1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Khảo sát kiến thức, thái độ, thực hành và các yếu tố ảnh hưởng đến việc tiêm chủng vaccine covid 19 của sinh viên trường đại học y dược cần thơ

99 9 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo sát kiến thức, thái độ, thực hành và các yếu tố ảnh hưởng đến việc tiêm chủng vaccine covid 19 của sinh viên trường đại học y dược cần thơ
Tác giả Phạm Thị Ngọc Nga
Người hướng dẫn TS.BS. Nguyễn Thành Tấn, PGS.TS. Nguyễn Trung Kiên, ThS. Lê Thị Nhân Duyên, ThS. Ngô Phương Thảo, CNCĐ. Trịnh Minh Thiết
Trường học Trường Đại Học Y Dược Cần Thơ
Thể loại Đề tài nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2022
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG KHẢO SÁT KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC TIÊM CHỦNG VACCINE COVID-19 CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯ

Trang 1

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG

KHẢO SÁT KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH

VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC

TIÊM CHỦNG VACCINE COVID-19 CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC

CẦN THƠ

TS PHẠM THỊ NGỌC NGA

Cần Thơ, năm 2022

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG

KHẢO SÁT KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH

VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC TIÊM CHỦNG VACCINE COVID-19

CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC

CẦN THƠ CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI

TS.BS Nguyễn Thành Tấn TS Phạm Thị Ngọc Nga

Cán bộ tham gia: PGS.TS Nguyễn Trung Kiên

ThS Lê Thị Nhân Duyên ThS Ngô Phương Thảo CNCĐ Trịnh Minh Thiết

Trang 3

thái độ, thực hành và các yếu tố ảnh hưởng đến việc tiêm chủng vaccine COVID-19 của sinh viên Trường Đại học Y Dược Cần Thơ” là công trình

nghiên cứu do tôi chủ trì thực hiện

Kết quả chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác Các kết quả, số liệu nghiên cứu được trích dẫn là hoàn toàn trung thực

Tác giả

Trang 4

Mục lục

PHẦN 1 TÓM TẮT ĐỀ TÀI

PHẦN 2 TOÀN VĂN CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng, biểu đồ, hình vẽ, đồ thị

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Tổng quan về COVID-19 và vaccine COVID-19 3

1.1.1 COVID-19 3

1.1.2 Dịch tễ học COVID-19 3

1.1.3 Tổng quan về vaccine COVID-19 8

1.1.4 Kiến thức, thái độ và thực hành tiêm chủng vaccine COVID-19 14 1.1.5 Một số yếu tố ảnh hưởng quyết định tiêm chủng COVID-19 16

1.2 Tổng quan một số nghiên cứu liên quan 19

1.2.1 Ngoài nước 19

1.2.2 Trong nước 21

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

2.1 Đối tượng nghiên cứu 23

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 23

2.3 Phương pháp nghiên cứu 23

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 23

2.3.2 Cỡ mẫu 23

2.3.3 Phương pháp chọn mẫu 24

2.3.4 Nội dung nghiên cứu 24

2.4 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu 30

2.5 Đạo đức trong nghiên cứu 33

Trang 5

3.2 Kiến thức, thái độ, thực hành tiêm chủng vaccine COVID-19 36

3.2.1 Kiến thức 36

3.2.2 Thái độ 40

3.2.3 Thực hành 44

3.3.Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tiêm chủng COVID-19 45

3.3.1 Đánh giá độ tin cậy cronbach’s alpha các thang đo 45

3.3.2 Phân tích nhân tố khám phá 49

3.3.3 Phân tích hệ số tương quan Pearson 55

3.3.4 Phân tích hồi qui 56

Chương 4 BÀN LUẬN 57

4.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu 57

4.2 Kiến thức, thái độ, thực hành tiêm chủng vaccine COVID-19 58

4.2.1 Kiến thức 58

4.2.2 Thái độ 60

4.2.3 Thực hành 62

4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tiêm chủng COVID-19 63

4.3.1 Kiểm định Cronbach’s Alpha 63

4.3.2 Phân tích nhân tố khám phá 64

4.3.3 Mức độ tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tiêm vaccine 66

KẾT LUẬN 71

KIẾN NGHỊ 72 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Phiếu khảo sát

Trang 6

Từ viết tắt Viết đầy đủ

SARS-CoV-2 Severe acute respiratory syndrome corona virus 2

Trang 7

Bảng 2.1 Bảng câu hỏi đánh giá về kiến thức tiêm chủng vaccine

tượng

35

đối tượng

38

Bảng 3.6 Mối liên quan giữa tỷ lệ kiến thức đúng với ngành học,

đặc điểm tiêm và nhiễm COVID-19

39

số đặc điểm của đối tượng

41 Bảng 3.9 Liên quan đến vấn đề lo lắng về việc tiêm chủng với 42

Trang 8

Bảng 3.11 Thực hành của sinh viên 44 Bảng 3.12 Cronbach’s Alpha của thang đo “Hiệu quả, an toàn của

Bảng 3.17 Cronbach’s Alpha của thang đo “Quyết định tiêm

vaccine”

48

Bảng 3.19 Kết quả kiểm định hệ số KMO và Barlett’s Test cho biến

độc lập

49

Bảng 3.22 Đặt lại tên các yếu tố sau kiểm định Cronbach’s alpha và

phân tích EFA

51

Bảng 3.24 Kết quả phân tích hệ số tương quan Pearson giữa các biến 55

Trang 9

Hình 1.1 Biểu đồ số ca nhiễm COVID-19 trên thế giới 4

Hình 1.6 Vaccine Covid-19 giúp các tế bào miễn dịch của cơ thể

tiếp xúc với các kháng nguyên của SARS-CoV-2 để hình thành miễn dịch với virus

10

Biểu đồ 3.6 Vaccine COVID-19 có thể bảo vệ khỏi nhiễm COVID-19 47

Trang 10

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Đại dịch COVID-19 đã và vẫn tiếp tục ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực của cuộc sống con người từ khi nó xuất hiện vào cuối năm 2019 Nhiều nghiên cứu

đã chỉ ra sinh viên và học sinh (đặc biệt sinh viên theo học khối ngành sức khỏe)

là những đối tượng quan trọng đối với các cuộc chiến dịch và có thể đóng vai trò

là sứ giả trong việc đưa ra các hiệu quả thông báo cho gia đình và cộng đồng tiếp nhận vaccine tốt hơn Ngoài ra sinh viên khối ngành sức khỏe do đặc điểm tham gia nhiều trong công tác phòng chống dịch nên nhóm đối tượng này được coi là

có nguy cơ phơi nhiễm với COVID-19

Tại Việt Nam, vaccine COVID-19 đã được triển khai tiêm phòng theo từng giai đoạn với giai đoạn đầu tập trung vào các nhân viên y tế, nhân viên trực tuyến và những người có nguy cơ cao như một phần của các biện pháp kiểm tra liên quan Tuy nhiên, thời điểm xây dựng ý tưởng nghiên cứu, việc chấp nhận các vaccine này vẫn còn hoài nghi, với sự an toàn và hiệu quả là những mối quan

tâm lớn Đề tài “Khảo sát kiến thức, thái độ, thực hành và các yếu tố ảnh

hưởng đến việc tiêm chủng vaccine COVID-19 của sinh viên Trường Đại học Y Dược Cần Thơ năm 2021” được thực hiện với 2 mục tiêu:

(1) Khảo sát kiến thức, thái độ, thực hành tiêm chủng COVID-19 của sinh viên Trường Đại học Y Dược Cần Thơ

(2) Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tiêm chủng vaccine COVID-19 của sinh viên Trường Đại học Y Dược Cần Thơ

Trang 11

Sinh viên hệ chính quy thuộc tất cả các ngành học tại Trường Đại học

Y Dược Cần Thơ

2.2 Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang có phân tích

Áp dụng công thức tính cỡ mẫu cho 1 tỷ lệ trong quần thể:

Trong đó: Z = 1,96 (hệ số tin cậy với mức ý nghĩa α = 0,05)

p= 0,34 là tỷ lệ số người tham gia nghiên cứu có lo lắng về việc tiêm ngừa vacxin COVID-19 theo nghiên cứu Sabria Al-Marshoudi, 2021

d = sai số cho phép của nghiên cứu, chọn d = 0,032

Vậy n = 842 sinh viên Trong thực tế có 892 sinh viên ở cả 6 khóa từ

năm thứ nhất đến năm thứ sáu tham gia khảo sát

Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu: mẫu nghiên cứu được chọn

bằng phương pháp chọn mẫu thuận tiện bằng cách gửi bảng câu hỏi về tất cả

các ngành từ năm thứ nhất đến năm thứ sáu, cho đến khi đủ số lượng

Nội dung nghiên cứu:

- Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu: giới tính, khóa học, tình trạng hôn nhân, ngành học, số lần đã tiêm vaccine, loại vaccine, tình trạng nhiễm COVID-19

- Kiến thức, thái độ, thực hành đối với việc tiêm chủng vaccine COVID-19: bộ câu hỏi được xây dựng gồm 3 phần:

 Kiến thức tiêm chủng vaccine COVID-19: Câu hỏi kiến thức về vaccine COVID-19 có tổng 6 câu hỏi về, trong đó có 1 câu hỏi về thông tin vaccine COVID-19 và 5 câu hỏi về kiến thức tiêm chủng COVID-19 Bên

Trang 12

 Câu hỏi về thái độ về tiêm chủng vaccine COVID-19 gồm 4 hỏi

 Câu hỏi thực hành liên quan đến thực hành tiêm chủng vaccine COVID-19, bao gồm 4 câu hỏi Phản hồi tùy chọn có hoặc không

- Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tiêm vaccine COVID-19

Xây dựng phiếu khảo sát (Phụ lục 1) theo thang đo Likert 5 điểm và thực hiện đánh giá độ tin cậy Cronbach’s Alpha của các thang đo Phân tích nhân tố khám phá EFA (exploratory factor analysis) để đánh giá, kiểm định thang đo và độ tin cậy của các biến quan sát Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tiêm vaccine COVID-19 và hiệu chỉnh lại mô hình nghiên cứu

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Trong 892 sinh viên Trường ĐHYDCT tham gia khảo sát kiến thức, thái độ, thực hành đối với tiêm chủng vaccine và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tiêm chủng COVID-19, nghiên cứu kết luận:

3.1 Về kiến thức, thái độ, thực hành tiêm chủng vaccine COVID-19:

Kiến thức: có 220/892 (22,5%) đối tượng tham gia có kiến thức đúng

về tiêm chủng vaccine COVID-19 Chỉ có đặc điểm số lần tiêm vaccine có ảnh hưởng đến lo lắng về việc tiêm chủng COVID-19 (p<0,05) 92,9% thông tin về vaccine COVID-19 có nguồn gốc được sinh viên Trường ĐHYDCT cập nhật từ các kênh truyền thông như ti vi, báo, đài,…

Thái độ: 516/892 (57,8%) có thái độ lo lắng về việc tiêm chủng COVID-19 Đặc điểm giới tính và khóa học được xác định mang ý nghĩa thống kê với tỷ lệ lo lắng, giá trị p lần lượt là 0,006 và 0,04 Nguyên nhân lo lắng về việc tiêm vaccine chủ yếu đến từ các tin tức trên truyền thông (40,6%)

và nghi ngờ cá nhân không có hiệu quả và an toàn khi tiêm (35,4%) Có đến

Trang 13

Thực hành: tỷ lệ SV sẵn sàng tiêm vaccine COVID-19 cho lần đầu, lần

2 và sau lần 2 đều rất cao (≥95%), và có 92,3% SV sẵn sàng báo cáo tác dụng phụ của vaccine cho nhân viên y tế

3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tiêm chủng COVID-19

Từ kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA, kết quả có 21 biến quan sát thuộc 5 nhóm: X1-Hiệu quả và an toàn của vaccine; X2-Truyền thông; X3-Đặc điểm cá nhân; X4-Chuẩn chủ quan; X5-

Cơ sở vật chất tiêm phòng đều ảnh hưởng đến được chứng minh có ảnh hưởng thuận chiều đến quyết định chọn tiêm vaccine

Kết quả phân tích tương quan Pearson, phân tích hồi qui kết luận cả 5 nhóm nhân tố với 21 biến quan sát độc lập có ảnh hưởng lớn đến quyết định chọn tiêm vaccine của sinh viên theo thứ tự từ thấp đến cao gồm có: X2-Truyền thông có ảnh hưởng lớn nhất với hệ số β = 0,347; tiếp theo X4-Chuẩn chủ quan có ảnh hưởng cao thứ hai với hệ số β = 0,331; X1-Hiệu quả và an toàn của vaccine với hệ số β = 0,230; X5-Cơ sở vật chất tiêm phòng với hệ số

β = 0,216 và cuối cùng là X3-Đặc điểm cá nhân với hệ số β = 0,108

Trang 14

PHẦN 2 TOÀN VĂN CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU

Trang 15

ĐẶT VẤN ĐỀ

Từ tháng 12/2019, thế giới đã chiến đấu chống lại đại dịch COVID-19 với hơn 219 triệu trường hợp được xác nhận và 4,55 triệu trường hợp tử vong được báo cáo trên toàn thế giới tính đến 24/9/2021 Việt Nam cũng đang chiến đấu với làn sóng thứ hai với biến thể mới của coronavirus mạnh hơn với 728 triệu trường hợp được xác nhận và 18.017 trường hợp tử vong (tính đến 24/9/2021) Trong đợt bùng phát dịch từ tháng 4/2021 đến nay số ca tử vong do covid không ngừng tăng cao,

có những thời điểm lên đến 386 ca/ngày (ngày 28/8/2021)

Các chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch COVID-19 liên tục được các cấp lãnh đạo từ Nhà nước đến địa phương thay đổi áp dụng để đạt được hiệu quả tối đa và phù hợp cho từng tình hình diễn biến dịch cụ thể Khi dịch bệnh bùng phát, bên cạnh các lực lượng nhân viên y tế, công an, quân đội,… có hơn ngàn lượt sinh viên ngành Y khoa, Trường Đại học Y Dược Cần Thơ (ĐHYDCT) đã trực tiếp tham gia hỗ trợ công tác phòng, chống dịch không chỉ ở tại địa bàn thành phố mà còn ở nhiều địa phương khác Sinh viên Trường ĐHYDCT là một trong các lực lượng tuyến đầu của ứng phó đại dịch COVID-19 và đang đối mặt với các mối đe dọa như tiếp xúc thường xuyên với virus, thời gian làm việc kéo dài, các tâm lý mệt mỏi, kiệt sức, càng dẫn đến nguy

cơ mắc bệnh cao

Tiêm vaccine an toàn và hiệu quả là cách duy nhất để giảm tỷ lệ tử vong và làm chậm tình trạng đại dịch này, tuy nhiên, dựa trên báo cáo của các nhà nghiên cứu từ WHO và CDC việc loại bỏ COVID-19 dường như là không thể từ vaccine

Và với sự xuất hiện của nhiều loại vaccine, hiệu quả phòng bệnh cao thấp và các tác dụng phụ của từng loại khác nhau Hơn nữa hiệu quả của vaccine không phải là mãi mãi Các hiểu biết từ các phương thức lây truyền của virus và thực hiện các biện pháp phòng ngừa thích hợp là những chiến lược cần thiết và hiệu quả nhất để kiểm soát căn bệnh này Sự hiểu biết sai về vaccine có thể dẫn đến tâm lý chủ quan,

Trang 16

cũng như với sự xuất hiện ngày càng nhiều loại vaccine, sự phân vân thậm chí là

tranh thủ cơ hội để có loại vaccine tối ưu có thể diễn ra

Bên cạnh đó, nhiều nghiên cứu đã áp dụng các mô hình khác nhau đã tìm ra

các yếu tố quyết định đến việc chấp nhận vaccine cũng như sự do dự và từ chối tiêm

chủng thay đổi tùy theo bối cảnh của từng cá nhân và điều kiện dịch tễ của quốc

gia Một số nhà nghiên cứu đã phân tích, các biến số và yếu tố giải thích xác suất

tiêm chủng, bao gồm nhận thức và sở thích và động cơ của cá nhân ảnh hưởng đến

hành động của mọi người [34] Một số nghiên cứu khác đã chỉ ra quyết định tiêm

chủng cũng bị ảnh hưởng bởi bối cảnh cá nhân, nhóm và các đặc tính của vaccine

[37], [53]

Đề tài “Khảo sát kiến thức, thái độ, thực hành và các yếu tố ảnh hưởng

đến việc tiêm chủng vaccine COVID-19 của sinh viên Trường Đại học Y

Dược Cần Thơ” được thực hiện với mục tiêu:

(1) Xác định tỉ lệ kiến thức, thái độ, thực hành tiêm chủng COVID-19 của

sinh viên Trường Đại học Y Dược Cần Thơ

(2) Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tiêm chủng vaccine

COVID-19 của sinh viên Trường Đại học Y Dược Cần Thơ

Trang 17

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1

1.1 Tổng quan về COVID-19 và vaccine COVID-19

1.1.1 COVID-19

COVID-19 là dịch viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus corona

có tên SARS-CoV-2 khởi phát tại thành phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc, miền Trung Trung Quốc [2], [3] Bệnh nhân đầu tiên được phát hiện vào ngày 08/12/2019, sau đó diễn biến rất phức tạp do tốc độ lây lan của dịch bệnh tăng theo cấp số

mũ Đến ngày 31/12/2019, Trung Quốc chính thức thông báo với Tổ chức Y tế thế giới (WHO) về bùng phát dịch Đến 06/2/2020, số người chết do bệnh viêm phổi cấp lên tới 565, trong đó có 563 người ở Trung Quốc đại lục, một người ở Philippine, một người ở Hong Kong; số ca nhiễm bệnh cũng tăng lên 28.276 trên toàn cầu Trước tình hình này, ngày 31/01/2020, WHO tuyên bố tình trạng khẩn cấp toàn cầu đối với dịch viêm phổi cấp do virus Corona chủng mới (SARS-CoV-2) gây ra Ngày 11/3/2020, tổ chức Y tế thế giới (WHO) chính thức công bố dịch COVID-19 do virus Corona chủng mới (SARS-CoV-2) là đại dịch toàn cầu [14], [16], [28]

Đến cuối năm 2021, có nhiều biến thể SARS-CoV-2 được phát hiện Chúng liên tục biến đổi thông qua đột biến và đôi khi những đột biến này dẫn đến một biến thể mới của virus Nếu như một số loại biến thể xuất hiện và biến mất, thì những loại khác tiếp tục hoành hành Biến thể mới sẽ còn tiếp tục xuất hiện

1.1.2 Dịch tễ học về COVID-19

1.1.2.1 Trên thế giới

Đến 8/2020 đã ghi nhận 17.498.822 trường hợp mắc COVID-19 tại 215 quốc gia, vùng lãnh thổ [1], trong đó có 677.165 trường hợp tử vong chủ yếu tập trung ở ba quốc gia Mỹ, Brazil và Ấn Độ, 21 quốc gia có số mắc trong

Trang 18

khoảng 100.000 – 1.000.000 trường hợp; 194 quốc gia, vùng lãnh thổ có dưới 100.000 trường hợp, trong đó Mỹ tiếp tục là quốc gia ghi nhận số mắc và tử vong cao nhất trên toàn thế giới Virus SARS-CoV-2 đã phải cần đến 92 ngày (đến ngày 2/4/2020) để lây lan đến 1 triệu người mắc đầu tiên trên toàn thế giới, song chỉ cần 13 ngày là lây lan thêm 1 triệu người và bây giờ chỉ cần 4 ngày là

có thêm 1 triệu người mắc COVID-19 trên thế giới cho thấy mức độ lây lan của SARS-CoV-2 nhanh chóng

Tình hình lây nhiễm trong thời gian trên tại các châu lục như sau: Châu

Mỹ với 53 nước, khoảng 1.014 triệu dân, là lục địa có số lượng người mắc COVID-19 mạnh nhất thế giới, số người mắc và người đang điều trị tiếp tục tăng; Châu Âu với 49 nước và 831 triệu dân, có số người nhiễm bằng 1/3 Châu Mỹ; Châu Á với 48 nước, 4.490 triệu dân, có số người mắc cao hơn Châu Âu

và xu hướng lây nhiễm vẫn tiếp tục tăng mạnh, tương tự ở Châu Mỹ; Châu Phi với 57 nước, 1.886 triệu dân, có quá trình lây nhiễm chậm hơn Châu Á nhưng mức độ lây nhiễm rất nhanh; Châu Ðại Dương (Châu Úc) chỉ với 6 nước và 40 triệu dân, là châu lục duy nhất việc lây nhiễm đã đạt đỉnh và qua làn sóng lây nhiễm thứ 1

Hình 1.1 Biểu đồ số ca nhiễm COVID-19 trên thế giới [1]

Ngày 11/08/2020 vaccine COVID-19 đầu tiên trên thế giới là SPUTNIK

V do Nga sản xuất được công bố Sau đó nhiều vaccine phòng COVID-19 của

Trang 19

các quốc gia khác cũng đã công bố như AstraZeneca (Anh), Pfizer, BioNTech (Đức, Mỹ), Moderna (Mỹ), Sinopharm (Trung Quốc),…đã mang lại một tín hiệu tích cực khi sự khủng hoảng của đại dịch đang tiếp diễn

Hình 1.2 Biểu đồ số ca tử vong do COVID-19 trên thế giới [1]

Đầu năm 2021, sau khi triển khai vaccine hiệu quả và các nền kinh tế thay đổi tốt hơn trong thời điểm dịch COVID-19, tình hình dịch trên thế giới

ổn định, triển vọng kinh tế toàn cầu đã được cải thiện Đến 24/9/2022 trên thế giới đã ghi nhận 613.999.760 trường hợp mắc COVID-19 trong đó có 6.533.623 trường hợp tử vong Bệnh lây lan trên 215 quốc gia, vùng lãnh thổ trên toàn cầu [1]

Hình 1.3 Biểu đồ số liều vaccine COVID-19 được cấp trên thế giới [1]

Trang 20

1.1.2.2 Tại Việt Nam

Trường hợp COVID-19 đầu tiên ở Việt Nam được công bố vào ngày 23 tháng 1 năm 2020 [32], khi một người đàn ông Trung Quốc 65 tuổi bị sốt vào ngày 17 tháng 1, bốn ngày sau khi ông và vợ bay từ quận Vũ Xương đến Hà Nội Đến cuối tháng 3/2020, việc ứng phó với đợt bùng phát COVID-19 ở Việt Nam bao gồm ba giai đoạn Giai đoạn I là từ ngày 23 tháng 1 (trường hợp đầu tiên được phát hiện) đến ngày 25 tháng 2, trong đó số trường hợp được xác nhận với COVID-19 tăng chậm lên 16 trường hợp vào ngày 25 tháng 2 Hầu hết các trường hợp trong giai đoạn này là những người có ghi chép các chuyến

du lịch từ Trung Quốc [31] Trong Giai đoạn II, các ca mới ban đầu được xác định có lịch sử du lịch đến Hàn Quốc và các nước châu Âu, nhưng sau đó được coi là nguồn lây lan trong cộng đồng, với 78 trường hợp dương tính, khi người bệnh tiếp xúc chặt chẽ, trong đó có hàng trăm người, tổng số ca được xác nhận lên 268 ca vào ngày 15 tháng 4 Giai đoạn ba bắt đầu từ ngày 22 tháng 3, sau khi số trường hợp nhiễm bệnh vượt quá 100, một ngưỡng mà sau đó việc kiểm soát dịch bệnh trở nên khó khăn hơn và các trường hợp không có nguồn lây nhiễm rõ ràng hơn bắt đầu xuất hiện

Hình 1.4 Biểu đồ số ca nhiễm COVID-19 tại Việt Nam [1]

Trang 21

Hình 1.5 Biểu đồ số ca tử vong do COVID-19 tại Việt Nam [1]

Trong 2 năm bùng phát dịch COVID-19, Việt Nam đã trải qua 4 đợt dịch, đợt 1 (22/1/2020 - 22/7/2020), đợt 2 (23/7/2020 - 27/1/2021), đợt 3 (28/1/2021

- 26/4/2021) và đợt 4 (27/4/2021 đến nay) trong đó đợt dịch lần 4 được xem là bùng phát mạnh mẽ nhất Đến gần giữa và cuối năm 2021, nhằm rà soát tình hình dịch bệnh căng thẳng phức tạp, Thủ tướng chính phủ Việt Nam áp dụng chính sách giãn cách xã hội theo chỉ thị 15 và chỉ thị 16 tình hình dịch ở Việt Nam có xu hướng giảm, triển vọng dịch bệnh được cải thiện Đến ngày 24/9/2022, Việt Nam có 11.467.619 ca nhiễm và 43.416 ca tử vong

1.1.2.3 Tại Cần Thơ

Vào đầu tháng 07/2021, các tỉnh thành ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long xuất hiện thêm nhiều ca nhiễm COVID-19 Báo cáo nhanh từ Trung tâm kiểm soát bệnh tật thành phố Cần Thơ vào chiều ngày 12/07/2021 đã ghi nhận những ca nhiễm COVID-19 ở chợ đầu mối Tân An (Quận Ninh Kiều) Tháng 08/2021, số ca nhiễm tại Thành phố Cần Thơ tăng nhanh chóng, ghi nhận cao nhất lên đến 235 ca/ngày, đến cuối tháng 08/2021 do áp dụng hiệu quả các biện pháp phòng, chống COVID-19, số ca nhiễm COVID-19 ở Thành phố Cần Thơ

đã có xu hướng giảm

Sau hơn 2 tháng kể từ khi bùng phát, thành phố Cần Thơ đã phải chịu nhiều ảnh hưởng do dịch COVID-19 gây ra, phải kể đến là việc thực hiện các

Trang 22

biện pháp giãn cách xã hội khiến cho việc kinh doanh của các công ty, xí nghiệp

bị ngừng trệ, nhiều hàng quán phải đóng cửa khiến cho nhiều người lao động

bị thất nghiệp, các trường học ở Cần Thơ đều tạm ngưng cho học sinh, sinh viên đến trường và thay bằng hình thức dạy trực tuyến khiến việc học tập của nhiều học sinh, sinh viên gặp nhiều trở ngại Với những diễn biến phức tạp của dịch bệnh làm tăng yêu cầu về y tế dẫn đến việc thiếu nguồn y tế, nhân lực để đảm bảo điều trị cho các bệnh nhân COVID-19

Từ đầu tháng 7/2021, trước sự bùng phát trở lại của dịch bệnh COVID-19 tại Đồng bằng Sông Cửu Long và cả trên địa bàn TP.Cần Thơ, hưởng ứng sự kêu gọi của nhà trường, đã có hơn 4000 sinh viên Trường ĐHYDCT tình nguyện tham gia vào phòng, chống dịch bệnh ở các hoạt động hỗ trợ tiêm vaccine, hỗ trợ bệnh viện dã chiến, hỗ trợ lấy mẫu xét nghiệm cộng đồng, kiểm soát nhiễm khuẩn, đội hậu cần, đội shipper tình nguyện

1.1.3 Tổng quan về vaccine COVID-19

1.1.3.1 Nguyên lý hoạt động của vaccine Covid-19

Để hiểu cách hoạt động của vaccine COVID-19, trước tiên cần xem xét cách cơ thể chúng ta chống lại bệnh tật Khi vi trùng, chẳng hạn như SARS-CoV-2 là virus gây ra bệnh COVID-19, xâm nhập vào cơ thể chúng ta, chúng

sẽ tấn công và sinh sôi Sự xâm lấn này được gọi là nhiễm trùng, đây là nguyên nhân gây bệnh Hệ thống miễn dịch của chúng ta sử dụng một số công cụ để chống lại nhiễm trùng, đó là các tế bào miễn dịch Các loại tế bào bạch cầu khác nhau chống lại nhiễm trùng theo những cách khác nhau:

Đại thực bào là các tế bào bạch cầu nuốt và tiêu hóa vi trùng, các tế bào chết Các đại thực bào để lại các bộ phận của vi trùng xâm nhập, được gọi là kháng nguyên Cơ thể nhận biết các kháng nguyên này là nguy hiểm và kích thích cơ thể sản sinh ra các kháng thể tấn công chúng

Trang 23

Tế bào lympho B là tế bào bạch cầu tạo ra các kháng thể tấn công các mảnh virus/kháng nguyên do đại thực bào để lại

Tế bào lympho T có nhiệm vụ tấn công các tế bào trong cơ thể đã bị nhiễm bệnh

Lần đầu tiên một người bị nhiễm virus SARS-CoV-2 có thể mất vài ngày hoặc vài tuần để cơ thể họ tạo ra tất cả các công cụ cần thiết để vượt qua nhiễm trùng Sau khi bị nhiễm trùng, hệ thống miễn dịch của người đó ghi nhớ những

gì đã học được về cách bảo vệ cơ thể chống lại căn bệnh đó

Cơ thể giữ một số tế bào lympho B và T, được gọi là "tế bào nhớ" Các

tế bào lympho này sẽ hoạt động nhanh chóng nếu cơ thể gặp lại cùng một loại virus Khi các kháng nguyên quen thuộc được phát hiện, các tế bào lympho B sản xuất kháng thể để tấn công chúng Các chuyên gia vẫn đang tìm hiểu thời gian các tế bào bộ nhớ này có thể bảo vệ một người chống lại virus gây ra COVID-19

Cơ chế của vaccine COVID-19

Các loại vaccine khác nhau hoạt động theo những cách khác nhau để bảo

vệ cơ thể Nhưng với tất cả các loại vaccine, chúng đều giúp các tế bào miễn dịch của cơ thể tiếp xúc với các kháng nguyên của SARS-CoV-2 để hình thành miễn dịch với virus Sau khi tiêm vaccine, cơ thể giữ lại các tế bào lympho T

và B “nhớ” để chống lại loại virus đó trong tương lai

Thông thường, phải mất vài tuần sau khi tiêm vaccine thì cơ thể mới sản sinh ra tế bào lympho T và tế bào lympho B Do đó, có thể một người bị nhiễm virus gây ra COVID-19 ngay trước hoặc ngay sau khi tiêm chủng và sau đó bị bệnh vì vaccine không có đủ thời gian để bảo vệ

Đôi khi, sau khi tiêm phòng, quá trình xây dựng khả năng miễn dịch có thể gây ra các triệu chứng, chẳng hạn như sốt Những triệu chứng này là bình thường và là dấu hiệu cho thấy cơ thể đang xây dựng khả năng miễn dịch

Trang 24

Hình 1.1 Vaccine Covid-19 giúp các tế bào miễn dịch của cơ thể tiếp xúc với các kháng nguyên của SARS-CoV-2 để hình thành miễn dịch với virus

1.1.3.2 Các loại vaccine COVID-19 hiện nay

Vaccine mRNA chứa vật chất từ SARS-CoV-2 cung cấp cho các tế bào của chúng ta hướng dẫn cách tạo ra một loại protein vô hại đặc trưng cho virus Sau khi tế bào của chúng ta tạo ra protein này, các tế bào miễn dịch nhận ra rằng protein này là protein lạ và tạo ra các tế bào lympho T và tế bào lympho

B có thể chống lại virus SARS-CoV-2 nếu chúng ta bị nhiễm trong tương lai Đại diện của vaccine mRNA là vaccine của Pfizer-BioNTech và vaccine Moderna

Vaccine tiểu đơn vị protein bao gồm các mảnh (protein) vô hại của virus gây ra SARS-CoV-2 thay vì toàn bộ virus Sau khi được chủng ngừa, cơ thể chúng ta nhận ra protein lạ và tạo ra miễn dịch chống lại virus Ví dụ của vaccine tiểu đơn vị protein là Nanocovac

Vaccine vector virus chứa một phiên bản sửa đổi của virus khác với virus gây ra COVID-19, ví dụ adenovirus Bên trong lớp vỏ của virus đã biến đổi có chứa vật chất di truyền từ virus SARS-CoV-2 Khi vectơ virus ở bên trong tế

Trang 25

bào của chúng ta, vật liệu di truyền sẽ cung cấp cho các tế bào hướng dẫn để tạo ra một loại protein đặc trưng cho virus SARS-CoV-2 Sử dụng các hướng dẫn này, các tế bào của chúng ta tạo ra protein Điều này thúc đẩy cơ thể chúng

ta tạo ra tế bào lympho T và tế bào lympho B chống lại virus đó nếu chúng ta

bị nhiễm trong tương lai Ví dụ của vaccine vectơ là các vaccine của Astrazeneca, Johnson & Johnson’s Janssen và Skopnik Một điều lưu ý là các vaccine vector virus đã được biến đổi để không gây bệnh Chúng chỉ đóng vai trò như một công cụ đưa thông tin về protein của loại virus mà chúng ta đang muốn tạo ra vaccine

Vaccine DNA đang được phát triển, nhưng chưa đến giai đoạn sử dụng rộng rãi Cơ chế của chúng tương tự như vaccine mRNA, tuy nhiên thay vì sử dụng thông tin di truyền dưới dạng mRNA (bước trung gian tạo protein từ DNA) thì người ta sử dụng phần tử DNA để khiến cho các tế bào của chúng ta tạo ra protein đặc trưng của virus SARS-CoV-2 và kích hoạt hệ miễn dịch Vaccine virus bất hoạt (ví dụ như Sinofarm, Sinovac) hoặc virus sống giảm động lực Một trong những điểm yếu của các loại virus này là khả năng nó chống lại các biến thể của virus hạn chế

1.1.3.3 Các loại vaccine phòng COVID-19 đã được cấp phép tại Việt Nam

Đến thời điểm hiện nay, có 6 loại vaccine phòng COVID-19 đã được Bộ

Y tế cấp phép sử dụng tại Việt Nam

Vaccine COVID-19 Vaccine AstraZeneca

Vaccine COVID-19 do Tập đoàn AstraZeneca sản xuất đã được cấp phép

sử dụng khẩn cấp tại 181 quốc gia, vùng lãnh thổ và được Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đưa vào danh sách sử dụng khẩn cấp Đến nay, vaccine này đã được sử dụng tại 119 quốc gia, vùng lãnh thổ với tổng số vaccine đã sử dụng khoảng

980 triệu liều

Trang 26

Tại Việt Nam, vaccine AstraZeneca đã được Bộ Y tế phê duyệt có điều kiện cho nhu cầu cấp bách trong phòng, chống dịch COVID-19 Việt Nam đã tiếp nhận tổng cộng 8.716.290 liều sau tổng 15 đợt giao Vaccine AstraZeneca được triển khai tiêm chủng tại Việt Nam từ tháng 3/2021, hiện đang có số lượng

sử dụng nhiều nhất tại Việt Nam

Vaccine Gam-COVID-Vac (SPUTNIK V)

Vaccine Gam-COVID-Vac do Viện Nghiên cứu Gamaleya, Nga sản xuất

đã được cấp phép sử dụng tại 70 quốc gia, vùng lãnh thổ Đến nay, vaccine này

đã được sử dụng tại 49 quốc gia với tổng số vaccine đã sử dụng khoảng 85 triệu liều

Tại Việt Nam, vaccine Sputnik V đã được Bộ Y tế phê duyệt có điều kiện vaccine cho nhu cầu cấp bách trong phòng, chống dịch COVID-19 Giữa tháng 3/2021, Việt Nam tiếp nhận 2.000 liều vaccine Sputnik V do Chính phủ Liên bang Nga viện trợ và sử dụng cho gần 900 người Ngày 1/8, Việt Nam nhận thêm 10 nghìn liều vaccine Sputnik V do Chính phủ Liên bang Nga tặng

Vaccine Vero Cell của Sinopharm

Vaccine Vero Cell do Sinopharm phát triển và Beijing Institute of Biological Products Co., Ltd Trung Quốc sản xuất, đã được cấp phép sử dụng tại 64 quốc gia, vùng lãnh thổ, đã được Tổ chức Y tế thế giới đưa vào danh sách

sử dụng khẩn cấp Đến nay, vaccine này đang sử dụng tại 59 quốc gia với khoảng 800 triệu liều đã được sử dụng

Tại Việt Nam, vaccine Vero Cell đã được Bộ Y tế phê duyệt có điều kiện cho nhu cầu cấp bách trong phòng, chống dịch COVID-19 Việt Nam đã tiếp nhận 500.000 liều vaccine Sinopharm do Chính phủ Trung Quốc viện trợ và đang triển khai tiêm chủng từ tháng 7/2021 Quảng Ninh là địa phương đầu tiên triển khai tiêm xong 88.100 liều mũi 1 và sẽ tiến hành tiêm mũi 2 từ ngày 4/8

Trang 27

Riêng Bình Liêu, Quảng Ninh đã đạt độ bao phủ tiêm vaccine đối với 50% dân

số toàn huyện, Thành phố Hồ Chí Minh nhận cũng là loại vaccine này

Vaccine Comirnaty của Pfizer/BioNTech

Vaccine của Pfizer/BioNTech đã được cấp phép sử dụng tại 111 quốc gia và vùng lãnh thổ và được Tổ chức Y tế thế giới đưa vào danh sách sử dụng khẩn cấp Đến nay, vaccine này đã được sử dụng tại 97 quốc gia với khoảng

850 triệu liều đã được sử dụng

Vaccine Comirnaty đã được Bộ Y tế phê duyệt có điều kiện cho nhu cầu cấp bách trong phòng, chống dịch COVID-19 Việt Nam đã tiếp nhận tổng cộng 746.460 liều vaccine Pfizer và đang triển khai tiêm chủng

Vaccine Spikevax (Covid-19 Vaccine Moderna)

Vaccine Spikevax do Moderna sản xuất đã được cấp phép sử dụng tại 64 quốc gia, vùng lãnh thổ và được Tổ chức Y tế thế giới đưa vào danh sách sử dụng khẩn cấp Đến nay, vaccine này đã được sử dụng tại 63 quốc gia với khoảng 340 triệu liều

Vaccine này đã được Bộ Y tế phê duyệt sử dụng có điều kiện cho nhu cầu cấp bách trong phòng, chống dịch COVID-19 Tính đến nay, Việt Nam đã tiếp nhận tổng cộng 5.000.100 liều vaccine Moderna do Chính phủ Mỹ viện trợ thông qua COVAX Facility và đang triển khai tiêm chủng

COVID-19 Vaccine Janssen

Vaccine Janssen do Janssen Pharmaceutica NV (Bỉ) và Janssen Biologics B.V (Hà Lan) sản xuất được cấp phép sử dụng tại 56 quốc gia, vùng lãnh thổ

và được Tổ chức Y tế thế giới đưa vào danh sách sử dụng khẩn cấp Đến nay, vaccine này đã được sử dụng tại 34 quốc gia với khoảng 60 triệu liều đã sử dụng

Trang 28

Vaccine do Janssen sản xuất đã được Bộ Y tế phê duyệt sử dụng có điều kiện cho nhu cầu cấp bách trong phòng, chống dịch COVID-19 Hiện nay, Việt Nam chưa tiếp nhận vaccine này

Tất cả các vaccine được cấp phép và đưa về Việt Nam sử dụng đều đảm bảo an toàn và hiệu quả

1.1.3.4 Tình hình tiêm chủng vaccine COVID-19

Trên thế giới, tính đến ngày 24/9/2022, có tổng số 12.701.981.304 liều vaccine COVID-19 đã được cung cấp, đồng thời ghi nhận 4.942.010.791 dân

số thế giới (chiếm 63,6%) đã tiêm đủ liều vaccine phòng COVID-19

Tại Việt Nam, kể từ mũi vaccine phòng COVID-19 đầu tiên được tiêm cho cán bộ tuyến đầu chống dịch tại Hải Dương sáng ngày 8/3/2021, đến hôm nay, Việt Nam đã tiêm gần 198,3 triệu liều vaccine và trở thành một trong những nước có tỉ lệ bao phủ vaccine cao nhất trên thế giới Điều đáng nói, tại thời điểm

đó, nguồn cung vaccine phòng COVID-19 trên toàn cầu còn rất hạn chế Để có thể có vaccine sớm nhất, tiêm diện rộng cho người dân, dưới sự chỉ đạo của Đảng, Chính phủ, Bộ Y tế đã rất tích cực thúc đẩy đàm phán, trao đổi để có thể nhập khẩu vaccine từ các nguồn khác nhau, cùng việc khẩn trương đẩy mạnh nghiên cứu, thử nghiệm và sản xuất vaccine trong nước Tính đến ngày 24/9/2022, Việt Nam đã được cung cấp hơn 258,2 triệu liều vaccine COVID-19,

đã tiêm chủng đủ liều cho hơn 63,8 triệu dân (chiếm 87,2%) dân số

1.1.4 Kiến thức, thái độ và thực hành tiêm chủng vaccine COVID-19

Đại dịch do Coronavirus 2019 (COVID-19) đã ảnh hưởng đến hơn 200 quốc gia, gây ra thiệt hại về sinh mạng và sinh kế Sự phát triển nhanh chóng của vaccine COVID-19 là một bước phát triển quan trọng và dữ liệu ban đầu cho thấy rằng vaccine này vừa an toàn vừa hiệu quả Tuy nhiên, việc chấp nhận vaccine COVID-19 còn phụ thuộc vào các đặc điểm nhân khẩu học xã hội khác

Trang 29

nhau Mục đích của nghiên cứu này là tìm hiểu kiến thức và thái độ đối với

vaccine COVID-19 ở Ấn Độ [16]

Về mặt tâm lý, việc chấp nhận vaccine mới vẫn chưa được chắc chắn bởi

cả nhân viên y tế và người dân nói chung Ngay từ đầu đại dịch COVID-19, nhân viên y tế đang hoạt động ở tuyến đầu, bất chấp nguy cơ nhiễm bệnh và tử vong cao hơn Họ làm công việc chuyên môn của mình với nỗi sợ bị lây nhiễm không chỉ với họ mà còn với bệnh nhân và người nhà của họ Các nhân viên y

tế nhạy bén hơn trong việc tiêu thụ thông tin Đặc biệt, những người làm việc

ở tuyến đầu cho rằng họ đã phát triển các kháng thể bảo vệ do bị nhiễm vi rút nhiều lần Nhiều quốc gia trên thế giới đã ưu tiên sử dụng vaccine cho nhân viên y tế trong đó có Việt Nam [39]

Ngày 11/08/2020 vaccine COVID-19 đầu tiên trên thế giới là SPUTNIK

V do Nga sản xuất được công bố Sau đó nhiều vaccine phòng COVID-19 của các quốc gia khác cũng đã công bố như AstraZeneca (Anh), Pfizer, BioNTech (Đức, Mỹ), Moderna (Mỹ), Sinopharm (Trung Quốc),…đã mang lại một tín hiệu tích cực khi sự khủng hoảng của đại dịch đang tiếp diễn

Theo nghiên cứu của Morshed Nasir và cộng sự (2021): Đa số các nhân viên y tế có kiến thức tốt và thái độ tích cực trong việc tiêm chủng vaccine với 95,99% các nhân viên y tế cho thấy thái độ tích cực về tiêm ngừa vaccine COVID-19 và 87,40% cho thấy sự tin tưởng vào hiệu quả và độ an toàn của vaccine COVID-19 [39]

Theo nghiên cứu của Shibal Bhartiya và cộng sự (2021): Gần 2/3 (64,5%) thanh niên từ 18 đến 40 tuổi không biết về sự sẵn có của vaccine COVID-19, tiếp theo là 56,4% người từ 40 đến 60 tuổi và 46,2% người trên 60 tuổi không biết về sự sẵn có của vaccine Trong số những người tham gia nghiên cứu, gần 79% sẵn sàng sử dụng vaccine COVID-19 khi vaccine này có sẵn để sử dụng

và chỉ 2% không muốn tiêm vaccine này Hơn 2/3 số người trả lời rằng họ sẵn

Trang 30

sàng chấp nhận vaccine COVID thuộc nhóm không có thu nhập Yếu tố quan trọng nhất đối với việc do dự vaccine là sự xuất hiện của các tác dụng phụ nhẹ hoặc nghiêm trọng sau khi chủng ngừa Khả năng chấp nhận vaccine có thể được tăng lên khi có thông tin bổ sung về tính an toàn và hiệu quả của vaccine trong phạm vi công cộng, tốt nhất là từ một nguồn thông tin tập trung, đáng tin cậy [16]

Đầu năm 2022, sau khi triển khai vaccine hiệu quả và các nền kinh tế thay đổi tốt hơn trong thời điểm dịch COVID-19, tình hình dịch trên thế giới

ổn định, triển vọng kinh tế toàn cầu đã được cải thiện trong đó có cả Việt Nam

1.1.5 Một số yếu tố ảnh hưởng quyết định tiêm chủng COVID-19

Đại dịch COVID-19 đã và vẫn tiếp tục ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực của cuộc sống con người từ khi nó xuất hiện vào cuối năm 2019 [20] Vào ngày 30 tháng 1 năm 2020, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) tuyên bố khẩn cấp COVID-19 là vấn đề Y tế cộng đồng cần quan tâm của Quốc tế [56] COVID-

19 đại dịch có ảnh hưởng đáng kể đến cuộc sống của tất cả công dân trên thế giới, trong đó có cả sinh viên đại học về chất lượng, học tập, tài chính và tâm

lý [34] Để ngăn chặn sự lan truyền rộng rãi của virus COVID-19 trong các Trường đại học, Việt Nam, hầu hết các Trường đã nhanh chóng chuyển từ học trực tiếp sang học trực tuyến

Bên cạnh đó, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra sinh viên và học sinh (đặc biệt sinh viên theo học khối ngành sức khỏe) là những đối tượng quan trọng đối với các cuộc chiến dịch và có thể đóng vai trò là sứ giả trong việc đưa ra các hiệu quả thông báo cho gia đình và cộng đồng tiếp nhận xin tốt hơn [7] Ngoài

ra sinh viên khối ngành sức khỏe do đặc điểm tham gia nhiều trong công tác phòng chống dịch nên nhóm đối tượng này được coi là có nguy cơ đo độ phơi nhiễm với COVID-19 [7] Tại Việt Nam, vaccine COVID-19 đã được triển khai tiêm phòng theo từng giai đoạn với giai đoạn đầu tập trung vào các nhân

Trang 31

viên y tế, nhân viên trực tuyến và những người có nguy cơ cao như một phần của các biện pháp kiểm tra liên quan Tuy nhiên, thời điểm xây dựng ý tưởng nghiên cứu, việc chấp nhận các vaccine này vẫn còn hoài nghi, với sự an toàn

và hiệu quả là những mối quan tâm lớn [41], [43]

Nhiều thông tin trong và ngoài nước ghi nhận việc tiêm vaccine chống lại COVID-19 ở những người trẻ tuổi và thanh niên nguy cơ biến chứng thấp hơn [15] Những người trẻ hơn, họ tin rằng COVID-19 ít gây ra mối đe dọa nghiêm trọng hơn cho bản thân họ so với các nhóm tuổi khác [53] Tại Hoa

Kỳ, mặc dù báo cáo ghi nhận số trường hợp nhiễm COVID-19 cao nhất vào năm 2020, nhưng chỉ có một nửa số sinh viên y khoa trình bày sẵn sàng tham gia thử nghiệm và khoảng 23% do dự trong việc tiêm chủng vaccine [37] Tương tự, chỉ 35% sinh viên y khoa ở Ai Cập [44], 45% sinh viên điều dưỡng

ở Châu Âu [29] và 52,8% sinh viên đại học ở New Jersey, Hoa Kỳ, cho biết

sẽ đồng ý tiêm chủng vaccine COVID-19 [5] Và mặc dù, đa số (86,1%) sinh viên đại học ở Ý sẵn sàng tiêm vaccine COVID-19 [31] nhưng nhiều nghiên cứu báo cáo rằng sự thiếu tin tưởng vào bộ y tế và hoặc cơ sở vật chất y tế là một trong những ngăn cản phổ biến đối với quyết định tiêm chủng hay không [10], [11], [47]

Bên cạnh các yếu tố trên, các yếu tố khác cũng được báo cáo, trong đó tính chủ động và mức độ hiểu biết của mọi người về vaccine ngừa COVID-

19 đã được đề cập [10], [11], [47] Việc chủ động tìm hiểu là một trong những yếu tố quan trọng thể hiện việc người dân có thật sự quan tâm đến sức khỏe của chính bản thân mình và trách nhiệm đối với xã hội hay không Hiện nay, vấn đề tìm hiểu về vaccine được tiêm chủng để ngăn chặn dịch bệnh trở thành một vấn đề rất quan trọng, chỉ khi nào mọi người có sự quan tâm đúng mức

và có những hiểu biết đầy đủ về vaccine mới tạo ra được tâm lý sẵn sàng cho việc tiêm chủng

Trang 32

Ngoài ra, yếu tố về tính chính xác của các nguồn thông tin về vaccine phòng COVID-19 cũng được xác định Các thông tin mà người trả lời tiếp cận được từ những nguồn thông tin trên các chương trình truyền hình, báo chí truyền thống, các trang mạng xã hội và từ những người xung quanh [34]

Yếu tố kế tiếp là chất lượng của vaccine ngừa COVID-19 Những tác dụng phụ và chất lượng của vaccine là một dấu hỏi lớn đối với mọi người hiện nay Việc tâm lý của mọi người có sự không tin tưởng và lo lắng trước khi tiêm vaccine là một thực trạng khách quan khi theo ghi nhận thực tế trong

số người đã tiêm [34] Một số phản ứng nặng như phản ứng phản vệ sau tiêm vaccine đã xảy ra, gần đây nhất là của nữ nhân viên y tế 35 tuổi đang công tác tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Tân Châu và nam giáo viên 26 tuổi ở Đông Anh, Hà Nội tử vong ngoại viện Hai trường hợp trên vẫn khỏe mạnh và không có dấu hiệu dị ứng thuốc và đã được khám sàng lọc trước khi tiêm chủng Điều này dấy lên sự hoang mang lo ngại đối với chất lượng của vaccine ngừa COVID-19 hiện nay

Yếu tố giá thành của vaccine ngừa COVID-19 cũng được đề cập trong giai đoạn đầu chuẩn bị triển khai tiêm phòng vaccine ở nhiều nghiên cứu [10], [11], [47] Tuy nhiên ở Việt Nam, với chương trình tiêm chủng vaccine COVID-19 miễn phí toàn quốc, đây không còn là yếu tố ảnh hưởng

Với kết quả nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra sinh viên là nhóm đóng một vai trò quan trọng trong chiến dịch toàn cầu bằng cách ảnh hưởng đến quyết định của của gia đình và cộng đồng [30] Nhận thức và sự chấp nhận của các đối tượng này đối với vaccime COVID- 19, bao gồm các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tiêm chủng cần phải được điều tra và đó là một trong các nguyên nhân chúng tôi tiến hành nghiên cứu này

Trang 33

1.2 Tổng quan một số nghiên cứu liên quan

Năm 2021, Iacoella C., Ralli M., Maggiolini A., Arcangeli A., Ercoli L Việc chấp nhận vaccine COVID-19 cho những người vô gia cư ở Thành phố Rome, Ý

Năm 2021, Rzymski P., Zeyland J., Poniedziałek B., Małecka I., Wysocki J Nhận thức và thái độ đối với vaccine COVID-19: một nghiên cứu cắt ngang ở Ba Lan

Năm 2021, Kozak A., Nienhaus A COVID-19 Tiêm chủng: tình trạng

và sự sẵn sàng tiêm chủng của các nhân viên trong ngành chăm sóc sức khỏe

và phúc lợi ở Đức

Nghiên cứu của Al-Marshoudi S và cộng sự, năm 2021, đã thực hiện nghiên cứu mô tả cắt ngang đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành ở Oman đối với vaccine COVID-19 Nghiên cứu bao gồm 3000 người lớn được chọn ngẫu nhiên trả lời một bảng câu hỏi có cấu trúc qua điện thoại Fidelia Cascini,

2021, khảo sát thái độ, sự chấp nhận và sự do dự của cộng đồng chung trên toàn thế giới trong việc nhận vaccine COVID-19 và các yếu tố ảnh hưởng của vaccine

Năm 2022, Metadel Adane và cộng sự thực hiện một nghiên cứu cắt ngang dựa trên tổng 404 NVYT ở Thành phố Dessie, đông bắc Ethiopia vào tháng 5 năm 2021 Kết quả ghi nhận tỷ lệ NVYT có kiến thức, nhận thức tốt,

Trang 34

thái độ tích cực về tiêm chủng COVID-19 lần lượt là 62,5%, 60,5% và 52,3%; 64,0% NVYT muốn được tiêm vaccine trong khi 36,0% cho rằng họ sẽ từ chối Gần một nửa (46,9%) NVYT cho rằng vaccine có thể làm trầm trọng thêm bất

kỳ tình trạng y tế nào đã có từ trước và 39,5% trong số họ cho rằng vaccine có thể gây nhiễm COVID-19

Năm 2022, Minh Cuong Duong và cộng sự nghiên cứu kiểm tra mức độ hiểu biết về vaccine COVID-19 của người dân Việt Nam Kết quả ghi nhận trong số 1708 người được khảo sát, 942 (55,2%) là nữ và 797 (46,7%) có mức kiến thức chấp nhận được Tuổi và được tiêm vaccine COVID-19 có không có liên quan với trình độ kiến thức thấp hơn Các chuyên gia kỹ thuật và giảng viên không có sức khỏe có liên quan với trình độ kiến thức thấp hơn

- Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến việc tiêm vaccine phòng COVID-19

Năm 2022, Almutairi và cộng sự thực hiện một nghiên cứu cắt ngang trên 526 người ở miền Trung, Ả Rập Xê Út Kết quả ghi nhận các lý do chính

để không được tiêm chủng là do thiếu kiến thức về các tác dụng phụ (62,7%),

lo ngại về các tác dụng phụ có thể xảy ra (59,3%) và thiếu niềm tin vào việc tiêm chủng (38,1%) [13]

Năm 2022, Hossian và cộng sự đã nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tiêm chủng COVID-19 của sinh viên Đại học Pakistan Phần lớn (72,5%) sẵn sàng dùng vaccine COVID-19 Trình độ học vấn hiện tại có mối quan hệ có ý nghĩa thống kê với ý định tiêm chủng (p < 0,05) Nhiều yếu tố như niềm tin rằng việc tiêm chủng phải là bắt buộc đối với tất cả mọi người (AOR: 3,99, KTC 95%: 3,20–4,98) và sẵn sàng tiêm vaccine chủng ngừa ngay

cả khi nó không miễn phí (AOR: 3,91, KTC 95%: 3,18–4,81) là được quan sát thấy có liên quan đến tỷ lệ cao thể hiện sự sẵn sàng tiêm vaccine chống lại COVID-19 [25]

Trang 35

Năm 2022, Elsayed và cộng sự thực hiện nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc ra quyết định về việc chấp nhận tiêm vaccine COVID-19 ở Ai Cập Tổng số 1009 đối tượng tham gia, và tuổi trung bình (± SD) là 29,11 ± 8,2 tuổi Trong số đó, 68,8% tin rằng tiêm chủng là phương pháp hiệu quả để kiểm soát sự lây lan của dịch bệnh, 81,2% cho biết chấp nhận vaccine và 87,09% cho rằng khuyến nghị của bác sĩ là cần thiết cho việc ra quyết định Sau khi điều chỉnh các đặc điểm kinh tế xã hội, cư trú ở nông thôn (AOR 1.783, KTC 95%: 1.256–2.531), làm công việc bán thời gian (AOR 2.535, KTC 95%: 1 202–5.343) hoặc một công việc toàn thời gian (AOR 1.951, 95% CI: 1.056–3.604), đang là sinh viên (AOR 3.516, 95% CI: 1.805–6.852) và có bạn đời (AOR 1.457, 95% CI: 1,062–2,00) là những yếu tố dự báo quan trọng để những người tham gia nghiên cứu chấp nhận vaccine cao hơn Việc tin tưởng vào hiệu quả của vaccine cho thấy mối tương quan mạnh nhất với việc chấp nhận vaccine (Spearman's r = 0,309, p <0,001) [22]

1.2.2 Trong nước

Ở Việt Nam, việc nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành trong phòng chống dịch bệnh COVID-19 đã được khá nhiều nhà nghiên cứu thực hiện với những quy mô nghiên cứu khác nhau, như:

Năm 2020, Hà Văn Như thực hiện nghiên cứu khảo sát kiến thức, thái

độ và thực hành trong việc kiểm soát COVID-19 và một số yếu tố liên quan trong dân số Việt Nam vào năm 2020 Một nghiên cứu cắt ngang được thực hiện với 1999 người tham gia trong độ tuổi 18-59, thông qua một mạng trực tuyến bảng câu hỏi

Năm 2020, Giao Huynh thực hiện nghiên cứu nhằm đánh giá kiến thức

và thái độ đối với bệnh do coronavirus-2019 (COVID-19) của nhân viên y tế tại Bệnh viện Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) Một nghiên cứu cắt ngang được thực hiện từ tháng 1 năm 2020 đến tháng 2 năm 2020 tại Bệnh viện

Trang 36

Quận 2 Một chiến lược lấy mẫu ngẫu nhiên có hệ thống đã được thực hiện và

dữ liệu được thu thập thông qua bảng câu hỏi tự quản lý về kiến thức và thái độ của nhân viên y tế về COVID-19

Năm 2020, Kiều Thị Hoa thực hiện nghiên cứu ‘Khảo sát kiến thức, thái

độ của viên chức và người lao động Đại học Y dược Hà Nội về COVID-19 năm 2020’: Nghiên cứu được thực hiện tại trường Đại học Y Hà Nội trên 354 viên chức và người lao động hệ bác sĩ đang học tập tại trường nhằm mô tả kiến thức, thái độ của viên chức và người lao động đối với đại dịch COVID-19 Nghiên cứu sử dụng phương pháp thu thập số liệu thông qua Google Form và thời gian thu thập số liệu trong 1 tháng

Năm 2020, nhóm nghiên cứu của Trần Xuân Bách đã khảo sát tác động của COVID-19 đối với kinh tế và chất lượng cuộc sống của người Việt Nam trong thời kỳ giãn cách xã hội trên 341 người dân Việt Nam Kết quả ghi nhận,

có 66,9% đối tượng thu nhập kinh tế bị giảm Về khía cạnh chất lượng cuộc sống cũng giảm, 38,7% thuộc nhóm lo lắng/trầm cảm,…

Và còn nhiều nghiên cứu về covid-19 cũng đã được công bố, nhưng chưa

có nghiên cứu nào thực hiện khảo sát kiến thức, thái độ, thực hành và các yếu

tố ảnh hưởng đến việc tiêm chủng vaccine COVID-19 trên nhóm đối tượng là sinh viên Trường Đại học Y Dược Cần Thơ

Trang 37

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Sinh viên hệ chính quy thuộc tất cả các ngành học tại Trường Đại học Y Dược Cần Thơ

Tiêu chuẩn chọn mẫu: Sinh viên hệ chính quy thuộc tất cả các ngành

học tại Trường Đại học Y Dược Cần Thơ

Tiêu chuẩn loại trừ: Sinh viên không đồng ý tham gia khảo sát

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Địa điểm nghiên cứu: Trường Đại học Y Dược Cần Thơ

Thời gian nghiên cứu:

Thời gian thực hiện: từ tháng 11/2021 đến tháng 11/2022

Thời gian khảo sát thu thập số liệu: từ tháng 1/2022 đến tháng 3/2022

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang có phân tích

2.3.2 Cỡ mẫu:

Áp dụng công thức tính cỡ mẫu cho 1 tỷ lệ trong quần thể:

Trong đó: Z = 1,96 (hệ số tin cậy với mức ý nghĩa α = 0,05)

p= 0,34 là tỷ lệ số người tham gia nghiên cứu có lo lắng về việc tiêm ngừa vaccine COVID-19 theo nghiên cứu Sabria Al-Marshoudi S, 2021 [9]

d = sai số cho phép của nghiên cứu, chọn d = 0,032

Vậy n = 842 sinh viên Trong thực tế có 892 sinh viên ở cả 6 khóa từ

năm thứ nhất đến năm thứ sáu tham gia khảo sát

Trang 38

2.3.3 Phương pháp chọn mẫu

Mẫu nghiên cứu được chọn bằng phương pháp chọn mẫu thuận tiện bằng cách gửi bảng câu hỏi về tất cả các ngành từ năm thứ nhất đến năm thứ sáu, cho đến khi đủ số lượng nghiên cứu

2.3.4 Nội dung nghiên cứu

2.3.4.1 Một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

Giới tính: là biến số nhị giá có 2 giá trị là nam hoặc nữ

Khóa học: là biến số định tính, có 6 giá trị quan sát tương ứng với 6 năm học từ năm thứ nhất tới năm thứ sáu

Tình trạng hôn nhân: là biến số nhị giá, có 2 giá trị quan sát tương ứng với 2 tình trạng hôn nhân là độc thân và có gia đình

Ngành học: là biến số định tính, có 10 giá trị quan sát tương ứng với 10 ngành học tại Trường Đại học Y Dược Cần Thơ

Số lần đã tiêm vaccine: là biến số định tính được xác định bởi số lần tiêm vaccine COVID-19 mà đối tượng nghiên cứu đã được tiêm, có 4 giá trị quan sát tương ứng: 1 lần, 2 lần, 3 lần và 4 lần

Loại vaccine: là biến số định tính được xác định bởi loại vaccine

COVID-19 mà đối tượng nghiên cứu đã tiêm, có 4 giá trị quan sát tương ứng: Astrazeneca, Pfizer, Moderna và vaccine khác

Tình trạng nhiễm COVID-19: là biến số định tính được xác định bằng tình trạng đối tượng nghiên cứu đã hoặc đang nhiễm COVID-19 hay không, có

3 giá trị quan sát tương ứng: đã nhiễm và điều trị khỏi; đã nhiễm và đang điều trị và chưa từng nhiễm

2.3.4.2 Kiến thức, thái độ, thực hành tiêm chủng vaccine COVID-19

Kiến thức tiêm chủng vaccine COVID-19

Câu hỏi kiến thức về vaccine COVID-19 có tổng 6 câu hỏi về, trong đó

có 1 câu hỏi về thông tin vaccine COVID-19 và 5 câu hỏi về kiến thức tiêm

Trang 39

chủng COVID-19 (Bảng 2.1) Mỗi câu trả lời đúng là được tính là 1 và câu trả lời sai được tính là 0 Không trả lời hoặc không biết được coi là trung lập và cũng được tính là 0 Đối với câu hỏi nhiều đáp án chỉ được tính ĐÚNG khi chọn chính xác và đầy đủ tất cả đáp án đúng

Bảng 2.1 Bảng câu hỏi đánh giá về kiến thức tiêm chủng vaccine COVID-19

Câu hỏi thông tin về vaccine COVID-19

1 Có biết thông tin về vaccine COVID-19

Sabria Al-Marshoudi và cộng sự, (2021) [9]

Sovan Samanta và cộng

sự, 2020 [45]

Câu hỏi kiến thức tiêm chủng COVID-19

đã tiêm ngừa COVID-19 không?

Sabria Al-Marshoudi và cộng sự, (2021) [9]

sử nhiễm COVID-19 không?

bị COVID-19 không?

có thể gây ra

Nguồn gốc có được thông tin vaccine COVID-19

7 Nguồn gốc thông tin vaccine COVID-19 Shawahna R và cộng sự,

(2021) [46]

Theo phân loại kiến thức của Bloom, người có điểm kiến thức ≥ 80% tổng số điểm tương ứng ≥ 5 điểm được đánh giá kiến thức “đúng”, và ngược

Trang 40

lại người có số điểm kiến thức <80% tổng số điểm tương ứng < 5 điểm được đánh giá kiến thức “chưa đúng” [8]

Bên cạnh đó phần này còn có 1 câu hỏi thứ 7 để tìm nguồn gốc có được thông tin vaccine COVID-19 của sinh viên Trường

Thái độ tiêm chủng vaccine COVID-19

Câu hỏi về thái độ về tiêm chủng vaccine COVID-19 gồm 4 câu hỏi (Bảng 2.2) Ngoại trừ câu hỏi “Nguyên nhân lo lắng” được chọn nhiều đáp án,

3 câu còn lại mỗi câu chỉ 1 đáp án (Phụ lục 1)

Bảng 2.2 Bảng câu hỏi đánh giá thái độ về tiêm chủng vaccine COVID-19

sự (2021) [16]

Fidelia Cascini và cộng sự (2021) [18]

Sovan Samanta và cộng

sự, 2020 [45]

vệ chúng ta

Thực hành tiêm chủng vaccine COVID-19

Câu hỏi thực hành liên quan đến thực hành tiêm chủng vaccine phòng COVID-19, bao gồm bốn câu hỏi (Bảng 2.3) Phản hồi các tùy chọn có hoặc không (Phụ lục 1)

Bảng 2.3 Bảng câu hỏi đánh giá về thực hành tiêm chủng vaccine COVID-19

1 Sẵn sàng tiêm vaccine COVID-19 lần đầu

Al-Marshoudi S

và cộng sự, (2021) [10]

2 Sẵn sàng tiêm vaccine COVID-19 lần thứ 2

3 Sẵn sàng tiêm vaccine COVID-19 sau lần thứ 2

4 Sẽ báo cáo tác dụng phụ cho nhân viên y tế khi

gặp tác dụng phụ của vaccine

Ngày đăng: 27/03/2023, 16:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10. AL-Mohaithef M, Padhi BK, Ennaceur S (2021), Socio-demographics correlate of COVID-19 vaccine hesitancy during the second wave of COVID-19 pandemic: a cross-sectional web-based survey in Saudi Arabia, Front Public Health, 9:698106 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Socio-demographics correlate of COVID-19 vaccine hesitancy during the second wave of COVID-19 pandemic: a cross-sectional web-based survey in Saudi Arabia
Tác giả: AL-Mohaithef M, Padhi BK, Ennaceur S
Nhà XB: Frontiers in Public Health
Năm: 2021
11. Al-Mohaithef M, Padhi BK (2020), Determinants of COVID-19 vaccine acceptance in Saudi Arabia: a web-based national survey, J Multidiscip Healthc, 13, pp. 1657–63 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Determinants of COVID-19 vaccine acceptance in Saudi Arabia: a web-based national survey
Tác giả: Al-Mohaithef M, Padhi BK
Nhà XB: Journal of Multidisciplinary Healthcare
Năm: 2020
12. Alves M. D. F. C., Mendonỗa M. D. L. L., Soares J. D. J. X., et al (2021), Knowledge, attitudes and practices towards COVID-19: A cross-sectional study in the resident cape-verdean population, Social Sciences &amp; Humanities Open, 4(1): 100184 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Knowledge, attitudes and practices towards COVID-19: A cross-sectional study in the resident cape-verdean population
Tác giả: Alves M. D. F. C., Mendonỗa M. D. L. L., Soares J. D. J. X
Nhà XB: Social Sciences & Humanities Open
Năm: 2021
13. Almutairi A F, Alessa Y, Alhizam S, et al (2022), Factors Affecting the Decision Regarding COVID-19 Vaccination in the Saudi Public in the Central Region, Cureus, 14(9): e28874 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Factors Affecting the Decision Regarding COVID-19 Vaccination in the Saudi Public in the Central Region
Tác giả: Almutairi A F, Alessa Y, Alhizam S
Nhà XB: Cureus
Năm: 2022
14. Angelo A.T., Alemayehu D.S., Dacho A.M. (2021), Knowledge, Attitudes, and Practices Toward Covid-19 and Associated Factors Among University Students in Mizan Tepi University, 2020, Infect Drug Resist,14, pp. 349-360 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Knowledge, Attitudes, and Practices Toward Covid-19 and Associated Factors Among University Students in Mizan Tepi University, 2020
Tác giả: Angelo A.T., Alemayehu D.S., Dacho A.M
Nhà XB: Infect Drug Resist
Năm: 2021
15. Barnard M, George P, Perryman ML, Wolff LA (2017), Human papillomavirus (HPV) vaccine knowledge, attitudes, and uptake in college students: Implications from the Precaution Adoption Process Model, PLoS ONE, 12(8):e0182266 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Human papillomavirus (HPV) vaccine knowledge, attitudes, and uptake in college students: Implications from the Precaution Adoption Process Model
Tác giả: Barnard M, George P, Perryman ML, Wolff LA
Nhà XB: PLOS ONE
Năm: 2017
17. Cascella M., Rajnik, M., Aleem A., Dulebohn S. C., &amp; Di Napoli R. (2022), Features, Evaluation, and Treatment of Coronavirus (COVID-19), In StatPearls Sách, tạp chí
Tiêu đề: Features, Evaluation, and Treatment of Coronavirus (COVID-19)
Tác giả: Cascella M, Rajnik M, Aleem A, Dulebohn S. C., Di Napoli R
Nhà XB: StatPearls
Năm: 2022
18. Cascini F, Pantovic A, Al-Ajlouni Y, Failla G, Ricciardi W (2021), Attitudes, acceptance and hesitancy among the general population worldwide to receive the COVID-19 vaccines and their contributing factors: A systematic review, Eclinical Medicine, 40:101113 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Attitudes, acceptance and hesitancy among the general population worldwide to receive the COVID-19 vaccines and their contributing factors: A systematic review
Tác giả: Cascini F, Pantovic A, Al-Ajlouni Y, Failla G, Ricciardi W
Nhà XB: EClinical Medicine
Năm: 2021
19. Cerda AA, García LY (2021), Hesitation and Refusal Factors in Individuals' Decision-Making Processes Regarding a Coronavirus Disease 2019 Vaccination, Front Public Health, 9:626852 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hesitation and Refusal Factors in Individuals' Decision-Making Processes Regarding a Coronavirus Disease 2019 Vaccination
Tác giả: Cerda AA, García LY
Nhà XB: Front Public Health
Năm: 2021
20. Crayne MP (2021), The traumatic impact of job loss and job search in the aftermath of COVID-19, Psychol Trauma, 12(S1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: The traumatic impact of job loss and job search in the aftermath of COVID-19
Tác giả: Crayne MP
Nhà XB: Psychological Trauma
Năm: 2021
22. Elsayed M, El-Abasiri RA, Dardeer KT, Kamal MA, Htay MNN, Abler B, Marzo RR. (2022), Factors Influencing Decision Making Regarding the Acceptance of the COVID-19 Vaccination in Egypt: A Cross-Sectional Study in an Urban, Well-Educated Sample, Vaccines, 10(1), pp. 20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Factors Influencing Decision Making Regarding the Acceptance of the COVID-19 Vaccination in Egypt: A Cross-Sectional Study in an Urban, Well-Educated Sample
Tác giả: Elsayed M, El-Abasiri RA, Dardeer KT, Kamal MA, Htay MNN, Abler B, Marzo RR
Nhà XB: Vaccines
Năm: 2022
23. Faisal S., Khotib J., &amp; Zairina, E. (2021), Knowledge, attitudes, and practices (KAP) towards COVID-19 among university students in Pakistan: a cross- sectional study, Journal of basic and clinical physiology and pharmacology Sách, tạp chí
Tiêu đề: Knowledge, attitudes, and practices (KAP) towards COVID-19 among university students in Pakistan: a cross-sectional study
Tác giả: Faisal S., Khotib J., Zairina E
Nhà XB: Journal of Basic and Clinical Physiology and Pharmacology
Năm: 2021
25. Hossian M, Khan MAS, Nazir A, Nabi MH, Hasan M, et al. (2022), Factors affecting intention to take COVID-19 vaccine among Pakistani University Students, Plos one, 17(2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Factors affecting intention to take COVID-19 vaccine among Pakistani University Students
Tác giả: Hossian M, Khan MAS, Nazir A, Nabi MH, Hasan M
Nhà XB: PLOS ONE
Năm: 2022
26. Huang JZ, Han MF, Luo TD, Ren AK, Zhou XP (2020), Mental health survey of medical staff in a tertiary infectious disease hospital for COVID- 19, National Library of Medicine, 38(3), pp. 192-195 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mental health survey of medical staff in a tertiary infectious disease hospital for COVID- 19
Tác giả: Huang JZ, Han MF, Luo TD, Ren AK, Zhou XP
Nhà XB: National Library of Medicine
Năm: 2020
27. Huynh G., Nguyen T. N. H., Vo K. N., &amp; Pham L. A. (2020). Knowledge and attitude toward COVID-19 among healthcare workers at District 2 Hospital, Ho Chi Minh City, Asian Pacific Journal of Tropical Medicine, 13(6), pp. 260 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Knowledge and attitude toward COVID-19 among healthcare workers at District 2 Hospital, Ho Chi Minh City
Tác giả: Huynh G., Nguyen T. N. H., Vo K. N., Pham L. A
Nhà XB: Asian Pacific Journal of Tropical Medicine
Năm: 2020
28. Iacoella C., Ralli M., Maggiolini A., Arcangeli A., Ercoli L (2021), Acceptance of COVID-19 vaccine among persons experiencing homelessness in the City of Rome, Italy, Eur Rev Med Pharmacol Sci, 25(7), pp. 3132–3135 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Acceptance of COVID-19 vaccine among persons experiencing homelessness in the City of Rome, Italy
Tác giả: Iacoella C., Ralli M., Maggiolini A., Arcangeli A., Ercoli L
Nhà XB: Eur Rev Med Pharmacol Sci
Năm: 2021
29. Jassim G, Jameel M, Brennan E, Yusuf M, Hasan N, Alwatani Y (2021), Psychological Impact of COVID-19, Isolation, and Quarantine: A Cross- Sectional Study, Neuropsychiatr Dis Treat, 17, pp. 1413-1421 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Neuropsychiatr Dis Treat
Tác giả: Jassim G, Jameel M, Brennan E, Yusuf M, Hasan N, Alwatani Y
Năm: 2021
30. Jain L, Vij J, Satapathy P, Chakrapani V, et al (2021), Factors Influencing COVID-19 Vaccination Intentions Among College Students: A Cross- Sectional Study in India, Front Public Health, 15;9:735902 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Front Public Health
Tác giả: Jain L, Vij J, Satapathy P, Chakrapani V, et al
Năm: 2021
32. Kaplan R. M., &amp; Milstein A. (2021), Influence of a COVID-19 vaccine's effectiveness and safety profile on vaccination acceptance. Proceedings of the National Academy of Sciences of the United States of America, 118 (10):e2021726118 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Influence of a COVID-19 vaccine's effectiveness and safety profile on vaccination acceptance
Tác giả: Kaplan RM, Milstein A
Nhà XB: Proceedings of the National Academy of Sciences of the United States of America
Năm: 2021
33. Kaya, M. O., Yakar, B., Pamukỗu, E., ệnalan, E., Akkoỗ, R. F., Pirinỗci, E., Gürsu, M. F. (2021), Acceptability of a COVID-19 vaccine and role of knowledge, attitudes and beliefs on vaccination willingness among medical students. European Research Journal, 7(4):417-424 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Acceptability of a COVID-19 vaccine and role of knowledge, attitudes and beliefs on vaccination willingness among medical students
Tác giả: Kaya, M. O., Yakar, B., Pamukỗu, E., ệnalan, E., Akkoỗ, R. F., Pirinỗci, E., Gürsu, M. F
Nhà XB: European Research Journal
Năm: 2021

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w