1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Trải nghiệm và chiến lược đối phó với việc vô sinh của các cặp vợ chồng tại thành phố hồ chí minh hiện nay

162 5 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Trải nghiệm và chiến lược đối phó với việc vô sinh của các cặp vợ chồng tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
Tác giả Phạm Văn Huân
Người hướng dẫn TS. Trương Thị Hiền
Trường học Trường Đại Học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Xã hội học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 162
Dung lượng 8,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN (22)
    • 1.1. Tổng quan những công trình nghiên cứu có liên quan (22)
      • 1.1.1. Vô sinh như một hiện tượng y học (22)
      • 1.1.2. Vô sinh như một hiện tượng xã hội (25)
    • 1.2. Bối cảnh lịch sử, văn hóa, xã hội về vô sinh trên thế giới và tại Việt Nam 17 1. Bối cảnh lịch sử văn hóa xã hội về vô sinh trên thế giới (29)
      • 1.2.2. Bối cảnh kinh tế - văn hóa - xã hội và thực trạng vô sinh tại Việt Nam (34)
    • 1.3. Cơ sở lý thuyết (41)
      • 1.3.1. Lý thuyết kiến tạo xã hội (41)
      • 1.3.2. Lý thuyết tương tác biểu tượng về căng thẳng vai trò (42)
    • 1.4. Các khái niệm liên quan (43)
      • 1.4.1. Vô sinh, vô sinh nguyên phát và vô sinh thứ phát (43)
      • 1.4.2. Vai trò và căng thẳng vai trò (0)
      • 1.4.3. Chiến lược đối phó (0)
  • CHƯƠNG 2: TRẢI NGHIỆM CỦA CÁC CẶP VỢ CHỒNG VỀ VẤN ĐỀ VÔ SINH (47)
    • 2.1. Tổng quan mẫu nghiên cứu (47)
    • 2.2. Danh tính và vô sinh (55)
    • 2.3. Vô sinh trong bối cảnh văn hóa xã hội (61)
      • 2.3.1. Vô sinh và sự thất bại về vai trò (61)
      • 2.3.2. Giá trị của đứa con (71)
      • 2.3.3. Nhận định chung về quan niệm xã hội liên quan đến vô sinh (79)
    • 2.4. Nhịp điệu về trải nghiệm vô sinh (81)
      • 2.4.1. Vô sinh trong nhịp sống hằng ngày (81)
      • 2.4.2. Trải nghiệm vô sinh trong những dịp đặc biệt (85)
    • 3.2. Đa dạng sự lựa chọn và theo đuổi các phương pháp chữa trị vô sinh (93)
      • 3.2.1. Việc tiếp cận và điều trị theo phương pháp y học cổ truyền - Đông y (93)
      • 3.2.2. Các phương pháp điều trị Tây y (96)
  • CHƯƠNG 3: CÁC CHIẾN LƯỢC ĐỐI PHÓ CỦA CÁC CẶP VỢ CHÔNG VÔ 3.1. Định hướng điều trị (89)
    • 3.2.3. Các phương pháp điều trị dân gian khác (102)
    • 3.2.4. Nhận con nuôi (103)
    • 3.3. Chiến lược quản lý cảm xúc (108)
      • 3.3.1. Giữ kín vấn đề sinh sản (109)
      • 3.3.2. Niềm tin vào sự an bài của thượng đế (112)
      • 3.3.3. Chủ động kiến tạo cuộc sống khác (114)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (124)
  • PHỤ LỤC (129)

Nội dung

TÓM TẮT Đề tài Trải nghiệm và chiến lược đối phó với việc vô sinh của các cặp vợ chồng tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay tìm hiểu những trải nghiệm của các cặp vợ chồng về vấn đề vô s

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN

Tổng quan những công trình nghiên cứu có liên quan

Vấn đề vô sinh hiện nay đã gây nhiều tranh luận sôi nổi trong cộng đồng khoa học và truyền thông, nhưng phần lớn các nghiên cứu tập trung vào khía cạnh y tế và các chính sách liên quan đến điều trị khả năng sinh sản Các nghiên cứu trong lĩnh vực y học chủ yếu khám phá các yếu tố liên quan đến chẩn đoán và điều trị vô sinh tại Việt Nam, đồng thời tập trung vào trải nghiệm tâm lý xã hội của người bệnh Ngoài ra, còn có các nghiên cứu dân tộc học nhỏ, tuy nhiên vẫn hạn chế về số lượng, và hầu hết tập trung vào nhóm người vô sinh tiếp cận dịch vụ y tế Các nghiên cứu này thường bỏ qua các nhóm gặp khó khăn trong tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản đắt tiền Tổng quan tài liệu cho thấy, phần lớn nghiên cứu về vô sinh tại Việt Nam đều tập trung vào các yếu tố y học, tâm lý xã hội, và dân tộc học, tạo nền tảng cho các nghiên cứu xã hội học về vô sinh trong tương lai.

1.1.1 Vô sinh như một hiện tượng y học

Hiểu thông tin kỹ thuật trong các tài liệu nghiên cứu y khoa là thách thức lớn đối với người không có kiến thức chuyên môn về y tế Nội dung này được thiết kế phù hợp để đáp ứng nhu cầu của những chuyên gia trong lĩnh vực chẩn đoán y tế và điều trị vô sinh, giúp họ nắm bắt chính xác các phát hiện mới và phương pháp điều trị tiên tiến.

Các nghiên cứu từ góc độ y học đóng vai trò quan trọng trong việc hiểu rõ nguyên nhân và cơ chế của vô sinh Khi các phương pháp hỗ trợ sinh sản không ngừng phát triển và số lượng người tìm kiếm điều trị vô sinh tăng cao, các nghiên cứu này càng trở nên cần thiết để đánh giá hiệu quả của các phương pháp điều trị Những nghiên cứu kỹ thuật này giúp ghi lại kết quả điều trị chính xác, từ đó nâng cao chất lượng dịch vụ hỗ trợ sinh sản và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của bệnh nhân.

Theo bác sĩ Nguyễn Thị Phương Lê (2017), thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tỷ lệ vô sinh trung bình của các cặp vợ chồng trên toàn cầu từ 6 đến 12% Trong đó, khu vực châu Á - Thái Bình Dương là nơi có tỷ lệ sinh thấp nhất và tỷ lệ vô sinh cao nhất Theo số liệu của Liên Hợp Quốc, một số nước châu Á như Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên, Hàn Quốc, Thái Lan, Trung Quốc, Singapore trong những năm gần đây tỷ lệ sinh đã giảm xuống dưới mức sinh thay thế Trong khi đó, nghiên cứu toàn quốc tại Việt Nam do Bệnh viện Phụ sản Trung ương và Đại học Y

Năm 2015, Hà Nội đã khảo sát hơn 14.300 cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ (từ 15 đến 49 tuổi) tại 8 tỉnh thành đại diện cho 8 vùng sinh thái của cả nước, cho thấy tỷ lệ vô sinh của các cặp vợ chồng trong độ tuổi này là 7,7% Hiện tại, ước tính có khoảng một triệu cặp vợ chồng vô sinh, trong đó vô sinh nguyên phát chiếm 3,9%, vô sinh thứ phát là 3,8% Đặc biệt, khoảng 50% cặp vợ chồng vô sinh nằm trong độ tuổi dưới 30, cho thấy vấn đề vô sinh đang ngày càng gia tăng ở người trẻ.

Các nghiên cứu về vô sinh theo góc độ y khoa tập trung vào các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản cho các cặp vợ chồng vô sinh Theo đó, Nguyễn Đức Vy (2003) với đề tài nghiên cứu “Một số nguyên nhân và yếu tố ảnh hưởng đến vô sinh nữ tại bệnh viện phụ sản trung ương”, tiến hành phân tích và bàn luận một số đặc điểm của bệnh nhân vô sinh, những nguyên nhân vô sinh nữ và các yếu tố liên quan Nghiên cứu sử dụng bản hỏi cấu trúc gồm các thông tin khám lâm sàng và kết quả xét nghiệm để thu thập số liệu Kết quả nghiên cứu cho thấy những bệnh nhân được khảo sát có trình độ văn hóa, dân tộc kinh và sống ở khu vực thành thị chiếm tỉ lệ cao, với độ tuổi trung bình là 32,1 Phần lớn những người đến khám vô sinh muộn, trong đó một phần tư số người được khảo sát đã điều trị bằng y học dân tộc không có kết quả trước khi đến khám tại bệnh viện Về nguyên nhân vô sinh nữ, nghiên cứu cho thấy vô sinh do vòi tử cung, do tử cung, cổ tử cung, do buồng trứng là những nguyên nhân chính Bên cạnh những kết quả đề tài mang lại, một điểm đáng lưu ý là tác giả lựa chọn khách thể nghiên cứu là phụ nữ khám vô sinh tại bệnh viện Phụ Sản Trung Ương - trung tâm khám và điều trị vô sinh lớn nhất ở miền Bắc Những đối tượng được chọn nghiên cứu đã được khám và sàng lọc ở các tuyến trước nên cơ cấu các nguyên nhân vô sinh không mang tính đại diện

Nguyễn Đức Nhự (2015) nghiên cứu về bất thường nhiễm sắc thể và phát hiện mất giai đoạn AZFabcd ở những nam giới vô tinh và thiểu tinh nặng, sử dụng phương pháp lập bệnh án di truyền để thu thập thông tin cá nhân của bệnh nhân cũng như quá trình tiền sử sức khỏe, kết hợp phần mềm SPSS và Excel để phân tích dữ liệu Trong nghiên cứu thứ hai, Nguyễn Thị Minh Khai (2017) đánh giá khả năng của phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm, nhấn mạnh sự phát triển của các kỹ thuật phụ trợ, sử dụng khảo sát qua bảng hỏi và phân tích số liệu bằng SPSS và Excel, cho thấy các đặc điểm của nhóm bệnh nhân chuyển phôi trữ đông và các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả chuyển phôi lạnh tại Bệnh viện Phụ Sản Trung Ương từ 2012 đến 2014 Tuy nhiên, nghiên cứu này có tính đại diện chưa cao do phạm vi khảo sát hạn chế.

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Hạnh, Hoàng Thị Minh Phương, Ngô Thị Hải Châu (2010) đã làm rõ những yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến phụ nữ vô sinh trong quá trình điều trị thụ tinh ống nghiệm, như căng thẳng, mất ngủ, mặc cảm và lo lắng, làm giảm khả năng có thai Các yếu tố như thời gian điều trị kéo dài trên 5 năm và áp lực từ gia đình, xã hội góp phần làm trầm trọng các vấn đề tâm lý này Nghiên cứu sử dụng phương pháp điều tra qua bảng hỏi, cho phép bệnh nhân tự điền câu trả lời sau hai giờ, nhưng hạn chế về phạm vi địa lý và phương pháp chỉ sử dụng dữ liệu định lượng khiến kết quả chưa thể phản ánh toàn diện Ngoài ra, kỹ thuật thu thập thông tin cũng là một điểm cần lưu ý để nâng cao độ chính xác của các nghiên cứu trong lĩnh vực này.

Các nghiên cứu đã chứng minh mối quan hệ rõ ràng giữa các can thiệp y tế và phương pháp chữa bệnh hiệu quả hơn trong điều trị vô sinh, góp phần nâng cao hiểu biết y khoa về vấn đề này Ngoài ra, các nghiên cứu này còn cung cấp những quan sát ban đầu về phản ứng tâm lý xã hội của những người gặp phải vô sinh, mặc dù phương pháp nghiên cứu tâm lý xã hội trong mô hình y tế còn chưa đảm bảo tính chặt chẽ Mặc dù dữ liệu thu thập từ các phương pháp không chính thức và khung lý thuyết chưa hoàn toàn thuyết phục, nhưng việc nhận thức về mặt tâm lý xã hội vẫn thể hiện rõ tầm quan trọng trong nghiên cứu vô sinh theo góc độ xã hội Mô hình y học thực nghiệm không chỉ mang lại những dữ liệu quan trọng mà còn là nền tảng để nghiên cứu sâu hơn về các khía cạnh xã hội liên quan đến vô sinh.

1.1.2 Vô sinh như một hiện tượng xã hội

Song song với chiều dài lịch sử nghiên cứu vấn đề vô sinh dưới góc độ y tế, vô sinh cũng được nghiên cứu như một hiện tượng xã hội

Nghiên cứu của Melissa J Pashigian mang lại cái nhìn sâu sắc về ý nghĩa của chứng vô sinh ở Việt Nam đương đại qua khái niệm "niềm hy vọng" Bài viết dựa trên nghiên cứu dân tộc học tại Hà Nội từ năm 1995 đến 2004, phỏng vấn 50 phụ nữ đã lập gia đình để khám phá trải nghiệm và chiến lược đối mặt với vô sinh Kết quả cho thấy, "niềm hy vọng" đóng vai trò như một chiến lược quan trọng trong hành trình tìm kiếm phương pháp điều trị để có con của các phụ nữ Việt Nam Tuy nhiên, nghiên cứu chủ yếu tập trung vào nhóm phụ nữ điều trị tại một bệnh viện phụ sản, có thể chưa phản ánh đầy đủ chân dung và các chiến lược của phụ nữ vô sinh trong các hoàn cảnh khác nhau Hơn nữa, các dữ liệu trong nghiên cứu được thu thập trước sự phát triển mạnh mẽ của phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm tại Việt Nam sau năm 2004, làm nổi bật sự cần thiết của các nghiên cứu mới để hiểu rõ hơn về trải nghiệm của phụ nữ vô sinh thời kỳ hiện đại.

Các nghiên cứu về vô sinh trên thế giới đã tập trung vào trải nghiệm tâm lý của người vô sinh, với nhiều cảm xúc tiêu cực như xấu hổ, lo lắng, sợ hãi, căng thẳng, cảm giác tội lỗi, ngạc nhiên, giận dữ, bị cô lập và thất vọng, xuất phát từ niềm tin về tầm quan trọng của việc làm cha mẹ và ảnh hưởng xã hội Vô sinh thường được xem là giai đoạn rất căng thẳng và khó khăn đối với những người mắc phải, gây ảnh hưởng đến bản ngã, sự thỏa mãn tình dục và hạnh phúc hôn nhân, theo các nghiên cứu tâm lý của Musa Ramli, Ramli Roszaman, Jordan C, Revenson TA và Hirsch.

Nhiều nghiên cứu cho thấy trải nghiệm tâm lý của người vô sinh khác nhau rõ rệt ở các nước phát triển và đang phát triển, cũng như giữa các nền văn hóa và giới tính khác nhau (Ombelet W., 2011; Guido Pennings, 2008; Inhorn, M.C và Gürtin, Z.B, 2012; Nahar P., 2012; Dyer SJ, Patel M, 2012) Theo WHO (2008), ở các cộng đồng nghèo, việc không có con có thể gây ra các vấn đề lớn, đặc biệt là đối với phụ nữ, như bị kỳ thị xã hội, gánh nặng tài chính, cô lập xã hội, thậm chí là nguyên nhân của bạo lực.

Bên cạnh đó, những tài liệu phân tích về thực trạng vô sinh trên thế giới là nguồn dữ liệu để có cái nhìn tổng quan khái quát

Báo cáo từ khảo sát về sức khỏe và nhân khẩu tại các quốc gia đang phát triển (DHS) từ năm 1995 đến 2000, bao gồm Việt Nam năm 1997, phân tích dữ liệu từ 47 nghiên cứu để đánh giá xu hướng và sự khác biệt của phụ nữ không có khả năng sinh con Nghiên cứu cho thấy những người phụ nữ chưa từng sinh con có nguy cơ ly hôn hoặc ly thân cao hơn, trong khi những người không có con thường đã kết hôn nhiều lần hơn Nhận con nuôi được xem là phương pháp quan trọng để đối phó với tình trạng vô sinh, khi phụ nữ không có con có khả năng sống trong các gia đình có con nuôi cao hơn 15% so với phụ nữ có con riêng Báo cáo tổng quan về tình hình, xu hướng và các biến thể của phụ nữ không con trong bối cảnh các quốc gia đang phát triển.

Báo cáo "Historical Walk: The HRP Special Programme and Infertility" trình bày quá trình hình thành và phát triển của các chính sách và nghiên cứu liên quan đến khả năng sinh sản toàn cầu dựa trên dữ liệu của HRP Các nghiên cứu lâm sàng đa ngành do HRP tài trợ trong thập niên 1970-1980 đã xác định các gánh nặng bệnh tật và mô hình gây vô sinh trên toàn cầu Quá trình này tiếp tục trong thập kỷ tiếp theo khi WHO xây dựng các hướng dẫn chẩn đoán, quản lý và điều trị vô sinh, nhấn mạnh vai trò của chăm sóc sức khỏe ban đầu Các cuộc tham vấn đồng thuận từ 2001 đến 2011 giúp đưa ra đề xuất cho các bên liên quan, đồng thời làm rõ các rào cản và bất bình đẳng trong tiếp cận dịch vụ vô sinh Báo cáo cũng ghi nhận sự tham gia của Việt Nam trong các nghiên cứu của HRP bắt đầu từ năm 1979, cùng với các bước đi quan trọng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe sinh sản và điều trị vô sinh trên thế giới.

Chuyên khảo "Biomedical infertility care in poor resource countries: barriers, access and ethics" là kết quả của báo cáo từ Hội thảo về các khía cạnh văn hóa, xã hội và đạo đức trong chăm sóc vô sinh tại các nước nghèo, được tổ chức tại Genk, Bỉ, năm 2012 Báo cáo này làm rõ thực trạng cung cấp dịch vụ chăm sóc vô sinh trong các bối cảnh xã hội khác nhau, nêu bật các rào cản, khó khăn về tiếp cận và các vấn đề đạo đức liên quan đến việc điều trị vô sinh ở các quốc gia có nguồn lực hạn chế.

Bối cảnh lịch sử, văn hóa, xã hội về vô sinh trên thế giới và tại Việt Nam 17 1 Bối cảnh lịch sử văn hóa xã hội về vô sinh trên thế giới

1.2.1 Bối cảnh lịch sử văn hóa xã hội về vô sinh trên thế giới

Vô sinh và khả năng sinh sản dưới góc nhìn thần thánh hóa

Trước khi nghiên cứu trải nghiệm và chiến lược đối phó với vô sinh ở các cặp vợ chồng tại TP.HCM hiện nay, chúng tôi xem xét quá khứ để hiểu rõ tiến trình lịch sử, hệ giá trị và các yếu tố tự nhiên cũng như xã hội ảnh hưởng đến khả năng sinh sản.

Từ xa xưa, khả năng sinh sản và vô sinh luôn là mối quan tâm hàng đầu của cả đàn ông và phụ nữ trong các nền văn hóa cổ đại Việc duy trì nòi giống và truyền đời là trọng yếu trong các cộng đồng xưa, phản ánh tầm quan trọng của khả năng sinh sản đối với sự tồn tại của một cộng đồng Mỗi vùng đất đều có những tập tục và truyền thống dân gian riêng để giải quyết vấn đề vô sinh, thể hiện sự đa dạng và sâu sắc của các phương pháp truyền thống trong việc chăm sóc sức khỏe sinh sản.

Trong văn hóa Ấn Độ cổ đại, người ta có phong tục tôn vinh "Linga" (cơ quan sinh dục nam) và "Yoni" (cơ quan sinh dục nữ), thể hiện sự thiêng liêng của sự sinh sản Một lỗ trên cây đá hoặc cây cẩu, tượng trưng cho đường sinh nở của nữ giới, được coi là mang lại may mắn về khả năng sinh sản cho những người đi qua vật phẩm này Phong tục này không chỉ phổ biến ở Ấn Độ mà còn xuất hiện trên Đảo Innisfallen ở County Kerry, Ireland và nhiều nơi khác trên thế giới, phản ánh tín ngưỡng tôn vinh sinh sản của các nền văn hóa cổ đại.

Theo Enn Kasak (2000), trong nghệ thuật và y học cổ đại, đặc biệt tại Chaldean và Babylon, chiêm tinh và số học đóng vai trò vô cùng quan trọng, đặc biệt liên quan đến chủ đề vô sinh Người xưa cẩn trọng chọn ngày lành tháng tốt để tăng khả năng sinh sản, dựa trên các quan sát về chu kỳ mặt trăng Các nhà số học cổ đại đã chỉ ra mối liên hệ giữa trăng tròn và sự thay đổi của chu kỳ kinh nguyệt, góp phần ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của phụ nữ.

Nhiều tập tục truyền thống nhằm tăng khả năng sinh sản cho phụ nữ đã được lưu truyền qua nhiều thế hệ Bùa hộ mệnh và mặt dây chuyền may mắn là những vật phẩm phổ biến từ thời kỳ cổ đại của người Ả Rập và Ai Cập, với niềm tin mạnh mẽ vào khả năng giúp sinh con Trong giấy cói Ebers, được viết khoảng năm 1550 trước Công nguyên từ lăng mộ EI Assassif, có ghi nhận các phương pháp chẩn đoán mang thai và niềm tin rằng phụ nữ có đốm trước mắt thường vô sinh.

Theo nghiên cứu của K Bharathi & V V L Prasuna (2009), các tác phẩm cổ đại của Ấn Độ giáo thể hiện kiến thức đáng kể về sản khoa, đặc biệt về chu kỳ thai kỳ kéo dài 10 tháng âm lịch Các nghi lễ truyền thống được thực hiện nhằm đảm bảo quá trình sinh nở thuận lợi, tránh các tác nhân xấu như quỷ quái có thể gây dị tật cho trẻ sơ sinh.

Người Nhật cổ đại tin rằng một số "linh hồn bị niêm phong" chịu trách nhiệm cho sự vô sinh nữ, phản ánh niềm tin tâm linh về vấn đề sinh sản Trong hệ thống thần linh phong phú của Hy Lạp cổ đại, nhiều nữ thần liên quan đến khả năng sinh sản, như Eileithyia biểu tượng là mặt trăng và con bò để thúc đẩy sự sinh sản và phát triển Artemis, anh em sinh đôi của Apollo và con gái của Leto, được Eileithyia giúp đỡ vào thế giới, thể hiện khả năng sinh sản vượt trội qua tượng mô phỏng với mười sáu bộ ngực nở nang Hera, nữ thần hôn nhân và vợ của Zeus, thể hiện vai trò bảo vệ hạnh phúc gia đình trong thần thoại Hy Lạp Thực hành y học của người Hy Lạp cổ đại thường dựa trên niềm tin thần thánh, phản ánh sự kết hợp giữa tâm linh và y học trong văn hóa cổ đại.

Như vậy, từ thời Trung Cổ trở về trước, con người đã có những lý giải khác nhau xoay quanh khía cạnh thần thánh hóa về khả năng sinh sản và vấn đề vô sinh Điều này tương ứng với giai đoạn thần học trong định luật ba giai đoạn của August Comte về nhận thức của con người Trong đó, con người lý giải các hiện tượng xã hội bằng các lực lượng siêu nhiên hay sự an bài của thượng đế (Nguyễn Xuân Nghĩa, 2006)

Vô sinh và khả năng sinh sản khi tiếp cận khía cạnh khoa học

Trong quá trình phát triển của y học, các bác sĩ đã loại bỏ các yếu tố thần thánh và mê tín để thúc đẩy y học dựa trên bằng chứng thực tế Các trường y học bắt đầu xuất hiện từ thế kỷ thứ 7 trước Công nguyên, và Hippocrates, xuất hiện năm 460 T.C.N, được xem là cha đẻ của y học phương Tây Một phương pháp thử nghiệm thú vị của Hy Lạp mô tả rằng: “Nếu một người phụ nữ không thụ thai, và muốn xác định khả năng mang thai, hãy quấn cô ấy trong chăn và xông khói bằng dầu hoa hồng từ bên dưới; nếu có dấu hiệu của dầu xuất hiện trên cơ thể đến lỗ mũi và miệng, thì cô ấy không vô sinh” (W.J Stewart McKay, M.B, 1901) Ở Anh, vào năm 1518, một trường đại học được thành lập để đào tạo bác sĩ, mặc dù nữ hộ sinh chưa được đào tạo chính quy Khoảng năm 1540, dưới thời vua Henry VIII, cuốn sách "The Byrth of Mankynde" ra đời, giúp các nữ hộ sinh tiếp cận kiến thức sản khoa một cách dễ dàng hơn.

Năm 1752, Boehmerin đề xuất mối liên hệ giữa vô sinh và sự phát triển của thai ngoài tử cung, mở đầu cho các nghiên cứu về nguyên nhân gây vô sinh phụ nữ Đến năm 1786, nhà khoa học Lazzaro Spallanzani đã xác định rằng tinh trùng là yếu tố cần thiết để thụ tinh, đồng thời chứng minh rằng chúng chứa nhân và tế bào chất, góp phần làm sáng tỏ quá trình thụ tinh trong sinh học.

Vào khoảng năm 1827, hai khám phá quan trọng đã được ghi nhận trong lĩnh vực sinh học Albert Van Kolliker đã chứng minh nguồn gốc của tinh trùng từ các tế bào tinh hoàn, xác nhận rằng tinh trùng thụ tinh cho noãn và trải qua quá trình phân chia Ông cũng đề xuất rằng các đặc điểm di truyền được truyền qua nhân tế bào Trong khi đó, Carl Ernst Von Baer đã phát hiện ra noãn của động vật có vú, góp phần quan trọng vào sự phát triển của phôi học.

Trong khi đó, James Marion Sims gây sự chú ý với nghiên cứu về âm đạo "Ghi chú lâm sàng về phẫu thuật tử cung" được viết vào năm 1866, giúp tách biệt phụ khoa khỏi sản khoa như một chuyên khoa Cuốn sách của ông rất đáng chú ý vì mô tả chính xác về thời kỳ hoàng thể liên quan đến chu kỳ kinh nguyệt

Năm 1839, Augustin Nicolas Gendrin đã nhận thức rõ rằng rụng trứng kiểm soát chu kỳ kinh nguyệt hơn là ảnh hưởng của mặt trăng, đồng thời làm rõ mối liên hệ giữa thụ thai và chu kỳ kinh nguyệt Vào năm 1871, Sigmund khẳng định rằng phụ nữ có kinh nguyệt do không thể thụ thai Năm 1965, Đại hội đồng Y tế Thế giới công nhận quyền của con người trong việc quyết định các nhu cầu về sức khỏe sinh sản, bao gồm quyền lựa chọn cá nhân, xác định quy mô gia đình và thời điểm sinh con dựa trên ý thức lương tâm.

Chương trình đào tạo, phát triển và nghiên cứu mở rộng về sinh sản của con người (HRP) được thành lập vào năm 1972, nhằm thúc đẩy nghiên cứu và hợp tác toàn cầu về sinh sản Một trong những hội nghị chuyên đề đầu tiên do HRP tài trợ đã quy tụ các chuyên gia nghiên cứu sinh sản của loài linh trưởng và con người, góp phần nâng cao kiến thức trong lĩnh vực này Đến năm 1975, nhóm khoa học về dịch tễ học vô sinh được thành lập nhằm hỗ trợ các nghiên cứu dịch tễ học và bệnh học vô sinh toàn cầu Nhóm này đóng vai trò then chốt trong việc cung cấp phương tiện phối hợp nghiên cứu, so sánh kết quả giữa các quốc gia khác nhau trên thế giới để nâng cao hiểu biết và ứng dụng trong lĩnh vực sinh sản.

Vào năm 1978, đứa bé đầu tiên trên thế giới ra đời bởi kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) tại Vương quốc Anh (Melissa Pashigian, 2009)

Năm 1979, nhóm công tác chẩn đoán và điều trị vô sinh được thành lập nhằm đáp ứng các khuyến nghị của Nhóm khoa học được Chương trình thừa nhận, nhằm thúc đẩy nghiên cứu và nâng cao nhận thức về vô sinh Hội thảo đầu tiên trong khu vực do Hiệp hội sản phụ khoa Kenya tại Nairobi tổ chức đã tạo nền tảng cho các hoạt động này Nhóm đặc nhiệm đã tiến hành các nghiên cứu dịch tễ học đầu tiên tại Brazil, Trung Quốc và Ấn Độ, nhận thấy việc xác định nguyên nhân vô sinh ở cả nam và nữ đều cần xem xét nhu cầu chăm sóc sức khỏe cộng đồng Tuy nhiên, theo Tuyên bố Alma Ata, vai trò của WHO đã chuyển hướng sang thúc đẩy chăm sóc sức khỏe ban đầu bằng cách điều chỉnh và chuyển giao các công nghệ sẵn có, nhằm cải thiện dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại các nước đang phát triển.

Cơ sở lý thuyết

1.3.1 Lý thuyết kiến tạo xã hội

Lý thuyết kiến tạo xã hội nhấn mạnh vai trò năng lực con người trong việc kể câu chuyện mang lại ý nghĩa cho cuộc sống Theo Peter Berger, xã hội không chỉ là một thực thể bên ngoài cá nhân mà còn tồn tại như một chủ thể chủ động tạo ra và duy trì các công trình xã hội, chứ không đơn thuần là nơi cá nhân bị áp đặt Cuộc sống của chúng ta không chỉ bị chi phối bởi các thế hệ đương thời mà còn bởi những người đã qua đời trong quá khứ, ảnh hưởng đến chuẩn mực và quy tắc xã hội mà chúng ta nội tâm hóa Chúng ta liên tục bảo vệ, tái tạo hoặc biến đổi các chuẩn mực xã hội trong các mối quan hệ với những chủ thể khác, qua đó góp phần vào quá trình hình thành và phát triển của xã hội (Trần Hữu Quang, 2011).

Thuyết kiến tạo xã hội giải thích rằng nhiều hiện tượng mà chúng ta cho là tự nhiên đều được hình thành và xác định dựa trên các yếu tố xã hội Một kiến tạo xã hội là cách định nghĩa hoặc nhận thức về một tình huống hay hiện tượng nào đó, và chính các cộng đồng xã hội đã chấp nhận, xác nhận những định nghĩa này Đây là một quá trình sáng tạo và kiến giải dựa trên văn hóa, thể hiện rằng xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành cách chúng ta hiểu và nhìn nhận thế giới xung quanh.

Vô sinh không chỉ là một vấn đề sinh học hay chẩn đoán y khoa mà còn là một thực tế xã hội được kiến tạo Quá trình trải nghiệm vô sinh của cặp vợ chồng không tự nhiên quyết định bởi sự suy yếu sinh lý mà còn phụ thuộc vào cách họ giải thích, phản ứng và tìm ý nghĩa cho các triệu chứng sinh lý cùng các điều kiện xã hội xung quanh (Greil, 1991) Theo lý thuyết kiến tạo xã hội, các nghiên cứu tập trung vào trải nghiệm cá nhân và các chiến lược đối phó với vô sinh, đồng thời xem xét các yếu tố xã hội tác động sâu sắc đến quá trình này.

Các yếu tố như giới tính, tôn giáo, mối quan hệ, văn hoá, dân tộc, tình trạng kinh tế, trình độ giáo dục và can thiệp y tế đều do thực tại xã hội định hình, góp phần giải thích những trải nghiệm và chiến lược đối phó với vấn đề vô sinh Mặc dù những người trải qua vô sinh có thể đồng cảm, mỗi người đều có trải nghiệm và cách lý giải riêng về hành trình của mình Chính cá nhân mới là người hiểu rõ nhất hoàn cảnh và có thể lựa chọn chiến lược phù hợp để đối mặt với vô sinh.

1.3.2 Lý thuyết tương tác biểu tượng về căng thẳng vai trò

Theo lý thuyết tương tác biểu tượng, vai trò là kết quả của quá trình tương tác mang tính học hỏi và sáng tạo Các vai trò xã hội không luôn được thực hiện một cách cứng nhắc, mà hình thành qua quá trình thương lượng giữa các vai trò khác nhau Trong các cặp vợ chồng vô sinh, câu hỏi đặt ra là họ đã thương lượng như thế nào trong quá trình tương tác của mình, và những trường hợp thương lượng bất thành đã ảnh hưởng ra sao đến khả năng thoát khỏi tình trạng này.

Xã hội tạo ra một khung cơ cấu tổng quát trong đó cá nhân có thể hình thành những “bài bản” riêng dựa trên nhận thức và cách ứng xử cá nhân Theo lý thuyết này, xã hội của cá nhân được xây dựng dựa trên nhận thức về chính mình và người khác, cùng cách cá nhân phản ứng với những nhận thức đó Cơ cấu xã hội quy định hành động và cuộc sống của mỗi người, ảnh hưởng đến các yếu tố như trình độ học vấn, nghề nghiệp, nguồn gốc xuất thân và tôn giáo của các cặp vợ chồng vô sinh Nghiên cứu sử dụng lý thuyết tương tác biểu tượng về vai trò để phân tích cách các yếu tố xã hội ảnh hưởng đến nhận thức về vai trò và việc thực hiện vai trò của họ.

Các khái niệm liên quan

1.4.1 Vô sinh, vô sinh nguyên phát và vô sinh thứ phát Định nghĩa dưới góc độ lâm sàng và dịch tễ thường được sử dụng trong nghiên cứu về vô sinh Trong đó, định nghĩa về mặt lâm sàng được Tổ chức Y tế Thế Giới (WHO, 2000) sử dụng, xem vô sinh là một bệnh của hệ thống sinh sản được xác định bởi việc không mang thai lâm sàng sau 12 tháng trở lên giao hợp bình thường mà không ngừa thai Trong khi dưới góc độ dịch tễ học, WHO định nghĩa vô sinh là những phụ nữ trong độ tuổi sinh sản (từ 15 đến 49) có khả năng mang thai cho biết là cố gắng mang thai không thành công từ hai năm trở lên

Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng định nghĩa lâm sàng (WHO), tình trạng một cặp vợ chồng không thể có thai sau 1 năm chung sống, giao hợp bình thường, không ngừa thai được xem là tình trạng vô sinh (WHO, 2000)

Vô sinh được chia thành hai loại chính là vô sinh nguyên phát và vô sinh thứ phát Vô sinh nguyên phát xảy ra khi cặp vợ chồng chưa từng có thai, trong khi đó, vô sinh thứ phát xảy ra khi họ đã có ít nhất một lần mang thai thành công Hiểu rõ các loại vô sinh giúp xác định chính xác nguyên nhân và có phương pháp điều trị phù hợp để tăng khả năng thụ thai.

Một người phụ nữ không thể sinh con do không có khả năng mang thai hoặc không thể mang thai để sinh con được xem là vô sinh nguyên phát Điều này bao gồm những phụ nữ gặp khó khăn trong việc thụ thai hoặc gặp các vấn đề khiến quá trình mang thai không thành công Ngoài ra, những phụ nữ mang thai nhưng bị sẩy thai tự nhiên hoặc đứa trẻ không được sinh ra đều được xem là vô sinh nguyên phát, phản ánh các vấn đề liên quan đến khả năng sinh sản của người phụ nữ.

Vô sinh thứ phát là tình trạng của người phụ nữ không thể mang thai sau nhiều lần mang thai trước đó hoặc không có khả năng mang thai để sinh con Những người gặp phải sẩy thai tự nhiên liên tiếp, mang thai dẫn đến thai chết lưu, hoặc đã từng có thai nhưng sau đó không thể mang thai trở lại đều được coi là vô sinh thứ phát.

Trong nghiên cứu xã hội học về trải nghiệm bệnh tật, việc xác định khái niệm về bản thân khi cá nhân thương lượng và giải thích triệu chứng bệnh đóng vai trò quan trọng ảnh hưởng đến trải nghiệm của họ Đối với vô sinh theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới dựa trên góc độ y học lâm sàng, đây là tình trạng không mang thai sau 12 tháng giao hợp bình thường không tránh thai Tuy nhiên, tiếp cận chăm sóc y tế không phải là yếu tố duy nhất quyết định cách nhìn nhận và trải nghiệm của cá nhân về chính mình trong mối quan hệ với vô sinh.

Trong nghiên cứu này, tác giả nhấn mạnh rằng khái niệm “danh tính” đề cập đến cách mọi người định nghĩa về bệnh tật và sau đó tái tạo lại danh tính của chính mình phù hợp với trải nghiệm cá nhân (David Karp, 1994).

1.4.3 Vai trò và căng thẳng vai trò

Như đã trình bày ở trên, vô sinh không chỉ là vấn đề y khoa nhưng còn có mối tương quan với việc thực hiện một vai trò xã hội mong muốn Mỗi vai trò sẽ tương ứng với một vị trí xã hội nhất định Khi cá nhân được xác định một vị trí tức một thế đứng trong một nhóm, một đoàn thể, tổ chức được xã hội quy định, cá nhân cần phải ứng xử phù hợp với những mong đợi của xã hội theo vị trí đó Cụ thể, vai trò là cách xã hội qui định một cá nhân phải ứng xử như thế nào khi ở vào một vị trí xã hội cụ thể nào đó (Nguyễn Xuân Nghĩa, 2006)

Trong hôn nhân, các cặp vợ chồng đảm nhiệm các vị trí và vai trò xã hội nhất định, phản ánh mong đợi của xã hội đối với họ Nỗ lực có con thường được xem là quá trình xây dựng và thể hiện vai trò xã hội phù hợp với mong muốn cá nhân và gia đình Đó là cách các cá nhân xác định khả năng sinh con như một phần quan trọng trong việc thực hiện các vai trò xã hội của mình, đồng thời phải đối diện với những căng thẳng và thử thách liên quan đến nhiệm vụ này.

Căng thẳng vai trò xảy ra khi cá nhân cảm thấy yêu cầu trong vai trò hiện tại mâu thuẫn hoặc không thể đáp ứng đòi hỏi của vai trò mới Vấn đề vô sinh có thể gây ra căng thẳng vai trò cho các cặp vợ chồng do áp lực từ mong đợi của gia đình và xã hội về việc có con (Nguyễn Xuân Nghĩa, 2006).

Theo Nguyễn Văn Thọ (2009), từ gốc Latin "colpus" có nghĩa là một cú đánh hoặc cắt, sau đó chuyển sang tiếng Pháp thành "couper" có nghĩa là hành động cắt, chặt Ý nghĩa ban đầu của từ là sự đánh hoặc cắt, nhưng sau đó phát triển thành ý nghĩa bóng là đấu tranh, đối phó để vượt qua khó khăn Trong tiếng Anh, khái niệm "cope" thể hiện khả năng đối phó, đương đầu với các tình huống bất thường và căng thẳng Trong nghiên cứu về vấn đề vô sinh của các cặp vợ chồng, tác giả sử dụng khái niệm chiến lược đối phó để mô tả các phương thức họ sử dụng để vượt qua khó khăn, bao gồm trốn tránh vấn đề, đương đầu, tự kiểm soát, chấp nhận trách nhiệm và tìm kiếm sự hỗ trợ xã hội.

Vô sinh đã là một vấn đề lâu dài và đáng quan tâm trong các nền văn hóa khác nhau, trong đó có xã hội Việt Nam truyền thống Trong xã hội Việt Nam, việc trở thành cha mẹ không chỉ là trách nhiệm cá nhân mà còn là nghĩa vụ xã hội của cả nam và nữ trưởng thành, khiến vô sinh được xem là một vấn đề xã hội nghiêm trọng Trong nhiều thập kỷ, chính sách kế hoạch hóa gia đình và kiểm soát sinh sản đã tập trung vào việc giảm tỷ lệ sinh thay vì điều trị vô sinh, mặc dù nhà nước đã bắt đầu quan tâm đến các phương pháp điều trị vô sinh gần đây Các nghiên cứu về vô sinh chủ yếu tập trung vào khía cạnh y khoa và tâm lý, trong khi tác động xã hội của vô sinh đối với các cặp đôi tại Việt Nam vẫn còn hạn chế Chính sách và nhận thức về vô sinh đang dần thay đổi, mở ra hướng nhìn mới từ góc độ xã hội học để nâng cao hiểu biết và hỗ trợ các cặp vợ chồng vô sinh.

Vấn đề vô sinh của các cặp vợ chồng đang đặt ra nhu cầu nghiên cứu xã hội học về những trải nghiệm và chiến lược đối phó của họ Đây là lĩnh vực mới mẻ với ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc Trong nghiên cứu này, chúng tôi tập trung vào việc hiểu rõ các trải nghiệm của các cặp vợ chồng dựa trên lý thuyết kiến tạo xã hội và tương tác biểu tượng về vai trò.

TRẢI NGHIỆM CỦA CÁC CẶP VỢ CHỒNG VỀ VẤN ĐỀ VÔ SINH

CÁC CHIẾN LƯỢC ĐỐI PHÓ CỦA CÁC CẶP VỢ CHÔNG VÔ 3.1 Định hướng điều trị

Ngày đăng: 27/03/2023, 18:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh, (1992), “Việt Nam văn hóa sử cương”, Tái bản theo nguyên bản của Quan hải tùng thư, Nxb Khoa sử trường đại học Sư phạm TP.HCM, 125 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương”, Tái bản theo nguyên bản của Quan hải tùng thư, "Nxb Khoa sử trường đại học Sư phạm TP.HCM
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Khoa sử trường đại học Sư phạm TP.HCM"
Năm: 1992
3. Bộ Y Tế, (2006), Thông tư liên tịch hướng dẫn tổ chức thực hiện chiến dịch tăng cường tuyên truyền, vận động, lồng ghép dịch vụ sức khỏe sinh sản/ kế hoạch hóa gia đình, Số: 02/2006/TTLT-UBDSGĐTE-BYT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịch hướng dẫn tổ chức thực hiện chiến dịch tăng cường tuyên truyền, vận động, lồng ghép dịch vụ sức khỏe sinh sản/ kế hoạch hóa gia đình
Tác giả: Bộ Y Tế
Năm: 2006
4. Bustreo F. & Mbizvo M. (2012), “Human Reproductive Program: the first partnership for health and development at the WHO”, Gynecol Obstet Invest, 74, 181–184 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Human Reproductive Program: the first partnership for health and development at the WHO”, "Gynecol Obstet Invest
Tác giả: Bustreo F. & Mbizvo M
Năm: 2012
6. Nguyễn Văn Chính, (1999), “Cấu trúc trọng nam trong gia đình và tập quán sinh đẻ của người Việt”, Tap chí Xã Hội Học số 3 và 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu trúc trọng nam trong gia đình và tập quán sinh đẻ của người Việt
Tác giả: Nguyễn Văn Chính
Năm: 1999
7. Donald Robert Johnston. (1963), “The history of human infertility”, Presidential Address - Canadian Society Sách, tạp chí
Tiêu đề: The history of human infertility”
Tác giả: Donald Robert Johnston
Năm: 1963
8. Ngô Thị Tuấn Dung, (2012), “Nghiên cứu giá trị con cái ở gia đình”, Nghiên cứu Gia đình và Giới, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu giá trị con cái ở gia đình
Tác giả: Ngô Thị Tuấn Dung
Nhà XB: Nghiên cứu Gia đình và Giới
Năm: 2012
9. Dyer SJ, Patel M. (2012), “The economic impact of infertility on women in developing countries - a systematic review”. Facts Views Vis Obgyn;4(2):102-109 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The economic impact of infertility on women in developing countries - a systematic review”. "Facts Views Vis Obgyn
Tác giả: Dyer SJ, Patel M
Năm: 2012
10. Enn Kasak, (2000), “Ancient astrology as a common root for science and pseudo-science”, The Folk Belief and Media Group of ELM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ancient astrology as a common root for science and pseudo-science
Tác giả: Enn Kasak
Nhà XB: The Folk Belief and Media Group of ELM
Năm: 2000
11. Ferro-Luzzi, G. E., Appadurai, A., ..., và Stein, H. F. (1980), “The Female Lingam: Interchangeable Symbols and Paradoxical Associations of Hindu Gods and Goddesses”, Current Anthropology, 21(1), 45–68.http://www.jstor.org/stable/2741742 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Female Lingam: Interchangeable Symbols and Paradoxical Associations of Hindu Gods and Goddesses”, "Current Anthropology, 21
Tác giả: Ferro-Luzzi, G. E., Appadurai, A., ..., và Stein, H. F
Năm: 1980
12. Guido Pennings. (2008), “Ethical issues of infertility treatment in developing countries”, ESHRE Monographs, Volume 2008, Issue 1, 15–20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ethical issues of infertility treatment in developing countries”, "ESHRE Monographs
Tác giả: Guido Pennings
Năm: 2008
13. Guido Pennings. (2008), “Ethical issues of infertility treatment in developing countries”, ESHRE Monographs, Volume 2008, Issue 1, 15–20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ESHRE Monographs
Tác giả: Guido Pennings
Năm: 2008
15. Mai Văn Hai, (1994), “Đôi nét về hệ giá trị gia đình Việt Nam trong lịch sử”, Nghiên cứu gia đình và giới, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đôi nét về hệ giá trị gia đình Việt Nam trong lịch sử
Tác giả: Mai Văn Hai
Năm: 1994
16. Mai Văn Hai, (2017), “Nỗi bất hạnh của người phụ nữ Việt Nam qua ca dao, tục ngữ”. Nghiên cứu gia đình và giới, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nỗi bất hạnh của người phụ nữ Việt Nam qua ca dao, tục ngữ”. "Nghiên cứu gia đình và giới
Tác giả: Mai Văn Hai
Năm: 2017
18. Hirsch AM, Hirsch SM. (1989), “The effect of infertility on marriage and self-concept”, J Obstet Gynecol Neonatal Nurs. 18(1):13-20. doi:10.1111/j.1552-6909 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The effect of infertility on marriage and self-concept”, "J Obstet Gynecol Neonatal Nurs
Tác giả: Hirsch AM, Hirsch SM
Năm: 1989
19. Inhorn, M.C. and Gürtin, Z.B. (2012), “Infertility and Assisted Reproduction in the Muslim Middle East: Social, Religious, and Resource Considerations”.FVV in OBGYN, MONOGRAPH, 24-29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Infertility and Assisted Reproduction in the Muslim Middle East: Social, Religious, and Resource Considerations”. "FVV in OBGYN
Tác giả: Inhorn, M.C. and Gürtin, Z.B
Năm: 2012
20. JoAnn Scurlock, (2014), “Sourcebook for ancient mesopotamian medicine”, SBL Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sourcebook for ancient mesopotamian medicine
Tác giả: JoAnn Scurlock
Nhà XB: SBL Press
Năm: 2014
21. Jordan C, Revenson TA. (1999), “Gender differences in coping with infertility: a meta-analysis”, J Behav Med. doi: 10.1023/a:1018774019232.PMID: 10495967 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gender differences in coping with infertility: a meta-analysis”, "J Behav Med
Tác giả: Jordan C, Revenson TA
Năm: 1999
22. K. Bharathi và V. V. L. Prasuna. (2009), “Ancient indian knowledge of maternal and child health care: a medico-historical introspection of ayuryeda”, Joumallnd.Med. Heritage Vol.XXXIX - tr.221-240 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ancient indian knowledge of maternal and child health care: a medico-historical introspection of ayuryeda
Tác giả: K. Bharathi, V. V. L. Prasuna
Năm: 2009
26. Đỗ Long, (1985), “Tâm lý xã hội truyền thống và kế hoạch dân số Việt Nam”, Tạp chí Xã hội học số 4, tr.32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý xã hội truyền thống và kế hoạch dân số Việt Nam”, "Tạp chí Xã hội học
Tác giả: Đỗ Long
Năm: 1985
25. Nguyễn Thị Phương Lê (2017), Ngày càng nhiều vợ chồng trẻ bị vô sinh hiếm muộn, 27/02/2018, xem thêm https://suckhoe.vnexpress.net/tin-tuc/suc-khoe/ngay-cang-nhieu-vo-chong-tre-bi-vo-sinh-hiem-muon-3597095.html) Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w