Quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các học viện, trường đại học Công an nhân dân ở khu vực phía Bắc.Quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các học viện, trường đại học Công an nhân dân ở khu vực phía Bắc.Quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các học viện, trường đại học Công an nhân dân ở khu vực phía Bắc.Quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các học viện, trường đại học Công an nhân dân ở khu vực phía Bắc.Quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các học viện, trường đại học Công an nhân dân ở khu vực phía Bắc.Quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các học viện, trường đại học Công an nhân dân ở khu vực phía Bắc.Quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các học viện, trường đại học Công an nhân dân ở khu vực phía Bắc.Quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các học viện, trường đại học Công an nhân dân ở khu vực phía Bắc.Quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các học viện, trường đại học Công an nhân dân ở khu vực phía Bắc.Quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các học viện, trường đại học Công an nhân dân ở khu vực phía Bắc.Quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các học viện, trường đại học Công an nhân dân ở khu vực phía Bắc.Quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các học viện, trường đại học Công an nhân dân ở khu vực phía Bắc.Quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các học viện, trường đại học Công an nhân dân ở khu vực phía Bắc.
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-
NGUYỄN NGỌC HUẤN
QUẢN LÍ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO HỌC VIÊN CÁC HỌC VIỆN, TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG AN NHÂN DÂN Ở KHU VỰC PHÍA BẮC
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÍ GIÁO DỤC
Hà Nội, 2023
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-
NGUYỄN NGỌC HUẤN
QUẢN LÍ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO HỌC VIÊN CÁC HỌC VIỆN, TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG AN NHÂN DÂN Ở KHU VỰC PHÍA BẮC
Ngành: Quản lí giáo dục
Mã số: 9.14.01.14
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÍ GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS VŨ VĂN DŨNG
Hà Nội, 2023
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và chưa công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan trên
Tác giả
Nguyễn Ngọc Huấn
Trang 4Tôi xin cảm ơn chân thành các thầy cô ở các cấp hội đồng đánh giá luận án
đã chỉ bảo cho tôi những điều quý báu đề tôi hoàn thiện luận án
Tôi cũng xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến Trường Đại học Kỹ thuật – Hậu cần Công an nhân dân, đơn vị công tác của tôi cùng gia đình, bạn bè đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận án
Tôi xin cảm ơn chân thành các thầy cô ở các học viện, trường Đại học Công
an nhân dân nơi tôi tiến hành khảo sát thực tiễn đã tận tình giúp đỡ tôi trong nghiên cứu đề tài luận án
Trang 5MỤC LỤC Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án 7
6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án 7
7 Cấu trúc của luận án 8
Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO HỌC VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG AN NHÂN DÂN 9
1.1 Những nghiên cứu về đạo đức nghề nghiệp 9
1.2 Những nghiên cứu về giáo dục đạo đức nghề nghiệp 16
1.3 Những nghiên cứu về quản lí giáo dục đạo đức nghề nghiệp 21
Kết luận chương 1 25
Chương 2 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO HỌC VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG AN NHÂN DÂN 26
2.1 Lí luận về giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các trường đại học Công an nhân dân 26
2.2 Quản lí giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các trường đại học Công an nhân dân 55
Kết luận chương 2 76
Chương 3 THỰC TRẠNG QUẢN LÍ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO HỌC VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG AN NHÂN DÂN Ở KHU VỰC PHÍA BẮC 78
3.1 Mẫu khách thể khảo sát và phương pháp nghiên cứu thực trạng 78 3.2 Thực trạng giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các trường đại học
Trang 6Công an nhân dân ở khu vực phía Bắc 82
3.3 Thực trạng Quản lí giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các trường đại học Công an nhân dân ở khu vực phía Bắc 101
3.4 Thực trạng các yếu tố bối cảnh ảnh hưởng đến giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên 125
3.5 Đánh giá chung hoạt động giáo dục đạo đức nghề nghiệp và quản lí giáo dục đạo đức nghề nghiệp của học viên 127
Kết luận chương 3 130
Chương 4 CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÍ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨCNGHỀ NGHIỆP CHO HỌC VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌCCÔNG AN NHÂN DÂN Ở KHU VỰC PHÍA BẮC 131
4.1 Nguyên tắc đề xuất giải pháp 131
4.2 Các giải pháp Quản lí giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các học viện, trường đại học Công an nhân dân ở khu vực phía Bắc 134
4.3 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các giải pháp 156
4.4 Thử nghiệm một giải pháp 162
Kết luận chương 4 171
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 173
1 Kết luận 173
2 Khuyến nghị 175
2.1 Đối với Bộ Công an 175
2.2 Đối với các trường đại học Công an nhân dân 176
2.3 Đối với các học viên 177
Trang 7DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BẢNG
Sơ đồ 2.1 Mô hình CIPO trong quản lí giáo dục đạo đức nghề nghiệp 61
Bảng 3.1: Khách thể khảo sát thực trạng (Định lượng) 78Bảng 3.2: Thực trạng thực hiện mục tiêu chung giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên 83Bảng 3.3: Thực trạng thực hiện mục tiêu chung giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho
học viên (so sánh theo các trường) 84
Bảng 3.4: Thực trạng thực hiện mục tiêu giáo dục đạo đức về kiến thức nghề nghiệp cho học viên 85Bảng 3.5: Thực trạng thực hiện mục tiêu giáo dục đạo đức về thái độ nghề nghiệp cho học viên 86Bảng 3.6: Thực trạng thực hiện mục tiêu giáo dục đạo đức về hành vi nghề nghiệp cho học viên 88Bảng 3.7: Thực trạng thực hiện nội dung giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên (1) 89Bảng 3.8: Thực trạng thực hiện nội dung giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên (2) 92Bảng 3.9: Thực trạng thực hiện hình thức giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên 95Bảng 3.10: Thực trạng thực hiện phương pháp giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên 97Bảng 3.11: Tổng hợp thực trạng giáo dục đạo đức nghề nghiệp 99Bảng 3.12: Thực trạng giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên (So sánh theo
các trường đại học) 100
Bảng 3.13: Thực trạng thực hiện quản lí chương trình giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên 101Bảng 3.14: Thực trạng thực hiện quản lí giảng viên trong giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên 103Bảng 3.15: Thực trạng thực hiện quản lí học viên trong giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên 105Bảng 3.16: Thực trạng thực hiện quản lí các phương tiện vật chất và điều kiện đảm bảo cho giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên 108
Trang 8Bảng 3.17: Tổng hợp thực trạng quản lí đầu vào giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên
109
Bảng 3.18: Thực trạng thực hiện quản lí hoạt độnggiáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên 110
Bảng 3.19: Thực trạng thực hiện quản lí hoạt độnghọc tập, rèn luyện đạo đức nghề nghiệp của học viên 113
Bảng 3.20: Thực trạng thực hiện quản lí hoạt độngkiểm tra, đánh giá kết quảhọc tập, rèn luyện đạo đức nghề nghiệp của học viên 115
Bảng 3.21: Quản lí sự phối hợp giữa các phòng ban và các khoa trong nhà trường về hoạt động tổ chức học tập, rèn luyện đạo đức nghề nghiệp của học viên 117
Bảng 3.22: Tổng hợp kết quả đánh giá về quản lí quá trình giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên 118
Bảng 3.23: Thực trạng thực hiện quản lí đánh giá nhận thức về đạo đức của học viên 119
Bảng 3.24: Thực trạng thực hiện quản lí hành vi đạo đức đạo đức nghề nghiệp của học viên 121
Bảng 3.25: Thực trạng thực hiện cách thức tiến hành quản lí đầu ra về hành vi đạo đức nghề nghiệp của học viên 122
Bảng 3.26: Tổng hợp đánh giá quản lí đầu ra của giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên 123
Bảng 3.27: Tổng hợp thực trạng quản lí giáo dục đạo đức nghề nghiệp của học viên 124
Bảng 3.28: Thực trạng các yếu tố bối cảnh ảnh hưởng đến giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên 125
Bảng 3.29: Tổng hợp thực trạng quản lí giáo dục đạo đức nghề nghiệp của học viên (So sánh theo các trường) 127
Bảng 4.1 Đánh giá tính cần thiết của các giải pháp được đề xuất 157
Bảng 4.2 Đánh giá tính khả thi của các giải pháp được đề xuất 159
Bảng 4.3 So sánh giữa tính cần thiết và tính khả thi 161
Bảng 4.4: Kết quả giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên trước thử nghiệm 167
Bảng 4.5: Kết quả giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên sau thử nghiệm 169
Trang 9DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Giáo dục đạo đức trong các trường đại học có vai trò vô cùng quan trọng Bởi lẽ, giáo dục đạo đức không chỉ bồi dưỡng những kiến thức về chuẩn mực đạo đức nói chung và chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp nhằm nâng cao nhận thức về đạo đức cho sinh viên, mà còn góp phần phát huy những phẩm chất cần thiết của nhân cách con người để mỗi cá nhân trở thành một công dân tốt của xã hội
Giáo dục đạo đức nghề nghiệp trong các trường đại học thực hiện những chức năng quan trọng Đó là thông qua giáo dục đạo đức góp phần hình thành những quan điểm cơ bản nhất, những nguyên tắc, quy tắc và chuẩn mực đạo đức cho mỗi sinh viên và sinh viên lấy đó làm hệ quy chiếu để đánh giá lại nhận thức, thái độ và hình vi thực tiễn của mình trong học tập và cuộc sống Giáo dục đạo đức trong nhà trường nhằm điều chỉnh hành vi của đạo đức của sinh viên Điều này được thực hiện thông qua dư luận xã hội và qua tự điều chỉnh hành vi của sinh viên
Dư luận xã hội khuyến khích các hành vi tốt đẹp mang tính nhân văn cao Mặt khác,
dư luận xã hội phê phán, lên án nghiêm khắc những hành vi lệch chuẩn, ảnh hưởng xấu đến người khác, đến cộng đồng Thông qua giáo dục đạo đức, sinh viên tự giác điều chỉnh hành vi của mình để phù hợp với những chuẩn mực đạo đức của xã hội Giáo dục đạo đức trong các trường đại học còn giúp sinh viên nhận thức được những giá trị sống cần thiết đối với bản thân và cộng đồng, giúp sinh viên hướng tới các giá trị chân, thiện, mỹ
Giáo dục đạo đức nói chung, giáo dục đạo đức nghề nghiệp nói riêng luôn và một nhiệm vụ cần thiết, không thể thiếu Giáo dục đạo đức nghề nghiệp giúp sinh viên hiểu được vai trò, tầm quan trọng và nội dung của các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp mà sinh viên cần hiểu biết tốt cho nghề nghiệp tương lai, giúp sinh viên trở thành người thực hiện có trách nhiệm, có lương tâm nghề nghiệp trong tương lai
Đối với học viên (sinh viên) các học viện, trường đại học Công an nhân dân
(Trong khuôn khổ luận án, chúng tôi gọi tắt là các trường đại học Công an nhân dân), giáo dục đạo đức nói chung và giáo dục đạo đức nghề nghiệp nói riêng đã và
Trang 11đang là nhiệm vụ cần thiết Nó góp phần hình thành những hành vi nghề nghiệp trong tương lai được thực hiện một cách có trách nhiệm, có tinh thần tự giác, có lương tâm của người cán bộ Công an nhân dân Nó đảm bảo cho người cán bộ Công
an nhân dân trong tương lai sẵn sàng đặt lợi ích của nhân dân, đất nước lên trên lợi ích cá nhân, sẵn sàng hi sinh vì sự bình an của nhân dân Nó góp phần hoàn thiện nhân cách người chiến sỹ Công an nhân dân, hình thành nhận thức, thái độ và hành
vi đạo đức đúng mức, phù hợp của người chiến sỹ Công an nhân dân Hiện nay, một
bộ phận học viên có nhận thức chưa đúng về các chuẩn mực đạo đức Họ có những hành vi sai lệch trong học tập và sinh hoạt Một số ít học viên còn bị tác động của các thế lực thù địch Chúng tập trung lôi kéo, kích động, chia rẽ cán bộ giảng viên, học viên Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận trong lực lượng Công an nhân dân chưa được ngăn chặn, đẩy lùi Những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong một bộ phận học viên diễn biến phức tạp Môi trường văn hoá, đạo đức xã hội có mặt xuống cấp rất đáng quan tâm Mặt trái của các phương tiện truyền thông, nhất là thông tin trên Internet, cùng quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng đã và đang tác động lớn đến tư tưởng, tình cảm lớp trẻ và công tác quản lí giáo dục đạo đức cho học viên các trường Công an nhân dân Chính vì vậy, hơn lúc nào hết, việc đẩy mạnh giáo dục đạo đức, đạo đức nghề nghiệp, lí tưởng sống, lòng yêu nước cho học viên các trường đại học Công an nhân dân là rất quan trọng và cấp thiết
Nhằm giáo dục đào tạo và bồi dưỡng, bổ sung nguồn lực thực hiện nhiệm vụ đảm bảo an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và cuộc sống bình yên hạnh phúc của nhân dân, trong những năm qua, các trường đại học Công an nhân dân không ngừng đổi mới nội dung, phương thức giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên với mục đích đào tạo ra những người có đủ phẩm chất chính trị, năng lực chuyên môn để có thể đảm đương nhiệm vụ được giao, phục vụ Tổ quốc, phục vụ Nhân dân Tuy vậy, việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các trường đại học Công an nhân dân vẫn còn hạn chế nhất định, chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu xây dựng lực lượng Công an nhân dân Trong quá trình học tập tại các trường đại học Công an nhân dân, một số học viên sai phạm về đạo đức nghề nghiệp, chưa cấp
Trang 12hành đầy đủ các quy chế về học tập và rèn luyện của nhà trường
Hoạt động giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các trường đại học Công an nhân dân chỉ có thể đạt được chất lượng và hiệu quả tốt khi hoạt động này được quản lí Quản lí giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các trường đại học Công an nhân dân sẽ làm cho hoạt động giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên được thực hiện đúng mục tiêu, nội dung, hình thức và phương pháp giáo dục Đảm bảo cho hoạt động giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên thực hiện tốt đầu vào, quá trình giáo dục và đầu ra của giáo đục đạo đức cho học viên Quản lí giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các trường đại học Công an nhân dân sẽ khắc phục được những sai phạm về đạo đức nghề nghiệp mà một số học viên vi phạm đã nêu ở trên, phát huy được những ưu điểm, khắc phục được những hạn chế, yếu kém trong hoạt động giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên hiện nay
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài: "Quản lí giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các học viện, trường đại học Công an nhân dân ở khu vực phía Bắc" làm đề tài luận án Tiến sĩ Quản lí giáo dục
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Từ kết quả nghiên cứu lí luận và thực trạng quản lí giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các học viện, trường đại học Công an nhân dân ở khu vực phía Bắc, luận án đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao đạo đức nghề nghiệp cho học viên các trường đại học Công an nhân dân ở khu vực phía Bắc nhằm nâng cao
hơn nữa hiệu quả của hoạt động quản lí này
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
1) Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến quản lí giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các trường đại học Công an nhân dân
2) Xây dựng cơ sở lí luận về quản lí giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các trường đại học Công an nhân dân
3) Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng giáo dục, quản lí giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các trường đại học Công an nhân dân ở khu vực phía
Trang 13Bắc và các yếu tố ảnh hưởng đến quản lí hoạt động này
4) Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả về quản lí giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các trường đại học Công an nhân dân ở khu vực phía Bắc
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động quản lí giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các trường đại học Công an nhân dân ở khu vực phía Bắc
3.2 Phạm vi nghiên cứu
3.2.1 Phạm vi về nội dung nghiên cứu
Luận án nghiên cứu quản lí giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các trường đại học Công an nhân dân theo tiếp cận mô hình CIPO Tập trung nghiên cứu các khía cạnh sau:1) Quản lí đầu vào giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên; 2) Quản lí quá trình giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên; 3) Quản lí đầu ra giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên; 4) Tìm hiểu tác động của yếu tố môi trường đến quản lí giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các trường đại học Công an nhân dân ở khu vực phía Bắc
3.2.2 Phạm vi về khách thể nghiên cứu thực trạng
Luận án khảo sát thực trạng các khách thể sau: Lãnh đạo các trường đại học Công an nhân dân, lãnh đạo các phòng ban, các khoa; giảng viên; học viên các trường đại học Công an nhân dân Tổng số 520 người
Khái niệm các trường đại học công an nhân dân bao gồm cả các học viện và các trường đại học của ngành Công an nhân dân Điều đó có nghĩa là khi nói học viên các trường đại học Công an nhân dân là bao gồm học viên các học viện và các trường đại học của ngành Công an nhân dân
3.2.3 Phạm vi về địa bàn nghiên cứu
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát tại 5 học viện và trường đại học Công an nhân dân Đó là: 1) Học viện Cảnh sát nhân dân; 2) Học viện An ninh nhân dân; 3) Học viện Chính trị Công an nhân dân; 4) Trường Đại học Kỹ thuật - Hậu cần Công
an nhân dân; 5) Trường Đại học Phòng cháy, chữa cháy
Trang 144 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp luận nghiên cứu
4.1.1 Phương pháp tiếp cận hệ thống
Quản lí giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các trường đại học Công
an nhân dân là kết quả tổng thể của sự kết hợp nhiều yếu tố như quản lí mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục đạo đức nghề nghiệp Đó là sự kết hợp giữa yếu tố đầu vào, yếu tố quá trình và yếu tố đầu ra của giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các quản lí giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các trường đại học Công an nhân dân Đó cũng là kết quả quản lí của các chủ thể quản lí từ Bộ Công
an, Bộ GD&ĐT, lãnh đạo các trường đại học Công an nhân dân, lãnh đạo các phòng ban, các khoa trong nhà trường và đội ngũ giảng viên nhà trường
4.1.2 Phương pháp tiếp cận theo hoạt động và nhân cách
Phương pháp tiếp cận theo theo hoạt động và nhân cách cho phép nghiên cứu quản lí giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các trường đại học Công an nhân dân với tư cách là một hoạt động Ở đó, mục đích, nội dung, phương pháp, hình thức của hoạt động giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên được thể hiện rất cụ thể Mặt khác, hoạt động giáo dục đạo đức nghề nghiệp và quản lí giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các trường đại học Công an nhân dân nhằm hướng tới phát triển toàn diện nhân cách học viên để họ trở thành lực lượng quan trọng bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
4.1.3 Phương pháp tiếp cận theo mô hình CIPO
Tiếp cận theo mô hình CIPO cho phép luận án nghiên cứu theo 4 thành tố như sau: Quản lí đầu vào; Quản lí quá trình; Quản lí đầu ra; Tìm hiểu tác động của yếu tố môi trường đến quản lí giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên
4.1.4 Phương pháp tiếp cận thực tiễn
Phương pháp tiếp cận này xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn giáo dục đạo đức nghề nghiệp và quản lí giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các trường đại học Công an nhân dân hiện nay, yêu cầu đổi mới để nâng cao chất lượng đào tạo của các trường đại học Công an nhân dân hiện nay, yêu cầu của đào tạo nguồn nhân lực Công
an nhân dân chính quy hiện đại, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng và Nhân dân, bảo vệ sự
Trang 15nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 Phương pháp tiếp cận thực tiễn còn thể hiện ở chỗ kết quả nghiên cứu của luận án, nhất là các giải pháp đề xuất của luận
án phải có tính khả thi và đem lại kết quả thiết thực cho giáo dục đạo đức nghề
nghiệp cho học viên các trường đại học Công an nhân dân hiện nay
4.2 Phương pháp nghiên cứu
4.2.1 Phương pháp nghiên cứu văn bản tài liệu
a Mục đích
Nghiên cứu văn bản tại liệu nhằm xây dựng cơ sở lý luận và tìm ra cách tiếp cận nghiên cứu của luận án về quản lí giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các trường đại học Công an nhân dân
b Nội dung
Luận án đã nghiên cứu các văn bản của Bộ Công an, Bộ Giáo dục và Đào tạo
về quản lí giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các trường đại học Công an nhân dân
Luận án đã tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến quản lí giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các trường đại học Công an nhân dân
Từ nghiên cứu các tài liệu, luận án xác định cơ sở lí luận về quản lí giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các trường đại học Công an nhân dân
c Cách thức tiến hành
Để nghiên cứu các văn bản tài liệu, chúng tôi đã sử dụng các thao tác nghiên cứu như: Phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát Từ đó, rút ra những vấn đề mà các nghiên cứu đã thực hiện và những những vấn đề còn bỏ ngỏ để luận án tiếp tục nghiên cứu
4.2.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Sử dụng các bảng hỏi được thiết kế để khảo sát định lượng về quản lí giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các trường đại học Công an nhân dân
4.2.3 Phương pháp phỏng vấn sâu
Luận án tiến hành phỏng vấn sâu một số cán bộ quản lí, giảng viên, học viên
Trang 16các trường đại học Công an nhân dân để làm rõ hơn, sâu hơn hoạt động giáo dục đạo đức và quản lí giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các trường đại học Công an nhân dân
4.2.4 Phương pháp thống kê toán học
Luận án sử dụng các công thức toán học để thống kê; xử lí số liệu thống kê;
xử lý các số liệu khảo sát định lượng hoạt động giáo dục đạo đức nghề nghiệp và quản lí giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các trường đại học Công an nhân dân
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Về lí luận: Quản lí giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các trường
đại học Công an nhân dân là vấn đề còn ít được nghiên cứu ở Việt Nam từ góc độ của khoa học quản lí giáo dục
Đóng góp mới về lí luận thể hiện ở chỗ các nội dung giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các trường đại học Công an nhân dân được xác định trên cơ sở quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của Bộ Công an về giáo dục đạo đức cho học viên tại các trường đại học Công an nhân dân Các quan điểm giáo dục này được đặt trên cơ sở lí luận của khoa học quản lí giáo dục, trước hết là mô hình CIPO trong quản lí giáo dục
- Về thực tiễn: Luận án đã đánh giá được thực trạng hoạt động giáo dục đạo
đức nghề nghiệp cho học viên và quản lí giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên trong một môi trường giáo dục đặc thù là các trường đại học Công an nhân dân Đó là thực trạng giáo dục và quản lí đạo đức nghề nghiệp cho học viên theo quan điểm của Đảng, Nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh để lực lượng Công an nhân dân là lực lượng luôn trung thành với Đảng và Nhân dân Luận án đề xuất được một
số giải pháp quản lí giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các trường đại học Công an nhân dân Đó là những giải pháp mang tính đặc thù đối với ngành Công an Đây là những vấn đề còn chưa được nghiên cứu nhiều ở nước ta hiện nay
6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa về lí luận
Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm phong phú hơn cơ sở lí luận về
Trang 17quản lí giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các trường đại học Công an nhân dân Đó là các khái niệm cơ bản, nội dung quản lí giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các trường đại học Công an nhân dân Nghiên cứu quản lí giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các trường đại học Công an nhân dân còn khá mới mẻ ở Việt Nam hiện nay
6.2 Ý nghĩa về thực tiễn
Luận án đã đề xuất được 06 giải pháp quản lí giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các trường đại học Công an nhân dân Các giải pháp này góp phần nâng cao chất lượng quản lí giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các trường đại học Công an nhân dân hiện nay
Kết quả nghiên cứu của luận án là tài liệu tham khảo cho lãnh đạo các trường đại học Công an nhân dân, lãnh đạo các khoa và giảng viên nhà trường trong việc nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các trường đại học Công an nhân dân trong bối cảnh hiện nay
7 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận án được trình bày trong 04 chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu về quản lí hoạt động giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các trường đại học Công an nhân dân;
Chương 2: Cơ sở lí luận về quản lí giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các trường đại học Công an nhân dân;
Chương 3: Thực trạng quản lí giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các học viện, trường đại học Công an nhân dân ở khu vực phía Bắc;
Chương 4: Các giải pháp quản lí giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các trường đại học Công an nhân dân ở khu vực phía Bắc
Trang 18Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO HỌC VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG AN NHÂN DÂN
1.1 Những nghiên cứu về đạo đức nghề nghiệp
Trong cuộc đời của một con người, khoảng 1/2 thời gian là hoạt động nghề nghiệp (có người gần như suốt cuộc đời) Những thành công (và cả những thất bại) của đời người chủ yếu được bắt nguồn từ hoạt động nghề nghiệp Vinh quang và cay đắng, danh dự và tủi nhục trong cuộc đời ít nhiều đều liên quan đến vấn đề đạo đức nghề nghiệp của mỗi con người Những con người gương mẫu, say mê trong lao động nghề nghiệp, mô phạm về mặt đạo đức luôn được xã hội, cộng đồng tôn trọng và kính yêu Tựu trung lại, lương tâm, trách nhiệm, nghĩa vụ, sự yêu - ghét, tốt - xấu, tính thiện - ác của mỗi người đều được thể hiện tập trung qua hoạt động nghề nghiệp
Nói đến đạo đức nghề nghiệp là phải nói tới lương tâm nghề nghiệp Lương tâm nghề nghiệp là biểu hiện tập trung nhất của ý thức đạo đức cá nhân trong thực tiễn Nó vừa là dấu hiệu, vừa là thước đo sự trưởng thành của đời sống đạo đức cá nhân Mỗi con người với tư cách một chủ thể đạo đức đã trưởng thành bao giờ cũng biểu hiện là người sống có lương tâm, trong đó nhất là qua hoạt động nghề nghiệp của họ Lương tâm nghề nghiệp là ý thức trách nhiệm của chủ thể đối với hành vi của mình trong hoạt động nghề nghiệp, là thái độ và cách ứng xử của người làm nghề trước lợi ích của người khác, của xã hội; là sự tự phán xử về các hoạt động, các hành vi nghề nghiệp của mình Theo Đêmôcrít - nhà triết học Hy Lạp cổ đại - lương tâm chính là sự tự hổ thẹn, nghĩa là hổ thẹn với bản thân mình Sự hổ thẹn giúp cho con người tránh được ý nghĩ, việc làm sai trái Do vậy, ông cho rằng, cần phải dạy cho con người biết hổ thẹn, nhất làm hổ thẹn trước bản thân mình Nếu làm được như vậy thì sẽ giữ vững và nâng cao được đời sống đạo đức cá nhân và cộng đồng Trong hoạt động nghề nghiệp, nếu không biết tự hổ thẹn sẽ không nâng cao được tay nghề và kết quả của hoạt động nghề nghiệp không những không có tác
Trang 19dụng, ngược lại còn ảnh hưởng xấu đối với xã hội
Trong lĩnh vực triết học, một số nhà triết học như Apichor, Aristotle, Kant…
sử dụng những khái niệm cơ bản bao gồm các tiêu chí như niềm tin, sự cần cù, sự xuất sắc, lương tâm, đam mê và lợi ích chung để xây dựng một cấu trúc đạo đức tuyệt vời [77]
Tác giả J.Patric Dobel (1990), trong công trình nghiên cứu về liêm chính trong các dịch vụ công cộng đã nhấn mạnh đến tinh thần trách nhiệm cá nhân cao, tính thận trọng, chu đáo và ông coi đó là nguồn đạo đức để hành động khôn ngoan trong trong thực hiện dịch vụ công cộng [79]
Tác giả Blatz C.V (1991), khi nghiên cứu về vấn đề đạo đức, ông đã định nghĩa như sau: Đạo đức nghề nghiệp là một yêu cầu không thể thiếu của bất cứ loại hình công việc nào Mỗi loại nghề đòi hỏi người tham gia nghề đó cần phải hội đủ các thành tố: tri thức, thái độ, kĩ năng Do đó, mỗi nghề nghiệp thường có những chuẩn mực đạo đức riêng biệt [62]
Tác giả Jonh Hardwig (1991), khi nghiên cứu về vấn đề đạo đức chuyên môn
đã đưa ra những cách đánh giá cụ thể trong đạo đức chuyên môn và đưa ra những quy tắc chung trong đạo đức chuyên môn Theo ông, có các nguyên tắc của đạo đức chuyên môn, những nguyên tắc đạo đức này có vai trò định hướng hành vi cho những người làm chuyên môn
Một nghiên cứu khác về đạo đức nghề nghiệp là nghiên cứu của tác giả Joshua joseph (2000) Trong cuốn sách “Đạo đức nơi làm việc” đã chỉ ra vấn đề đạo đức ngày càng trở nên phổ biến trong các tổ chức của Mỹ Theo ông, các tổ chức cần phải xây dựng bộ tiêu chuẩn đạo đức để hướng dẫn cho nhân viên trong việc thực hiện các hành vi tại nơi làm việc và trong công việc Ông đã nêu ra một số tiêu chuẩn về đạo đức nơi công sở Đó là: trung thực, tôn trọng và tin tưởng
Tác giả Daniel E.Wueste (1998) lại tìm hiểu về vấn đề đạo đức nghề nghiệp
và trách nhiệm xã hội Theo ông khái niệm đạo đức nghề nghiệp không tương đồng với khái niệm đạo đức xã hội Phạm vi của đạo đức nghề nghiệp nhỏ hơn phạm vi của đạo đức xã hội [67]
Theo hiệp hội Kế toán Quốc tế (IFAC), đạo đức nghề nghiệp là những
Trang 20nguyên tắc, giá trị, chuẩn mực hay quy tắc hành vi có tác dụng hướng dẫn các quyết định, quy trình và hệ thống của tổ chức theo cách có thể đóng góp phúc lợi cho những người hữu quan chính và tôn trọng quyền của tất cả các thành viên hữu quan đối với hoạt động của thành viên hiệp hội
Yaghinlou và cộng sự (2003) cho rằng, cần có những quy định hành vi đạo đức là những chính sách quan trọng nhất của ngành nghề, mô tả các đặc điểm riêng của từng ngành nghề và các mối quan hệ giữa các thành viên với nhau cũng như với
xã hội trong đạo đức nghề nghiệp [91] Như vậy, những tiêu chuẩn về hành vi đạo đức là tiêu chuẩn quan trọng đối với việc duy trì và phát triển một ngành nghề nào
đó Qua hành vi đạo đức nghề nghiệp người ta hiểu về mối quan hệ đồng nghiệp trong nghề
Tác giả Mirsepasi (2005) cho rằng: Đạo đức nghề nghiệp là một trong những công cụ kiểm soát nội bộ và tự kiểm soát hiệu quả nhất [55] Như vậy, theo tác giả này, đạo đức nghề nghiệp là một tiêu chuẩn để một tổ chức kiểm soát hành vi nghề nghiệp của các thành viên, đánh giá nhân cách của các thành viên Về phía cá nhân, đạo đức nghề nghiệp là một tiêu chuẩn để cá nhân tự xem xét lại, tự đánh giá việc thực hiện các nhiệm vụ được giao của mình trong tổ chức, sự đóng góp của mình cho tổ chức và quan hệ của mình với đồng nghiệp
Lashkar Boloulki (2008) cho rằng, đạo đức nghề nghiệp là trách nhiệm đạo đức của mỗi cá nhân ở góc độ nghề nghiệp Mỗi nghề nghiệp tạo ra một trách nhiệm khác nhau [72] Với quan điểm này, đạo đức nghề nghiệp là một tiêu chuẩn, là cơ sở
để tổ chức và xã hội đánh giá tinh thần trách nhiệm của các cá nhân đối với nghề nghiệp đó
Cheraghi S (2009) nhận định các tiêu chuẩn đạo đức của những ngành nghề khác nhau là do sự nhạy cảm và nhiệm vụ của họ trong phục vụ xã hội, tiêu chuẩn đạo đức quyết định các nguyên tắc chung của đặc điểm, giá trị và năng lực [61] Tác giả Beigzad và Cộng sự (2010) cho rằng, một tổ chức tốt là tổ chức có những nguyên tắc đạo đức tốt Dựa vào nguyên tắc đạo đức và quan điểm của tổ chức nhà quản lí hoàn toàn có khả năng quyết định cái gì là đúng và cái gì là sai [64]
Theo Javaher Dashti và cộng sự (2008), giáo dục đạo đức nghề nghiệp nên
Trang 21dựa trên hai thành phần: kiến thức văn hoá xã hội và kiến thức đầy đủ về nghề nghiệp Mỗi xã hội đã được hình thành dựa trên một văn hoá đặc biệt và có một loạt các nguyên tắc đạo đức ở mọi xã hội và các nguyên tắc theo văn hoá [69]
Theo Mizgerd (2010), nguyên tắc cơ bản giáo dục đạo đức nghề nghiệp là việc dạy cho người học có khả năng làm một công việc và con người không nên cam kết làm một công việc mà họ không làm được Về cơ bản, năng lực chuyên môn là một phần của đạo đức nghề nghiệp [74]
Beigzadvà cộng sự (2010) cho rằng, một tổ chức tốt là tổ chức có những nguyên tắc đạo đức tốt Dựa vào nguyên tắc đạo đức và quan điểm của tổ chức mà nhà quản lí hoàn toàn có khả năng quyết định cái gì là đúng và cái gì là sai Như vậy, đạo đức nghề nghiệp là một cơ sở để đánh giá giá trị của một tổ chức, là một
cơ sở cho người lãnh đạo ra các quyết định trong quá trình quản lí tổ chức [64]
Năm 1986 - 1987, UNESCO đã tiến hành điều tra quốc tế về giá trị đạo đức của những người chuẩn bị bước vào thế kỉ XXI trong tình hình có nhiều biến đổi đang ảnh hưởng đến xã hội vào những năm cuối thế kỉ XX, mục đích nghiên cứu để
đề nghị đưa chương trình giáo dục giá trị đạo đức vào hệ thống giáo dục các nước
Trong Hội nghị lần thứ 32 của UNESCO (2003), các quốc gia thành viên đã bày tỏ sự cần thiết phải bắt đầu và hỗ trợ các chương trình giảng dạy về đạo đức, không chỉ trong đạo đức sinh học, mà còn trong mọi lĩnh vực giáo dục và khoa học Trên cơ sở những khuyến cáo và tuyên bố này, UNESCO đã phát động Chương trình Giáo dục Đạo đức từ năm 2004 Mục tiêu tổng thể của các hoạt động của UNESCO trong chương trình này là tăng cường và nâng cao năng lực của các quốc gia thành viên trong lĩnh vực giáo dục đạo đức Đây là một mục tiêu dài hạn Trong hai năm 2004-2005, các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục đạo đức chủ yếu tập trung vào Đông và Trung Âu Trong năm 2006-2007, ưu tiên đã được dành cho Đông Nam Âu và một phần của khu vực Ả Rập
UNESCO đã thúc đẩy việc thành lập Hiệp hội quốc tế về đạo đức trong giáo dục (IAEE) từ năm 2011 nhằm khuyến khích các nước trên thế giới đưa giáo dục đạo đức trở thành vấn đề học thuật nghiêm túc và quan trọng để đáp ứng những thách thức về tiến bộ khoa học trên toàn cầu
Trang 22Tại Nam Úc, trong cuốn “Đào tạo và đánh giá dựa trên năng lực”, các tác giả
ở Viện Đại học Doulas Mauson cho rằng: Đạo đức nghề nghiệp là một yêu cầu không thể thiếu của bất cứ loại hình công việc nào Mỗi loại nghề nghiệp cần những người lao động hội tụ đủ các thành tố là tri thức (knowledgement), thái độ (attitude)
và kỹ năng (skills) trong nghề nghiệp đó
Các tác giả Sarah Banks (2015), Đại học Durham, Anh có bài viết: “Đạo đức nghề nghiệp xã hội” Bài báo này thảo luận về đạo đức nghề nghiệp trong công tác
xã hội, tìm hiểu chủ đề then chốt (giá trị cốt lõi, nguyên tắc chuẩn mực đạo đức, lí thuyết đạo đức, các khó khăn về hành vi đạo đức, các quyết định đạo đức và điều chỉnh xử sự) trong lí thuyết thực tại và thực hành Bài báo này xem xét liệu các mô hình chi phối của thực tiễn công tác xã hội và đạo đức từ Bắc thế giới có nên được xem xét lại trong bối cảnh quốc tế [38]
Ở Nhật Bản, Kazuo Inamori, người sáng lập tập đoàn Kyocera và Giám đốc điều hành hiện tại của Japan Airlines cho rằng việc tạo dựng một doanh nghiệp phải dựa trên những tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp khắt khe nhất Nếu một người không có những tiêu chuẩn đạo đức cao, người đó không thể làm việc tốt Người đó phải nâng cao đức tính của mình để phát triển công việc kinh doanh của mình Vì thế, bí mật để thành công chính là phải nâng cao đạo đức [60]
Trên thế giới, có nhiều tổ chức, hiệp hội nghề nghiệp đã đề ra các quy định, nguyên tắc về đạo đức nghề nghiệp cho lĩnh vực ngành nghề của họ Như đối với lĩnh vực báo chí, Liên đoàn báo chí quốc tế IFJ đề ra nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp tại Đại hội các nghiệp đoàn báo chí thế giới năm 1954 và sau đó những nguyên tắc được hiệu chỉnh tại kỳ Đại hội lần thứ 18 năm 1986 Bản tuyên bố quốc
tế này được coi như là những tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp cho các nhà báo trong việc thu thập, lưu giữ, phổ biến, đánh giá tin tức và các nguồn tin trong việc miêu tả các sự kiện
Hiệp hội Tham vấn tâm lí Hoa Kỳ ACA (ACA Code of Ethics, 2005) quy định về đạo đức nghề nghiệp nhằm phục vụ cho mục đích về đạo đức nghề nghiệp
đó là làm sáng tỏ bản chất trách nhiệm đạo đức chung nhất, duy trì sứ mệnh của hiệp hội… Do đó, đạo đức nghề nghiệp cần phải được thể hiện, định hướng qua
Trang 23hiệu quả làm việc và những đóng góp của người giáo viên
Đối với nghề kế toán, Liên đoàn Kế toán Quốc tế (IFAC) đã đưa ra 5 tiêu chuẩn đạo đức chung cần phải có của tất cả các kế toán chuyên nghiệp, từ đó làm cơ
sở cho các nước trên thế giới quy định và ban hành chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp
kế toán tại quốc gia mình
Tại Úc, người ta đã đưa ra quy định về chuẩn mực đạo đức nghề nghiêp của nghề dạy học tại bang Victoria bao gồm: Sự tôn trọng người khác, lòng nhân hậu,
sự nghiêm minh và công bằng, tính lương thiện và ngay thẳng Các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp này là cơ sở để cụ thể hoá các hành vi đạo đức mà giáo viên phải tuân theo Mục đích chủ yếu làm căn cứ để giáo viên soi mình, xem xét, điều chỉnh
và hoàn thiện đạo đức nghề nghiệp trước người học, đồng nghiệp, phụ huynh và cộng đồng
Trên thế giới, số lượng nghiên cứu thực hiện về đạo đức nghề nghiệp vẫn còn hạn chế Trong quá trình tổng hợp lí thuyết, chúng tôi bước đầu tìm được một
số nghiên cứu về đạo đức nghề nghiệp và các vấn đề liên quan Các nghiên cứu cho đến nay chỉ xem xét đến một hoặc một vài yếu tổ ảnh hưởng đến đạo đức nghề nghiệp chứ chưa cung cấp cho người đọc cái nhìn khái quát về đạo đức nghề nghiệp
Không phải ngẫu nhiên Nhật Bản được xem là quốc gia công nghệ uy tín nhất và là đối tác tin cậy của nhiều nền kinh tế lớn Đó là, sự phát huy tối đa đạo đức nghề nghề nghiệp và nguyên tắc lao động kỉ luật nghiêm khắc được hình thành
từ nhiều thế kỉ qua Yếu tố để duy trì đạo đức nghề nghiệp chính là con người, chính con người tạo ra những quy tắc ứng xử văn minh để hoàn thiện nó theo chuẩn mực nhất định trong công việc đó là đạo đức nghề nghiệp Những con người gương mẫu, say mê trong lao động nghề nghiệp, mô phạm về mặt đạo đức luôn được xã hội, cộng đồng tôn trọng và kính yêu
Đối với kinh doanh: Đạo đức nghề nghiệp được xem như xương sống, nếu không có đạo đức doanh nghiệp đó sẽ lụi bại, đạo đức mang lại sự uy tín, niềm tin
và sự hợp tác lâu dài, một khi đã có đạo đức nhà kinh doanh sẽ có tâm hơn đối với sản phẩm của mình, tạo uy tín với người tiêu dùng, đây là yếu tố quan trọng để
Trang 24doanh nghiệp tồn tại và phát triển
Đối với giáo dục: Đạo đức nghề nghiệp được xem là thước đo nhân phẩm để thầy cô giáo kiến tạo những thế hệ tương lai của đất nước Với những nhà giáo ý thức đạo đức được rèn luyện nghiêm khắc hơn bất kì ngành nghề nào bởi không ai hiểu đạo đức nghề nghiệp quan trọng như thế nào đối với sự nghiệp trồng người, vun đắp và thắp sáng cái thiện tạo ra những mầm non tương lai cho xã hội
Với y học: Đạo đức nghề nghiệp được khái quát thành lương tâm, lương tâm
sẽ là động lực phát huy cái thiện, sự hi sinh để cứu người, một ngành nghề đòi hỏi
sự cẩn thận, chuyên tâm, đạo đức nghề nghiệp là nền tảng, là niềm tin để con người yêu lao động cống hiến cho hạnh phúc nhân loại
Hiệp hội Tâm lí học Hoa Kỳ (2010) đã ban hành các nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp của nhà tâm lí học Bản nguyên tắc này gồm: Phần giới thiệu và khả năng áp dụng; Các nguyên tắc chung và các tiêu chuẩn đạo đức của nhà tâm lí học Phần giới thiệu đã nêu những yêu cầu, nội hàm của quy tắc đạo đức của nhà tâm lí học Các nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp của nhà tâm lí học Hoa Kỳ bao gồm: Lợi ích; Trung thực và Trách nhiệm; Chính trực; Công bằng; Tôn trọng Nhân quyền và Nhân phẩm Về tiêu chuẩn, bản quy tắc đạo đức quy định có 10 tiêu chuẩn Đó là: Tiêu chuẩn 1: Giải quyết vấn đề đạo đức; Tiêu chuẩn 2: Cạnh tranh; Tiêu chuẩn 3: Quan hệ con người; Tiêu chuẩn 4: Bảo mật; Tiêu chuẩn 5: Quảng cáo và các báo cáo công khai khác; Tiêu chuẩn 6: Lưu giữ tài liệu và lệ phí; Tiêu chuẩn 7: Giáo dục
và đào tạo; Tiêu chuẩn 8: Nghiên cứu và công bố; Tiêu chuẩn 9: Đánh giá; Tiêu chuẩn 10: Trị liệu Trong mỗi tiêu chuẩn lại có một số tiêu chí [83]
Ngày nay, ở Việt Nam, nhiều ngành nghề đã ban hành các nguyên tắc quy định về các tiêu chuẩn, chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp như: Với nghề kế toán, Bộ Tài chính đã ban hành chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán Việt Nam số 87/2005/QĐ-BTC Đối với ngành Giáo dục, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng
đã ban hành quy định về đạo đức nhà giáo, ban hành theo QĐ số BTBBGĐT, chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học cơ sở, trung học phổ thông Đó chính là những cơ sở pháp lí quan trọng để mỗi giáo viên tiến hành công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên ngành Sư phạm Bộ Y tế ban hành các quy
Trang 2516-2008/QĐ-tắc đạo đức của ngành Y gọi tắt là Y đức
Ngành Toà án đã ban hành 10 điều quy định về “Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức ngành Toà án nhân dân” Đó là những tiêu chuẩn, thước đo về đạo đức nghề nghiệp để cán bộ, công chức ngành Toà án phấn đấu, rèn luyện
Hội Nhà báo Việt Nam thông qua 9 điều về đạo đức nghề nghiệp của nghề làm báo, đó là những nguyên tắc, chuẩn mực trong thực tiễn nghề nghiệp: trung thành với Đảng, hết lòng vì nhân dân, trung thực trong thông tin, tuân thủ pháp luật, nêu cao trách nhiệm xã hội, phẩm chất trong sáng, lối sống lành mạnh
Phân tích các công trình nghiên cứu trên cho thấy, vấn đề đạo đức nghề nghiệp được nhiều tác giả, một số tổ chức và quốc gia quan tâm Tuy vậy, đến nay vẫn chưa có những quy định về đạo đức nghề nghiệp của ngành Công an
1.2 Những nghiên cứu về giáo dục đạo đức nghề nghiệp
Nghiên cứu về đạo đức nghề nghiệp và quản lí giáo dục đạo đức nghề nghiệp, đã có một số công trình nghiên cứu của các nhà khoa học như:
Tác giả Lưu Thu Thủy (2003), nghiên cứu vấn đề giáo dục một số giá trị đạo đức truyền thống cho học sinh THPT qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp Học sinh THPT là những người sắp kết thúc chương trình phổ thông, chuẩn bị bước vào đại học, cao đẳng hay học nghề để có một nghề nghiệp tương lai Họ cần được giáo dục đạo đức để trở thành một người lao động, một công dân tương lai [52]
Tác giả Kiều Thị Kiều Thanh (2013), nghiên cứu vấn đề giáo dục giá trị đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên học nghề vùng đồng bằng sông Cửu Long Bài viết
đã phân tích một số giá trị đạo đức truyền thống cần giáo dục cho sinh viên học nghề vùng đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh hội nhập quốc tế và hòa nhập văn hóa hiện nay [50]
Vấn đề đạo đức nghề nghiệp trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế ở nước ta cũng được một số nhà nghiên cứu quan tâm, phân tích khá sâu Đó là các nghiên cứu của tác giả Phan Văn Nhân (2009) [38], tác giả Trần Hữu Quang (2004) [45] và tác giả Nguyễn Huy Phòng (2013) [ 43]
Luận án Tiến sĩ của Bùi Thị Tuyết Mai với đề tài: “Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên cao đẳng sư phạm trong bối cảnh đổi mới giáo dục” đã xác
Trang 26định được hệ thống khung lí luận về giáo dục đạo đức nghề nghiệp của sinh viên cao đẳng sư phạm trong bối cảnh đổi mới giáo dục
Khi tìm hiểu về đạo đức nghề nghiệp, tác giả Nguyễn Bá Hùng (2010) đã nghiên cứu về giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên sư phạm các trường quân
sự Theo đó, tác giả đã phân tích thực trạng giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên sư phạm các trường quân sự, chỉ ra những hạn chế của hoạt động giáo dục đạo đức này và đưa ra 4 biện pháp giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên sư phạm các trường quân sự Đó là: Cụ thể hóa chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp sư phạm trong mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo; Nâng cao chất lượng tuyển chọn trong đào tạo giáo viên; Đổi mới nội dung phương pháp dạy học nhằm giáo dục đạo đức; Tổ chức các hoạt động giáo dục; Xây dựng môi trường sư phạm… để tạo thuận lợi cho sự hình thành, phát triển đạo đức nghề nghiệp của học viên sư phạm [26]
Tác giả Nguyễn Thị Trường Giang (2010) tìm hiểu và phân tích về vấn đề đạo đức nghề nghiệp của nhà báo hiện nay trong khuôn khổ của một luận án tiến sỹ Tác giả đã đề xuất bộ quy tắc nghề nghiệp cho các nhà báo với 16 điều và 7 bước để xây dựng bộ quy tắc nghề nghiệp cho các cơ quan báo chí [18]
Tác giả Nguyễn Hoàng Hải (2012) đã nghiên cứu về vấn đề giáo dục giá trị nghề nghiệp cho sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học qua hoạt động thực hành nghiệp vụ sư phạm Tác giả đã phân tích thực trạng giáo dục giá trị nghề nghiệp cho sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học qua hoạt động thực hành nghiệp vụ sư phạm, đánh giá những mặt mạnh và mặt hạn chế của hoạt động và đề ra các giải pháp về giáo dục giá trị nghề nghiệp cho sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học qua hoạt động thực hành nghiệp vụ sư phạm [20]
Tác giả Nguyễn Anh Tuấn (2008) đã nghiên cứu về những biện pháp giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam Tác giả đã phân tích tác động của nền kinh tế thị trường đến sinh viên sư phạm và thực hiện nghề nghiệp của sinh viên Do vậy, cần thiết phải giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm để cho họ là lực lượng gương mẫu về đạo đức nghề nghiệp trong giáo dục sau này [52]
Theo các tác giả Nguyễn Thu Trang, Trần Tiến Khoa, Lê Thị Thanh Xuân
Trang 27(2014) đạo đức nghề nghiệp có thể bị tác động bởi 6 yếu tố, bao gồm: Pháp luật Nhà nước và quy định ngành nghề; Chuẩn mực nghề nghiệp; Đạo đức cá nhân; Năng lực hành nghề; Kiến thức văn hóa xã hội và Đạo đức công ty [55].Trong nghiên cứu của mình, các tác giả cho rằng sinh viên Đại học Quốc gia Thành phố
Hồ Chí Minh đánh giá năng lực hành nghề cao hơn đạo đức công ty Ngoài ra, 45,2% cho rằng nhận thức về đạo đức nghề nghiệp của họ còn bị ảnh hưởng bởi các phương tiện truyền thông như tivi, báo đài, game… Kết quả khảo sát cho thấy không có sự khác biệt trong nhận thức của sinh viên về đạo đức nghề nghiệp theo giới tính, năm học, tôn giáo và kinh nghiệm làm việc (thể hiện qua việc đi làm thêm của sinh viên)
Tác giả Nguyễn Thanh Nga (2015), trong khuôn khổ luận án tiến sĩ đã tìm hiểu vấn đề giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên báo chí theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh Tác giả tập trung phân tích nội dung, hình thức và phương pháp giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên báo chí theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh [39]
Tác giả Hứa Thị Kiều Hoa (2015) nghiên cứu vấn đề giáo dục đạo đức công
vụ cho học viên trường chính trị cấp tỉnh khu vực miền núi phía Bắc Đề tài nghiên cứu 700 người là học viên đang học và 100 giảng viên đang giảng dạy tại các trường chính trị tỉnh khu vực miền núi phía Bắc Kết quả nghiên cứu đã “Đánh giá được thực trạng giáo dục đạo đức công vụ cho học viên trong quá trình đào tạo, bồi dưỡng tại trường chính trị cấp tỉnh khu vực miền núi phía Bắc hiện nay, làm căn cứ thực tiễn cho đề xuất biện pháp giáo dục đạo đức công vụ cho học viên trường chính trị cấp tỉnh” [24] Kết quả nghiên cứu của tác giả khẳng định: “Giáo dục đạo đức công vụ là quá trình lâu dài, khó khăn, phức tạp; đòi hỏi sự kiên trì, nỗ lực, tích cực cao của các lực lượng Quá trình đó cần có sự tác động thường xuyên, liên tục tới các mặt nhận thức, tình cảm, ý chí và hành vi của HV; cần phải căn cứ vào logic của quá trình giáo dục và đặc điểm của đối tượng để có những tác động giáo dục phù hợp”[24] Trong nghiên cứu của mình, tác giả Hứa Thị Kiều Hoa đã cho rằng: “Đạo đức nghề nghiệp là một chuẩn mực rất quan trọng
để đánh giá con người Trong các cơ quan công quyền cần phải xây dựng chuẩn
Trang 28mực đạo đức nghề nghiệp nói chung và chuẩn mực đạo đức của các loại công việc
mà cán bộ công chức đảm nhận Yếu tố xác định đạo đức nghề nghiệp của cán bộ công chức là việc tuân thủ quy chế, quy trình, quy định; mức độ trung thực, khách quan, công bằng; năng lực chuyên môn, tính chuyên nghiệp và sự đam mê công việc; mối quan hệ giữa cán bộ công chức với những đồng nghiệp khi thực thi công vụ” [24]
Các tác giả Phạm Khắc Chương, Hà Nhật Thăng (1998) chỉ ra tầm quan trọng, vai trò của giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên Đó là đạo đức trong các mối quan hệ gia đình, bạn bè, trong học tập và giao tiếp của con người Tác giả Hà Nhật Thăng nhấn mạnh đến phương pháp luận của hoạt động giáo dục đạo đức, cách thức giáo dục đạo đức một cách có hiệu quả [24]
Tác giả Phạm Minh Hạc (2005) trong nghiên cứu về phát triển con người trong thời kì công nghiệp hóa và hiện đại hóa đã đề xuất 6 giải pháp giáo dục đạo đức cho người Việt Nam Tác giả cũng chỉ ra mối liên hệ giữa gia đình, nhà trường
và xã hội trong giáo dục đạo đức và mối liên hệ giữa giáo dục đạo đức với thực hiện các chuẩn mực pháp luật và xã hội [19]
Tác giả Trần Hải Minh (2018) đã thực hiện đề tài nghiên cứu về giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên báo chí ở Việt Nam hiện nay Nghiên cứu này đã tìm hiểu một số vấn đề lí luận về đạo đức nghề nghiệp Đó là khái niệm, vai trò, vị trí của đạo đức nghề nghiệp Theo tác giả, đạo đức nghề nghiệp là một hình thức riêng của đạo đức xã hội, một bộ phận của đạo đức xã hội Nó gồm các quy tắc, chuẩn mực nghề nghiệp Nó là hệ quy chiếu để các thành viên trong tổ chức đánh giá, điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với yêu cầu của nghề Đạo đức nghề nghiệp ảnh hưởng tới năng suất và chất lượng lao động của cá nhân Về khái niệm đạo đức nghề nghiêp, tác giả Trần Hải Minh xác định: “Đạo đức nghề nghiệp là tổng hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực của đạo đức xã hội, của bản thân nghề nghiệp đối với người lao động trong lĩnh vực nghề nghiệp đó nhằm định hướng và điều chỉnh hành vi ứng xử những mối quan hệ của họ trong hoạt động của mình” [33] Trong nghiên cứu này, tác giả cũng đưa ra khái niệm giáo dục đạo đức nghề nghiệp như sau: “Giáo dục đạo đức nghề nghiệp chính là quá trình chuyển đổi
Trang 29những nguyên tắc, những lí tưởng, quan điểm, chuẩn mực của đạo đức nghề nghiệp thành những phẩm chất đạo đức cá nhân, thành niềm tin và tri thức, thành nhu cầu, tình cảm của đạo đức, thành trách nhiệm và nghĩa vụ, thành năng lực sáng tạo, ý chí và động cơ cá nhân mỗi người trong một lĩnh vực nghề nghiệp nhất định” Như vậy, giáo dục đạo đức nghề nghiệp là quá trình chuyển những yêu cầu của nghề thành những vấn đề tâm lí của cá nhân và cuối cùng là thành hành vi nghề nghiệp của cá nhân
Khi bàn về giáo dục đạo đức nghề nghiệp, tác giả Nguyễn Hữu Thụ đã đưa
ra 3 biểu hiện của đạo đức: (1) Đạo đức thể hiện qua hoạt động của con người, trong
đó có các hoạt động nghề nghiệp; (2) Đạo đức được thể hiện qua các nguyên tắc ứng xử của con người; (3) Đạo đức thể hiện qua các nguyên tắc ứng xử nghề nghiệp Theo tác giả Nguyễn Hữu Thụ, các trường cần đưa giáo dục đạo đức vào nội dung môn học, vào các hoạt động thực hành và hoạt động ngoại khóa [44]
Đã có một số tác giả quan tâm đến nghiên cứu giáo dục đạo đức công vụ - một hình thức đặc thù của đạo đức nghề nghiệp cho những người đang làm việc tại các tổ chức nhà nước Có thể nêu ra một số nghiên cứu sau:
Các tác giả Carević, Melita, Kiš, Paula (2006) đã đề xuất một bộ quy tắc đạo đức nghề nghiệp của công chức hành chính trên cơ sở phân tích đạo đức của công chức hành chính Bộ quy tắc đạo đức nghề nghiệp đặt ra mục tiêu cải thiện và tạo điều kiện cho việc thực hiện các quyền dân sự và đảm bảo chất lượng thích đáng công việc hành chính công Bộ quy tắc này cũng là cơ sở để đánh giá việc hoàn thành nhiệm vụ chuyên môn và nhân cách nói chung của công chức hành chính [65]
Tác giả Hồ Sĩ Vịnh (1999) đã phân tích về vai trò và sức mạnh của đạo đức nghề nghiệp của công chức nhà nước (đạo đức công vụ) Theo tác giả, đạo đức công chức như “một cái phanh hãm để ngăn chặn sự suy thoái của thể chế, của bản thân công chức Nó là sức mạnh tự bảo vệ để con người công chức và thể chế nhà nước không tự đánh mất mình, không rơi vào tình trạng tự hủy hoại… Đạo đức công chức còn là động lực tinh thần, giá trị văn hoá thúc đẩy xã hội phát triển, bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lí nhà nước” [59]
Tác giả Nguyễn Thu Thủy (2019) đã tìm hiểu về vai trò của đạo đức nghề
Trang 30nghiệp đối với giáo viên mầm non hiện nay Tác giả chỉ ra 4 biểu hiện của đạo đức nghề nghiệp ở giáo viên mầm non, đó là: Tình yêu nghề (hết mực yêu quý trẻ, tha thiết với nghề); Biết kiên nhẫn và kiềm chế cảm xúc; Có tinh thần trách nhiệm cao với nghề; Có kỹ năng ứng xử sư phạm khéo léo Tác giả cũng chỉ ra vai trò của đạo đức nghề nghiệp đối với giáo viên mầm non, đó là: Nâng cao trình độ và năng lực công tác; Là động lực để giáo viên vượt qua khó khăn; Xây dựng các giá trị đạo đức mới cho giáo viên [53]
Phân tích các công trình trên cho thấy, các nghiên cứu đã tìm hiểu về giáo dục đạo đức nghề nghiệp ở một số ngành ở Vệt Nam Tuy vậy, vẫn chưa có nghiên
cứu về giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên của ngành Công an nhân dân
1.3 Những nghiên cứu về quản lí giáo dục đạo đức nghề nghiệp
Những nghiên cứu về đạo đức nghề nghiệp và giáo dục đạo đức nghề nghiệp
có nhiều tác giả quan tâm, song những nghiên cứu về quản lí giáo dục đạo đức nghề nghiệp lại rất khiêm tốn, nhất là ở Việt Nam
Hai tác giả người Mỹ Robert Allan Cooke and Leo V Ryan (2007) Trường Đại học De Paul Mỹ đã nghiên cứu về những yếu tố liên quan đến quản lí giáo dục đạo đức Theo đó, các tác giả cho rằng, coi đạo đức là một yếu tố chính trong việc ngăn ngừa các hành vi đáng ngờ và khuyến nghị rằng, các chương trình giảng dạy
về kinh doanh và kế toán Việc rèn luyện đạo đức có tác động đến hành vi cá nhân
và doanh nghiệp [85] Các tác giả quan niệm đạo đức và lợi nhuận trong kinh doanh
là những vấn đề mâu thuẫn và không tương thích nhau Một mặt, lợi nhuận được coi
là phần thưởng xứng đáng cho việc tuân thủ đạo đức theo Tin lành Mặt khác, việc theo đuổi tiền bạc là việc làm ảnh hưởng xấu đến các giá trị cá nhân Thậm chí nhiều người còn xem kinh doanh là hoạt động vô đạo đức Về giáo dục đạo đức trong trường học, Robert Allan Cooke and Leo V Ryan cho rằng: Vào giữa thế kỉ
XX, hướng dẫn về đạo đức nói chung hầu như chỉ giới hạn trong các khoa triết học
và tôn giáo Nỗ lực đưa việc giảng dạy đạo đức vào các trường chuyên nghiệp thường gặp phải sự thờ ơ và thái độ thù địch hoàn toàn
Robert Allan Cooke and Leo V Ryan đã đưa ra 9 đặc điểm của giáo dục đạo đức kinh doanh ở Hoa Kỳ, đó là:
Trang 31(1) Hầu hết việc giáo dục đạo đức kinh doanh vẫn diễn ra trong khung cảnh lớp học truyền thống Trong mười năm qua, số lượng dịch vụ khóa học đã tăng lên ngoài sự mong đợi của hầu hết các nhà đạo đức kinh doanh
(2) Mặc dù các khóa học thường được giảng dạy bởi các nhà đạo đức học trong các khoa triết học và nghiên cứu tôn giáo, ngày càng nhiều trường kinh doanh đang sử dụng đội ngũ giảng viên của chính họ để thực hiện điều này hoặc mời các nhà đạo đức học để dạy đạo đức kinh doanh
(3) Một số trường như Đại học DePaul đang phát triển các khóa học đa ngành Một ủy ban bao gồm các giảng viên và quản trị viên từ các ngành khác nhau thiết kế khóa học cơ bản sau đó được liệt kê chéo giữa các khoa khác nhau Ủy ban này sau đó sẽ giám sát sự tăng trưởng và phát triển của nó
(4) Để đáp ứng sự ủy thác của Hiệp hội các Trường Kinh doanh Cao đẳng Hoa Kỳ (AASCB), các trường kinh doanh đang kết hợp các mô-đun đạo đức trong các khóa học chức năng khác nhau như kế toán, tài chính, quản lí và tiếp thị
(5) Ở bậc đại học, ngày càng nhiều các khóa học về đạo đức kinh doanh được yêu cầu đối với tất cả các chuyên ngành kinh doanh Ở cấp độ sau đại học, các khóa học riêng biệt chỉ mới được đưa vào chương trình giảng dạy Phần lớn, chúng
là môn tự chọn
(6) Một số trường đại học đang phát triển các chương trình chuyên biệt cung cấp các bằng cấp về đạo đức kinh doanh Ví dụ, Đại học Loyola của Chicago cung cấp bằng Thạc sĩ về đạo đức kinh doanh và Đại học DePaul có chương trình cấp bằng kết hợp với bằng MA và bằng MBA Các chương trình như thế này được thiết
kế cho sinh viên MBA tìm kiếm sự linh hoạt trong công việc
(7) Sự tăng trưởng về số lượng các viện và trung tâm trong những năm 1980
đã là một hiện tượng Những thực thể này cung cấp đầu mối cho việc tiếp cận, nghiên cứu và giảng dạy và chúng giúp hình thành kỷ luật
(8) Ngày càng có nhiều tập đoàn dành thời gian và nguồn lực cho việc giáo dục đạo đức kinh doanh Ví dụ, Alcoa, Allied, Atlantic Richfield, Richfield, Chemical Bank, Cummins Engine, McDonnell Douglas và Polaroid đã thiết lập nội
bộ các chương trình phát triển quản lí về đạo đức kinh doanh Đây là bước quan
Trang 32trọng trong quá trình định hình ngành học này
(9) Ngày càng nhiều nhà đạo đức và học giả đang tư vấn cho các tập đoàn lớn và doanh nghiệp nhỏ trong các lĩnh vực vấn đề cụ thể Ví dụ, nhiều doanh nghiệp đang sửa đổi hoặc thiết lập các quy tắc đạo đức Tất cả những phát triển này
là dấu hiệu tốt cho thấy việc giáo dục đạo đức cho các nhà quản lí hiện tại và tương lai đang phát triển theo hướng tích cực Tuy nhiên, có những vấn đề cần được thảo luận và giải quyết để tránh những trở ngại tiềm tàng cho quá trình này
Robert Allan Cooke and Leo V Ryan cũng chỉ ra những bất cập về tài liệu trong giáo dục đạo đức kinh doanh cho doanh nghiệp Theo họ, hầu hết các văn bản đạo đức kinh doanh đều quá triết lí và không hướng vào những vấn đề thực tiễn hàng ngày mà người thực hành phải đối mặt Chúng ta rất cần những tài liệu giải quyết những tình huống khó xử thông thường mà các nhà quản lí cấp dưới và cấp trung phải đối mặt
Koehn (1994); Rapkins (1996) cho rằng, những hạn chế về đạo đức nghề nghiệp có thể được giải quyết bằng cách các hiệp hội nghề nghiệp thường xuyên trưng cầu các thành viên về nhu cầu phát triển đạo đức nghề nghiệp của ngành mình [82] Về quản lí giáo dục đạo đức, Joseph A Petrick Robert F Scherer (2005) cho rằng, cần đặt ra vấn đề: Liệu có tư duy nhiệm kỳ của các giáo sư giảng dạy và quan tâm về phát triển đạo đức nghề nghiệp Kết quả khảo sát cho thấy trách nhiệm và sự quan tâm đến phát triển đạo đức nghề nghiệp phụ thuộc vào các cấp giảng viên trong thể chế nhà trường [82]
Tác giả Nguyễn Thanh Phú (2014) đã nghiên cứu về quản lí giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên trường cao đẳng sư phạm miền Đông Nam Bộ Kết quả nghiên cứu cho thấy quản lí giáo dục đạo đức nghề nghiệp trong hoạt động đào tạo của các trường cao đẳng sư phạm hiện nay chưa được định hướng như một quá trình trọn vẹn, chưa được tổ chức một cách có kế hoạch Hoạt động giáo dục đạo đức nghề nghiệp này mới chỉ được kết hợp trong hoạt động dạy học, chưa được tổ chức thành một chương trình cụ thể, đạo đức nghề nghiệp còn thể hiện khá mờ nhạt, nhận thức còn chung chung, thiếu say mê, sáng tạo nghề nghiệp ở sinh viên các trường cao đẳng sư phạm được khảo sát Trong quản lí giáo dục đạo đức nghề
Trang 33nghiệp cho sinh viên, các trường cao đẳng sư phạm còn thiếu các biện pháp quản lí phù hợp Từ kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất được 7 biện pháp quản lí giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm [44]
Phân tích các công trình trên cho thấy có một số công trình nghiên cứu tìm hiểu về quản lí giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên Tuy vậy, vẫn chưa có nghiên cứu về quản lí giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên của ngành Công
an nhân dân
Nhận xét các công trình nghiên cứu
Qua tổng quan các công trình nghiên cứu ở trong và ngoài nước về đạo đức nghề nghiệp, giáo dục đạo đức nghề nghiệp và quản lí giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho thấy ở trên thế giới, việc nghiên cứu các vấn đề về đạo đức, giáo dục đạo đức, đạo đức nghề nghiệp và giáo dục đạo đức nghề nghiệp được các nhà triết học, giáo dục học quan tâm Các tác giả ngoài nước tiếp cận dưới nhiều góc độ, đề cập tới mọi khía cạnh khác nhau đảm bảo tương đối hoàn chỉnh, có tính khoa học,
hệ thống, chuyên sâu cả trên phương diện lí luận cũng như thực tiễn về đạo đức nghề nghiệp
Ở nước ta, đã có một số công trình nghiên cứu về đạo đức nghề nghiệp, giáo dục đạo đức nghề nghiệp, quản lí giáo dục đạo đức nghề nghiệp Các công trình này nhìn nhận vấn đề đạo đức từ nhiều góc độ Các nghiên cứu đã phân tích vấn đề từ góc độ lí luận về đạo đức nghề nghiệp (khái niệm, biểu hiện của đạo đức nghề nghiệp) và từ góc độ thực tiễn của vấn đề, chỉ ra thực trạng giáo dục đạo đức nghề nghiệp trong nhà trường, thực trạng quản lí giáo dục đạo đức nghề nghiệp trong nhà trường, đề ra một số biện pháp quản lí giáo dục đạo đức nghề nghiệp trong nhà trường Tuy vậy, những nghiên cứu về quản lí giáo dục đạo đức nghề nghiệp trong các trường đại học còn rất khiêm tốn, đặc biệt còn rất ít nghiên cứu về giáo dục đạo đức trong các trường đại học Công an nhân dân dân Đây là vấn đề còn bỏ ngỏ, cần được nghiên cứu một cách có hệ thống Đây cũng là lí do để chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu quản lí giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các trường đại học Công an nhân dân ở khu vực phía Bắc
Trang 34Kết luận chương 1
Vấn đề đạo đức là vấn đề được xã hội quan tâm từ rất sớm Có thể nói, đạo đức là vấn đề của bất cứ xã hội nào, bởi vì nó liên quan đến hành vi ứng xử của mỗi
cá nhân trong xã hội
Các công trình nghiên cứu tập trung vào 2 vấn đề lớn, đó là các nghiên cứu về đạo đức và đạo đức nghề nghiệp Đối với các nghiên cứ về đạo đức, các công trình tập trung phân tích những vấn đề lí luận của đạo đức, các chuẩn mức đạo đức trong đời sống xã hội và một số nghiên cứu về đạo đức ở một số nhóm xã hội cụ thể Những nghiên cứu về đạo đức nghề nghiệp chủ yếu tập trung nghiên cứu đạo đức của những nhóm khách thể cụ thể (nhân viên kế toán, ngân hàng, nhà báo, sinh viên
sư phạm, sinh viên cao đẳng nghề…) Khi nói đến đạo đức nghề nghiệp, nhiều nhà nghiên cứu đã gắn với lương tâm nghề nghiệp Lương tâm nghề nghiệp là biểu hiện tập trung nhất của ý thức đạo đức cá nhân trong thực tiễn Nó vừa là dấu hiệu vừa là thước đo sự trưởng thành của đời sống đạo đức cá nhân Mỗi con người với tư cách một chủ thể đạo đức đã trưởng thành bao giờ cũng biểu hiện là người sống có lương tâm, mà rõ nét nhất là trong hoạt động nghề nghiệp của họ Đối với lĩnh vực giáo dục, đạo đức nghề nghiệp được xem là thước đo nhân phẩm để thầy cô kiến tạo những thế hệ tương lai của đất nước
Điều đáng chú ý là trong số các công trình nghiên cứu đạo đức nghề nghiệp
ở Việt Nam có một số công trình dưới dạng các luận án tiến sĩ Khách thể nghiên cứu là các sinh viên đại học sư phạm, cao đẳng nghề, học sinh phổ thông Song chưa có công trình nghiên cứu nào về đạo đức nghề nghiệp được tiến hành đối với học viên các trường đại học Công an nhân dân Trong khuôn khổ luận án, chúng tôi
sẽ đi sâu nghiên cứu vấn đề này
Trang 35a Khái niệm đạo đức
Đạo đức là một hiện tượng xã hội, phản ánh các mối quan hệ hiện thực bắt nguồn từ bản thân cuộc sống của con người Trong đời sống xã hội, đòi hỏi tất yếu mỗi người phải ý thức được ý nghĩa, mục đích hoạt động của mình trong quá khứ, hiện tại và tương lai Những hoạt động đó bao giờ cũng có sự chi phối của những quan hệ giữa các cá nhân, cá nhân và xã hội Những mối quan hệ đó quy định giới hạn nhất định nhằm đảm bảo lợi ích của cộng đồng và xã hội Những quy định này
tự giác tạo thành động lực cho phát triển xã hội Đó là các quy tắc, chuẩn mực hoàn toàn tự giác trong hành động của mỗi cá nhân trong tất cả các quan hệ xã hội Nói cách khác, đó chính là đạo đức của con người trong xã hội
Đạo đức có thể định nghĩa theo các khía cạnh sau:
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tổng hợp các quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội nhờ nó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích và hạnh phúc của con người, với tiến bộ xã hội trong quan hệ cá nhân - cá nhân và quan hệ cá nhân - xã hội
Đạo đức là toàn bộ những quy tắc, chuẩn mực nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người với nhau trong quan hệ xã hội và quan hệ với tự nhiên
Đạo đức là hệ thống các quy tắc, chuẩn mực biểu hiện sự tự giác trong quan
hệ con người với con người, con người với cộng đồng xã hội, với tự nhiên và với cả bản thân mình
b Một số phạm trù cơ bản của đạo đức
Khi nghiên cứu đạo đức, chúng ta cần quan tâm đến một số phạm trù cơ bản
Trang 36của đạo đức Đây cũng là các tiêu chí để đánh giá đạo đức nghề nghiệp của học viên
1) Nghĩa vụ
Nghĩa vụ của đạo đức thể hiện ở chỗ khi con người tham gia vào hoạt động sản xuất và hoạt động sống, họ ý thức được trách nhiệm của bản thân đối với người khác và đối với cộng đồng Ngay từ thế kỉ XVII – XVIII, các nhà duy vật Pháp đã chỉ rõ: “Nghĩa vụ đạo đức là cái tất yếu đối với tất cả mọi người thực hiện trách nhiệm của mình” Nghĩa vụ đạo đức đã xuất hiện rất sớm và nó tồn tại với thời gian, tồn tại qua các giai đoạn phát triển của lịch sử loài người Điều đó cho thấy, ở bất kỳ chế độ
xã hội nào, ở thời kỳ phát triển xã hội nào thì nghĩa vụ cũng rất cần thiết
Nghĩa vụ thể hiện như là ý thức, tình cảm con người về mối quan hệ hài hoà giữa nhu cầu và lợi ích cá nhân với nhu cầu và lợi ích của cộng đồng, xã hội Điều đáng chú ý là việc thực hiện nghĩa vụ đạo đức bao giờ cũng mang tính tự giác và do chính bản thân đã nhận thức rõ vấn đề Do vậy, khi thực hiện nghĩa vụ đạo đức, con người luôn có cảm giác hạnh phúc, hài lòng vì tình cảm cao thượng, vì lòng tự trọng
và phẩm giá của con người
Nghĩa vụ đạo đức là ý thức và tình cảm của con người tự nguyện, tự giác thực hiện các hành động của mình theo các chuẩn mực chung của xã hội Nghĩa vụ đạo đức của con người có mối liên hệ chặt chẽ với nghĩa vụ pháp lí Nghĩa vụ đạo đức và nghĩa vụ pháp lí của con người đều có chung mục đích là nhằm điều chỉnh hành vi của con người cho phù hợp với quy tắc, chuẩn mực chung của xã hội
Nghĩa vụ không hình thành một cách tự nhiên, nhất thời mà nó được hình thành và hoàn thiện trong cả quá trình giáo dục, tự giáo dục, rèn luyện trong hoạt động thực tiễn của mỗi cá nhân, thậm chí qua quá trình đấu tranh, thử thách của cuộc sống
Trang 37dài từ thấp đến cao trong quá trình lao động sản xuất và giao tiếp xã hội Có thể nêu
ra các mức độ phát triển của lương tâm như sau:
Ý thức về cái cần phải làm do sự sợ hãi bị trừng phạt bởi thiết chế xã hội hoặc ý niệm tâm linh Ý thức về cái cần phải làm, cần phải tránh vì xấu hổ trước người khác và trước dư luận xã hội.Ý thức về cái cần phải làm vì xấu hổ với bản thân Khi cá nhân xấu hổ với bản thân, với những hành vi của mình là bước đầu của cảm giác lương tâm Từ cảm giác đó đến sự phán xét các suy nghĩ, hành vi của mình thì đó chính là lương tâm Vì thế, lương tâm có quan hệ chặt chẽ với ý thức nghĩa vụ của con người
Khi con người làm những điều xấu, độc ác thì lương tâm sẽ cảm thấy day dứt Trái lại, khi cá nhân làm những điều tốt, cao thượng thì lương tâm thanh thản
Do vậy, trong cấu trúc của lương tâm tồn tại khái niệm xấu hổ, hối hận Giữ cho lương tâm trong sạch là một tiêu chí hạnh phúc và tiêu chí sống của con người
3) Thiện và ác
Thiện và ác là cặp phạm trù đối lập nhau trong mọi thời đại, là thước đo đời sống đạo đức của mọi cá nhân Thiện và ác cũng là phạm trù cơ bản làm thước đo đời sống đạo đức của con người
Cái thiện là cái tốt đẹp biểu hiện lòng nhân ái của con người trong cuộc sống
hàng ngày Đó chính là hành vi thể hiện lợi ích của cá nhân phù hợp với yêu cầu và
sự tiến bộ xã hội Cái thiện phải được thể hiện qua việc góp phần thúc đẩy sự tiến
bộ xã hội, đem lại lợi ích cho mọi người trong xã hội Hồ Chí Minh đã nói: “Việc thiện thì dù nhỏ đến mấy cũng làm, việc ác thì dù nhỏ đến mấy cũng tránh”[35] Cái thiện giúp cho cuộc sống của con người ngày càng trở nên cao thượng hơn, tốt đẹp hơn và giàu tính nhân văn hơn
Cái ác là cái đáng ghét, ghê tởm, cái cần phải gạt bỏ trong đời sống cá nhân
và xã hội Cái ác làm mất đi tính văn minh, cao thượng của cuộc sống con người Quan điểm về thiện và ác mang tính lịch sử và có thể hoán đổi cho nhau Cái thiện
và cái ác được chúng ta đánh giá tuỳ vào nó có thúc đẩy hay cản trở sự phát triển của xã hội, hạnh phúc của con người
Trang 382.1.1.2 Đạo đức nghề nghiệp
Tác giả Mạc Văn Trang trong nghiên cứu “Tâm lí học sư phạm kỹ thuật” đã chỉ ra rằng: Trong xã hội có hàng trăm nghìn nghề với những chuyên môn khác nhau Mỗi người hành nghề dù ở lĩnh vực nào đều phải thấm nhuần đạo đức chung của xã hội, đều phải mang trong mình những giá trị phổ quát của nhân loại và của dân tộc Đạo đức nghề nghiệp nói chung không thể tách rời nền tảng đạo đức chung của mỗi con người Đạo đức nghề nghiệp cần cho mỗi nghề, là một cơ sở để đánh giá việc thực hiện nghề nghiệp của cá nhân [54]
Là một hình thức của đạo đức xã hội, đạo đức nghề nghiệp cũng như đạo đức
xã hội được thể hiện qua lương tâm con người - lương tâm nghề nghiệp, trách nhiệm và nghĩa vụ của cá nhân đối với nghề nghiệp của bản thân Lương tâm nghề nghiệp, nghĩa vụ và trách nhiệm nghề nghiệp gắn bó chặt chẽ với nhau Thực hiện tốt trách nhiệm và nghĩa vụ nghề nghiệp một cách tự giác là thể hiện lương tâm nghề nghiệp Một cá nhân không hoàn thành tốt trách nhiệm và nghĩa vụ nghề nghiệp sẽ tự hổ thẹn với bản thân mình (Đêmôcrit) Tác giả Daniel E.Wueste (1998)
và Tác giả J.Patric Dobel (1990), chỉ ra mối quan hệ khăng khít giữa đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm xã hội [67], [79]
Đạo đức nghề nghiệp luôn thể hiện qua hành vi nghề nghiệp và kết quả lao động Đạo đức nghề nghiệp có các chức năng sau đây:
- Định hướng giáo dục những người làm việc trong nghề nghiệp để họ có được những phẩm chất phù hợp với mong đợi của xã hội và mục tiêu đạo đức nghề nghiệp
- Điều chỉnh hành vi của người làm việc trong nghề nghiệp phải tuân thủ những quy tắc, chuẩn mực của lĩnh vực đó
- Giúp những người quản lí có cơ sở khách quan để đánh giá người lao động nghề nghiệp…
Trong các công trình nghiên cứu, một số tác giả đã đưa ra khái niệm đạo đức nghề nghiệp, có thể nêu ra một số khái niệm sau:
Tác giả Blatz C V (1991), cho rằng: "Đạo đức nghề nghiệp là một yêu cầu không thể thiếu của bất cứ loại hình công việc nào Mỗi loại nghề đòi hỏi người tham gia nghề đó cần phải hội đủ các thành tố: tri thức, thái độ, kĩ năng Do đó, mỗi
Trang 39nghề nghiệp thường có những chuẩn mực đạo đức riêng biệt" [62]
Tác giả Mirsepasi (2005) cho rằng, đạo đức nghề nghiệp là một trong những công cụ kiểm soát nội bộ và tự kiểm soát hiệu quả nhất Đạo đức nghề nghiệp là một tiêu chuẩn đề một tổ chức kiểm soát hành vi nghề nghiệp của các thành viên, đánh giá nhân cách của các thành viên [64]
Javaher Dashti và cộng sự (2008) cho rằng, đạo đức nghề nghiệp nên dựa trên hai thành phần: kiến thức văn hoá xã hội, và kiến thức đầy đủ về nghề nghiệp [69]
Tác giả Sarah Banks (2015) quan niệm, đạo đức nghề nghiệp gồm: giá trị cốt lõi, nguyên tắc chuẩn mực đạo đức, lí thuyết đạo đức, hành vi đạo đức, các quyết định đạo đức, và điều chỉnh xử sự [86]
Trong Bản quy tắc đạo đức của nhà tâm lí học của Hiệp hội tâm lí học Hoa
Kỳ, có xác định các quy tắc đạo đức nghề nghiệp của nhà tâm lí học là cơ sở để đánh giá chuyên môn phổ biến của nhà tâm lí học khi tham gia vào các hoạt động tương tự trong những hoàn cảnh tương tự, dựa trên kiến thức mà nhà tâm lí học có hoặc lẽ ra phải có vào thời điểm đó Phải xem xét quy tắc đạo đức này bên cạnh luật hiện hành và quy định của Hội đồng tâm lí học Các quy tắc đạo đức này: (1) cho phép đánh giá chuyên môn từ phía các nhà tâm lí học, (2) Loại bỏ sự bất công hoặc bất bình đẳng sẽ xảy ra nếu không có các phương án này, (3) Đảm bảo khả năng áp dụng trên nhiều phạm vi hoạt động được tiến hành bởi các nhà tâm lí học, hoặc (4)
Đề phòng một bộ quy tắc cứng nhắc có thể nhanh chóng lỗi thời Như vậy, quy tắc đạo đức là cơ sở để đánh giá chuyên môn, đánh giá hành vi ứng xử của nhà tâm lí học với người khác và đồng nghiệp Các quy tắc đạo đức nghề nghiệp không phải là bất biến, mà nó có thể thay đổi để phù hợp với thực tiễn [83]
Tác giả Hứa Thị Kiều Hoa (2015) khi nghiên cứu về đạo đức công vụ đã xác định đạo đức công vụ như sau: Đạo đức công vụ là hệ thống những quy tắc, quy định nhận thức, thái độ, hành vi ứng xử của cán bộ, công chức trong thi hành nhiệm
vụ, công vụ nhằm xây dựng một nền hành chính chính quy, hiện đại; vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh [24 ]
LashkarBolouki (2008) cho rằng, đạo đức nghề nghiệp là trách nhiệm đạo đức của mỗi cá nhân ở góc độ nghề nghiệp Mỗi nghề nghiệp tạo ra một trách nhiệm
Trang 40khác nhau [72]
Tác giả Trần Hải Minh (2018) cho rằng, đạo đức nghề nghiệp bao gồm các nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực của một nghề nghiệp cụ thể, trên cơ sở đó mà các thành viên của ngành nghề đó tự đánh giá, điều chỉnh hành vi của bản thân cho phù hợp với nhu cầu, lợi ích, mục đích và sự tiến bộ của xã hội [33]
Như vậy, khi bàn về khái niệm đạo đức nghề nghiệp, các tác giả có những góc nhìn khác nhau Qua các khái niệm trên, chúng ta thấy cần chú ý một số điểm sau:
- Đạo đức nghề nghiệp là những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực của một nghề nghiệp cụ thể
- Đạo đức nghề nghiệp là một chuẩn mực để đánh giá hành vi nghề nghiệp và nhân cách của một cá nhân
- Đạo đức nghề nghiệp gắn liền với trách nhiệm, nghĩa vụ và lương tâm nghề nghiệp của cá nhân
Từ phân tích các khái niệm trên, có thể xác định khái niệm đạo đức nghề
nghiệp như sau:
Đạo đức nghề nghiệp là tổng hợp các quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực nghề nghiệp nhờ nó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình sao cho đáp ứng được các yêu cầu của nghề nghiệp, phù hợp với lợi ích và hạnh phúc của con người, với tiến bộ xã hội trong quan hệ cá nhân - cá nhân và quan hệ cá nhân - xã hội
Từ khái niệm trên cho thấy một số điểm chú ý sau:
- Đạo đức nghề nghiệp là phản ánh những đòi hỏi của xã hội đối với nghề đó
- Đạo đức nghề nghiệp đòi hỏi người làm nghề phải có những phẩm chất đạo đức do nghề yêu cầu
- Đạo đức nghề nghiệp thể hiện ở nhận thức, thái độ, hành vi và kết quả lao động của người hành nghề
2.1.1.3 Đạo đức nghề nghiệp ngành Công an nhân dân