệm và đặc điểm cưỡng chế thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp

Khái niệm cưỡng chế thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp

Theo cuốn Đại Từ điển tiếng Việt, thì cưỡng chế là “bắt buộc phải tuân theo bằng sức mạnh quyền lực, tính chất cưỡng chế của pháp luật” Theo Từ điển tiếng Việt, thì “cưỡng chế là dùng quyền lực Nhà nước bắt buộc người khác phải tuân theo” Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam tập 1, thì “cưỡng chế là dùng quyền lực của Nhà nước để bắt buộc người khác thực hiện những việc làm trái ý muốn của họ Cưỡng chế là một trong những phương pháp chủ yếu của hoạt động quản lý Nhà nước” Về mặt thuật ngữ pháp lý, theo cuốn Từ điển luật học, thì cưỡng chế là

Trang 22

“những biện pháp bắt buộc cá nhân hay tổ chức phải thực hiện và phục tùng mệnh lệnh nhất định của CQNN có thẩm quyền”(5)

THA thì được phân chia hành nhiều loại như: THA hành chính, thi hành án hình sự, THADS, thi hành án kinh tế và thi hành án lao động Mỗi loại THA có cách thức, trình tự, thủ tục tiến hành đặc thù ngoài những trình tự, thủ tục chung của quá thình THA Trong các loại THA thì hệ thống tổ chức, thẩm quyền và trình tự, thủ tục thi hành án không hoàn toàn giống nhau Vậy thì quyền lực Nhà nước được bảo đảm thực hiện bởi nhiều loại hình cưỡng chế được pháp luật quy định như: Cưỡng chế hành chính, cưỡng chế thi hành án hình sự, cưỡng chế thi hành án dân

sự(6) Để bảo đảm việc thực hiện cưỡng chế THADS thì Nhà nước quy định bằng pháp luật về cưỡng chế THADS, trong đó có quy định các biện pháp cưỡng chế THADS và cách thức thực hiện Trong THADS có nhiều BA, QĐ được thi hành, với nhiều loại nghĩa vụ THA, vì thế quy định về cưỡng chế THADS phải có cách thức tiến hành cụ thể tương thích với loại nghĩa vụ đó như: “Cưỡng chế buộc thực hiện công việc nhất định, cưỡng chế buộc không được thực hiện công việc nhất định, cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền, cưỡng chế giao vật, chuyển QSDĐ, giao nhà, trả nhà, trừ vào thu nhập hoặc khai thác tài sản để THA”(7) Cưỡng chế THADS được đặt ra và tiến hành với mục đích cụ thể là thi hành việc THADS nhưng mục đích chung là thi hành nghiêm chỉnh BA, QĐ được thi hành theo thủ tục THADS, bảo đảm hiệu lực thi hành của BA, QĐ đó

Cưỡng chế THADS đối với DN khác so với cưỡng chế THADS đối với cá nhân từ nguyên tắc, trình tự, thủ tục như: Đối tượng cưỡng chế của cá nhân khác so với đối tượng cưỡng chế là DN; về nghĩa vụ phải thi hành đối với cá nhân là vô hạn (trừ trường hợp thực hiện xong hoặc chết); giá trị tài sản phải thi hành của với doanh nghiệp có giá trị lớn so với cá nhân Trong BLDS năm 2015 quy định điều chỉnh cá nhân ở chương III từ điều 16 đến điều 73 yêu cầu về tư cách pháp lý của cá nhân đã được làm sáng tỏ ở các giai đoạn xét xử của cơ quan tố tụng

Trang 23

Riêng cưỡng chế đối với PNTM được điều chỉnh bởi Luật THA hình sự đối tượng áp dụng là Cơ quan THA hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan quản lý nhà nước đối với PNTM và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác liên quan đến thi hành cưỡng chế; trên nguyên tắc thời hạn áp dụng biện pháp cưỡng chế để bảo đảm THA không quá thời hạn chấp hành hình phạt theo BA, QĐ của TA đã có hiệu lực pháp luật; thời hạn bảo đảm thi hành biện pháp tư pháp được xác định khi biện pháp tư pháp được thi hành xong; biện pháp cưỡng chế cũng khác so với doanh nghiệp; trong cưỡng chế THA hình sự đối với DN chỉ có thể thực hiện ba biện pháp cưỡng chế là phong tỏa tài khoản; kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền bảo đảm thi hành cưỡng chế biện pháp tư pháp và tạm giữ tài liệu, chứng từ, thiết bị chứa dữ liệu điện tử; tạm giữ hoặc thu hồi con dấu của DN

Cưỡng chế THADS là biện pháp nghiêm khắc nhất, thể hiện đầy đủ nhất việc

sử dụng quyền lực Nhà nước trong công tác THADS do CHV quyết định, nhằm buộc người phải THA phải thực hiện những hành vi hoặc nghĩa vụ về tài sản theo bản án, quyết định của TA, Hội đồng XLVVHCCT và TTTM Các biện pháp cưỡng chế THADS được áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp không tự nguyện THA trong thời hạn do CHV cơ quan THADS ấn định, hoặc trong trường hợp cần ngăn chặn người phải THA có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản Tại Điều 46 Luật THADS năm 2014 nếu hết thời gian tự nguyện mà DN không tự nguyện THA thì CHV tiến hành xác minh, doanh nghiệp phải kê khai trung thực, cung cấp đầy đủ thông tin về tài sản, thu nhập, điều kiện THA với cơ quan THADS và phải chịu trách nhiệm về việc kê khai của mình Trường hợp thi hành QĐ áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì phải tiến hành xác minh ngay Như vậy, khi CHV xác minh

DN có điều kiện mà không tự nguyện thì bị cưỡng chế để đảm bảo cho THA

Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế THA đối với doanh nghiệp phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định như: Chỉ áp dụng các biện pháp cưỡng chế được pháp luật quy định tại Điều 71 Luật THADS năm 2014; chỉ được áp dụng biện pháp cưỡng chế sau khi đã hết thời hạn tự nguyện THA trừ trường hợp cần ngăn chặn người phải THA có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc trốn tránh nghĩa vụ THA;

Trang 24

việc tổ chức cưỡng chế phải tương ứng với nghĩa vụ của doanh nghiệp và các chi phí cần thiết khác Việc phải tiến hành cưỡng chế là biện pháp cuối cùng, ngoài ý muốn của cơ quan THADS Nếu cơ quan THA động viên, giáo dục thuyết phục doanh nghiệp nhiều lần mà doanh nghiệp không tự nguyện thi hành, cố tình lẩn tránh, chây ỳ thì buộc cơ quan THADS phải tổ chức cưỡng chế Việc cưỡng chế là một biện pháp cưỡng bức của Nhà nước nhằm tôn trọng và giữ nghiêm pháp chế

Để bảo đảm thực hiện cưỡng chế THADS đối với doanh nghiệp Nhà nước quy định bằng biện pháp về cưỡng chế THADS, trong đó có quy định các biện pháp cưỡng chế THADS và cách thức thực hiện cho từng đối tượng Trong THADS có nhiều bản án, quyết định được thi hành với nhiều loại nghĩa vụ THA đối với doanh nghiệp, vì thế quy định về cưỡng chế THADS phỉa có cách thực tiến hành cụ thể tương ưng với loại nghĩa vụ cho từng biện pháp cưỡng chế Do đó, cưỡng chế THADS được đặt ra và tiến hành với mục đích chung là thi hành nghiêm chỉnh bản

án, quyết định được thi hành theo thủ thục thi hành án dân sự, bào đảm hiệu lực thi hành của bản án, quyết định đó

Từ những phân tích trên thì theo tác giả cưỡng chế THADS đối với DN là biện pháp THADS dùng quyền lực của Nhà nước buộc DN phải tuân theo, do CHV áp dụng một hoặc nhiều biện pháp cùng lúc trong các biện pháp cưỡng chế THA trong trường hợp DN có điều kiện THA mà không tự nguyện THA để bảo vệ quyền lợi của người được THA và lợi ích của Nhà nước Cưỡng chế THADS đối với doanh nghiệp

có thể xem xét dưới góc độ là một quan hệ pháp luật, một chế định pháp luật hoặc một hoạt động áp dụng pháp luật trong thực tiễn

Đặc điểm của cưỡng chế thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp

Thi hành các BA, QĐ về KDTM là hoạt động thực thi phán quyết của TA, cơ quan có thẩm quyền liên quan đến các vấn đề tranh chấp trong lĩnh vực KDTM THADS đối với DN có những đặc điểm cụ thể sau:

Thứ nhất: Đối tượng trong cưỡng chế THADS đối với DN

Đối tượng phải THA trong cưỡng chế THADS đối với DN là DN được tổ chức và hoạt động theo pháp luật Việt Nam DN là tổ chức có tên riêng, có tài sản,

Trang 25

có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh, theo Luật doanh nghiêp 2014 hiện nay có 05 loại hình doanh nghiệp là DNTN, công ty TNHH MTV, công ty TNHH hai thành viên trở lên, công

ty hợp danh và CTCP Mỗi loại hình doanh nghiệp có người đại diện theo pháp luật khác nhau: Đối công ty TNHH và công ty Cổ phần có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật; đối với công ty Hợp danh người đại diện là Chủ tịch HĐTV, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc; đối với DNTN chủ DN là người đại diện theo pháp luật trong trường hợp DN có thuê giám đốc thì người đại diện vẫn là chủ DNTN

Trong quá trình THA đối với doanh nghiệp có thể chuyển đổi quyền và nghĩa

vụ THA cho người khác trong trường hợp như: Hợp nhất; sáp nhập; chia, tách; giải thể; phá sản và trường hợp các đương sự tự thỏa thuận việc chuyển giao quyền, nghĩa vụ về THA cho người thứ ba trong trường hợp này người thứ ba có quyền và nghĩa vụ chuyển giao Trường hợp tài sản để đảm bảo THA không còn do thực hiện quyết định giải thể trái pháp luật thì cơ quan ra quyết định giải thể (Tòa án, Trọng tài và cơ quan đăng ký kinh doanh) phải chịu trách nhiệm cho việc thi hành phần nghĩa vụ của doanh nghiệp bị giải thể tương ứng với tài sản đó Đối tượng phải THA chỉ chấm dứt chỉ kết thúc nghĩa vụ THA khi họ thi hành xong nghĩa vụ của mình hoặc không còn tài sản để thi hành (trừ DNTN và công ty hợp danh)

Trong THADS đối tượng bị cưỡng chế không chỉ là cá nhân, tổ chức, cơ quan

mà còn được áp dụng đối với một số đối tượng khác Trong nhiều trường hợp sự chuyển hóa từ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia vào quá trình tố tụng trước khi THADS thành người được THA hoặc người phải THA do họ được hưởng quyền hoặc phải thực hiện nghĩa vụ theo BA, QĐ đã có hiệu lực pháp luật, khi đó

họ bị cưỡng chế THADS nếu thuộc đối tượng phải THA và họ phải chịu chi phí cưỡng chế THADS theo quy định của pháp luật

Việc thực hiện cưỡng chế THADS đối với đối tượng không phải là người phải THA đòi hỏi phải thận trọng, tuân thủ đúng trình tự, thủ tục cưỡng chế THADS, bởi

họ không mong muốn bị cưỡng chế THADS nhưng không thể thực hiện được sự tự

Trang 26

nguyện THA do họ không có nghĩa vụ THA và có trường hợp họ bị thiệt hại nhất định từ việc cưỡng chế THADS, như trường hợp cưỡng chế tài sản của DN có chung tài sản với người khác hoặc tài sản của DN đang cho người khác thuê, mượn, nhận cầm cố, thế chấp đang trong thời hạn hợp đồng thuê, mượn, cầm cố, thế chấp tài sản Việc cưỡng chế THADS đối với đối tượng không phải là người phải thi hành án không giống như đối với người phải THA, nhất là trong trường hợp quyết định cưỡng chế THADS áp dụng trực tiếp đối với người phải THA nhưng việc thực hiện quyết định cưỡng chế THADS lại được tiến hành đối với người không phải là người phải THA, có trường hợp chỉ là yêu cầu họ chuyển đồ đạc, di dời tài sản ra khỏi tài sản bị cưỡng chế THADS của người phải THA, tuy vậy họ vẫn là đối tượng

bị cưỡng chế THADS mặc dù họ không phải là người phải THA Khác với cưỡng chế THADS đối tượng là cá nhân đối tượng bị cưỡng chế thường là một người trong trường hợp cũng có thể có thêm người cùng liên đới phải chịu trách nhiệm

Thứ hai: Cưỡng chế THADS đối với doanh nghiệp là một biện pháp thi hành

án dân sự

Việc THADS được khởi động bằng quyết định THA và mỗi quyết định THA

là một việc THADS Việc THADS được thực hiện trước hết bằng biện pháp tự nguyện trong trường hợp biện pháp tự nguyện THA không thực hiện được thì phải

có sự can thiệp mạnh của Nhà nước để buộc doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ THADS bằng việc áp dụng biện pháp cưỡng chế THADS phù hợp Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế THADS trong trường hợp nhất định, kể cả áp dụng đối với người thứ ba để THA chính là một biện pháp THADS

Bản án, quyết định được thi hành có nhiều khoản, tùy từng trường hợp cụ thể

có thể tổ chức thi hành một hoặc một số khoản trong bản án, quyết định theo yêu cầu của đương sự hoặc theo quy định của pháp luật Khi tổ chức thi hành một hoặc một số khoản của bản án, quyết định thì phải thực hiện thông qua trình tự, thủ tục THADS với các bước thực hiện của quá trình khởi động, thực hiện và kết thúc việc THADS Việc THADS được khởi động bằng quyết định thi hành án Mỗi quyết định thi hành án là một việc THADS Việc THADS được thực hiện trước hết bằng

Trang 27

biện pháp tự nguyện thi hành án Biện pháp tự nguyện thi hành án luôn được khuyến khích thực hiện, theo đó nếu doanh nghiệp không tự nguyện thực hiện nghĩa

vụ thi hành án trong thời hạn pháp luật quy định hoặc nếu doanh nghiệp thỏa thuận được với người được thi hành án phương thức thực hiện việc THADS(8)

Cưỡng chế THADS đối với DN trong Luật THADS rất khác so với cưỡng chế THA đối với PNTM trong Luật THA hình sự từ biện pháp cưỡng chế cho đến đối tượng áp dụng như biện pháp cưỡng chế THA đối với PNTM chỉ có 03 biện pháp so với 06 biện THA trong Luật THADS năm 2014: Phong tỏa tài khoản; kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền bảo đảm thi hành cưỡng chế biện pháp

tư pháp (kê biên tài sản); tạm giữ tài liệu, chứng từ, thiết bị chứa dữ liệu điện tử; tạm giữ hoặc thu hồi con dấu của PNTM Đối tượng áp dụng trong Luật THA hình

sự là PNTM được Cơ quan Công an cấp tỉnh áp dụng Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra quyết định cưỡng chế đối với pháp nhân thương mại phải gửi ngược lại cho Tòa án đã ra quyết định thi hành đây là điểm khác biệt so với cưỡng chế THADS đối với DN

Thứ 3: Cưỡng chế THADS trên tài sản hoặc hành vi

Đối tượng cưỡng chế của THADS là tài sản hoặc hành vi của DN Tại điều 71 Luật THADS năm 2014 quy định các biện pháp cưỡng chế THADS như: Khấu trừ tiền trong tài khoản, thu hồi xừ lý tiền, giấy tờ có giá; trừ vào thu nhập; kê biên xử

lý tài sản; khai thác tài sản; buộc chuyển giao vật, quyền tài sản, giấy tờ; buộc thực hiện hoặc không thực hiện hành vi nhất định những biện pháp trên nhằm mục đích buộc DN thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với người được THA Như vậy, khi CHV áp dụng biện pháp cưỡng chế đối tượng THA là DN nhưng thi hành trên tài sản hoặc hành vi của DN khác với THA hình sự đối tượng thi hành là chính là quyền tự do thân thể hoặc tính mạng của người phải THA

Trong THADS tại đơn vị thì THADS đối với cá nhân giá trị tài sản (tỷ lệ về tiền) chiếm tỷ lệ rất thấp so với giá trị tài sản của DN theo thống kế những năm trở lại đây tỷ lệ về tiền của DN thông thường chiếm đến 90% trên tổng số tiền thụ lý

(8) Lê Anh Tuấn (2019), Một số vấn đề lý luận và thực tế cưỡng chế THADS, Nxb Tư pháp, tr 21

Trang 28

trong năm của đơn vị So với việc thụ lý về việc thì số lượng về việc chiếm tỷ khoản 5% đối với tổng thụ lý về việc trong năm Đây được coi là trong những điểm bất cập về báo cáo chỉ tiêu liên quan đến tiền chỉ cần một đơn vị thi hành xong một hồ

sơ liên quan đến DN thì có thể đạt một chỉ tiêu về tiền; không thường số tiền thụ lý đối với doanh nghiệp chiếm đến 2/3 tỷ vệ của đơn vị

Đối với việc THA hành chính thì cơ thế THA hành chính là một dạng hoạt động vừa mang tính chấp hành vừa mang tính quản lý, điều hành Tính chấp hành trong THA hành chính thể hiện rõ rệt ở chỗ trong giai đoạn THA, cơ quan thi hành

án không ra quyết định giải thích BA, QĐ của Tòa án mà chỉ có một mục tiêu là tổ chức thực hiện BA, QĐ đó Trong trường hợp, Tòa tuyên bác yêu cầu khởi kiện, người khởi kiện phải tiếp tục chấp hành QĐ hành chính đã bị kiện Còn THADS là

có cả cưỡng chế và tất cả những thủ tục kèm theo

Cơ quan thi hành án dân sự chỉ kê biên tài sản khác của doanh nghiệp phải thi hành án, nếu sau khi đã khấu trừ tài khoản, xử lý vàng, bạc, đá quý, kim khí quý khác, giấy tờ có giá của doanh nghiệp đang do doanh nghiệp quản lý hoặc đang do người thứ ba giữ mà vẫn không đủ để thi hành án, trừ trường hợp bản án, quyết định

có quyết định khác hoặc đương sự có thỏa thuận khác.(9)

Thứ tư: Cưỡng chế THADS được áp dụng thông qua thực hiện quyết định có hiệu lực bắt buộc thi hành

Cưỡng chế THADS được thể hiện cụ thể bằng việc ban hành QĐ của người có thẩm quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế Tùy từng trường hợp cụ thể, người có thẩm quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế ra QĐ cưỡng chế THADS Với tính chất

là một văn bản áp dụng pháp luật, quyết định cưỡng chế THADS có giá trị bắt buộc thi hành đối với người bị cưỡng chế

Quyết định cưỡng chế được ban hành trên cơ sở BA, QĐ được thi hành theo thủ tục THADS và nhằm thi hành BA, QĐ đó, vì vậy nếu quyết định cưỡng chế được ban hành mà không tổ chức thực hiện thì quyết định cưỡng chế THADS đó chưa được thực thi trên thực tế, chưa ban hành quyết định cưỡng chế thì cưỡng chế

(9) Khoản 5, Điều 24 Nghị định 62/2015-NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 18/7/2015 quy định về hướng dẫn Luật THADS

Trang 29

THADS chưa được áp dụng Tuy nhiên, xuất phát từ bản chất của cưỡng chế THADS là dùng quyền lực nhà nước thì thông qua thực hiện quyết định có hiệu lực thi hành, cưỡng chế thi THADS là biện pháp hạn chế quyền tự chủ, định đoạt của chủ sở hữu, sử dụng tài sản nhằm đảm bảo khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp của người được THA theo BA, QĐ có hiệu lực thi hành Chính vì vậy, cưỡng THA không chỉ có ý nghĩa bảo đảm thi hành án mà còn là bảo vệ sự bình đẳng trước pháp luật giữa các đương sự, cá nhân, tổ chức có liên quan, là căn cứ quan trọng trong việc xử lý hành vi vi phạm của người phải THA, đặc biệt là trong việc xử lý bằng trách nhiệm hình sự Theo quy định của pháp luật hình sự thì người nào có điều kiện mà không chấp hành BA hoặc QĐ của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mặc dù

đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế theo quy định của pháp luật có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành án Như vậy, bị áp dụng biện pháp cưỡng chế là yếu tố bắt buộc về mặt khách quan trong cấu thành tội không chấp hành án

Quyết định cưỡng chế THADS không chỉ có giá trị bắt buộc thi hành đối với người phải thi hành án, mà tất cả những tổ chức, cá nhân có liên quan phải tôn trọng

và thực hiện Chủ thể có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế thi hành án dân sự phải thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục, nội dung và phù hợp với thực tế; hành vi ra quyết định cưỡng chế thi hành án dân sự không đúng pháp luật cũng bị

xử lý nghiêm khắc, trong đó có hình thức xử lý bằng trách nhiệm hình sự với tội danh không thi hành án hoặc ra quyết định trái pháp luật.(10)

Như vậy, những đặc điểm nêu trên của cưỡng chế THADS đối với DN cho thấy nhiều điểm khác biệt so với các đối tượng khác trong THA như trình tự, thủ tục thi hành án, đối tượng trong THA mà là cá nhân thì chỉ đích danh một người nào đó; vẫn còn nhiều người cứ lầm tưởng cưỡng chế THADS mà có huy động lực lượng Công an cứ nghĩ là có phạm tội hình sự ở đây chỉ là dân sự còn THA liên quan đến hình sự là một cơ quan khác thuộc Bộ Công an; điểm khác biệt giữa DN với các đối tượng khác có thể nhận biết là thời gian kiện tụng, khiếu nại, THA kéo

(10) Lê Anh Tuấn (2019), Một số vấn đề lý luận và thực tế cưỡng chế THADS, Nxb Tư pháp, tr 25

Trang 30

dài nhiều tường hợp tài sản đã xử lý nhưng Tòa cấp trên lại tuyên hủy BA đang thi hành, giá trị phải thanh toán lớn ảnh hưởng đến NSNN

1.2 Quy định pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp

1.2.1 Các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp

Trong quá trình tổ chức THA, trường hợp mà DN có điều kiện THA mà không

tự nguyện THA thì CHV có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế Việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động THADS nói riêng và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân nói chung Nếu việc cưỡng chế được thực hiện thành công và hiệu quả thì sẽ có tác động tích cực đến ý thực chấp hành pháp luật của người dân Ngược lại, nếu thực hiện không đúng, không hiệu quả thì sẽ gây hậu quả xấu đối với xã hội Do vậy, khi áp dụng biện pháp cưỡng chế CHV phải rất thận trọng và tuân thủ các nguyên tắc: “CHV căn cứ vào nội dung bản án, quyết định; quyết định thi hành án; tính chất, mức độ, nghĩa

vụ thi hành án; điều kiện của doanh nghiệp; tính chất thực tế của địa phương để lựa chọn việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án thích hợp CHV áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế THA trong trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định tại Điều 130 Luật THADS”(11) Các biện pháp mà CHV thường áp dụng để cưỡng chế THADS như sau:

Thứ nhất: Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của doanh nghiệp

Theo quy định tại định tại khoản 8 điều 6 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010, giấy tờ có giá là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sở hữu giấy tờ có giá trong một thời gian nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác Theo khoản 1 điều 1 nghị định 11/2012/NĐ-

CP quy định những giấy tờ có giá bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, hối phiếu, kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, séc, chứng chỉ quỹ, giấy tờ có giá khác theo quy định của pháp luật, trị giá được thành tiền và được phép giao dịch giấy tờ có giá bao gồm

(11) Điều 13 Nghị định 62/2015-NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 18/7/2015 quy định về hướng dẫn Luật THADS

Trang 31

cổ phiếu, trái phiếu, hối phiếu, kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, séc, chứng chỉ quỹ, giấy tờ có giá khác theo quy định của pháp luật, trị giá được thành tiền và được phép giao dịch Do vậy, việc yêu cầu giao giấy tờ có giá là rất khó khăn và hiện nay pháp luật vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể về xử lý đối với loại giấy tờ có giá

vô hình này

Biện pháp cưỡng chế khấu trừ tiền trong tài khoản của DN được áp dụng trong trường hợp DN có nghĩa vụ trả tiền và đồng thời có tiền trong tài khoản ngân hàng, TCTD hoặc KBNN Trước khi ra QĐ cưỡng chế, CHV cần phải tiến hành xác minh

số tài khoản để xác định số tiền của DN có trong tài khoản tại ngân hàng, TCTD, KBNN Khi xác định được DN có tiền thì CHV lập biên bản về tình trạng tiền trong tài khoản của DN và ra quyết định khấu trừ tương ứng với nghĩa vụ của DN “số tiền khấu trừ không vượt quá nghĩa vụ thi hành án và chi phí cưỡng chế thi hành án”(12) Trường hợp đối tượng bị cưỡng chế có mở tài khoản tiền gửi tại nhiều Kho bạc Nhà nước, tổ chức tín dụng khác nhau thì Chấp hành viên căn cứ số dư tài khoản để quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế khấu trừ tiền trong tài khoản đối với một hoặc nhiều tài khoản để đảm bảo thu đủ tiền phải thi hành án và chi phí cưỡng chế thi hành án, nếu có(13)

Tùy thuộc vào từng loại giấy tờ có giá, CHV sẽ tiến hành xác minh qua những đối tượng nào, xác minh tại đâu và xác minh những nội dung gì Qúa trình xác minh phải thể hiện trong hồ sơ THA và phải thể hiện đầy đủ nội dung xác minh: Số lượng giấy tờ có giá, giá trị bao nhiêu đồng thời, yêu cầu người phải THA, người thứ ba đang giữ giấy tờ có giá của người phải THA không được chuyển dịch các giấy tờ có giá đó

Đối với biện pháp thu tiền thì CHV rất khó có thể phát hiện DN đang thực tế nắm giữ tiền hay không, vì CHV không có thẩm quyền khám xét đối với DN trong trường hợp phát hiện DN đang giữ tiền CHV rất khó có thể xác minh nguồn gốc

(12) Điều 76 Luật THADS năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014

(13) Điều 21 Nghị định 62/2015-NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 18/7/2015 quy định về hướng dẫn Luật THADS

Trang 32

khoản tiền đó Vì lý do trên trong thực tế CHV thường áp dụng biện pháp bảo đảm THA quy định tại điều 68 Luật THADS để tạm giữ tiền của DN

Đây là một trong những biện pháp cưỡng chế rất khó thi hành đối với CHV, với lại CHV không được đào tạo chuyên môn về nghiệp vụ này; bất cập trong việc quy định về thời gian từ lúc lập biên bản cho đến khi ra QĐ phong tỏa tài sản (24 giờ), có sự trùng lập về thời gian tự nguyện tại khoản 1 điều 45 Luật THADS với khoản 3 điều 67 Luật THADS năm 2014 dẫn đến việc kéo dài thời gian THA; chưa

có chế tài đủ mạnh đối với việc người thứ ba không thực hiện việc giao nộp tiền,

giấy tờ có giá hoặc tài sản khác của DN Luật THADS năm 2014 chưa quy định cụ

thể khoản tiền nào trong tài khoản của DN không được kê biên tiền để thực hiện cho một nghĩa vụ bảo đảm khác thì có được áp dụng biện pháp cưỡng chế khấu trừ tiền hay không

Thứ hai: Trừ vào thu nhập của doanh nghiệp

Thu nhập của DN là toàn bộ các khoản tiền thu được từ các hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc thu nhập hợp pháp của DN, giúp DN trang trải các khoản chi phí

đã bỏ ra và thực hiện được nghĩa vụ với Nhà nước DN bị áp dụng biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập khi có điều kiện THA và đã hết thời hạn tự nguyện THA nhưng không tự nguyện THA với điều kiện DN phải có thu nhập ổn định Tuy nhiên biện pháp này chỉ áp dụng trong trường hợp do pháp luật quy định như thỏa thuận của đương sự và BA, QĐ ấn định trừ vào thu nhập của DN

Mức tiền tối thiểu để lại cho hoạt động sản xuất kinh doanh do CHV ấn định căn cứ vào tính chất ngành, nghề kinh doanh; quy mô kinh doanh của doanh nghiệp

và mức ấn định này có thể được điều chỉnh(14) Theo khoản 3 điều 78 Luật THADS năm 2014 thì mức cao nhất mà CHV trừ vào thu nhập của DN là 30% tổng số tiền được nhận hàng tháng, trừ trường hợp đương sự có thỏa thuận khác Đối với thu nhập khác thì mức khấu trừ căn cứ vào thu nhập thực tế của người phải thi hành án,

(14) Điều 22 Nghị định 62/2015-NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 18/7/2015 quy định về hướng dẫn Luật THADS

Trang 33

nhưng phải đảm bảo điều kiện sinh hoạt tối thiểu của người đó và người được nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật

Điểm bất cập của biện pháp khấu trừ vào thu nhập của DN là một trong sáu biện pháp cưỡng chế THA mà CHV không có quyền quyết định áp dụng biện pháp này, nguyên tác của việc áp dụng biện pháp này phải dựa trên sự thỏa thuận của các đương sự; khi đã cho các đương sự thỏa thuận với nhau nhưng CHV vẫn phải ra quyết định cưỡng chế do đó Luật THADS năm 2014 lại chưa có sự thống nhất với các quy định về thỏa thuận trong THA tại Điều 7 và Điều 7a luật này Do đó, đây là một trong những biện pháp cưỡng chế mà CHV ít sử dụng nhất trong quá trình THA

Thứ ba: Kê biên, xử lý tài sản của doanh nghiệp, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ

Biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản được áp dụng khi đủ các điều kiện: Theo

BA, QĐ của Tòa án DN có tài sản để thi hành nghĩa vụ trả tiền cho người được thi hành án; đã hết thời gian tự nguyện THA hoặc chưa hết thời gian tự nguyện nhưng cần ngăn chặn việc tẩu tán, hủy hoại tài sản Nhóm biện pháp cưỡng chế này bao gồm các biện pháp cưỡng chế sau: Kê biên quyền sở hữu trí tuệ; kê biên tài sản của doanh nghiệp đang do người thứ ba giữ; kê biên vốn góp; kê biên đồ vật bị khóa, đóng gói; kê biên tài sản gắn liền với đất; kê biên phương tiện giao thông; kê biên hoa lợi; kê biên quyền sử dụng đất(15)

Đối với trường hợp người thứ ba đang giữ tiền, tài sản của doanh nghiệp không thực hiện yêu cầu của CHV mà giao tiền, tài sản đó cho người phải thi hành

án hoặc người khác dẫn đến việc không thể thi hành được cho người được thi hành

án thì người thứ ba phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật(16)

CHV chỉ kê biên tài sản khác của DN nếu sau khi đã khấu trừ tài khoản, xử lý vàng, bạc, đá quý, kim khí quý khác, giấy tờ có giá của DN do doanh nghiệp quản

lý hoặc đang do người thứ 03 giữ mà vẫn không đủ để THA, trừ trường hợp bản án,

(15) Mục 6 Luật THADS năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014

(16) Điều 23 Nghị định 62/2015-NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 18/7/2015 quy định về hướng dẫn Luật THADS

Trang 34

quyết định có quyết định khác hoặc đương sự có thỏa thuận khác(17) Trong trường hợp DN có tài sản duy nhất để thi hành mà giá trị lớn hơn nghĩa vụ THA và các chi phí khác nhưng tài sản đó lá một khối thống nhất, không thể phân chia được hoặc nếu phân chia sẽ làm giảm giá trị đáng kể thì CHV vẫn có quyền áp dụng biện pháp bảo đảm đối với tài sản này

Đối với việc kê biên QSDĐ quy định tại khoản 1 điều 502 Bộ luật Dân sự năm

2015 hợp đồng về quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản theo hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật này, pháp luật về đất đai và quy định khác của pháp luật có liên quan và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký theo quy định của Luật đất đai năm 2013; còn đối với khoản 3 điều 167 Luật đất đai quy định hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền

sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản và khoản 3 điều 188 Luật đất đai năm 2013 quy định việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính Trong trường hợp bản án có hiệu lực sau việc chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, QSDĐ có công chứng chứng thực nhưng chưa hoàn thành thủ tục đăng ký QSDĐ, pháp luật vẫn chưa có xác định trường hợp này có lừa đảo để tẩu tán tài sản hay không về mặt pháp lý thì QSDĐ vẫn thuộc về DN nhưng thực tế tài sản đã được chuyển nhượng cho người khác theo quy định của Luật THADS thì vẫn được kê biên bình thường nhưng sẽ không đảm bảo được quyền lợi của người nhận chuyển nhượng tài sản do đó những những vụ việc như vậy sẽ kéo dài thời gian thi hành

Thứ tư: Khai thác tài sản của doanh nghiệp

Cưỡng chế khai thác đối với tài sản để thi hành án là một trong 06 biện pháp cưỡng chế thi hành án được quy định tại điều 71 Luật THADS năm 2014 và trình tự thủ tục thi hành tại điều 107, điều 108 và điều 109 của Luật THADS năm 2014 Khi người phải thi hành án có giá trị tài sản quá lớn so với nghĩa vụ phải thi hành án và

(17) Khoản 5, Điều 24 Nghị định 62/2015-NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 18/7/2015 quy định về hướng dẫn Luật THADS

Trang 35

tài sản đó có thể khai thác để thi hành án, CHV phải tiến hành xác minh làm rõ hai vấn đề: Phải có cơ sở xác định giá tài sản lớn hơn rất nhiều lần so với nghĩa vụ thi hành án(18) và việc xác định giá trị tài sản trong trường hợp này không nhất thiết phải qua thẩm định giá mà CHV có thể ước lượng giá trị tài sản dựa trên giá thị trường; tài sản của DN có thể khai thác để THA, CHV cần xem xét tài sản đó có đang được khai thác hoặc có khả năng đưa vào khai thác hay không

Khi người được THA đồng ý áp dụng biện pháp cưỡng chế khai thác tài sản để THA thì CHV phải xem xét có ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba hay không Trường hợp làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba thì CHV có quyền quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế khác như

kê biên, xử lý tài sản, khấu trừ tài khoản, Như vậy, đối với trường hợp cưỡng chế này yếu tố quan trọng nhất là sự đồng ý của người được thi hành án không phụ thuộc vào giá trị tài sản

Luật THADS chỉ quy định nội dung, hình thức, trình tự thông báo đối với quyết định cưỡng chế khai thác tài sản Tuy nhiên, trước khi áp dụng được biện pháp cưỡng chế khai thác tài sản phải tìm được người có nhu cầu khai thác tài sản

Để làm được điều này cần phải có sự thông tin rộng rãi về tài sản khai thác để người

có nhu cầu khai thác tài sản biết được thông tin Khoản 1 điều 108 Luật THADS năm 2014 quy định đối với trường hợp quyền sử dụng đất mà chưa khai thác thì CHV yêu cầu doanh nghiệp ký hợp đồng khai khác tài sản với tổ chức, cá nhân có nhu cầu đây là quy định bất khả thi vì DN đã không tự nguyện THA nên CHV mới

áp dụng biện pháp cưỡng chế khai thác tài của của DN

Thứ năm: Buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ

Buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ là biện pháp cưỡng chế thi hành án do CHV áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp có nghĩa vụ trả lại tài sản cho người có quyền sở hữu Đối tượng trong trường hợp này là tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác nhưng doanh nghiệp là người sử dụng Trong biện pháp cưỡng chế này có các biện pháp cưỡng chế sau: Cưỡng chế đối với nghĩa vụ

(18) Khoản 1, Điều 107 Luật THADS năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014

Trang 36

trả vật; cưỡng chế thi hành trả nhà; cưỡng chế giao, trả giấy tờ; cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất(19)

Biện pháp này được quy định từ điều 110 đến điều 117 Luật THADS năm

2014 sau khi hết thời hạn tự nguyện THA nhưng DN không tự nguyện thi hành; tài sản hiện đang còn do doanh nghiệp chiếm hữu hoặc người thứ 3 đang giữ Trường hợp vật bị giảm giá trị hoặc không còn, bị hư hỏng không thể sử dụng đương sự không thể thỏa thuận thì có quyền khởi kiện yêu cầu TA giải quyết thiệt hại do Trường hợp tài sản có sau bản án, quyết định thì CHV yêu cầu người có tài sản đó tháo dỡ hoặc chuyển tài sản ra khỏi diện tích đất phải chuyển giao cho người được thi hành án Nếu người có tài sản không thực hiện thì CHV cưỡng chế tháo dỡ hoặc chuyển tài sản ra khỏi diện tích đất phải chuyển giao, trừ trường hợp đương sự có thỏa thuận khác Trường hợp người có tài sản gắn liền với đất từ chối nhận tài sản thì Chấp hành viên lập biên bản ghi rõ số lượng, chủng loại, tình trạng từng loại tài sản, giao tài sản cho tổ chức, cá nhân có điều kiện bảo quản hoặc bảo quản tại kho của cơ quan thi hành án dân sự và thông báo địa điểm, thời gian để người có tài sản nhận lại tài sản(20)

Trường hợp giấy tờ không thể thu hồi được nhưng có thể cấp lại thì Chấp hành viên yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ra quyết định hủy giấy tờ đó và cấp giấy tờ mới cho người được thi hành án, người trúng đấu giá tài sản thi hành án(21) Thế nhưng, pháp luật hiện nay cũng chưa quy định cụ thể thời hạn ra quyết định hủy giấy tờ, thời hạn cấp giấy tờ mới cho người được thi hành án và cũng chưa quy định trình tự, thủ tục, hồ sơ hủy giấy tờ cũ, cấp giấy tờ mới Trường hợp giấy tờ không thể thu hồi và cũng không thể cấp lại, theo quy định tại khoản 4 Điều 116 Luật THADS năm 2014 thì việc THA được xử lý theo quy định tại Điều 44a của Luật này, tức là cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án và công khai danh sách người phải THA chưa có điều kiện thi hành trên

(19) Trường ĐH Luật Hà Nội (2019), Giáo trình Luật THADS, Nxb Công an nhân dân, tr 276

(20) Khoản 2, điều 117 Luật THADS năm 2008 sửa đổi bổ sung năm 2014

(21) Điều 116 Luật THADS năm 2008 sửa đổi bổ sung năm 2014

Trang 37

Trang Thông tin điện tử của Cục THADS được tích hợp trên Cổng Thông tin điện

tử của Tổng cục THADS thuộc Bộ Tư pháp

Thứ sáu: Buộc doanh nghiệp thực hiện hoặc không thực hiện công việc nhất định

Biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ buộc thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định được quy định từ điều 118 đế điều 121 Luật THADS năm

2014 Chỉ khi BA, QĐ tuyên buộc DN phải thực hiện nghĩa vụ hành vi nhất định thì CHV mới áp dụng biện pháp này Trên thực tế, những nghĩa vụ đó rất đa dạng như:

Dỡ nhà xây dựng trái phép, mở lối đi, khôi phục hiện trạng như ban đầu khi xâm phạm, hành vi gây ô nhiễm môi trường, cải chính tin tức sai sự thật, công khai xin lỗi, chấm dứt việc sử dụng tên, nhãn hiệu hàng hóa, nhận người lao động trở lại làm việc, giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng

Điểm khó của biện pháp cưỡng chế buộc không thực hiện công việc nhất định

là đối với những công việc thời gian thực hiện có tính đặc thù riêng như khai thác

mủ cao, khai thác khoán sản của các DN rất khó để CHV theo dõi những doanh nghiệp này có chấp hành quyết định cưỡng chế hay không Tuy nhiên, điều 118 và điều 119 Luật THADS năm 2014 vẫn chưa có quy định cụ thể thế nào là cưỡng chế thi hành nghĩa vụ buộc thực hiện công việc nhất định và không thực hiện công việc nhất định Cả hai trường hợp này nếu doanh nghiệp không thực hiện cơ quan THA

sẽ ra quyết định phạt tiền, trường hợp vẫn không chấp hành thì CHV đề nghị cơ quan có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành án

Trong trường hợp doanh nghiệp không chấp hành có thể bị phạt hành chính lên đến 20.000.000 đồng và Cục trưởng cục THADS có thẩm quyền ra quyết định

xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi này(22) Nếu DN vẫn tiếp tục không chấm dứt công việc không được làm, không khôi phục hiện trạng ban đầu theo yêu cầu của CHV thì CHV đề nghị cơ quan có thẩm quyền truy cứu trách nhiệp hình sự

về tội không chấp hành

(22) Điều 85 Nghị định 82/2020/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 15/7/2020 quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực bổ trợ Tư pháp

Trang 38

1.2.2 Nguyên tắc về việc cưỡng chế thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp

Các quy định chung về cưỡng chế THADS chưa có điều khoản nào quy định

về nguyên tắc cưỡng chế THADS hoặc dẫn chiếu tới các nguyên tắc chung của pháp luật về THADS trong cưỡng chế THADS Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế trong THADS là sử dụng quyền lực của Nhà nước buộc DN phải THA theo BA,

QĐ của tòa án nên không thể tùy tiện, thiếu thống nhất mà ngược lại phải tuân theo các quy định về cưỡng chế THADS tại điều 45, điều 46 và điều 71 Luật THADS năm 2014 từ đó đưa ra một số nguyên tắc như sau:

Thứ nhất: Cưỡng chế THADS do người có thẩm quyền tiến hành

Cưỡng chế THADS mang tính quyền lực Nhà nước, vì vậy Nhà nước chỉ trao quyền cưỡng chế THADS cho những chủ thể nhất định, chủ thể đó là người có thẩm quyền tiến hành việc cưỡng chế THADS, chủ thể đó được pháp luật quy định được

áp dụng biện pháp cưỡng chế THADS Tùy điều kiện hoàn cảnh cụ thể của mỗi quốc gia mà nước đó trao quyền nhất định cho chủ thể được quyền tiến hành cưỡng chế THADS như ở Pháp, Bì, Hà Lan thi hành các BA, QĐ do Thừa phát lại thực hiện, tại Trung Quốc thì Tòa án là cơ quan thực hiện Ở Việt Nam hiện nay là Cơ quan THA, theo pháp luật hiện hành thì CHV là người được Nhà nước giao trọng trách trong việc tổ chức thi hành các BA, QĐ và là chủ thể có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế THADS để THA Ngoài CHV bất kỳ tổ chức, cá nhân nào cưỡng đoạt tài sản để siết nợ đều vi phạm pháp luật

Theo điều 20 Luật THADS năm 2014 sau khi được phân công nhiệm vụ thì CHV có toàn quyền quyết định hồ sơ có thẩm quyền xác minh tài sản, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp tài liệu để xác minh địa chỉ, tài sản của người phải THA từ đó CHV ban hành quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án, biện pháp cưỡng chế THA; lập kế hoạch cưỡng chế thi hành án; thu giữ tài sản THA

Ở Việt Nam hiện nay cũng có một cơ quan có thẩm quyền tương tự như THA

đó là Thừa phát lại nhưng lại bị hạn chế trong việc cưỡng chế quy định tại Nghị

Trang 39

định 08/2020/NĐ-CP có hiệu lực ngày 24/02/2020 đã hạn chế Thừa phát lại không được áp dụng các biện pháp bảo đảm THA, biện pháp cưỡng chế THA theo quy định tại Điều 66, Điều 71, Điều 72 của Luật THADS nhưng lại có một số quyền như THA như quyền yêu cầu THA, thỏa thuận về tồ chức THA, xác minh điều kiện THA thủ tục thì Thừa phát lại làm, biện pháp cưỡng chế lại giao cho cơ quan THADS như vậy quyền lực Nhà nước thì chỉ có CQNN thực hiện

Thứ hai: Cưỡng chế THADS trên căn cứ pháp luật và các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự do pháp luật quy định

Pháp luật là Hệ thống các quy tắc xử sự chung mang tính bắt buộc chung do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, đồng thời Nhà nước đảm bảo cho pháp luật thực hiện trong thực tiễn đời sống bằng việc Nhà nước tạo điều kiện khuyến khích giúp đỡ để chủ thể thực hiện pháp luật và đảm bảo cho pháp luật được thực hiện bằng sức mạnh của Nhà nước vì thế tính chất cưỡng chế là tính không thể tách rời khỏi pháp luật Căn cứ pháp luật về cưỡng chế THADS là những cơ sở pháp lý quan trọng để CHV, cơ quan THA tiến hành tổ chức cưỡng chế đối với DN Trong quá trình tổ chức THA, khi CHV đã thực hiện đầy đủ trình tự, thủ tục cần thiết, đồng thời vận động, thuyết phục mà DN vẫn không THA thì CHV phải áp dụng một trong những biện pháp cưỡng chế phù hợp để thi hành BA, QĐ để bảo đảm quyền

và lợi ích của người được THA Căn cứ pháp lý để CHV tổ chức thực hiện cưỡng chế THA: BA, QĐ; quyết định THA; quyết định cưỡng chế THA trừ trường hợp

BA, QĐ đã tuyên kê biên, phong tỏa tài sản, tài khoản và trường hợp áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong trường hợp này CHV không ra quyết định cưỡng chế

mà thực hiện theo quy định tại điều 127 Luật THADS là định giá tài sản kê biên, giao tài sản kê biên cho người được THA hoặc bán tài trong trường hợp người được THA không nhận tài sản

CHV là người đại diện cơ quan THADS ban hành QĐ cưỡng chế để tránh sự lạm quyền của các chủ thể được trao quyền trong việc cưỡng chế pháp luật đã quy định các biện pháp cưỡng chế tại điều 71 Luật THADS năm 2014: Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải THA; trừ vào thu

Trang 40

nhập của người phải thi hành án; kê biên, xử lý tài sản của người phải THA, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ; khai thác tài sản của người phải THA; buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ; buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định sau cho phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của quá trình THA và phải chịu trách nhiệm về sự lựa chọn của mình; CHV có thể áp dụng nhiều biện pháp cưỡng chế cùng một lúc nhưng phải ban hành từng QĐ khác nhau Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động THADS nói riêng và việc nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân nói chung Do vậy, khi áp dụng biện pháp cưỡng chế, CHV phải rất thận trọng và tuân thủ các nguyên tắc như: Căn cứ vào nội dung BA, QĐ; quyết định THA; tính chất, mức độ, nghĩa vụ thi hành án; điều kiện của người phải THA; đối với tình hình thực tế của địa phương để CHV lựa chọn biện pháp cưỡng chế thích hợp

Điểm khác biệt giữa các biện pháp cưỡng chế THA qua các thời kỳ Pháp lệnh THADS trong đó Pháp lệnh THADS năm 1989 và năm 1993 quy định các biện pháp cưỡng chế THA là như nhau: Kê biên tài sản; trừ vào thu nhập của DN; trừ vào tài sản của DN do người khác giữ; cưỡng chế đồ vật; cưỡng chế nhà Khi đã nhận thấy các biện pháp cưỡng chế này là không thể phù hợp với xã hội Việt Nam nên đã thay đổi hoàn toàn các biện pháp cưỡng chế THA trong pháp lệnh THADS năm 2004 là: Khấu trừ tài khoản, trừ vào tiền, thu hồi giấy tờ có giá của doanh nghiệp; trừ vào thu nhập của DN; phong toả tài khoản, tài sản của DN tại ngân hàng, TCTD, kho bạc nhà nước; kê biên, xử lý tài sản của người phải THA, kể cả

tài sản của DN đang do người thứ ba giữ; buộc giao nhà, chuyển quyền sử dụng đất

hoặc giao vật, tài sản khác; cấm hoặc buộc của DN không làm hoặc làm công việc nhất định Đến Luật THADS năm 2008 chỉ bổ sung thêm thu hồi, xử lý tiền và khai thác tài sản của DN trong khi đó chuyển phong toả tài khoản, tài sản của người phải THA tại ngân hàng, TCTD, kho bạc nhà nước qua biện pháp bảo đảm THA

Thứ ba: Cưỡng chế THADS trong thời gian và trường hợp nhất định

Ngày đăng: 27/03/2023, 20:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w