1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa mác lênin phần 1

187 5 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin phần 1
Tác giả Nhóm tác giả
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Văn B
Trường học Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Tài liệu hướng dẫn học tập
Năm xuất bản 2023
Thành phố Nam Định
Định dạng
Số trang 187
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. VAI TRÕ, ĐẶC ĐIỂM CỦA TÁC PHẨM KINH ĐIỂN VÀ YÊU CẦU VỀ KHAI THÁC, SỬ DỤNG TÁC PHẨM KINH ĐIỂN VÀO DẠY – HỌC HỌC PHẨN “NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN PHẦN 1” (0)
    • 1.1. Vai trò, đặc điểm của tác phẩm kinh điển (4)
    • 1.2. Yêu cầu về khai thác, sử dụng tác phẩm kinh điển vào dạy – học học phần “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin phần 1” (6)
  • CHƯƠNG 2. KHAI THÁC TÁC PHẨM KINH ĐIỂN VÀO DẠY – HỌC HỌC PHẦN “NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN PHẦN 1” (15)
    • 2.1. Chủ nghĩa duy vật biện chứng (15)
      • 2.1.1. Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy vật biện chứng (15)
        • 2.1.1.1. Vấn đề cơ bản của triết học (15)
        • 2.1.1.2. Chủ nghĩa duy vật biện chứng – hình thức phát triển cao nhất của chủ nghĩa duy vật (19)
      • 2.1.2. Vật chất, ý thức và mối quan hệ giữa vật chất và ý thức (21)
        • 2.1.2.1. Phạm trù vật chất (21)
        • 2.1.2.2. Phương thức và hình thức tồn tại của vật chất (29)
        • 2.1.2.3. Tính thống nhất vật chất của thế giới (34)
        • 2.1.2.4. Ý thức và nguồn gốc của ý thức (35)
        • 2.1.2.5. Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức (40)
    • 2.2. Phép biện chứng duy vật (45)
      • 2.2.1. Các nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật (45)
        • 2.2.1.1. Phép biện chứng và các hình thức cơ bản của phép biện chứng (45)
        • 2.2.1.2. Phép biện chứng duy vật (50)
        • 2.2.1.3. Hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật (54)
      • 2.2.2. Các cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật (59)
        • 2.2.2.1. Một số vấn đề chung về phạm trù (59)
        • 2.2.2.2. Cái riêng và cái chung (65)
        • 2.2.2.3. Nguyên nhân và kết quả (69)
        • 2.2.2.4. Tất nhiên và ngẫu nhiên (71)
      • 2.2.3. Các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật (74)
        • 2.2.3.1. Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lƣợng thành những thay đổi về chất và ngƣợc lại (0)
        • 2.2.3.2. Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập (87)
        • 2.2.3.3. Quy luật phủ định của phủ định (104)
      • 2.2.4. Lý luận nhận thức duy vật biện chứng (115)
        • 2.2.4.1. Thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức (115)
        • 2.2.4.2. Nhận thức và con đường biện chứng của nhận thức (118)
        • 2.2.4.3. Vấn đề chân lý (126)
    • 2.3. Chủ nghĩa duy vật lịch sử (129)
      • 2.3.1. Biện chứng của lực lƣợng sản xuất và quan hệ sản xuất (0)
      • 2.3.3. Biện chứng của tồn tại xã hội và ý thức xã hội (157)
      • 2.3.4. Giai cấp và đấu tranh giai cấp (161)
        • 2.3.4.1. Về giai cấp và đấu tranh giai cấp (161)
        • 2.3.4.2. Về nhà nước và cách mạng xã hội (164)
      • 2.3.5. Con người và bản chất con người (171)
        • 2.3.5.1. Về con người và bản chất con người (171)
        • 2.3.5.2. Về xã hội loài người và sự phát triển của con người (182)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (186)

Nội dung

Tài liệu chỉ có thể tập trung vào những nội dung kiến thức có liên hệ với giáo trình “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin” Phần kiến thức về triết học thuộc học phần Những n

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Kinh điển triết học Mác – Lê-nin là một hệ thống lý luận phong phú, bao quát mọi vấn đề từ bản thể luận, nhận thức luận đến các vấn đề nhân sinh, xã hội, từ những quan điểm cách mạng, hiện thực đến những dự báo khoa học, từ cách tiếp cận thế giới quan đến cách tiếp cận giá trị Đối với những người mác-xít, các tác phẩm của Mác, Ăng-ghen, Lê-nin thực sự mang tầm vóc rộng lớn, là những bách khoa thư theo đúng nghĩa của nó

Đối với quá trình giảng dạy, học tập và vận dụng các môn khoa học Mác – nin, việc nghiên cứu tác phẩm kinh điển có tác dụng kép: làm sâu sắc thêm nhận thức

Lê-về chủ nghĩa Mác – Lê-nin qua những chất liệu trung thực, đồng thời rút ra những bài học và nguyên tắc phương pháp luận cho nhận thức và hoạt động thực tiễn trong điều kiện hiện nay Mặt khác, chương trình môn học “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin” hiện nay được xây dựng trên cơ sở tích hợp của ba môn khoa học Mác – Lê-nin, thời lượng môn học giảm đi đáng kể Do vậy, nhiều phần nội dung của giáo trình môn học này được trình bày khá vắn tắt khiến người đọc khó hình dung đầy

đủ, chính xác Vì lẽ đó, việc khai thác tác phẩm kinh điển dưới góc độ biên soạn một tập tài liệu giúp những người giảng dạy và học tập môn học “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin” có thể hiểu sâu sắc hơn một số quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê-nin là yêu cầu cần thiết

Trong phạm vi tài liệu này, chúng tôi không thể đề cập và phân tích tất cả di sản

lý luận to lớn mà các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lê-nin để lại Tài liệu chỉ có thể tập trung vào những nội dung kiến thức có liên hệ với giáo trình “Những nguyên lý

cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin” (Phần kiến thức về triết học thuộc học phần Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin phần 1), phân tích làm rõ chúng dưới góc nhìn của tác phẩm kinh điển, thông qua đó góp phần vào hoạt động nghiên cứu khoa học của Khoa và nâng cao chất lượng dạy – học học phần này tại trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định

Tài liệu này là sản phẩm nhóm tác giả biên soạn, tích lũy từ thực tiễn giảng dạy

và nghiên cứu tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lê-nin Tuy các tác giả đã rất

cố gắng, song tài liệu khó tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Rất mong nhận được ý kiến đóng góp từ đồng nghiệp và các em sinh viên để chúng tôi kịp thời điều chỉnh và hoàn thiện hơn nữa

Các tác giả

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

LỜI NÓI ĐẦU i

CHƯƠNG 1 VAI TRÕ, ĐẶC ĐIỂM CỦA TÁC PHẨM KINH ĐIỂN VÀ YÊU CẦU VỀ KHAI THÁC, SỬ DỤNG TÁC PHẨM KINH ĐIỂN VÀO DẠY – HỌC HỌC PHẨN “NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN PHẦN 1” 1

1.1 Vai trò, đặc điểm của tác phẩm kinh điển 1

1.2 Yêu cầu về khai thác, sử dụng tác phẩm kinh điển vào dạy – học học phần “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin phần 1” 3

CHƯƠNG 2 KHAI THÁC TÁC PHẨM KINH ĐIỂN VÀO DẠY – HỌC HỌC PHẦN “NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN PHẦN 1” 12

2.1 Chủ nghĩa duy vật biện chứng 12

2.1.1 Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy vật biện chứng 12

2.1.1.1 Vấn đề cơ bản của triết học 12

2.1.1.2 Chủ nghĩa duy vật biện chứng – hình thức phát triển cao nhất của chủ nghĩa duy vật 16

2.1.2 Vật chất, ý thức và mối quan hệ giữa vật chất và ý thức 18

2.1.2.1 Phạm trù vật chất 18

2.1.2.2 Phương thức và hình thức tồn tại của vật chất 26

- Về không gian và thời gian: 28

2.1.2.3 Tính thống nhất vật chất của thế giới: 31

2.1.2.4 Ý thức và nguồn gốc của ý thức 32

2.1.2.5 Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức 37

Trong “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”, Lênin cũng làm rõ quan điểm duy vật biện chứng về cảm giác và mối liên hệ giữa yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan trong cảm giác 39

2.2 Phép biện chứng duy vật 42

2.2.1 Các nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật 42

2.2.1.1 Phép biện chứng và các hình thức cơ bản của phép biện chứng 42

2.2.1.2 Phép biện chứng duy vật 47

2.2.1.3 Hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật 51

2.2.2 Các cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật 56

2.2.2.1 Một số vấn đề chung về phạm trù: 56

2.2.2.2 Cái riêng và cái chung 62

2.2.2.3 Nguyên nhân và kết quả 66

2.2.2.4 Tất nhiên và ngẫu nhiên 68

Trang 3

2.2.3 Các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật 71

2.2.3.1 Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại 71

Trong “Tư bản”, sự phân tích của Mác về “chất”, “lượng”, “độ” cũng được thể hiện qua việc phân tích các phạm trù kinh tế 76

2.2.3.2 Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập 84

2.2.3.3 Quy luật phủ định của phủ định 101

2.2.4 Lý luận nhận thức duy vật biện chứng 112

2.2.4.1 Thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức 112

2.2.4.2 Nhận thức và con đường biện chứng của nhận thức 115

2.2.4.3 Vấn đề chân lý 123

2.3 Chủ nghĩa duy vật lịch sử 126

2.3.1 Biện chứng của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất 126

Một là, vấn đề nhà nước và bản chất của Nhà nước 146

Hai là, vấn đề gia đình và nguồn gốc của gia đình 151

2.3.3 Biện chứng của tồn tại xã hội và ý thức xã hội 154

2.3.4 Giai cấp và đấu tranh giai cấp 158

2.3.4.1 Về giai cấp và đấu tranh giai cấp 158

2.3.4.2 Về nhà nước và cách mạng xã hội 161

2.3.5 Con người và bản chất con người 168

2.3.5.1 Về con người và bản chất con người 168

Về bản chất con người, trong “Luận cương về Phoiơbách”, Mác đã nêu một luận điểm nổi tiếng Mác viết trong luận cương thứ 6: 177

2.3.5.2 Về xã hội loài người và sự phát triển của con người 179

TÀI LIỆU THAM KHẢO 183

Trang 4

CHƯƠNG 1 VAI TRÒ, ĐẶC ĐIỂM CỦA TÁC PHẨM KINH ĐIỂN VÀ YÊU CẦU VỀ KHAI THÁC, SỬ DỤNG TÁC PHẨM KINH ĐIỂN VÀO DẠY – HỌC HỌC PHẨN “NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC -

LÊNIN PHẦN 1”

1.1 Vai trò, đặc điểm của tác phẩm kinh điển

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lê-nin đã để lại một kho tàng lý luận đồ sộ, quý giá, có giá trị to lớn cả

về khoa học, thực tiễn và xã hội Với những giá trị khoa học và cách mạng, tư tưởng thiên tài của Mác, Ăng-ghen, Lê-nin đã làm nên học thuyết vĩ đại, có sức sống lâu dài cùng thời gian Nghiên cứu những di sản lý luận này là là một nhiệm vụ tất yếu trong nghiên cứu chủ nghĩa Mác nói chung và triết học Mác nói riêng

“Kinh điển” – theo từ điển Hán Việt của GS Đào Duy Anh – có nghĩa là “sách ngày xưa”[25], còn theo từ điển tiếng Việt mở, “kinh” là “sách vở”, “điển” là “sách của người xưa”, “kinh điển” là những sách có giá trị mẫu mực, tiêu biểu, được coi là

“khuôn mẫu cho một học phái”[26] Từ đó có thể thấy, kinh điển Mác – Lê-nin là những tác phẩm có giá trị, tính chất mẫu mực của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, chứa đựng những ý nghĩa, giá trị phổ biến, bền vững về mặt khoa học và thực tiễn xã hội Những tác phẩm này thể hiện tư tưởng, quan điểm và học thuyết của Mác, Ăng-ghen, Lê-nin thuộc lĩnh vực triết học, kinh tế chính trị học, chủ nghĩa xã hội khoa học, mỹ học, đạo đức học, tôn giáo học v.v…Kinh điển Mác – Lê-nin là một hệ thống lý luận hết sức đồ

sộ và phong phú, bao quát mọi vấn đề từ bản thể luận đến nhận thức luận, từ quan điểm biện chứng duy vật đến những dự báo khoa học về sự phát triển của lịch sử xã hội Bản thân Mác, Ăng-ghen, Lê-nin đã dành gần như toàn bộ thời gian của cuộc đời mình, lao động không biết mệt mỏi để nghiên cứu và phản ánh những biến động đa dạng của lịch sử xã hội vào trong những công trình lý luận Đối với những người mác-xít, kinh điển Mác – Lê-nin thực sự mang tầm vóc rộng lớn, là một bách khoa thư theo đúng nghĩa của nó Các tác phẩm kinh điển không chỉ là những nghiên cứu triết học

mà còn là những nghiên cứu kinh tế, sử học và khoa học tự nhiên sâu sắc, cung cấp cho những người mácxít không chỉ thế giới quan khoa học mà cả phương pháp luận để nghiên cứu và cải tạo hiện thực Trong tài liệu tham khảo này, nhóm tác giả khai thác, trình bày những tác phẩm kinh điển triết học, có liên quan trực tiếp đến nội dung học phần “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê-nin phần 1”

Các tác phẩm kinh điển triết học mác-xít có những đặc điểm chính sau:

Trang 5

Một là, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác thường không trình bày những tư

tưởng, quan điểm triết học của mình dưới hình thức lý luận thuần túy, mà kết hợp với những tư tưởng, học thuyết lý luận khác của các ông, như chủ nghĩa xã hội khoa học, kinh tế chính trị học Phần lớn những quan điểm, tư tưởng triết học mác-xít được thể hiện ngay trong nội dung những quan điểm, học thuyết lý luận khác của chủ nghĩa

Mác Chẳng hạn, như Lê-nin nói, “Mác không để lại cho chúng ta “Lô-gích học” (với chữ L viết hoa), nhưng đã để lại cho chúng ta lô-gích của “Tư bản”, …Trong “Tư

bản”, Mác áp dụng lô-gích, phép biện chứng và lý luận nhận thức…của chủ nghĩa duy vật vào một khoa học duy nhất”[10, 359-360] Bộ “Tư bản” chính là một mẫu mực về

sự vận dụng những nguyên lý của triết học và Lôgíc học vào phân tích các hiện tượng kinh tế

Hai là, trong các tác phẩm của Mác, Ăng-ghen, Lê-nin, hầu như các ông không

trình bày quan điểm, học thuyết của mình thành một hệ thống hoàn chỉnh giống như hệ thống của Hê-ghen (1770-1831), mà chủ yếu đề cập, nhấn mạnh hoặc tập trung vào một số quan điểm nhất định thuộc hệ thống, hoặc trình bày theo cách tóm tắt rất ngắn gọn, nhằm đáp ứng một nhiệm vụ thực tiễn, lý luận cụ thể

Ba là, những quan điểm, tư tưởng, học thuyết triết học của Mác, Ăng-ghen,

Lê-nin thuộc nhiều lĩnh vực như đạo đức học, mỹ học, lịch sử triết học, tôn giáo học v.v… nhưng về cơ bản, là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử

Bốn là, các kinh điển triết học mác-xít thể hiện rõ quá trình hình thành, phát

triển của triết học Mác, trong đó mỗi tác phẩm lớn, quan trọng thường đánh dấu bước ngoặt của quá trình này và thể hiện rõ những đóng góp lớn của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác vào sự phát triển triết học nhân loại

Năm là, phần lớn các tác phẩm kinh điển triết học mác-xít đều được trình bày

dưới hình thức phê phán Chính trong khi phê phán các quan điểm, học thuyết triết học

cũ hoặc đối lập với mình, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã đề xuất, trình bày những quan điểm, học thuyết triết học của mình Cũng chính ở đây đã thể hiện cả tính chất kinh điển của sự phê phán mác-xít

Sáu là, mỗi tác phẩm kinh điển thường đi kèm theo hoặc có nhiều “lời tựa”, “lời

mở đầu” viết trong những thời gian khác nhau và được xuất bản trong các tác phẩm khác nhau Đây cũng được xem là những tác phẩm nằm trong hệ thống kinh điển triết học mác-xít, thông qua chúng, những nội dung triết học của các tác phẩm lớn có thể được tóm tắt, bổ sung và giải thích rõ hơn

Trang 6

1.2 Yêu cầu về khai thác, sử dụng tác phẩm kinh điển vào dạy – học học phần

“Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin phần 1”

Khi khai thác, nghiên cứu và sử dụng các tác phẩm kinh điển triết học vào giảng dạy, cần tuân theo những quan điểm, phương pháp nhất định:

Một là, phải nắm vững quan điểm lịch sử - cụ thể trong quá trình khai thác, sử dụng tác phẩm kinh điển

Đối với những tác phẩm của Mác và Ăng-ghen, cần thấy rằng, chủ nghĩa Mác

xuất hiện như một tất yếu khách quan vào những năm 40 của thế kỷ XIX như một sự phản ánh về mặt lý luận những biến đổi sâu sắc trong kinh tế, cơ cấu xã hội và các xung đột giai cấp ở Tây Âu Vào những năm đó, chủ nghĩa tư bản đã được khẳng định, dần trở thành một hệ thống vững chắc và vận động theo hướng đi lên Tuy nhiên, tính chất đối kháng của sự phát triển cũng trở nên gay gắt Tại châu Âu những năm 30-40 thế kỷ XIX, giai cấp vô sản đã chuyển dần từ đấu tranh tự phát, vì mục đích kinh tế thuần túy sang trình độ tự giác, gắn cuộc đấu tranh với mục đích chính trị, hướng tới mục tiêu nhân văn, dân chủ, công bằng và tự do Ở nơi mà các nhà tư tưởng tư sản chỉ thấy sự bạo loạn, phá hoại của quần chúng nghèo đói chống lại nền văn minh, thì Mác

và Ăng-ghen lại cảm nhận được rõ ràng sức sống của tương lai

Triết học Mác hình thành trong quá trình đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản, là vũ khí lý luận của nó, do đó các tác phẩm của Mác và Ăng-ghen được viết ra dưới tác động trực tiếp của những biến cố lịch sử – những biến cố đóng vai trò là chất liệu sống thai nghén cho tư tưởng của hai ông Nó vừa thể hiện trình độ tư duy sắc sảo của những người sáng lập, đồng thời bám sát vào những đòi hỏi của thực tiễn sinh động, vì thế mà tính khoa học và tính cách mạng gắn kết với nhau, tạo nên sức thuyết phục đối với người đọc Phong cách tư duy hàn lâm trong các tác phẩm của Mác và Ăng-ghen không sa vào tư biện vì nó chứa đựng hàm lượng thông tin phong phú từ đời sống hiện thực

Có thể chia quá trình phát triển của học thuyết Mác – Ăng-ghen thành các giai đoạn sau:

1 Giai đoạn hình thành (1837-1848), bao gồm sự chuyển biến tư tưởng của Mác và Ăng-ghen từ chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa cộng sản Các tác phẩm chủ đạo là: “Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hê-ghen”, “Các bức thư từ nước Anh”, “Bản thảo kinh tế- triết học năm 1844”, “Luận cương về Phoi-ơ-bách”, “Sự khốn cùng của triết học”,

“Gia đình thần thánh”, “Hệ tư tưởng Đức” và “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản”

Trang 7

2 Giai đoạn phát triển quan điểm duy vật về lịch sử (1848-1852), bao gồm học thuyết về cách mạng xã hội: “Đấu tranh giai cấp ở Pháp”, “Ngày 18 tháng Sương mù của Lu-i Bô-na-pác-tơ”, “Cách mạng và phản cách mạng ở Đức”, “Chiến tranh nông dân ở Đức”

3 Giai đoạn phát triển của triết học Mác trong 3 tập tác phẩm “Tư bản” những năm 50-60 thế kỷ 19, thể hiện quan điểm duy vật về lịch sử, phép biện chứng duy vật như lý luận và phương pháp nhận thức

4 Sự phát triển của triết học Mác những năm 70-80 qua các tác phẩm của ghen, chứa đựng những nội dung hết sức phong phú, bao gồm chủ nghĩa duy vật biện chứng, phép biện chứng duy vật, lý luận nhận thức, chủ nghĩa duy vật lịch sử, mối quan hệ giữa triết học và khoa học tự nhiên, tức là tổng hợp nhiều vấn đề vào trong một hệ thống triết học của chủ nghĩa Mác, bao gồm: “Chống Đuy-rinh”, “Biện chứng của tự nhiên”, “Lút-vích Phoi-ơ-bách và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức”,

Ăng-“Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước”

Trong sự phân chia này, có thể thấy ngay, các tác phẩm của Mác và Ăngghen không dàn trải, mà tập trung vào những tâm điểm lý luận, bắt đầu từ những phác thảo đầu tiên đến sự chín muồi tư tưởng

Như vậy khi nghiên cứu những tác phẩm của Mác và Ăng-ghen cần lưu ý: 1) đặt tác phẩm đó trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể của sự hình thành chủ nghĩa Mác 2) đặt tác phẩm đó trong giai đoạn nhất định của lịch sử châu Âu nhằm chỉ ra diễn biến tư tưởng một cách lôgíc, khách quan của hai ông

Triết học Mác ra đời trong bối cảnh phi cổ điển hóa trong tư duy triết học, vốn bắt đầu từ những năm 20 của thế kỷ XIX Cách tiếp cận cổ điển, truyền thống đối với những vấn đề triết học đã trở nên lạc hậu Tư tưởng của hai ông đều thoát thai từ những di sản cổ điển, nhưng cho rằng cách tiếp cận truyền thống không còn phù hợp nữa Đối với hai ông, các khái niệm triết học chủ đạo, có cội nguồn từ triết học cổ đại như vật chất, tồn tại, tinh thần, ý thức, cái phổ biến, cũng như những tranh luận triền miên xung quanh vấn đề về tính có trước – có sau của quan hệ vật chất – ý thức giờ trở nên mơ hồ và vô giá trị trước những đòi hỏi của sự phát triển của khoa học, nhận thức

Vì vậy, hai ông chủ trương vượt qua cả chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm truyền thống, xác lập con đường thứ ba trong triết học, hướng triết học vào những vấn đề của khoa học cụ thể, mà trước hết là khoa học thực nghiệm

Cũng trong bối cảnh đó, thái độ đối với truyền thống, cụ thể là đối với triết học Hê-ghen, đã có ý nghĩa quyết định đối với bản chất của triết học do Mác và Ăng-ghen

Trang 8

sáng lập Thay vì sự chối bỏ, Mác và Ăng-ghen nhấn mạnh tính kế thừa có chọn lọc tinh hoa tri thức nhân loại, từ cổ đại đến các bậc tiền bối trực tiếp Diện mạo văn hóa của chủ nghĩa Mác bao hàm nguyên tắc kế thừa và phát triển, bao hàm sự đánh giá nghiêm túc di sản văn hóa tinh thần nhân loại, được cô đọng trong các học thuyết triết học từ cổ đại đến cận đại và xác định triết học như “tinh hoa về mặt tinh thần của thời đại”[13, 157] Mác cũng từng nhấn mạnh rằng: “Các triết gia không mọc lên như nấm

từ trái đất, họ là sản phẩm của thời đại mình, của dân tộc mình, mà dòng sữa tinh tế nhất, quý giá và vô hình được tập trung lại trong những tư tưởng triết học”[13, 156]

Có thể nói môi trường văn hóa sống động ở châu Âu nói chung, nước Đức nói riêng,

và xa hơn nữa, việc làm quen với di sản văn hóa đồ sộ của nhân loại đã tạo nên ở Mác

và Ăng-ghen tinh thần cách mạng nhưng giàu tính nhân văn Mục tiêu cuối cùng của chủ nghĩa Mác là giải phóng con người, tạo ra môi trường cho sự sáng tạo tự do của con người, tạo ra – như cách nói của Mác và Ăng-ghen – những Ra-pha-en thời đại Điều quan trọng là những bài học rút ra từ việc tìm hiểu, nhận thức các giá trị văn hóa nhân loại đã thôi thúc những người sáng lập chủ nghĩa Mác tìm kiếm con đường hiện thực của sự giải phóng con người khỏi áp bức, bất công, đưa lịch sử tiến về phía trước

Đối với các tác phẩm của Lê-nin, khi nghiên cứu cần đặt chúng trong bối cảnh

của thế giới, của châu Âu và nước Nga nửa sau thế kỷ XIX Vào thời Lê-nin, chủ nghĩa tư bản đã chuyển sang một nấc thang mới, với sự tập trung hóa và độc quyền hóa trong lĩnh vực kinh tế, chủ nghĩa tư bản đã bành trướng thành chủ nghĩa tư bản toàn cầu, đồng thời đào sâu thêm những mâu thuẫn trong lòng nó Còn ở nước Nga, mặc dù to lớn nhưng nhịp độ phát triển lại hết sức chậm chạm do sức ỳ của quan hệ xã hội và tính bảo thủ trong tư duy chính trị của giới cầm quyền Tính phức tạp của phân tầng xã hội cùng với sự đan xen các yếu tố truyền thống kiểu công xã nông thôn vào yếu tố tư bản chủ nghĩa, những nguy cơ tiềm ẩn của một quốc gia đa dạng về dân tộc

và tôn giáo, trình độ thấp kém về sản xuất với các cường quốc khác, sự tiếp xúc với phương Tây của giới học thức…đã làm nên một nước Nga nhiều khuynh hướng, nhiều sắc thái tư tưởng khác nhau, từ chủ nghĩa cải lương đến chủ nghĩa bảo hoàng, từ chủ nghĩa xã hội công xã đến chủ nghĩa cấp tiến cực đoan Là khâu yếu nhất của chủ nghĩa

đế quốc, nước Nga thực sự là túi chứa đựng những cuộc vận động xã hội phổ biến từ châu Âu sang Chính trong điều kiện đó, cuộc đấu tranh của Lê-nin và những người cùng chí hướng nhằm bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác trên cơ sở tính đến đặc thù của nước Nga và thế giới mới, mang ý nghĩa của bước đột phá tư tưởng thực sự, cho thấy sự nhạy bén khoa học và bản lĩnh chính trị của họ

Trang 9

Trong giai đoạn giao thời giữa hai thế kỷ, trong sinh hoạt tinh thần của các nước châu Âu diễn ra những chuyển biến khá phức tạp Xu hướng hoài nghi, bi quan lịch sử và hư vô chủ nghĩa ảnh hưởng đến một bộ phận dân chúng, nhất là tầng lớp trí thức và giới trẻ Thuyết Man-tuýt đầu thế kỷ XIX, được bổ sung bằng thuyết Đác-uyn

xã hội cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đã biện minh một cách gián tiếp cho chính sách

đô hộ của chủ nghĩa đế quốc đối với các nước thuộc địa; thuyết Can-tơ mới được phổ biến ở nhiều nơi; sự xuất hiện “chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán” với tính cách là hình thức lịch sử thứ hai của chủ nghĩa thực chứng… – từng ấy học thuyết đan xen và thay thế nhau, tạo nên bức tranh tư tưởng đầy mâu thuẫn trong bối cảnh chủ nghĩa tư bản phát triển lên hình thức hoàn bị của nó

Trong bối cảnh đó, Lê-nin đã kiên trì bảo vệ chủ nghĩa Mác, mặt khác, bổ sung

và phát triển những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng về thế giới và

xã hội Trong điều kiện lịch sử đó, mối quan tâm đặc biệt của Lê-nin là chiến lược và sách lược cách mạng, xây dựng phép biện chứng của sự phát triển xã hội, chú trọng hơn nữa đến nhân tố chủ quan

Để hiểu cơ sở tư tưởng trong các tác phẩm của Lê-nin cần đặt chúng trong bối cảnh lịch sử cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX Từ đó có thể dễ dàng nhận thấy dấu ấn thời đại trong các bài viết hướng đến những điểm nóng của thực tiễn xã hội Mặt khác, cũng như Mác và Ăng-ghen, Lê-nin không chỉ viết những tác phẩm bút chiến phục vụ cho mục đích trước mắt, mà với tư cách là nhà lý luận, ông còn đầu tư thời gian cho các công trình có tính hệ thống và phổ quát cao, có tác dụng định hướng lâu dài đến sự nghiệp đấu tranh chung

Hai là, phải thấy được mối liên hệ tư tưởng giữa các tác phẩm của C.Mác, Ph Ăng-ghen và V.I.Lê-nin

Để làm rõ quá trình tư tưởng của Mác, Ăng-ghen và Lê-nin, sự nhất quán, tính

kế thừa và phát triển của học thuyết mácxít, nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, khi tìm hiểu bất kỳ tác phẩm nào cũng phải cần thiết đặt nó trong mối liên hệ với

các tác phẩm khác cùng chủ đề

Trước hết cần xác định mối liên hệ theo trình tự thời gian, nhằm chỉ ra những nấc thang phát triển của triết học Mác và những điều kiện lịch sử chi phối nó

Đối với những tác phẩm của Mác và Ăng-ghen, sự liên hệ cần đặt vào quá trình

chuyển biến tư tưởng từ duy tâm sang duy vật biện chứng, từ chủ nghĩa dân chủ cấp tiến sang chủ nghĩa cộng sản, cũng như sự cụ thể hóa, sự bổ sung, phát triển những luận điểm nền tảng trong quá trình đấu tranh cách mạng và sáng tạo khoa học Tất

Trang 10

nhiên không thể phân tích tất cả các tác phẩm, mà chỉ lấy các tác phẩm điển hình, thể hiện tư tưởng chủ đạo ở một giai đoạn nhất định Từ trục chính này, những vấn đề liên quan trong các tác phẩm khác được khai thác một cách hợp lý, làm cho sự phân tích trở nên toàn diện hơn

Đối với những tác phẩm của Lê-nin, do điều kiện lịch sử của giai đoạn này mà

mối liên hệ tư tưởng được phát triển theo cách thức riêng Vào thời mình, Lê-nin tiếp xúc với chủ nghĩa Mác từ nhiều nguồn, trong đó có các phong trào dân chủ - xã hội từ các nước Tây Âu du nhập vào Nga, cũng như từ sự tìm hiểu trực tiếp của ông về các tác phẩm của Mác và Ănghen dưới dạng nguyên bản hoặc qua phân tích Sự hình thành tư tưởng của Lê-nin gắn liền với hiện thực nước Nga, của châu Âu cuối thế kỷ XIX, trong sinh hoạt tinh thần thì chính chủ nghĩa Can-tơ mới, chủ nghĩa Tô-mát mới, chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán, kết hợp với một số khuynh hướng triết học khác tại Nga có ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt tinh thần của xã hội, nhất là giới trẻ có học thức

Do đó, cần chú ý đến cách thức Lê-nin đã bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác như thế nào trong bối cảnh phức tạp đó Khi phân tích các tác phẩm của Lê-nin, cần đặt chúng trong mối liên hệ tư tưởng với các tác phẩm của Mác và Ăng-ghen

Việc xác định mối liên hệ giữa các tác phẩm của Lênin với các tác phẩm của Mác và Ăng-ghen là cơ sở chứng minh: 1) Vai trò của Lênin trong sự phát triển triết học duy vật biện chứng về tự nhiên, xã hội và tư duy; 2) Triết học Mác–Lê-nin, chủ nghĩa Mác–Lê-nin nói chung là một hệ thống mở; 3) Sự hình thành và phát triển của triết học Mác–Lê-nin gắn liền với cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản và nhân dân lao động, các dân tộc bị áp bức vì một thế giới quan tốt đẹp, với luận chứng rõ ràng và nhất quán là chủ nghĩa tư bản không phải là sự lựa chọn cuối cùng của nhân loại trong

quá trình phát triển của lịch sử; 4) Triết học Mác–Lê-nin, với sự phát triển liên tục và thống nhất của mình, đã làm giàu thêm các giá trị nhân loại chung trong thời đại mới

Mối liên hệ giữa các tác phẩm do Lê-nin viết vào các thời kỳ khác nhau là mối liên hệ phát triển, gắn với những điều kiện lịch sử mới, khi những phác thảo trước đây được cụ thể hóa, làm sâu sắc thêm về mặt lý luận và được thể hiện sinh động trong hoạt động thực tiễn Những đặc điểm của thời đại Lê-nin, của cách mạng Nga, châu

Âu và các châu lục khác tất yếu làm xuất hiện những vấn đề lý luận mới Lê-nin đã phát triển, bổ sung, đào sâu và triển khai tiếp tục các vấn đề triết học mà vào thời mình, Mác và Ăng-ghen chưa có điều kiện đặt ra và giải quyết

Ba là, phải xác định được tính đảng và tính sáng tạo trong hệ thống các quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê-nin

Trang 11

Nguyên tắc tính đảng cần được chú trọng trong quá trình phân tích các tác

phẩm của Mác, Ăng-ghen và Lê-nin Điều này cần thiết không phải vì nó gắn liền với cuộc đấu tranh thế giới quan và phương pháp luận trong xã hội hiện đại, mà vì tự nó đã hình thành ngay khi triết học ra đời Đằng sau những học thuyết, những trường phái bao giờ cũng là những lực lượng xã hội với các thiên hướng và lợi ích khác nhau, thậm chí xung đột nhau Lê-nin cho rằng Mác, Ăng-ghen là những người luôn thể hiện tính đảng triệt để và từ nguyên tắc này mà vạch ra một cách rõ ràng những tích cực và hạn chế lịch sử của các nhà duy vật thế kỷ trước, kể cả chủ nghĩa duy vật Phoi-ơ-bách (1804-1872) Ông phê phán những toan tính chiết trung triết học, như hòa lẫn học thuyết Ma-khơ với chủ nghĩa Mác, hoặc đồng nhất chủ nghĩa Mác với một hình thức tôn giáo đặc biệt nào đó theo cách thức mà Phoi-ơ-bách từng làm khi mong muốn thay thế Kitô giáo bằng một tôn giáo không có Chúa

Khi nói đến tính đảng trong triết học, Mác, Ăng-ghen và Lê-nin không chỉ đơn giản là phân chia triết học thành chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm rồi phê phán chủ nghĩa duy tâm mà không tính đến các hình thái phong phú khác của tư duy nhân loại Trái lại, sự phân biệt ấy, chỉ là cơ sở để xác định vị trí của từng học thuyết trong đời sống xã hội cũng như tính phức tạp của hành trình đến chân lý trong lịch sử tư tưởng Tính đảng của triết học khác với tính giáo huấn một chiều Trong các tác phẩm của Mác, Ăng-ghen, tính đảng không chỉ được xét từ góc độ thế giới quan (duy vật, duy tâm), mà còn được hiểu theo nghĩa rộng, từ góc độ giá trị của học thuyết đó đối với tiến bộ xã hội Mác, Ăng-ghen không đơn giản xem chủ nghĩa duy tâm cổ đại và chủ nghĩa duy tâm cổ điển Đức là đại diện tinh thần của thế lực phản động bảo thủ Các ông đã lưu ý hai điểm quan trọng: chủ nghĩa duy tâm này thể hiện khát vọng sáng tạo của tinh thần trong một thế giới hiện thực lạc hậu, ngưng đọng, vì thế có thể dẫn đến chỗ tách khỏi hiện thực, tuyệt đối hóa thái cực nhận thức; thứ hai, chủ nghĩa duy tâm này chứa đựng những yếu tố biện chứng, và chính hạt nhân hợp lý của phép biện chứng trong triết học cổ điển Đức đã góp phần tạo nên phong cách tư duy mới trong văn hóa châu Âu thời kỳ đó

Như vậy, nhấn mạnh tính đảng trong triết học, theo Mác, Ăng-ghen, không chỉ đơn giản là thực hiện sự phân chia thế giới quan một cách đơn giản và máy móc, mà cần tính đến những điều kiện lịch sử hình thành một học thuyết nhất định, nhằm tránh

sự nghèo nàn tư duy nhân loại

Tính sáng tạo của triết học Mác–Lê-nin cần được xem xét trong quá trình hình

thành và phát triển của nó, mà các tác phẩm nguyên bản của các nhà kinh điển đã thể hiện sống động cho đặc trưng này Tìm tòi, sáng tạo và đột phá không ngừng, đi sâu

Trang 12

vào những vấn đề mới nảy sinh của đời sống thực tiễn và lý luận là những đòi hỏi sống của một học thuyết mang ý nghĩa cải tạo hiện thực Tính sáng tạo của chủ nghĩa Mác thể hiện nổi bật ở những điểm sau: Trước hết là sự liên hệ với các thành tựu của khoa học, nhất là với sự xuất hiện những lĩnh vực tri thức mới, các học thuyết và giả thuyết mới Thứ hai, diễn biến của sinh hoạt tư tưởng, khả năng làm phong phú và thẩm định giá trị khoa học được đặt trong sự đối chiếu với các khuynh hướng khác Thứ ba, các phong trào chính trị - xã hội, nhất là phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản luôn được xem là chất liệu hiện thực vô giá cho tạo dựng các vấn đề lý luận Phép biện chứng duy vật là học thuyết về mối liên hệ phổ biến và về sự phát triển nên tự nó đã hàm chứa tính mở và tính sáng tạo Khi tìm hiểu các tác phẩm kinh điển, cần nắm vững tinh thần này

Bốn là, cần lựa chọn các nội dung trong các tác phẩm kinh điển một cách phù hợp để khai thác, trình bày

Các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác có nội dung rất rộng, chứa đựng mọi vấn đề từ bản thể luận đến nhận thức luận, từ triết học về tự nhiên đến triết học về lịch

sử, xã hội Hơn nữa, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác không trình bày tư tưởng của mình thành một hệ thống hoàn chỉnh có trình tự như cách thức truyền thống mà thường trình bày một số quan điểm nhất định trong từng tác phẩm cụ thể nhằm giải quyết một yêu cầu nhất định của thực tiễn Tuy vậy, để cung cấp cho người học một cách hệ thống những nội dung lý luận cơ bản nhất của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, hội đồng lý luận Trung ương đã chỉ đạo biên soạn nội dung phần thứ nhất (phần kiến thức triết học) của giáo trình “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin” theo cách thức truyền thống, tức là đi từ những vấn đề về bản thể luận (vật chất, ý thức) đến những vấn đề về nhận thức luận, và đến những vấn đề triết học về lịch sử – xã hội Do

đó, có sự không ăn khớp nhất định về hình thức trình bày giữa tác phẩm kinh điển với phần thứ nhất của giáo trình, chẳng hạn:

- Theo giáo trình, vấn đề cơ bản của triết học được trình bày trước tiên, sau đó đến phép biện chứng, lý luận nhận thức và chủ nghĩa duy vật lịch sử, nhưng Mác và Ăng-ghen trong những tác phẩm đầu tay của mình (vào những năm 40 của thế kỷ XIX) không hề nói đến vấn đề đó Mãi đến năm 1886, sau khi Mác qua đời, trước sự phát triển của các học thuyết thuộc dòng duy lý và tôn giáo, cùng với xu hướng phục hồi tư tưởng của các nhà triết học cổ điển dẫn đến sự xuất hiện chủ nghĩa Cantơ mới

và chủ nghĩa Hê-ghen mới, Ăng-ghen mới viết tác phẩm “Lút-vích Phoi-ơ-bách và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức” nhằm đánh giá một cách khách quan tư tưởng triết học của những tiền bối, nhất là Hê-ghen và Phoi-ơ-bách và vạch ra sự khác nhau

Trang 13

cơ bản giữa triết học Mác với triết học thời đại đã qua, trong đó, Ăng-ghen đã nêu ra vấn đề cơ bản của triết học

- Theo giáo trình, vấn đề phương thức và hình thức tồn tại của vật chất được trình bày trong phần đầu, ngay sau vấn đề cơ bản của triết học, nhưng Mác và Ăng-ghen cũng không hề bàn đến vấn đề đó trong những tác phẩm đầu tay Đến tháng 9 năm 1876, sau khi đã trình bày rất nhiều những vấn đề về chủ nghĩa duy vật lịch sử, Ăng-ghen mới viết tác phẩm “Chống Đuy-rinh”, trong đó bàn đến vấn đề vận động của vật chất, tính thống nhất vật chất của thế giới, không gian và thời gian Cần nói thêm rằng Ăng-ghen viết “Chống Đuy-rinh” nhằm giải quyết một nhiệm vụ cụ thể của thực tiễn, trong điều kiện những tư tưởng chiết trung của Oi-ghen Các Đuy-rinh (1833-1921) đã gây tác hại không nhỏ đến Đảng công nhân xã hội Đức và quá trình củng cố, phát triển chủ nghĩa Mác những năm 60 – 70

Sự không ăn khớp nhất định về hình thức trình bày giữa tác phẩm kinh điển với phần thứ nhất của giáo trình “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin” đòi hỏi khi khai thác tác phẩm kinh điển vào phục vụ dạy - học, cần lựa chọn các nội dung trong các tác phẩm kinh điển phù hợp với nội dung phần thứ nhất của giáo trình để khai thác, trình bày Tất nhiên, các vấn đề triết học lớn thường được các nhà kinh điển bàn đến trong rất nhiều tác phẩm, tuy vậy, ở một số tác phẩm nhất định, các vấn đề đó lại được bàn đến rất kỹ Ở đây, nhóm tác giả xin đưa ra một số gợi ý:

- Vấn đề cơ bản của triết học: Tác phẩm “Lút-vích Phoi-ơ-bách và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức” – tập 21, C.Mác và Ph.Ăng-ghen toàn tập

- Vấn đề vật chất: Tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán” – tập 18, Lê-nin toàn tập

- Về vấn đề phương thức và hình thức tồn tại của vật chất: Các tác phẩm:

“Chống Đuy-rinh” và “Biện chứng của tự nhiên” – tập 20, C.Mác và Ph.Ăng-ghen

- Vấn đề các quy luật của phép biện chứng: Các tác phẩm: “Chống Đuy-rinh”,

“Biện chứng của tự nhiên”, “Bút ký triết học”, “Tư bản”

- Vấn đề nhận thức và lý luận nhận thức: Các tác phẩm: “Luận cương về ơ-bách”,– tập 3, C.Mác và Ph.Ăng-ghen toàn tập, “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán” – tập 18, Lê-nin toàn tập, “Bút ký triết học”

Trang 14

Phoi Vấn đề biện chứng của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất: Các tác phẩm:

“Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị, – tập 6, C.Mác và Ph.Ăng-ghen toàn tập,

“Tư bản” , “Thư Mác gửi P V An-nen-cốp”, “Sự khốn cùng của triết học” – tập 4, C

Mác và Ph Ăng-ghen toàn tập

- Vấn đề biện chứng của cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng: Các tác phẩm

“Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen”–tập 1, C.Mác và ghen toàn tập, “Hệ tư tưởng Đức”, - tập 3, C.Mác và Ph.Ăng-ghen toàn tập, “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước” – tập 21, C.Mác và Ph.Ăng- ghen toàn tập, “Nhà nước và cách mạng” – tập 33, Lê-nin toàn tập

Ph.Ăng Vấn đề biện chứng của tồn tại xã hội và ý thức xã hội: Các tác phẩm “Bản thảo kinh tế - triết học 1844” – tập 42, C.Mác và Ph.Ăng-ghen toàn tập, “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” – tập 4, C.Mác và Ph.Ăng-ghen toàn tập, “Chống Đuyrinh”

- Vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp: Các tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản”, “Nhà nước và cách mạng”

- Vấn đề con người và bản chất con người: Các tác phẩm: “Luận cương về Phoi-ơ-bách”, “Bản thảo kinh tế-triết học 1844”

Trong chương 2 của tài liệu này, nhóm tác giả đi vào khai thác, phân tích các tác phẩm và trình bày các vấn đề theo những gợi ý trên

Trang 15

CHƯƠNG 2 KHAI THÁC TÁC PHẨM KINH ĐIỂN VÀO DẠY – HỌC HỌC PHẦN “NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN

PHẦN 1”

2.1 Chủ nghĩa duy vật biện chứng

2.1.1 Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy vật biện chứng

2.1.1.1 Vấn đề cơ bản của triết học

Triết học đã ra đời và phát triển trên hai ngàn năm Ở mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau, triết học có đối tượng nghiên cứu khác nhau Tuy nhiên, mỗi nhà triết học, dù ở thời kỳ nào, cũng phải giải quyết những vấn đề lý luận có ý nghĩa nền móng trong học thuyết lớn của mình

Trong tác phẩm “Lút-vích Phoi-ơ-bách và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức”, Ăng-ghen đã đưa ra định nghĩa kinh điển về vấn đề cơ bản của triết học Ông viết: “Vấn đề cơ bản lớn của triết học, đặc biệt là của triết học hiện đại, là vấn đề quan

hệ giữa tư duy với tồn tại”[5, 403] Tiếp theo Ăng-ghen chỉ rõ vấn đề cơ bản của triết học được xem xét trên hai mặt cơ bản sau:

Mặt thứ nhất là, giữa vật chất và ý thức, giữa tồn tại và tư duy, cái nào có trước, cái nào có sau? Ăng-ghen cũng chỉ ra rằng, “cách giải đáp vấn đề ấy đã chia các nhà triết học thành hai phe lớn Những người quả quyết rằng tinh thần có trước tự nhiên,

và, do đó, rút cục lại thừa nhận rằng thế giới được sáng tạo ra bằng cách nào đó, – ở các nhà triết học, chẳng hạn như ở Hê-ghen, sự sáng tạo đó lại thường rắm rối và vô lý hơn nhiều so với đạo Cơ Đốc – những người đó thuộc phe chủ nghĩa duy tâm, còn những người cho rằng tự nhiên là cái có trước thuộc các học phái khác nhau của chủ nghĩa duy vật”[5, 404-405]

Mặt thứ hai là, “song vấn đề quan hệ giữa tư duy với tồn tại còn có một mặt khác: những suy nghĩ của chúng ta về thế giới xung quanh ta có quan hệ như thế nào với bản thân thế giới ấy? Tư duy của chúng ta có thể nhận thức được thế giới hiện thực không? Trong các quan niệm và các khái niệm của chúng ta về thế giới hiện thực, chúng ta có thể phản ánh được một hình ảnh đúng đắn của hiện thực không?”[5, 405]

Căn cứ vào câu trả lời những câu hỏi trên như thế nào, các nhà triết học được chia thành hai phái, một bên thừa nhận sức mạnh và năng lực của con người có thể nhận thức, khám phá những bí mật của thế giới khách quan và bên kia là những người không thừa nhận khả năng nhận thức thế giới của con người hoặc không nhận thức được thế giới một cách đầy đủ Ở đây, Ăng-ghen cũng chú ý tới câu hỏi, bằng cách

Trang 16

nào có thể bác bỏ chủ nghĩa không thể biết? Về điều này, hai nhận xét sau của ông là rất đáng chú ý: thứ nhất, “những gì có tính chất quyết định nhằm bác bỏ quan điểm đó (quan điểm không thừa nhận khả năng nhận thức của con người – N.T.N) thì đã được Hê-ghen đưa ra, trong chừng mực mà chủ nghĩa duy tâm cho phép; và những gì mà Phoi-ơ-bách theo quan điểm duy vật thêm vào, thì có tính chất sắc sảo hơn là sâu sắc; thứ hai, cơ sở đầy đủ để có thể bác bỏ học thuyết không thừa nhận khả năng nhận thức của con người đó là “thực tiễn”, tức là “thực nghiệm và công nghiệp”[5, 405], tức là nhờ đó chúng ta có thể chứng minh tính đúng đắn của nhận thức của chúng ta về hiện tượng nào đó bằng cách tự mình tạo ra những hiện tượng ấy với những điều kiện của

nó và bắt nó phục vụ những mục đích của chúng ta, lúc đó cái “vật tự nó” không thể hiểu được của Can-tơ (1724-1804) sẽ không còn nữa

Theo Ăng-ghen, trong lịch sử triết học, cùng với sự phát triển của thực tiễn và nhận thức khoa học, chủ nghĩa duy vật đã trải qua ba hình thức cơ bản là: Chủ nghĩa duy vật chất phác thời cổ đại, chủ nghĩa duy vật siêu hình thế kỷ XVII, XVIII và chủ nghĩa duy vật biện chứng

Trước chủ nghĩa duy vật biện chứng, quan điểm duy vật đạt đến đỉnh cao trong triết học Phoi-ơ-bách Năm 1841, Phoi-ơ-bách xuất bản cuốn “Bản chất của đạo Cơ đốc” Cuốn sách được đánh giá như là lời tuyên bố về sự chiến thắng của chủ nghĩa duy vật, có tác động rất lớn đối với tầng lớp thanh niên cấp tiến lúc bấy giờ, trong đó

có cả Mác và Ăng-ghen Diễn tả điều này, Ăng-ghen viết: “Phải tự mình thể nghiệm tác dụng giải phóng của tác phẩm mới có được một ý niệm về tác dụng đó Lúc bấy giờ, ai nấy đều phấn khởi: tất cả chúng tôi lập tức trở thành môn đồ của Phoi-ơ-bách”[5, 401] Để hình dung “tác dụng giải phóng” của tác phẩm của Phoi-ơ-bách mà Ăng-ghen nói đến, cần phải đặt trong khung cảnh của cuộc đấu tranh lý luận và tư tưởng xung quanh sự đối lập giữa hai trường phái triết học lúc đó ở Đức là phái “Hê-ghen trẻ” và phái “Hê-ghen già” Dù có những tư tưởng cấp tiến nhưng phái “Hê-ghen trẻ” – trong đó có Mác và Ăng-ghen – cũng không thể tìm ra con đường để khắc phục những mâu thuẫn của hệ thống lý luận của Hê-ghen Chính trong bối cảnh đó, Phoi-ơ-bách đã tìm ra lối thoát, đó là quay trở về với chủ nghĩa duy vật Dù là những người đã nhiệt thành đón nhận quan điểm duy vật của Phoi-ơ-bách, nhưng chỉ một thời gian ngắn sau đó, Mác và Ăng-ghen đã nhận ra những khiếm khuyết trong học thuyết này Điều này đã được hai ông thực hiện chỉ một thời gian ngắn sau khi trở thành “môn đồ” của Phoi-ơ-bách, và một sự phê phán đầy đủ những ưu điểm và hạn chế của chủ nghĩa duy vật Phoiơbách và của chủ nghĩa duy vật thế kỉ XVIII đã được thể hiện trong tác phẩm

Trang 17

Trước hết, về chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVIII, theo Ăng-ghen có những hạn chế

chính sau đây: thứ nhất, chủ nghĩa duy vật này “chủ yếu có tính máy móc”, tức là thế giới tự nhiên, xã hội và con người được hình dung như là những cỗ máy; thứ hai, chủ

nghĩa duy vật này có tính siêu hình, nghĩa là, như Ăng-ghen chỉ ra, nó không thể hiểu thế giới như một quá trình phát triển lịch sử liên tục Các nhà triết học duy vật siêu hình coi lịch sử của tự nhiên vận động theo một “vòng tròn vĩnh cửu”, coi thế giới vật chất như một cỗ máy cơ giới khổng lồ vận động theo những nguyên lý bất di bất dịch

không thay đổi được; thứ ba, quan niệm duy tâm về lịch sử, hay nói theo cách của

Ăng-ghen đó là “quan điểm phi lịch sử … thịnh hành trong lĩnh vực lịch sử”[5, 409] Các nhà duy vật trước Mác, kể cả Phoi-ơ-bách chỉ là duy vật khi lý giải các hiện tượng

tự nhiên, còn khi lý giải đời sống xã hội và lịch sử thì họ không còn là nhà duy vật nữa

Nói về những nguyên nhân của đặc điểm thứ nhất và thứ hai, Ăngghen nhấn mạnh trong tác phẩm, trước hết là do trình độ phát triển của các ngành khoa học tự nhiên, khi đó “chỉ có cơ học và cụ thể là chỉ có cơ học các vật thể rắn “trong không trung và trên trái đất”, … là đã đạt tới một mức độ hoàn bị nào đó”[5, 409], còn các ngành khoa học khác như hoá học và sinh học còn đang ở trong “tình trạng phôi thai” Còn nguyên nhân của quan niệm duy tâm về lịch sử của chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVIII này là cuộc đấu tranh chống lại những tàn tích của thời Trung cổ đã hạn chế tầm nhìn của họ, ở đó các nhà duy vật thế kỷ XVIII nhìn lịch sử chỉ như những mảng ghép những sự kiện, sự biến riêng lẻ, nghĩa là xem xét chúng bên ngoài những mối liên hệ

và sự phát triển có tính quy luật

Ngoài ba hạn chế trên, trong “Lút-vích Phoi-ơ-bách và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức”, Ăng-ghen còn vạch ra một cách sâu sắc những thiết sót của chủ

nghĩa duy vật tầm thường trong việc giải thích nguồn gốc và bản chất của ý thức, biểu hiện ở chỗ, họ đã đồng nhất ý thức với một dạng của vật chất, đã quy cơ chế hoạt động

ý thức, tinh thần của con người về cơ chế sinh lý thuần tuý, về trao đổi chất của cơ thể Cách hiểu như vậy đã triệt tiêu tính độc lập tương đối và tính sáng tạo của ý thức, và

do đó, tỏ ra bế tắc trong việc phân tích các lĩnh vực xã hội cũng như hoạt động của con người Do đó, họ không thể tìm ra lời giải thích đúng về bản chất của ý thức và hoạt động của con người Cả chủ nghĩa duy vật máy móc, siêu hình lẫn chủ nghĩa duy vật tầm thường đều không còn phù hợp trong điều kiện hiện tại Nó cần được thay thế bằng hình thức hiện đại của chủ nghĩa duy vật Nhân đây, Ăng-ghen cũng nêu lên luận điểm có tính chất nguyên tắc về sự tác động của khoa học chuyên biệt, cụ thể đối với triết học nói chung và chủ nghĩa duy vật nói riêng: “Mỗi lần có một phát minh mang ý

Trang 18

nghĩa thời đại ngay cả trong lĩnh vực khoa học lịch sử – tự nhiên thì chủ nghĩa duy vật lại không tránh khỏi thay đổi hình thức của nó”[5, 409]

Một nội dung quan trọng khác trong “Lút-vích Phoi-ơ-bách và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức” là sự phân tích, đánh giá của Ăng-ghen đối với chủ nghĩa

duy vật của Phoi-ơ-bách Đoạn trích sau thể hiện rõ ý kiến đánh giá của Ăng-ghen về Phoi-ơ-bách: “Tiến trình của Phoi-ơ-bách là tiến trình của một môn đồ của Hê-ghen - đành rằng, chẳng bao giờ là một môn đồ hoàn toàn chính thống – hướng tới chủ nghĩa duy vật Tiến trình đó, đến một giai đoạn nhất định, nhất thiết phải dẫn đến sự đoạn tuyệt với hệ thống duy tâm chủ nghĩa của vị tiền bối của ông Cuối cùng, với một sức mạnh không gì cưỡng lại được, Phoi-ơ-bách buộc phải đi đến chỗ thừa nhận rằng cái

mà Hê-ghen đã nói tới: sự tồn tại của “ý niệm tuyệt đối” trước khi có thế giới, không phải là cái gì khác, mà chỉ là tàn dư hư ảo của lòng tin vào một đấng sáng tạo siêu phàm; rằng thế giới vật chất, cảm thấy được bằng giác quan, thế giới mà bản thân chúng ta cũng phụ thuộc vào đấy, là hiện thực duy nhất; rằng ý thức, cũng như tư duy của chúng ta, dù có vẻ siêu cảm giác như thế nào đi chăng nữa, cũng chỉ là sản vật của một khí quan vật chất, nhục thể, tức là bộ óc Vật chất không phải là sản phẩm của tinh thần, mà chính bản thân tinh thần mới là sản phẩm tối cao của vật chất Đó dĩ nhiên là chủ nghĩa duy vật thuần tuý Nhưng đạt tới điểm đó rồi thì đột nhiên Phoi-ơ-bách dừng lại”[5, 408]

Qua những nhận xét trên của Ăng-ghen có thể tóm tắt đóng góp quan trọng của Phoi-ơ-bách đối với sự phát triển của chủ nghĩa duy vật chính là ở khái quát của ông

về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, trong chừng mực nhất định, đã vượt qua quan niệm của các nhà duy vật trước đó Như Ăng-ghen chỉ rõ, Phoi-ơ-bách đã đạt đến quan niệm duy vật triệt để trong quan niệm về tự nhiên, nhưng lại không đạt đến quan niệm như vậy về lịch sử

Những kiến giải về lịch sử và xã hội của Phoi-ơ-bách đã bộc lộ rõ những hạn chế của ông Trong phạm vi này, Phoi-ơ-bách chưa thể vượt ra khỏi giới hạn của chủ nghĩa duy tâm Điều này, Ăng-ghen chỉ rõ, bộc lộ trước hết trong triết học tôn giáo và đạo đức của ông

Trong “Lút-vích Phoi-ơ-bách và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức”, một

mặt Ăng-ghen đã đánh giá cao những luận điểm duy vật của Phoi-ơ-bách về nguồn gốc và bản chất của tôn giáo, nhưng ông cũng chỉ rõ rằng quan niệm của Phoi-ơ-bách

về tôn giáo chủ yếu là duy tâm Điều đó thể hiện ở những điểm sau đây: thứ nhất, ông không hoàn toàn muốn xoá bỏ tôn giáo, mà muốn hoàn thiện nó bằng việc tuyên bố

Trang 19

rằng tình yêu thương giữa người với người, mà về thực chất là quy chúng về quan hệ nam và nữ, là hình thức tín ngưỡng cao nhất của tôn giáo mới Hơn nữa, khái niệm con người ở ông là những con người trừu tượng tồn tại ngoài thời gian, không gian, ngoài những môi trường xung quanh nó và ngoài thực tiễn lịch sử, là nhận thức luận, mà như Mác nói: kiểu Rô-bin-sơn một mình ngoài đảo hoang; thứ hai, ông lấy tôn giáo làm tiêu chí phân kỳ lịch sử, ông coi các thời kỳ của loài người chỉ khác nhau do những biến đổi trong tôn giáo

Còn yếu tố duy tâm trong đạo đức học của Phoi-ơ-bách, theo Ăng-ghen, thể hiện chính ở chỗ, trên cơ sở lập trường của chủ nghĩa nhân đạo trừu tượng, Phoiơbách

đã tuyệt đối hoá ước muốn về hạnh phúc của con người, sự bình đẳng của con người đối với hạnh phúc làm cơ sở duy nhất của đạo đức Trong mô hình lý thuyết đạo đức học của mình, Phoiơbách đã bỏ qua sự chi phối đối với đời sống đạo đức xã hội của những quan hệ xã hội hiện thực, của sự phân chia xã hội thành những giai cấp đối lập, những kẻ bóc lột và những người bị bóc lột Đánh giá thực chất của học thuyết đạo đức này, Ăng-ghen chỉ rõ về thực chất thì học thuyết đó đã được “gọt giũa cho thích hợp với xã hội tư bản chủ nghĩa hiện nay, dù ông có những mong muốn như thế nào và những ý định như thế nào đi chăng nữa”[5, 425]

Theo Ăng-ghen, Phoi-ơ-bách thực ra đã phục hồi chủ nghĩa duy vật ở một trình

độ lý luận chưa phải là cao so với thời đại của mình, ông vẫn còn loay hoay trong

“cảm giác luận” của thế kỷ trước để xét đoán thế giới, vẫn không bắt kịp sự phát triển của khoa học tự nhiên, vẫn tỏ ra rất cứng nhắc trong thái độ đối với phép biện chứng Đối với giới trí thức Đức lúc đó, tư tưởng của Phoi-ơ-bách đúng là chưa hợp “mốt”, còn đối với Mác và ông, nó vẫn chưa thể đương đầu với những thứ triết học tầm thường và nhạt nhẽo đang bắt đầu xuất hiện và phổ biến ở các trường đại học lúc đó Tuy nhiên, sự lạc hậu trước những diễn biến trong khoa học tự nhiên, mà những phát minh vạch thời đại của nó tạo nên tiền đề khoa học của sự ra đời chủ nghĩa duy vật biện chứng đã làm cho chủ nghĩa duy vật Phoi-ơ-bách thật khó được chấp nhận, ngay

cả ở Đức những năm 30-40 thế kỷ XIX

2.1.1.2 Chủ nghĩa duy vật biện chứng – hình thức phát triển cao nhất của chủ nghĩa duy vật

Trong “Lút-vích Phoi-ơ-bách và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức”, sau

khi trình bày những đánh giá, phê phán đối với triết học Hê-ghen và Phoi-ơ-bách, Ăng-ghen đã trình bày một cách cô đọng thực chất của cuộc cách mạng trong triết học

Trang 20

do Mác và ông thực hiện, là hình thức thứ ba của chủ nghĩa duy vật – chủ nghĩa duy vật biện chứng và chỉ ra, thế giới quan mới của các ông đã được xây dựng như thế nào

Trước hết, Ăng-ghen chỉ rõ để xây dựng chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, Mác và ông đã đoạn tuyệt với triết học Hê-ghen bằng cách quay trở lại với chủ nghĩa duy vật, vì chỉ có như vậy mới có thể đi đến thừa nhận, xem xét thế giới đúng như nó tồn tại Đó cũng là con đường mà Phoi-ơ-bách đã đi, nhưng ở Phoi-ơ-bách chỉ đơn giản là vứt bỏ toàn bộ triết học Hê-ghen Khác với Pho-iơ-bách, Ăng-ghen chỉ rõ để xây dựng triết học mới của mình, các ông đã lấy phương pháp biện chứng của Hê-ghen làm điểm xuất phát và xây dựng lại nó trên cơ sở của chủ nghĩa duy vật, nghĩa là cải tạo phép biện chứng của Hê-ghen thành “khoa học về các quy luật vận động chung của thế giới bên ngoài cũng như của tư duy con người”[5, 429-430]

Sự chuyển biến của Mác sang chủ nghĩa duy vật, theo Ăng-ghen, diễn ra lúc đầu dưới sự ảnh hưởng khá rõ nét của Phoi-ơ-bách, song triết học của Mác hình thành như hình thức mới về chất, cao hơn chủ nghĩa duy vật, trước hết vì Mác ngay lập tức

đã chú ý đến giải phẫu các hiện tượng xã hội và lịch sử, điều đó cho phép ông khắc phục tính chất trực quan và thuyết nhân bản trừu tượng vốn là đặc trưng của triết học Phoi-ơ-bách Chính quan điểm biện chứng về xã hội đã giúp Mác hiểu được những hạn chế của chủ nghĩa duy vật thế kỷ trước, kể cả chủ nghĩa duy vật Phoi-ơ-bách, và sự phê phán chúng với vấn đề bản chất con người Sự vật, hiện tượng, theo Mác, phơi bày ngay ở thực tiễn, và “bản chất con người trong tính hiện thực của nó là tổng hòa những quan hệ xã hội”[14, 11]

Vạch ra sự khác nhau không chỉ giữa phép biện chứng duy vật và phép biện chứng duy tâm, mà cả giữa chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật siêu hình, là cách đơn giản nhất, và cũng rõ ràng nhất, để làm sáng tỏ bước ngoặt cách mạng trong triết học, gắn với tên tuổi của Mác Cho rằng chủ nghĩa duy vật siêu hình không còn phù hợp nữa, theo Ăng-ghen, chính là vì nó tỏ ra bất lực trong việc đưa ra lời giải đáp cho những vấn đề mới nảy sinh ở lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học lịch sử và hoạt động thực tiễn

Quan niệm duy vật về trong tiến trình lịch sử xã hội cũng là một nét khác biệt

cơ bản nữa giữa chủ nghĩa duy vật triệt để, duy vật mác-xít và chủ nghĩa duy vật phiến diện, thể hiện chính trong sự đối lập giữa triết học tự nhiên và triết học lịch sử của Phoi-ơ-bách Khi đề cập đến nội dung này, Ăng-ghen phê phán chủ nghĩa duy vật tầm thường và chủ nghĩa Đác-uyn xã hội, chỉ rõ rằng, cần vạch ra sự khác nhau giữa các quy luật tự nhiên và các quy luật xã hội Trong tự nhiên, các quy luật khai phá cho

Trang 21

mình con đường thông qua sự vận động của những lực lượng mù quáng, tự phát, còn trong xã hội thì con người hoạt động có ý thức, đặt ra cho mình những mục đích rõ ràng và hướng tới thực hiện chúng Do vậy, các quy luật xã hội, ngoài việc là các quy luật khách quan, còn được hình thành và biểu hiện nhờ sự hoạt động có mục đích của con người và những mục đích của họ rốt cuộc bị chi phối bởi những điều kiện sinh hoạt vật chất Từ vấn đề lớn đó, Ăng-ghen bàn đến vấn đề động lực của sự phát triển lịch sử Tại đây, ông phê phán chủ nghĩa duy vật cũ đã lý tưởng hóa động lực, đồng thời quy các ước muốn của lịch sử về ý chí cá nhân, hay động cơ của các cá nhân riêng

Nét nổi bật của cuộc cách mạng trong vật lý học cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ

XX là ở chỗ, chúng làm thay đổi căn bản và đột ngột các quan niệm truyền thống trong vật lý Vấn đề đặt ra lúc ấy là, liệu các phát minh khoa học có đóng vai trò tiền đề cho những thay đổi tích cực trong tư duy hay không, hay chúng tạo ra sự hụt hẫng trong giải thích, đánh giá chúng và sự mất phương hướng trong thế giới quan?

Việc Rơn-ghen (1845-1923) tìm ra tia Rơn-ghen (tia X) năm 1895, Béc-cơ-ren (1852-1908) phát hiện ra hiện tượng phóng xạ năm 1896, đặc biệt là việc phát hiện ra điện tử (electron) của Tôm-xơn (1856-1940) năm 1897, đã đưa đến những bước ngoặt quan trọng trong việc giải thích cấu trúc của vật chất Đơn cử trường hợp phát minh ra điện tử, ai cũng biết rằng cuộc tranh luận triết học của các nhà duy vật cổ đại xoay quanh vấn đề bản nguyên của thế giới, cái mà, nói như Ta-lét (khoảng 624-547 TCN),

từ đó mọi thứ sinh ra và trở về Theo cách tiếp cận như vậy, những bản nguyên đại diện lần lượt được nêu ra, trong đó có nguyên tử, cái bản nguyên mà thậm chí đến thế

kỷ XVIII, XIX vẫn được thừa nhận là cái bé nhất, là đơn vị cuối cùng không thể phân chia

Sự khám phá ra điện tử đã khiến cho quan niệm trên không còn đứng vững

được nữa Thứ nhất, khối lượng electron được xác định bằng khoảng 2000 lần nhỏ hơn

khối lượng nguyên tử, và do vậy nguyên tử không thể được coi là phần tử không thể

Trang 22

phân chia Thứ hai, đã xác định được electron có thể chuyển động với vận tốc xấp xỉ

vận tốc ánh sáng, và khi vận động với vận tốc này, khối lượng của electron tăng lên đáng kể Nhưng trước thời điểm đó, quy luật về sự lệ thuộc của khối lượng vào vận tốc chuyển động chưa được xây dựng, và do đó, người ta chỉ xác định được khối lượng cơ học Tính chất thay đổi khối lượng của electron trái với vật chất – nguyên tử về đặc tính bất biến, đã khiến một số nhà khoa học nghĩ rằng, dường như electron không thuộc về vật chất theo cách hiểu truyền thống, do đó, không vật chất hóa quan điểm về chúng được

Thêm một phát minh nữa làm sụp đổ quan niệm về tính chất không đổi của các nguyên tố hóa học: Rađi (radiom – kim loại phóng xạ, màu sáng chói lọi) trong khi phân hủy, bị mất đi khối lượng và phát ra năng lượng, nghĩa là biến thành chất mới Nhà vật lý học và toán học lớn người Pháp Poanh-ca-rê (1854-1912) nhân phát hiện này đã tuyên bố một cách hóm hỉnh: Nhà cách mạng vĩ đại radiom đã phá vỡ định luật bảo toàn năng lượng Nhà hóa học và triết học người Đức Ốt-xơ-van (1853-1932) cho rằng, có lẽ năng lượng, chứ không phải vật chất, mới là thực thể duy nhất của thế giới,

do đó cần thay các khái niệm truyền thống là “vật chất” và “ý thức” bằng cùng một khái niệm “năng lượng” Những quan điểm khác tương tự như thế đã báo hiệu một thời kỳ khủng hoảng sâu sắc trong vật lý học

Thực ra không phải tự bản thân các phát minh gây ra khủng hoảng, mà chính các kết luận sai lầm về mặt thế giới quan đã dẫn đến tình trạng mất phương hướng ở

nhiều nhà vật lý Lê-nin viết: “Thực chất của cuộc khủng hoảng của vật lý học hiện đại

là ở sự đảo lộn của những quy luật cũ và những nguyên lý cơ bản, ở sự gạt bỏ thực tại khách quan ở bên ngoài ý thức, tức là sự thay thế chủ nghĩa duy vật bằng chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa bất khả tri “Vật chất tiêu tan” – người ta có thể dùng câu nói đó

để diễn đạt cái khó khăn cơ bản và điển hình đối với nhiều vấn đề riêng biệt, khó khăn

đã gây ra cuộc khủng hoảng ấy”[9, 318]

Nguồn gốc sâu xa của khủng hoảng thế giới quan là ở cách lý giải vật chất, cách đặt vấn đề về “viên gạch đầu tiên” của vũ trụ, tức vấn đề bản nguyên, và đồng nhất thế giới vật chất với cái bản nguyên đại diện do khoa học của mỗi thời đại tìm ra Sự phát triển của khoa học khiến cho mỗi lần có những khám phá mới là tư duy lại rơi vào trạng thái hụt hẫng Trong trường hợp trên có thể thấy, sự thay đổi quá nhanh và quá lớn trong khoa học vật lý đã gây ra một “cú sốc” trong thế giới quan Lẽ ra, thay vì truy đuổi theo các khám phá thường xuyên của khoa học nghiên cứu thế giới vật chất, các nhà khoa học cần lưu ý đến đặc tính duy nhất, và cũng là chung nhất của thế giới vật chất, đó là tính thực tại khách quan, tồn tại độc lập với ý thức của chúng ta Các nhà khoa học, theo Lê-nin, đã không tính đến luận điểm của chủ nghĩa duy vật về tính

Trang 23

chất cơ bản nhất này của vật chất và cả sự khác nhau giữa chủ nghĩa duy vật biện chứng với chủ nghĩa duy vật siêu hình Lê-nin viết: “Trong khi phủ nhận tính bất biến của những nguyên tố và của những đặc tính của vật chất đã được biết cho đến nay, họ

đã rơi vào chỗ phủ nhận vật chất, nghĩa là phủ nhận tính thực tại khách quan của thế giới vật lý Trong khi phủ nhận tính chất tuyệt đối của những quy luật quan trọng nhất

và cơ bản, họ rơi vào chỗ phủ nhận mọi quy luật khách quan trong tự nhiên; rơi vào chỗ tuyên bố rằng quy luật của giới tự nhiên là ước lệ đơn thuần, là “sự hạn chế việc chờ đợi”, là “tất yếu lôgíc”, v.v…Nhấn mạnh tính chất gần đúng và tương đối của những tri thức của chúng ta, họ đã rơi vào chỗ phủ nhận khách thể độc lập đối với nhận thức, được nhận thức ấy phản ánh một cách gần chân thực, tương đối đúng”[9, 323]

Sở dĩ diễn ra tình trạng mất phương hướng ở ngay cả các nhà khoa học lớn, theo Lênin, là vì họ thiếu một phương pháp tư duy biện chứng, đây là nguyên nhân thứ nhất Phương pháp tư duy siêu hình đã ăn sâu trong trí óc, nhiều nhà khoa học thừa nhận các tri thức khoa học là sự phản ánh của thế giới khách quan, tồn tại độc lập với ý thức, nhưng lại coi các tri thức đó là bất biến, là tuyệt đối Nhưng khi vật lý học hiện đại chứng minh rằng các tri thức ấy là tương đối, là có thể biến đổi, thì họ rất hoang mang Người ta nghi ngờ sự tồn tại của thế giới khác quan, tồn tại độc lập với cảm giác, từ đó dễ dàng chuyển sang chủ nghĩa tương đối và chủ nghĩa duy tâm Lênin đã vạch rõ: “Thực ra, chỉ có phép biện chứng duy vật của Mác và Ph.Ăng-ghen mới đưa

ra được cách đặt vấn đề duy nhất đúng đắn về mặt lý luận, tức là vấn đề về chủ nghĩa tương đối, và người nào không hiểu phép biện chứng duy vật thì nhất định chuyển từ chủ nghĩa tương đối sang chủ nghĩa duy tâm triết học”[9, 383] Nếu như nắm được phép biện chứng thì họ đủ khả năng nhận thức được về mối liên hệ giữa chân lý khách quan, chân lý tuyệt đối, chân lý tương đối và chân lý cụ thể, từ đó mà thừa nhận giá trị khách quan của các học thuyết khoa học, tính chân lý khách quan của chúng Chính trong tính tương đối chứa đựng tính tuyệt đối và tính khách quan Ngược lại, phủ nhận chân lý tuyệt đối và chân lý khách quan tất yếu dẫn đến chủ nghĩa tương đối, và từ chủ nghĩa tương đối dẫn đến thuyết bất khả tri và chủ nghĩa duy tâm Chủ nghĩa tương đối

là một trong những nguyên nhân nhận thức luận chủ yếu sinh ra quan điểm duy tâm trong vật lý học

Nguyên nhân thứ hai là sự toán học hóa ngành vật lý Do đặc điểm của thế giới

vi mô là vô cùng nhỏ bé và không thể trực quan trực tiếp được nên việc nhận thức phải dựa vào các công cụ toán học trừu tượng Trong vật lý học, việc thể hiện bằng toán học các quy luật vận động của vật chất và mô tả một số quá trình vật lý ngày càng trở thành khả năng thực tế Ngay tại đây, thành tựu khoa học có thể lệch đi Một số nhà

Trang 24

khoa học tuyên bố rằng trí tuệ con người đem đến cho tự nhiên tính xác định của mình,

và rằng không có bất cứ thực tại nào đằng sau các phương trình toán học Như vậy từ chỗ toán học đóng vai trò tích cực trong việc đem đến phương tiện giúp các nhà nghiên cứu làm sáng tỏ các tính chất của đối tượng, đã bị đẩy đến chỗ cực đoan, thuần túy lôgíc

Trở lại với việc khám phá ra electron Thành quả vĩ đại này hóa ra lại gây nên những tranh luận gay gắt giữa các nhà khoa học về bản chất của dòng điện, của ánh sáng và từ trường Vấn đề là: Trường điện từ có phải vật chất không? Giả thiết ête (aither) đã bị bác bỏ Giờ đây giữa các nhà khoa học nổi lên hai khuynh hướng xem xét trường vật lý Một số nhà khoa học khẳng định rằng trường vật lý thuộc về vật chất, vì nó mang năng lượng và những thuộc tính khách quan khác Một số khác thì lại hiểu trường vật lý như năng lượng “thuần túy”, như sự vận động phi vật chất nào đó Toan tính tách vận động ra khỏi vật chất như thế dẫn đến sự xuất hiện “thuyết duy năng” – một biến tướng của chủ nghĩa duy tâm vật lý học Bản chất duy tâm của quan niệm này thể hiện ở cách hiểu về vận động thuần túy, tức tách vận động ra khỏi vật chất, đồng nghĩa với quan niệm cho rằng sự vận động chỉ trong khái niệm, còn vận động chỉ là sự thay thế các cảm giác, còn đằng sau chúng không hề có thực tại khách quan

Lê-nin đã vạch ra và phê phán những những nhà khoa học bị ảnh hưởng bởi chủ nghĩa duy tâm vật lý học, những nhà duy tâm “tự phát”, đã tìm cách thay thế các khái niệm “vật chất”, “ý thức” bằng khái niệm “năng lượng”, là khái niệm mà theo họ phù hợp hơn, cụ thể hơn khái niệm truyền thống Lê-nin viết: “Sự khác nhau cơ bản giữa người duy vật với người theo triết học duy tâm là ở chỗ người duy vật coi cảm giác, tri giác, biểu tượng, và nói chung, ý thức của con người, là hình ảnh của thực tại khách quan Thế giới là sự vận động của thực tại khách quan ấy, cái thực tại khách quan được

ý thức của chúng ta phản ánh Tương ứng với vận động của những biểu tượng, tri giác, v.v…là vận động của vật chất ở bên ngoài tôi Khái niệm vật chất không biểu hiện cái

gì khác ngoài cái thực tại khách quan mà chúng ta nhận thấy được trong cảm giác Cho nên, tách vận động khỏi vật chất, thì cũng như tách tư duy khỏi thực tại khách quan, tách những cảm giác của tôi khỏi thế giới bên ngoài, tức là đi sang chủ nghĩa duy tâm”[9, 329-330] Tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa duy tâm vật lý học là “phủ nhận thực tại khách quan được đem lại cho chúng ta trong cảm giác và do lý luận của chúng

ta phản ánh, hay là hoài nghi đối với sự tồn tại của thực tại ấy”[9, 376]

Lênin dùng những từ như “nhà duy linh”, “nhà duy tâm ngay thực” để ám chỉ những nhà khoa học rơi vào chủ nghĩa duy tâm trong quá trình tìm hiểu và giải thích các hiện tượng vật lý Tại Anh, “nhà duy tâm ngay thực” Oát-đơ đã tranh luận quyết

Trang 25

liệt với nhà khoa học – nhà duy vật tự phát Rích-cơ (1863-1936) Tại Đức, nhà duy tâm “chiến đấu” Cô-hen (1842-1918) đã phản ứng quyết liệt trước nhà khoa học tự nhiên Bôn-xtơ-man (1844-1906), người dám tiếp tay cho chủ nghĩa duy vật bằng cách giáng đòn nặng nề vào học thuyết duy tâm về sự chết nhiệt của vũ trụ Cô-hen tranh thủ thuyết duy năng của một nhà khoa học hoàn toàn vô tư để chống chủ nghĩa duy vật Nhà vật lý học Héc-txơ (1857-1894), người khởi xướng thuyết duy năng không hề biết rằng thành quả của mình đã bị sử dụng vào mục đích thế giới quan quá lộ liễu! Thuyết duy năng (hay thuyết năng lượng), như Lê-nin viết, “đã được dùng làm cái cớ cho các nhà triết học vin vào để chạy từ chủ nghĩa duy vật sang chủ nghĩa duy tâm Nhà khoa học tự nhiên thì coi thuyết duy năng là một phương pháp thuận lợi để trình bày những quy luật của vận động vật chất trong thời kỳ mà các nhà vật lý học đã xa rời nguyên tử nhưng vẫn chưa đạt tới được điện tử, nếu có thể nói được như vậy”[9, 352] Tại Pháp, nhà toán học đồng thời là nhà duy tâm triết học Lơ Roa (1870-1954) được hậu thuẫn bởi các nhận định sai lệch của nhà khoa học lớn Poanh-ca-rê và nhà duy vật nửa vời, nhà duy tâm nhận thức luận Rây (1873-1940), đã tuyên truyền cho chủ nghĩa tín ngưỡng, liên kết một phần với chủ nghĩa Ma-khơ – một học phái duy tâm chủ quan Tóm lại, chủ nghĩa duy tâm vật lý đang thực sự là một vấn đề đáng quan tâm trong sinh hoạt tư tưởng, tinh thần lúc ấy

Khủng hoảng trong vật lý học hiện đại (mà về mặt thế giới quan thì gắn với sự

ra đời của chủ nghĩa duy tâm vật lý), theo Lê-nin, là ở chỗ nó không thừa nhận một cách thẳng thắn, dứt khoát và kiên quyết giá trị khách quan của những lý luận của mình Thực ra năng lượng không phải là thực tại đặc biệt nào đó quy định các thuộc tính và sự đa dạng của thế giới; nó là một trong các thuộc tính của vật chất, thể hiện mức độ vận động của vật chất Kết luận của Lê-nin về tính phong phú và tính vô cùng

vô tận của thế giới vật chất mang ý nghĩa thế giới quan và phương pháp luận đặc biệt

“Tính có thể phá hủy được, tính vô tận của nguyên tử, tính khả biến của tất cả các hình thái của vật chất và của vận động của vật chất, bao giờ cũng vẫn là chỗ dựa của chủ nghĩa duy vật biện chứng Tất cả mọi ranh giới trong tự nhiên đều là có điều kiện, tương đối, có thể biến động, đều biểu hiện việc trí tuệ của chúng ta tiến gần đến chỗ nhận thức được vật chất, - nhưng điều đó không hoàn toàn chứng minh rằng bản thân

tự nhiên, vật chất là một tượng trưng, một dấu hiệu ước định, tức là một sản phẩm của trí tuệ chúng ta…Trí tuệ con người đã tìm thấy nhiều điều kỳ diệu trong tự nhiên và sẽ còn tìm thấy nhiều hơn nữa, do đó, làm tăng thêm quyền lực của mình đối với tự nhiên”[9, 348] và “giới tự nhiên là vô tận cũng như những hạt nhỏ nhất của nó (kể cả điện tử) đều là vô tận, nhưng lý tính cũng biến một cách vô tận “vật tự nó” thành “vật cho ta””[9, 386]

Trang 26

Khoa học hiện đại đang ngày càng chứng tỏ sự liên minh giữa nó với triết học duy vật biện chứng, chứ không phải với chủ nghĩa duy tâm – Lê-nin quả quyết như vậy, đồng thời lưu ý rằng, tinh thần duy vật cơ bản của vật lý học, cũng như của tất cả các khoa học tự nhiên hiện đại, sẽ chiến thắng mọi khủng hoảng với điều kiện là “chủ nghĩa duy vật biện chứng phải thay thế chủ nghĩa duy vật siêu hình”[9, 379] Nói cách khác, nếu trước đây chủ nghĩa duy vật siêu hình là cơ sở của vật lý học cổ điển, thì đối với vật lý học hiện đại, đó phải là chủ nghĩa duy vật biện chứng

Đến nay, khoa học hiện đại đang đi trên con đường mà Lênin đã tiên đoán vào thế kỷ XX Bức tranh vật lý về thế giới ngày càng hoàn thiện, ngày càng được bổ sung nhiều điểm mới, cũng như loại bỏ những đường nét không phù hợp Có thể những vấn

đề mà vào thời Lênin là tâm điểm của các cuộc tranh luận cả trên góc độ khoa học lẫn trên góc độ triết học, song đến nay đã trở thành bình thường, thành cái được thừa nhận phổ biến Cũng có những vấn đề cần được xét lại do những thay đổi diễn ra trong thế giới, được làm sáng tỏ nhờ những khám phá mới nhất của khoa học Tuy nhiên, di huấn triết học của Lênin, cách tiếp cận nghiêm túc và duy vật triệt để đối với các phát

minh khoa học và ý nghĩa của chúng trong “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán” vẫn luôn mang tính thời sự đối với các nhà triết học mácxít trong

quá trình bảo vệ và phát triển chủ nghĩa duy vật biện chứng, phù hợp với xu thế vận động chung của lịch sử

Lênin kết luận: “Vật lý học hiện đại đang nằm trên giường đẻ Nó đang đẻ ra chủ nghĩa duy vật biện chứng Một cuộc sinh đẻ đau đớn Kèm theo sinh vật sống và

có sức sống, không tránh khỏi có một vài sản phẩm chết, một vài thứ cặn bã nào đó phải vứt vào sọt rác Toàn bộ chủ nghĩa duy tâm vật lý học, toàn bộ triết học kinh nghiệm phê phán, cũng như thuyết kinh nghiệm tượng trưng, thuyết kinh nghiệm nhất nguyên, v.v…, đều thuộc những thứ cặn bã phải vứt bỏ đi ấy”[9, 388]

Từ những phân tích trên, có thể thấy ngay rằng, chính cuộc tranh luận của nin với chủ nghĩa Ma-khơ xung quanh sự khủng hoảng của vật lý học và hướng khắc phục cuộc khủng hoảng đó, đã gợi ra một vấn đề cực kỳ quan trọng, đó là xác lập một cách hiểu khác với trước đây về phạm trù triết học “vật chất”, để tránh những nan giải

Lê-và bế tắc trước những thay đổi trong khoa học về thực tại vật chất Phê phán quan niệm duy tâm về “vật chất đang tiêu tan”, Lê-nin nhấn mạnh: ““Vật chất đang tiêu tan”, điều đó có nghĩa là giới hạn hiểu biết vật chất cho đến nay của chúng ta đang tiêu tan, tri thức của chúng ta trở nên sâu sắc hơn; những đặc tính của vật chất, trước đây được coi là tuyệt đối, bất biến, đầu tiên (tính không thể xâm nhập được, quảng tính, khối lượng, v.v.) đang tiêu tan và bây giờ tỏ ra là tương đối và chỉ là đặc tính vốn có của một số trạng thái nào đó của vật chất”[9, 321]

Trang 27

Việc khắc phục cuộc khủng hoảng trong vật lý học gắn liền với cách hiểu mới

về vật chất Xung quanh khái niệm này, trong lịch sử triết học đã diễn ra cuộc tranh luận gay gắt giữa hai đường lối khác nhau: Đường lối Đê-mô-crít (khoảng 460–370 TCN) và đường lối Pla-tôn (khoảng 427–347 TCN), còn tâm điểm tranh luận của các nhà duy vật cổ đại Hy Lạp là vấn đề bản nguyên của thế giới, nhằm làm sáng tỏ câu hỏi: thế giới bắt đầu từ đâu? Nhìn chung các nhà duy vật cổ đại thường đồng nhất bản nguyên của thế giới với các yếu tố vật chất cụ thể (đất, nước, lửa, không khí) Nguyên

tử luận là đỉnh cao của chủ nghĩa duy vật cổ đại Các nhà nguyên tử luận, tiêu biểu là Đê-mô-crít, xem các nguyên tử, tức những phần tử bé nhất, không nhìn thấy, không phân chia, không xuyên thấu, là cơ sở của mọi tồn tại Chúng vận động trong khoảng không, và sự kết hợp giữa các nguyên tử nhờ vận động lốc xoáy đã tạo nên tính đa dạng của vũ trụ Cách hiểu như thế đến thời cận đại vẫn còn tồn tại Trước khi tìm ra electron, các nhà khoa học vẫn đinh ninh rằng nguyên tử (tên tiếng Anh là atom, có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp cổ đại là atomos, atomos nghĩa là nhỏ bé nhất, không thể phân chia) là bản nguyên đại diện của thế giới vật chất

Trong quá trình tìm hiểu lịch sử phát triển của chủ nghĩa duy vật, Lênin thấy rằng, phần lớn các nhà duy vật đồng nhất vật chất với vật thể, tức những biểu hiện cụ thể của tồn tại vật chất, mà không đạt tới cách hiểu hệ thống và mang tính khái quát cao về vật chất Kết quả là họ luôn bị rơi vào trạng thái hụt hẫng mỗi khi khoa học tự nhiên khám phá những vấn đề mới của thế giới Khắc phục hạn chế của các nhà duy vật thế kỷ trước, Lê-nin đã đưa ra quan niệm về vật chất như sau: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan, được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”[9, 151]

Cần thấy rằng, phạm trù vật chất là phạm trù trung tâm trong lý luận nhận thức của chủ nghĩa duy vật Ở đây, cần hiểu lý luận nhận thức theo nghĩa rộng, chứ không theo nghĩa đã được khoanh vùng như trong giáo trình “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin” Nhận thức luận ở đây gắn liền hữu cơ với vấn đề cơ bản của triết học Thế giới vật chất bao gồm sự phong phú vô tận của các quá trình khác nhau của vật chất Nhưng các quá trình này là các dạng biểu hiện khác nhau của vật chất Lê-nin đã chứng minh kết luận quan trọng của khoa học rằng, thực tại khách quan là tất cả các dạng vật chất mà khoa học đã biết và chưa biết Do đó không nên lẫn lộn học thuyết khoa học cụ thể về cấu tạo vật chất, các thuộc tính, các hình thức của nó, với quan niệm triết học về vật chất Khoa học khám phá tất cả các thuộc tính mới của khách thể vật chất và các hình thức tác động lẫn nhau của chúng, ở những mức độ khác nhau, song vẫn thừa nhận các kết luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng về tính

Trang 28

vô cùng, vô tận của tồn tại vật chất Như vậy, định nghĩa triết học về vật chất chỉ nắm bắt lấy dấu hiệu chung nhất của phạm trù này (dùng để chỉ thực tại khách quan), chứ không phân tích chi tiết, mang tính chuyên biệt, như vật lý học hay hóa học

Từ định nghĩa về vật chất của Lê-nin, có thể nêu ra những ý lớn:

- Thừa nhận rằng có một thực tại khách quan, được đem đến cho chúng ta trong cảm giác; không có và không thể có cái nào khác ngoài thực tại khách quan ấy Lưu ý rằng, vật lý học hiện đại bổ sung thêm vào cách hiểu này những nội dung mới, sâu sắc hơn

- Khẳng định rằng, nói đến vật chất là nói đến thực tại tồn tại bên ngoài chúng

ta và không lệ thuộc vào cảm giác, ý thức của chúng ta

- Chỉ ra rằng vật chất là cái đem đến cho chúng ta cảm giác, các cảm giác là nguồn gốc của nhận thức

- Qua cách hiểu về vật chất, Lê-nin đi đến kết luận về tính có thể nhận thức được của thế giới, qua đó chống lại thuyết bất khả tri

- Việc thừa nhận tính có trước của vật chất đã hàm chứa các yếu tố lịch sử, bởi

lẽ cách hiểu như thế có nghĩa là, trong lịch sử phát triển của giới tự nhiên, vật chất tồn tại trước ý thức con người, rằng quá trình phát triển của giới tự nhiên đã dần hình thành bộ não con người – cơ quan của tư duy, là hình thức hay nấc thang được tổ chức cao của vật chất Vật chất sinh ra ý thức trong quá trình phức tạp hóa sự tồn tại của mình, nó là cái có trước, quyết định, còn ý thức là cái có sau, phát sinh từ nó Dễ hiểu

vì sao khi tranh luận với phái Ma-khơ về “các yếu tố” (được phái Ma-khơ hiểu như những cảm giác) của thế giới, Lê-nin nêu ra câu hỏi: Giới tự nhiên liệu có tồn tại trước con người không? Bản thân câu hỏi đó đã đủ để làm các nhà triết học theo phái Ma-khơ do dự trước quan điểm của mình

Cần lưu ý rằng, theo Lê-nin, định nghĩa vật chất đơn giản là sự thể hiện việc giải quyết trên cơ sở duy vật vấn đề cơ bản của triết học, và rằng sẽ vô nghĩa nếu đòi hỏi từ các nhà lý luận một định nghĩa vật chất mà không quy về sự đối lập giữa cái có trước và cái có sau Ngoài ra, sự đối lập giữa vật chất và ý thức chỉ có ý nghĩa trong phạm vi hạn chế, nghĩa là trong phạm vi giải quyết vấn đề cơ bản của triết học mà thôi Nhận thức vấn đề cơ bản của triết học không có nghĩa là quy mọi thứ về đó một cách máy móc, khiên cưỡng Lê-nin viết: “Đương nhiên, sự đối lập giữa vật chất và ý thức chỉ có ý nghĩa tuyệt đối trong những phạm vi hết sức hạn chế: trong trường hợp này, chỉ giới hạn những vấn đề nhận thức luận cơ bản là thừa nhận là cái gì có trước và cái

gì là có sau? Ngoài giới hạn đó, thì không còn nghi ngờ gì nữa rằng sự đối lập đó là tương đối”[9, 173]

Trang 29

Khái niệm vật chất cũng bao hàm cả thực tiễn xã hội Lê-nin viết: “Chủ nghĩa duy vật nói chung thừa nhận rằng tồn tại thực tại khách quan (vật chất) là không phụ thuộc vào ý thức, cảm giác, kinh nghiệm, v.v., của loài người Chủ nghĩa duy vật lịch

sử thừa nhận rằng tồn tại xã hội không phụ thuộc vào ý thức xã hội của loài người Trong hai trường hợp đó, ý thức chỉ là sự phản ánh của tồn tại”[9, 404]

2.1.2.2 Phương thức và hình thức tồn tại của vật chất

biện chứng về sự vận động của thế giới

Ăng-ghen trình bày quan điểm biện chứng duy vật về vận động như sau: “Vận động là phương thức tồn tại của vật chất” “Bất kỳ ở đâu và bất cứ lúc nào cũng không

có và không thể có vật chất mà không vận động” Vận động không tách rời vật chất

“Vật chất không có vận động, cũng như vận động không có vật chất, đều là điều không thể hình dung nổi” Vận động của vật chất có nhiều hình thức, các hình thức vận động

có thể chuyển hóa lẫn nhau Giống như vật chất, vận động của vật chất không thể tạo ra được và cũng không thể tiêu diệt được, “mà chỉ có thể truyền đi được mà thôi”[2, 89- 97]

Trang 30

Về sự đứng im, Ăng-ghen giải thích đó là trạng thái thăng bằng tương đối của vận động, là vận động trong thăng bằng Đứng im chỉ là tương đối, chỉ có ý nghĩa nếu đem so với một hình thức nhất định nào đó Đứng im và vận động là hai mặt không tách rời nhau, có thể chuyển hóa cho nhau Sự đối lập giữa vận động và đứng im chỉ là tương đối “Không có thể tĩnh tuyệt đối, không có sự thăng bằng vô điều kiện Vận động riêng biệt thì có xu hướng thăng bằng, song vận động toàn thể thì lại loại trừ sự thăng bằng Cho nên, thể tĩnh và thể thăng bằng ở nơi nào chúng diễn ra thì đều là kết quả của vận động có hạn nào đó, và hiển nhiên là vận động ấy có thể đo được bằng kết quả của nó, có thể biểu hiện ra bằng kết quả của nó và đi từ kết quả ấy có thể được phục hồi lại nó dưới hình thức này hay hình thức khác”[2, 93]

Trong tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên”, Ăng-ghen cũng đã nêu lên hạn chế

lớn nhất của chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII, XVIII là khẳng định tính vĩnh cửu của thế giới vật chất như là một cái gì đó bất biến, đồng nhất vật chất với tính xác định cụ thể của nó, tức với tính vật thể, với tính cảm giác được một cách hời hợt, dựa trên chủ nghĩa kinh nghiệm thuần túy, hơn nữa hiểu vận động của vật chất một cách giản đơn Theo Ăng-ghen, tính thống nhất vật chất chỉ có thể được chứng minh trên cơ sở những chất liệu sống động do khoa học và thực tiễn xã hội đem đến Tuy nhiên từ những chất liệu ấy, nhiệm vụ của tư duy lý luận là khái quát chúng, làm sáng tỏ những dấu hiệu chung nhất từ những cái đơn nhất

Ăng-ghen nhấn mạnh: “Vật chất, với tính cách là vật chất, là một sự sáng tạo thuần túy của tư duy và là một sự trừu tượng Chúng ta bỏ qua những sự khác nhau về chất giữa các sự vật, khi chúng ta gộp chúng (với tính cách là những vật tồn tại hữu hình) vào khái niệm vật chất Do đó, khác với những vật chất nhất định đang tồn tại, vật chất, với tính cách là vật chất không có sự tồn tại cảm tính Khi khoa học tự nhiên

hy vọng tìm ra vật chất có hình dạng đồng nhất, và muốn quy tất của những sự khác nhau về chất lượng thành những sự khác nhau thuần túy về số lượng do sự kết hợp của những hạt nhỏ đồng nhất tạo ra thì như thế là nó cũng hành động giống như khi nó muốn coi trái cây với tính cách là trái cây, chứ không phải là trái anh đào, trái lê, trái táo; coi loài có vú với tính cách là loài có vú, chứ không phải là con mèo, con chó, con cừu, v.v…”[3, 751]

Trong “Biện chứng của tự nhiên” Ăng-ghen đã đưa ra định nghĩa về vận động

Vận động, hiểu theo nghĩa chung nhất, là “tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn

ra trong vũ trụ, từ sự thay đổi vị trí giản đơn cho đến tư duy”[3, 743] Ăng-ghen nhấn mạnh tính liên tục của vận động của vật chất, tính không thể tiêu diệt được của vận động Luận điểm này được xác lập căn cứ vào chính kết quả nghiên cứu của khoa học

Trang 31

tự nhiên, bắt đầu từ Đề-các-tơ (1596-1650) với tuyên bố động lượng luôn được bảo toàn Ăng-ghen đã bổ sung và diễn đạt đầy đủ rằng, dù chỉ về lượng, vận động với tư cách là phương thức tồn tại của vật chất cũng không thể tiêu diệt được như chính vật chất

Từ nguyên tắc vận động liên tục và không thể bị tiêu diệt, Ăng-ghen phân tích mối quan hệ giữa vận động và cân bằng Tư tưởng chủ đạo ở đây là có vận động trong cân bằng và có cân bằng trong vận động Khả năng đứng yên tương đối của các vật thể, khả năng cân bằng tạm thời là những điều kiện chủ yếu của quá trình phân hóa vật chất, sự sống Sự cân bằng là trạng thái riêng biệt đối với từng sự vật trong những tương quan cụ thể

Ăng-ghen đã dẫn ra hàng loạt các ví dụ chứng minh cho luận điểm này: “Cân bằng không thể tách khỏi vận động Trong vận động của các thiên thể, có vận động trong cân bằng và cân bằng trong vận động Nhưng bất kỳ vận động tương đối riêng biệt nào, cũng đều có xu hướng khôi phục lại sự đứng yên tương đối, sự cân bằng Khả năng đứng yên tương đối của các vật thể, khả năng cân bằng tạm thời là những điều kiện chủ yếu của sự phân hóa của vật chất, và do đó của sự sống Trên mặt trời, không

có sự cân bằng của toàn khối Nếu có cân bằng của từng vật riêng biệt thì cũng chỉ là

sự cân bằng rất không đáng kể do sự chênh lệch lớn lao về tỷ trọng gây ra; trên bề mặt của nó là sự vận động vĩnh viễn, sự phân hóa Trên mặt trăng thì hình như là sự cân bằng tuyệt đối chiếm vị trí thống trị, không có sự vận động tương đối nào: sự chết Trên trái đất, sự vận động đã phân hóa thành vận động và cân bằng xen kẽ nhau: vận động riêng biệt có xu hướng chuyển thành cân bằng, vận động toàn bộ lại có xu hướng phá hoại sự cân bằng riêng biệt Đá đã đi đến trạng thái đứng yên tương đối nhưng ảnh hưởng của mưa nắng, tác động của nước thủy triều, của sông ngòi, của băng tuyết lại luôn luôn phá hoại sự cân bằng ấy Sự bốc hơi của mưa, gió, nhiệt, những hiện tượng điện và từ cũng cho ta thấy một cảnh tượng như vậy Cuối cùng trong cơ thể sống, chúng ta thấy sự vận động liên tục của những hạt nhỏ nhất trong cơ thể cũng như của những khí quan lớn hơn, một vận động mà kết quả là sự cân bằng thường xuyên của toàn bộ cơ thể trong một thời kỳ sinh sống bình thường, một vận động không lúc nào ngừng: đấy là sự thống nhất sinh động của vận động và cân bằng”[3, 740]

- Về không gian và thời gian:

Trong “Chống Đuy-rinh”, quan niệm của Ăng-ghen về không gian và thời gian

được trình bày trong chương V của phần triết học Trước hết ông phê phán quan điểm

Trang 32

siêu hình của Đuy-rinh về không gian và thời gian, sau đó trình bày quan điểm duy vật biện chứng về không gian và thời gian

Đuy-rinh cho rằng thế giới có khởi đầu trong thời gian và có giới hạn trong không gian Ông ta hiểu vô tận của thời gian và không gian chỉ như chuỗi số vô tận trong toán học và chỉ về một phía Nếu vô tận về cả hai phía thì sẽ là mâu thuẫn, không thể tưởng tượng được Trong quan niệm của Đuy-rinh, vô tận là cái phi mâu thuẫn Đuy-rinh lập luận rằng, nếu cho rằng thế giới không có khởi đầu trong thời gian và không có giới hạn trong không gian thì sẽ rơi vào mâu thuẫn là “một chuỗi số vô tận có thể đếm được”, vì vậy thế giới có khởi đầu trong thời gian và có giới hạn trong không gian Lập luận của Đuy-rinh về thế giới có khởi đầu trong thời gian và có giới hạn trong không gian là sao chép lại phương pháp chứng minh phản chứng trong toán học của Can-tơ được trình bày trong tác phẩm “Phê phán lý tính thuần túy” viết năm 1781, nhưng Đuy-rinh chỉ sao chép phần có lợi cho quan điểm của ông ta Ăng-ghen đã cho thấy toàn bộ sự chứng minh của Đuy-rinh về không gian và thời gian là trống rỗng, tách rời nội dung vật chất của nó

Ăng-ghen đã chỉ ra, quan niệm về không gian và thời gian của Đuy-rinh bị ảnh hưởng bởi phương pháp tư duy siêu hình Căn cứ vào kết quả nghiên cứu lâu dài của khoa học, Ăng-ghen xác định vận động, không gian và thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất, gắn liền với vật chất và cũng khách quan, vĩnh cửu như nó Ăng-ghen lập luận: “Cái vĩnh cửu trong thời gian, cái vô tận trong không gian, …là ở chỗ, ở đây không có điểm tận cùng về một phía nào cả, cả ở đằng trước lẫn ở đằng sau, cả ở trên lẫn ở dưới, cả ở bên phải lẫn bên trái Cái vô tận này khác hẳn cái vô tận của một chuỗi vô tận, bởi vì chuỗi vô tận bao giờ cũng bắt đầu từ đơn vị, từ một số đầu tiên”[2, 75] Trên cơ sở này, Ăng-ghen rút ra kết luận rằng, các hình thức tồn tại của vật chất nằm trong sự thống nhất với vật chất và không bị tách ra khỏi nó, vì thế “tồn tại ngoài thời gian thì cũng hết sức vô lý như tồn tại ở ngoài không gian” Không có thời gian và không gian thuần túy “Thời gian thuần túy chẳng qua là do chúng ta trừu tượng hóa khỏi thời gian thực tế, còn thời gian thực tế bao giờ cũng là sự biến hóa của vật chất, không có thời gian tách rời vận động của vật chất trong hiện thực”[2, 78-79] Quan điểm biện chứng duy vật cũng cho rằng vô tận của thời gian và không gian chỉ có thể hiểu được khi thừa nhận vô tận là một mâu thuẫn

Trong “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”, trước khi chứng

minh tính khoa học của quan điểm duy vật biện chứng về không gian và thời gian, nin đã khảo sát, đánh giá các quan niệm về vấn đề này

Trang 33

Lê-Theo Lê-nin, các nhà duy tâm chủ quan đã phủ nhận tính thực tại khách quan của không gian Đối với họ, không gian và thời gian chỉ là những hình thức trực quan của con người, sự cảm nhận không gian – thời gian từ sự quy ước của con người Cách hiểu như thế theo Lê-nin không hẳn là bất hợp lý, song chưa thể hiện đúng bản chất của tương quan không gian – thời gian trong tồn tại khách quan của các sự vật, hiện tượng Can-tơ xem không gian, thời gian là những hình thức tiên nghiệm (có trước kinh nghiệm) của trực quan cảm tính Phái Ma-khơ không đồng ý với Can-tơ ở từ “tiên nghiệm”, và khẳng định yếu tố hậu nghiệm của các khái niệm ấy

Đối với phái Ma-khơ, không gian và thời gian là những hệ thống trật tự của các chuỗi cảm giác Do chỗ chúng ta không thể cảm giác được phân tử, nguyên tử và các phần tử nhỏ nhất khác, nên chúng chỉ là “những sự vật được suy niệm”, nghĩa là không tồn tại thực Tranh luận với phái Ma-khơ, Lê-nin nhận thấy có mối liên hệ giữa phái này với Đuy-rinh Đuy-rinh không minh bạch trong quan điểm của mình, nhưng Ma-khơ (1838 - 1916) thì khác, theo Ma-khơ thì “không phải con người với những cảm giác của mình, tồn tại trong không gian và thời gian, mà chính không gian và thời gian tồn tại trong con người, lệ thuộc vào con người và do con người sinh ra”[9, 212-213] Lẩn tránh thuật ngữ “duy tâm”, song Ma-khơ đã không thoát khỏi nó, bởi lẽ, chẳng hạn, nếu khái niệm không gian được rút ra từ kinh nghiệm, chứ không phải là phản ánh của thực tại khách quan ở ngoài chúng ta thì lý luận của Ma-khơ vẫn là duy tâm Sự tồn tại của giới tự nhiên trong thời gian dài hàng triệu năm, trước khi xuất hiện con người và cảm giác của con người đã chứng minh lý luận đó là vô lý Lê-nin nhấn mạnh: “Trong thế giới không có gì ngoài vật chất đang vận động và vật chất đang vận động không thể vận động ở đâu ngoài không gian và thời gian”[9, 209-210] và khẳng định: “Khoa học tự nhiên không nghi ngờ gì rằng vật chất mà nó nghiên cứu chỉ tồn tại trong không gian ba chiều thôi, và do đó, những phần tử của vật chất đó, dù nhỏ bé đến mức ta không thể nhìn thấy được, cũng vẫn tồn tại “một cách tất yếu” trong cái không gian ba chiều đó”[9, 217]

Sự phát triển của khoa học và thực tiễn đã chứng minh cho kết luận ấy của Lênin Thuyết tương đối của Anh-xtanh (1879-1955) đầu thế kỷ XX đã chứng minh tính chất

lệ thuộc của không gian và thời gian vào vật chất đang vận động Theo thuyết tương đối rộng, tất cả các vật chuyển động và các lực tác dụng đều ảnh hưởng đến độ “cong” của không gian và nhịp độ trôi chảy của thời gian Đồng thời, thời gian không tách khỏi không gian, chúng được coi như hai mặt của cùng một thực thể không – thời gian

Ở mức độ khái quát cao, có thể nói không gian là cấu trúc của vật chất về quan hệ số lượng và thời gian là không gian đó ở trạng thái vận động Thời gian hiện thực biểu

Trang 34

hiện qua vận động, nhưng không phải sự vận động nói chung mà là vận động của cấu trúc vật chất (không gian) so với “sự vận động chuẩn” là vận động của trái đất Thuyết tương đối cũng góp phần đánh đổ quan điểm về không gian, thời gian tuyệt đối, “phi vật chất” hay có thể tồn tại bên ngoài vật chất, tồn tại trước thời điểm bắt đầu của vũ trụ

Như vậy, những kết luận của khoa học tự nhiên hiện đại hoàn toàn phù hợp với quan điểm biện chứng duy vật về không gian và thời gian Theo quan điểm biện chứng duy vật, không gian và thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất, còn vật chất là nội dung Khi nội dung thay đổi (vật chất vận động) thì hình thức (không gian và thời gian) cũng biến đổi theo Đồng thời, không thể có hình thức (không gian và thời gian) tồn tại bên ngoài nội dung (vật chất) của nó

Theo Lê-nin, để tìm hiểu xem một nhà khoa học hay triết học đứng về phía nào trong cuộc tranh luận về thế giới quan, chỉ cần căn cứ xem họ hiểu vật chất và các phương thức tồn tại của nó như thế nào Mọi sự dao động theo kiểu Đuy-rinh hay Ma-khơ không thể không dẫn đến chủ nghĩa duy tâm Lê-nin viết: “Trong triết học, người

ta không thể nào giữ vững được một cách triệt để một quan niệm chống dối với mọi chủ nghĩa tín ngưỡng và mọi chủ nghĩa duy tâm, nếu không thừa nhận một cách dứt khoát và kiên quyết rằng những khái niệm đang phát triển của chúng ta về không gian

và thời gian đều phản ánh thời gian và không gian thực tại khách quan; rằng ở đây cũng như trong những trường hợp khác nói chung, những khái niệm ấy tiến tới gần chân lý khách quan”[9, 211]

2.1.2.3 Tính thống nhất vật chất của thế giới:

Quan điểm về tính thống nhất vật chất của thế giới cũng được Ăng-ghen trình

bày trong “Chống Đuyrinh” khi chỉ ra tính chất sai lầm, duy tâm trong quan niệm của

Đuyrinh về sự thống nhất của thế giới

Thứ nhất, Đuy-rinh cho rằng thế giới thống nhất ở tính tồn tại của nó Theo ghen, điều đó chưa chứng minh được tính thống nhất của các sự vật trong thế giới, bởi

Ăng-vì “tồn tại của thế giới” mới chỉ nói lên các đối tượng trong thế giới đang có mặt, đang tồn tại, còn các đối tượng đó thực chất là gì thì chưa thể kết luận được, do vậy cơ sở của sự thống nhất của thế giới chưa được giải quyết

Thứ hai, Đuy-rinh khẳng định rằng bản chất của tư duy là hợp nhất các yếu tố của ý thức lại thành một thể thống nhất Điều này không đúng vì một mặt, tư duy bao hàm cả quá trình phân tích và tổng hợp, mặt khác tư duy chỉ có thể hợp nhất thành một

Trang 35

thể thống nhất nào đó những yếu tố của ý thức nếu trong đó hoặc trong nguyên hình hiện thực của nó đã có sẵn sự thống nhất đó

Thứ ba, Đuy-rinh đưa ra cách chứng minh sự thống nhất của thế giới Theo ông

ta tư duy và tồn tại là thống nhất, nhưng tư duy và tồn tại phải phù hợp với nhau, chúng tương ứng với nhau, do đó trong hiện thực, tồn tại cũng là thống nhất Như vậy, Đuyrinh hiểu sự thống nhất của tồn tại được suy ra từ thống nhất của tư duy, rõ ràng đây là quan điểm duy tâm Ăng-ghen viết: “Muốn dùng sự đồng nhất giữa tư duy và tồn tại để chứng minh tính hiện thực của một kết quả nào đó của tư duy, thì đó chính là

… một ngài Hê-ghen nào đó”[2, 65]

Đối lập với quan điểm của Đuy-rinh, Ăng-ghen trình bày quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về sự thống nhất của thế giới Ông khẳng định tính thống nhất của thế giới không phải ở sự tồn tại của nó, mặc dù tồn tại là tiền đề của tính thống nhất đó Tính thống nhất thực sự của thế giới là ở tính vật chất của nó Tính thống nhất này được chứng minh không phải bằng lời nói khéo léo, mà phải bằng sự phát triển lâu dài của triết học và khoa học tự nhiên Khoa học tự nhiên và triết học duy vật đã chứng minh rằng các sự vật trong thế giới dù rất khác nhau nhưng đều là những hình thức tồn tại của vật chất Thế giới vật chất là duy nhất và vô cùng vô tận, không có thế giới phi vật chất bên cạnh là nguyên nhân sinh ra thế giới vật chất Thế giới vật chất có nguyên nhân tự thân Các sự vật trong thế giới có thể chuyển hóa cho nhau, do vậy vật chất không mất đi, mà chỉ chuyển từ dạng này sang dạng khác

2.1.2.4 Ý thức và nguồn gốc của ý thức

Vấn đề vai trò của lao động trong quá trình chuyển biến từ vượn thành người

được Ăng-ghen trình bày rất rõ trong “Biện chứng của tự nhiên” Trong phần “Tác

dụng của lao động trong quá trình chuyển biến từ vượn thành người”, Ăng-ghen đã phê phán chủ nghĩa Đác-uyn xã hội và bàn đến một vấn đề hết sức quan trọng, đó là nguồn gốc loài người

Theo thuyết tiến hóa, đấu tranh sinh tồn và biến đổi để thích nghi với môi trường được xem như những yếu tố cơ bản cho sự tiến hóa của các loài nói chung Ăng-ghen không hề phủ nhận thuyết tiến hóa, nhưng ông đã phân tích những yếu tố đặc thù có vai trò quyết định trong quá trình chuyển biến từ vượn thành người, đó là lao động Theo Ăng-ghen, nguồn gốc chủ yếu của quá trình tiến hóa từ vượn thành người chính là lao động Ăng-ghen đã chứng minh phù hợp với tài liệu khoa học tự nhiên rằng tổ tiên loài người là giống vượn người phát triển cao, trong những điều kiện sinh sống nhất định đã phát triển thành con người hiện đại

Trang 36

Khoa học tự nhiên chúng ta thường nói: con người từ vượn mà ra Cách nói như vậy, theo Ăng-ghen không hoàn toàn đúng, vì như thế người ta sẽ hình dung con người

là do giống vượn ngày nay mà ra Thực ra giống vượn hiện nay không thể đẻ ra người được, nó khác với người, như chó sói khác chó thường Có thể nói, tổ tiên của các loài vượn hiện nay và tổ tiên của loài người giống nhau Đến một giai đoạn phát triển nào

đó có sự nhảy vọt thay đổi về chất và từ một tổ tiên chung đã đẻ ra giống vượn người

và giống khỉ Chính giống vượn người ấy dần dần đã trở thành người

Bước chuyển quan trọng từ vượn người thành người là việc người đi theo tư thế thẳng đứng, hai chi trước được giải phóng tự do hơn hai chi sau để làm những chức năng khác Khi việc đi thẳng trở thành thường lệ, và sau đó trở thành tất yếu, thì nhờ

có bàn tay con người quen làm được nhiều chức năng và chủ yếu nhất trong việc chuyển từ vượn thành người là con người bắt đầu làm ra công cụ

Bước nhảy vọt có tính quyết định trong chuyển biến từ vượn thành người là con người biết làm ra công cụ lao động Để chuyển biến như vậy thì việc đi bằng hai chân

là chưa đủ Con vượn khi nào cũng có thể đi hai chân được và nếu chúng ta dạy cho nó thì nó cũng đứng thẳng được Nhưng không có một động vật nào có thể tự nó làm ra công cụ lao động Ăng-ghen khẳng định: “Chưa hề có một bàn tay vượn nào có thể chế tạo ra được một con dao bằng đá dù thô sơ nhất… Nhưng bước quyết định đã được hoàn thành: bàn tay đã được giải phóng, từ đấy, nó có thể đạt được ngày càng nhiều những sự khéo léo mới, và sự mềm mại hơn đã đạt được đó được di truyền lại và cứ tăng lên mãi từ thế hệ này sang thế hệ khác Như vậy, bàn tay không những là khí quan của lao động, mà còn là sản phẩm của lao động nữa Chỉ nhờ có lao động, nhờ thích ứng được với những động tác ngày càng mới, nhờ sự di truyền của sự phát triển đặc biệt đã đạt được bằng cách đó của các cơ, của các gân, và sau những khoảng thời gian dài hơn, cả của xương nữa, và cuối cùng, nhờ luôn luôn áp dụng sự tinh luyện thừa hưởng được đó vào những động tác mới, ngày càng phức tạp hơn, - mà bàn tay con người mới đạt được trình độ hoàn thiện rất cao khiến nó có thể, như một sức mạnh thần kỳ, sáng tạo ra các bức tranh của Raphaen, các pho tượng của Tôvanxen và các điệu nhạc của Paganim”[3, 645-647]

Như vậy, lao động là điều kiện chủ yếu tách con người ra khỏi giới động vật về mặt sinh lý Ngày nay con người có một hình dạng khác hẳn với loải vật cũng là do lao động, đó là một mặt của quá trình Mặt khác, đó là sự tổ chức của con người về xã hội,

về mặt này vai trò chủ yếu cũng là ở lao động Trong quá trình lao động nảy ra nhu cầu phải có tiếng nói, có âm tiết, do đó hình thành ngôn ngữ Ăng-ghen viết: “Sự phát triển của lao động đã đưa đến kết quả tất yếu là thắt chặt thêm những mối liên hệ giữa các thành viên của xã hội, bằng cách tạo ra rất nhiều trường hợp để cho con người giúp đỡ

Trang 37

lẫn nhau hợp tác với nhau, và làm cho con người ngày càng có ý thức rõ rệt hơn về lợi ích của sự hợp tác ấy đối với mỗi thành viên riêng rẽ Tóm lại, những con người đang hình thành ấy đã phát triển đến mức là họ thấy cần thiết phải nói với nhau một cái gì đấy Nhu cầu đó đã tự nó tạo ra cho nó một khí quan: cái cuống họng chưa phát triển của loài vượn, nhờ uốn giọng mà biến đổi, dần dần nhưng chắc chắn, để có thể thích ứng với một lối phát âm ngày càng phát triển thêm mãi, và các khí quản của mồm cũng dần dần luyện tập được cách phát ra những âm vận nối tiếp nhau Trước hết là lao động; sau lao động và đồng thời với lao động là ngôn ngữ; đó là hai sức kích thích chủ yếu đã ảnh hưởng đến bộ óc của con vượn, làm cho bộ óc đó dần dần biến chuyển thành bộ óc của con người Tuy hai bộ óc có rất nhiều chỗ giống nhau nhưng bộ óc con người to hơn và hoàn thiện hơn bộ óc loài vượn rất nhiều Nhưng khi bộ óc phát triển, thì các công cụ trực tiếp của bộ óc, tức là các giác quan, cũng song song phát triển theo Sự phát triển của bộ óc, nói chung, bao giờ cũng đi đôi với sự phát triển của tất cả các giác quan, cũng như sự phát triển tuần tự của ngôn ngữ nhất thiết phải đi đôi với một sự cải tiến tương đương của khí quan thính giác Mắt chim đại bàng nhìn thấy

xa hơn mắt người rất nhiều, nhưng mắt người nhận thấy trong sự vật được nhiều hơn mắt đại bàng rất nhiều Con chó thính mũi hơn loài người rất nhiều, nhưng nó không

có mảy may khả năng phân biệt được những mùi đã giúp cho con người đoán chắc được nhiều sự vật khác nhau Và xúc giác mà con vượn chỉ mới có dưới hình thức thô

sơ nhất, thì nhờ lao động mà đã phát triển song song với sự phát triển của bàn tay con người”[3, 649]

Tiếp đó, Ăng-ghen chỉ ra, trong quá trình phát triển công cụ lao động, con người ngày càng mở rộng sự chế ngự đối với thiên nhiên Những công cụ đầu tiên là công cụ săn bắn và bắt cá, có săn bắn và bắt cá mới cho phép con người dùng cá và thịt làm thức ăn Việc ăn thịt là một bước rất quan trọng trong quá trình hình thành con người và phát triển trí tuệ của con người

Ăng-ghen đã giải thích ý nghĩa của việc này như sau: “Thức ăn bằng thịt chứa đựng, dưới hình thức gần như có sẵn, những chất chủ yếu mà cơ thể cần dùng để trao đổi chất; nó rút ngắn quá trình tiêu hoá, đồng thời cũng rút ngắn cả thời gian của những quá trình thực vật (nghĩa là tương ứng với những hiện tượng sinh hoạt của thực vật) khác trong cơ thể, do đó, mà tiết kiệm được nhiều hơn thời gian, chất và năng lượng cho sự biểu hiện tích cực một đời sống động vật theo đúng nghĩa của nó Và con người đang hình thành càng cách xa loài thực vật bao nhiêu, thì càng vượt lên trên loài vật bấy nhiêu”[3, 650]

Một bước quan trọng trong việc con người chinh phục thiên nhiên, và cũng là bước tách con người ra khỏi giới động vật, là việc con người biết dùng lửa và chăn

Trang 38

nuôi súc vật: “chế độ ăn thịt đưa đến hai tiến bộ mới, có ý nghĩa quyết định là: dùng lửa và nuôi súc vật Việc dùng lửa còn rút ngắn quá trình tiêu hoá lại hơn nữa, vì thức

ăn cho vào miệng có thể nói là đã được tiêu hoá một nửa rồi; việc nuôi súc vật đã làm cho thức ăn bằng thịt dồi dào hơn nữa, và ngoài nghề săn bắn ra, nó còn mở thêm một nguồn cung cấp mới, đều đặn hơn về thức ăn bằng thịt; và ngoài ra, nó còn cung cấp một loại thức ăn mới, ít ra cũng có những chất bổ như thịt, đó là sữa và các chế phẩm bằng sữa Như vậy, hai bước tiến đó đã trực tiếp trở thành những phương tiện mới để giải phóng con người”[3, 650-651]

Con người càng chinh phục được thiên nhiên thì càng mở rộng khu vực đất đai

cư trú và bắt đầu cư trú ở những vùng có phân biệt mùa nóng và mùa rét, do đó có thêm nhu cầu mới về quần áo và nhà ở, nảy ra nhiều lĩnh vực lao động mới, nhiều hoạt động làm con người ngày càng khác xa loài vật

Sau cùng, Ăng-ghen vạch ra chính nhờ lao động mà người ta chuyển từ trạng thái sống bầy đàn của động vật lên tổ chức thành xã hội của con người, và xã hội loài người càng phát triển thì cách tổ chức ngày càng phức tạp hơn cho đến khi có tổ chức nhà nước ra đời Sự phát triển cao nhất của con người là hình thành bộ óc người biết tư duy, làm cho con người thoát ly hẳn giới động vật và có vai trò tích cực tác động trở lại đối với giới tự nhiên

Ăng-ghen cho rằng, những điều kiện xã hội nhất định có thể làm xuất hiện những tiêu cực, đó là việc lao động trí óc tách khỏi lao động chân tay đưa tới chỗ đẻ ra chủ nghĩa duy tâm Do sự phát triển, lao động phân chia thành lao động chân tay và lao động trí óc Ở đây, Ăng-ghen vạch rõ nguồn gốc nhận thức luận của chủ nghĩa duy tâm khi chỉ ra rằng, chính việc lao động trí óc tách khỏi lao động chân tay đã đẻ ra quan niệm sai lạc về vai trò của lao động trí óc Ăng-ghen nói về quá trình lịch sử lâu dài ấy như sau: “Nhờ hoạt động phối hợp của bàn tay, của các khí quan phát âm và của

bộ óc, chẳng những mỗi cá nhân mà cả trong xã hội nữa, loài người đã có đủ khả năng hoàn thành những công việc ngày càng phức tạp hơn, có đủ khả năng tự đề ra và đạt được những mục đích ngày càng cao hơn Từ thế hệ này sang thế hệ khác, chính ngay lao động cũng ngày càng nhiều vẻ hơn, hoàn thiện hơn, có nhiều mặt hơn Thêm vào nghề săn bắn và chăn nuôi thì còn có nông nghiệp; và tiếp theo đó, lại có thêm nghề kéo chỉ, dệt vải, nghề làm kim khí, nghề làm đồ gốm và nghề hàng hải Cuối cùng, nghệ thuật và khoa học ra đời bên cạnh thương nghiệp và công nghiệp; các bộ lạc biến thành những dân tộc và quốc gia, pháp luật và chính trị phát triển, và song song với những cái đó, cũng phát triển sự phản ánh một cách ảo tưởng tồn tại của con người vào trong đầu óc của con người Tôn giáo đứng trước tất cả những cái đã được tạo thành ra

đó, những cái biểu hiện ra trước hết là những sản phẩm của bộ óc và tựa hồ như đã

Trang 39

thống trị các xã hội loài người, thì những sản phẩm tầm thường hơn, do lao động của bàn tay làm ra, đã rơi xuống hàng thứ yếu; và tình hình lại càng là như vậy khi bộ óc biết đặt kế hoạch lao động lại có khả năng, ngay trong giai đoạn phát triển rất sớm của

xã hội (thí dụ như trong thị tộc nguyên thuỷ), buộc những bàn tay khác, chứ không phải chính bàn tay mình, phải thực hiện công việc mà mình đã vạch ra Người ta quy cho bộ óc, cho sự phát triển và hoạt động của bộ óc, tất cả công lao làm cho nền văn minh phát triển nhanh chóng; và đáng lẽ phải giải thích hoạt động của mình từ nhu cầu của mình (những nhu cầu đó tất nhiên đã phản ánh vào đầu óc của người ta và đã làm cho họ có ý thức về những nhu cầu đó), thì người ta lại quen giải thích hoạt động của mình từ tư duy của mình, và chính vì thế mà dần dần xuất hiện một thế giới quan duy tâm, nó thống trị đầu óc con người, nhất là từ khi thời cổ đại suy tàn Cho đến ngày nay, thế giới quan duy tâm đó vẫn còn thống trị đầu óc con người, đến nỗi ngay cả những nhà khoa học tự nhiên có xu hướng duy vật trong môn phái Đácuyn cũng còn chưa có thể có một ý niệm rõ rệt về nguồn gốc của loài người, bởi vì do ảnh hưởng của cái thế giới quan ấy, họ không nhận thấy tác dụng của lao động trong sự tiến hoá đó”[3, 709-710]

Trong phần “Tác dụng của lao động trong quá trình chuyển biến từ vượn thành người”, Ăng-ghen cũng đã phát triển học thuyết của Đác-uyn để giải thích về nguồn gốc hình thành loài người Trong cách giải thích của Ăng-ghen về vấn đề này thì trọng tâm không phải là “sự đào thải tự nhiên” và cũng không phải là “cạnh tranh sinh tồn” như thuyết Đácuyn, mà là ảnh hưởng quyết định của lao động và của những điều kiện vật chất bên ngoài Đácuyn đứng về khoa học tự nhiên để giải quyết nguồn gốc con người và động vật nói chung, nhưng Đácuyn giải quyết vấn đề này bằng thuyết “đào thải tự nhiên” và “cạnh tranh sinh tồn”, tức là cơ thể nào thích hợp với hoàn cảnh, mạnh hơn thì sống được, mà không thấy được vai trò quyết định của lao động trong quá trình hình thành con người và quá trình cải tạo tự nhiên của con người thông qua lao động

Ăng-ghen đi sâu phân tích quá trình hình thành con người Ông cho rằng, con người phát triển lên từ giới động vật và trở thành một động vật có tính xã hội Về mặt tâm lý, tư duy con người và loài vật cao cấp cũng có những nét tương đồng và những nét khác biệt Ăngghen đã phân tích trong đoạn “Lý trí và lý tính” của mục “Lôgích biện chứng” để làm rõ thêm sự khác nhau giữa con người với loài vật: “Chúng ta và các loài vật đều có chung tất cả các phương thức hoạt động của lý trí: quy nạp, diễn dịch, và do đó cả sự trừu tượng hoá nữa Xét về bản chất thì tất cả những phương pháp ấy, do đó tất cả những phương pháp nghiên cứu khoa học mà lô gích thông thường thừa nhận, đều hoàn toàn giống nhau ở loài người và ở các loài vật cao đẳng

Trang 40

Chúng chỉ khác nhau về trình độ Những đặc điểm cơ bản của phương pháp đều giống nhau ở người và ở loài vật và dẫn tới những kết quả giống nhau chừng nào mà

cả người lẫn loài vật cũng vận dụng hoặc chỉ cùng thoả mãn với những phương pháp

sơ đẳng ấy thôi Trái lại, tư duy biện chứng - chính vì nó lấy sự nghiên cứu bản chất của ngay những khái niệm làm tiền đề - chỉ có thể có được ở con người; và chỉ ở con người đã có một trình độ phát triển tương đối cao (những tín đồ Phật giáo và người Hy Lạp), và chỉ đạt đến sự phát triển đầy đủ của nó mãi về sau này, trong triết học hiện đại”[3, 654-655]

Khi làm rõ sự khác nhau về tâm lý, nhận thức của con người với loài vật, ghen chỉ ra một cách rõ ràng sự khác nhau giữa con người và loài vật trong quan hệ với giới tự nhiên: “Tóm lại, loài vật chỉ lợi dụng giới tự nhiên bên ngoài và gây ra những biến đổi trong giới tự nhiên, chỉ đơn thuần do sự có mặt của nó thôi; còn con người thì qua việc tạo ra những biến đổi đó, mà bắt giới tự nhiên phải phục vụ những mục đích của mình, mà thống trị giới tự nhiên Và chính đó là sự khác nhau chủ yếu cuối cùng giữa con người và các loài vật khác, và một lần nữa, chính cũng là nhờ lao động mà con người mới có được sự khác nhau đó”[3, 650] Nói cách khác, động vật chỉ thích ứng với tự nhiên, còn con người biến đổi tự nhiên và bắt tự nhiên phải phục

Ăng-vụ cho ý muốn của mình

2.1.2.5 Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức

Đối với những nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác, mối quan hệ này không chỉ đơn giản được giải quyết hoặc gói gọn trong một hoặc một số chương, mục nhất định nào

đó ở các tác phẩm Mối quan hệ này thực chất được quán triệt và thể hiện ở mọi vấn đề khác, từ kinh tế, chính trị, lịch sử xã hội đến con người, gần như ở mọi luận điểm, ta đều có thể vạch ra sự thể hiện của quan hệ này trong đó Giải quyết mối quan hệ này

đã được nói khá rõ trong phần “phạm trù vật chất” (xem 2.1.2.1) trong phần “lý luận nhận thức” (xem 2.2.4) và trong cả chủ nghĩa duy vật lịch sử (xem 2.3) Ở đây chỉ xin nêu ra một số quan điểm tiêu biểu khác

Trong “Chống Đuy-rinh”, để chỉ ra thực chất quan điểm triết học của Đuy-rinh,

Ăng-ghen đã chú ý xem xét quan niệm của ông này về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, giữa tư duy và tồn tại, qua đó làm rõ quan niệm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về mối quan hệ này

Ăng-ghen đã chỉ rõ, Đuy-rinh giải quyết vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại trên quan điểm duy tâm Bởi vì, trước hết theo Đuy-rinh, “những nguyên lý được rút ra

từ tư duy, chứ không phải từ thế giới bên ngoài, những nguyên lý hình thức phải được

Ngày đăng: 27/03/2023, 19:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ph.Ăng-ghen (1994), Các-Mác, C.Mác và Ph.Ăng-ghen toàn tập, tập 19, NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các-Mác
Tác giả: Ph.Ăng-ghen
Nhà XB: NXB. Chính trị Quốc gia
Năm: 1994
2. Ph.Ăng-ghen (1994), Chống Đuy-rinh, C.Mác và Ph.Ăng-ghen toàn tập, tập 20, NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chống Đuy-rinh
Tác giả: Ph.Ăng-ghen
Nhà XB: NXB. Chính trị Quốc gia
Năm: 1994
3. Ph.Ăng-ghen (1994), Biện chứng của tự nhiên, C.Mác và Ph.Ăng-ghen toàn tập, tập 20, NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện chứng của tự nhiên, C.Mác và Ph.Ăng-ghen toàn tập, tập 20
Tác giả: Ph.Ăng-ghen
Nhà XB: NXB. Chính trị Quốc gia
Năm: 1994
4. Ph.Ăng-ghen (1995), Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước, C.Mác và Ph.Ăng-ghen toàn tập, tập 21, NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước
Tác giả: Ph.Ăng-ghen
Nhà XB: C.Mác và Ph.Ăng-ghen toàn tập
Năm: 1995
5. Ph.Ăng-ghen (1995), Lút-vích Phoi-ơ-bách và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức, C.Mác và Ph.Ăng-ghen toàn tập, tập 21, NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lút-vích Phoi-ơ-bách và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức
Tác giả: Ph.Ăng-ghen
Nhà XB: NXB. Chính trị Quốc gia
Năm: 1995
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014), Giáo trình “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác–Lênin”, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác–Lênin
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia
Năm: 2014
7. V.I.Lê-nin (1974), Những “người bạn dân” là thế nào và họ đấu tranh chống những người dân chủ - cách mạng ra sao?, V.I.Lê-nin toàn tập, tập 1, NXB.Tiến bộ, Mát-xcơ-va Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những “người bạn dân” là thế nào và họ đấu tranh chống những người dân chủ - cách mạng ra sao
Tác giả: V.I. Lê-nin
Nhà XB: NXB. Tiến bộ
Năm: 1974
8. V.I.Lê-nin (1979), Tháng mười 1905 – tháng tư 1906, V.I.Lê-nin toàn tập, tập 12, NXB. Tiến bộ, Mát-xcơ-va Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tháng mười 1905 – tháng tư 1906
Tác giả: V.I.Lê-nin
Nhà XB: NXB. Tiến bộ
Năm: 1979
9. V.I.Lê-nin (1980), Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán, V.I .Lê-nin toàn tập, tập 18, NXB. Tiến bộ, Mát-xcơ-va Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán
Tác giả: V.I. Lê-nin
Nhà XB: NXB. Tiến bộ
Năm: 1980
10. V.I.Lê-nin (1981), Bút ký triết học, V.I.Lê-nin toàn tập, tập 29, NXB. Tiến bộ, Mát-xcơ-va Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bút ký triết học
Tác giả: V.I. Lê-nin
Nhà XB: Nhà xuất bản Tiến bộ
Năm: 1981
11. V.I.Lê-nin (1976), Nhà nước và cách mạng, V.I.Lê-nin toàn tập, tập 33, NXB. Tiến bộ, Mát-xcơ-va Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà nước và cách mạng
Tác giả: V.I. Lênin
Nhà XB: NXB. Tiến bộ
Năm: 1976
12. V.I.Lê-nin (1976), Tháng Mười một 1920 – tháng ba 1921, V.I .Lê-nin toàn tập, tập 42, NXB. Tiến bộ, Mát-xcơ-va Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tháng Mười một 1920 – tháng ba 1921, V.I .Lê-nin toàn tập, tập 42
Tác giả: V.I. Lê-nin
Nhà XB: NXB. Tiến bộ
Năm: 1976
13. C.Mác (2006), Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hê-ghen, C.Mác và Ph.Ăng-ghen toàn tập, tập 1, NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hê-ghen, C.Mác và Ph.Ăng-ghen toàn tập, tập 1
Tác giả: C.Mác
Nhà XB: NXB. Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
14. C.Mác (1995), Luận cương về Phoi-ơ-bách, C.Mác và Ph.Ăng-ghen toàn tập, tập 3, NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận cương về Phoi-ơ-bách
Tác giả: C.Mác
Nhà XB: NXB. Chính trị Quốc gia
Năm: 1995
15. C.Mác và Ph.Ăng-ghen (1995), Hệ tư tưởng Đức, C.Mác và Ph.Ăng-ghen toàn tập, tập 3, NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ tư tưởng Đức, C.Mác và Ph.Ăng-ghen toàn tập, tập 3
Tác giả: C.Mác, Ph.Ăng-ghen
Nhà XB: NXB. Chính trị Quốc gia
Năm: 1995
16. C.Mác và Ph.Ăng-ghen (1995), Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, C.Mác và Ph.Ăng-ghen toàn tập, tập 4, NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyên ngôn của Đảng cộng sản
Tác giả: C. Mác, Ph. Ăng-ghen
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1995
17. C.Mác và Ph.Ăng-ghen (1993), Đấu tranh giai cấp ở Pháp 1848-1850, C.Mác và Ph.Ăng-ghen toàn tập, tập 6, NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đấu tranh giai cấp ở Pháp 1848-1850
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăng-ghen
Nhà XB: NXB. Chính trị Quốc gia
Năm: 1993
18. C.Mác (1993), Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị, C.Mác và Ph.Ăng- ghen toàn tập, tập 13, NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị
Tác giả: C. Mác
Nhà XB: NXB. Chính trị Quốc gia
Năm: 1993
19. C.Mác (2004), Tư bản, C.Mác và Ph.Ăng-ghen toàn tập, tập 23, NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư bản
Tác giả: C.Mác
Nhà XB: NXB. Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
20. C.Mác (1996), Sự khốn cùng của triết học, C. Mác và Ph.Ăng-ghen toàn tập, tập 27, NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự khốn cùng của triết học
Tác giả: C.Mác
Nhà XB: NXB. Chính trị Quốc gia
Năm: 1996

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w