Ph¬ng ph¸p trÎ víi trÎ CHUYÊN ĐỀ KỸ NĂNG TƯ DUY VÀ LÀM VIỆC NHÓM CỦA THIẾU NHI, THỰC HÀNH CÁC MÔ HÌNH GIÁO DỤC KỸ NĂNG LÀM VIỆC NHÓM TEAMBUILDING PHẦN I KỸ NĂNG TƯ DUY CỦA THIẾU NHI 1 Trí thông minh[.]
Trang 1PHẦN I: KỸ NĂNG TƯ DUY CỦA THIẾU NHI
1 Trí thông minh và kỹ năng tư duy
1.1 Mối quan hệ giữa trí thông minh và kỹ năng tư duy
Tư duy là quá trình nhận thức phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối quan hệ có tính quy luật của sự vật và hiện tượng trong hiện thực khách quan
Giáo sư Edward de Bono - cha đẻ của "Tư duy về tư duy" (Thinking on Thinking) và là nhà khoa học bậc thầy về tư duy, nổi tiếng với quyển "Sáu chiếc nón tư duy" cùng hơn 62 đầu sách về tư duy, đã nhận định: "Tư duy là kỹ năng vận hành của bộ não mà nhờ đó trí thông minh được nuôi dưỡng và phát triển"
Mối quan hệ giữa trí thông minh và kỹ năng tư duy cũng giống như mối liên hệ giữa chiếc xe hơi và người lái xe Theo ví von của de Bono, nếu "trí thông minh là máy của chiếc xe hơi và kiến thức là nhiên liệu thì kỹ năng tư duy
được ví như kỹ năng lái xe"
Edward de Bono cho rằng: "Thông minh là một khả năng, tư duy là một
kỹ năng để vận dụng khả năng đó"
Tư duy là kỹ năng cơ bản nhất của con người nhưng không dễ tìm thấy chương trình đào tạo kỹ năng tư duy cho trẻ ở các chương trình học ở trường Hiện nay, việc dạy trẻ "tư duy bậc cao" là điều quan trọng Ở các nước phát triển, những khóa học tư duy cho trẻ đã có từ lâu và được coi là một phần quan trọng trong quá trình phát triển của trẻ Nhà sư phạm nổi tiếng Maria Montessori chia sẻ: "Đừng giáo dục các em thế giới của hôm nay Thế giới của hôm nay sẽ thay đổi khi các em lớn lên Phải ưu tiên giúp các em biết cách phát triển tư duy sáng tạo và rèn luyện khả năng tự thích nghi"
Kỹ thuật tư duy bậc cao đòi hỏi phải suy nghĩ sâu và rộng về một vấn đề Giống các kỹ năng khác, tư duy bậc cao đều có thể học được và với sự kiên trì rèn luyện thường xuyên thì khả năng tư duy bậc cao có thể cải thiện Trẻ sáng dạ (bright children) là những em có khả năng tư duy bậc cao Các em có thể giải quyết vấn đề, suy nghĩ sáng tạo, suy nghĩ logic, ra quyết định, luôn nảy sinh ý tưởng mới, phân tích - xử lý thông tin, lên kế hoạch cho tương lai
* Các kỹ thuật rèn kỹ năng tư duy bậc cao
- Xử lý thông tin: tìm những thông tin có liên quan, sắp xếp - phân loại -
xâu chuỗi thông tin, so sánh - tương phản thông tin, nhận diện và phân tích mối liên hệ
- Lập luận: Đưa ra lý giải cho ý kiến - hành động, suy luận, suy diễn,
phán đoán - ra quyết định, sử dụng chính xác ngôn ngữ để lập luận
Trang 2- Đặt câu hỏi: đưa ra những câu hỏi định hướng; lên kế hoạch tìm hiểu,
nghiên cứu; dự đoán kết quả; tiên liệu hậu quả; rút ra kết luận
- Tư duy sáng tạo: đưa ra ý tưởng mới, xây dựng ý tưởng, lập giả định,
tưởng tượng; tìm kiếm giải pháp đổi mới và sáng tạo
- Đánh giá vấn đề: xây dựng tiêu chí đánh giá, áp dụng tiêu chí đánh giá,
đánh giá giá trị của thông tin và ý tưởng
Hiện nay, hầu hết những câu hỏi dành cho trẻ chỉ ở dạng "Có" hoặc
"Không" Theo cách gọi Edward de Bono, ông gọi dạng câu hỏi có - không là
"câu hỏi bắn súng" (shooting question) bởi vì khi nhắm bắn, hoặc trúng hoặc trật Trong các chương trình đào tạo tư duy cho trẻ, de Bono khuyến khích dạy trẻ dạng "câu hỏi câu cá" (fishing question) vì theo ông, trẻ không thể biết trước câu trả lời hoặc câu được cá gì nên dạng câu hỏi này khơi gợi được trí tò mò, tưởng tượng ở trẻ
1.2 Các đặc điểm tư duy của thiếu nhi
* Các đặc điểm chung của tư duy
Tư duy thuộc mức độ nhận thức lý tính với các đặc điểm sau:
a Tính có vấn đề của tư duy
- Vấn đề là những tình huống, hoàn cảnh chứa đựng một mục đích, một vấn đề mới mà những hiểu biết cũ, những phương pháp hành động cũ tuy còn cần thiết song không đủ sức giải quyết
- Tư duy chỉ xuất hiện khi gặp những hoàn cảnh, tình huống có vấn đề Muốn giải quyết vấn đề đó con người phải tìm cách thức giải quyết mới Tức là con người phải tư duy
Ví dụ: Giả sử để giải một bài toán, trước hết học sinh phải nhận thức được
yêu cầu, nhiệm vụ của bài toán, sau đó nhớ lại các quy tắc, công thức, định lí có liên quan về mối quan hệ giữa cái đã cho và cái cần tìm, phải chứng minh để giải được bài toán Khi đó tư duy xuất hiện
b Tính gián tiếp của tư duy
- Tư duy con người không nhận thức thế giới một cách trực tiếp mà có khả năng nhận thức nó một cách gián tiếp Tính gián tiếp của tư duy được thể hiện trước hết ở việc con người sử dụng ngôn ngữ để tư duy Nhờ có ngôn ngữ
mà con người sử dụng các kết quả nhận thức (quy tắc, khái niệm, công thức, quy luật…) và kinh nghiệm của bản thân vào quá trình tư duy (phân tích, tổng hợp,
so sánh, khái quát…) để nhận thức được cái bên trong, bản chất của sự vật hiện tượng
Ví du: Để giải một bài toán thì trước hết học sinh phải biết được yêu cầu,
nhiệm vụ của bài toán, nhớ lại các công thức, định lí…có liên quan để giải bài toán Ta thấy rõ rằng trong quá trình giải bài toán đó con người đã dùng ngôn ngữ mà thể hiện là các quy tắc, định lí… ngoài ra còn có cả kinh nghiệm của bản thân chủ thể thông qua nhiều lần giải toán trước đó
Trang 3- Tính gián tiếp của tư duy còn được thể hiện ở chỗ, trong quá trình tư duy con người sử dụng những công cụ, phương tiện (như đồng hồ, nhiệt kế, máy móc…) để nhận thức đối tượng mà không thể trực tiếp tri giác chúng
Ví dụ: Để biết được nhiệt độ sôi của nước ta dùng nhiệt kế để đo
Để đo người ta dùng các thiết bị đo đặc biệt để đo chứ không thể qua cảm nhận giác quan thông thường mà biết được
- Nhờ có tính gián tiếp mà tư duy của con người đã mở rộng không giới hạn khả năng nhận thức của con người, con người không chỉ phản ánh những gì diễn ra trong hiện tại mà còn phản ánh được cả quá khứ và tương lai
Ví dụ: Dựa trên những dữ liệu thiên văn, khí hậu con người thu thập được
mà con người dự báo được bão
- Tư duy được biểu hiện trong ngôn ngữ
c Tính trừu tượng và khái quát của tư duy
- Khác với nhận thức cảm tính, tư duy không phản ánh sự vật, hiện tượng một cách cụ thể và riêng lẻ Tư duy có khả năng trừu xuất khỏi sự vật, hiện tượng những thuộc tính, những dấu hiệu cá biệt, cụ thể, chỉ giữ lại những thuộc tính bản chất chung cho nhiều sự vật hiện tượng, trên cơ sở đó mà khái quát những sự vật hiện tượng riêng lẻ, nhưng có những thuộc tính chung thành một nhóm, một loại, một phạm trù Nói cách khác tư duy mang tính trừu tượng và khái quát
+ Trừu tượng là dùng trí óc để gạt bỏ những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ, quan hệ thứ yếu không cần thiết và chỉ giữ lại những yếu tố cần thiết cho
tư duy
+ Khái quát là dùng tri óc để hợp nhất nhiều đối tượng khác nhau thành một nhóm, một loại, một phạm trù theo những thuộc tính, liên hệ, quan hệ chung nhất định
=>Trừu tượng và khái quát có mối liên hệ mật thiết với nhau ở mức độ cao Không có trừu tượng thì không thể tiến hành khái quát, nhưng trừu tượng
mà không khái quát thì hạn chế quá trình nhận thức
Ví dụ: + Nói về khái niệm “cái cốc”, con người trừu xuất những thuộc
tính không quan trọng như chất liệu, màu sắc, kiểu dáng mà chỉ giữ lại những thuộc tính cần thiết như hình trụ, dùng để đựng nước uống Đó là trừu tượng
+ Khái quát gộp tất cả những đồ vật có những thuộc tính cơ bản nói trên
dù làm bằng nhôm, sứ, thủy tinh…có màu xanh hay vàng…tất cả điều xếp vào một nhóm “cái cốc”
- Nhờ có đặc điểm này mà con người không chỉ giải quyết được những nhiệm vụ hiện tại mà còn có thể giải quyết được những nhiệm vụ của tương lai, trong khi giải quyết nhiệm vụ cụ thể vẫn có thể sắp xếp nó vào một nhóm, một loại, một phạm trù để có những quy tắc, những phương pháp giải quyết tương
tự
Trang 4Ví dụ: Khi tính diện tích hình chữ nhật ta có công thức: S = (a x b) Công
thức này được áp dụng cho nhiều trường hợp tương tự với nhiều con số khác nhau
d Tư duy quan hệ chặt chẽ với ngôn ngữ
- Tư duy mang tính có vấn đề, tính gián tiếp, tính trừu tượng và khái quát
là do nó gắn chặt với ngôn ngữ Tư duy và ngôn ngữ có mối quan hệ mật thiết với nhau Nếu không có ngôn ngữ thì quá trình tư duy của con người không thể diễn ra được, đồng thời các sản phẩm của tư duy (khái niệm, phán đoán…) cũng không được chủ thể và người khác tiếp nhận
Ví dụ: Nếu không có ngôn ngữ thì những công thức toán học sẽ không có
và không thể hiện được những hiểu biết về tự nhiên
- Ngôn ngữ cố định lại kết quả của tư duy, là phương tiện biểu đạt kết quả
tư duy, do đó có thể khách quan hóa kết quả tư duy cho người khác và cho bản thân chủ thể tư duy Ngược lại, nếu không có tư duy thì ngôn ngữ chỉ là những chuỗi âm thanh vô nghĩa Tuy nhiên, ngôn ngữ không phải là tư duy mà chỉ là phương tiện của tư duy
- Ngôn ngữ của chúng ta ngày nay là kết quả của quá trình phát triển tư duy lâu dài trong lịch sử phát triển của nhân loại, do đó ngôn ngữ luôn thể hiện kết quả tư duy của con người
Ví dụ: Công thức tính diện tích hình vuông S = (a x a) là kết quả của quá
trình con người tìm hiểu tính toán Nếu không có tư duy thì rõ ràng công thức này vô nghĩa
e Tư duy có mối quan hệ mật thiết với nhận thức cảm tính
- Nhận thức cảm tính bao gồm cảm giác và tri giác, trong đó:
+ Cảm giác là một quá trình tâm lí phản ánh từng thuộc tính riêng lẻ của
sự vật hiện tượng đang trực tiếp tác động vào giác quan của ta
+ Tri giác là quá trình tâm lí phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính bề ngoài của sự vật, hiện tượng khi chúng đang trực tiếp tác động vào giác quan của ta
- Tư duy phải dựa vào nhận thức cảm tính, dựa trên những tài liệu cảm tính, trên kinh nghiệm, trên cơ sở trực quan sinh động Tư duy thường bắt đầu từ nhận thức cảm tính, trên cơ sở nhận thức cảm tính mà nảy sinh tình huống có vấn đề Nhận thức cảm tính là một khâu của mối liên hệ trực tiếp giữa tư duy với hiện thực, là cơ sở của những khái quát kinh nghiệm dưới dạng những khái niệm, quy luật… là chất liệu của những khái quát hiện thực theo một nhóm, một lớp, một phạm trù mang tính quy luật trong quá trình tư duy
Vi dụ: Khi có một vụ tai nạn giao thông xảy ra mà ta thấy Thì trong đầu
ta sẽ đặt ra hàng loạt các câu hỏi như: Tại sao lại xảy ra tai nạn ? Ai là người có lỗi? như vậy là từ những nhận thức cảm tính như: nhìn, nghe…quá trình tư duy bắt đầu xuất hiện
- Ngược lại, tư duy và những kết quả của nó ảnh hưởng mạnh mẽ, chi phối khả năng phản ánh của nhận thức cảm tính: làm cho khả năng cảm giác của
Trang 5con người tinh vi, nhạy bén hơn, làm cho tri giác của con người mang tính lựa chọn, tính ý nghĩa Chính vì lẽ đó, Ph.Angghen đã viết: “nhập vào với mắt của chúng ta chẳng những có các cảm giác khác mà còn có cả hoạt động tư duy của
ta nữa”
1.3 Đặc điểm các loại tư duy của thiếu nhi
1.3.1 Tư duy lôgic
Logic hay luận lý học, từ tiếng Hy Lạp cổ điển λÏ�γος (logos), nghĩa nguyên thủy là từ ngữ, hoặc điều đã được nói, (nhưng trong nhiều ngôn ngữ châu Âu đã trở thành có ý nghĩa là suy nghĩ hoặc lập luận hay lý trí)
Theo quan điểm của B A Ozahecrh thì tư duy logic là loại tư duy trong
đó yêu cầu chủ thể phải có kỹ năng rút ra các hệ quả từ những tiền đề cho trước; kỹ năng phân chia những trường hợp riêng biệt và hợp chúng lại; kỹ năng dự đoán kết quả cụ thể bằng lý thuyết, kỹ năng tổng quát những kết quả đã thu được
a) Học sinh tiểu học nhất là các lớp đầu cấp, thường phán đoán theo cảm tính riêng của mình nên suy luận thường mang tính chất đơn giản Khi suy luận, luận cứ logic của các em còn gắn nhiều với thực tế sống, với quan sát thực nghiệm Các em khó chấp nhận các giả thiết có tính chất hoàn toàn giả định hoặc các dữ kiện mà các em không tin là có thực mặc dù đó là kết quả của suy luận đúng
Theo Tâm lý học, tư duy của trẻ tiểu học mang tính đột biến, chuyển từ tư duy tiền thao tác sang tư duy thao tác Sở dĩ có nhận định như vậy là bởi trẻ trong giai đoạn mẫu giáo và đầu tiểu học tư duy chủ yếu trong diễn ra trong trường hành động: tức những hành động trên các đồ vật và hành động tri giác (phối hợp hoạt động của các giác quan) Thực chất của loại tư duy này là trẻ tiến hành các hành động để phân tích, so sánh, đối chiếu các sự vật, các hình ảnh về
sự vật Về bản chất, trẻ chưa có các thao tác tư duy - với tư cách là các thao tác trí óc bên trong
Trong giai đoạn tiếp theo, thường ở đa số học sinh lớp 3 và lớp 4, trẻ đã chuyển được các hành động phân tích, khái quát, so sánh từ bên ngoài thành các thao tác trí óc bên trong, mặc dù tiến hành các thao tác này vẫn phải dựa vào các hành động với đối tượng thực, chưa thoát lý khỏi chúng Đó là các thao tác
cụ thể Biểu hiện rõ nhất của bước phát triển này trong tư duy của nhi đồng là các em đã có khả năng đảo ngược các hình ảnh tri giác, khả năng bảo tồn sự vật khi có sự thay đổi các hình ảnh tri giác về chúng
b) Tư duy nói chung và tư duy trừu tượng nói riêng phát triển mạnh là một đặc điểm cơ bản của hoạt động tư duy ở thiếu niên Nhưng thành phần của
tư duy hình tượng - cụ thể vẫn được tiếp tục phát triển, nó vẫn giữ vai trò quan trọng trong cấu trúc của tư duy Các em hiểu các dấu hiệu bản chất của đối tượng nhưng không phải bao giờ cũng phân biệt được những dấu hiệu đó trong mọi trường hợp Khi nắm khái niệm các em có khi thu hẹp hoặc mở rộng khái niệm không đúng mức
1.3.2 Tư duy phê phán
Trang 6Tư duy phê phán (critical thinking) - quá trình vận dụng tích cực trí tuệ
vào việc phân tích, tổng hợp, đánh giá sự việc, xu hướng, ý tưởng, giả thuyết từ
sự quan sát, kinh nghiệm, chứng cứ, thông tin, vốn kiến thức và lý lẽ nhằm mục đích xác định đúng - sai, tốt - xấu, hay - dở, hợp lý - không hợp lý, nên - không nên, và rút ra quyết định, cách ứng xử cho mình
* Các bước thực hiện
- Nhận dạng những ý kiến liên quan với vấn đề đưa ra
- Phân tích:
o Mỗi ý kiến đưa ra một vài luận điểm ủng hộ
o Với mỗi luận điểm đưa ra nhiều luận cứ khác nhau
Những ý kiến giống như những nhận định, xuất phát từ những tiên đề (tiên đề A → lập luận B → lập luận C → nhận định D) Việc phân tích là việc bắt nguồn từ D để đi tìm A, B và C
* Đánh giá:
o Khảo sát mâu thuẫn giữa những ý kiến
o Đong sức nặng (sức thuyết phục) của những ý kiến
o Đưa ra quan điểm của bản thân (ý kiến nào là đúng)
* Trình bày kết quả của quá trình tư duy lô gíc
o Phát triển sức nặng của ý kiến (chỉ ra những đặc điểm nổi trội của ý kiến
đó và tìm những dẫn chứng thực tế giúp củng cố ý kiến đó)
o Nêu ra các điểm không chuẩn xác trong lập luận của người/nhóm người mang ý kiến đối lập
* Đặc điểm tư duy phê phán của học sinh tiểu học: Tư duy phê phán
thường biểu lộ xu hướng cá nhân của HS, lập trường cá nhân, thái độ đánh giá của các em đối với hiện tượng được xem xét Đối với HS tiểu học, TDPP chỉ hình thành, phát triển trong môi trường học tập với điều kiện:
- Có đủ tri thức cần thiết, HS không thể xem xét một cách có phê phán đúng đắn những cái mà các em không có những hiểu biết cần thiết về nó;
- Có thói quen kiểm tra các kết quả, các quyết định, hành động hay ý kiến phán đoán nào đó trước khi cho là nó đúng;
- Có kỹ năng đối chiếu quá trình và kết qủa của quyết định, hoạt động và ý kiến phán đoán với hiện thực, với những quy tắc, định luật, tiêu chuẩn, lý luận tương ứng;
- Có trình độ phát triển tương ứng về trình bày những suy luận logic;
- Có trình độ phát triển khá đầy đủ nhân cách: quan điểm, niềm tin, lý tưởng và tính độc lập
* Đặc điểm tư duy phê phán của học sinh trung học cơ sở: Ở tuổi thiếu
niên, tính phê phán của tư duy cũng được phát triển, các em biết lập luận giải quyết vấn đề một cách có căn cứ Các em không dễ tin như lúc nhỏ, nhất là ở cuối tuổi này, các em đã biết vận dụng lí luận vào thực tiễn, biết lấy những điều quan sát được, những kinh nghiệm riêng của mình để minh họa kiến thức
Trang 7a) 1.3.3 Tư duy sáng tạo
Tư duy sáng tạo đó là những năng lực tìm thấy những ý nghĩa mới, tìm thấy những mối quan hệ mới, là một chức năng của kiến thức, trí tưởng tượng và
sự đánh giá, là một quá trình, một cách dạy và học bao gồm những chuỗi phiêu lưu, chứa đựng những điều như: sự khám phá, sự phát sinh, sự đổi mới, trí tưởng tượng, sự thử nghiệm, sự thám hiểm
Theo nghiên cứu của nhiều nhà tâm lí học và giáo dục học, thì cấu trúc của tư duy sáng tạo có 5 thành phần đặc trưng cơ bản sau:
- Tính mềm dẻo: là khả năng chủ thể biến đổi thông tin, kiến thức đã tiếp thu được một cách dễ dàng nhanh chóng từ góc độ và quan niệm này sang góc
độ và quan niệm khác, chuyển đổi sơ đồ tư duy có sẵn trong đầu sang một hệ tư duy khác, chuyển từ phương pháp tư duy cũ sang hệ thống phương pháp tư duy mới, chuyển đổi từ hành động trở thành thói quen sang hành động mới, gạt bỏ sự cứng nhắc mà con người đã có để thay đổi nhận thức dưới một góc độ mới, thay đổi cả những thái độ đã cố hữu trong hoạt động tinh thần trí tuệ
- Tính nhuần nhuyễn: thể hiện ở năng lực tạo ra một cách nhanh chóng sự
tổ hợp giữa các yếu tố riêng lẻ của các tình huống, hoàn cảnh, đưa ra giả thuyết mới Các nhà tâm lý học rất coi trọng yếu tố chất lượng của ý tưởng sinh ra, lấy
đó làm tiêu chí để đánh giá sáng tạo Tính nhuần nhuyễn được đặc trưng bởi khả năng tạo ra một số lượng nhất định các ý tưởng Số ý tưởng nghĩ ra càng nhiều thì càng có nhiều khả năng xuất hiện ý tưởng độc đáo, trong trường hợp này số lượng làm nảy sinh ra chất lượng
- Tính độc đáo: được đặc trưng bởi các khả năng tìm ra những hiện tượng
và những kết hợp mới; khả năng nhìn ra những mối liên hệ trong những sự kiện bên ngoài; liên tưởng như không có liên hệ với nhau; khả năng tìm ra những giải pháp lạ tuy đã biết những giải pháp khác
- Tính hoàn thiện: là khả năng lập kế hoạch, phối hợp các ý nghĩa và hành động, phát triển ý tưởng, kiểm tra và kiểm chứng ý tưởng
- Tính nhạy cảm vấn đề: có các đặc trưng như khả năng nhanh chóng phát hiện vấn đề; khả năng phát hiện ra mâu thuẫn, sai lầm, thiếu logic, chưa tối ưu từ
đó có nhu cầu cấu trúc lại, tạo ra cái mới
1.4 Một số kỹ thuật và phương pháp phát triển tư duy cho thiếu nhi trong hoạt động Đoàn, Đội
1.4.1 Kỹ thuật “6 chiếc mũ tư duy”
Kỹ thuật "6 chiếc mũ tư duy" (6 Thinking Hats) là một kỹ thuật mạnh mẽ
và độc đáo Kỹ thuật này nhằm hướng học sinh cùng tập trung vào vấn đề từ cùng một góc nhìn, do đó sẽ triệt tiêu hoàn toàn các tranh cãi xuất phát từ các góc nhìn khác nhau Bên cạnh đó, giúp các cá thể có được nhiều cái nhìn về một đối tượng mà những cái nhìn này sẽ khác nhiều so với một người thông thường
có thể thấy được
Đây là một khuôn mẫu cho sự suy nghĩ và nó có thể kết hợp thành lối suy nghĩ định hướng Trong phương pháp này thì các phán xét có giá trị sẽ có chỗ
Trang 8đứng riêng của nó nhưng các phê phán đó sẽ không được phép thống trị như là thường thấy lối suy nghĩ thông thường
a) Ứng dụng của kỹ thuật 6 chiếc mũ tư duy
• Kích thích suy nghĩ song song
• Kích thích suy nghĩ toàn diện
• Tách riêng cá tính (như là bản ngã, các thành kiến ) và chất lượng
• Đào tạo về sáng tạo, điều phối cuộc họp, quản lý cuộc họp
• Tăng năng suất làm việc và trao đổi trong nhóm
• Cải tiến sản phẩm và quá trình quản lý dự án
• Phát triển tư duy phân tích, và ra quyết định
b) Ý nghĩa của từng loại mũ
Dùng 6 cái mũ đại diện cho 6 dạng thức cuả suy nghĩ Nó đề cập đến chiều hướng suy nghĩ hơn là tên gọi Mỗi nón có một màu (mà màu này chỉ đại diện cho duy nhất 1 dạng thức duy nhất cuả suy nghĩ) Mọi người đều sẽ tham gia góp ý Tuỳ theo kiểu ý kiến mà người đó sẽ đề nghị đội mũ màu gì
Các mũ không được dùng để phân loại cá nhân mặc dù hành vi hay thói quen của cá nhân đó "dường như" hay có vẻ thuộc về loại nào đó Nó chỉ có tác dụng định hướng suy nghĩ trong khi thành viên trong nhóm cho ý kiến đội lên
mà thôi Lưu ý rằng, 6 chiếc mũ này chỉ là một cách thức tượng trưng, không cần phải có 6 cái mũ thật khi tiến hành kỹ thuật này Ý nghĩa của 6 chiếc mũ với
6 màu khác nhau này được trình bày bên dưới:
Mũ trắng: mang hình ảnh của một tờ giấy trắng, thông tin, dữ liệu Khi
chúng ta tưởng tượng đang đội chiếc mũ trắng, chúng ta chỉ cần suy nghĩ về các thông tin, dữ kiện liên quan đến vấn đề đang cần giải quyết, tập trung trên thông tin rút ra được, các dẫn liệu cứ liệu và những thứ cần thiết, làm sao để nhận được chúng
Một số câu hỏi có thể sử dụng:
• Chúng ta có những thông tin gì về vấn đề này?
• Chúng ta cần có những thông tin nào liên quan đến vấn đề đang xét?
• Chúng ta thiếu mất những thông tin, dữ kiện nào?
Mũ đỏ: mang hình ảnh của lửa đang cháy trong lò, con tim, dòng máu
nóng, sự ấm áp Khi tưởng tượng đang đội chiếc mũ đỏ, chúng ta chỉ cần đưa ra các cảm giác, cảm xúc, trực giác, những ý kiến không có chứng minh hay giải thích, lí lẽ của mình về vấn đề đang giải quyết Chỉ đưa ra các điều bộc phát đó, không cần giải thích
Một số câu hỏi có thể sử dụng:
• Cảm giác của tôi ngay lúc này là gì?
• Trực giác của tôi mách bảo điều gì về vấn đề này?
• Tôi thích hay không thích vấn đề này?
Mũ vàng: mang hình ảnh của ánh nắng mặt trời, sự lạc quan, các giá trị,
các lợi ích, vàng 9999 Khi tưởng tượng đang đội chiếc mũ vàng, bạn sẽ đưa ra các
Trang 9ý kiến lạc quan, có logic, các mặt tích cực, các lợi ích của vấn đề, mức độ khả thi của dự án
Một số câu hỏi có thể sử dụng:
• Những lợi ích khi chúng ta tiến hành dự án này là gì?
• Đâu là mặt tích cực của vấn đề này?
• Liệu vấn đề này có khả năng thực hiện được không?
Mũ đen: mang hình ảnh của đêm tối, đất bùn Người đội mũ đen sẽ liên
tưởng đến các điểm yếu, các lỗi, sự bất hợp lý, sự thất bại, sự phản đối, trần trừ, thái đội bi quan Vai trò của chiếc nón đen là giúp chỉ ra những điểm yếu trong quá trình suy nghĩ của chúng ta Chiếc nón đen để dùng cho "sự thận trọng", nó chỉ ra các lỗi, các điểm cần lưu ý, các mặt yếu kém, bất lợi của vấn đề hay dự án đang tranh cãi Chiếc nón đen đóng vai trò hết sức quan trọng, nó đảm bảo cho
dự án của chúng ta tránh được các rủi ro, nó ngăn chúng ta làm điều sai, bất hợp pháp hay nguy hiểm
Một số câu hỏi có thể sử dụng:
• Những rắc rối, nguy hiểm nào có thể xảy ra?
• Những khó khăn nào có thể phát sinh khi tiến hành làm điều này?
• Những nguy cơ nào đang tiềm ẩn?
Mũ xanh lá cây: Hãy liên tưởng đến cây cỏ xanh tươi, sự nảy mầm, sự
đâm chồi, sự phát triển Chiếc nón xanh lá cây tượng trưng cho sự sinh sôi, sáng tạo Trong giai đoạn đội nón này, chúng ta sẽ đưa ra các giải pháp, ý tưởng cho vấn đề đang thảo luận
Một số câu hỏi có thể sử dụng:
• Có những cách thức khác để thực hiện điều này không?
• Chúng ta có thể làm gì khác trong trường hợp này?
• Các lời giải thích cho vấn đề này là gì?
Mũ xanh da trời: Hãy nhìn bầu trời xanh lồng lộng bằng con mắt bao
quát Chiếc nón xanh da trời sẽ có chức năng giống như nhạc trưởng, nó sẽ tổ chức các chiếc nón khác - tổ chức tư duy Nón xanh da trời sẽ kiểm soát tiến trình tư duy Đây là chiếc nón của người lãnh đạo hay trưởng nhóm thảo luận Vai trò của người đội nón xanh da trời là:
• Xác định trọng tâm và mục đích thảo luận cho nhóm (Chúng ta ngồi ở đây để làm gì? Chúng ta cần tư duy về điều gì? Mục tiêu cuối cùng là gì?)
• Sắp xếp trình tự cho các chiếc nón trong suốt buổi thảo luận Người
đội nón xanh da trời cần bảo đảm nguyên tắc vàng sau: "Tại một thời điểm nhất định, mọi người phải đội mũ cùng màu"
• Cuối cùng, tập hợp mọi ý kiến, tóm tắt, kết luận và ra kế hoạch (Chúng ta đã đạt được gì qua buổi thảo luận? Chúng ta có thể bắt đầu hành động chưa? Chúng ta có cần thêm thời gian và thông tin để giải quyết vấn đề này?)
CÁCH TIẾN HÀNH QUA TỪNG BƯỚC
Trang 10Mọi người trong nhóm làm việc sẽ cùng tham gia góp ý - tùy theo tính chất cuả ý đó mà người đó (hay người trưởng nhóm) sẽ đề nghị đội mũ màu gì cho cả nhóm Người trưỏng nhóm sẽ lần lược chia thời gian tập trung ý cho mỗi
mũ màu Tuy nhiên, một số trường hợp đặc biệt nếu cần bất kì thành viên nào cũng
có thể đề nghị góp thêm ý vào cho 1 mũ màu nào đó (tuy vậy phải giữ đủ thời lượng cho mỗi mũ màu)
Bước 1: Thu thập thông tin
• Mũ trắng: Tất cả các ý kiến nào chỉ chứa sự thật, bằng chứng, hay dữ
kiện, thông tin Đội mũ này có nghiã là "hãy cởi bỏ mọi thành kiến, mọi tranh cãi, cởi bỏ mọi dự định và hãy nhìn vào cơ sở dữ liệu"
Bước 2: Đề xuất giải pháp
• Mũ xanh lá cây: Tạo ra các ý kiến làm sao để giải quyết Các sáng tạo,
các cách thức khác nhau, các kế hoạch, các sự thay đổi
Bước 3: Đánh giá các giá trị cuả các ý kiến trong mũ xanh lá cây
• Viết ra danh mục các lợi ích dùng mũ vàng
o Mũ vàng: Tại sao vài ý kiến sẽ chạy tốt và tại sao nó mang lại lợi ích
Ở đây cũng có thể dùng về các kết quả cuả các hành động được đề xuất hay các
đề án Nó còn dùng để tìm ra những vật hay hiệu quả có giá trị cuả những gì đã xảy ra
• Viết các đánh giá, và các lưu ý trong mũ đen
o Mũ đen: Đây là mũ có giá trị nhất Dùng để chỉ ra tại sao các đề nghị
hay ý kiến không thích hợp (hay không hoạt động được) cùng với các dữ kiện, với kinh nghiệm sẵn có, với hệ thống đang hoạt động, hoặc với chế độ đang được theo Nón đen lúc nào cũng phải tính đến sự hợp lý
Bước 4: Viết các phản ứng, trực giác tự nhiên và các cảm giác xuống
• Mũ đỏ: cho phép người suy nghĩ đặt xuống các trực cảm mà không cần
bào chữa
Bước 5: Tổng kết và kết thúc buổi làm việc
• Mũ xanh da trời: Là sự nhìn lại các bước trên hoặc là quá trình điều
khiển Nó sẽ không nhìn đến đối tượng mà là nghĩ về đối tượng (thí dụ như ý kiến
"đội cho tôi cái mũ xanh lá cây, tôi cảm giác rằng có thể làm được nhiều hơn về cái
mũ xanh này")
• Lưu ý: các bước trên không hoàn toàn nhất thiết phải theo đúng thứ tự
như nêu trên mà ở nhiều trường hợp nên chỉnh lại theo thứ tự như sau:
Trắng -> Đỏ -> Đen -> Vàng -> Xanh lá cây -> Xanh da trời
Bài tập vận dụng: Vận dụng kỹ thuật 6 chiếc mũ tư duy để xây dựng
chương trình hoạt động của Đội “Ươm ước mơ xanh - Vui bước đến trường”
1.4.2 Phương pháp động não
Động não là một phương pháp đặc sắc dùng để phát triển nhiều giải đáp sáng tạo cho một vấn đề Phương pháp này hoạt động bằng cách nêu các ý tưởng tập trung trên vấn đề, từ đó, rút ra rất nhiều đáp án căn bản cho nó Trong động
Trang 11não thì vấn đề được đào bới từ nhiều khía cạnh và nhiều cách (nhìn) khác nhau Sau cùng các ý kiến sẽ được phân nhóm và đánh giá
a) Đặc điểm và yêu cầu
* Có thể tiến hành bởi một hay nhiều người: Tuy nhiên, thường thì
phương pháp này sẽ hiệu quả hơn cho nhóm làm việc bởi vì cơ sở hoạt động của
nó dựa trên việc tạo ra càng nhiều ý tưởng liên quan từ nhiều góc nhìn và nhiều cấp độ càng tốt Số lượng người tham gia nhiều sẽ giúp cho phương pháp tìm ra lời giải được nhanh hơn hay toàn diện hơn nhờ vào nhiều góc nhìn khác nhau bởi các trình độ, trình tự khác nhau của mỗi người
* Định nghĩa vấn đề: Vấn đề muốn giải quyết phải được xác định thật rõ
ràng phải đưa ra được các chuẩn mực cần đạt được của một lời giải đáp Trong bước này thì vấn đề sẽ được cô lập hóa với môi trường và các nhiễu loạn Nói theo cách chuyên môn đây là bưóc đầu tiên xác định nội hàm của vấn đề và xác định các khả năng, các điều kiện cần hay đủ của một lời giải
* Tập trung vào vấn đề: Đây là bước tập kích Tránh các ý tưởng hay
các điều kiện bên ngoài có thể làm lạc hướng buổi làm việc Trong giai đoạn này người ta thu thập tất cả các ý tưởng có liên quan trực tiếp đến vấn đề cần giải quyết (thường có thể viết lên giấy hoặc bảng tất cả) Những ý tưởng này đều được xem là có vai trò ngang nhau không phân biệt chi tiết lớn nhỏ Việc ghi chép ra bảng cũng không nhất thiết phải liệt kê hay sắp xếp theo trình tự nào hết
* Loại bỏ các chi tiết cảm tính không liên quan: Không được phép đưa
bất kì một bình luận hay phê phán gì về các ý tưởng trong lúc thu thập Ngoài ra:
- Thành viên tham gia không được dù chỉ là tỏ thái độ cử chỉ chán chường, sao lãng, hay khinh khỉnh đối với các ý kiến đóng góp
- Thành viên cung cấp ý kiến không nên dùng các câu có đại từ xưng hô (như là ''anh, các anh, bạn, các bạn, đồng chí, '') thay vào đó là các câu chỉ có các động từ chỉ hành động hay thao tác
* Khuyến khích tinh thần tích cực: Mỗi thành viên cần thực sự cố gắng
đóng góp và phát triển các ý tưởng tùy theo trình độ, khía cạnh nhìn thấy riêng
và không giới hạn cách nhìn của mỗi thành viên
* Góp gió thành bão: Các thành viên đưa ra càng nhiều ý tưởng càng tốt về
mọi mặt của vấn đề kể cả những ý tưởng không thực tiễn, hoàn toàn lạ lẫm hay sáng tạo
Bài tập thực hành: Vận dụng phương pháp động não để xây dựng ý tưởng
cho hoạt động cắm trại cho các Đoàn viên trong lớp của bạn nhân kỷ niệm ngày thành lập Đoàn 26 -03
1.4.3 Phương pháp bản đồ tư duy
Phương pháp BĐTD hay giản đồ ý (Mindmap) là phương pháp được đưa
ra để tận dụng khả năng ghi nhận hình ảnh, màu sắc của bộ não Đây là cách để ghi nhớ chi tiết, để tổng hợp, hay để phân tích một vấn đề ra thành một dạng của lược đồ phân nhánh Khác với máy tính, ngoài khả năng ghi nhớ kiểu tuyến tính (ghi nhớ theo 1 trình tự nhất định chẳng hạn như trình tự biến cố xuất hiện của 1 câu truyện) thì não bộ còn có khả năng liên lạc, liên hệ các dữ kiện với nhau
Trang 12Phương pháp này khai thác cả hai khả năng này của bộ não khả năng liên kết và tưởng tượng
BĐTD là 1 công cụ tổ chức tư duy nền tảng Với phương pháp này, bạn
có thể chuyển tải thông tin vào bộ não của bạn rồi đưa thông tin ra 1 cách vô cùng dễ dàng Nó là một công cụ tổ chức, sắp xếp thông tin, tư duy; một phương pháp ghi chép đầy sáng tạo và hiệu quả cao
Bài tập ứng dụng: Xây dựng bản đồ tư duy các khái niệm các Đội viên
cần phải nắm vững trong phong trào “Xây dựng Đội vững mạnh – Tiến bước lênn Đoàn” trong trường của bạn
1.4.4 Phương pháp trò chơi
Trò chơi là một phương pháp quan trọng trong tổ chức hoạt động Đoàn Đội cho thiếu nhi Ngoài tác dụng giải trí, tạo không khí vui vẻ, phát triển tinh thần đoàn kết trò chơi còn góp phần phát triển tư duy cho trẻ, đặc biệt là đối với trẻ nhỏ
* Một số trò chơi phát triển tư duy trong sinh hoạt Đội cho thiếu nhi a) Trò chơi “ Thi tìm những con vật có từ láy”
* Mục đích: rèn luyện trí nhớ, khéo léo
* Số lượng: 30 người trở lên, chia nhiều nhóm
* Địa điểm: trong phòng, ngoài sân
* Thời gian: 5 -> 7 phút
Cách chơi: trong hội trường có bảng (nếu có) Quản trò chia ra làm 3 -> 4 nhóm, mỗi nhóm cử 1 bạn lên, quảntrò sẽ ra mật hiệu cho các bạn là “Tìm những con vật có từ láy”
Ví dụ: chuồn chuồn, bươm bướm, …
4 đội 1 lượt và 1 người viết con này xong chạy về cho người khác lên viết tiếp
… Trong vòng 5 phút đội nào viết được nhiều con vật có từ láy nhiều nhất thì đội đó thắng cuộc
b) Trò chơi “Suy luận”
Cách chơi: đội A cử đại diện của mình sang đội B lấy thông tin, sau đó về truyền lại thông tin cho đội mình bằng diễn đạt động tác cho mọi người hiểu (không được nói)
Thí dụ: đội B cho thông tin người đại diện đội A là: “Chúng tôi cần 1 chiếc nón” - sau đó người đại diện sẽ diễn tả bằng hành động, động tác cho đội nhà đoán nội dung, sau 2 lần đội A phải nêu được thông tin (cho phép nói 2 lần)
- nếu không nói được là thua
c) Trò chơi “ Nói và làm ngược”
* Mục đích: rèn luyện trí nhớ, khéo léo
* Số lượng: 30 người trở lên, có thể chia nhiều nhóm
* Địa điểm: trong phòng, ngoài sân
* Thời gian: 5 -> 7 phút
Cách chơi: người chơi xếp thành vòng tròn
- Quản trò hô: “Các bạn hãy cười thật to”
- Người chơi phải làm ngược lại là: “Khóc thật nhỏ”
- Quản trò hô: “Các bạn hãy nhảy lên”
Trang 13- Người chơi phải làm ngược lại: “Ngồi xuống đất”
- Quản trò sẽ chỉ người trong vòng tròn và nói 1 hành động nào đó thì người chơi phải làm ngược lại Quản trò có thể thể hiện bằng hành động không cần nói, nếu người chơi không làm ngược lại thì sẽ bị phạt
d) Trò chơi “ Nếu thì”
* Mục đích: tạo không khí vui tươi, thân mật, phát triển tư duy lôgic
* Tổ chức: 1 quản trò điều khiển
* Địa điểm: chơi trong phòng học
* Số lượng: không hạn chế, chia 2 đội nam và nữ
Cách chơi: Nam, nữ ngồi riêng biệt, mỗi người trang bị 1 miếng giấy nhỏ Quy định cho bên Nam ghi vào giấy bắt đầu bằng chữ “Nếu” – còn bên nữ bằt đầu bằng chữ “Thì” Sau 3 phút lần lượt mời 1 bạn Nam lên đọc câu của mình sau đó mời bạn Nữ tiếp tục đọc câu của mình… Trò chơi tiếp tục, hướng dẫn làm sao tất cả lần lượt tự giác đứng lên đọc câu của mình (như 1 trò chơi hát đối đáp), câu nào có ý nghĩa thì vỗ tay tán thưởng hoặc tặng quà lưu niệm
PHẦN II: KỸ NĂNG LÀM VIỆC NHÓM VÀ THỰC HÀNH CÁC
MÔ HÌNH GIÁO DỤC KỸ NĂNG LÀM VIỆC NHÓM TEAMBUILDING
1 Khái niệm nhóm
Nhóm là tập hợp nhiều người cùng có chung mục tiêu, thường xuyên tương tác với nhau, mỗi thành viên có vai trò nhiệm vụ rõ ràng và có các quy tắc chung chi phối lẫn nhau
Có thể chia ra thành nhóm chính thức và nhóm không chính thức Nhóm chính thức là nhóm được hình thành xuất phát từ nhu cầu của một tổ chức, trên
cơ sở quyết định của tổ chức đó Nhóm không chính thức là nhóm hình thành tự nhiên từ nhu cầu của mỗi thành viên của nhóm, thí dụ như nhóm bạn bè có cùng
sở thích, nhóm người có cùng mối quan tâm…Trong một tổ chức thường tồn tại
cả nhóm chính thức và nhóm không chính thức Thời gian tồn tại của nhóm cũng
Vai trò trưởng nhóm giai đoạn này là thúc đẩy các thành viên cởi mở, giao tiếp với nhau, sau đó cùng phối hợp xây dựng định hướng hoạt động của nhóm hoặc mục tiêu hoạt động nhóm Nhóm trưởng và các thành viên tìm hiểu các thành viên khác về tính tình, khả năng làm việc, sự tự tin, trách nhiệm và những suy nghĩ đóng góp cho nhóm…Sau đó nhóm quyết tâm xây dựng hoặc hiểu rõ mục tiêu mà nhóm phải hoàn thành Các mục tiêu được xây dựng bởi nhóm thường được đánh giá bằng các tiêu chí cụ thể, đo được, được đồng thuận, khả thi và có thời hạn xác định (SMART) Nếu nhóm không xây dựng được mục
Trang 14tiêu hoặc các thành viên không hiểu rõ mục tiêu của nhóm thì nhóm không thể hoàn thành công việc hoặc sớm tan rã
b) Giai đoạn 2: Hỗn loạn/ bão táp
Giai đoạn này xảy ra khi các thành viên xung đột nhau về cách làm việc, công việc phân công và chia sẻ trách nhiệm Mới hình thành nhóm nên có một
số thành viên tỏ ra nổi trội, mất đoàn kết có thể xảy ra Truyền thông, giao tiếp trong nhóm chưa suôn sẻ, người muốn thống trị, lôi kéo, người thì hãy thờ ơ
Trưởng nhóm lúc này phải là người cứng rắn, gương mẫu, gần gũi các thành viên, tránh để xảy ra căng thẳng quá, tổ chức tốt công việc và làm cho công việc bắt đầu có hiệu quả Làm sao cho các thành viên nhóm hiểu nhau nhiều nhất, hiểu công việc, tránh các thành viên cạnh tranh nhau trở thành đối thủ Tăng cường giao tiếp trong nhóm Chuyển các công việc do thành tích cá nhân sang thành tích chung của nhóm
c) Giai đoạn 3: Ổn định
Giai đoạn này các thành viên bắt đầu nỗ lực đóng góp vào công việc chung của nhóm Các thành viên nhóm tin tưởng lẫn nhau, gắn kết với nhau qua công việc Lãnh đạo nhóm tạo điều kiện để các thành viên hỗ trợ nhau Bảo đảm các kênh thông tin trong nhóm thông suốt, xây dựng được cơ chế phản hồi tích cực Thành viên tin tưởng lẫn nhau, cùng gắn kết bởi mục tiêu chung, lắng nghe ý kiến lẫn nhau
d) Giai đoạn 4: Hoạt động
Sau giai đoạn ổn định là giai đoạn hoạt động hiệu quả Đặc trưng giai đoạn này là các thành viên hoàn toàn hòa hợp nhau, tạo ra năng suất làm việc cao, mọi tiềm năng của cá nhân và tập thể nhóm được phát huy, vấn đề được giải quyết hiệu quả, các mâu thuẫn không còn xảy ra Tuy nhiên không phải là
đã loại bỏ hết xung đột, vì xung đột lúc nào cũng thường trực tác động đến bất cứ nhóm nào ở bất cứ giai đoạn nào Các thành viên phải tự hoàn thiện mình trong nhóm, thích ứng với thay đổi, chấp nhận sự khác biệt, hướng mục tiêu chung, tham gia vào việc quản lý chung
e) Giai đoạn 5: Kết thúc (hay tan rã!)
Giai đoạn này các thành viên đã hoàn thành mục tiêu chung (hoặc không hoàn thành mục tiêu nào cả) Các thành viên ít phụ thuộc vào nhau Nhiệm vụ hoàn thành thì nhóm sẽ kết thúc vai trò, xây dựng hoặc tập hợp thành các nhóm mới với mục tiêu mới Hoạt động của nhóm thường được giám sát và đánh giá
để rút kinh nghiệm và bài học cho các nhóm khác, dự án khác
3 Phong cách điều hành nhóm
3.1 Phong cách chuyên quyền
Trưởng nhóm đưa ra mục đích công việc, quyết định phương thức làm việc, phân công nhiệm vụ, thông tin chủ yếu từ trên xuống Phong cách này cả nhóm bị động theo dẫn dắt của trưởng nhóm, các thành viên độc lập với trưởng nhóm, đôi khi âm thầm chống lại trưởng nhóm Phong cách này dễ gây ra cá nhân chủ nghĩa, ganh đua, ngờ vực lẫn nhau nhưng có ưu điểm là đôi khi nhóm nhanh triển khai công việc và đạt mục tiêu, có hiệu quả
Trang 153.2 Phong cách tự do
Trưởng nhóm không đưa ra quyết định, để nhóm tự do tổ chức giải quyết các công việc Nhóm có thể tự tổ chức thành công hoặc sinh ra những thủ lĩnh tự phát, làm giảm uy tín của trưởng nhóm Phong cách này cũng dễ dẫn tới thất bại
vì nhóm không có khả năng tự tổ chức, người chăm, người lười sinh ra xung đột giữa các thành viên
3.3 Phong cách cộng tác
Người trưởng nhóm là người chỉ huy đề xuất các phương án khác nhau để nhóm bàn bạc, lựa chọn Trưởng nhóm phân công nhiệm vụ khi được bàn bạc thống nhất Hoạt động nhóm theo cách tiếp cận có sự tham gia, có sự hợp tác của mọi thành viên Phong cách này có nhược điểm là mất nhiều thời gian cho thảo luận, bàn bạc Nếu cần giải quyết gấp rút công việc thì không phù hợp Nhưng phong cách này có sự hài lòng của các thành viên và đa số trường hợp mang lại tính hiệu quả của công việc
4 Lý thuyết Johari trong hoạt động nhóm
Lý thuyết Johari được đặt tên bởi 2 nhà phát minh Josheph Luft và Harry Ingham Họ đã nghiên cứu và kết luận rằng: mỗi cá nhân, mỗi con người được chia thành 4 vùng hay còn gọi là 4 ô cửa sổ
Bạn có thể nhận biết
Bạn không thể nhận biết Người khác
có thể nhận biết
VÙNG CHUNG VÙNG MÙ
Người khác không thể nhận biết
VÙNG MẬT VÙNG TỐI
* Vùng chung: hay còn gọi là vùng mở, vùng công khai Đây là vùng
quen thuộc đối với bạn và những người khác, những người xung quanh bạn đều quen thuộc và biết đến
* Vùng mật: nơi này người ta thường giữ bí mật về bản thân mình mà
người khác không thể biết được
* Vùng mù: hay còn gọi là vùng ngạt Đây là vùng về chính bản thân
mình mà mình lại không hề biết Thường thì vùng này những người xung quanh biết còn bạn thì không hề biết và họ không muốn nói vì sợ làm bạn mất long
* Vùng tối: hay còn goi là vùng tương lai Đây là vùng mà chính bản thân
bạn và những người xung quanh đều không nhận biết được hoặc chưa được phát hiện
Khi mới tham gia nhóm, bất kỳ ai cũng có 4 vùng giống sơ đồ trên Tuy nhiên, phạm vi các vùng này sẽ bị thay đổi qua thời gian nếu các thành viên trong nhóm có nhiều thông tin về nhau hơn Khi bạn thể hiện khả năng cởi mở,
Trang 16bộc lộ những thông tin về vùng mật của mình thì vùng mật sẽ giảm, tương tự khi bạn nhận thông tin phản hồi từ người khác thì vùng mù sẽ giảm, đây là giai đoạn
mà mỗi cá nhân phải rèn luyện để đạt được
5 Thực hành các kỹ năng làm việc nhóm
5.1 Kỹ năng xây dựng nhóm
- Xác dịnh nhu cầu/ động lực làm việc nhóm
- Lựa chọn các thành viên trong nhóm
- Xây dựng nội dung hoạt động nhóm
- Xây dựng nội quy của nhóm
- Lựa chọn nhóm trưởng
5.2 Kỹ năng phân công công việc trong nhóm
Khi phân công công việc trong nhóm, phải đảm bảo các yêu cầu sau;
- Hiệu quả nhân lực
- Tối ưu về thời gian
- Tiết kiệm chi phí
- Kết quả phải là tốt nhất
5.3 Kỹ năng lắng nghe và phản hồi tích cực
a) Lắng nghe tích cực là khả năng ngừng suy nghĩ và làm việc của mình
để hoàn toàn tập trung vào những gì mà ai đó đang nói
- Lắng nghe một cách chân thành, chăm chú, gợi mở (lắng nghe bằng cả ánh mắt và trái tim)
- Phản ánh lại nội dung của người nói
- Phản ánh lại cảm xúc của người nói
b) Phản hồi là đưa ra thông tin xác nhận lại hay đóng góp những ý kiến để phát triển những thông tin có được
*Những đặc điểm của việc đưa ra thông tin phản hồi tích cực là:
• Cùng thảo luận, khách quan
*Các bước của quá trình phản hồi mang tính xây dựng:
- Bước 1 Quan sát (nghe, xem) và suy nghĩ (tôi nhìn thấy gì? và tôi đánh giá như thế nào về những điều tôi nhìn thấy?)
- Bước 2 Kiểm tra nhận thức: Đặt các câu hỏi để chắc chắn rằng mình đã hiểu đúng ý định của người thực hiện
- Bước 3 Đưa ra ý kiến đóng góp của mình
Xác nhận và thừa nhận những ưu điểm (Cần giải thích tại sao lại đánh giá
đó là những ưu điểm)
Đưa ra các gợi ý để hoàn thiện hoặc nâng cao (Cần giải thích tại sao lại đưa ra các gợi ý đó)
Trang 175.4 Kỹ năng giải quyết xung đột trong nhóm
Người ta chia ra năm cách ứng phó với xung đột
- Cách thứ nhất là cứng rắn, áp đảo (kiểu cá mập) Cách này một bên luôn
áp đảo bên kia, đặt quyền lợi của mình hay nhóm mình trước quyền lợi của nhóm khác Nhóm này phải thắng trong tranh chấp Như vậy sẽ đặt mối quan hệ các bên vào tình trạng nguy hiểm, tạo thù địch, có kẻ thắng, người thua Nó cũng
có mặt tích cực là có thể tạo thay đổi hay dẫn đến tiến bộ
- Cách thứ hai là né tránh (kiểu con rùa) Đây là cách khi gặp xung đột thì
né tránh sự va chạm, sợ đối đầu với mâu thuẫn, không quan tâm đến nhu cầu của các bên, thua cũng không sao Cách này dễ tạo ra kết quả các bên cùng thua
- Cách thứ ba là nhường nhịn, xoa dịu (gấu bông) Cách này quan tâm đến giữa các mối quan hệ chứ không cần quan tâm đến kết quả quyền lợi Vì vậy loại người giải quyết xung đột theo kiểu này có thể hy sinh quyền lợi của mình nhưng giữa được mối quan hệ thân thiện với mọi người khác nhóm khác là được
- Cách thứ tư là cách thỏa hiệp (con chồn) Mỗi bên có thể phải hy sinh một chút quyền lợi để đạt được một số quyền lợi khác Họ cùng nhau tìm những giải pháp trung hòa để đôi bên cùng có một phần lợi ích Có thể tạo ra kết quả cùng thắng hoặc cùng thua thiệt
-Cách cuối cùng là hợp tác (chim cú) Cách này coi trọng cả mục đích và mối quan hệ Các bên hợp tác với nhau tìm ra giải pháp tốt nhất cho cả đôi bên, chú trọng sự đồng thuận Tất cả các bên phải cùng theo đuổi tìm kiếm giải pháp tốt cho các bên chứ không chỉ cho một bên Cách này tạo ra được kết quả cả hai bên đều thắng
5.5 Các mô hình làm việc nhóm trên lớp
5.5.1 Làm việc nhóm theo kỹ thuật mảnh ghép
- HS được phân thành các nhóm, mỗi nhóm thảo luận, tìm hiểu sâu về một
vấn đề Chẳng hạn: nhóm 1- thảo luận vấn đề A, nhóm 2- thảo luận vấn đề B, nhóm 3- thảo luận vấn đề C, nhóm 4- thảo luận thảo luận vấn đề D,…
- HS thảo luận nhóm về vấn đề đã được phân công
- Sau đó, mỗi thành viên của các nhóm này sẽ tập hợp lại thành các nhóm mới, như vậy trong mỗi nhóm mới sẽ có đủ các “chuyên gia” về vấn đề A, B, C, D, và mỗi “ chuyên gia” về từng vấn đề sẽ có trách nhiệm trao đổi lại với cả nhóm về vấn đề mà em đã có cơ hội tìm hiểu sâu ở nhóm cũ
5.5.2 Làm việc nhóm theo kỹ thuật phòng tranh
- GV nêu câu hỏi/ vấn đề cho cả lớp hoặc cho các nhóm
- Mỗi nhóm phác hoạ những ý tưởng về cách giải quyết vấn đề trên một tờ bìa và dán lên tường xung quanh lớp học như một triển lãm tranh
- HS cả lớp đi xem “ triển lãm’’và có thể có ý kiến bình luận hoặc bổ sung
- Cuối cùng, tất cả các phương án giải quyết được tập hợp lại và tìm ương án tối ưu
Trang 18ph-5.5.3 Làm việc nhóm theo kỹ thuật bể cá
Kỹ thuật bể cá là một kỹ thuật dùng cho thảo luận nhóm, trong đó một nhóm HS ngồi giữa lớp và thảo luận với nhau, còn những HS khác trong lớp ngồi xung quanh ở vòng ngoài theo dõi cuộc thảo luận đó và sau khi kết thúc cuộc thảo luận thì đưa ra những nhận xét về cách ứng xử của những HS thảo luận
Trong nhóm thảo luận có thể có một vị trí không có người ngồi HS tham gia nhóm quan sát có thể ngồi vào chỗ đó và đóng góp ý kiến vào cuộc thảo luận, ví dụ đưa ra một câu hỏi đối với nhóm thảo luận hoặc phát biểu ý kiến khi cuộc thảo luận bị chững lại trong nhóm Cách luyện tập này được gọi là phương pháp thảo luận "bể cá", vì những người ngồi vòng ngoài có thể quan sát những người thảo luận, tương tự như xem những con cá trong một bể cá cảnh Trong quá trình thảo luận, những người quan sát và những người thảo luận sẽ thay đổi vai trò với nhau
5.5.4 Làm việc nhóm theo kỹ thuật “Ổ bi”
Kỹ thuật "ổ bi" là một kỹ thuật dùng trong thảo luận nhóm, trong đó HS chia thành hai nhóm ngồi theo hai vòng tròn đồng tâm như hai vòng của một ổ
bi và đối diện nhau để tạo điều kiện cho mỗi HS có thể nói chuyện với lần lượt các HS ở nhóm khác
-
Trang 19CHUYÊN ĐỀ PHÒNG TRÁNH TAI NẠN THƯƠNG TÍCH CHO THIẾU NHI
Ở ĐỊA BÀN DÂN CƯ
-
I PHÒNG TRÁNH TAI NẠN THƯƠNG TÍCH TẠI CỘNG ĐỒNG GIAI ĐOẠN 2011 - 2015
Tai nạn thương tích là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây
tử vong và bệnh tật ở độ tuổi lao động Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), mỗi năm trên thế giới có hơn 5 triệu người tử vong và 10 triệu người tàn tật do tai nạn thương tích
Tại Việt Nam, tai nạn thương tích đang diễn biến rất phức tạp Theo PGS.TS Nguyễn Huy Nga, Cục trưởng Cục Quản lý môi trường y tế, Bộ Y tế tại Hội thảo Đánh giá giữa kỳ thực hiện Chỉ thị và Kế hoạch Phòng chống tai nạn thương tích tại cộng đồng của ngành Y tế giai đoạn 2011 - 2015, trung bình hàng năm có khoảng 900.000 trường hợp mắc tai nạn thương tích Trong đó có trên 34.000 người tử vong, chiếm 11 - 12% tổng số tử vong toàn quốc Tỷ suất
tử vong trung bình do tai nạn thương tích trong 5 năm (2006 - 2010) là 45,4/100.000 người; đứng đầu là tử vong do tai nạn giao thông với trung bình trên 15.000 người tử vong/năm, tiếp sau là đuối nước với trung bình 6.000 người
tử vong/năm, trong đó trẻ em và vị thành niên dưới 19 tuổi chiếm trên 50% Đuối nước cũng là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong do tai nạn thương tích ở trẻ em Ngoài ra, các nguyên nhân gây tai nạn thương tích khác như tai nạn lao động, tự tử, bỏng, ngộ độc, ngã, bạo lực … vẫn phố biến trong cộng đồng
Thời gian qua, ngành Y tế đã chủ động triển khai nhiều hoạt động để hạn chế sự gia tăng của tai nạn thương tích tại cộng đồng và đã đạt được một số kết quả nhất định Từ năm 2011 - 2013, ngành Y tế đã triển khai nhiều hoạt động truyền thông, giáo dục về phòng chống tai nạn thương tích, chăm sóc chấn thương, sơ cấp cứu ban đầu tai nạn thương tích trẻ em, phòng chống đuối nước… ở hầu hết các tỉnh/thành phố trên cả nước Trong giai đoạn này, tại 54 tỉnh/thành phố đã có 3.639.142 tờ rơi về sơ cấp cứu ngộ độc, tai nạn giao thông,
sơ cấp cứu bỏng, tai nạn lao động, phòng chống tai nạn thương tích trẻ em, 68.434 áp phích, 6.050 tranh lật, 3.700 tài liệu tập huấn, 240 pano về phòng chống tai nạn thương tích được xây dựng và phân phát cho cộng đồng, gần 60 tin, bài, phóng sự tuyên truyền về phòng chống tai nạn thương tích được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng, truyền hình địa phương
Hệ thống giám sát về mắc và tử vong tai nạn thương tích được thiết lập trên phạm vi toàn quốc, phản ánh được chính xác số trường hợp tử vong do tai nạn thương tích tại cộng đồng Mạng lưới cấp cứu và hệ thống chăm sóc chấn thương thiết yếu đã được củng cố Hệ thống chăm sóc chấn thương trước viện đã được thành lập với 25.377 cộng tác viên, trong đó có 15.670 cộng tác viên được
Trang 20tập huấn sơ cấp cứu Được trang bị 150 xe chuyên dụng, 8.651 túi cứu thương
Từ năm 2011, hệ thống tăng cường chăm sóc chấn thương trước viện được triển khai tại Hà Nội, Đồng Nai, Thừa Thiên Huế, Hưng Yên và thành phố Hồ Chí Minh với các hoạt động nâng cao năng lực về chăm sóc chấn thương trước viện, ghi chép báo cáo và truyền thông cho tình nguyện viên và cộng tác viên Mô hình cộng đồng an toàn được phổ biến, triển khai rộng rãi tại nhiều tỉnh, thành phố Hiện nay, cả nước có 68 cộng đồng an toàn Việt Nam và 10 xã, phường được công nhận cộng đồng an toàn quốc tế Giai đoạn 2011 - 2013, tỉ suất tử vong do tai nạn thương tích tại cộng đồng là 43,37/100.000 dân giảm hơn so với giai đoạn 2006 - 2010 (45,4/100.000)
Trong công tác phòng chống tai nạn thương tích tại cộng đồng giai đoạn
2014 - 2015, ngành Y tế sẽ tập trung giải quyết một số các vấn đề như: kiện toàn Ban chỉ đạo phòng chống tai nạn thương tích ngành Y tế, triển khai các mô hình cộng đồng an toàn tập trung vào các loại hình tai nạn thương tích có nguy cơ tử vong cao như tai nạn giao thông, tai nạn lao động, đuối nước, tai nạn thương tích trẻ em, tăng cường năng lực giám sát, truyền thông về phòng chống tai nạn thương tích tại cộng đồng…
II CÁCH PHÒNG CHỐNG CÁC LOẠI HÌNH TAI NẠN THƯƠNG TÍCH
Tai nạn thương tích thường được chia thành hai nhóm lớn là tai nạn thương tích không có chủ định và tai nạn thương tích có chủ định Việc phòng chống tai nạn thương tích được thực hiện bằng các biện pháp phòng ngừa chủ động và phòng ngừa thụ động
1 Tai nạn thương tích không có chủ định
Tai nạn thương tích không có chủ định thường xảy ra do sự vô ý hay không có
sự chủ ý của những người bị tai nạn thương tích hoặc của những người khác Các trường hợp thường gặp là tai nạn thương tích do giao thông như tai nạn ô tô,
xe đạp, xe máy, người đi bộ, tàu hỏa, tàu thủy, máy bay; do bị ngã, lửa cháy, nghẹt thở, chết đuối, ngộ độc
2 Tai nạn thương tích có chủ định
Loại hình tai nạn thương tích này gây nên do sự chủ ý của người bị tai nạn thương tích hay của cá nhân những người khác Các trường hợp thường gặp là tự
tử, giết người, bạo lực thành nhóm như chiến tranh, đánh nhau, hiếp dâm, hành
hạ trẻ em, hành hạ người già, bạo lực trong trường học
3 Các nguyên nhân gây nên tai nạn thương tích
3.1 Tai nạn giao thông
Là những trường hợp tai nạn xảy ra do sự va chạm bất ngờ, nằm ngoài ý muốn chủ quan của con người; chúng thường gây nên khi các đối tượng tham gia giao thông hoạt động trên đường giao thông công cộng, đường chuyên dùng hoặc ở các địa bàn giao thông công cộng khác Do chủ quan vi phạm luật lệ giao thông hay do gặp phải các tình huống, sự cố đột ngột không kịp phòng tránh nên đã gây ra thiệt hại, thương tổn đến tính mạng và sức khỏe
3.2 Bỏng
Trang 21Là tổn thương một hoặc nhiều lớp tế bào da khi cơ thể tiếp xúc với chất lỏng nóng, chất rắn nóng, lửa Các trường hợp tai nạn thương tích khác ở da do
sự phát xạ của tia cực tím hoặc phóng xạ, điện, chất hóa học cũng như bị tổn thương phổi do bị khói xộc vào cũng được xem là những trường hợp bị bỏng
3.3 Đuối nước
Là những trường hợp tai nạn thương tích xảy ra khi bị chìm trong chất lỏng như nước, xăng, dầu dẫn đến ngạt thở do thiếu oxygen hoặc ngừng tim dẫn đến tử vong trong vòng 24 giờ phải cần đến sự chăm sóc y tế hay bị các biến chứng khác
3.10 Tự tử và có ý định tự tử
Tự tử là trường hợp có thể gây nên tai nạn thương tích như ngộ độc hoặc ngạt thở mà có đủ bằng chứng xác định tử vong do chính nạn nhân tự gây ra với mục đích đem lại cái chết cho chính bản thân họ Có ý định tự tử là hành vi do
tự làm thương tổn bản thân nhưng chưa gây tử vong mà có đủ bằng chứng nạn nhân định đem lại cái chết cho bản thân Một dự định tự tử có thể dẫn đến thương tích hay không dẫn đến thương tích
4 Cách phòng tránh tai nạn thương tích cho thiếu nhi
Phòng chống tai nạn thương tích có thể thực hiện được qua việc phòng ngừa bằng phương pháp chủ động hoặc thụ động