1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Mối liên hệ giữa trách nhiệm xã hội, đổi mới và giá trị doanh nghiệp nghiên cứu tại các doanh nghiệp việt nam

171 7 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mối Liên Hệ Giữa Trách Nhiệm Xã Hội, Đổi Mới Và Giá Trị Doanh Nghiệp: Nghiên Cứu Tại Các Doanh Nghiệp Việt Nam
Tác giả Phan Thắng Đạt
Người hướng dẫn GS.TS. Nguyễn Minh Hà
Trường học Trường Đại Học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Quản trị kinh doanh
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 171
Dung lượng 9,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU (16)
    • 1.1. Lý do chọn đề tài (16)
      • 1.1.1. Thực trạng hiện tại (16)
      • 1.1.2. Lý do từ lý thuyết (21)
    • 1.2. Mục tiêu nghiên cứu (24)
      • 1.2.1. Mục tiêu chung (24)
      • 1.2.2. Mục tiêu cụ thể (24)
    • 1.3. Câu hỏi nghiên cứu (24)
    • 1.4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu (24)
      • 1.4.1. Đối tượng nghiên cứu (24)
      • 1.4.2. Đối tượng khảo sát (25)
      • 1.4.3. Phạm vi nghiên cứu (25)
    • 1.5. Phương pháp nghiên cứu (25)
    • 1.6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của nghiên cứu (25)
    • 1.7. Kết cấu của nghiên cứu (26)
  • CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT (28)
    • 2.1. Các khái niệm (28)
      • 2.1.1. Trách nhiệm xã hội (28)
      • 2.1.2. Đổi mới (32)
      • 2.1.3. Giá trị doanh nghiệp (33)
    • 2.2. Các lý thuyết nghiên cứu liên quan (35)
      • 2.2.1. Thuyết đại diện ( Agency theory) (35)
      • 2.2.2. Thuyết các bên liên quan (Stakeholder theory) (36)
      • 2.2.3. Lý thuyết quan điểm dựa trên nguồn lực (Resource based view theory – (37)
      • 2.2.4. Lý thuyết tài sản dựa trên thị trường (Market based asset theory) (39)
    • 2.3. Các nghiên cứu trước (40)
      • 2.3.1. CSR và giá trị doanh nghiệp (40)
      • 2.3.2. Trách nhiệm xã hội và đổi mới doanh nghiệp (47)
      • 2.3.3. Đổi mới và giá trị doanh nghiệp (56)
      • 2.3.4. Nhận xét các nghiên cứu trước (63)
    • 2.4. Giả thuyết nghiên cứu (64)
      • 2.4.1. Trách nhiệm xã hội và Giá trị doanh nghiệp (64)
      • 2.4.2. Đổi mới và Giá trị doanh nghiệp (70)
      • 2.4.3. Sự tương tác giữa trách nhiệm xã hội và Đổi mới (71)
    • 2.5. Đề xuất mô hình nghiên cứu (72)
  • CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (75)
    • 3.1. Thiết kế quy trình nghiên cứu (75)
    • 3.2. Mẫu và thu thập mẫu (77)
      • 3.2.1. Tiêu chuẩn mẫu (77)
      • 3.2.2. Thu thập dữ liệu (77)
    • 3.3. Mô tả các biến (78)
      • 3.3.1. Biến phụ thuộc - Giá trị doanh nghiệp (78)
      • 3.3.2. Biến độc lập (78)
      • 3.3.4. Các biến kiểm soát (84)
    • 3.4. Mô hình đánh giá (84)
    • 3.5. Phương pháp nghiên cứu (87)
      • 3.5.1. Thu thập dữ liệu bảng (88)
      • 3.5.2. Thống kê mô tả (88)
      • 3.5.2. Kiểm định ma trận tương quan và hiện tượng đa cộng tuyến (89)
      • 3.5.2. Phương pháp hồi quy theo dữ liệu bảng (90)
        • 3.5.2.1. Các phương pháp hồi quy cho dữ liệu bảng (90)
        • 3.5.2.2. Kiểm định sự phù hợp của mô hình và khắc phục khuyết tật mô hình 77 TÓM TẮT CHƯƠNG 3 (92)
  • CHƯƠNG 4 PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (97)
    • 4.1. Phân tích thống kê mô tả (97)
    • 4.2. Phân tích ma trận tương quan và đa cộng tuyến (99)
      • 4.2.1. Phân tích ma trận tương quan (99)
      • 4.2.2. Phân tích đa cộng tuyến (99)
    • 4.3. Phân tích hồi quy (100)
    • 4.4. Kiểm định sự phù hợp của mô hình (101)
      • 4.4.1. Kiểm định lựa chọn mô hình (101)
        • 4.4.1.1. Kiểm định Time Fixed Effect (101)
        • 4.4.1.2. Kiểm định Breusch – Pagan Lagrange Multiplier (LM) (102)
        • 4.4.1.3. Kiểm định Hausman Test (103)
      • 4.4.2. Kiểm định cho mô hình được chọn (104)
        • 4.4.2.1. Kiểm định phương sai , sai số thay đổi (104)
        • 4.4.2.2. Kiểm định tự tương quan (104)
    • 4.5. Ước lượng mô hình GLS (105)
  • CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ (115)
    • 5.1. Kết luận (115)
    • 5.2. Đóng góp về lý thuyết (116)
    • 5.3. Hàm ý quản trị (116)
    • 5.4. Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo (118)
      • 5.4.1. Hạn chế của nghiên cứu (118)
      • 5.4.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo (118)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (119)
  • PHỤ LỤC (141)

Nội dung

iii TÓM TẮT Đề tài “Mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội, đổi mới và giá trị doanh nghiệp: Liên hệ thực tế tại các doanh nghiệp Việt Nam” được thực hiện nhằm nghiên cứu về mối quan hệ g

Trang 1

PHAN THẮNG ĐẠT

MỐI QUAN HỆ GIỮA TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI, ĐỔI MỚI VÀ GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP: NGHIÊN CỨU TẠI

CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2022

Trang 2

- - -    - - -

PHAN THẮNG ĐẠT MỐI LIÊN HỆ GIỮA TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI, ĐỔI MỚI VÀ GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP: NGHIÊN CỨU TẠI CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

Chuyên ngành : Quản trị kinh doanh

Mã số chuyên ngành: 62 34 01 02

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Người hướng dẫn khoa học:

GS.TS NGUYỄN MINH HÀ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2022

Trang 5

cứu của chính tôi

Ngoại trừ những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận văn này, tôi cam đoan rằng toàn phần hay những phần nhỏ của luận văn này chưa từng được công bố hoặc được sử dụng để nhận bằng cấp ở nơi khác Không có sản phẩm/ nghiên cứu nào của người khác được sử dụng trong luận văn này mà không được trích dẫn theo đúng quy định Luận văn này chưa bao giờ được nộp để nhận bất kỳ bằng cấp nào tại các trường đại học hoặc cơ sở đào tạo khác

Các số liệu trong đề tài được thu thập từ thực tế có nguồn gốc rõ ràng, được xử lý một cách trung thực và khách quan Những kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là thành quả lao động của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn tận tình của thầy GS.TS Nguyễn Minh Hà

Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình

Thành phố Hồ Chí Minh, 2022

Người cam đoan

Phan Thắng Đạt

Trang 6

Tôi cũng xin gửi lời tri ân đến Quý thầy cô tham gia giảng dạy tại trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, các thầy cô luôn luôn nhiệt tình giảng dạy, truyền đạt những kinh nghiệm, kiến thức hữu ích để tôi có nền tảng không chỉ ứng dụng trong nghiên cứu mà còn trong công việc và cuộc sống

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu, cán bộ của Khoa Sau Đại học và cán bộ thư viện của trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học

Tôi cũng vô cùng cảm ơn những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã quan tâm, ủng hộ và động viên tôi hoàn thành nghiên cứu này Luận văn này cũng không thể hoàn thành nếu không có sự giúp đỡ của quý thầy cô, người thân, bạn bè, đồng nghiệp trong công ty Cổ phần Dược phẩm Imexpharm

đã hổ trợ tôi trong quá trình học tập và viết luận văn này

Trang 7

iii

TÓM TẮT

Đề tài “Mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội, đổi mới và giá trị doanh nghiệp: Liên hệ thực tế tại các doanh nghiệp Việt Nam” được thực hiện nhằm

nghiên cứu về mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội , đổi mới và giá trị doanh nghiệp

và đề xuất hàm ý quản trị về việc thực hiện trách nhiệm xã hội để nâng cao giá trị doanh nghiệp

Nghiên cứu được thực hiện với đối tượng nghiên cứu là các doanh nghiệp trong nhóm VN30 của sàn giao dịch chứng khoáng thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) trong giai đoạn từ 2016 -2020, với 55 doanh nghiệp và 275 quan sát Nghiên cứu được thực hiện thông qua phần mềm STATA 15 để phân tích thống kê với các dữ liệu định lượng thu thập được Phương pháp định lượng được sử dụng trong nghiên cứu bao gồm các bước như: thu thập dữ liệu, phân tích dữ liệu, viết và giải thích kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu đã xây dựng mô hình và tiến thành thu thập dữ liệu định lượng cho

mô hình phân tích hồi quy dữ liệu bảng để xem xét các mối quan hệ giữa trách nhiệm

xã hội, trách nhiệm xã hội và đổi mới, đổi mới đến giá trị doanh nghiệp Nghiên cứu đã

sử dụng phương pháp hồi quy chính là phương pháp ước lượng tác động ngẫu nhiên (GLS) để khắc phục các khuyết điểm tồn tại trong mô hình

Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng trách nhiệm xã hội tác động tiêu cực trong ngắn hạn đến giá trị doanh nghiệp như lại có mối quan hệ phi tuyến đối với giá trị doanh nghiệp trong dài hạn Kết quả này cũng phù hợp với lý thuyết các bên liên quan Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cũng tìm thấy sự đổi mới tác động tiêu cực đối với giá trị doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp Việt Nam

Nghiên cứu ngoài đưa ra kết luận về tính tuyến tính giữa trách nhiệm xã hội và giá trị doanh nghiệp cũng đã đưa ra các kết luận các doanh nghiệp có thể nâng cao giá trị doanh nghiệp thông ban những cách khác như tỷ số lợi nhuận trên tổng tài sản và quy mô doanh nghiệp

Trang 8

ABTRACT The study “The relationship between corporation social responsibility, innovation and firm value: Practical relevance at Vietnam firm” was conducted

to research in term of the relationship between corporation social responsibility, innovation and firm value and management implications on the implementation of corporation social responsibility to enhance firm value

The one had performed with research subject which being enterprises in VN30 group of the Ho Chi Minh Stock Exchange (HOSE) in period 5 years starting

2016 to 2020, with 55 enterprises and 275 observations The Stata 15 software has used to statistical analysis with the collected quantitative data Quantitative method had used in this study include steps such as collected data, statistical analysis, writting and explaining result sereach

Study had built a model and proceeded to collect quatitative data for panel data regression analysis model to examine the relationships between corporation social responsibility, the interaction between corporation social responsibility and innovation, innovation to firm value Main regression method had conducted in research is random effects estimator (GLS) to overcome the limitations existing in the model

The results of research had shown that corporation social responsibility has negative impact in short term on firm value but got curvilinear relationship with firm value in long term This result is also consistent with stakeholder theory In addition, the results also find that innovation has a negative impact on has any impact on firm value for Vietnam firms

The research also adds a number of difference ways to increase firm value besides corporation social responsibility that businesses can enhance firm value through other ways such as return on assets ratio and size enterprise

Trang 9

Mục lục

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CÁM ƠN ii

TÓM TẮT iii

ABTRACT iv

Mục lục v

Danh mục hình ix

Danh mục bảng x

CHỮ VIẾT TẮT xi

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 Lý do chọn đề tài 1

1.1.1 Thực trạng hiện tại 1

1.1.2 Lý do từ lý thuyết 6

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 9

1.2.1 Mục tiêu chung 9

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 9

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 9

1.4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 9

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 9

1.4.2 Đối tượng khảo sát 10

1.4.3 Phạm vi nghiên cứu 10

1.5 Phương pháp nghiên cứu 10

1.6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của nghiên cứu 10

1.7 Kết cấu của nghiên cứu 11

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 13

Trang 10

2.1 Các khái niệm 13

2.1.1 Trách nhiệm xã hội 13

2.1.2 Đổi mới 17

2.1.3 Giá trị doanh nghiệp 18

2.2 Các lý thuyết nghiên cứu liên quan 20

2.2.1 Thuyết đại diện ( Agency theory) 20

2.2.2 Thuyết các bên liên quan (Stakeholder theory) 21

2.2.3 Lý thuyết quan điểm dựa trên nguồn lực (Resource based view theory – RBV theory) 22

2.2.4 Lý thuyết tài sản dựa trên thị trường (Market based asset theory) 24

2.3 Các nghiên cứu trước 25

2.3.1 CSR và giá trị doanh nghiệp 25

2.3.2 Trách nhiệm xã hội và đổi mới doanh nghiệp 32

2.3.3 Đổi mới và giá trị doanh nghiệp 41

2.3.4 Nhận xét các nghiên cứu trước 48

2.4 Giả thuyết nghiên cứu 49

2.4.1 Trách nhiệm xã hội và Giá trị doanh nghiệp 49

2.4.2 Đổi mới và Giá trị doanh nghiệp 55

2.4.3 Sự tương tác giữa trách nhiệm xã hội và Đổi mới 56

2.5 Đề xuất mô hình nghiên cứu 57

TÓM TẮT CHƯƠNG 2 59

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 60

3.1 Thiết kế quy trình nghiên cứu 60

3.2 Mẫu và thu thập mẫu 62

3.2.1 Tiêu chuẩn mẫu 62

3.2.2 Thu thập dữ liệu 62

3.3 Mô tả các biến 63

Trang 11

3.3.1 Biến phụ thuộc - Giá trị doanh nghiệp 63

3.3.2 Biến độc lập 63

b Đổi mới 66

3.3.4 Các biến kiểm soát 69

3.4 Mô hình đánh giá 69

3.5 Phương pháp nghiên cứu 72

3.5.1 Thu thập dữ liệu bảng 73

3.5.2 Thống kê mô tả 73

3.5.2 Kiểm định ma trận tương quan và hiện tượng đa cộng tuyến 74

3.5.2 Phương pháp hồi quy theo dữ liệu bảng 75

3.5.2.1 Các phương pháp hồi quy cho dữ liệu bảng 75

3.5.2.2 Kiểm định sự phù hợp của mô hình và khắc phục khuyết tật mô hình 77 TÓM TẮT CHƯƠNG 3 81

CHƯƠNG 4 PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 82

4.1 Phân tích thống kê mô tả 82

4.2 Phân tích ma trận tương quan và đa cộng tuyến 84

4.2.1 Phân tích ma trận tương quan 84

4.2.2 Phân tích đa cộng tuyến 84

4.3 Phân tích hồi quy 85

4.4 Kiểm định sự phù hợp của mô hình 86

4.4.1 Kiểm định lựa chọn mô hình 86

4.4.1.1 Kiểm định Time Fixed Effect 86

4.4.1.2 Kiểm định Breusch – Pagan Lagrange Multiplier (LM) 87

4.4.1.3 Kiểm định Hausman Test 88

4.4.2 Kiểm định cho mô hình được chọn 89

Trang 12

4.4.2.1 Kiểm định phương sai , sai số thay đổi 89

4.4.2.2 Kiểm định tự tương quan 89

4.5 Ước lượng mô hình GLS 90

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ 100

5.1 Kết luận 100

5.2 Đóng góp về lý thuyết 101

5.3 Hàm ý quản trị 101

5.4 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 103

5.4.1 Hạn chế của nghiên cứu 103

5.4.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo 103

TÀI LIỆU THAM KHẢO 104

PHỤ LỤC 126

Trang 13

Danh mục hình

Hình 2.1: Mô hình của Guo et al (2020) 25

Hình 2.2: Mô hình của Sheikh (2018) 26

Hình 2.3: Mô hình Sheikh (2020) 27

Hình 2.4: Mô hình của Hu et al (2018) 28

Hình 2.5: Mô hình của D'Amato and Falivena (2020) 28

Hình 2.6: nghiên cứu của Bardos et al (2020) 29

Hình 2.7: Mô hình của Pan et al (2021) 33

Hình 2.8: Mô hình của Zhou et al (2020) 34

Hình 2.9: Mô hình của Guerrero‐Villegas et al (2018) 35

Hình 2.10: Mô hình của Bahta et al (2020) 36

Hình 2.11: Mô hình nghiên cứu của García‐Piqueres and García‐Ramos (2020) 36

Hình 2.12: mô hình nghiên cứu của Santos‐Jaén et al (2021) 37

Hình 2.13: Mô hình của Rubera and Kirca (2017) 42

Hình 2.14: Mô hình của Agustia et al (2019) 42

Hình 2.15: Mô hình của Yao et al (2019) 43

Hình 2.16: Mô hình của Rong and Xiao (2017) 44

Hình 2.17: Mô hình của Li et al (2020) 44

Hình 2.18: Mô hình của Zhang et al (2020) 45

Hình 2.19: Mô hình nghiên cứu đề xuất 58

Trang 14

Danh mục bảng

Bảng 2.1: Tóm tắt các nghiên cứu liên quan đến mối quan hệ giữa CSR và Giá trị

doanh nghiệp 29

Bảng 2.2: Tóm tắt các nghiên cứu liên quan đến mối quan hệ giữa CSR và Đổi mới 38

Bảng 2.3: Tóm tắt các nghiên cứu liên quan đến mối quan hệ giữa Đổi mới và Giá trị doanh nghiệp 45

Bảng 3.4: Chỉ tiêu của thang đo CSR 65

Bảng 3.5: Công thức tính các biến kiểm soát 69

Bảng 3.6: Mô tả các biến sử dụng trong nghiên cứu 70

Bảng 4.7: Thống kê mô tả các biến trong mô hình 83

Bảng 4.8: Kiểm định hồi qui ma trận tương quan 84

Bảng 4.9: Kiểm định đa cộng tuyến 85

Bảng 4.10: Phân tích hồi quy của mô hình POOLED – OLS, FEM, REM 86

Bảng 4.11: Kết quả kiểm định Time Fixed Effect 87

Bảng 4.12: Kết quả kiểm định LM 87

Bảng 4.13: Kiểm định Hausman Test 88

Bảng 4.14: Kiểm định phương sai thay đổi 89

Bảng 4.15: Kiểm định tự tương quan 89

Bảng 4.16: Mô hình GLS 91

Trang 15

FEM : Fixed Effect Model – Mô hình tác động cố định

REM : Random Effect Model – Mô hình tác động ngẫu nhiên

GLS : Generalized Least Squares – Mô hình bình phương tối thiểu tổng quát

STATA : Là một chương trình phần mềm thống kê và phân tích dữ liệu định lượng

ISO : International Organization for Standardization – Tiêu chuẩn

quốc tế hóa

Trang 16

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

Chương này sẽ trình bày các nội dung chung nhất về lý do chọn đề tài vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu Bên cạnh đó còn cung cấp thêm các nghiên cứu mới, ý nghĩa nghiên cứu và cấu trúc luận án

1.1 Lý do chọn đề tài

1.1.1 Thực trạng hiện tại

Ngày nay, các doanh nghiệp trên toàn cầu ngày càng đối mặt với thị trường cạnh tranh vô cùng khốc liệt Do đó, để có thể cạnh tranh, tồn tại và phát triển trên một thị trường cạnh tranh đó cần phải ngoài yếu tố chất lượng sản phẩm thì còn phải đáp ứng đầy đủ sự trông đợi của xã hội vào doanh nghiệp Do đó, bắt buộc các doanh nghiệp phải thực hiện các chiến lược về trách nhiệm xã hội (CSR) với mục đích phát triển bền vững thông qua đó có thể gia tăng lợi thế cạnh tranh và tối đa hoá lợi nhuận

và giá trị doanh nghiệp Nếu cần phải có một dẫn chứng về doanh nghiệp đang thực hiện CSR mà vẫn phát triển tốt, ta có thể đề cập đến Unilever Unilever được xem như là một doanh nghiệp lớn nhất trên thế giới chuyên cung cấp các sản phẩm là hàng hoá tiêu dùng cho hơn 190 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới (trong đó có Việt Nam) Unilever đã đưa ra kế hoạch “Sống bền vững” vào kế hoạch kinh doanh với tham vọng muốn trở thành công ty bền vững kinh doanh đúng nghĩa theo chiến lược này đó là “Cho phép hàng tỷ người tăng chất lượng cuộc sống nhưng không làm tăng tác động đến môi trường” Sau 7 năm thực hiện kế hoạch phát triển bền vững trên toàn cầu, các báo cáo đã chứng minh bằng các kết quả thúc đẩy tăng trưởng và giảm tác động môi trường và gia tăng tác động xã hội tích cực (Nga, 2022) Ngoài ra, kế hoạch phát triển bền vững đã được chứng minh không chỉ đem lại những giá trị tích cực cho môi trường, xã hội mà còn là đòn bẩy cho tăng trưởng kinh doanh thông qua việc giảm thiểu các rủi ro, tiết kiệm chi phí, gia tăng doanh thu và củng cố niềm tin của khách hàng, đối tác Đồng thời thu hút và giữ chân nhân tài Về mặt số liệu kinh

tế, Unilver Việt Nam cũng đã tiết kiệm được 100 triệu euro thông qua việc tiết kiệm trong quá trình sản xuất nhờ việc tối ưu hoá việc sử dụng năng lượng và quản lý tốt

Trang 17

nguồn nguyên liệu và bao bì Bên cạnh đó, 70% tỷ lệ tăng trưởng tổng doanh thu của Unilever được mang lại từ các thương hiệu cuộc sống bền vững (Báo đầu tư Online) Riêng năm 2021 vừa qua, mặt dù phải đối mặt với nhiều khó khăn trong đó có cả vấn

đề về dịch bệnh Covid – 19 tác động vào môi trường hoạt động của doanh nghiệp nhưng Unilever vẫn thu được các kết quả kinh tế đáng chú ý Các chỉ số trong báo cáo tài chính cho thấy, doanh thu đạt được trong năm 2021 là 52,4 tỷ euro, tăng trưởng doanh số cơ bản là 4,5%, lợi nhuận hoạt động là 8,7 tỷ euro, lợi nhuận ròng là 6,6 tỷ euro và tiền mặt mà Unilever đang nắm giữ là 6,4 tỷ đô Trong đó, các chỉ số này so với năm 2020 đều tăng và có đóng góp không nhỏ từ các thương hiệu sản phẩm phát triển bền vững (Unilever, 2021)

Trong khi đó khi nhắc đến Việt Nam, thế giới đã không còn nhìn nhận đây là một quốc gia chậm phát triển mà thay vào đó là một sự kinh ngạc về câu chuyện phát triển thành công của Việt Nam với những cải cách, đổi mới kinh tế từ những năm

1980 kết hợp với những xu hướng toàn cầu thuận lợi đã nhanh chóng giúp Việt Nam chuyển mình từ một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới trở thành quốc gia có thu nhập trung bình chỉ trong vòng một thế hệ (Hương, 2020) Để có được sự phát triển đó không thể không kể đến sự tăng trưởng và phát triển vô cùng nhanh và mạnh

mẽ của các doanh nghiệp tại Việt Nam Tuy nhiên, để đạt được những thành tựu đó thì Việt Nam cũng đã phải đánh đổi sự tác động đến các vấn đề về môi trường và xã hội Trong những năm gần đây đã liên tiếp xảy ra những sự kiện gây ảnh hưởng đến môi trường và xã hội như Vedan xả chất thải ra sông Thị Vải,Tung Kuang xả thải sông Ghẽ, Hyundai – Vinashin xả thải vịnh Vân Phong, cá chết hàng loạt do Formosa,

sự cố thuỷ điện sông Tranh 2 (N Tuyên, 2016) Còn vô số những sự kiện lớn nhỏ khác về vấn đề môi trường và xã hội đã chỉ ra thực trạng hiện nay của các doanh nghiệp Việt Nam về việc thiếu ý thức trong việc thực hiện CSR mà nhiều doanh nghiệp chỉ tập trung vào việc tối đa hoá lợi nhuận và giá trị doanh nghiệp của mình Việc thiếu ý thức trong việc thực hiện CSR, ngoài việc gây ảnh hưởng xấu đến môi trường và hệ sinh thái của địa phương thì các doanh nghiệp không có ý thức còn phải đối mặt với nhiều vấn đề khác như là thiệt hại về kinh tế - tài chính (do bồi thường

Trang 18

và xử lý hậu quả do mình gây ra), ảnh hưởng xấu đến danh tiếng, lòng trung thành và

ý định mua hàng của người tiêu dùng…

Một ví dụ điển hình về sự thiếu trách nhiệm trong việc thực hiện CSR của các doanh nghiệp Việt Nam phải kể đến Vedan trong sự kiện xả thải năm 2008 Sau gần

20 năm hoạt động bắt đầu từ năm 1991, Vedan đã để lại tai tiếng trong việc xả thải

ra sông Thị Vải với công suất 5.000m3chất thải/ngày từ những năm 1994 – 1995 mãi đến tháng 12/2008 các cơ quan chức năng mới phát hiện và xử lý vấn đề này (Thẩm, 2010) Vụ việc đã làm ô nhiễm hơn 10 km sông Thị Vải ảnh hưởng trực tiếp hơn 10.000 hộ nông dân sống dựa vào nguồn lợi của con sông này thuộc các huyện Nhơn Trạch, Long Thành – Đồng Nai, Tân Thành – Bà Rịa Vũng Tàu và Cần Giờ - thành phố Hồ Chí Minh Hành vi gian dối có chủ đích của Vedan đã bị cơ quan chức năng truy thu 127 tỷ đồng tiền phí môi trường và phạt hành chính 267 triệu đồng (Thẩm, 2010) Ngoài ra, Vedan còn phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho nông dân các tỉnh, thành phố bị ảnh hưởng bởi việc xả thải của mình dẫn đến không thể khai thác, nuôi trồng thuỷ sản… (Thẩm, 2010) Sau nhiều cuộc nghiên cứu và đánh giá mức độ ảnh hưởng đến môi trường do việc xả thải trái phép của công ty Vedan, chi phí ước tính là Vedan phải trả cho người dân địa phương chịu thiệt hại là 220 tỷ đồng Ngoài số tiền bồi thường trên doanh nghiệp còn phải thanh toán toàn bộ chi phí kiểm tra, giám sát, phân tích mẫu, đánh giá môi trường, các hoạt động tư vấn và một số chi phí khác liên quan đến việc giải quyết vấn đề môi trường của mình cho mỗi địa phương là 500 triệu đồng (S Tuyên, 2011)

Gần đây nhất vào năm 2016, sự cố cá chết hàng loạt ở miền Trung đã gây nhức nhối được các phương tiện truyền thông, xã hội quan tâm và theo dõi trong một thời gian sự cố diễn ra Sự cố được phát hiện vào tháng 04/2016, do cá nuôi trong các lồng

bè của người dân gần khu kinh tế Vũng Ánh (thị xã Kỳ Anh, Hà Tĩnh) bắt đầu chết Hiện tượng bất thường này sau đó lan ra cá, tôm nuôi bằng nguồn nước biển, cá tự nhiên suốt dọc 200 km bờ biển từ Kỳ Anh (Hà Tĩnh) tới Lăng Cô (Thừa Thiên – Huế) Sau đó, một ngư dân của địa phương trong lúc đi lặn biển đã phát hiện một đường ống xả thải khổng lồ “cắm” xuống biển có chiều dài khoảng 1,5 km và đường

Trang 19

kính khoảng 1,1 m Một đầu nối của đường ống nối từ khu vực dự án Formosa ở khu kinh tế Vũng Ánh Sau đó các cơ quan chức năng đã đi khảo sát thực địa và lấy mẫu

để phân tích tìm nguyên nhân Các kết quả cho thấy độc tố rất mạnh từ môi trường tự nhiên là nguyên nhân gây cá chết hàng loạt Ngày 30/6/2020, Chính phủ Việt Nam chính thức công bố Formosa Hà Tĩnh là thủ phạm gây ra tình trạng cá chết ven biển miền Trung (Anh, 2016) Sau đó, lãnh đạo của Formosa Hà Tĩnh đã thừa nhận kết luận này và cúi đầu xin lỗi toàn thể nhân dân Việt Nam, cũng như chấp nhận mức bồi thường thiệt hại là 500 triệu USD cùng với các cam kết về việc khắc phục hậu quả môi trường do mình gây ra và xây dựng các giải pháp chống ô nhiễm tương tự xảy ra (Phong, 2016)

Mặc dù còn nhiều doanh nghiệp chưa quan tâm đến việc thực hiện CSR Tuy nhiên, Phụng (2021) đã chỉ ra ở Việt Nam hiện nay vẫn có một số doanh nghiệp đã

và đang thực hiện tốt CSR có thể kể đến như: Công ty Cổ phần Sữa Vinamilk Việt Nam là một trong những doanh nghiệp phát triển bền vững thông qua việc thực hiện tốt các tiêu chí đầu tư môi trường – xã hội – quản trị (ESG) về đạo đức trong trách nhiệm đối với xã hội Năm 2020, ý tưởng xây dựng mô hình kinh tế tuần hoàn bằng

hệ thống biogas tại các trang trại bò sữa, biến chất thải thành tài nguyên như phân bón, nước, khí đốt… đã giúp Vinamilk giảm thiểu chất thải và khí nhà kính, vận hành trang trại thân thiện môi trường Hơn nữa, Vinamilk còn thực hiện nhiều chương trình dinh dưỡng cho trẻ em với quy mô lớn như Quỹ sữa Vươn cao Việt Nam hay chương trình Sữa học đường Mặc dù thực hiện nhiều chương trình CSR như vậy nhưng doanh thu của Vinamilk vẫn liên tục lập đỉnh mới với mức tăng doanh thu tổng doanh thu hợp nhất tăng trưởng 6% so với năm 2019 Trong các năm tiếp theo doanh thu của Vinamilk vẫn liên tục lập đỉnh, tổng doanh thu hợp nhất năm 2021 đã đạt 61.012 tỷ đồng, lần đầu vượt mức 60.000 tỷ đồng và hoàn thành 98,2% kế hoạch đề ra Đáng chú ý trong quý 4/2021 đã tăng trưởng xấp xỉ 10%, đây là mức tăng trưởng theo quý nhanh nhất trong gần 5 năm trở lại đây (Xuân, 2022) Trong giai đoạn tiếp theo, Vinamilk định hướng tập trung đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, phát triển bền vững Tiếp tục triển khai thực hành các tiêu chuẩn quốc tế, tăng cường sử dụng năng lượng

Trang 20

xanh, kinh tế tuần hoàn… để tiếp tục phát triển và nâng cao vị thế của doanh nghiệp trong việc tiên phong trong lĩnh vực doanh nghiệp thực hiện CSR từ đó góp phần mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp và nâng cao giá trị và uy tín của doanh nghiệp (Huyền, 2022)

Ngoài ra, Tập đoàn FPT cũng đã phát triển chiến lược 3P (Profit, People, Planet) Trong đó, công ty còn quan tâm tới các hoạt động như nâng cao chất lượng cuộc sống, cải thiện môi trường làm việc và tham gia một số chương trình từ thiện song song với việc tạo ra lợi nhuận cho tập đoàn (Phụng, 2021) Dưới tác động của thị trường chung vô cùng khó khăn nhưng hoạt động kinh doanh của FPT vô cùng ấn tượng với tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận đạt 19,5% và 20,4%, tương ứng đạt 35.657 tỷ đồng và 6.337 tỷ đồng (Hà, 2022) Trong kỳ họp đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2022, bên cạnh việc đưa ra kế hoạch kinh doanh cho năm 2022, ban tổng giám đốc cũng đề ra các chiến lược phát triển doanh nghiệp trong đó đề cao việc bền bỉ theo đuổi định hướng phát triển công nghệ để đáp ứng các vấn đề xã hội như nhu cầu về ăn uống (sạch – rẻ), học (hứng khởi – sang tạo), làm (kết nối giữa người lao động và nhà tuyển dụng nhanh với chi phí thấp nhất) và sức khỏe ( chăm sóc sức khỏe người dân chu đáo, tốt và tiện lợi nhất) (Hà, 2022)

Thêm nữa, để có thể hội nhập và phát triển theo xu hướng toàn cầu hoá bắt buộc các doanh nghiệp Việt Nam phải thay đổi theo hướng đưa CSR vào các hoạt động của mình kết hợp với đó là việc Chính phủ cũng như các tổ chức thế giới đã đưa

ra các quy định, tiêu chuẩn để bắt buộc các doanh nghiệp Việt Nam phải đạt được như tiêu chuẩn ISO 9000 về quản lý chất lượng, ISO 14000 về quản lý môi trường, ISO 20121 về phát triển bền vững, ISO 22000 về quản lý thức ăn an toàn, ISO 26000

về trách nhiệm xã hội… Do đó, sự có mặt của CSR vào chiến lược của doanh nghiệp tại Việt Nam là rất cần thiết cho nhu cầu ngày càng tăng lên về vấn đề doanh nghiệp phải có trách nhiệm đóng góp và củng cố các giá trị về môi trường, xã hội… bên cạnh việc thu được lợi nhuận để có thể tồn tại và phát triển lâu dài

Trang 21

1.1.2 Lý do từ lý thuyết

Trong những năm gần đây với sự thay đổi nhanh và việc xuất hiện nhiều hơn những rủi ro mà doanh nghiệp phải đối mặt trên toàn cầu nên việc duy trì hình ảnh của mình là việc rất quan trọng để giữ sự cân bằng giữ việc tạo ra lợi nhuận và đáp ứng các nhu cầu về xã hội và môi trường (Griffin, 2010; Lu, Ren, He, Lin, & Streimikis, 2019; Lu, Ren, Qiao, Lin, & He, 2019; Park, Lee, & Kim, 2014) Theo Matten (2008) các doanh nghiệp muốn đạt được thành công phải thích ứng với quá trình toàn cầu hoá và những sự thay đổi giá trị xã hội như: từ mối quan hệ công việc sang mối quan hệ đối tác, từ việc dễ dàng và nhanh chóng thu được lợi nhuận sang phát triển kinh doanh bền vững dài hạn, từ đạt được lợi ích cá nhân của doanh nghiệp sang phải có trách nhiệm với xã hội và môi trường Tất cả những thay đổi này cho thấy rằng các doanh nghiệp phải thực hiện trách nhiệm xã hội như là trách nhiệm bền vững có thể cung cấp giá trị tuyệt vời cho mỗi doanh nghiệp (Boccia & Sarnacchiaro, 2018) Sự thành công dài hạn của doanh nghiệp sẽ dựa vào khả năng của doanh nghiệp trong việc tích hợp sự thành công vào các hoat động môi trường Sự thành công lâu dài của một doanh nghiệp sẽ phụ thuộc vào việc mà doanh nghiệp sẽ tích hợp CSR vào các hoạt động của mình Do đó, môi trường kinh doanh hiện nay ngày càng khuyến kích việc áp dụng hoặc thực hiện CSR Theo Chen, Liu, and Qin (2019), thực hiện CSR sẽ củng cố lợi thế cạnh tranh, cải thiện uy tín, giảm thiểu sự thay đổi việc làm của nhân viên, đảm bảo sự thân thiện của khách hàng và nhà đầu tư mang lại lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp Ngoài ra, CSR còn tác động tích cực vào điều kiện tài chính và giá trị thị trường của doanh nghiệp (Castaldo, Perrini, Misani, & Tencati, 2009; Rindova, Williamson, & Petkova, 2010; Werder, 2008) CSR là một nhu cầu tất yếu ngày nay nên đã và đang trở thành một phần không thể thiếu cho một chiến lược kinh doanh thành công

Nhiều nghiên cứu đã tập trung vào việc xác định mối quan hệ giữa CSR và giá trị doanh nghiệp, nhưng lý thuyết hiện tại lại đưa ra những quan điểm trái ngược về mối quan hệ này Theo đó, Lý thuyết đại diện của Jensen and Meckling (1976) thảo luận rằng CSR là một vấn đề đại diện Thêm vào đó còn giảm giá trị của doanh nghiệp

Trang 22

trong khi chỉ mang lại lợi ích cho các nhà quản lý (Barnea & Rubin, 2010) Ngược lại với lý thuyết đại diện, lý thuyết các bên liên quan lại xem CSR như là một khoảng đầu tư gia tăng giá trị cho doanh nghiệp bằng cách đáp ứng nhu cầu của các bên liên quan (R E Freeman, 1984)

Đã có nhiều nghiên cứu nói về CSR và giá trị doanh nghiệp tuy nhiên vẫn chưa

đi đến kết luận rõ ràng về mối quan hệ này (Margolis, Elfenbein, & Walsh, 2007; Margolis & Walsh, 2003; Orlitzky, Schmidt, & Rynes, 2003; Post, Preston, & Sachs, 2002) Trong đó, một số nghiên cứu kết luận mối quan hệ này là tích cực (Oeyono, Samy, & Bampton, 2011; Orlitzky et al., 2003; Tian, 2009), trong khi một số khác lại cho rằng mối quan hệ này là tiêu cực (Wagner, Van Phu, Azomahou, & Wehrmeyer, 2002; Yang & Yang, 2016) Thêm vào nữa là kết luận về sự thiếu vắng mối quan hệ giữa CSR và giá trị doanh nghiệp (McWilliams & Siegel, 2000; Wagner et al., 2002; Yang & Yang, 2016) Khó khăn trong việc xác định tác động của CSR vào giá trị doanh nghiệp có thể là một thách thức đền từ hai vấn đề Đầu tiên, CSR có thể nội sinh vào các yếu tố như hiệu quả tài chính và tính thanh khoản của doanh nghiệp do

đó có thể dẫn đến kết quả đánh giá bị sai lệch về sự tác động của CSR vào giá trị doanh nghiệp (Hong, Kubik, & Scheinkman, 2012; Waddock & Graves, 1997) Vấn

đề còn lại là việc nhận thức mục đích mà CSR tác động vào giá trị doanh nghiệp sẽ

là “giải quyết xung đột” hay “đầu tư quá mức” Những điều này có thể dẫn đến cái nhìn sai về việc thực hành CSR của các nhà quản lý về việc CSR không mang lại giá trị nào cho doanh nghiệp Tuy nhiên đã có một số nghiên cứu khác bổ sung quan điểm

về mối quan hệ của CSR và giá trị doanh nghiệp là mối quan hệ phi tuyến (Heli Wang, Choi, & Li, 2008; Hongdi Wang, Lu, Ye, Chau, & Zhang, 2016)

Nói cách khác, mối quan hệ này đại diện cho câu hỏi được đặt nhiều nhất từ các nhà quản lý lẫn giới nghiên cứu về CSR vì cơ thế từ CSR thông qua đó nâng cao giá trị doanh nghiệp chưa được hiểu rõ ràng (Doh, Howton, Howton, & Siegel, 2010; Jawahar & McLaughlin, 2001) Nên CSR có rất nhiều nghiên cứu trong cả lý thuyết lẫn thực nghiệm nhưng vẫn còn nhiều khoảng trống nghiên cứu trong lĩnh vực này

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa CSR và giá trị doanh nghiệp như

Trang 23

tài sản vô hình (bao gồm cả việc đổi mới) (Surroca, Tribó, & Waddock, 2010), uy tín

và sự hài lòng của khách hàng (Saeidi, Sofian, Saeidi, Saeidi, & Saaeidi, 2015) Trong

đó đã có một vài nghiên cứu kiểm tra thử vai trò trung gian của đổi mới vào mối quan

hệ này (Martinez-Conesa, Soto-Acosta, & Palacios-Manzano, 2017; Reverte, Gomez-Melero, & Cegarra-Navarro, 2016)

Ngoài việc tìm hiểu mối quan hệ giữa CSR và giá trị doanh nghiệp thì nghiên cứu này sẽ mở rộng sự hiểu biết về mối quan hệ giữa CSR và sự đổi mới Từ các nghiên cứu trước gợi ý rằng CSR có thể tạo ra giá trị gia tăng về mặt đổi mới (Husted

& Allen, 2007) Tiếp đó Herrera (2015) cũng đã đề xuất một khuôn khổ sơ bộ cho sự đổi mới về mặt xã hội của doanh nghiệp dựa trên các nghiên cứu điển hình để mô tả các cân nhắc về CSR sẽ đóng góp vào quá trình đổi mới hoặc sự đổi mới sản phẩm thông qua các yếu tố cơ bản Tuy nhiên việc thiếu các nghiên cứu thực nghiệm về sự tương tác của CSR và đổi mới của doanh nghiệp có thể ảnh hưởng đến các doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất và dịch vụ Thêm vào đó, việc CSR được xem xét như

là một chiến lược quan trọng của doanh nghiệp do đó còn liên quan đến sức sống của doanh nghiệp Với các công ty có sức sống tốt có thể phát triển tầm nhìn xa để hành động trước sự không chắc chắn về môi trường trong tương lai (Rohrbeck, Battistella,

& Huizingh, 2015) và nâng cao năng lực đổi mới của doanh nghiệp (Rohrbeck & Gemünden, 2011)

Nghiên cứu này sẽ tập trung vào việc cung cấp hiểu biết sâu rộng hơn vào một

số khía cạnh Đầu tiên là chứng minh tầm quan trọng đối với các doanh nghiệp trong việc thực hiện CSR qua mối quan hệ giữa CSR và giá trị doanh nghiệp và xem xét mối quan hệ phi tuyến của CSR và giá trị doanh nghiệp Tiếp đó là sự đổi mới tác động vào giá trị doanh nghiệp Thêm nữa, nâng cao sự hiểu biết thêm về việc CSR tương tác với sự đổi mới trong doanh nghiệp Cuối cùng là chứng minh việc các doanh nghiệp có thể đạt được những kết quả kinh tế và giá trị đổi mới tốt hơn thông qua việc thực hiện trách nhiệm xã hội của mình

Trang 24

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu về mối quan hệ phi tuyến tính có xuất hiện trong mối quan hệ giữa

trách nhiệm xã hội và giá trị doanh nghiệp tại Việt Nam

Nghiên cứu tác động của sự đổi mới đến giá trị của doanh nghiệp Việt Nam

Nghiên cứu tác động của sự tương tác giữa trách nhiệm xã hội và đổi mới đến

Giá trị của doanh nghiệp tại Việt Nam

Từ các kết quả, nghiên cứu đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao việc thực hiện các hoạt động về trách nhiệm xã hội và đổi mới trong doanh nghiệp để nâng cao Giá trị của các doanh nghiệp tại Việt Nam

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Để giải quyết những mục tiêu trên, nghiên cứu cũng sẽ trả lời cho những câu hỏi như sau:

- Trách nhiệm xã hội tác động đến giá trị doanh nghiệp tại Việt Nam như thế nào ?

- Mối quan hệ phi tuyến tính có xuất hiện trong mối quan hệ giữa trách nhiệm

xã hội và giá trị doanh nghiệp tại Việt Nam hay không ?

- Đổi mới tác động đến giá trị doanh nghiệp tại Việt Nam như thế nào ?

- Sự tương tác giữa trách nhiệm xã hội và đổi mới tác động đến giá trị doanh nghiệp tại Việt Nam như thế nào ?

1.4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

Các yếu tố ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa Trách nhiệm xã hội, Đổi mới và Giá trị doanh nghiệp

Trang 25

1.4.2 Đối tượng khảo sát

Các doanh nghiệp thuộc VN30 đang niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) giai đoạn 2016 – 2020

1.4.3 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu: Thực hiện nghiên cứu trên các doanh nghiệp thuộc VN30 trong giai đoạn từ 2016 - 2020

Thời gian nghiên cứu: Trong 06 tháng (từ tháng 04/2022 đến tháng 10/2022)

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện theo hướng nghiên cứu định lượng, sử dụng phầm mềm Stata 15 để thực hiện các kiểm định, hồi quy Các phương pháp hồi quy được

áp dụng trong nghiên cứu là mô hình Pooled OSL, mô hình tác động cố định (FEM),

mô hình tác động ngẫu nhiên (REM) và mô hình bình phương tối thiểu tổng quát (GLS)

Dữ liệu của luận văn được thu thập từ các doanh nghiệp trong danh sách VN30 của sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) trong giai đoạn từ

2016 – 2020 Các dữ liệu này được thu thập từ các báo cáo tài chính thường niên, báo cáo phát triển bền vững và báo cáo thường niên từ đó xây dựng cơ sở dữ liệu cho các biến trong mô hình để thực hiện việc kiểm định và đánh giá cơ sở dữ liệu

1.6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của nghiên cứu

Ý nghĩa khoa học: nghiên cứu này đóng góp thêm vào vốn hiểu biết về chủ đề Trách nhiệm xã hội (CSR) nói chung và mối quan hệ giữa CSR và giá trị doanh nghiệp nói riêng Ngoài ra còn bổ sung thêm vào vốn kiến thức về mối quan hệ giữa CSR - đổi mới trong doanh nghiệp, đổi mới – giá trị doanh nghiệp Qua nghiên cứu này, người đọc có thêm cơ sở khoa học về các khái niệm trong đề tài, mối quan hệ giữa các khái niệm với nhau Nghiên cứu này cũng được xem là cơ sở về tài liệu tham khảo các thang đo cho các nghiên cứu trong tương lai

Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu giúp cho các tổ chức, doanh nghiệp Việt Nam có thêm thông tin và kiến thức về CSR cũng như mối quan hệ của nó đối với giá trị doanh nghiệp và sự đổi mới trong doanh nghiệp để giúp các nhà quản lý,

Trang 26

chủ các doanh nghiệp có thêm cơ sở trong việc ra quyết định quản trị nhằm đạt được mục đích là tăng hiệu quả hoạt động để mang về lợi nhuận và nâng cao giá trị cho các doanh nghiệp

1.7 Kết cấu của nghiên cứu

Luận văn này được thiết kế có 05 chương, cụ thể:

Chương 1: Giới thiệu

Chương này mô tải khái quát về các thông tin chung của nghiên cứu này bao gồm lý do chọn đề tài, mục đích và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu và cấu trúc của nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý thuyết

Chương này giới thiệu về các nội dung liên quan đến khuôn khổ các lý thuyết liên quan và xem xét các nghiên cứu trước từ đó đưa ra mô hình nghiên cứu Các khái niệm như trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, sự đổi mới và giá trị doanh nghiệp được lựa chọn các khái niệm phù hợp để đưa vào nghiên cứu Các khái niệm này kết hợp cùng với các lý thuyết chính của bài như thuyết đại diện (Agency theory), thuyết các bên liên quan (Stakeholder theory), thuyết quan điểm dựa trên nguồn lực (Resource based view) và thuyết tài sản dựa trên thị trường (Market based asset) trên

cơ sở xem xét các nghiên cứu trước để tìm ra mô hình nghiên cứu, khoản trống nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu thích hợp cho nghiên cứu này

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương này mô tả phương pháp nghiên cứu, chọn thang đo cho các khái niệm

và phương pháp lấy mẫu nghiên cứu Sau quá trình lấy mẫu nghiên cứu, dữ liệu sẽ được xử lý bằng chương trình STATA theo quy trình: mã hoá và làm sạch dữ liệu – phân tích mô tả dữ liệu – chạy mô hình POOLED OLS, FEM, REM và GLS – đánh giá mô hình hồi quy

Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Chương này trình bày các kết quả sau khi sử dụng chương trình STATA thu được các kết quả của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, sự đổi mới, giá trị doanh

Trang 27

nghiệp, đánh giá mô hình đo lường cấu tạo của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp,

sự đổi mới và giá trị doanh nghiệp, đánh giá mô hình cấu trúc

Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị

Chương này đưa ra kết luận về mối quan hệ của các khái niệm từ đó đưa ra các giải pháp quản lý dựa trên các kết luận đó Ngoài ra còn xem xét hạn chế của nghiên cứu này và đưa ra các hướng nghiên cứu trong tương lai

Trang 28

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Chương này lược khảo những nội dung về Trách nhiệm xã hội, Đổi mới và Giá trị doanh nghiệp như là cơ sở để xây dựng thang đo nghiên cứu Phần này trình bày các khái niệm được sử dụng vào nghiên cứu, trình bày ngắn gọn về các lý thuyết liên quan để có thể xây dựng mô hình nghiên cứu Chương này cũng tóm tắt các nghiên cứu trước có liên quan đến mối quan hệ giữa Trách nhiệm xã hội và Giá trị doanh nghiệp, Trách nhiệm xã hội và Đổi mới, Đổi mới và Giá trị doanh nghiệp Đặc biệt, cơ sở lý thuyết để xây dựng giả thuyết nghiên cứu sẽ được trình bày như đã xây dựng từ mục đích nghiên cứu mô hình của luận văn

2.1 Các khái niệm

2.1.1 Trách nhiệm xã hội

Định nghĩa về Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) đã tồn tại trong hơn 60 năm CSR lần đầu được ra mắt bởi Bowen (1953) đề cập đến “trách nhiệm xã hội của các nhà quản lý là tạo ra các quyết định theo giá trị của xã hội” và nội dung này đã và đang tiếp tục được xem xét và thực hiện trên khắp thế giới, mặc dù cho đến nay vẫn chưa có định nghĩa nào được chấp nhận rộng rãi CSR được hiểu chung theo một ngữ cảnh rộng và bao gồm nhiều nội dung và ý tưởng được biết đến với nhiều cái tên khác như Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, Trách nhiệm giải trình của doanh nghiệp, Đạo đức kinh doanh, Tinh thần kinh doanh có trách nhiệm, Phát triển bền vững và môi trường… (Lu, Ren, He, et al., 2019) Một số tác giả tranh luận rằng CSR có thể bao hàm như là chiến lược kinh doanh cho sự tăng trưởng dài hạn và là lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp

Định nghĩa về CSR được Carroll (1979) xây dựng và phát triển thành mô hình kim tự tháp từ bốn thành phần như sau: “ CSR được xem như là một hành vi của doanh nghiệp mà qua đó mang lại lợi nhuận kinh tế, tuân thủ pháp luật, đạo đức và

hỗ trợ xã hội” Sau đó, Carroll (2008) đã mở rộng thêm định nghĩa của mình về CSR như là “ Cam kết của các doanh nghiệp để tìm kiếm những chiến lược và để thực hiện các quyết định hoặc theo đuổi những hoạt động theo giá trị và sự trông đợi của xã hội Hediger (2010) và Ismail (2009) cũng đã nghiên cứu theo cùng hướng tiếp cận

Trang 29

CSR Họ cho rằng đây là trách nhiệm của các doanh nghiệp cho sự tác động đối với các hoạt động của họ và tạo ra phúc lợi cho các bên liên quan Theo Kotler (2007), CSR là sự cam kết tăng phúc lợi cho xã hội Fontaine (2013) cũng chia sẻ quan điểm rằng CSR là một sự cam kết kinh doanh cho các hành vi thích hợp và công bằng nhằm cải thiện cuộc sống của xã hội

Một cách tiếp cận CSR khác đã được Elkington (1994) giới thiệu với khái niệm mang tên là “Triple bottom line – hay còn gọi là Điểm mấu chốt ba (TBL)” và

đã được liên kết với ý tưởng của phát triển bền vững trong đó thảo luận rằng các doanh nghiệp nên chuẩn bị ba trọng tâm riêng biệt là sự thịnh vượng kinh tế, chất lượng môi trường và công bằng xã hội Theo đó, trọng tâm kinh tế đề cập đến việc doanh nghiệp tạo ra của cải, bao gồm thu nhập tài chính và tài sản – qua đó nhấn mạnh vào lợi nhuận của doanh nghiệp Trọng tâm xã hội là về chất lượng cuộc sống của con người và sự công bằng giữa người, cộng đồng và quốc gia – qua đó nhấn mạnh đến yếu tố con người Trọng tâm môi trường là bảo vệ môi trường tự nhiên – qua đó nhấn mạnh đến trái đất, môi trường tự nhiên (Zadek, 2001) TBL cũng được định nghĩa tương tự bởi (Eu Commission, 2001) như một ý tưởng rằng hiệu quả hoạt động của một doanh nghiệp nên được đo dựa trên sự đóng góp tổng hợp của doanh nghiệp cho sự thịnh vượng kinh tế, chất lượng môi trường và công bằng xã hội Krajnc (2005) đã mở rộng định nghĩa bằng cách giải thích TBL như là “ Việc tạo ra hàng hoá và dịch vụ sử dụng qui trình và hệ thống không ô nhiễm, bảo toàn năng lượng và nguồn lực tự nhiên, khả thi về kinh tế, an toàn và lành mạnh cho nhân viên, cộng đồng và người tiêu dùng, xã hội và phần thưởng cho tất cả những người lao động Thêm vào đó, Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế cũng định nghĩa hành vi kinh doanh có trách nhiệm như là tạo ra đóng góp tích cực cho kinh tế, môi trường và xã hội mà dựa trên một cấu trúc ba biến Từ những khái niệm được trình bày một sự chấp nhận rõ ràng TBL của CSR mà có thể khám phá vào các biến xã hội, môi trường

và tài chính (Bansal, 2005) Trong khía cạnh xã hội của CSR, môi trường làm việc

và công đồng là hai trụ cột mà thu hút sự chú ý của các doanh nghiệp (Torugsa, O’Donohue, & Hecker, 2013) Môi trường làm việc nhấn mạnh đến vấn đề “sức khoẻ,

Trang 30

an toàn và hạnh phúc của nhân viên” Cộng đồng thì nhấn mạnh đến “sự cho phép các doanh nghiệp hoạt động như là những công dân tốt trong cộng đồng địa phương” (European Commission, 2003) Khía cạnh môi trường của CSR nói đến việc đưa các bước đổi mới để tối thiểu ảnh hưởng đến môi trường và làm cho việc sản xuất được hiệu quả và bền vững hơn cho doanh nghiệp (Orlitzky, Siegel, & Waldman, 2011)

Và cuối cùng, khía cạnh tài chính của CSR ủng hộ cho cảm nhận và các phản ứng của các cổ đông tin tưởng rằng doanh nghiệp hợp tác với các nhà cung cấp, khách hàng và các bên liên quan khác trong thị trường tác động bền vững và sự thịnh vượng lâu dài (Torugsa et al., 2013) Mặc dù phân biệt nhưng các khía cạnh này lại không loại trừ lẫn nhau Bansal (2005) cho rằng ba biến nên hợp nhất để có thể đạt được tính bền vững Giống như vậy, Torugsa et al (2013) đã gợi ý rằng mỗi khía cạnh của CSR có thể nhắm vào một mặt của hoạt động trách nhiệm xã hội, các khía cạnh còn lại tích cực tương tác để tác động vào trách nhiệm doanh nghiệp và hoạt động kinh

tế

Trong những năm gần đây, nhiều cuộc tranh luận về mối quan hệ trực tiếp giữa CSR và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và cách mà CSR tác động được vào một vài biến của hiệu quả hoạt động danh nghiệp Do đó, một khái niệm mới đã được phát triển và trở nên phổ biến như là một khái niệm bổ sung cho CSR Khái niệm này được giới thiệu bởi M K Porter, MR (2011) đã và đang mở rộng sự chú ý trong giới học thuật và các nhà quản lý trong những năm gần đây (Crane, Palazzo, Spence, & Matten, 2014; Dembek, Singh, & Bhakoo, 2016; Wójcik, 2016) Khái niệm này được trình bày dưới dạng thuật ngữ “Create Share Value – tạo ra giá trị chia

sẻ (CSV)” được định nghĩa rằng “các doanh nghiệp xem vấn đề xã hội như là một cơ hội kinh doanh và thông qua việc hướng tới sự đổi mới để giải quyết các vấn đề xã hội và tạo ra lợi thế cạnh tranh từ việc giải quyết các vấn đề đó” CSV cho rằng một doanh nghiệp phải đồng thời đạt được lợi ích xã hội và lợi ích kinh tế của doanh nghiệp Hay nói theo CSR thì nên được mở rộng bằng cách tận dụng triệt để mọi nguồn lực của doanh nghiệp để cải thiện đồng thời các vấn đề trong cộng đồng Ngoài

ra, CSV không phải chia sẻ những giá trị hiện có mà là việc mở rộng các giá trị về

Trang 31

kinh tế và xã hội Theo nghĩa đó có thể hiểu, CSR phần lớn xuất phát từ áp lực xã hội bên ngoài nhằm cải thiện của doanh nghiệp trong khi đó CSV lại là một phần không thể thiếu trong chiến lược doanh nghiệp, lợi nhuận và lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp (M K Porter, MR, 2011) Mặc dù khái niệm về CSV có tính trực quan nhất định để định nghĩa có giá trị về mặt lý thuyết (Bosch-Badia, Montllor-Serrats, & Tarrazon, 2013) nhưng CSV cũng đã gây ra nhiều tranh cãi nhất định xoay quanh vấn

đề chia sẻ giá trị (Aakhus & Bzdak, 2012; Corazza, Scagnelli, & Mio, 2017; Crane

et al., 2014; Dembek et al., 2016; Denning, 2011)

Theo một vài nguồn nghiên cứu, giảm thiểu chi phí và rủi ro, tối đa lợi nhuận

và gia tăng lợi thế cạnh tranh, duy trì uy tín và tính hợp pháp là những lợi ích chính

mà CSR có thể mang lại cho doanh nghiệp Bên cạnh đó, một doanh nghiệp được quản lý tốt sẽ giúp dễ dàng hơn trong việc đánh giá các rủi ro tiềm năng, giảm các chi phí và cải thiện hiệu suất tài chính Trong khi đó, một vài doanh nghiệp không thực hiện CSR chịu ảnh hưởng từ các bê bối, quản lý không nhất quán, nhân viên đình công và gian lận (Cismas, 2019)

Từ các định nghĩa đã được đề cập ở trên cách tiếp cận của Carroll (2008) vẫn

là cách tiếp cận được thừa nhận rộng rãi trong giới hàn lâm (Han, Yu, & Kim, 2019; Weber, 2008) Le and Teal (2011) cũng đã gợi ý định nghĩa Carroll (2008) như là định nghĩa hoàn chỉnh nhất về CSR Tuy nhiên, nghiên cứu này sẽ chọn cách tiếp cận của M K Porter, MR (2011) như là một cách tiếp cận mới để đánh giá tác động của CSR vào Giá trị doanh nghiệp Khái niệm này đã được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu gần đây Trong đó, Camilleri (2012) đã sử dụng khái niệm CSV trong nghiên cứu của mình để xem xét các chiến lược CSR cho ngành du lịch của Malta Font, Guix, and Bonilla-Priego (2016) đã sử dụng khái niệm về CSV như là định nghĩa về CSR trong nghiên cứu về việc thực hiện báo cáo CSR của các doanh nghiệp

du lịch biển Moon and Parc (2019) cũng xem xét các khía cạnh của CSV để đánh giá việc thực hiện CSR của các doanh nghiệp và thông qua đó phát triển một chu kỳ đạo đức để nâng cao lợi ích cho các doanh nghiệp và xã hội

Trang 32

2.1.2 Đổi mới

Ngày nay, sự đổi mới đã không còn là yếu tố thứ yếu mà đã là yếu tố cơ bản quyết định sự thành công hay thất bại của một doanh nghiệp trong việc duy trì lợi nhuận và tồn tại trong một thị trường cạnh tranh vô cùng khóc liệt Trong hai thập kỷ qua, đổi mới đã trở thành lĩnh vực nghiên cứu hấp dẫn đối với các nhà nghiên cứu và các nhà quản lý, những người đã cố gắng định nghĩa, phân loại và điều tra sự tác động của đổi mới vào các hoạt động của doanh nghiệp

Định nghĩa về đổi mới lần đầu xuất hiện bởi Schumpeter (1934) đã xem đổi mới như là động lực cho sự phát triển Ngoài ra, theo Data (2005) đổi mới được định nghĩa như là việc một doanh cải thiện các sản phẩm, quy trình, hay marketing theo một cách mới hơn… Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về sự đổi mới trong các nghiên cứu hiện nay Tuy nhiên, tựu chung lại sự đổi mới được định nghĩa như là “

sự phát triển của sản phẩm, quy trình, dịch vụ và công nghệ mới mà có thể thoả mãn nhu cầu của con người và không ảnh hưởng đến nguồn tài nguyên trong tự nhiên” (Tello & Yoon, 2008) Tương tự vậy, Bos‐Brouwers (2010) đã giải thích sự đổi mới như là sự đổi mới hoặc cải thiện của sản phẩm, dịch vụ, công nghệ hoặc quy trình của

tổ chức mà không chỉ cải thiện hiệu quả kinh tế mà còn nâng cao hiệu quả về môi trường và xã hội trong cả ngắn hạn và dài hạn để có thể tạo ra các tác động tích cực đến môi trường và xã hội Trong khi đó, phân tích các thử thách về quản lý liên quan đến đổi mới, Boons and Lüdeke-Freund (2013) nhấn mạnh rằng xem xét sự bền vững (về môi trường, xã hội, tài chính) nên được tích hợp vào hệ thống doanh nghiệp từ việc hình thành ý tưởng đến việc nghiên cứu và phát triển (R&D) và thương mại hoá các ý tưởng đổi mới thành công Cụ thể, các nghiên cứu mở rộng đã thảo luận rằng đổi mới có thể được nghiên cứu dựa trên ba quan điểm chính: quản lý nội bộ, quan

hệ bên ngoài và đánh giá hiệu quả hoạt động Một vài tác giả đã bắt đầu nghiên cứu mối quan hệ trực tiếp giữa đổi mới và tính bền vững (McWilliams & Siegel, 2001) Mặc dù nhiều nhà nghiên cứu đã chứng minh mối liên hệ tích cực giữa tính bền vững,

sự đổi mới và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp (Russo, 1997; Soloman, 1985;

Trang 33

Surroca et al., 2010), một số khác nhận diện mối quan hệ là tiêu cực (Walley & Whitehead, 1994), hoặc không có mối quan hệ (Teoh, Welch, & Wazzan, 1999)

Một vài tác giả đã tìm hiểu về việc đánh giá hoạt động của doanh nghiệp bằng cách nhấn mạnh thử thách nghiên cứu là phát triển sự hiểu biết rộng hơn về việc đổi mới có thể mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp cũng như là việc tác động tích cực đến xã hội (Aguilera, Rupp, Williams, & Ganapathi, 2007; Branco & Rodrigues, 2006; McWilliams & Siegel, 2001; M E Porter & Kramer, 2006) Nghiên cứu chiến lược quản lý cũng ngày càng tăng sự chú ý vai trò của tính bền vững và sự đổi mới vào lợi thế cạnh tranh dài hạn của doanh nghiệp (Flammer, 2013; Waddock & Graves, 1997) Các công ty thực hiện đổi mới hay đổi mới bền vững và công bố các hoạt động liên quan đến đổi mới đều sẽ được thị trường đánh giá cao và tăng giá trị doanh nghiệp

Từ các định nghĩa về đổi mới đã đề cập ở trên nghiên cứu này sử dụng định nghĩa đổi mới của Bos‐Brouwers (2010) là định nghĩa chính của sự đổi mới để đo lường hiệu quả của CSR nhằm nâng cao giá trị doanh nghiệp De Jesus Pacheco et al (2017) đã sử dụng định nghĩa về đổi mới của Bos‐Brouwers (2010) cho nghiên cứu của mình để xem xét việc đổi mới của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở giai đoạn kém phát triển và đáng được quan tâm Guerrero‐Villegas, Sierra‐García, and Palacios‐Florencio (2018) đã cũng đã sử dụng định nghĩa về đổi mới này để đánh giá mối quan

hệ giữa CSR, đổi mới và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Kuhl, Da Cunha, Maçaneiro, and Cunha (2016) cũng sử dụng định nghĩa của Bos‐Brouwers (2010) để kiểm tra mối quan hệ giữa đổi mới và hiệu suất bền vững trong ngành điện và điện

tử ở Brazil

2.1.3 Giá trị doanh nghiệp

Giá trị doanh nghiệp đại diện cho tài sản được sở hữu bởi công ty mà thông qua giá trị của mỗi doanh nghiệp có thể xác định được giá trị tài sản mà chủ doanh nghiệp đang sở hữu Do đó, các nhà quản lý đại diện cho chủ doanh nghiệp có trách nhiệm phải tối đa hóa giá trị của doanh nghiệp mà mình đang quản lý Đó là mục tiêu

cơ bản của bất kỳ doanh nghiệp nào Một doanh nghiệp mà có giá trị cao cho thấy

Trang 34

doanh nghiệp đang phát triển tốt và qua đó tối đa hóa giá trị tài sản của cổ đông Mức

độ thịnh vượng của các cổ đông và nhà đầu tư đã phản ánh vào giá trị doanh nghiệp Giá trị doanh nghiệp còn là một chỉ báo được sử dụng để đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Nhà đầu tư cũng nhìn nhận một doanh nghiệp thông qua giá trị của chính doanh nghiệp đó và liên quan đến giá trị cổ phiếu Theo Ftouhi (2010) cho rằng các nhà đầu tư xem giá trị doanh nghiệp thông qua giá trị cổ phiếu trên thị trường, giá trị cổ phiếu cao thì sẽ tạo ra giá trị doanh nghiệp cao hơn Bhabra (2007) thì cho rằng giá trị doanh nghiệp là giá được trả bởi người người mua khi một doanh nghiệp được bán và cũng coi giá trị doanh nghiệp là giá trị khách quan từ cộng đồng và là định hướng cho sự tồn tại của doanh nghiệp Từ những định nghĩa trên cho thấy rằng giá trị doanh nghiệp là nhận thức của nhà đầu tư hướng tới sự thành công của một doanh nghiệp và cũng liên hệ đến giá cổ phiếu trên thị trường Giá trị doanh nghiệp thường được biểu thị bằng giá trị cổ phiếu trên giá trị sổ sách (PBV) Miller and Modigliani (1961) cũng cho rằng giá trị doanh nghiệp được xác định bởi khả năng tạo ra tài sản của doanh nghiệp Điều này ngụ ý rằng, khi khả năng tạo ra tài sản tác động tích cực tác động tích cực Một công ty khi hoạt động tốt và vòng quay tài sản

sẽ càng hiệu quả và sẽ dẫn đến gia tăng lợi nhuận

Trong những năm gần đây, nhiều nhà nghiên cứu đã tìm hiểu mối quan hệ của giữa nghiên cứu và phát triển (R&D) vào giá trị doanh nghiệp và cho rằng mối quan

hệ này là tích cực Đầu tiên, các doanh nghiệp đầu tư vào R&D giúp tạo ra giá trị đổi mới và tăng lợi nhuận của doanh nghiệp (Aw, Roberts, & Xu, 2011; Doraszelski & Jaumandreu, 2013) Lach and Schankerman (1989) cũng báo cáo rằng sự tương tác giữa chi phí R&D và lợi tức đầu tư vật chất có mối liên hệ tích cực với giá trị doanh nghiệp

Giá trị doanh nghiệp có thể được đo từ hai cảm nhận Từ quan điểm thước đo

kế toán về khả năng sinh lời được thể hiện bởi hai công cụ đo lường là tỷ số lợi nhuận ròng trên tài sản (ROA) và tỷ số lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu (ROE), hệ số Q của Tobin (Tobin’s Q), biên lợi nhuận Ngoài ra, giá trị doanh nghiệp có thể được đo

từ quan điểm thị trường cổ phiếu được thể hiện bằng cách sử dụng giá cổ phiếu trên

Trang 35

thị trường giao dịch cổ phiếu Nghiên cứu sử dụng định nghĩa của Ftouhi (2010) làm định nghĩa của giá trị doanh nghiệp Bhagiawan and Mukhlasin (2020) sử dụng định nghĩa của Ftouhi (2010) làm định nghĩa giá trị doanh nghiệp để xem xét tác động của thuế đối với giá trị doanh nghiệp Omesi and Appah (2021) sử dụng định nghĩa này

để xem xét tác động của kế hoạch thuế doanh nghiệp lên giá trị doanh nghiệp của các doanh nghiệp hàng tiêu dùng niêm yết ở Nigeria giai đoạn 2015 đến 2019 VU and

LE (2021) sử dụng định nghĩa của Ftouhi (2010) cho giá trị doanh nghiệp để chứng minh tác động của hoạch định thuế vào giá trị doanh nghiệp của các doanh nghiệp phi tài chính được niêm yết tại Việt Nam, được kiểm soát bởi sở hữu nhà nước

2.2 Các lý thuyết nghiên cứu liên quan

2.2.1 Thuyết đại diện ( Agency theory)

Được xem như là một trong những lý thuyết cũ nhất trong hệ thống tài liệu về quản lý và kinh tế (Daily, Dalton, & Rajagopalan, 2003; Wasserman, 2006) Thuyết đại diện thảo luận các vấn đề nổi lên trong các doanh nghiệp do trên sự tách biệt của các chủ doanh nghiệp và các nhà quản lý đồng thời nhấn mạnh việc làm giảm vấn đề này Lý thuyết này giúp cho việc thực hiện một vài cơ chế quản trị khác nhau có thể kiểm soát hành động của các đại diện (nhà quản lý) trong các doanh nghiệp Trong nghiên cứu của Berle (1932) đã tìm thấy việc tập đoàn hiện đại của Mỹ đã phân tán quyền sở hữu và dẫn đến việc phân tách quyền sở hữu khỏi quyền kiểm soát Trong một công ty cổ phần, quyền sở hữu được nắm giữ bởi một cá nhân hoặc một nhóm dưới hình thức cổ phiếu và là những cổ đông uỷ quyền cho các nhà đại diện (nhà quản lý) thay mặt họ điều hành hoạt động của một doanh nghiệp nhưng vấn đề chính lại xuất hiện là liệu những người đại diện này đang làm việc cho các chủ sở hữu hay

là cho bản thân họ (Jensen & Meckling, 1976; Ross, 1973) Dựa vào lý thuyết đại diện của Jensen and Meckling (1976), Barnea and Rubin (2010) xem xét cam kết CSR như là một đại diện chính cho mốt liên hệ giữa các nhà quản lý và các cổ đông Trong đó thảo luận rằng, các nhà quản lý quan tâm việc đầu tư quá mức vào CSR để đạt được lợi ích cá nhân từ việc xây dựng danh tiếng như là một công dân xã hội tốt,

có thể ảnh hưởng đến chi phí cho cổ đông Ban quản trị doanh nghiệp có tiềm năng

Trang 36

giảm chi phí đại diện và cải thiện hiệu quả tài chính của doanh nghiệp (Dobbin & Jung, 2010; Hillman & Dalziel, 2003) Trong khuôn khổ lý thuyết đại diện chủ yếu giải quyết các vấn đề giữa các nhà quản lý và các cổ đông mà thông qua đó có thể nâng cao việc giám sát các nhà quản lý trong quá trình điều hành doanh nghiệp Các

cổ đông thông qua quyền sở hữu của mình có thể tác thể tác động vào vấn đề giải quyết chi phí đại diện phát sinh từ các hành vi cơ hội trong doanh nghiệp qua đó giúp cải thiện vấn đề đại diện với các nhà quản lý và giảm thiểu rủi ro liên quan đến quyết định quản trị trong việc chấp nhận CSR vào hoạt động kinh doanh

Theo đó, dựa trên lý thuyết đại diện để xem xét mối quan hệ giữa CSR và giá trị doanh nghiệp là tiêu cực (-) Do trong thời gian đầu khi thực hiện CSR, các doanh nghiệp sẽ phải tiêu tốn một khoản chi phí không nhỏ để thực hiện nhưng lại không mang lại được giá trị ngay lập tức Do đó, đây sẽ là khoản chi phí gây thất thoát giá trị doanh nghiệp

2.2.2 Thuyết các bên liên quan (Stakeholder theory)

Thuyết các bên liên quan lần đầu được trình bày bởi R E Freeman (1984) theo đó lý thuyết này cho rằng việc tối đa hóa lợi nhuận không phải là mục tiêu duy nhất của hoạt động kinh doanh mà thông qua hoạt động kinh doanh có thể cân bằng

kỳ vọng của các bên liên quan được xác định như là điều kện cần cho sự tồn tại và thành công của doanh nghiệp trong một thời gian dài (Clarkson, 1995; Donaldson & Preston, 1995; Post et al., 2002) Mặc dù vậy, lý thuyết này lại bị xem là trái ngược với quan điểm của các cổ đông (Friedman, 1970) Tuy nhiên các cuộc tranh luận trong thời gian gần đây lại ủng hộ quan điểm là sự kỳ vọng của các bên liên quan và

sự hài lòng của các cổ đông là quan điểm tích cực nhằm hướng tới việc để cả hai bên đều có lợi (Berman, Wicks, Kotha, & Jones, 1999) Thêm vào đó Jo and Harjoto (2012) đã gợi ý rằng cam kết CSR có thể được sử dụng như là cơ chế để đạt được việc liên kết tốt hơn với những người trong cuộc và ngoài cuộc để qua đó giảm mâu thuẫn liên quan đến lợi ích giữa các nhà quản lý và các bên liên quan Thông qua đó CSR có liên quan đến giá trị doanh nghiệp cao hơn Guenster, Bauer, Derwall, and Koedijk (2011) và Jiao (2010) cho thấy rằng hoạt động xã hội của doanh nghiệp có

Trang 37

liên hệ tích cực với hiệu quả định giá Cui, Jo, and Na (2018) đã đưa ra bằng chứng thực nghiệm rằng hoạt động CSR giúp giảm thông tin không đối xứng của doanh nghiệp Do vậy, các hoạt động CSR có thể nâng cao giá trị doanh nghiệp thông qua việc giảm mâu thuẩn giữa các bên Những nghiên cứu trên đã chứng minh quan điểm của R Edward Freeman (1999) để đạt tới sự cân bằng giữa lợi ích của cổ đông và sự

kỳ vọng của các bên liên quan, doanh nghiệp không thể dựa vào việc phát triển tự phát các mối quan hệ với các bên liên quan mà cần phải phát triển theo hướng thiết lập một mốt quan hệ lâu dài và bền vững Theo quan điểm đó, một doanh nghiệp phải cam kết phát triển mạng lưới quan hệ sâu rộng không chỉ giới hạn tới các cổ đông, nhân viên hoặc khách hàng và đầu tư vào việc phát triển các mối quan hệ này để không ngừng hiệu quả hơn (Perrini, Russo, Tencati, & Vurro, 2011) Theo Jain and Jamali (2016) gợi ý rằng doanh nghiệp có mối quan hệ hợp đồng với tất cả các bên liên quan cho phép doanh nghiệp quản lý lợi ích cho các bên liên quan của họ trong lĩnh vực tài chính cũng như phi tài chính

Theo lý thuyết các bên đại diện, xem xét cách tiếp cận của CSR vào giá trị doanh nghiệp theo hướng giải quyết xung đột của các bên liên quan với doanh nghiệp thông qua đó nâng cao sự tác động của các bên liên quan vào doanh nghiệp Do đó,

lý thuyết này bổ sung vào quan điểm tác động của CSR vào giá trị doanh nghiệp là tác động tích cực (+) trong dài hạn bằng cách giảm quyết những nhu cầu của các bên lên quan bằng các chiến lược CSR của doanh nghiệp Từ đó giúp độ nhận diện thương hiệu của doanh nghiệp được nâng cao, gia tăng niềm tin của khách hàng, sự trung thành của nhân viên giúp doanh nghiệp tồn tại và phát triển bền vững trong thời gian dài

2.2.3 Lý thuyết quan điểm dựa trên nguồn lực (Resource based view theory – RBV theory)

Từ khi ra đời cho đến nay, quan điểm dựa trên nguồn lực (RBV) đã trở thành thành lý thuyết ảnh hưởng nhất đến chiến lược quản trị doanh nghiệp của các nhà quản lý Lý thuyết này tập trung nói về bản chất của doanh nghiệp Nội dung của lý thuyết này trái ngược với các lý thuyết kinh tế khác luôn tìm cách giải thích vấn đề

Trang 38

tại sao các doanh nghiệp tồn tại (Coase, 1937) RBV coi doanh nghiệp như là một tập hợp các nguồn lực và khả năng để giải thích các vấn đề của các đặc điểm nội bộ, lợi thế cạnh tranh và hiệu quả hoạt động Penrose (1959) đã đưa ra ý tưởng về RBV trên nguyên tắc một tổ chức hành chính và tập hợp các nguồn lực sản xuất như một gói các dịch vụ tiềm năng Theo J Barney (1991) nguồn lực của doanh nghiệp được định nghĩa như là “tất cả tài sản, khả năng, các quy trình tổ chức, các đặc tính, thông tin, kiến thức của doanh nghiệp… và phải được kiểm soát bởi doanh nghiệp J Barney (1991) cũng đã phân loại nguồn lực theo ba loại: nguồn lực vật lý, nguồn lực nhân

sự, và nguồn lực tổ chức Sau đó Amit and Schoemaker (1993) đã làm rõ hơn sự phân biệt giữa nguồn lực và khả năng Theo đó nguồn lực là các yếu tố mà doanh nghiệp

sở hữu hoặc kiểm soát và có sẵn, khả năng là các quy trình tổ chức dựa trên thông tin

mô tả năng lực của doanh nghiệp để từ đó sử dụng các nguồn lực để tạo ra các kết quả mong muốn Để các tổ chức đối mặt với sự hỗn loạn ngày càng tăng trong môi trường kinh doanh bên ngoài, họ tập trung vào nguồn lực và năng lực bên trong của doanh nghiệp như là nguồn lực chính cho sức mạnh để sinh tồn và gia tăng năng lực cạnh tranh (Dasgupta & Gupta, 2009) Ưu thế cạnh tranh này là điều bắt buộc đối với các mục đích chiến lược và không thể bắt chước được Từ quan điểm của Penrose (1959) được mở rộng bởi Wernerfelt (1984) đã làm sáng tỏ rằng chiến lược là sự cân bằng giữa việc khai thác các nguồn lực hiện tại và phát triển một nguồn lực mới Nói một cách khác, để các tổ chức đạt được lợi thế cạnh tranh, họ phải tận dụng tối đa nội lực của mình và sau đó chuyển đổi thành nguồn lực mới J B Barney (1995) cho rằng nguồn lực và khả năng là cơ sở để cấu thành lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp phải có giá trị, hiếm, không thể bắt chước được và có tổ chức Nếu những điều kiện này có đầy đủ thì nguồn lực của doanh nghiệp sẽ nâng cao khả năng của doanh nghiệp

để duy trì lợi thế cạnh tranh bền vững và duy trì mức lợi nhuận trên trung bình (J Barney, 1991; Peteraf & Barney, 2003) Bên cạnh đó RBV cũng là lý thuyết nền tảng

để qua đó hiểu hơn về một số các quan điểm nổi bật liên quan khác

Dựa trên quan điểm của lý thuyết RBV xem xét các sự tương tác giữa CSR và đổi mới đến giá trị doanh nghiệp Trong đó, sự tương tác giữa CSR và đổi mới được

Trang 39

xem xét trong lý thuyết có tác động tích cực (+) đến giá trị doanh nghiệp do sự đổi mới xuất phát từ sự tổng hợp các yếu tố bên trong doanh nghiệp để làm mới hoặc thay đổi các yếu tố cũ để gia tăng lợi thế cạnh tranh trong mỗi doanh nghiệp Trong khi việc thực hiện CSR lại giúp doanh nghiệp đáp ứng được các Đối với sự tương tác giữa CSR và sự đổi mới cũng làm nâng cao giá trị doanh nghiệp thông qua việc đổi mới các sản phẩm, dịch vụ, quy trình để đáp ứng các nhu cầu của các bên liên quan

Từ đó các bên liên quan tác động tích cực vào giá trị doanh nghiệp bằng cách sử dụng tin dùng sản phẩm mới so với các đối thủ cạnh tranh

2.2.4 Lý thuyết tài sản dựa trên thị trường (Market based asset theory)

Tài sản được định nghĩa như là các thuộc tính của tổ chức mà một tổ chức có thể có được, phát triển, nuôi dưỡng và làm đòn bẩy cho nội bộ và bên ngoài (J Barney, 1991; Hunt & Morgan, 1995; Srivastava, Shervani, & Fahey, 1998) Thuyết tài sản dựa trên thị trường (hay còn được hiểu là tài sản dựa trên marketing) được định nghĩa là tài sản phát triển từ sự hợp tác của doanh nghiệp với các thực thể trong môi trường bên ngoài (Doyle, 2000; Srivastava et al., 1998) J Barney (1991) đã nhấn mạnh rằng tài sản dựa trên thị trường có thể là bất kỳ tính chất (vật lý, tổ chức hay con người…) có thể giúp doanh nghiệp cải thiện hiệu quả và năng suất trên thị trường Trong đó tài sản dựa trên thị trường bao gồm các yếu tố cơ bản như thương hiệu, mối quan hệ khách hàng, kênh quan hệ, mối quan hệ đối tác… Doyle (2000) đã phân tài sản dựa trên thị trường thành bốn loại: kiến thức marketing, thương hiệu, lòng trung thành và quan hệ chiến lược Trong khi Srivastava et al (1998) lại định nghĩa thành hai loại hình của tài sản dựa trên thị trường là tài sản dựa trên thị trường mối quan hệ

và tài sản dựa trên thị trường trí tuệ Thêm vào đó, tài sản dựa trên mối quan hệ thị trường là kết quả của mối quan hệ giữa doanh nghiệp và các bên liên quan nội bộ chính (bao gồm nhà phân phối, nhà bán lẻ, khách hàng cuối cùng, đối tác chiến lược, cộng đồng và cơ quan nhà nước Còn tài sản dựa trên trí tuệ thị trường là loại kiến thức mà công ty sở hữu về môi trường bên ngoài (như tình hình hiện tại và tiềm năng của thị trường, các đối thủ cạnh tranh, khách hàng, các kênh phân phối và nhà cung

Trang 40

cấp) Nhìn chung, tài sản dựa trên thị trường không được ghi nhận vào bảng cân đối

kế toán mà thường được đưa vào tài sản vô hình

Lý thuyết tài sản dựa trên lý thuyết bổ sung vào mối quan hệ giữa sự đổi mới

và giá trị doanh nghiệp là tác động tích cực (+) Do việc tạo ra sự đổi mới tạo ra tác động tích cực giúp doanh nghiệp cải thiện hiện quả hoạt động và năng suất trên thị trường từ đó tác động vào giá trị của doanh nghiệp Thêm nữa sự đổi mới cũng giúp làm tăng danh tiếng cho doanh nghiệp qua đó nâng cao độ nhận diện thương hiệu của doanh nghiệp từ đó tác động tích cực vào lợi nhuận và giá trị doanh nghiệp thông qua

sự tiêu dùng của khách hàng

2.3 Các nghiên cứu trước

2.3.1 CSR và giá trị doanh nghiệp

Guo, Hou, and Li (2020) đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa CSR và giá trị doanh nghiệp thông qua việc xem xét các tác động điều tiết của tính linh hoạt tài chính và đầu tư R&D Bằng việc sử dụng nhiều dự liệu của 2.311 công ty từ 2010 đến 2016 Nghiên cứu này nhận thấy CSR là “con dao hai lưỡi” cho giá trị doanh nghiệp Bởi vì CSR làm tăng rủi ro hệ thống nhưng giảm rủi ro đặc trưng riêng cũng như Tobin’s Q Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng tính linh hoạt tài chính

và đầu tư R&D giảm đáng kể sự tiêu cực tương quan giữa CSR và Tobin’s Q Tuy nhiên, tính linh hoạt tài chính làm giảm mối quan hệ tích cực của CSR và rủi ro hệ thống còn đầu tư R&D làm giảm mối quan hệ tiêu cực của CSR và rủi ro đặc trung riêng

Hình 2.1: Mô hình của Guo et al (2020) CSR

Tính linh hoạt tài chính Đầu tư R&D

Giá trị doanh nghiệp

Ngày đăng: 27/03/2023, 17:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w