Tình hình nghiên cứu đề tài Hiện nay có rất nhiều đề tài luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ luật học đã và đang thực hiện nghiên cứu các vấn đề về quyền của cổ đông công ty cổ phần; các
Trang 11
- ∞0∞ -
VŨ VĂN PHƯỚC
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN QUYỀN
CỦA CỔ ĐÔNG CÔNG TY CỔ PHẦN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2022
Trang 2LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN QUYỀN
CỦA CỔ ĐÔNG CÔNG TY CỔ PHẦN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số chuyên ngành: 8 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ Giảng viên hướng dẫn: TS TRỊNH THỤC HIỀN
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2022
Trang 3Tôi tên là: VŨ VĂN PHƯỚC
Ngày sinh: 24/01/1997 Nơi sinh: Sóc Trăng
Chuyên ngành: Luật kinh tế Mã học viên: 1983801072041
Tôi đồng ý cung cấp toàn văn thông tin luận văn tốt nghiệp hợp lệ về bản quyền cho
Thư viện trường đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh Thư viện trường đại học Mở
Thành phố Hồ Chí Minh sẽ kết nối toàn văn thông tin luận văn tốt nghiệp vào hệ thống
thông tin khoa học của Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 4f rrpN cHo PHEP BAo vE LU4,N vAN THAC si
CUA GIANG VIEN HUONG NAN
T6n il6 tdi:
Lf
lufln vi thgc tiSn thgc hiQn quydn cria c6 d6ng cdngtỵ6
phAn theophfp
Iu$t ViQt Nam
Y
tiiln
g6a gihngvi€n hucmg dAn vC viQc cho ph6p hgc vi6n: Vfl VAn Phudc dugc b6o vQThdnh phii
ui
cnr urnh, ngdỵ9.,€ thdngQi na*
zozzNgudi nh4n x6t
11ẹr-
\Áậ ,.Ụ.{ Ụị*
pL'^rt aị** fr.n11".* ff** .rkt -tl s^ f[r
:vrd*.t* c*{.( n oẹ{*:&* .h"; , C.a[ 1or q.uọ U*ou
l,^., ** *^xe k *rr /*Â vn"^ /.kt.*.,1"""Á)'"'""'v'1d^""Cw
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan rằng luận văn “Lý luận và thực tiễn thực hiện quyền của cổ đông
công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam” là bài nghiên cứu của chính tôi
Ngoại trừ những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận văn này, tôi cam đoan rằng toàn phần hay những phần nhỏ của luận văn này chưa từng được công bố
hoặc được sử dụng để nhận bằng cấp ở những nơi khác
Không có sản phẩm/nghiên cứu nào của người khác được sử dụng trong luận
văn này mà không được trích dẫn theo đúng quy định
Luận văn này chưa bao giờ được nộp để nhận bất kỳ bằng cấp nào tại các
trường đại học hoặc cơ sở đào tạo khác
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2022
Tác giả
Vũ Văn Phước
Trang 6LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến Tiến sĩ Trịnh Thục Hiền, người đã luôn theo dõi, hỗ trợ, động viên tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện công trình của mình Với những chia sẻ, hướng dẫn tận tình của cô đã giúp tôi
có hướng tiếp cận đúng đắn chủ đề của Luận văn từ đó phát triển đúng mục tiêu mà
Luận văn muốn hướng đến
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến tất cả quý thầy cô Trường Đại học Mở TP Hồ Chí Minh, các anh chị, bạn bè trong lớp MLAW19 đã luôn hỗ trợ và giúp đỡ tôi xuyên suốt quá trình học tập tại Trường, giúp tôi trau dồi, nâng cao hiểu biết của mình trong
lĩnh vực pháp luật
Tôi sẽ luôn cố gắng, nổ lực hết mình để xứng đáng với những kỳ vọng mà Cô
Trịnh Thục Hiền và tất cả quý thầy cô, bạn bè đã tin tưởng
Trân trọng cảm ơn
Trang 7TÓM TẮT LUẬN VĂN
Luận văn tập trung nghiên cứu hai vấn đề chính: thứ nhất là những vấn đề lý luận, thứ hai là những vấn đề thực tiễn về việc thực hiện quyền của cổ đông công ty
cổ phần theo pháp luật Việt Nam
Về vấn đề lý luận, luận văn tập trung phân tích những cơ sở lý luận về công ty
cổ phần, cổ đông công ty cổ phần và các quyền của cổ đông Ngoài ra luận văn có so sánh đối chiếu sự thay đổi của chế định quyền của cổ đông công ty cổ phần thông qua các quy định tại Luật doanh nghiệp 2005, 2014, 2020, từ đó có những nhận xét, đánh giá, đúc kết kinh nghiệm trong việc sửa đổi chế định này cho phù hợp với sự phát
triển của nền kinh tế
Về vấn đề thực tiễn, luận văn nghiên cứu các quy định về việc thực hiện các quyền của cổ đông tại các công ty cổ phần thông qua cuộc họp Đại hội đồng cổ đông thường niên, Đại hội đồng cổ đông bất thường, từ đó có những đánh giá về việc đảm bảo quyền lợi của cổ đông khi áp dụng các quy định của Luật doanh nghiệp hiện hành vào thực tiễn hoạt động của công ty Ngoài ra, luận văn tập trung phân tích, bình luận các bản án thực tế liên quan đến cơ chế đảm bảo quyền lợi cho cổ đông trong các vụ
án tranh chấp công ty
Sau khi nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn thực hiện quyền của cổ đông công ty cổ phần, luận văn đã có những kết luận về việc áp dụng các quy định hiện hành vào thực tiễn hoạt động của công ty cổ phần Qua quá trình nghiên cứu cho thấy, thực tiễn áp dụng các chế định về quyền cổ đông hiện nay vẫn còn nhiều khó khăn, bất cập mà Luật doanh nghiệp hiện hành vẫn chưa giải quyết Vì vậy, luận văn đưa ra một số kiến nghị, đề xuất hoàn thiện pháp luật về chế định quyền của cổ đông
để phù hợp với bối cảnh nền kinh tế hiện nay và trong tương lai
Trang 8THESIS SUMMARY
The essay focuses on studying two main issues: the first is the theoretical issues, the second is the practical issues about implementing the shareholders’ rights
of a joint-stock company under Vietnamese law
Regarding theoretical issues, the essay focuses on analyzing the theoretical bases of joint stock companies, shareholders of joint stock companies and the rights
of shareholders In addition, the essay has compared and contrasted the development and changes of the rights regulation of joint stock company shareholders through the provisions of the Enterprise Law 2005, 2014, 2020, from there, there are comments, assessments and lessons learned in amending this regulation to suit the development
of the economy
Regarding practical issues, the essay studies the regulations on the exercise of shareholders' rights in joint-stock companies through the Annual General Meeting of Shareholders, the Extraordinary General Meeting of Shareholders, from which there are assessments on ensuring the interests of shareholders when applying the provisions of the current Enterprise Law to the company's actual operations In addition, the essay focuses on analyzing and commenting on actual judgments related
to the mechanism to ensure the interests of shareholders in corporate dispute cases
After studying the theoretical and practical issues of exercising the rights of shareholders of a joint stock company, the essay has concluded on the application of current regulations to the actual operation of the joint stock company Through the research process, it has been shown that the current application of the regulations on shareholder rights still has many difficulties and inadequacies that the current Enterprise Law has not yet resolved Therefore, the essay has made a number of recommendations and proposals to improve the law on the regulation of shareholders' rights to suit the current and future economic context
Trang 9MU ̣C LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT LUẬN VĂN iii
MU ̣C LỤC v
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do lựa chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Mục tiêu nghiên cứu 3
4 Câu hỏi nghiên cứu 4
5 Đối tượng và pha ̣m vi nghiên cứu 4
6 Phương pháp nghiên cứu 4
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn đề tài 5
8 Kết cấu của luâ ̣n văn 5
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ THỰC HIỆN QUYỀN CỦA CỔ ĐÔNG CÔNG TY CỔ PHẦN 6
1.1 Khái quát công ty cổ phần và cổ đông công ty cổ phần 6
1.1.1 Khái niệm công ty cổ phần 6
1.1.2 Khái niệm và phân loại cổ đông công ty cổ phần 8
1.2 Pháp luật về thực hiện quyền của cổ đông công ty cổ phần 10
1.2.1 Khái niệm về quyền cổ đông công ty cổ phần 10
1.2.2 Vai trò của pháp luật trong vấn đề thực hiện quyền của cổ đông công ty cổ phần 11 1.3 Các quyền cụ thể của cổ đông công ty cổ phần 12
1.3.1 Quyền của cổ đông phổ thông 12
1.3.2 Quyền của cổ đông ưu đãi 18
1.4 Lịch sử chế định quyền cổ đông công ty cổ phần 20
1.4.1 Chế định Quyền của cổ đông công ty cổ phần tại Luật doanh nghiệp năm 2014 so với Luật doanh nghiệp năm 2005 20
1.4.2 Chế định Quyền của cổ đông công ty cổ phần tại Luật doanh nghiệp năm 2020 so với Luật doanh nghiệp năm 2014 22
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 26
Chương 2 THỰC TIỄN THỰC HIỆN QUYỀN CỦA CỔ ĐÔNG CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ CÁC ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THỰC HIỆN QUYỀN CỦA CỔ ĐÔNG CÔNG TY CỔ PHẦN 27
Trang 102.1 Thực tiễn thực hiện quyền của cổ đông công ty cổ phần 27
2.1.1 Quyền tài sản và quyền đối với cổ phần của cổ đông 27
2.1.2 Quyền thỏa thuận của cổ đông 38
2.1.3 Quyền biểu quyết và quyền dự họp Đại hội đồng cổ đông 42
2.1.4 Quyền tiếp cận thông tin của cổ đông 50
2.1.5 Quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cổ đông 51
2.2 Đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật hiện hành về thực hiện quyền của cổ đông công ty cổ phần 57
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 59
PHẦN KẾT LUẬN 60
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường của Việt Nam, các hoạt động kinh doanh, xúc tiến thương mại đang được Nhà nước khuyến khích đầu tư phát triển Theo đó các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài được tự do thực hiện các hoạt động kinh doanh thương mại nhằm mục đích sinh lợi trong khuôn khổ pháp luật quy định Các tổ chức kinh tế hình thành ngày càng phổ biến rộng khắp đất nước, đặc biệt là loại hình công ty cổ phần Đây là loại hình doanh nghiệp được hình thành và chiếm
ưu thế về số lượng nhà đầu tư, cùng với đó là cơ chế về mở rộng vốn đầu tư ngày càng được chú trọng Với sự linh hoạt về cơ cấu số lượng cổ đông và vốn đầu tư đã tạo nên sức hút và phát triển rộng lớn trên thị trường của Việt Nam của loại hình
doanh nghiệp này
Để đảm bảo cơ chế quản lý Nhà Nước trong hoạt động kinh doanh, pháp luật doanh nghiệp Việt Nam được xây dựng để điều chỉnh cơ cấu tổ chức và hoạt động của các loại hình doanh nghiệp nói chung và của công ty cổ phần nói riêng Thông qua đó, pháp luật điều chỉnh mối quan hệ giữa các cổ đông về thỏa thuận giữa các cổ đông với nhau, về quyền và nghĩa vụ của cổ đông trong quá trình đầu tư vào công ty
cổ phần Các chế định quyền của cổ đông được xây dựng, tạo hành lang pháp lý chung cho việc bảo vệ cổ đông, đây là vấn đề rất quan trọng trong cơ chế quản trị công ty
cổ phần Việc hoàn thiện quy định về quyền của cổ đông công ty cổ phần trở nên cấp bách, là chế định quan trọng làm cho công ty cổ phần trở thành một công cụ kinh doanh an toàn và thông qua đó giúp huy động đầu tư tốt hơn, thúc đẩy đầu tư, đa dạng
hóa nguồn vốn đầu tư vào công ty cổ phần
Vấn đề đặt ra, vậy cơ chế quy định của pháp luật doanh nghiệp Việt Nam và các văn bản pháp luật có liên quan đang có hiệu lực thi hành đảm bảo quyền lợi của
cổ đông thực hiện quyền ra sao khi vận dụng vào thực tiễn nền kinh tế hiện nay, những tồn tại bất cập của Luật doanh nghiệp 2014 đã được giải quyết như thế nào khi Luật doanh nghiệp 2020 được Quốc Hội Khóa XIV thông qua ngày 17 tháng 6 năm
Trang 122020, chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2021 Thực tiễn hoạt động tại các công ty
cổ phần có quy mô lớn trên lãnh thổ Việt Nam có đảm bảo tuân thủ các quy định về quyền của cổ đông công ty Vì vậy, quá trình nghiên cứu xây dựng và hoàn thiện pháp luật quy định về cơ chế đảm bảo quyền của cổ đông công ty cổ phần chỉ đạt được
mục đích khi nó được áp dụng một cách phù hợp vào thực tiễn
Do vậy, để có cái nhìn một cách khách quan trong việc vận dụng lý luận vào
thực tiễn thực hiện quyền của cổ đông hiện nay, tác giả đưa ra đề tài nghiên cứu “Lý
luận và thực tiễn thực hiện quyền của cổ đông công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam” để cụ thể hóa các vấn đề còn vướng mắt, bất cập khi vận dụng các quy
định pháp luật hiện hành, từ đó đưa ra một số kiến nghị, đề xuất hoàn thiện pháp luật phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện nay có rất nhiều đề tài luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ luật học đã và đang thực hiện nghiên cứu các vấn đề về quyền của cổ đông công ty cổ phần; các giáo trình, công trình nghiên cứu cũng được cụ thể hóa một số vấn đề lý luận từ quy định pháp luật về quyền của cổ đông công ty cổ phần vào thực tiễn, cụ thể như sau: Luận án tiến sĩ luật học năm 2019 của Trương Vĩnh Xuân nghiên cứu đề tài
“Pháp luật về quyền của cổ đông phổ thông trong công ty cổ phần” tại Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh Luận án nghiên cứu chuyên sâu về quyền của cổ đông phổ thông công ty cổ phần, đánh giá các bất cập, vướng mắc trong việc áp dụng luật doanh nghiệp 2014 đang có hiệu lực thi hành và định hướng hoàn thiện pháp luật về quyền của cổ đông phổ thông công ty cổ phần
Luận văn thạc sĩ luật học năm 2018 của Đỗ Quang Minh nghiên cứu đề tài
“Bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần theo pháp luật doanh nghiệp Việt Nam hiện nay” tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam Luận văn nghiên cứu các quyền của cổ đông ở gốc độ tỉ lệ sở hữu thấp (dưới 10%), kéo theo một số quyền của cổ đông thiểu số bị hạn chế theo pháp luật quy định Kết quả nghiên
Trang 13cứu của đề tài đã xây dựng được cơ chế đảm bảo quyền lợi của cổ đông thiểu số, đảm bảo tính bình đẳng tự do thực hiện quyền của cổ đông trong công ty cổ phần
Luận văn thạc sĩ luật học năm 2016 của Nguyễn Thị Lành về đề tài “Sự phát triển của pháp luật về bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần ở Việt Nam” tại Đại học Quốc Gia Hà Nội Luận văn nghiên cứu, đối chiếu các quy định pháp luật Việt Nam thông qua các thời kỳ, từ đó cho thấy sự phát triển trong cơ chế bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số, đảm bảo môi trường tự do đầu tư, kinh doanh bình đẳng về quyền của các cổ đông công ty cổ phần
Giáo trình “Pháp luật về chủ thể kinh doanh” của Trường Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh, năm 2014, Nxb Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam đã đề cập các vấn đề
lý luận về thực hiện quyền của cổ đông công ty cổ phần Tuy nhiên, về mặt thực tiễn vẫn chưa được chứng minh vận dụng
Thông qua tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài, tác giả nghiên cứu ở gốc
độ lý luận về thực hiện quyền của cổ đông công ty cổ phần (Cổ đông phổ thông, cổ đông ưu đãi) theo quy định của Luật doanh nghiệp 2020 có hiệu lực từ ngày 01/01/2021 và nghiên cứu việc vận dụng quy định pháp luật vào thực tiễn hiện nay tại các công ty cổ phần để đưa ra định hướng hoàn thiện pháp luật phù hợp.”
3 Mu ̣c tiêu nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về đề tài: “Lý luận và thực tiễn thực hiện quyền của cổ đông công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam” nhằm hướng đến các mục tiêu: Một là, nghiên cứu để hiểu rõ những chế định pháp luật quy định về công ty cổ phần, cổ đông và quyền cổ đông
Hai là, kết quả của quá trình nghiên cứu những vấn đề lý luận sẽ tạo nền tảng
lý luận vững chắc cho cổ đông về việc thực hiện các quyền của mình trong công ty
cổ phần khi vận dụng vào thực tiễn
Ba là, thông qua nghiên cứu các quy định của pháp Luật doanh nghiệp Việt Nam ghi nhận quyền của cổ đông qua Luật Doanh nghiệp 2005, 2014, 2020 và thực
Trang 14tiễn áp dụng tại các công ty cổ phần, từ đó đánh giá được thực trạng pháp luật còn tồn tại bất cập, đồng thời đưa ra kiến nghị hoàn thiện cho phù hợp
4 Câu ho ̉ i nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã đặt ra một số câu hỏi giả thiết nhằm đạt
được mục tiêu nghiên cứu của đề tài, cụ thể như sau:
Cơ sở lý luận hình thành Quyền của cổ đông công ty cổ phần?
Nội dung cụ thể các quyền của cổ đông công ty cổ phần theo quy định pháp
luật hiện hành?
Những điểm mới của Luật doanh nghiệp 2020 về Quyền của cổ đông?
Thực tiễn cổ đông thực hiện các quyền như thế nào?
Những khó khăn, bất cập trong việc vận dụng quyền của cổ đông theo pháp
luật doanh nghiệp hiện hành vào thực tiễn và định hướng hoàn thiện như thế nào?
5 Đối tươ ̣ng và pha ̣m vi nghiên cứu
Về đối tượng nghiên cứu, tác giả tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về thực hiện quyền của cổ đông công ty cổ phần
Về phạm vi nghiên cứu, luận văn nghiên cứu đề tài trong phạm vi pháp luật doanh nghiệp và các văn bản pháp luật khác của Việt Nam có liên quan để giải quyết xoay quanh đề tài nghiên cứu, đặc biệt là việc vận dụng Luật doanh nghiệp năm 2020 trong việc điều chỉnh, giải quyết các vấn đề phát sinh từ thực tiễn về thực hiện quyền của cổ đông
6 Phương pha ́ p nghiên cứu
Trong phạm vi luận văn này, tác giả đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp phân tích: Thông qua các quy định về lý luận và thực tiễn thực hiện quyền của cổ đông công ty cổ phần từ đó đưa đánh giá, nhận xét một cách khách quan về đề tài nghiên cứu
Trang 15- Phương pháp tổng hợp: việc nghiên cứu thực tiễn thực hiện các quyền của cổ đông từ đó đúc kết những vướng mắt, bất cập và định hướng hoàn thiện pháp luật
- Phương pháp lịch sử: sử dụng để nghiên cứu, tìm hiểu về sự phát triển quy định pháp luật Việt Nam về quyền của cổ đông công ty cổ phần
7 Ý nghi ̃a khoa ho ̣c và thực tiễn đề tài
Luận văn nghiên cứu các quy định pháp luật về quyền của cổ đông công ty cổ phần đã góp phần tạo cơ sở lý luận vững chắc trong việc thực hiện quyền của cổ đông công ty và kiến nghị hoàn thiện một số vấn đề về quyền của cổ đông trong việc thể chế
hóa quy định pháp luật đặc biệt là Luật doanh nghiệp 2020 vào thực tiễn
Thông qua việc nghiên cứu, đánh giá thực tiễn thực hiện các quyền của cổ đông công ty cổ phần hiện nay, qua đó đã xác định được một số vướng mắt, bất cập chưa được giải quyết trong Luật doanh nghiệp 2020, đòi hỏi phải thay đổi, hoàn chỉnh quy định pháp luật để phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội trong tương lai
8 Kết cấu cu ̉ a luâ ̣n văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu làm 02 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp luật về thực hiện quyền của cổ đông công ty
cổ phần
Chương 2: Thực tiễn thực hiện quyền của cổ đông công ty cổ phần và các đề
xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thực hiện quyền của cổ đông công ty cổ phần
Trang 16Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ THỰC HIỆN QUYỀN
CỦA CỔ ĐÔNG CÔNG TY CỔ PHẦN 1.1 Khái quát công ty cổ phần và cổ đông công ty cổ phần
1.1.1 Khái niệm công ty cổ phần
Công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp có quy mô, sức ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế của một quốc gia, xuất phát từ sự hình thành, duy trì và phát triển thông qua quá trình tham gia góp vốn của nhiều nhà đầu tư trở thành cổ đông công ty Cơ chế hình thành công ty cổ phần đã đưa đến nhiều vấn đề phát sinh về loại hình doanh nghiệp này, có thể kể đến các vấn đề về quyền cổ đông, vốn góp, địa vị pháp lý của công ty Tại Việt Nam, mô hình doanh nghiệp này hình thành và phát triển ngày càng sâu rộng, từ đó đòi hỏi cần có cơ chế quản lý nhà nước đảm bảo hiệu quả quản lý, vận hành của mô hình công ty cổ phần Pháp luật doanh nghiệp đã được xây dựng và
có những định nghĩa cụ thể, khái quát về công ty cổ phần Đến nay, Luật doanh nghiệp
2020 được Quốc Hội Khóa XIV thông qua ngày 17 tháng 6 năm 2020, chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2021 đã mang đến một khái niệm cụ thể, đầy đủ về loại hình doanh nghiệp này Theo đó, khái niệm công ty cổ phần quy định tại Điều
111 Luật Doanh nghiệp, được định nghĩa cụ thể:
Thứ nhất, công ty cổ phần là doanh nghiệp Tiêu chí này là tất yếu vì hoạt động của một tổ chức kinh tế có số lượng nhà đầu tư rất lớn, thực hiện đầu tư, kinh doanh nhằm mục đích sinh lợi, điều này có tác động quan trọng đến nền kinh tế của đất nước Vì vậy, tiêu chí về doanh nghiệp đảm bảo quá trình quản lý nhà nước về các vấn đề quản trị, việc thành lập công ty, tài sản, trụ sở hoạt động công ty phù hợp theo
quy định của Luật doanh nghiệp
Thứ hai, vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là
cổ phần1 Vốn điều lệ của công ty cổ phần là tổng mệnh giá cổ phần đã bán hoặc được đăng ký mua khi thành lập Bản chất của vốn điều lệ thực chất là vốn đầu tư của các
1 Điểm a, khoản 1, Điều 111 Luật doanh nghiệp
Trang 17nhà đầu tư vào hoạt động của công ty, là cơ sở để nhà đầu tư đồng hành chia sẻ lợi nhuận cũng như rủi ro trong quá trình hoạt động của công ty Ngoài ra, vốn điều lệ cũng thể hiện sự cam kết mức trách nhiệm vật chất tương ứng với phần vốn góp của
cổ đông đối với công ty
Thứ ba, cổ đông trong công ty có thể là tổ chức, cá nhân và có số lượng tối thiểu là ba (03) cổ đông Quy định này tạo cơ sở cho sự phát triển quy mô công ty cổ phần thông qua số lượng nhà đầu tư và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân trong nước, nước ngoài tự do tham gia vào quá trình đầu tư, hoạt động kinh doanh tại Việt Nam Luật cũng khống chế số lượng tối thiểu cổ đông khi thành lập công ty cổ phần, đảm
bảo xây dựng mô hình công ty phù hợp với các quy định của pháp luật liên quan
Thứ tư, cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty2 Tiêu chí này được đánh giá rất linh hoạt trong hoạt động của công ty cổ phần Cổ đông hoàn toàn chủ động trước những thách thức và cơ hội khi chấp nhận đầu tư vào công ty, quyền và nghĩa vụ vật
chất của họ chỉ phát sinh tương ứng với tỷ lệ vốn góp vào công ty cổ phần
Thứ năm, cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ các trường hợp do Luật quy định Về quyền tự do định đoạt tài sản đã được pháp luật Việt Nam ghi nhận tại Bộ luật dân sự và các văn bản pháp luật khác Đối với quyền định đoạt tài sản trong công ty cổ phần được điều chỉnh bởi Luật doanh nghiệp, tài sản cổ đông đầu tư vào công ty cũng được tự do định đoạt thông qua hình thức chuyển nhượng cổ phần cho người khác, tuy nhiên quyền định đoạt này cũng bị hạn chế đối với một số cổ phần nhất định nhằm thực hiện cơ chế quản lý nhà nước,
đảm bảo quá trình hoạt động ổn định của công ty cổ phần
Thông qua khái niệm công ty cổ phần được định nghĩa bởi năm tiêu chí đã thể hiện sự chặt chẽ của Luật doanh nghiệp trong việc quy định một số yếu tố đặc thù để tạo lập nên công ty cổ phần Từ khái niệm này, các cá nhân, tổ chức trong nước và nước ngoài có thể tự do thành lập, mua cổ phần trở thành cổ đông công ty và bắt đầu
2 Điểm c, khoản 1, Điều 115 Luật doanh nghiệp
Trang 18quá trình hoạt động kinh doanh đối với mô hình công ty cổ phần
1.1.2 Khái niệm và phân loại cổ đông công ty cổ phần
Theo khái niệm công ty cổ phần, một yếu tố rất quan trọng quyết định sự phát triển và thành công trong cơ chế quản trị hoạt động công ty là cổ đông Cổ đông của công ty cổ phần là cá nhân, tổ chức sở hữu ít nhất một (01) cổ phần của công ty3 Cổ đông chính là các nhà đầu tư thực hiện hoạt động đầu tư, kinh doanh vào công ty và
sở hữu phần vốn góp tương ứng với số lượng cổ phần đã mua trong công ty Quy định pháp luật cũng hạn chế số lượng cổ đông tối thiểu trong công ty cổ phần là ba (03) và không hạn chế số lượng cổ đông tối đa Việc quy định mức sàn và không quy định mức trần về số lượng cổ đông đã tạo cơ chế linh hoạt và xúc tiến hoạt động đầu tư của tổ chức, cá nhân trong nước, nước ngoài vào công ty cổ phần Theo quy định của Luật doanh nghiệp hiện hành về đặc điểm quyền, cổ đông công ty cổ phần được chia thành 02 loại: cổ đông phổ thông và cổ đông ưu đãi
Cổ đông phổ thông là cổ đông sở hữu ít nhất một (01) cổ phần phổ thông của công ty cổ phần Có thể nói, những cá nhân, tổ chức sở hữu cổ phần phổ thông là những chủ sở hữu của công ty cổ phần Tương ứng với tỉ lệ số cổ phần phổ thông nắm giữ, cổ đông phổ thông sẽ có các quyền tương ứng khi tham gia đầu tư vào công
ty cổ phần
Ngoài cổ phần phổ thông là cổ phần bắt buộc, công ty cổ phần còn có thể có
cổ phần ưu đãi trong quá trình hoạt động của công ty Luật doanh nghiệp quy định công ty cổ phần có thể có các loại cổ phần ưu đãi sau: Cổ phần ưu đãi biểu quyết, cổ phần ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại, cổ phần ưu đãi khác theo quy định tại điều lệ công ty và pháp luật chứng khoán4 Đối với các loại cổ phần ưu đãi này sẽ mang lại cho cổ đông sở hữu loại cổ phần ưu đãi có lợi hơn, được công ty ưu đãi
tương ứng với loại cổ phần
3 Khoản 3, Điều 4 Luật doanh nghiệp;
4 Khoản 2, Điều 114 Luật doanh nghiệp;
Trang 19Cổ đông ưu đãi biểu quyết là cổ đông sở hữu ít nhất một (01) cổ phần ưu đãi biểu quyết và có số phiếu biểu quyết nhiều hơn so với cổ phần phổ thông Đối với loại cổ phần ưu đãi này, số phiếu biểu quyết sẽ do Đại hội đồng cổ đông quyết định Luật hạn chế đối với chủ thể được quyền sở hữu loại cổ phần này, theo đó chỉ có tổ chức được Chính phủ ủy quyền và cổ đông sáng lập được quyền nắm giữ cổ phần ưu đãi biểu quyết Ngoài ra, đối với cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết có quyền biểu quyết cao hơn cổ đông khác nhưng chỉ giới hạn trong một khoảng thời gian nhất định do điều lệ công ty quy định, sau thời gian đó thì cổ phần ưu đãi biểu quyết phải
được chuyển đổi thành cổ đông phổ thông
Cổ đông ưu đãi cổ tức là cổ đông sở hữu ít nhất một (01) cổ phần ưu đãi cổ tức
Cổ đông sở hữu cổ phần phần ưu đãi cổ tức được trả cổ tức với mức cao hơn so với mức cổ tức của cổ phần phổ thông hoặc mức ổn định hằng năm Cổ tức trong công ty
cổ phần là khoản lợi nhuận ròng được trả cho mỗi cổ phần bằng tiền mặt hoặc bằng tài sản khác5 Đối với mức cổ tức hằng năm, căn cứ vào kết quả hoạt động của công
ty thì có thể được chia theo phương thức cố định hoặc thưởng cổ tức Hiện nay, cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi cổ tức có thể sở hữu cổ tức bằng tiền mặt, bằng cổ phiếu hoặc bằng phương thức khác cao hơn loại cổ phần bình thường do Đại hội đồng cổ
đông quyết định
Cổ đông ưu đãi hoàn lại là cổ đông sở hữu ít nhất một (01) cổ phần ưu đãi hoàn lại Cổ đông sở hữu loại cổ phần này được ưu đãi từ việc công ty sẽ hoàn lại vốn góp theo yêu cầu của người sở hữu hoặc theo các điều kiện được ghi tại cổ phiếu của cổ phần ưu đãi hoàn lại và điều lệ công ty quy định Khi công ty bị giải thể hay thanh lý, sau khi công ty đã thanh toán cho tất cả các chủ nợ thì cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi hoàn lại được hưởng tài sản còn lại trước cổ đông phổ thông và các loại cổ đông khác
Vì vậy, trên thực tế loại cổ phần ưu đãi này rất hạn chế về số lượng mà hầu hết các công ty đều không muốn phát hành để dự phòng rủi ro cho cổ đông trong hoạt động
công ty
5 Khoản 5, Điều 4 Luật doanh nghiệp
Trang 20Bên cạnh các loại cổ phần ưu đãi trên, thì Luật cho phép các công ty cổ phần được tự chủ mở rộng phát hành loại cổ phần ưu đãi theo Quyết định của Đại hội đồng
cổ đông ghi nhận tại điều lệ công ty Quy định này tạo điều kiện rất thuận lợi cho các công ty cổ phần được mở rộng quy mô hoạt động, thu hút thêm nhiều nhà đầu tư mới góp vốn vào công ty thông qua các chính sách cổ phần ưu đãi cho nhà đầu tư Đối với các loại cổ phần ưu đãi tương ứng sẽ mang lại cho cổ đông ưu đãi lợi ích cao hơn các loại cổ đông khác và quyền lợi ngang nhau đối với cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi cùng loại
1.2 Pháp luật về thực hiện quyền của cổ đông công ty cổ phần
1.2.1 Khái niệm về quyền cổ đông công ty cổ phần
Như đã phân tích về các loại cổ đông trong công ty cổ phần, tương ứng với các loại cổ phần trong công ty sẽ mang lại cho chủ sở hữu các quyền năng nhất định khi
tham gia vào quan hệ pháp luật doanh nghiệp, điển hình ở đây là quan hệ góp vốn,
chuyển nhượng cổ phần của cổ đông trong công ty cổ phần Vì vậy, có thể đưa ra
khái niệm về quyền cổ đông công ty cổ phần như sau: “Quyền cổ đông công ty cổ
phần là khả năng của cổ đông công ty được thực hiện những xử sự nhất định do pháp luật quy định hoặc theo điều lệ công ty sau khi họ trở thành cổ đông công ty” Mọi
chủ thể tham gia vào bất kỳ một quan hệ pháp luật nào đều phát sinh quyền hoặc nghĩa vụ hoặc cả hai Trong quan hệ pháp luật doanh nghiệp cũng tương tự, khi cổ đông tham gia quá trình góp vốn vào công ty cổ phần qua phương thức thành lập mới hoặc thông qua mua bán, chuyển nhượng cổ phần thì đều phát sinh các quyền và nghĩa vụ mà điều lệ công ty đã quy định, bắt buộc cổ đông phải thực hiện những xử
sự phù hợp, không được trái với điều lệ công ty và pháp luật Việt Nam Thông qua điều lệ công ty đã đảm bảo cho cổ đông khả năng thực hiện được các xử sự của mình trong hoạt động công ty tương ứng với tỉ lệ cổ phần mà cổ đông đang sở hữu Ngoài
ra, để đảm bảo cơ chế quản lý nhà nước về quyền cổ đông, Luật cũng quy định các quyền cụ thể tương ứng với loại cổ phần mà cổ đông sở hữu, tạo hành lang pháp lý
Trang 21vững chắc, an toàn, bảo vệ tuyệt đối cho các cổ đông khi tham gia quan hệ góp vốn, chuyển nhượng cổ phần trong công ty
Trong công ty cổ phần, vai trò của từng loại cổ phần cũng như các chế định về quyền của cổ đông sở hữu từng loại cổ phần có những điểm giống và khác nhau nhất định Do vậy, pháp luật và điều lệ công ty đều có những ghi nhận một số điểm khác nhau về quyền đối với những cổ đông này Trong một số trường hợp, cổ đông phổ đông ưu đãi có thể có một số quyền như cổ đông phổ thông và ngược lại Và trong bất kỳ quy định nào về quyền của cổ đông công ty, phải đảm bảo tuân thủ một cách tuyệt đối tính hài hòa về mặt lợi ích, những chia sẻ đồng hành của cổ đông khi công
ty gặp khó khăn, góp phần xây dựng quan hệ pháp luật giữa cổ đông và công ty một cách ổn định, bền vững
1.2.2 Vai trò của pháp luật trong vấn đề thực hiện quyền của cổ đông công
ty cổ phần
Trong bất kỳ mối quan hệ nào trong xã hội, để đảm bảo cơ chế quản lý trật tự
xã hội thì việc vận hành mối quan hệ phải được đặt trong sự quản lý, kiểm tra giám sát của pháp luật quốc gia Trong quan hệ cổ đông và công ty cổ phần, vai trò của pháp luật càng thể hiện rõ tầm quan trọng khi quan hệ này tác động sâu sắc đến sự phát triển của nền kinh tế nói chung và sự phát triển ổn định, bền vững của loại hình công ty cổ phần nói riêng Khi tham gia vào quan hệ pháp luật này, cổ đông không chỉ chịu rủi ro về tính hiệu quả trong cách thức vận hành công ty mà còn chịu rủi ro
bị xâm phạm quyền từ các cổ đông khác, vì vậy để đảm bảo quyền lợi của tất cả cổ đông trong công ty, pháp luật doanh nghiệp có vai trò cụ thể:
Thứ nhất, pháp luật ghi nhận và tạo cơ chế an toàn, đảm bảo thực hiện đầy đủ các quyền của cổ đông công ty tương ứng với tỉ lệ sở hữu cổ phần của cổ đông
Thứ hai, pháp luật mang lại sự bảo vệ tốt nhất khi các quyền và lợi ích của cổ đông bị xâm hại hoặc bị thiệt hại Sự bảo vệ của pháp luật trong trường hợp này đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc hạn chế khả năng kiểm soát của những người
Trang 22nắm quyền tương ứng với tỉ lệ sở hữu cổ phần cố tình tước đoạt các giá trị của công
ty cổ phần, góp phần tạo môi trường đầu tư kinh doanh lành mạnh tại Việt Nam
Thứ ba, thông qua pháp luật, cổ đông được tự do thực hiện các quyền của mình
mà không bị hạn chế bởi bất kỳ chủ thể nào trong công ty Đảm bảo cơ chế can thiệt bảo vệ kịp thời của quyền lực nhà nước khi có dấu hiệu cạnh tranh không lành mạnh nhằm trục lợi cho nhóm cổ đông công ty và gây thiệt hại cho các cổ đông khác
Thứ tư, pháp luật đảm bảo sự yên tâm cho các cổ đông khi tham gia góp vốn vào công ty cổ phần, từ đó thu hút được sự gia nhập thị trường của các tổ chức, cá nhân khác vào công ty Khi pháp luật đảm bảo cổ đông thực hiện được các quyền của mình thì cũng tạo nên các giá trị pháp lý cần thiết, xúc tiến sự phát triển của công ty
Việt Nam đang từng bước xây dựng nền kinh tế thị trường, phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vì vậy pháp luật cần nâng cao vai trò trong việc quản lý, vận hành các quy tắc xử sự chung được đặt ra trong các quan hệ xã hội mà điển hình là quan hệ pháp luật giữa cổ đông và công ty cổ phần Từ đó tạo môi trường hoạt động kinh doanh thuận lợi, thúc đẩy đầu tư của tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài vào loại hình doanh nghiệp công ty cổ phần tại Việt Nam
1.3 Các quyền cụ thể của cổ đông công ty cổ phần
1.3.1 Quyền của cổ đông phổ thông
Trong công ty cổ phần, cổ đông phổ thông là yếu tố cốt lõi tạo nên giá trị cho công ty cổ phần bởi đây chính là những nhà đầu tư tài sản của chính bản thân vào công ty Xuất phát từ tầm quan trọng của cổ đông phổ thông mà pháp luật Việt nam
có những quy định rất chặt chẽ về quyền của cổ đông nhằm bảo vệ lợi ích của cổ đông khi đầu tư vào công ty cổ phần, cụ thể được quy định tại Điều 115 Luật doanh nghiệp 2020 Đối với tất cả cổ đông phổ thông của công ty cổ phần sẽ được pháp luật ghi nhận và bảo vệ lợi ích bởi những quyền cơ bản sau:
Thứ nhất, cổ đông được quyền tham dự, phát biểu trong cuộc họp Đại hội đồng
cổ đông và thực hiện quyền biểu quyết trực tiếp hoặc thông qua người đại diện theo
Trang 23ủy quyền hoặc hình thức khác do Điều lệ công ty, pháp luật quy định6 Căn cứ trên tư cách cổ đông khi công ty cổ phần chốt thời điểm thực hiện quyền trong cuộc họp Đại hội đồng cổ đông, cổ đông thực hiện quyền tham dự, phát biểu và biểu quyết trong cuộc họp tương ứng với lượng cổ phiếu đang sở hữu Trong trường hợp này, pháp luật cũng ghi nhận cho cổ đông có một phiếu biểu quyết tương ứng với việc sở hữu một cổ phần phổ thông
Thứ hai, tương ứng với giá trị tài sản đóng góp, cổ đông được quyền nhận cổ tức theo mức được Đại hội đồng cổ đông quyết định hằng năm7 Có thể nói lượng cổ phiếu mà cổ đông đang nắm giữ đã thể hiện tỉ lệ sở hữu cổ phần của cổ đông trong công ty cổ phần Chính vì vậy, đối với việc sở hữu tài sản là cổ phiếu (giấy tờ có giá)8,
đã mang lại cho cổ đông một khoản lợi tức phát sinh từ việc khai thác giá trị tài sản
là cổ phiếu Như vậy, cổ đông sở hữu tỉ lệ cổ phần nhất định sẽ được nhận cổ tức tương ứng với mức được quy định trong Nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông Khoản lợi tức này thông thường được tính trên khoản lợi nhuận ròng sau thuế của công ty, sau khi đã trừ đi tất cả chi phí sản xuất, quản trị, thuế và các khoản nghĩa vụ khác của công ty
Thứ ba, cổ đông phổ thông được quyền ưu tiên mua cổ phần mới tương ứng với tỷ lệ sở hữu cổ phần phổ thông của từng cổ đông trong công ty9 Công ty cổ phần mang lại một số đặc quyền cho nhà đầu tư mà không có ở bất cứ loại hình doanh nghiệp nào có được đó là quyền mua cổ phần khi công ty phát hành tăng vốn điều lệ hoặc phát hành cổ phiếu thưởng Theo quy định của Luật chứng khoán 2019, quyền mua cổ phần là loại chứng khoán do công ty cổ phần phát hành nhằm mang lại cho
cổ đông hiện hữu quyền được mua cổ phần mới theo điều kiện đã được xác định10 Tương ứng với tỷ lệ sở hữu, cổ đông được quyền ưu tiên mua số lượng cổ phần với điều kiện đã được công ty thông báo công khai
6 Điểm a, khoản 1 Điều 115 Luật doanh nghiệp;
7 Điểm b, khoản 1 Điều 115 Luật doanh nghiệp;
8 Khoản 1 Điều 105 Bộ luật dân sự; Khoản 1 Điều 1 Nghị định số 11/2012/NĐ-CP;
9 Điểm c, khoản 1 Điều 115 Luật doanh nghiệp;
10 Khoản 7, Điều 4 Luật chứng khoán;
Trang 24Thứ tư, xuất phát từ quyền định đoạt trong quan hệ tài sản của cổ đông đối với tài sản của mình đưa vào công ty, từ đó cổ đông được tự do chuyển nhượng tài sản là
cổ phần của mình cho người khác, trừ những trường hợp không được chuyển nhượng hoặc bị hạn chế chuyển nhượng theo quy định của pháp luật11 Cổ đông công ty được
tự do chuyển quyền sở hữu cổ phần cho người khác, quan hệ pháp luật này được thực hiện giữa bên chuyển nhượng (cổ đông) và người nhận chuyển nhượng, bản thân công
ty cổ phần không phải là một bên trong giao dịch này Điều này đã dẫn đến hệ quả làm thay đổi chủ sở hữu đối với cổ phần được chuyển nhượng nhưng không làm thay đổi vốn điều lệ và tài sản của công ty cổ phần
Thứ năm, đối với tài sản cổ đông đưa vào công ty, cổ đông phổ thông được quyền xem xét, tra cứu và trích lục thông tin về tên và địa chỉ liên lạc trong danh sách
cổ đông có quyền biểu quyết; được quyền xem xét, tra cứu, trích lục hoặc sao chụp Điều lệ công ty, biên bản họp Đại hội đồng cổ đông và Nghị quyết Đại hội đồng cổ đông12 Đây được xem là nhóm quyền thông tin cơ bản của cổ đông phổ thông Xuất phát quan hệ từ một nhà đầu tư với công ty, vấn đề về tài sản của cổ đông được sử dụng như thế nào, vận hành ra sao, các thông tin về chủ sở hữu được ghi nhận như thế nào, và từ đó pháp luật đã ghi nhận nhóm các quyền này đảm bảo các mặt về thông tin cho cổ đông phổ thông công ty cổ phần
Thứ sáu, khi công ty giải thể hoặc phá sản, cổ đông phổ thông được nhận một phần tài sản còn lại tương ứng với tỷ lệ sở hữu cổ phần tại công ty13 Một vấn đề rủi
ro mà không một nhà đầu tư nào mong muốn đó là vấn đề giải thể hoặc phá sản công
ty Riêng đối với vấn đề phá sản công ty khi công ty lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán và bị Tòa án ra quyết định phá sản bằng một thủ tục tư pháp, cổ đông sẽ chỉ còn nhận lại lượng tài sản số ít còn lại của công ty, tuy nhiên trên thực tế gần như bằng không Chính vì vậy, vấn đề giải thể bằng một thủ tục hành chính hoặc phá sản bằng một thủ tục tư pháp thì gần như không một nhà đầu tư nào mong muốn khi đầu
11 Điểm d, khoản 1 Điều 115 Luật doanh nghiệp;
12 Điểm đ, e khoản 1 Điều 115 Luật doanh nghiệp;
13 Điểm g, khoản 1, Điều 115 Luật doanh nghiệp;
Trang 25tư vào công ty, tuy nhiên pháp luật vẫn ghi nhận cho cổ đông có quyền này để đảm bảo về mặt lợi ích trong trường hợp công ty giải thể hoặc phá sản nhưng vẫn còn tài sản
Trong bất kỳ mối quan hệ xã hội, cá nhân hay tổ chức nào đóng góp nhiều giá trị tài sản hơn sẽ được pháp luật ghi nhận nhiều quyền hơn và điều này đã trở thành luật chơi mà ở công ty cổ phần lại càng được thể hiện một cách minh bạch và cụ thể Đối với cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 05% tổng số cổ phần phổ thông trở lên hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn theo quy định tại Điều lệ công ty thì ngoài các quyền
cơ bản được pháp luật ghi nhận, cổ đông còn có thêm các đặc quyền sau:
Thứ nhất, đối với các quyền về thông tin, cổ đông được quyền xem xét, tra cứu, trích lục sổ biên bản và nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị, báo cáo tài chính giữa năm và hằng năm, báo cáo của Ban kiểm soát, hợp đồng, giao dịch phải thông qua Hội đồng quản trị và tài liệu khác, trừ tài liệu liên quan đến bí mật thương mại, bí mật kinh doanh của công ty14 Vấn đề này đặc biệt nhạy cảm ảnh hưởng đến quyền lợi trực tiếp của những cổ đông sở hữu lượng lớn cổ phần của công ty khi hoạt động công ty có vấn đề Luật trao quyền thông tin này giúp cổ đông có đủ thời gian, kịp thời ngăn chặn các hành hành vi, quyết định trái pháp luật của cơ quan quản trị, điều hành, ảnh hưởng đến quá trình vận hành công ty, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cổ đông
Thứ hai, xuất phát từ quyền thông tin tra cứu, xem xét các quyết định của Hội đồng quản trị và các cơ quan quản lý cấp cao khác trong công ty, nắm bắt được những quyết định không phù hợp, hoạt động trái pháp luật ảnh hưởng lợi ích của cổ đông
mà pháp luật còn trao quyền cho cổ đông, nhóm cổ đông sở hữu tỉ lệ cổ phần này được quyền triệu tập cuộc họp Đại hội đồng cổ đông bất thường để giải quyết, ngăn chặn kịp thời các vấn đề phát sinh trong cơ chế hoạt động, quản trị công ty cổ phần,
từ đó bảo vệ tốt hơn lợi ích cho cổ đông Việc triệu tập này được thực hiện cụ thể trong trường hợp Hội đồng quản trị công ty vi phạm nghiêm trọng quyền của cổ đông,
14 Khoản 2, Điều 115 Luật doanh nghiệp;
Trang 26nghĩa vụ của người quản lý hoặc ra quyết định vượt quá thẩm quyền được giao và các trường hợp khác công ty quy định
Thứ ba, cổ đông được quyền yêu cầu Ban kiểm soát kiểm tra từng vấn đề cụ thể liên quan đến quản lý, điều hành hoạt động của công ty khi xét thấy cần thiết 15 Trong công ty cổ phần, nếu Đại hội đồng cổ đông có vai trò điều hành các hoạt động của công ty, chi phối việc ra các quyết định, Hội đồng quản trị có vai trò quản lý, giám sát, chỉ đạo trong việc điều hành công việc kinh doanh của công ty, thì vai trò của Ban kiểm soát là kiểm tra, giám sát các hoạt động của cả Hội đồng quản trị và Đại hội đồng cổ đông để các hoạt động của công ty được minh bạch vì lợi ích của các
cổ đông và công ty Với các chức năng được quy định trong Luật doanh nghiệp và điều lệ của công ty, Ban kiểm soát thực hiện việc giám sát Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc trong việc quản lý và điều hành công ty, kiểm tra tính hợp
lý, hợp pháp, tính trung thực và mức độ cẩn trọng trong quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh, trong tổ chức công tác kế toán, thống kê và lập báo cáo tài chính cũng như thẩm định báo cáo tình hình kinh doanh, báo cáo tài chính hàng năm và sáu tháng của công ty, báo cáo đánh giá công tác quản lý của hội đồng quản trị Vì lẽ đó, về thẩm quyền yêu cầu Ban kiểm soát vào cuộc đã tạo thêm cơ chế bảo vệ vững chắc lợi ích của cổ đông, nhóm cổ đông sở hữu tỉ lệ cổ phần này
Thứ tư, cổ đông, nhóm cổ đông có quyền kiến nghị các vấn đề đưa vào chương trình họp của Đại hội đồng cổ đông16 Vấn đề này đặt ra cơ chế bảo vệ cho cổ đông, nhóm cổ đông sở hữu tỉ lệ cổ phần này quyền được kiến nghị bổ sung các vấn đề về tài chính, yếu tố tổ chức, quản trị, điều hành và một số vấn đề mang tính thời sự trong công ty trước cuộc họp Đại hội đồng cổ đông của công ty, vấn đề đặt ra liệu kiến nghị
có được chấp nhận hay không bởi những cổ đông sở hữu tỉ lệ cổ phần cao hơn, hay nói cách khác, mọi kiến nghị của cổ đông, nhóm cổ đông này có thể bị phủ quyết bởi những cổ đông lớn, nắm tỉ lệ chi phối trong Đại hội đồng cổ đông công ty cổ phần
15 Điểm c, khoản 2 Điều 115 Luật doanh nghiệp;
16 Khoản 2, Điều 142 Luật doanh nghiệp;
Trang 27Thứ năm, Trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày nhận được nghị quyết hoặc biên bản họp Đại hội đồng cổ đông hoặc biên bản kết quả kiểm phiếu lấy ý kiến Đại hội đồng cổ đông, cổ đông, nhóm cổ đông có quyền yêu cầu Tòa án hoặc Trọng tài xem xét, hủy bỏ nghị quyết hoặc một phần nội dung nghị quyết Đại hội đồng cổ đông trong các trường hợp: Trình tự, thủ tục triệu tập họp và ra quyết định của Đại hội đồng cổ đông vi phạm nghiêm trọng quy định của pháp luật và Điều lệ công ty; Nội dung nghị quyết vi phạm pháp luật hoặc Điều lệ công ty17 Như vậy, Đại hội đồng
cổ đông là cơ quan quyết định cao nhất trong công ty cổ phần, giải quyết tất cả các vấn đề quan trọng của của công ty thuộc thẩm quyền, nghị quyết của Đại hội đồng được đưa ra là cơ sở pháp lý chung, bắt buộc các cơ quan bên dưới trong công ty cổ phần phải thực hiện Tuy nhiên về trình tự, thủ tục triệu tập cuộc họp và ra nghị quyết của Hội đồng phải được đảm bảo đúng quy định của pháp luật Trường hợp trình tự, thủ tục hoặc nội dung của nghị quyết trái với điều lệ công ty hoặc trái quy định pháp luật thì vấn đề đặt ra là cơ chế yêu cầu hủy bỏ nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông, đảm bảo quyền lợi cho những cổ đông khác Tuy nhiên, pháp luật cũng chỉ ghi nhận quyền này cho cổ đông sở hữu từ 5% tổng số cổ phần phổ thông trong công ty, để đảm bảo sự ổn định khi nghị quyết Đại hội đồng cổ đông được ban hành
Đối với cổ đông hoặc nhóm cổ đông phổ thông sở hữu từ 10% tổng số cổ phần phổ thông trở lên hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn theo quy định tại Điều lệ công ty, còn
có thêm có quyền đề cử người vào Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát18 Như đã phân tích ở trên, Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý cao nhất của của Công ty cổ phần,
và Ban kiểm soát là cơ quan thành lập để kiểm soát hoạt động của công ty, do đó các thành viên làm việc trong các cơ quan này nắm vai trò hết sức quan trọng và quyền lực lớn trong việc ra quyết định liên quan đến các hoạt động kinh doanh của công ty
Có thể nói, các thành viên làm việc trong các đơn vị này gián tiếp chỉ huy và kiểm soát toàn bộ hoạt động điều hành công ty, vì thế pháp luật trao quyền cho nhóm cổ đông lớn này được quyền đề cử, lựa chọn người vào các cơ quan này để thay mặt
17 Điều 151 Luật doanh nghiệp;
18 Khoản 5, Điều 115 Luật doanh nghiệp;
Trang 28quản lý, giám sát hoạt động công ty, mang lại lợi ích cho cổ đông, nhóm cổ đông
Như vậy, các quyền của cổ đông phổ thông công ty cổ phần được pháp luật ghi nhận đánh dấu như là một sự khẳng định chủ quyền bất khả xâm phạm về tài sản của cổ đông công ty, là công cụ để bảo vệ lợi ích tốt hơn cho cổ đông khi lựa chọn công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp đầu tư Tuy nhiên, ở một khía cạnh khác, còn nhiều quan điểm cho rằng, pháp luật ghi nhận các quyền của cổ đông phổ thông còn chưa thật sự bao quát, còn mang tính liệt kê bỏ sót một số điều kiện để cổ đông thực hiện quyền của mình khi tham gia vào quy trình vận hành công ty
1.3.2 Quyền của cổ đông ưu đãi
Trong công ty cổ phần, ngoài cổ đông phổ thông sở hữu cổ phần phổ thông, còn có thể có cổ đông ưu đãi sở hữu các loại cổ phần ưu đãi theo quy định pháp luật
và điều lệ công ty Cổ đông ưu đãi là loại cổ đông sở hữu một hoặc nhiều loại cổ phần
ưu đãi nhất định có một số đặc quyền cao hơn các loại cổ phần khác Công ty cổ phần
có thể có cổ phần ưu đãi biểu quyết, cổ phần ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại
và cổ phần ưu đãi khác Người sở hữu từng loại cổ phần sẽ có tên gọi cổ đông khác nhau như cổ đông ưu đãi biểu quyết, cổ đông ưu đãi cổ tức, cổ đông ưu đãi hoàn lại
và cổ đông ưu đãi khác
Cổ phần ưu đãi biểu quyết là cổ phần phổ thông có nhiều hơn phiếu biểu quyết
so với cổ phần phổ thông khác, số phiếu biểu quyết của một cổ phần ưu đãi biểu quyết
do Điều lệ công ty quy định19 Sau thời hạn ưu đãi biểu quyết, cổ phần ưu đãi biểu quyết chuyển đổi thành cổ phần phổ thông Như vậy đối với cổ phần ưu đãi biểu quyết sẽ mang đến quyền được biểu quyết, đóng góp ý kiến và quyết định các vấn đề trong cuộc họp Đại hội đồng cổ đông công ty Thông thường số phiếu biểu quyết đối với cổ đông phổ thông tương ứng cổ đông sở hữu một cổ phiếu sẽ có một phiếu biểu quyết, riêng đối với loại cổ phần ưu đãi này, pháp luật quy định chỉ có tổ chức được Chính phủ ủy quyền và cổ đông sáng lập mới được quyền sở hữu Cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết không được chuyển nhượng cổ phần đó cho người khác, trừ
19 Khoản 1, Điều 116 Luật doanh nghiệp;
Trang 29trường hợp chuyển nhượng theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật hoặc thừa kế
Cổ phần ưu đãi cổ tức là cổ phần được trả cổ tức với mức cao hơn so với mức
cổ tức của cổ phần phổ thông hoặc mức ổn định hằng năm20 Theo đó cổ tức là khoản lợi nhuận ròng được trả cho mỗi cổ phần bằng tiền mặt hoặc bằng tài sản khác từ nguồn lợi nhuận còn lại của công ty cổ phần sau khi đã thực hiện nghĩa vụ tài chính21
Có thể nói rằng, cá nhân, tổ chức sở hữu cổ phần ưu đãi cổ tức được quyền ưu đãi về giá trị và thời điểm thanh toán cổ tức Tính chất ưu đãi về giá trị thanh toán được thể hiện qua mức cổ tức chia cho cổ đông sở hữu cổ phiếu ưu đãi cổ tức có thể cao hơn mức cổ tức của cổ đông sở hữu cổ phiếu ưu đãi phổ thông Tuy nhiên vẫn có những trường hợp, mức cổ tức cố định hàng năm có thể thấp hơn mức cổ tức chia cho cổ đông nắm giữ cổ phần phổ thông Bên cạnh đó, cổ tức cố định hàng năm lại không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của công ty Điều này đồng nghĩa với việc, cổ đông
sở hữu cổ phiếu ưu đãi cổ tức được thanh toán trước so với cổ đông sở hữu cổ phiếu phổ thông Đây chính là tính chất ưu đãi về thời điểm thanh toán Đối với cổ đông sở hữu cổ phiếu phổ thông, việc thanh toán cổ tức cổ phiếu phổ thông phải thỏa mãn các điều kiện cụ thể, phụ thuộc rất nhiều vào tình hình hoạt động kinh doanh của công ty
Cổ đông ưu đãi cổ tức ngoài quyền được ưu đãi như trên còn có thêm các quyền sau: Nhận phần tài sản còn lại tương ứng với tỷ lệ sở hữu cổ phần tại công ty sau khi công
ty đã thanh toán hết các khoản nợ, cổ phần ưu đãi hoàn lại khi công ty giải thể hoặc phá sản và các quyền khác như cổ đông phổ thông, trừ trường hợp biểu quyết, dự họp Đại hội đồng cổ đông, đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát
Cổ phần ưu đãi hoàn lại là cổ phần được công ty hoàn lại vốn góp theo yêu cầu của người sở hữu hoặc theo các điều kiện được ghi tại cổ phiếu của cổ phần ưu đãi hoàn lại và Điều lệ công ty22 Cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi hoàn lại có các quyền cụ thể như cổ đông phổ thông như nhận cổ tức, ưu tiên mua cổ phần, tự do
20 Khoản 1, Điều 117 Luật doanh nghiệp;
21 Khoản 3, Điều 4 Luật doanh nghiệp;
22 Khoản 1, Điều 118 Luật doanh nghiệp;
Trang 30chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác trừ quyền biểu quyết, dự họp Đại hội cổ đông, đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát theo quy định Có thể thấy quy định này phần nào hạn chế quyền của chủ sở hữu cổ phần ưu đãi hoàn lại, song hành với những lợi ích mà cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi hoàn lại được hưởng thì những hạn chế trên nhằm mục đích để hạn chế tối đa việc can thiệp sâu vào hoạt động nội bộ của công ty, những vấn đề quan trọng của công ty nhằm góp phần tạo môi trường ổn định, phát triển cho công ty cổ phần
1.4 Lịch sử chế định quyền cổ đông công ty cổ phần
1.4.1 Chế định Quyền của cổ đông công ty cổ phần tại Luật doanh nghiệp năm 2014 so với Luật doanh nghiệp năm 2005
Xuất phát từ những bất cập về bảo vệ cổ đông, quản trị công ty và qua thực tế thi hành Luật doanh nghiệp 2005 cho thấy, các quy định cũ trong Luật này không phù hợp trong việc thực hiện các quyền của cổ đông Về bảo vệ quyền của cổ đông: Bổ sung quy định nhằm bảo vệ tốt hơn quyền lợi hợp pháp của cổ đông thông qua việc quy định chi tiết hơn về bổn phận người quản lý công ty, tạo thuận lợi hơn cho cổ đông theo dõi, giám sát và khởi kiện người quản lý khi cần thiết23
Luật doanh nghiệp 2014 đã giảm yêu cầu về tỷ lệ biểu quyết thông qua quyết định Đại hội đồng cổ đông xuống 51% đối với quyết định thông thường và 65% đối với quyết định “đặc biệt”24, đối chiếu với tỷ lệ tương ứng theo quy định của Luật doanh nghiệp 2005 là 65% và 75% Quy định mới này tạo điều kiện cho các cổ đông nhỏ phát huy quyền biểu quyết và vai trò của mình trong cuộc họp Đại hội đồng cổ đông công ty
Về tỷ lệ quy định đối với điều kiện tiến hành họp Đại hội đồng cổ đông và tỷ
lệ biểu quyết thông qua tại cuộc họp Đại hội đồng cổ đông: Cổ đông là người đã góp vốn vào công ty cổ phần nên họ có quyền lợi đối với công ty tương ứng với phần vốn
23 Điều 159, 160, 161 Luật doanh nghiệp 2014;
24 Điều 144 Luật doanh nghiệp 2014;
Trang 31góp của mình Tuy nhiên, đặc trưng của công ty cổ phần là sự tách bạch giữa sở hữu
và quản lý, có những lúc người quản lý, bao gồm cả Hội đồng quản trị, Giám đốc, Tổng Gám đốc và các chức danh quản lý khác không hành động vì mục tiêu tối đa hóa lợi ích cho các cổ đông Lúc này, các xung đột về lợi ích giữa cổ đông và người quản lý xuất hiện và phần lớn các trường hợp người bị thiệt hơn cả là các cổ đông mà đặc biệt là các cổ đông thiểu số Hơn nữa, do quyền của các cổ đông được tính tương ứng với số vốn đã góp vào công ty nên các cổ đông thiểu số càng bị áp đảo bởi các
cổ đông kiểm soát với số vốn góp nhiều hơn Để bảo đảm quyền lợi cho các cổ đông thiểu số này, Điều 141 Luật doanh nghiệp 2014 đã sửa đổi tỷ lệ quy định đối với điều kiện tiến hành cuộc họp Đại hội đồng cổ đông Theo quy định tại Điều 102 Luật doanh nghiệp 2005: Cuộc họp Đại hội đồng cổ đông lần thứ nhất được tiến hành khi
có số cổ đông dự họp đại diện ít nhất 65% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết, lần thứ hai là 51%, thì theo Điều 141 Luật doanh nghiệp 2014, điều kiện tiến hành họp Đại hội đồng cổ đông lần lượt với các tỷ lệ tương ứng với lần thứ nhất, lần thứ hai là 51%, 33% và lần thứ ba giữ nguyên không phụ thuộc vào tổng số phiếu biểu quyết của các cổ đông dự họp
Việc quy định tỷ lệ theo Luật doanh nghiệp 2014 rõ ràng tạo điều kiện cho các
cổ đông thiểu số thực hiện quyền tiến hành họp Đại hội đồng cổ đông được dễ dàng hơn, vì các cổ đông nhỏ thì sở hữu ít cổ phần nên họ phải phối hợp với nhau để tạo thành nhóm cổ đông đạt tỷ lệ đủ điều kiện tiến hành họp Đại hội đồng cổ đông lần thứ hai, mà không cần phải chờ đến lần thứ ba
Như vậy, nhìn chung, cơ chế và phương thức bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư ở Việt Nam theo tinh thần Luật doanh nghiệp 2014 đã có nhiều quy phạm tiến bộ, bổ sung các quy định nhằm định hình cơ chế bảo vệ các quyền của cổ đông, trong đó có việc bảo vệ cổ đông thiểu số Luật doanh nghiệp 2014 cũng đã đổi mới phương thức tăng cường tạo thuận lợi cho cổ đông thực hiện quyền khởi kiện đối với người quản
lý công ty khi cần thiết; trình tự, thủ tục khởi kiện đã rút gọn đơn giản hơn, khắc phục bất cập về chi phí cho các cổ đông công ty
Trang 321.4.2 Chế định Quyền của cổ đông công ty cổ phần tại Luật doanh nghiệp năm 2020 so với Luật doanh nghiệp năm 2014
Sự phát triển của nền kinh tế thị trường giai đoạn 2016 - 2019 nền kinh tế Việt Nam có bước chuyển mình mạnh mẽ, đặc biệt là sự gia tăng số lượng đăng ký thành lập doanh nghiệp Bình quân giai đoạn 2016-2019 hàng năm cả nước có 126.593 doanh nghiệp thành lập mới, với số vốn đăng ký là 1,35 triệu tỷ đồng, tốc độ tăng số doanh nghiệp thành lập mới là 49,3%, với số vốn đăng ký tăng 24,8%25 Đặc biệt trong số này là loại hình doanh nghiệp công ty cổ phần Như vậy cùng với sự gia tăng
về số lượng, đã kéo theo chất lượng quản trị và cơ chế điều chỉnh của pháp luật lên loại hình công ty cổ phần cần được hoàn thiện, đổi mới phù hợp với xu hướng phát triển giai đoạn 2020 – 2025
Điểm nổi bật trong quy định của Luật doanh nghiệp 2020 là quy định sửa đổi,
bổ sung quyền của cổ đông hoặc nhóm cổ đông nắm giữ từ 5% tổng số cổ phần phổ thông trở lên hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn theo quy định tại Điều lệ công ty Cụ thể
là các cổ đông này có các quyền nhất định về thông tin về các tài liệu trong công ty,
có quyền triệu tập các cuộc họp Đại hội đồng cổ đông để đánh giá các hành động của Hội đồng Quản trị, Ban Giám đốc hoặc những người quản lý khác của công ty, có quyền yêu cầu Ban Kiểm soát kiểm tra từng vấn đề cụ thể liên quan đến quản lý, điều hành hoạt động của công ty khi xét thấy cần thiết26 Quy định mới về quyền của cổ đông nắm giữ từ 5% quyền biểu quyết trong Luật doanh nghiệp 2020 thay vì 10% quy định ở Luật doanh ngiệp 201427, đã thống nhất quy định về tỷ lệ sở hữu là cổ đông lớn quy định trong Luật chứng khoán 2019 Theo quy định tại Khoản 18 Điều
4 Luật chứng khoán 2019 thì “cổ đông lớn” được định nghĩa là cổ đông sở hữu từ 5% trở lên số cổ phiếu có quyền biểu quyết của một tổ chức phát hành Với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế như hiện nay với số lượng các công ty cổ phần có vốn hóa lớn, tỷ lệ nắm giữ 5% cổ phần biểu quyết của cổ đông tại bất cứ thời điểm nào mà
25 Tại trang Web: https://www.gso.gov.vn, truy cập ngày 24/01/2022;
26 Khoản 2 Điều 115 Luật doanh nghiệp;
27 Khoản 2, Điều 114 Luật doanh nghiệp 2014;
Trang 33không cần thời hạn nhất định để có thể thực thi các quyền như trên là phù hợp với tình hình quản trị và thực tế hiện nay
Đối với quyền tiếp cận thông tin, Luật doanh nghiệp 2020 đã mở rộng quyền tiếp cận thông tin và tăng khả năng giám sát của cổ đông đối với các giao dịch cần được giám sát như giao dịch với người có liên quan nhằm hạn chế việc thất thoát tài sản, gây thiệt hại cho công ty thông qua việc bổ sung chế định quyền xem xét, trích lục hợp đồng, giao dịch phải thông qua Hội đồng quản trị và tài liệu khác trừ tài liệu liên quan đến bí mật thương mại, bí mật kinh doanh của công ty28 Tuy nhiên, quyền tiếp cận thông tin này bị hạn chế đối với các tài liệu liên quan đến bí mật thương mại,
bí mật kinh doanh của công ty Quy định mới phù hợp bảo đảm lợi ích của cổ đông trong thực tiễn giao dịch chuyển nhượng cổ phần, điển hình là việc mua bán cổ phiếu trên thị trường chứng khoán
Luật doanh nghiệp 2020 ghi nhận quyền đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát29 nhưng đã loại bỏ yêu cầu việc cổ đông phải liên tục nắm giữ cổ phần
từ sáu tháng trở lên đối với cổ đông nắm giữ từ 10% tổng số cổ phần phổ thông trở lên hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn theo quy định tại Điều lệ công ty30 Đây là một thay đổi tích cực bởi nó cho phép cổ đông mới của một công ty cổ phần có thể thực thi quyền của chủ sở hữu kiểm soát công ty thông qua việc đề cử nhân sự vào các chức danh quản lý công ty ngay khi họ có được số cổ phần cần thiết thay vì phải đợi thêm sáu tháng như quy định của Luật doanh nghiệp 2014 Điều này càng được thể hiện rõ trong các giao dịch mua bán sáp nhập doanh nghiệp, để tránh yêu cầu thời hạn nắm giữ đủ sáu tháng liên tục mới có quyền giới thiệu người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát, các bên trong giao dịch luôn phải có thỏa thuận về việc cổ đông hiện hữu nghĩa vụ triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông bất thường để bãi nhiệm người đại diện phần vốn góp của mình trong Hội đồng quản trị hoặc Ban kiềm soát và bầu bổ nhiệm người đại diện phần vốn góp của cổ đông nhận chuyển nhượng vào các vị trí thay thế
28 Điểm a, khoản 2 Điều 115 Luật doanh nghiệp;
29 Khoản 5, Điều 115 Luật doanh nghiệp;
30 Khoản 3, Điều 116 Luật doanh nghiệp 2014;
Trang 34tương ứng Trong trường hợp cổ đông mới chưa có quyền luật định để tham gia giám sát hoạt động của công ty trong giai đoạn chuyển tiếp sáu tháng này, người quản lý doanh nghiệp có thể lợi dụng khoảng thời gian này để thực hiện các giao dịch chuyển lợi nhuận của công ty về các doanh nghiệp khác hoặc tẩu tán tài sản gây thiệt hại cho công ty31
Một điểm mới nổi bật trong Luật doanh nghiệp 2020 có thể kể đến là sự thay đổi về quyền khởi kiện của cổ đông đối với người quản lý công ty Luật doanh nghiệp
2020 đã bỏ yêu cầu thời hạn nắm giữ liên tục trong sáu tháng của cổ đông nắm giữ ít nhất 1% cổ phần để cổ đông này có thể thực thi quyền tự mình hoặc nhân danh công
ty khởi kiện người quản lý công ty liên quan đến các quyết định, hành động trong quá trình điều hành doanh nghiệp32
Luật doanh nghiệp 2020 bổ sung thêm khái niệm trách nhiệm liên đới của thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc liên quan đến quyền khởi kiện của cổ đông nắm giữ 1% cổ phần trở lên trong khi Luật doanh nghiệp 2014 chỉ có khái niệm trách nhiệm dân sự của các đối tượng này33 Rõ ràng, quy định về trách nhiệm liên đới theo Luật 2020 sẽ cụ thể và chi tiết hơn quy định về trách nhiệm dân sự cụ thể hóa trong Luật 2014, điều này chứng tỏ vấn đề trách nhiệm cần được làm rõ và làm chi tiết trong trường hợp có yêu cầu khởi kiện liên quan đến cổ đông
sở hữu ít nhất 1% cổ phần công ty Bên cạnh đó, một nội dung cũng cần được lưu ý,
mở rộng khi nội dung yêu cầu của cổ đông nắm giữ ít nhất 1% cổ phần khi khởi kiện
là “yêu cầu hoàn trả lợi ích hoặc bồi thường thiệt hại cho công ty hoặc người khác” Tuy nhiên xét về khía cạnh thực tiễn, thực thi chế định này cần được quy định cụ thể
về “Người khác” để vận dụng vào các trường hợp nhất định
Ngoài ra, Luật doanh nghiệp 2020 bổ sung chế định quyền được chuyển nhượng cổ phần đối với các loại cổ phần ưu đãi biểu quyết trong trường hợp chuyển
31 Tại trang Web: https://www.viac.vn/goc-nhin-trong-tai-vien, truy cập ngày 26/01/2022;
32 Khoản 1, Điều 166 Luật doanh nghiệp;
33 Khoản 1, Điều 161 Luật doanh nghiệp 2014;
Trang 35nhượng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc thừa kế34 Quy định này nhằm bảo vệ tốt hơn cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết của công ty
cổ phần trong trường hợp tranh chấp giải quyết thông qua Tòa án hoặc cá nhân chết phát sinh quyền thừa kế
Như vậy, đối với những quy định về quyền cổ đông công ty cổ phần được Luật hóa trong Luật doanh nghiệp 2020 đã thể hiện cụ thể những vấn đề trở thành điểm nóng được sửa đổi, bổ sung để phù hợp với tình hình phát triển của nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2020 – 2025 Và trong bất kỳ thời kỳ nào, sự thay đổi về mặt lý luận của pháp luật luôn tồn tại những hạn chế nhất định khi vận dụng vào thực tiễn Tuy Luật 2020 đã có những thay đổi lớn, bảo vệ tốt hơn quyền của cổ đông và phát huy khả năng làm chủ, vai trò của cổ đông trong quản trị công ty cổ phần, nhưng thực tiễn vận dụng Luật doanh nghiệp 2020 hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế, thiếu sót, đòi hỏi vấn đề đặt ra là hoàn thiện quy định mới trong Luật 2020, để phù hợp với tình hình phát triển không ngừng của công ty cổ phần đặc biệt là xu hướng phát triển của công
ty cổ phần trên sàn chứng khoán Việt Nam hiện nay và trong tương lai
34 Khoản 3, Điều 116 Luật doanh nghiệp;
Trang 36TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Từ những phân tích mang tính lý luận và đối sánh các quy định pháp luật doanh nghiệp, có thể nói công ty cổ phần là một chủ thể độc lập và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản thuộc sở hữu của công ty đối với các nghĩa vụ phát sinh từ các quan
hệ pháp luật Tài sản của công ty là do các cổ đông góp vốn và chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn sang công ty sở hữu và hai loại tài sản này hoàn toàn tách bạch, độc lập với nhau Vì lẽ đó, các quyền cổ đông sẽ được thể hiện thông qua mối quan hệ giữa cổ đông với công ty và ngược lại
Quyền cổ đông công ty cổ phần có thể hiểu là quyền được phát sinh khi chủ thể sở hữu cổ phần của công ty, tương ứng với từng loại cổ phần và tỉ lệ sở hữu sẽ mang đến một số quyền năng cho cổ đông như tác giả đã phân tích như trên Vì vậy, quyền cổ đông là một loại quyền đặc biệt được xác lập thông qua việc sở hữu cổ phần, nhưng được thực hiện trên một chủ thể độc lập Mặc dù, pháp nhân công ty do các cổ đông sáng lập lập ra, tài sản của công ty do cổ đông góp vào, nhưng việc quản lý và
sử dụng nguồn tài sản này hoàn toàn do công ty quyết định
Xuất phát từ những lý luận trên đã mang đến cơ chế pháp luật trao cho cổ đông được quyền can thiệp vào hoạt động công ty thông qua việc sở hữu cổ phần, từ đó cổ đông có thể tự mình hoặc trao quyền cho một cá nhân, tổ chức khác thay mình quản
lý tài sản cũng như trao quyền quản trị công ty nhằm mục đích mang lại lợi nhuận trên tài sản đưa vào công ty Vậy thực tiễn cổ đông thực hiện quyền của mình ra sao
và công ty đã đảm bảo lợi ích cho cổ đông như thế nào sẽ là những câu hỏi được giải đáp trong phần tiếp theo của Luận văn
Trang 37Chương 2 THỰC TIỄN THỰC HIỆN QUYỀN CỦA CỔ ĐÔNG CÔNG TY
CỔ PHẦN VÀ CÁC ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ
THỰC HIỆN QUYỀN CỦA CỔ ĐÔNG CÔNG TY CỔ PHẦN
2.1 Thực tiễn thực hiện quyền của cổ đông công ty cổ phần
2.1.1 Quyền tài sản và quyền đối với cổ phần của cổ đông
Một vấn đề quan trọng khi nhà đầu tư tham gia góp vốn mua cổ phần của công
ty cổ phần là xác lập quyền sở hữu tài sản thông qua việc sở hữu cổ phần của cổ đông Theo quy định pháp luật dân sự: Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản Vậy cá nhân, tổ chức sở hữu cổ phần bằng cổ phiếu sẽ mang lại một số quyền nhất định liên quan đến tài sản, cụ thể: Cổ đông được nắm giữ cổ phần, được nhận cổ tức tương ứng với tỉ lệ sở hữu theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông và khi công
ty giải thể hoặc phá sản, cổ đông được nhận một phần tài sản còn lại tương ứng với
tỷ lệ sở hữu cổ phần tại công ty35
Như vậy, đối với việc sở hữu cổ phần thì cá nhân hoặc tổ chức sẽ có tương ứng ba quyền: chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với cổ phần Và cũng theo cơ chế này, cổ đông phổ thông tương ứng sẽ có quyền được nhận cổ tức thông qua việc khai thác tài sản là cổ phiếu và quyền nhận lại một phần tài sản khi công ty giải thể hoặc phá sản, quyền tự do chuyển nhượng cổ phần trừ các trường hợp Luật định Đối với
cổ đông ưu đãi sở hữu cổ phần ưu đãi cổ tức và cổ phần ưu đãi hoàn lại sẽ được quyền
ưu tiên nhất định đối với cơ chế nhận cổ tức và cơ chế nhận lại một phần tài sản khi công ty giải thể hoặc phá sản
2.1.1.1 Quyền nhận cổ tức
Đối với quy định cổ đông được nhận cổ tức tương ứng với tỷ lệ sở hữu theo mức do Đại hội đồng cổ đông quyết định được thực thi khá tốt Các công ty kinh doanh thuận lợi thì cổ đông cũng chính là người sẽ được hưởng tương ứng với tỉ lệ
sở hữu cổ phần trên tổng lợi nhuận Cổ tức ở đây có thể được thể hiện thông qua hình
35 Điểm b, g khoản 1, Điều 115 Luật doanh nghiệp;
Trang 38thức bằng tiền mặt, bằng cổ phiếu, quyền mua phát hành, chia cổ phiếu thưởng, cụ thể: Theo Thông báo số 1572/TB –SGDHCM ngày 31/8/2021 của Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2021 Tập đoàn Đất Xanh (mã chứng khoán - DXG) thông báo chốt quyền chia cổ phiếu thưởng Theo đó, ngày 09/9/2021 là ngày giao dịch không hưởng quyền chia cổ tức, ngày 10/9/2021 thực hiện đăng ký cuối cùng thực hiện quyền nhận cổ phiếu thưởng tỷ lệ 15% (cổ đông sở hữu 100 cổ phiếu
sẽ được nhận thêm 15 cổ phiếu mới)36 Nguồn vốn thực hiện từ lợi nhuận sau thuế chưa phân phối tại thời điểm ngày 31/12/2020 Với hơn 518 triệu cổ phiếu đang lưu hành thì số lượng cổ phiếu dự kiến phát hành sẽ đạt gần 78 triệu đơn vị, tương ứng vốn điều lệ của công ty sẽ tăng từ 5.200 tỷ lên hơn 5.977 tỷ đồng Như vậy mỗi cổ đông công ty sở hữu 100 cổ phiếu sẽ được nhận cổ tức bằng cổ phiếu với tỷ lệ 15%, tương ứng là 15 cổ phiếu mới
Theo Thông báo số 2205/TB-SDGHCM ngày 24/12/2021 của Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 11/01/2022 Công ty cổ phần Sữa Việt Nam (mã chứng khoán - VNM) chốt danh sách cổ đông chi tạm ứng cổ tức đợt 2 năm
2021 bằng tiền tỷ lệ 14%, tương ứng cổ đông sở hữu một cổ phiếu được nhận về 1.400 đồng Thời gian thanh toán cổ tức được ấn định ngày 25/2/2022 Như vậy với gần 2,09 tỷ cổ phiếu đang niêm yết và lưu hành, Công ty cổ phần Sữa Việt Nam sẽ chi khoảng 2.900 tỷ đồng tạm ứng cổ tức cho cổ đông Năm 2021, công ty đặt mục tiêu doanh thu đạt 62.160 tỷ đồng và 11.240 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế Kết thúc 09 tháng đầu năm theo số liệu trên báo cáo tài chính quý 3 ghi nhận doanh thu đạt 45.100
tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế giảm 6,4% xuống còn 8.420 tỷ đồng
Tại Thông báo số 1555/TB-SGDHCM ngày 26/8/2021 của Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 08/09/2021 Công ty cổ phần Chứng khoán VIX (mã chứng khoán - VIX) sẽ chốt danh sách cổ đông phát hành 9,16 triệu cổ phiếu trả
cổ tức năm 2020, tỷ lệ phát hành 15%, ngày 07/9/2021 giao dịch không hưởng quyền Giá trị phát hành theo mệnh giá gần 192 tỷ đồng Kết quả hoa ̣t động kinh doanh năm
36 Theo Thông báo số 2205/TB-SGDHCM ngày 24/12/2021, tại Website:
https://s.cafef.vn/dxg-434631/dat-xanh-dxg-chot-ngay-chia-co-phieu-thuong-ty-le-15.chn, truy cập ngày 28/01/2022;
Trang 392020, doanh thu công ty đạt 718 tỷ đồng và tăng 64% so với năm 2019 Lợi nhuận sau thuế đạt hơn 328 tỷ đồng, tăng 182% so với lợi nhuận đạt được năm 2019 EPS đạt 2.571 đồng Ngoài ra Chứng khoán VIX phát hành gần 127,72 triệu cổ phiếu chào bán cho cổ đông hiện hữu Tỷ lệ 1:1 nhằm tăng vốn điều lệ lên gấp đôi Giá chào bán 10.000 đồng/cổ phiếu37
Quyền nhận cổ tức thông qua những công ty trên được thực hiện rất cụ thể, minh bạch trên cơ sở lợi nhuận hằng năm của công ty Cổ đông sở hữu tài sản là cổ phiếu sẽ có quyền tương ứng về việc nhận lợi hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản là
cổ phiếu của cổ đông Tuy nhiên, thực tế vẫn có trường hợp phát sinh tranh chấp về
cổ tức trong công ty cổ phần Cụ thể tại Bản án sơ thẩm số 03/2019/KDTM-PT ngày 22/11/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Lăk như sau:
Tháng 5/2017, ông N đã nghỉ việc tại công ty nhưng công ty không thanh toán hết cổ tức mà cổ đông được nhận, công ty giữ lại một phần cổ tức của ông trong các năm 2015 và 2016 với tổng số tiền là 232.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh để đảm bảo cho khoản nợ của công ty Nhận thấy quyền cổ đông của mình đang bị xâm phạm một cách bất hợp pháp, vì vậy ông N yêu cầu Tòa án giải quyết buộc công ty cổ phần lương thực vật tư nông nghiệp Đ phải trả cho ông số tiền 232.000.000 đồng tiền cổ tức năm 2015, 2016 và tiền lãi suất phát sinh từ ngày 01/02/2016 đến ngày 30/8/2019
là 60.728.347 đồng (Sáu mươi triệu, bảy trăm hai mươi tám ngàn, ba trăm bốn mươi bảy đồng), tiền lãi tạm tính đến ngày 30/8/2019
Về phía bị đơn Công ty công nhận hiện tại đang giữ số tiền 232.000.000 đồng tiền cổ tức nãm 2015, 2016 của ông Nguyễn Ngọc N Lý do công ty chưa chi trả số tiền cổ tức nêu trên cho ông N là vì theo nguyên tắc trước khi nghỉ việc thì cá nhân phải xử lý hết nợ tồn đọng giữa cá nhân với công ty Trước khi ông N nghỉ việc, ông
N đồng ý để lại sổ tiền cổ tức 2015, 2016 là 232.000.000 đồng để đảm bảo khoản nợ phải thu hồi cho công ty và một đơn vị khác Khi nghỉ việc công ty đã thanh toán đầy
37 Theo Thông báo số 1555/TB-SGDHCM ngày 26/8/2021 tại Website: danh-nhung-doanh-nghiep-chot-quyen-nhan-co-tuc-bang-tien-bang-co-phieu-va-co-phieu-thuong, truy cập ngày 28/01/2022;
Trang 40https://s.cafef.vn/vnm-435675/diem-đủ chế độ chính sách cho ông N Công ty không đồng ý việc ông N khởi kiện yêu cầu Công ty thanh toán cổ tức của năm 2015, 2016 số tiền 232.000.000 đồng Khi nào công ty thu hồi được nợ của Hợp tác xã nông nghiệp T1 thì công ty mới trả cổ tức cho ông N Đối với khoản lãi suất thì công ty không đồng ý với lý do ông N tự nguyện
để lại phần cổ tức tương ứng với khoản nợ của HTX nông nghiệp T1 nên ông N không
có căn cứ để yêu cầu tính lãi suất
Trên cơ sở quy định pháp luật doanh nghiệp liên quan đến quyền cổ đông công
ty cổ phần và quy định pháp luật dân sự về tài sản của cá nhân, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk nhận định Công ty cổ phần lương thực vật tư nông nghiệp Đ không trả tiền
cổ tức cho ông Nguyễn Ngọc N là vi phạm các Điều 579, Điều 580 Bộ luật dân sự
2015, Điều 132 Luật doanh nghiệp Do đó, Tòa quyết định chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc N, buộc công ty cổ phần vật tư nông nghiệp Đ phải trả cho ông Nguyễn Ngọc N số tiền 232.000.000 đồng (Hai trăm ba mươi hai triệu đồng) tiền cổ tức các năm 2015, 2016 Ngoài ra bản án còn quyết định
về án phí, quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định pháp luật
Căn cứ hướng giải quyết như trên của Tòa án có thể thấy, quyền được nhận cổ tức là quyền bất khả xâm phạm của cổ đông, trong bất kỳ trường hợp nào, công ty cũng không thể giữ lại tiền cổ tức để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ với công ty Trong
vụ án trên, ông Nguyễn Ngọc N là cá nhân làm việc trong công ty, có nghĩa vụ liên quan đến khoản nợ của công ty khi chưa giải quyết dứt điểm vụ kiện với Hợp tác xã nông nghiệp T1, tuy nhiên về cổ tức của cổ đông là khoản tiền độc lập, phát sinh từ việc khai thác tài sản là cổ phần của cổ đông trong công ty, vì vậy công ty phải có nghĩa vụ thanh toán cho ông N là hoàn toàn phù hợp theo quy định
Một trường hợp tranh chấp về yêu cầu trả cổ tức khác của cổ đông trong công
ty cổ phần cũng được Tòa án giải quyết, cụ thể: Ngày 26 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 02/2021/TLST-KDTM ngày 14 tháng 01 năm 2021 về việc: “Tranh