Đề tài đã xây dựng và phân tích mô hình nghiên cứu dựa trên thuyết hành động hợp lý TRA, thuyết hành vi có kế hoạch TPB và các nghiên cứu trước có liên quan đến hành vi người tiêu dùng t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-
NGUYỄN THANH SƠN
CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN Ý ĐỊNH THAM GIA BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN CỦA NGƯỜI DÂN
VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
TP Hồ Chí Minh, năm 2022
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-
NGUYỄN THANH SƠN
CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN Ý ĐỊNH THAM GIA BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN CỦA NGƯỜI DÂN
Trang 5i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan rằng luận văn “Các nhân tố tác động đến ý định tham gia
Bảo hiểm xã hội tự nguyện của người dân Việt Nam” là bài nghiên cứu của
chính tôi
Ngoại trừ những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận văn này, tôi cam đoan rằng toàn phần hay những phần nhỏ của luận văn này chưa từng được công bố hoặc được sử dụng để nhận bằng cấp ở những nơi khác
Không có sản phẩm/nghiên cứu nào của người khác được sử dụng trong luận văn này mà không được trích dẫn theo đúng quy định
Luận văn này chưa bao giờ được nộp để nhận bất kỳ bằng cấp nào tại các trường đại học hoặc cơ sở đào tạo khác
TP.Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2022
Họ và tên
Nguyễn Thanh Sơn
Trang 6ii
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến thầy TS.Phạm Xuân Kiên là giáo viên hướng dẫn trực tiếp, thầy đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn
Tiếp đến, tôi xin gửi lời cám ơn đến quý thầy cô của Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh đã dành nhiều tâm huyết và công sức để truyền đạt cho tôi những kiến thức, kinh nghiệm và kỹ năng để tôi có đủ kiến thức và sự tự tin trong việc thực hiện luận văn này; đồng thời tôi cũng xin cám ơn các thầy/cô quản
lý Khoa Sau đại học đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi có thể hoàn thành khóa học MBA
Tôi xin cám ơn cha, mẹ và những người thân đã luôn hỗ trợ, động viên tinh thần cho tôi trong suốt quá trình học cao học và thực hiện luận văn
Tôi cũng xin gửi lời cám ơn chân thành tới các bạn học viên các lớp MBA của Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh đã luôn đồng hành, giúp đỡ, chia sẻ và động viên tôi trong suốt quá trình học và hoàn thành luận văn; xin cám
ơn những người đã tham gia giúp đỡ tôi thực hiện khảo sát để thu thập thông tin,
dữ liệu cho bài nghiên cứu
Trong suốt quá trình thực hiện luận văn này, mặc dù đã cố gắng một cách tốt nhất có thể, xong cũng khó tránh được những sai sót Vì vậy, tôi rất mong sẽ tiếp tục nhận được những ký kiến đóng góp, phản hồi quý báu từ thầy cô, các anh/chị và các bạn
Trang 7iii
TÓM TẮT
Nghiên cứu nhằm xác định các nhân tố tác động đến ý định tham gia BHXHTN của người dân Việt Nam Đề tài đã xây dựng và phân tích mô hình nghiên cứu dựa trên thuyết hành động hợp lý (TRA), thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) và các nghiên cứu trước có liên quan đến hành vi người tiêu dùng trong lựa chọn tham gia các hình thức bảo hiểm nói chung và BHXHTN nói riêng Tác giả đã đề xuất 10 nhân tố trong
mô hình nghiên cứu là: niềm tin, kiến thức và hiểu biết về BHXHTN, nhận thức lợi ích, thái độ, chính sách hỗ trợ, khả năng chi trả, tuyên truyền, nhận thức kiểm soát hành vi, chuẩn chủ quan, ý định tham gia BHXHTN Trong đó, niềm tin, kiến thức
và hiểu biết về BHXHTN, nhận thức lợi ích tác động trực tiếp đến thái độ Chính sách
hỗ trợ, khả năng chi trả, tuyên truyền, nhận thức kiểm soát hành vi, chuẩn chủ quan tác động trực tiếp đến ý định tham gia BHXHTN
Nghiên cứu được thực hiện thông qua hai bước chính là nghiên cứu sơ bộ định tính và nghiên cứu chính thức định lượng Nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua phỏng vấn 05 chuyên gia và 10 người dân về BHXHTN Nghiên cứu địnhh lượng được thực hiện thông qua hình thức phỏng vấn bằng phiếu khảo sát, 392 mẫu được
sử sụng để đánh giá và kiểm định mô hình nghiên cứu thông qua các phương pháp phân tích dữ liệu là đánh giá độ tin cậy thang đo, phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích nhân tố khẳng định (CFA), phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) và phân tích One-Way ANOVA
Kết quả nghiên cứu cho thấy 09 giả thuyết được ủng hộ, 01 giả thuyết không phù hợp Trong đó, Niềm tin, Kiến thức và hiểu biết về bảo hiểm, Nhận thức lợi ích
có tác động tích cực đến Thái độ Tiếp đó, Thái độ, Chuẩn chủ quan, Nhận thức kiểm soát hành vi, Chính sách hỗ trợ, Khả năng chi trả và Tuyên truyền có tác động trực tiếp và tích cực đến Ý định tham gia BHXHTN Nhân tố Niềm tin không có vai trò điều tiết lên mối quan hệ giữa Thái độ và ý định tham gia BHXHTN
Trang 8iv
Trong điều kiện giới hạn về nguồn lực và thời gian, nghiên cứu không tránh khỏi những hạn chế nhất định Tuy nhiên, những kết quả đạt được sẽ hữu ích cho việc ban hành các chính sách đảm bảo an sinh xã hội cho người dân
Trang 9v
ABSTRACT
Research to determine the factors affecting the intention to participate in voluntary social insurance of Vietnamese people The research has built and analyzed a research model based on the theory of rational action (TRA), the theory of planned behavior (TPB) and previous studies related to consumer behavior in choice of reference in forms of insurance in general and voluntary social insurance in particular The author has proposed 10 factors in the research model: belief, knowledge and understanding about voluntary social insurance, awareness of benefits, attitude, support policy, ability to pay, propaganda, awareness of behavior control, subjective norms, intention to participate in voluntary social insurance In which, belief, knowledge and understanding about voluntary social insurance, perceived benefits directly affect attitude Support policies, ability to pay, propaganda, perception of behavioral control, subjective standards directly affect the intention to participate in voluntary social insurance
The research is carried out through two main steps: qualitative preliminary research and quantitative formal research Qualitative research was conducted through interviews with 5 experts and 10 people about voluntary social insurance Quantitative research was carried out through the form of interviews with questionnaires, 392 samples were used to evaluate and test the research model through data analysis methods to assess the reliability of the scale, exploratory factor analysis (EFA), confirmatory factor analysis (CFA), linear structural model analysis (SEM) and One-Way ANOVA analysis
Research results show that 09 hypotheses are supported, 01 hypothesis
is not suitable In which, belief, knowledge and understanding about insurance, awareness of benefits have a positive impact on attitude Next, attitudes,
Trang 10vi
subjective norms, awareness of behavior control, support policy, ability to pay and propaganda have a direct and positive impact on the intention to participate
in voluntary social insurance The factor belief does not have a moderating role
on the relationship between attitude and intention to participate in voluntary social insurance
In conditions of limited resources and time, researchers could not avoid certain restrictions However, these results will be useful for the enactment of policies to ensure social security for the people
Trang 11vii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
ABSTRACT v
MỤC LỤC vii
DANH MỤC HÌNH VÀ ĐỒ THỊ xii
DANH MỤC BẢNG BIỂU xiii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT xiv
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1
1.1.Cơ sở hình thành đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 4
1.2.1 Mục tiêu chung 4
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 4
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 5
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 5
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 5
1.5 Phương pháp nghiên cứu 6
1.5.1 Giai đoạn 1: Nghiên cứu định tính 6
1.5.2 Giai đoạn 2: Nghiên cứu định lượng: thu thập dữ liệu định lượng 6
Trang 12viii
1.6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu 6
1.6.1 Ý nghĩa khoa học 6
1.6.2 Ý nghĩa thực tiễn 7
1.7 Kết cấu luận văn 8
Tóm tắt chương 1 9
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 10
2.1 Các khái niệm chính 10
2.1.1 Bảo hiểm xã hội tự nguyện 10
2.1.2 Ý định tham gia BHXHTN 11
2.1.3 Niềm tin 12
2.1.4 Thái độ 12
2.2 Lý thuyết liên quan đến hành vi người tiêu dùng 13
2.2.1 Thuyết hành động hợp lý - Theory of Reasoned Action (TRA) 13
2.2.2 Thuyết hành vi có kế hoạch - Theory of Planned Behaviour (TPB) 14
2.3 Các nghiên cứu ngoài nước và trong nước có liên quan 16
2.3.1 Một vài nghiên cứu ngoài nước có liên quan 16
2.3.1.1 Nghiên cứu của Yeow và cộng sự (2021) 16
2.3.1.2 Nghiên cứu của Aramiko và cộng sự (2021) 17
2.3.1.3 Nghiên cứu của Meko, Lemie & Worku (2019) 18
2.3.1.4 Nghiên cứu của Nosi và cộng sự (2017) 19
2.3.1.5 Nghiên cứu của Amlan và Shrutikeerti (2017) 20
2.3.1.6 Nghiên cứu của Nasir (2017) 20
2.3.1.7 Nghiên cứu của Dror và cộng sự (2016) 21
2.3.1.8 Nghiên cứu của Souiden và Jabeur (2015) 22
Trang 13ix
2.3.2 Một vài nghiên cứu trong nước có liên quan 23
2.3.2.1 Nghiên cứu của Hồ Thị Phương Thảo và cộng sự (2021) 23
2.3.2.2 Nghiên cứu của Hồ Thủy Tiên và cộng sự (2021) 24
2.3.2.3 Nghiên cứu của Linh và cộng sự (2020) 25
2.3.2.4 Nghiên cứu của Loan và Quyen (2020) 26
2.3.2.5 Nghiên cứu của Nguyễn Thị Nguyệt Dung và Nguyễn Thị Sinh (2019) 27
2.3.2.6 Nghiên cứu của Hoàng Thu Thủy, Bùi Hoàng Minh Thư (2018) 28
2.4 Tổng hợp nhân tố tác động ý định mua BHXHTN từ các nghiên cứu trước 29 2.5 Xây dựng các giả thuyết và mô hình nghiên cứu đề xuất 33
2.5.1 Xây dựng các giả thuyết nghiên cứu 33
2.5.1.1 Niềm tin, Thái độ và Ý định tham gia BHXHTN 33
2.5.1.2 Kiến thức và hiểu biết và Thái độ đối với BHXHTN 34
2.5.1.3 Nhận thức lợi ích và Thái độ về BHXHTN 35
2.5.1.4 Thái độ và Ý định tham gia BHXHTN 36
2.5.1.5 Chuẩn chủ quan và Ý định tham gia BHXHTN 36
2.5.1.6 Nhận thức kiểm soát hành vi và Ý định tham gia BHXHTN 37
2.5.1.7 Chính sách hỗ trợ của Nhà nước và ý định tham gia BHXHTN 37
2.5.1.8 Khả năng chi trả và ý định tham gia BHXHTN 38
2.5.1.9 Tuyên truyền và ý định tham gia BHXHTN 39
2.5.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất 40
Tóm tắt chương 2 41
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 42
3.1 Quy trình nghiên cứu 42
Trang 14x
3.2 Thiết kế nghiên cứu 43
3.2.1 Nghiên cứu định tính 43
3.2.2 Nghiên cứu định lượng: thu thập dữ liệu định lượng 44
3.3 Phương pháp lấy mẫu và kích thước mẫu 45
3.4 Thang đo và bảng câu hỏi định lượng 46
3.5 Phương pháp xử lý dữ liệu định lượng 52
Tóm tắt Chương 3: 55
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 56
4.1 Thống kê mô tả mẫu và biến 56
4.1.1 Thống kê mô tả mẫu 56
4.1.2 Thống kê mô tả các biến quan sát 58
4.2 Đánh giá độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha 60
4.3 Phân tích nhân tố khám phá EFA 64
4.4 Phân tích nhân tố khẳng định CFA 67
4.4.1 Kiểm định mức độ phù hợp chung của mô hình 69
4.4.2 Kiểm định giá trị phân biệt 70
4.4.3 Kiểm định giá trị hội tụ 71
4.5 Phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) 72
4.6 Biến điều tiết 75
4.7 Phân tích khác biệt bằng T-test và One-Way ANOVA 76
4.7.1 Phân tích ANOVA đối với biến GIỚI TÍNH 77
4.7.2 Phân tích ANOVA đối với biến ĐỘ TUỔI 77
4.7.3 Phân tích ANOVA đối với biến HỌC VẤN 78
4.7.4 Phân tích ANOVA đối với biến NGHỀ NGHIỆP 78
Trang 15xi
4.7.5 Phân tích ANOVA đối với biến THU NHẬP 79
4.8 THẢO LUẬN KẾT QUẢ 80
Tóm tắt Chương 4 84
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ 85
5.1 KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 85
5.2 ĐÓNG GÓP CỦA NGHIÊN CỨU 86
5.2.1 Đóng góp về mặt khoa học 86
5.2.2 Đóng góp về mặt thực tiễn 87
5.3 HÀM Ý QUẢN TRỊ 87
5.4 HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU: 90
5.5 HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
PHỤ LỤC 1: DÀN BÀI THẢO LUẬN TAY ĐÔI 96
PHỤ LỤC 2: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH VỀ THANG ĐO 101
PHỤ LỤC 3: PHIẾU KHẢO SÁT CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN 107
Ý ĐỊNH THAM GIA BHXH TỰ NGUYỆN 107
PHỤ LỤC 4: KẾT QUẢ PHÂN TÍCH ĐỊNH LƯỢNG 112
Trang 16xii
DANH MỤC HÌNH VÀ ĐỒ THỊ
Hình 2.1: Mô hình lý thuyết TRA (Ajzen và Fishbein, 1975) 14
Hình 2.2: Mô hình hành vi có kế hoạch TPB (Ajzen, 1991) 15
Hình 2.3: Mô hình DTPB (Taylor và Todd, 1995) 16
Hình 2.4: Mô hình nghiên cứu của Yeow và cộng sự (2021) 17
Hình 2.5: Mô hình nghiên cứu của Aramiko và cộng sự (2021) 18
Hình 2.6: Mô hình nghiên cứu của Meko và cộng sự (2019) 18
Hình 2.7: Mô hình nghiên cứu của Nosi và cộng sự (2017) 19
Hình 2.8: Mô hình nghiên cứu của Amlan và Shrutikeerti (2017) 20
Hình 2.9: Mô hình nghiên cứu của Nasir (2017) 21
Hình 2.10: Mô hình nghiên cứu của Dror và cộng sự (2016) 22
Hình 2.11: Mô hình nghiên cứu của Souiden và Jabeur (2015) 23
Hình 2.12: Mô hình nghiên cứu của Hồ Thị Phương Thảo và cộng sự (2021) 24
Hình 2.13: Mô hình nghiên cứu của Hồ Thủy Tiên và cộng sự (2021) 25
Hình 2.14: Nghiên cứu của Linh và cộng sự (2020) 26
Hình 2.15: Mô hình nghiên cứu của Loan và Quyen (2020) 27
Hình 2.16: Mô hình nghiên cứu của Nguyễn Thị Nguyệt Dung và Nguyễn Thị Sinh (2019) 28
Hình 2.17: Mô hình nghiên cứu của Hoàng Thu Thủy, Bùi Hoàng Minh Thư (2018) 29
Hình 2.18: Mô hình nghiên cứu đề xuất 40
Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu 42
Hình 4.1: Kết quả phân tích CFA (chuẩn hóa) 68
Hình 4.2: Kết quả kiểm định mô hình giả thuyết 73
Hình 4.3: Kết quả kiểm định biến điều tiết 76
Trang 17xiii
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Tổng hợp các nhân tố tác động 29
Bảng 3.1 Bảng kết quả ý kiến chuyên gia về các nhân tố tác động đến 44
Ý định tham gia BHXHTN 44
Bảng 3.2 Phân bổ mẫu khảo sát định lượng 46
Bảng 3.3 Bảng tổng hợp các thang đo 46
Bảng 4.1 Thông tin người được khảo sát 56
Bảng 4.2 Bảng thống kê mô tả của các biến quan sát 58
Bảng 4.3 Kết quả phân tích độ tin cậy thang đo 60
Bảng 4.4 Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA (lần 1) 64
Bảng 4.5 Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA (lần 2) 66
Bảng 4.6 Trọng số hồi quy chưa chuẩn hóa 69
Bảng 4.7 Hệ số tương quan giữa các biến 70
Bảng 4.8 Trọng số hồi quy đã chuẩn hóa 71
Bảng 4.9 Kết quả kiểm định mô hình 74
Bảng 4.10 Kết quả kiểm định Bootstrap 75
Bảng 4.11 Tương quan Rbình phương 75
Bảng 4.12 Trọng số hồi quy chưa chuẩn hóa của biến điều tiết 76
Bảng 4.13 Kết quả kiểm định phương sai theo biến Giới tính 77
Bảng 4.14 Kết quả phân tích ANOVA theo biến Giới tính 77
Bảng 4.15 Kết quả kiểm định phương sai theo biến Độ tuổi 77
Bảng 4.16 Kết quả Robust Test biến Độ tuổi 78
Bảng 4.17 Kết quả kiểm định phương sai theo biến Học vấn 78
Bảng 4.18 Kết quả Robust Test biến Học vấn 78
Bảng 4.19 Kết quả kiểm định phương sai theo biến Nghề nghiệp 78
Bảng 4.20 Kết quả phân tích ANOVA theo biến Nghề nghiệp 79
Bảng 4.21 Kết quả kiểm định phương sai theo biến THU NHẬP 79
Bảng 4.22 Kết quả Robust Test biến Thu nhập 79
Bảng 4.23 Kết quả phân tích sự khác biệt 80
Trang 18xiv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
BHXHTN Bảo hiểm xã hội tự nguyện
EFA Exploration Factor Analysis - Phân tích nhân tố
TRA Theory of Reasoned Action - Thuyết hành động
hợp lý TPB Theory of Planned Behaviour - Thuyết hành vi
hoạch định
Trang 19có thể lường trước được rủi ro Theo Olsson (2002; trích bởi Aramiko và cộng sự, 2021), rủi ro được định nghĩa là khả năng xảy ra các diễn biến bất lợi không mong muốn trong ương lai Cụ thể, con người không chắc chắn về sự mất mát mà họ có thể gặp phải trong tương lai và điều này có thể ảnh hưởng đến cuộc sống của các cá nhân,
tổ chức và xã hội nói chung Điều này chỉ ra rõ ràng rằng mỗi người cần chuẩn bị cho chuyện rủi ro có thể xảy ra và chịu trách nhiệm trong việc giảm thiểu những rủi ro
đó Một cách để giảm thiểu rủi ro là chuyển một số mức độ rủi ro thông qua bảo hiểm (Aramiko và cộng sự, 2021)
Bảo hiểm xã hội (BHXH) là công cụ giúp điều tiết xã hội của Nhà nước, là một trong những trụ cột chính trong hệ thống an sinh xã hội của mỗi quốc gia, giúp phát triển kinh tế với thực hiện công bằng và phát triển xã hội bền vững BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, tử tuất, già yếu, mất việc làm trên cơ sở hình thành một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, có sự bảo hộ của Nhà nước theo đúng pháp luật, nhằm bảo đảm an toàn, ổn định đời sống cho người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo xã hội (Mac, 2005)
Cùng với chính sách BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện (BHXHTN) ra đời với mong muốn giúp cuộc sống của những người dân thuộc các ngành nghề tự do có thể hưởng chế độ hưu trí BHXHTN được xem là chỗ dựa cho người thu nhập thấp,
Trang 20đem đến cơ hội hưởng lương hưu cho nhiều người không nằm trong diện tham gia BHXH bắt buộc (Thao, Na và Thuy, 2021)
Việt Nam đã trải qua một thị trường lao động đang phát triển Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (International Labour Organization, 2018), năm 2017, lực lượng lao động Việt Nam là 54,5 triệu người, tỷ lệ tham gia thị trường lao động tương đối cao (gần 76%) Phần lớn lực lượng lao động này có trình độ văn hóa khiêm tốn (hơn 90% lao động có bằng cấp 3 trở lên hoặc thấp hơn), và người lao động trong khu vực phi chính thức có mức lương thấp chiếm tỷ lệ cao (ILO, 2018; trích bởi Linh, Hoa, Nga và Trang, 2020 ) Để đảm bảo tốt hơn cuộc sống ổn định khi hết tuổi lao động cho đa số người lao động, Chính phủ Việt Nam đã triển khai BHXHTN từ năm 2008, bên cạnh BHXH bắt buộc Thông thường, chỉ những lao động hợp đồng, toàn thời gian trong khu vực chính thức được hưởng lợi từ BHXH bắt buộc vì đơn vị sử dụng lao động được yêu cầu đóng góp vào khoản thanh toán BHXH bắt buộc của nhân viên (Chính phủ, 2018) Điều đó để lại trong khu vực phi chính thức, ngoài quốc doanh một số lượng lớn người lao động không có bảo hiểm, không có hợp đồng và lao động phổ thông thường làm việc trong môi trường nghèo nàn, độc hại, lương thấp và không
ổn định Do đó, BHXHTN được kỳ vọng sẽ trở thành một lựa chọn thay thế cho nhóm lao động này (Linh và cộng sự, 2020)
Tuy nhiên, việc tham gia BHXHTN vẫn còn hạn chế đối với người lao động Việt Nam Theo nghiên cứu của Viện Lao động Khoa học và Xã hội, năm 2013 có 65% lao động khu vực phi chính thức (21 triệu người) có nhu cầu và có khả năng tài chính để tham gia BHXNTN Nhưng tỷ lệ tham gia BHXHTN vẫn ở mức thấp, ở mức 227.506 lao động vào năm 2017, tương đương 0,47% tổng lực lượng lao động (Chính phủ, 2018) Hầu hết những người tham gia này là những người đã tham gia BHXH bắt buộc và chuyển sang BHXHTN sau khi nghỉ việc để đảm bảo quyền lợi hưu trí của họ Số lượng người tham gia mới, đặc biệt là lao động trẻ, vẫn còn thấp Mức độ bao phủ của BHXHTN cũng thấp, dẫn đến nhiều vấn đề an sinh xã hội với người lao động già (Linh và cộng sự, 2020)
Trang 213
Năm 2018, cả nước hiện có khoảng 37 triệu lao động thuộc diện tham gia BHXH tự nguyện, trong đó nông nghiệp là 23 triệu và gần 14 triệu ở khu vực phi
chính thức Theo số liệu mới nhất của Tổng cục Thống kê, tính đến quý II năm 2018,
chỉ có hơn 213 nghìn người tham gia BHXH tự nguyện (chiếm khoảng 0,6% số lao động trong khu vực này và khoảng 0,39% tổng số lao động cả nước) Trong đó, hơn 70% là đã từng tham gia BHXH bắt buộc, nay tham gia BHXHTN để đủ điều kiện hưởng lương hưu; số lượng công nhân trong khu vực phi chính thức tham gia BHXHTN rất thấp 82,5% người tham gia BHXH tự nguyện trên 50 tuổi Đây là độ tuổi mà người tham gia bắt đầu lo lắng về sức khỏe của họ hoặc những người tham
gia hiện tại tiếp tục đăng ký để đáp ứng đủ số năm yêu cầu (Linh và cộng sự, 2020)
Theo Tổng cục thống kê (2021), đến hết Quý IV/2021 cả nước có tới 1,6 triệu người thiếu việc làm, 1,4 triệu người thất nghiệp trong tổng số lực lượng lao động từ
đủ 15 tuổi trở lên Số lao động tham gia BHXH bắt buộc hiện nay chỉ chiếm khoảng 33% lực lượng lao động cả nước, số người không hoặc chưa được tham gia BHXH bắt buộc hiện còn rất lớn, đặc biệt là những lao động hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp Trong bối cảnh nước ta hiện nay, việc thực hiện chính sách BHXHTN là rất cần thiết, nhằm bảo vệ NLĐ trước những “rủi ro” trong cuộc sống Mặc dù vậy, do nhiều nguyên nhân, trong đó có cả về cơ chế, chính sách cho nên số người tham gia BHXHTN còn ít (Chính phủ, 2021)
Từ khi thực hiện Luật BHXH, đến nay số người tham gia BHXH tự nguyện tại Việt Nam còn quá thấp, chưa tương xứng với tiềm năng, hiện mới chiếm trên 2,96% số người thuộc diện tham gia Không chỉ vậy, theo ước tính thì trên 70% trong số này là những người đã từng tham gia BHXH bắt buộc nhưng do không đủ thời gian tham gia BHXH theo quy định của Luật BHXH để hưởng chế độ hưu trí khi đến tuổi nghỉ hưu nên họ tham gia BHXH tự nguyện Thời gian gần đây, số lượng người tham gia BHXH tự nguyện đã tăng dần, nhưng so với tổng số NLĐ ở khu vực phi chính thức, thì con số này còn thấp (Chính phủ, 2021)
Ở nước ngoài, đa số các nghiên cứu gần đây tìm hiểu về ý định mua bảo hiểm nhân thọ (Adelina và Marsudi, 2021; Meko, Lemie và Worku, 2019); bảo hiểm tai nạn/
Trang 22thiên tai (Aramiko và cộng sự, 2021; Wang, Liao, Yang, Zhao, Liu và Shi, 2012); bảo hiểm y tế (Yeow, Tay, Lye và Fauzi, 2021; Dror, Hossain, Majumdar, Koehlmoos, John và Panda, 2016) và tìm hiểu về một loại hình bảo hiểm của một công ty cụ thể (Nasir, Roslin và Chui, 2017; Sintarini và Makhfudz, 2021; Rasul và Fatin, 2018) Một số ít nghiên cứu tìm hiểu về bảo hiểm hàng hóa: Moosa, Massoud, Esfahani và Abbas, 2016, hoặc bảo hiểm cho doanh nghiệp (Yang và Huang, 2019)
Tại Việt Nam, theo tìm hiểu của tác giả, chưa có một nghiên cứu nào nghiên cứu về các nhân tố tác động đến ý định tham gia BHXHTN chung cho cả Việt Nam
mà chỉ được tiến hành đơn lẻ tại một số địa phương ở Việt Nam như: Nghiên cứu của
Hồ Thủy Tiên, Trần Thị Kim Oanh và Nguyễn Việt Hồng Anh (2021) tại Khánh Hòa,
Hồ Thị Phương Thảo, Lê Na và Nguyễn Ngọc Thùy (2021) tại Ninh Thuận, Loan và Quyen (2020) tại Vĩnh Long, Nguyễn Thị Nguyệt Dung và Nguyễn Thị Sinh (2019) tại Hà Nội…
Nhận thức được thực trạng này, các nhà hoạch định chính sách Việt Nam kêu gọi các nghiên cứu sâu hơn về BHXHTN cho người lao động tự do trong giai đoạn hiện nay để tìm kiếm các giải pháp thu hút người lao động tham gia vào BHXHTN
(Chính phủ, 2018) Vì thế, tác giả thực hiện nghiên cứu: “Các nhân tố tác động đến ý định tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của người dân Việt Nam” Nghiên cứu này
sẽ bổ sung vào các khoảng trống nghiên cứu trước đó
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và tìm hiểu tình hình thực tiễn về BHXHTN, nghiên cứu tập trung làm rõ các nhân tố có tác động đến ý định tham gia BHXHTN của người dân Việt Nam
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia BHXHTN
Trang 231.3 Câu hỏi nghiên cứu
- Các nhân tố nào tác động tới ý định tham gia BHXHTN ?
- Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tác động đến ý định tham gia BHXHTN như thế nào ?
- Có các hàm ý quản trị nào làm gia tăng ý định tham gia BHXHTN của người dân ?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố tác động đến ý định tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của người dân Việt Nam
- Đối tượng khảo sát: Người Việt Nam hiện đang đang sống và làm việc tại các tỉnh, thành phố lớn mang tính đại diện cho 3 miền của đất nước (miền Bắc: Quảng Ninh, TP Hà Nội; miền Trung: Đà Nẵng, Lâm Đồng; miền Nam: TP Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Cần Thơ)
Trang 241.5 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu này kết hợp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng, thực hiện qua hai giai đoạn:
1.5.1 Giai đoạn 1: Nghiên cứu định tính
- Điều chỉnh mô hình và thang đo: qua việc thảo luận tay đôi với 08 chuyên
gia là những người có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực BHXHTN, làm việc từ 05 năm trở lên tại cơ quan Bảo hiểm xã hội cấp tỉnh, huyện Thông tin qua nghiên cứu định tính nhằm mục đích khám phá, hiệu chỉnh, bổ sung về các nhân tố tác động trong
mô hình nghiên cứu đề xuất cùng thang đo
- Mô hình nghiên cứu và thang đo chính thức: Sau khi thảo luận tay đôi với
chuyên gia, tác giả đưa ra mô hình nghiên cứu và thang đo chính thức
1.5.2 Giai đoạn 2: Nghiên cứu định lượng: thu thập dữ liệu định lượng
- Phỏng vấn đáp viên: Gửi bảng câu hỏi chính thức đến các đối tượng phỏng vấn để thu thập dữ liệu định lượng Số lượng mẫu dự kiến là 390 với 190 bảng câu hỏi khảo sát trực tiếp và 200 bảng câu hỏi khảo sát online qua công cụ Google Forms
để khảo sát và thu thập dữ liệu
Đối tượng đáp viên: Người Việt Nam đang đang sinh sống và làm việc tại các tỉnh, thành phố lớn (miền Bắc: Quảng Ninh, TP Hà Nội; miền Trung: Đà Nẵng, Lâm Đồng; miền Nam: TP Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Cần Thơ) không thuộc diện BHXH bắt buộc và có ý định tham gia BHXHTN
Sau khi thu thập được dữ liệu, nghiên cứu tiến hành các phân tích định lượng, thảo luận kết quả nghiên cứu và đề xuất hàm ý quản trị
1.6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
1.6.1 Ý nghĩa khoa học
Các nghiên cứu trên thế giới về bảo hiểm chủ yếu tập trung nghiên cứu nhiều
về ý định mua các loại hình bảo hiểm thương mại như bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm phi nhân thọ, bảo hiểm cháy nổ…Nghiên cứu trong lĩnh vực BHXH còn hạn chế, đặc
Trang 257
biệt là về BHXHTN Hiện nay có một số vài nghiên cứu về bảo hiểm như: nghiên cứu của Yeow, Tay, Lye và Fauzi (2021) về ý định mua bảo hiểm y tế của thanh niên Malaysia; nghiên cứu của Aramiko và cộng sự (2021) tìm hiểu về kiến thức và nhận thức đối với ý định mua bảo hiểm tai nạn của sinh viên Indonesia; nghiên cứu của Meko, Lemie và Worku (2019) tìm hiểu các nhân tố quyết định việc mua bảo hiểm nhân thọ ở Ethiopia; bảo hiểm hưu trí trong nghiên cứu của Nosi, D’Agostino và Antonella (2017), Amlan và Shrutikeerti (2017)… Nghiên cứu này sẽ là nghiên cứu
bổ sung việc tìm hiểu ý định mua BHXHTN
Tại Việt Nam, hiện đã có rất nhiều nghiên cứu về ý định tham gia BHXHTN Tuy nhiên, các nghiên cứu này chỉ được tiến hành đơn lẻ tại một số địa bàn ở Việt Nam như: Hồ Thủy Tiên, Trần Thị Kim Oanh và Nguyễn Việt Hồng Anh (2021) tại Khánh Hòa; Hồ Thị Phương Thảo, Lê Na và Nguyễn Ngọc Thùy (2021) tại Ninh Thuận; Mai Thanh Loan và Nguyễn Hoàng Trúc Quyên (2020) tại Vĩnh Long; Nguyễn Thị Nguyệt Dung, Nguyễn Thị Sinh (2019) tại Hà Nội, Nghiên cứu của Hoàng Thu Thủy, Bùi Hoàng Minh Thư (2018) tại Phú Yên … Hiện nay, theo tìm hiểu của tác giá, ít có các nghiên cứu theo hướng định lượng tìm hiểu tổng quát về các nhân tố tác động đến ý định tham gia BHXHTN chung cho cả Việt Nam Vì vậy, nghiên cứu này sẽ là nghiên cứu mới nhất về ý định tham gia BHXHTN trên phạm vi chung cả nước Đồng thời, nghiên cứu này sẽ bổ sung vào các khoảng trống nghiên cứu ở Việt Nam về các nhân tố tác động tới ý định tham gia BHXHTN của người dân
1.6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu sẽ chỉ ra những nhân tố tác động đến ý định tham gia BHXHTN của người dân, nhân tố nào là tác động mạnh nhất, nhân tố nào là tác động yếu nhất Đồng thời, nghiên cứu cũng chỉ ra sự khác biệt trong các nhân tố tác động tới ý định tham gia BHXH giữa những người có thu nhập, độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn, nghề nghiệp Từ đó, nghiên cứu này sẽ đưa ra một số hàm ý nhằm giúp những nhà quản lý trong Ngành BHXH có những giải pháp cụ thể như thế nào tác động đến người dân để tăng số lượng người tham gia BHXHTN, góp phần đảm bảo chính sách an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước
Trang 261.7 Kết cấu luận văn
Chương 1: Tổng quan
Trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp và ý nghĩa của nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Trình bày các khái niệm liên quan đến đề tài Chương này cũng đưa ra các mô hình nghiên cứu trong và ngoài nước có tính chất gần giống với nghiên cứu của tác giả Từ đó, tác giả đưa ra được mô hình nghiên cứu phù hợp cùng với phát biểu các giả thuyết trong nghiên cứu
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Trình bày về quy trình và các giai đoạn nghiên cứu Giai đoạn nghiên cứu định tính sẽ cho ra mô hình nghiên cứu chính thức của tác giả trên cơ sở mô hình nghiên cứu đề xuất ở chương 2 và kết quả thảo luận sâu với các chuyên gia trong lĩnh vực bảo hiểm Xây dựng thang đo và bảng câu hỏi định lượng cũng được trình bày trong chương này
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Trình bày thống kê mô tả của mẫu thu thập được và các kết quả phân tích định lượng trong việc kiểm định thang đo, kiểm định mô hình lý thuyết cùng các giả thuyết
đề ra
Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị
Tóm tắt lại những kết quả chính và đóng góp của đề tài nghiên cứu, đưa ra một
số kiến nghị cũng như một số hạn chế của nghiên cứu để định hướng cho những nghiên cứu tiếp theo
Trang 279
Tóm tắt chương 1
Các nghiên cứu trong nước trước đây đã có nhiều nghiên cứu về ý định tham gia BHXHTN nhưng chưa bao gồm các tác động có thể có đối với tất cả ý định tham gia BHXHTN, phạm vi nghiên cứu chưa bao quát chung Do đó, đây là lý do để đề tài nghiên cứu “Các nhân tố tác động đến Ý định tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của người dân Việt Nam” được thực hiện” Ngoài ra, ở chương này còn trình bày về mục tiêu, câu hỏi, đối tượng, phạm vi, phương pháp và ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
Trang 28CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1 Các khái niệm chính
2.1.1 Bảo hiểm xã hội tự nguyện
Luật BHXH được ban hành năm 2006, các quy định của BHXHTN được thực hiện từ ngày 01/01/2008, có nội dung về đối tượng, mức đóng, phương thức đóng và mức hưởng (Chính phủ, 2018) Đây là chính sách ưu việt để người lao động tự do tham gia và thụ hưởng từ lương hưu khi nghỉ hưu BHXHTN được định nghĩa là:
“một hình thức bảo hiểm xã hội do Nhà nước tổ chức, người tham gia được quyền lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp theo thu nhập, Nhà nước có chính sách hỗ trợ để người tham gia được hưởng lợi bảo hiểm hưu trí và tử tuất ”(Điều 3, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014)
Đối tượng tham gia: Người tham gia BHXHTN là công dân Việt Nam từ đủ
15 tuổi trở lên, không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc
Phương thức đóng: Người tham gia BHXHTN được chọn đóng hằng tháng, 3 tháng, 6 tháng, 12 tháng hoặc một lần cho nhiều năm về sau nhưng không quá 5 năm
1 lần Người tham gia BHXHTN được thay đổi phương thức đóng hoặc mức thu nhập tháng làm căn cứ đóng BHXHTN sau khi thực hiện xong phương thức đóng đã chọn trước đó
Mức đóng hằng tháng bằng 22% mức thu nhập tháng do người tham gia BHXHTN lựa chọn
Quyền lợi khi tham gia: Người tham gia BHXHTN được hưởng các chế độ như: Lương hưu và Bảo hiểm y tế, điều chỉnh lương hưu, hưởng trợ cấp 1 lần khi nghỉ hưu, trợ cấp BHXH 1 lần, chế độ mai táng phí và trợ cấp tuất một lần
Trang 2911
2.1.2 Ý định tham gia BHXHTN
Ý định đóng vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn hành động của con người (Ajzen, 2001), hay nói cách khác ý định chính là tiền đề của hành vi mua của một cá nhân nào đó Ý định mua hàng cũng được hiểu là xu hướng của người tiêu dùng mua một sản phẩm hoặc thực hiện các hành động liên quan đến mua hàng được
đo lường bằng khả năng của người tiêu dùng thực hiện việc mua hàng (Nasir, Roslin
và Chui, 2017)
Trước đó, Chimedtseren và Safari (2016; trích bởi Yoew và cộng sự, 2021) xác định ý định mua hàng là xác suất mua hàng của một cá nhân có liên quan đến mua sản phẩm hoặc dịch vụ thực tế, là ý định mua sản phẩm hoặc dịch vụ đầu tiên của họ Biết các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua bảo hiểm sức khoẻ, bộ phận bán hàng và tiếp thị hoặc các bộ phận liên quan của công ty bảo hiểm có thể phát triển hoạt động tiếp thị cũng như phương pháp tiếp cận để thu hút sự chú ý của khách hàng mục tiêu của họ (Amron và cộng sự, 2018; trích bởi Yoew và cộng sự, 2021)
Theo Thuyết hành vi có kế hoạch (TPB), ý định mua của cá nhân bị ảnh hưởng bởi ba loại cân nhắc: niềm tin hành vi, niềm tin chuẩn tắc và niềm tin kiểm soát (Ajzen
và Driver, 1991) Niềm tin hành vi thường đến từ một thái độ thuận lợi hoặc không thuận lợi đối với một hành vi cụ thể Mặt khác, niềm tin chuẩn tắc là kết quả của việc nhận thức được áp lực xã hội hoặc chuẩn mực chủ quan Cuối cùng, niềm tin kiểm soát là kết quả của nhận thức của một cá nhân về khả năng của người đó để thực hiện
một hành vi nhất định do sự sẵn có của nguồn lực
Theo Yoew và cộng sự (2021), ý định mua bảo hiểm như một kế hoạch
của một người tham gia vào việc mua bảo hiểm trong một khoảng thời gian cụ thể và
xác suất người đó sẽ thực hiện hành vi này
Nghiên cứu này sử dụng khái niệm Ý định mua bảo hiểm của Yoew và cộng sự
(2021) làm khái niệm chính trong nghiên cứu “Ý định tham gia BHXHTN” sử dụng trong nghiên cứu này đồng nghĩa với “Ý định mua BHXHTN”
Trang 302.1.3 Niềm tin
Sahli và Legoherel (2014) định nghĩa niềm tin về hành vi là xác suất chủ quan
mà hành vi đó sẽ dẫn đến một hành vi cụ thể xảy ra Người tiêu dùng thường đấu tranh để đánh giá một dịch vụ trước khi tiêu dùng vì tính vô hình, không thể tách rời
và không đồng nhất vốn có của nó Dror, Hossain, Majumdar, Koehlmoos, John và Panda (2016) cho rằng: niềm tin là sự sẵn sàng sử dụng dịch vụ mới với cảm giác thoải mái, an toàn và chấp nhận rủi ro Sự tin tưởng là sự sẵn sàng của các cá nhân chấp nhận rủi ro với mong muốn rằng nhu cầu của họ sẽ được đáp ứng Có khả năng một bên sẽ thực hiện nhiệm vụ của mình một cách trung thực phù hợp với kỳ vọng của sự tin tưởng của bên kia
Niềm tin là một yếu tố có ảnh hưởng trong nhiều tương tác xã hội có liên quan đến sự không chắc chắn và phụ thuộc (Alqasa và cộng sự, 2015; trích bởi Dror và cộng sự, 2016) Điều đó có nghĩa là niềm tin được đề cập đến những người có ý định hành động theo một cách nhất định Ngoài ra, nó đề cập đến kỳ vọng một người, niềm tin hoặc giả định về khả năng các hành động khác trong tương lai sẽ thuận lợi, có lợi hoặc ít nhất là không gây bất lợi cho lợi ích của cá nhân Nói chung, niềm tin là một yếu tố quan trọng trong nhiều tương tác xã hội có sự phụ thuộc và không chắc chắn Niềm tin được xem là một biến số quan trọng vì khả năng kiểm soát rủi ro trong quá trình hành vi của người tiêu dùng và nó cho phép người tiêu dùng ước tính rủi ro về những gì có thể xảy ra do một quyết định cụ thể hoặc lợi ích có thể đạt được (Dror và cộng sự, 2016)
Nghiên cứu này sử dụng khái niệm Niềm tin của Dror và cộng sự (2016) làm
khái niệm chính trong nghiên cứu
2.1.4 Thái độ
Theo nghiên cứu của Cocosila và Archer (2010; trích bởi Nasir và cộng sự, 2017) họ nhận thấy rằng thái độ là một trong những vai trò quan trọng Nếu những người có thái độ tích cực, họ có xu hướng sử dụng dịch vụ lành mạnh hơn những người khác Thái độ đối với việc sử dụng đề cập đến mức độ mà người dùng trải nghiệm cảm giác tích cực khi sử dụng dịch vụ Nếu người dùng nhận thấy dịch vụ là
Trang 3113
hữu ích và dễ sử dụng, có khả năng thái độ của người dùng đối với dịch vụ đó sẽ là tích cực (Nasir và cộng sự, 2017) Thái độ đối với việc sử dụng một hệ thống mới được định nghĩa là phản ứng tình cảm chung của một cá nhân đối với việc sử dụng
hệ thống (Souiden và Jabeur, 2015)
Ajzen và Fishbein (1975) mô tả thái độ là mức độ đánh giá thuận lợi hoặc không thuận lợi của một người hoặc đánh giá hành vi được đề cập Nói cách khác, một người càng lạc quan về hành vi, thì nhiều khả năng một người sẽ tham gia vào hành vi như vậy Điều này được chứng thực bởi Nasir (2017) những người đã tìm thấy rằng khách hàng của ngân hàng ở Malaysia sẽ có nhiều khả năng mua bảo hiểm Hồi giáo hoặc các sản phẩm Takaful hơn khi có một thái độ tích cực Ngoài ra, Yoew
và cộng sự (2021) đã chỉ ra tầm quan trọng của việc mang lại thông điệp hoặc thông tin tích cực đến khách hàng tiềm năng sẽ thúc đẩy họ có thái độ tích cực trong việc mua các sản phẩm sức khỏe
Nghiên cứu này sử dụng khái niệm Thái độ của Ajzen và Fishbein (1975) làm
khái niệm chính trong nghiên cứu
2.2 Lý thuyết liên quan đến hành vi người tiêu dùng
2.2.1 Thuyết hành động hợp lý - Theory of Reasoned Action (TRA)
Thuyết hành động hợp lý - TRA do Fishbein & Ajzen (1975) xây dựng thể hiện sự bao hàm và sự sắp đặt phối hợp các thành phần của thái độ trong một cấu trúc
mà được thiết kế để dự đoán và giải thích tốt hơn cho hành vi người tiêu dùng trong
xã hội dựa trên 2 khái nhiệm cơ bản là thái độ của người tiêu dùng đối với việc thực hiện hành vi và các chuẩn mực chủ quan của người tiêu dùng
Trong đó, chuẩn mực chủ quan có thể được đánh giá thông qua 2 yếu tố cơ bản: mức độ ảnh hưởng từ thái độ của những người có liên quan đối với việc mua sản phẩm, thương hiệu của người tiêu dùng và động cơ của người tiêu dùng làm theo mong muốn của những người liên quan Thái độ của những người liên quan càng mạnh và mối liên hệ với những người liên quan ấy càng gần gũi thì xu hướng mua của người tiêu dùng càng bị ảnh hưởng nhiều
Trang 32Hình 2.1: Mô hình lý thuyết TRA (Ajzen và Fishbein, 1975)
2.2.2 Thuyết hành vi có kế hoạch - Theory of Planned Behaviour (TPB)
Thuyết hành vi có kế hoạch - TPB (Ajzen,1991) được phát triển từ lý thuyết hành động hợp lý (TRA) (Fishbein & Ajzen,1975) giả định rằng một hành vi có thể được dự báo hoặc giải thích bởi các xu hướng hành vi để thực hiện hành vi đó Các
xu hướng hành vi được giả sử bao gồm các nhân tố động cơ ảnh hưởng đến hành vi,
và được định nghĩa như là mức độ nỗ lực mà mọi người cố gắng để thực hiện hành
vi đó
Thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) được xem là một trong những lý thuyết quan trọng nhất trong lĩnh vực nghiên cứu tâm lý xã hội để dự đoán hành vi con người Theo TPB, 3 yếu tố có ảnh hưởng đến ý định thực hiện hành vi là:
(1) Thái độ đối với hành vi: là mức độ đánh giá tích cực hay tiêu cực của một
cá nhân đối với việc thực hiện một hành vi Thái độ thường được hình thành bởi niềm tin của cá nhân về hậu quả của việc tham gia thực hiện một hành vi cũng như kết quả của hành vi đó
(2) Chuẩn mực chủ quan: là áp lực xã hội lên cá nhân dẫn đến thực hiện hành
vi Chuẩn mực chủ quan đến từ kỳ vọng của những người xung quanh (người thân, đồng nghiệp, bạn bè…) đối với một cá nhân trong việc tuân thủ một số các chuẩn mực cũng như động cơ của cá nhân trong việc tuân thủ các chuẩn mực đó để đáp ứng mong đợi của những người xung quanh
Trang 3315
(3) Nhận thức kiểm soát hành vi: là nhận thức của một cá nhân về sự dễ dàng hoặc khó khăn trong việc thực hiện hành vi cụ thể; điều này phụ thuộc vào sự sẵn có của các nguồn lực và các cơ hội để thực hiện hành vi
Hình 2.2: Mô hình hành vi có kế hoạch TPB (Ajzen, 1991)
* Mở rộng thêm TPB là Thuyết phân rã về hành vi có kế hoạch - Decomposed Theory of Planned Behaviour (DTPB)
DTPB được Taylor và Todd (1995) phát triển dựa trên TPB của Ajzen (1991) bằng cách phân tách ba nhân tố: thái độ, chuẩn mực chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi trong TPB thành các biến số cụ thể hơn
Trong mô hình DTPB, các yếu tố dự đoán về ý định hành vi được giải thích bằng thái độ, chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi tiếp tục được phân tích Mặc dù TPB là được coi là mô hình phổ quát trong việc giải thích hầu hết các hành
vi xã hội, nó vẫn có những hạn chế về mặt các thành phần hoạt động hoặc các yếu tố quyết định cho thái độ, chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi (Husin và Rahman, 2013; trích bởi Nasir, 2017)
Trang 34Hình 2.3: Mô hình DTPB (Taylor và Todd, 1995) 2.3 Các nghiên cứu ngoài nước và trong nước có liên quan
2.3.1 Một vài nghiên cứu ngoài nước có liên quan
2.3.1.1 Nghiên cứu của Yeow và cộng sự (2021)
Tên nghiên cứu: “Why do Malaysian Young Adults Buy Health Insurance?”, tạm dịch là: “Tại sao thanh niên Malaysia mua Bảo hiểm Y tế ?” Sự lan rộng của đại
dịch COVID-19 đã nâng cao tầm quan trọng của bảo hiểm y tế Do đó, nghiên cứu này nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua bảo hiểm y tế của thanh niên Malaysia trong giai đoạn chuyển tiếp của cuộc đời và có thể dễ bị tổn thương bởi các chi phí thảm khốc có thể xảy ra khi bị thương hoặc ốm nặng Sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện, một bộ bảng câu hỏi tự quản lý đã được phân phát cho 200 thanh niên ở Malaysia có độ tuổi từ 18 đến 25 tuổi Kết quả cho thấy rằng thái độ, nhận thức kiểm soát hành vi và nhận thức lợi ích tài chính ảnh hưởng đáng kể đến ý định mua bảo hiểm y tế
Trang 3517
Hình 2.4: Mô hình nghiên cứu của Yeow và cộng sự (2021)
2.3.1.2 Nghiên cứu của Aramiko và cộng sự (2021)
Tên nghiên cứu: “The Influence of Student Knowledge and Awareness Sharia Insurance on Interest To Buy Insurance Sharia Personal Accident”, tạm dịch là: “Ảnh hưởng của kiến thức và nhận thức của sinh viên Khoa Bảo hiểm Sharia đến sở thích mua bảo hiểm tai nạn Sharia” Nghiên cứu này được tiến hành tại Indonesia Các biến được sử dụng trong nghiên cứu này là kiến thức, nhận thức và mối quan tâm đến bảo hiểm tai nạn cá nhân của sinh viên Sharia Kết quả của nghiên cứu này chỉ ra rằng kiến thức và nhận thức có ảnh hưởng đáng kể đến việc mua các sản phẩm bảo hiểm tai nạn
Chuẩn chủ quan Thái độ
Nhận thức kiểm soát hành vi
Nhận thức lợi ích tài chính
Ý định mua bảo hiểm y tế
H1(+) H2(+)
H3(+)
H4(+)
Trang 36Hình 2.5: Mô hình nghiên cứu của Aramiko và cộng sự (2021)
2.3.1.3 Nghiên cứu của Meko, Lemie & Worku (2019)
Tên nghiên cứu: “Determinants of life insurance demand in Ethiopia”, tạm dịch là: “Các yếu tố quyết định nhu cầu bảo hiểm nhân thọ ở Ethiopia” Nghiên cứu
dựa trên dữ liệu thu thập từ bốn công ty bảo hiểm trong 16 năm từ 2001-2016, sử dụng mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên để phân tích dữ liệu Kết quả phân tích hồi quy cho thấy lãi suất thực, kỳ vọng sống, tuổi tác, đô thị hóa và lạm phát cho thấy ảnh hưởng tích cực và đáng kể đối với nhu cầu bảo hiểm ở Ethiopia, trong khi thu nhập
và giá bảo hiểm có ảnh hưởng không đáng kể
Hình 2.6: Mô hình nghiên cứu của Meko và cộng sự (2019)
Nhận thức Kiến thức
Mối quan tâm đến bảo hiểm
Ý định mua bảo hiểm tai nạn
H1(+)
H2(+)
H3(+)
Trang 3719
2.3.1.4 Nghiên cứu của Nosi và cộng sự (2017)
Tên nghiên cứu: “Securing Retirement at a Young Age Exploring the Intention
to Buy Longevity Annuities through an Extended Version of the Theory of Planned Behavior”, tạm dịch là: “Đảm bảo hưu trí khi còn trẻ Khám phá ý định mua Longevite Annuities thông qua một phiên bản mở rộng của Lý thuyết hành vi có kế hoạch”
Nghiên cứu này được thực hiện tại Ý, bổ sung thêm một biến bên cạnh ba biến cơ bản của mô hình TPB, đó là Nhận thức Nghiên cứu này giả định rằng, người tiêu dùng là những sinh vật có lý trí, có thể đánh giá chính xác và suy ngẫm về kết quả của các hành động của họ, và cư xử hợp lý với mục đích tối đa hóa lợi ích của họ Do
đó, quyết định hành vi được cho là được thực hiện khi bỏ qua thành phần tình cảm của thái độ và nó chịu tác động của nhận thức, trong đó cảm giác hối tiếc khi không hành động được chú ý nhất
Hình 2.7: Mô hình nghiên cứu của Nosi và cộng sự (2017)
Chuẩn chủ quan Thái độ
Nhận thức kiểm soát hành vi
Ý định mua bảo hiểm hưu trí
H1(+)
H2(+)
H3(+)
Nhận thức Cảm giác
hối tiếc
H4(-)
H5(+)
Trang 382.3.1.5 Nghiên cứu của Amlan và Shrutikeerti (2017)
Tên nghiên cứu: “Factors Influencing the Participation in Defined Contribution Pension Scheme by the Urban Unorganized Sector in India”, tạm dịch là: “Các nhân tố ảnh hưởng đến việc tham gia chương trình bảo hiểm hưu trí tại khu vực ngoài đô thị ở Ấn Độ” Nghiên cứu tiến hành khảo sát 400 người dân tại địa
phương là quận Burdwan ở phía Tây Ấn Độ Kết quả nghiên cứu cho thấy, các yếu
tố ảnh hưởng đến việc tham gia bảo hiểm hưu trí đó là thu nhập, sự quan tâm đến tương lai, sự tư vấn tài chính và khả năng chấp nhận rủi ro
Hình 2.8: Mô hình nghiên cứu của Amlan và Shrutikeerti (2017)
2.3.1.6 Nghiên cứu của Nasir (2017)
Tên nghiên cứu: “Decomposing the Theory of Planned Behaviour and Incorporating Spiritual Intelligence to Further Understand Purchase Intention of Life Insurance and Takaful”, tạm dịch là: “ Kết hợp Lý thuyết phân rã về hành vi có
kế hoạch và Trí tuệ tâm linh để hiểu sâu hơn về ý định mua Bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểmTakaful” Nghiên cứu này sử dụng Lý thuyết phân rã về hành vi có kế hoạch
(DTPB) để xem xét ý định tham gia mua bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm Takaful của người tiêu dùng Hồi giáo Nghiên cứu cho thấy rằng việc tham gia bảo hiểm nhân thọ hoặc Takaful không chỉ có thể bị ảnh hưởng bởi thái độ, chuẩn mực chủ quan, và nhận thức kiểm soát hành vi mà còn bị ảnh hưởng bởi kiến thức, hiểu biết tài chính cùng với yếu tố tiết chế của trí tuệ cảm xúc
Trang 39cho thấy rằng việc đăng ký tham gia CBHI có liên quan tích cực đến thu nhập hộ gia đình, trình độ học vấn và tuổi của chủ hộ, quy mô hộ, chủ hộ là nữ, hộ đã kết hôn và các đợt bệnh mãn tính trong hộ Phần tổng hợp theo chủ đề gợi ý các yếu tố sau đây
là yếu tố hỗ trợ cho việc đăng ký tham gia: (a) kiến thức và hiểu biết về bảo hiểm và
CBHI, (b) chất lượng chăm sóc sức khỏe, (c) tin tưởng vào chương trình quản lý
Chuẩn chủ quan
Thái độ Trải nghiệm
Trí tuệ cảm xúc
Ý định tham gia bảo hiểm nhân thọ
Trang 40Các yếu tố được phát hiện là rào cản đối với việc ghi danh bao gồm: (a) gói phúc lợi không phù hợp, (b) tín ngưỡng văn hóa, (c) khả năng chi trả, (d) khoảng cách đến cơ sở y tế, (e) thiếu pháp lý đầy đủ và các khuôn khổ chính sách để hỗ trợ CBHI, cuối cùng (f) các quy tắc nghiêm ngặt của một số chương trình CBHI
Hình 2.10: Mô hình nghiên cứu của Dror và cộng sự (2016)
2.3.1.8 Nghiên cứu của Souiden và Jabeur (2015)
Tên nghiên cứu: “The impact of Islamic beliefs on consumers’ attitudes and purchase intentions of life insurance”, tạm dịch là: “Tác động của niềm tin Hồi giáo đối với thái độ và ý định mua bảo hiểm nhân thọ của người tiêu dùng” Kết quả cho
thấy rằng: các cá nhân có niềm tin càng cao (thấp) thì thái độ của họ càng ít (nhiều) thuận lợi hơn đối với bảo hiểm nhân thọ thông thường và thái độ của họ càng (ít) thuận lợi hơn đối với bảo hiểm nhân thọ Hồi giáo; Niềm tin Hồi giáo của các cá nhân càng cao (thấp) thì ý định mua bảo hiểm nhân thọ thông thường của họ càng yếu (mạnh hơn) và ý định mua bảo hiểm nhân thọ Hồi giáo của họ sẽ mạnh hơn (yếu
Khoảng cách
Pháp lý Chất lượng
Ý định mua bảo hiểm y tế
H1(+)
Tín ngưỡng văn hóa
Gói phúc lợi không phù hợp
Khả năng chi trả
Quy tắc
H2(+)
H6(-) H7(-) H8(-) H9(-)