BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ HỒ THỊ DIỆU HIỀN NGHIÊN CỨU TÌNH TRẠNG THỪA CÂN, BÉO PHÌ VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC TẠI QUẬN BÌNH THUỶ T
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
HỒ THỊ DIỆU HIỀN
NGHIÊN CỨU TÌNH TRẠNG THỪA CÂN, BÉO PHÌ VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC TẠI QUẬN BÌNH THUỶ THÀNH PHỐ CẦN THƠ
NĂM 2017
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
BÁC SĨ Y HỌC DỰ PHÒNG
CẦN THƠ – 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
HỒ THỊ DIỆU HIỀN
NGHIÊN CỨU TÌNH TRẠNG THỪA CÂN, BÉO PHÌ VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC TẠI QUẬN BÌNH THUỶ THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu trường Đại học Y
dược Cần Thơ cùng quý thầy, cô trong khoa Y Tế Công Cộng đã tạo rất nhiều
điều kiện để tôi học tập và hoàn thành tốt khoá học sáu năm
Đặc biệt, xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến người trực tiếp hướng
dẫn Ths.Nguyễn Thị Hiền đã theo sát, giúp đỡ về kiến thức, phương pháp và
hỗ trợ về cách thức để tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Xin chân thành cảm ơn các cán bộ nhân viên trường tiểu học Long
Tuyền 1 và trường tiểu học An Thới 2 đã hỗ trợ trong suốt quá trình thu thập
số liệu cũng như cung cấp thông tin cần thiết cho nghiên cứu
Cuối cùng, xin chân thành cảm ơn các bạn trong tập thể lớp Y Học Dự
Phòng khoá 38 đã giúp đỡ, hỗ trợ trong suốt quá trình làm luận văn
Xin trân trọng cảm ơn!
Cần Thơ, ngày……….tháng……….năm………
Người thực hiện
Hồ Thị Diệu Hiền
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, luận văn “Nghiên cứu tình hình thừa cân, béo phì và các yếu tố liên quan ở học sinh tiểu học tại quận Bình Thuỷ, thành phố Cần Thơ năm 2017” là đề tài nghiên cứu của bản thân tôi với sự giúp đỡ của giảng viên hướng dẫn Nội dung kết quả trình bày trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa công bố ở bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Cần Thơ, ngày……….tháng……….năm………
Người thực hiện
Hồ Thị Diệu Hiền
Trang 5(Tổ chức Y tế thế giới)
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Tổng quan về thừa cân, béo phì ở trẻ em 3
1.2 Các phương pháp đánh giá thừa cân, béo phì 4
1.3 Phân loại béo phì 7
1.4 Các yếu tố liên quan thừa cân, béo phì 9
1.5 Hậu quả của thừa cân, béo phì 12
1.6 Thực trạng thừa cân béo phì trên thế giới và Việt Nam 14
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.1 Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu 18
2.2 Phương pháp nghiên cứu 18
2.3 Nội dung nghiên cứu 20
2.4 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu 24
2.5 Xử lý và phân tích số liệu 24
2.6 Sai số và biện pháp khắc phục 25
2.7.Vấn đề y đức 25
Chương 3 KẾT QUẢ 26
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 26
Trang 73.2 Tình hình thừa cân, béo phì ở học sinh tiểu học và một số yếu tố liên
quan đến thừa cân, béo phì 28
Chương 4 BÀN LUẬN 40
4.1 Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu 40
4.2 Tình hình thừa cân, béo phì và các yếu tố liên quan 40
KẾT LUẬN 53
KIẾN NGHỊ 54 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1
PHỤ LỤC 2
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Nguy cơ béo phì ở tuổi trưởng thành 13
Bảng 2.1 Bảng phân độ BMI theo tuổi và theo giới 24
Bảng 3.1 Đặc điểm chung của học sinh được khảo sát 26
Bảng 3.2 Đặc điểm dinh dưỡng và uống sữa công thức ở trẻ 26
Bảng 3.3 Đặc điểm tiền sử của trẻ 27
Bảng 3.4 Đặc điểm chung của cha mẹ trẻ 27
Bảng 3.5 Phân bố thừa cân, béo phì giữa các khối 29
Bảng 3.6 Tình trạng thừa cân, béo phì theo giới 30
Bảng 3.7 Mối liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng của phụ huynh và thừa cân, béo phì ở trẻ 30
Bảng 3.8 Mối liên quan giữa tiền sử đái tháo đường hay rối loạn chuyển hóa của mẹ khi mang thai trẻ và thừa cân, béo phì 31
Bảng 3.9 Học vấn phụ huynh và thừa cân, béo phì ở trẻ 31
Bảng 3.10 Kiến thức của phụ huynh với TC - BP của trẻ emError! Bookmark not defined. Bảng 3.11 Mối liên quan giữa kinh tế gia đình và thừa cân, béo phì 32
Bảng 3.12 Cân nặng lúc sinh của trẻ và tình trạng thừa cân, béo phì 32
Bảng 3.13 Số tháng bú sữa mẹ hoàn toàn và trẻ thừa cân, béo phì 33
Bảng 3.14 Tiền sử uống sữa công thức và trẻ thừa cân, béo phì 33
Bảng 3.15 Tiền sử suy dinh dưỡng của trẻ và thừa cân, béo phì 33
Bảng 3.16 Số lần ăn trong ngày của trẻ và tình trạng thừa cân, béo phì 34
Bảng 3.17 Mối liên quan giữa thừa cân, béo phì và mức độ ăn vặt 34
Bảng 3.18 Đặc tính ăn của trẻ và tình trạng thừa cân, béo phì 35
Bảng 3.19 Tần suất ăn chất béo của trẻ và thừa cân, béo phì 35
Bảng 3.20 Tần suất ăn đồ ngọt của trẻ và tình trạng TC - BP 36
Bảng 3.21 Tần suất ăn rau trong tuần của trẻ và thừa cân, béo phìError! Bookmark not defined.
Trang 9Bảng 3.22 Tần suất ăn trái cây của trẻ và tình trạng thừa cân, béo phì được
khảo sát Error! Bookmark not defined.
Bảng 3.23 Tần suất ăn thức ăn nhanh của trẻ và thừa cân, béo phì 36Bảng 3.24 Mối liên quan giữa yếu tố ăn thêm bữa phụ và tình trạng thừa cân, béo phì ở trẻ của hai trường quan sát 37Bảng 3.25 Mối liên quan giữa yếu tố ăn thêm lúc xem TV và tình trạng thừa cân, béo phì ở trẻ của hai trường quan sát 37Bảng 3.26 Mối liên quan giữa thói quen sinh hoạt của trẻ và tình trạng thừa cân, béo phì 38Bảng 3.27 Mối liên quan giữa hoạt động thể lực của trẻ và tình trạng thừa cân, béo phì ở học sinh tiểu học được khảo sát 39
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngày nay, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội là sự chuyển dịch của
mô hình bệnh tật Trước đây, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng khá cao do sự tương quan với kinh tế nước nhà đang trên đà phát triển, người dân còn nhiều đói kém Nhưng khi đất nước đổi mới tình trạng thừa cân, béo phì ở trẻ em ngày càng tăng đang là một thách thức lớn ở nước ta nói riêng và các quốc gia khác đang phát triển nói chung
Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO), chi phí cho quản lý và điều trị thừa cân, béo phì có thể lên đến 2-7% tổng chi phí cho chăm sóc y tế của các nước phát triển Béo phì trên toàn thế giới đã tăng gấp đôi kể từ năm 1980 [37] Giai đoạn tiểu học là độ tuổi quyết định sự phát triển tối đa các tiềm năng di truyền liên quan đến tầm vóc, thể lực và trí tuệ Đây là giai đoạn trẻ tích luỹ chất dinh dưỡng cần thiết, là giai đoạn có sự biến đổi nhanh cả về thể chất và tâm lý Kết quả của tổng điều tra dinh dưỡng toàn quốc 2009-2010 cho thấy tỷ lệ thừa cân ở trẻ em 5-19 tuổi từ cuộc điều tra này là 8,5% và tỷ lệ béo phì là 2,5% [23] Nghiên cứu của Nguyễn Mỹ Hạnh cho thấy tỷ lệ TC-BP của học sinh tiểu học tại thành phố Việt Trì cao hơn so với địa bàn thị xã Phú Thọ liên quan đến tính chất đô thị hoá có ảnh hưởng tới sự tăng cao tỷ lệ thừa cân, béo phì ở học sinh tiểu học [9]
Nghiên cứu của Hoàng Thị Đức Ngàn thấy rằng ở trẻ thừa cân, béo phì
có tỷ lệ thiếu máu thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với trẻ bình thường [16] Mặc dù vậy, đa số người trưởng thành thừa cân và béo phì có nguy cơ bệnh tim mạch chiếm 31% và 8% nguy cơ tử vong đột quỵ liên quan đến béo phì thông qua máu áp lực máu cao [31]
Béo phì ở trẻ em nếu không được điều trị và phòng ngừa sớm sẽ trở thành một gánh nặng cho y tế và xã hội, béo phì ở trẻ em không những ảnh hưởng
Trang 11đến tâm lý, sức khoẻ, học tập của trẻ mà còn là nguy cơ cho béo phì ở người lớn, khoảng 75% các trường hợp béo phì ở trẻ em tồn tại đến khi trưởng thành Lứa tuổi 6-10 tuổi là thời kì chuẩn bị cho giai đoạn phát triển tăng tốc ở tuổi dậy thì và có ý nghĩa quan trọng trong sự phát triển và trưởng thành của con người Vì vậy, đánh giá trình trạng thừa cân, béo phì và các yếu tố nguy
cơ ở lứa tuổi này sẽ cho ta những cơ sở khoa học để xây dựng các giải pháp phòng chống hữu hiệu nhất nhằm nâng cao sức khoẻ và cải thiện giống nòi [21] Để góp phần vào việc khảo sát tình trạng thừa cân, béo phì và những yếu
tố nguy cơ ảnh hưởng bất lợi ở những trẻ thừa cân, béo phì nói chung và ở
Cần Thơ nói riêng, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu tình trạng thừa
cân, béo phì và các yếu tố liên quan ở học sinh tiểu học tại quận Bình Thuỷ, thành phố Cần Thơ năm 2017” với các mục tiêu sau:
1 Xác định tỷ lệ thừa cân, béo phì ở học sinh tại các trường tiểu học trên địa bàn quận Bình Thuỷ, thành phố Cần Thơ năm 2017
2 Tìm hiểu các yếu tố liên quan thừa cân, béo phì ở học sinh tại các trường tiểu học trên địa bàn quận Bình Thuỷ, thành phố Cần Thơ năm 2017
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tổng quan về thừa cân, béo phì ở trẻ em
1.1.1 Định nghĩa
Thừa cân, béo phì là tình trạng dư thừa toàn bộ trọng lượng mỡ cơ thể hoặc dư thừa mô dự trữ của cơ thể [4]
1.1.2 Tiêu chuẩn chẩn đoán béo phì
Theo tổ chức y tế thế giới (WHO), bất cứ cá nhân nào có chỉ số BMI bằng hoặc cao hơn 30kg/m2 được xem là “béo phì” [37] Tuy nhiên, việc chẩn đoán thừa cân, béo phì ở người Châu Á vẫn còn là một vấn đề nan giải Chuẩn BMI > 30kg/m2 có thể không phù hợp với người Châu Á Một số nghiên cứu mới nhất cho thấy ở người châu Á, nguy cơ tử vong gia tăng ngay cả khi BMI thấp hơn 30kg/m2 Thật vậy, hai công trình nghiên cứu qui mô ở Trung Quốc [30] và Singapore [32] đã cho thấy điều đó Đối với trẻ em, BMI thay đổi đáng kể, tăng nhanh chóng trong giai đoạn đầu đời, giảm xuống ở lứa tuổi mầm non, và sau đó tăng trở lại trong thời niên thiếu và tuổi trưởng thành sớm Vì lý do này, BMI trẻ em cần được đánh giá bằng cách sử dụng các đường cong tham khảo liên quan đến tuổi [37]
Nhưng BMI là một chỉ số không hoàn hảo BMI được phát triển để làm một thước đo gián tiếp phản ánh lượng mỡ trong cơ thể (vì vào thế kỷ 19 chưa
có máy đo lượng mỡ trong cơ thể) BMI thực chất là tỉ số của trọng lượng trên bình phương chiều cao Bởi vì trọng lượng bao gồm phần lớn hai thành tố là lượng nạc (lean mass) và lượng mỡ (fat mass), trong khi lượng mỡ mới thật
sự là yếu tố cần quan tâm trong thực hành lâm sàng, cho nên BMI không phản ảnh được tỉ trọng mỡ trong cơ thể Chính vì khiếm khuyết này mà một số vận động viên có khi bị chẩn đoán là béo phì vì họ nặng cân dù rằng có ít lượng
mỡ và nhiều lượng nạc Trong nghiên cứu của Hồ Phạm Thục Lan và cộng sự
Trang 13trong công trình nghiên cứu “Phát triển tiêu chuẩn tỉ trọng mỡ cơ thể cho chẩn đoán thừa cân, béo phì ở người Việt Nam” cho thấy hai người có thể có cùng BMI, nhưng tỉ lệ mỡ hoàn toàn khác nhau [14]
1.1.3 Cơ chế bệnh sinh của béo phì
Sơ đồ 1.1 Mô hình nguyên nhân và cơ chế sinh bệnh của béo phì
Ở vùng dưới đồi có hai trung tâm
- VLH: Ventrolateral nuclear of the hypothalamus (VLH) là nhân bụng bên của vùng dưới đồi thích ăn
- VMH: Ventromethial nuclear of the hypothalamus (VMH) là nhân bụng giữa của vùng dưới đồi hạn chế ăn
Khi nồng độ glasma, glucose, insulin, dạ dày ruột căng sau bữa ăn kích thích, cùng với bài tiết adrenalin kích thích trung tâm no của vùng dưới đồi Kích thích lên vỏ não ức chế ăn Ngoài các yếu tố xã hội, di truyền, văn hoá, môi trường cũng ảnh hưỡng đến vỏ não điều khiển việc ăn uống [4]
1.2 Các phương pháp đánh giá thừa cân, béo phì
Tình hình dinh dưỡng của một cộng đồng, một địa phương cũng như trên phạm vi cả nước là một trong các nguồn dẫn liệu rất quan trọng để xây dựng
và đánh giá các dự án về sức khoẻ và phát triển kinh tế xã hội Để có các
Trang 14nguồn số liệu tin cậy, đánh giá tình hình dinh dưỡng cần được tiến hành đúng phương pháp và theo một quy trình hợp lý Một số phương pháp định lượng chính thường được sử dụng trong đánh giá tình trạng dinh dưỡng như:
- Nhân trắc học
- Điều tra khẩu phần và tập quán ăn uống
- Các thăm khám thực thể/ dấu hiệu lâm sàng
- Các xét nghiệm cận lâm sàng chủ yếu là hoá sinh ở dịch thể và các chất bài tiết (máu, nước tiểu ) để phát hiện mức bão hoà chất dinh dưỡng
- Các kiểm nghiệm chức phận để xác định các rối loạn chức phận do thiếu hụt dinh dưỡng
- Điều tra tỷ lệ bệnh tật và tử vong Sử dụng các thống kê y tế để tìm hiểu mối liên quan giữa tình hình bệnh tật và tình trạng dinh dưỡng
- Đánh giá các yếu tố sinh thái liên quan đến tình trạng dinh dưỡng và sức khoẻ
Gần đây, một số phương pháp định tính cũng đã được sử dụng trong đánh giá tình trạng dinh dưỡng [3]
Đánh giá tình trạng dinh dưỡng bằng phương pháp nhân trắc học
Nhân trắc học dinh dưỡng có mục đích đo các biến đổi về kích thước và cấu trúc cơ thể theo tuổi và tình trạng dinh dưỡng Phương pháp nhân trắc học
có những ưu điểm là đơn giản, an toàn và có thể điều tra trên một mẫu lớn Trang thiết bị không đắt, dễ vận chuyển Có thể khai thác đánh giá được các dấu hiệu về tình trạng dinh dưỡng trong quá khứ Tuy nhiên phương pháp này cũng có nhược điểm như: Không đánh giá được sự thay đổi tình trạng dinh dưỡng trong giai đoạn ngắn hoặc không nhạy để xác định các thiếu hụt dinh dưỡng đặc hiệu
Có thể chia nhóm kích thước nhân trắc sau đây:
- Khối lượng cơ thể, biểu hiện bằng cân nặng
Trang 15- Các kích thước về độ dài, đặc hiệu là chiều cao
- Cấu trúc cơ thể và các dự trữ về năng lượng và protein, thông qua các mô mềm bề mặt: Lớp mỡ dưới da và cơ, [3], [5]
Nhận định tình trạng thừa cân, béo phì ở trẻ em
Theo TCYTTG, chỉ tiêu đánh giá thừa cân như sau:
- Trẻ dưới 9 tuổi:
+ Chiều cao không quá 145cm đối với trẻ trai
+ Chiều cao không quá 137cm đối với trẻ gái
- Dựa vào chỉ tiêu cân nặng theo chiều cao Phân loại mức độ như sau: + >+2SD +3SD: Thừa cân độ I (Thừa cân nhẹ)
+ > +3SD +4SD: Thừa cân độ II (Thừa cân trung bình)
+ >+4SD: Thừa cân độ III (Thừa cân nặng)
- Trẻ trên 9 tuổi trở lên hoặc trẻ có nhiều vượt quá giới hạn áp dụng chỉ tiêu cân nặng theo chiều cao của TCYTTG thì dựa vào BMI/tuổi
Giá trị ngưỡng khuyến cáo của cân nặng/chiều cao là > +2SD và cho BMI theo tuổi là 85th percentile Cả hai đều phải so sánh với quần thể tham khảo NCHS
Ở trẻ em, khi BMI ≥ 85 bách phân vị (85th percentile) so với quần thể tham khảo NCHS/WHO thì được xem là thừa cân
Cách phân loại mức độ như sau:
+ ≥ 85th đến 95th bách phân vị: Thừa cân độ I (Thừa cân nhẹ)
+ ≥ 95th Thừa cân độ II (Thừa cân trung bình) [18]
Trang 161.3 Phân loại béo phì
1.3.1 Phân loại theo cơ chế bệnh sinh
1.3.1.1 Béo phì đơn thuần
Định nghĩa
Béo phì đơn thuần hay còn gọi là BP ngoại sinh, rất hay gặp ở lâm sàng hoặc cộng đồng Nguyên nhân chủ yếu do sự thay đổi cân bằng năng lượng: năng lượng thu vào tăng, năng lượng tiêu hao giảm dẫn đến tăng tích mỡ
Nguyên nhân
Nguyên nhân của BP đơn thuần rất phức tạp Nó là hậu quả của nhiều yếu tố kết hợp, là sự tương tác giữa di truyền và môi trường tạo điều kiện cho trẻ bị béo phì Trong đó, yếu tố di truyền được đề cập nhiều vì góp phần quan trọng chiếm khoảng 40% nguyên nhân gây béo những nghiên cứu về con sinh đôi, con nuôi đều khẳng định vai trò của di truyền Nếu bố mẹ béo, con dễ bị béo phì hơn trẻ mà bố mẹ không béo Một trong hai bố mẹ béo nguy cơ con bị béo tăng 3 lần, nếu cả hai bố và mẹ béo thì nguy cơ con bị béo tăng lên 10 lần Vai trò của mẹ không ngang nhau, mẹ béo con dễ bị béo hơn bố béo Một nghiên cứu Terasa Quattrin và cộng sự ở 587 trẻ tuổi trung bình là 9,5 tuổi, 75,6% trẻ da trắng, 57,6% trẻ gái Tác giả thấy có 80.6% trẻ bị béo trước 6 tuổi, 50% các bà mẹ bị béo, 57,7% các ông bố bị béo [4]
1.3.1.2 Béo phì bệnh lý (BP nội sinh)
- BP do nguyên nhân nội tiết
- BP do suy giáp trạng: thường xuất hiện muộn, béo vừa, chậm lớn, da khô, táo bón, chậm phát triển tinh thần
- BP do cường vỏ thượng thận: có thể do tổn thương tuyến yên hoặc u tuyến thượng thận, tăng cortisol và insulin huyết thanh, không dung nạp glucose, thường béo ở mặt và thân, kèm theo tăng huyết áp
Trang 17- BP do thiếu hormon tăng trưởng: Béo phì thường nhẹ hơn so với các nguyên nhân khác, béo chủ yếu ở thân kèm theo chậm lớn
- BP trong hội chứng tăng hormon nang buồng trứng: thường xuất hiện sau dậy thì Người BP có các dấu hiệu của rậm lông hoặc nam hoá sớm, kinh nguyệt không đều, thường gặp các u buồng trứng kèm theo
- BP trong thiểu năng sinh dục
- BP do các bệnh về não: do tổn thương vùng dưới đồi, u não, chấn thương sọ não, phẫu thuật thần kinh Các nguyên nhân này gây huỷ hoại vùng trung tâm não trung gian, ảnh hưởng đến sức thèm ăn, tăng insulin thứ phát nên thường kèm theo BP [4], [19]
1.3.2 Phân loại theo hình thái của mô mỡ và tuổi bắt đầu BP
- BP bắt đầu từ nhỏ (trẻ em, thanh thiếu niên): là loại BP có tăng số lượng và kích thước tế bào mỡ
- BP bắt đầu ở người lớn: là loại béo phì có tăng kích thước tế bào mỡ còn số lượng tế bào mỡ thì bình thường
- BP xuất hiện sớm: là loại BP xuất hiện trước 5 tuổi
- BP xuất hiện muộn: là loại BP xuất hiện sau 5 tuổi
Các giai đoạn thường xuất hiện BP là thời kì nhũ nhi 5 tuổi, 7 tuổi và vị thành niên (tuổi tiền dậy thì và dậy thì) BP ở các thời kì này làm tăng nguy
cơ của BP trường diễn và các biến chứng khác [4]
1.3.3 Một số loại béo phì khác
- BP do sử dụng thuốc: sử dụng corticoid liều cao và kéo dài, dùng estrogen, deparkin có thể gây béo
- BP có khối nạc tăng so với chiều cao và tuổi: trẻ BP có khối nạc tăng
so với tuổi thường có chiều cao cao hơn chiều cao trung bình, thường là trẻ béo phì từ nhỏ, dạng này đặc trưng cho đa số béo phì ở trẻ em [4]
Trang 181.4 Các yếu tố liên quan thừa cân, béo phì
Béo phì là sự mất cân bằng giữa năng lượng ăn vào và năng lượng tiêu hao trong thời gian dài Sự mất cân bằng này có thể do tăng năng lượng ăn vào hoặc giảm năng lượng tiêu hao
1.4.1 Nguyên nhân gây tăng năng lượng ăn vào
1.4.1.1 Ăn nhiều thức ăn giàu chất béo, chất ngọt
Nhóm học sinh ăn nhiều chất béo có nguy cơ thừa cân, béo phì gấp 1,7 lần nhóm học sinh không thích ăn [8] Trẻ càng thích ăn chất béo càng nhiều thì có lượng mỡ trong cơ thể càng cao Tần suất tiêu thụ các loại thực phẩm giàu năng lượng như bơ, dầu, mỡ, thịt mỡ, thức ăn chiên rán ở nhóm trẻ thừa cân cao hơn nhóm trẻ bình thường Phân tích khẩu phần ăn trong 24 giờ, cho thấy nhóm trẻ thừa cân tiêu thụ nhiều lương thực, thực phẩm hơn trẻ bình thường và vượt mức nhu cầu đề nghị từ 20-30% Trong đó nhóm trẻ 6 tuổi vượt quá 500 kilocalo/ngày, nhóm 7-9 tuổi vượt quá 400kilocalo/ngày, nhóm
từ 10-11 tuổi vượt 300kilicalo/ngày Đặc biệt, lượng dầu mỡ nhóm thừa cân tiêu thụ gấp 3 lần so với nhóm chứng, lượng thịt cũng khá chênh lệch [15]
1.4.1.2 Ăn nhiều lần trong ngày
Nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy một số đặc điểm ăn uống như ăn nhiều, ăn nhanh, háu ăn là yếu tố nguy cơ dẫn đến béo phì ở trẻ, nhóm trẻ thừa cân có thói quen ăn nhanh hơn nhóm đối chứng 2,7 lần trong điều kiện ăn trong nhà trường và háu ăn hơn nhóm chứng gấp 5,3 lần khi ăn tại nhà [17]
1.4.2 Nguyên nhân gây giảm năng lượng tiêu hao
Giảm hoạt động thể lực
Cuộc sống văn minh hiện đại và xu hướng chuyển từ nông nghiệp sang công việc văn phòng làm cho con người ít phải dùng sức lực, đồng thời vận chuyển động cơ đã thay thế xe đạp để lao động nên hoạt động thể lực của con
Trang 19người có xu hướng giảm đi Cùng với chế độ ăn uống của các gia đình nói chung tiêu thụ nhiều chất béo và các loại dầu, thịt nhiều hơn, đường nhiều hơn và ít rau và ngũ cốc hơn trước đây cũng là những yếu tố thuận lợi gây thừa cân, béo phì [29]
Nguy cơ thừa cân, béo phì ở nhóm học sinh ít vận động cao hơn gấp 2,4 lần nhóm học sinh vận động bình thường [8] Có mối liên quan giữa tình trạng thừa cân, béo phì và thói quen chơi thể thao Những học sinh nữ không chơi môn thể thao nào có tỷ lệ thừa cân, béo phì cao gấp 7,9 lần so với những học sinh nữ ít chơi thể thao [6]
1.4.3 Những yếu tố nguy cơ khác gây thừa cân, béo phì
1.4.3.1 Cân nặng sơ sinh
Nhóm học sinh có cân nặng sơ sinh trên 3,5kg có nguy cơ thừa cân, béo phì gấp 2,2 lần nhóm học sinh có cân nặng sơ sinh dưới 3,5kg [8] Các nghiên cứu dịch tễ đã chứng minh một mối quan hệ tích cực trực tiếp giữa trọng lượng sinh và BMI sau này [26] Trẻ có cân nặng sơ sinh > 3,5kg có nguy cơ thừa cân, béo phì cao hơn 2,8 lần và những trẻ có cân nặng sơ sinh < 2,5kg có nguy cơ thừa cân, béo phì cao hơn 1,4 lần so với trẻ có cân nặng sơ sinh trong khoảng 2,5-3,5kg [21]
1.4.3.2 Suy dinh dưỡng thể thấp còi
Có mối quan hệ giữa SDD trước đó với thừa dinh dưỡng về sau và đó là
sự kết hợp đặc biệt nguy hiểm Người ta nhận thấy những đứa trẻ có cân nặng khi sinh hoặc khi một tuổi thấp thì về sau mỡ có khuynh hướng tập trung ở bụng Một công trình nghiên cứu ở trẻ em 3 – 6 tuổi và 7 – 9 tuổi ở 4 quốc gia cho thấy có mối liên quan có ý nghĩa giữa tình trạng thấp còi (Stunting) và thừa cân (Overweight) (Popkin 1996) Tuy cơ chế còn chưa rõ ràng nhưng phát hiện này có ý nghĩa sức khoẻ cộng đồng quan trọng Ở các nước nghèo
Trang 20số đông trẻ em bị thấp còi và thiếu cân nhưng khi thu nhập tăng, điều kiện sống thay đổi chúng dễ dàng trở nên béo phì [34]
1.4.3.3 Yếu tố di truyền
Yếu tố di truyền có vai trò quan trọng với thừa cân, béo phì Đáp ứng sinh nhiệt kém có thể do yếu tố di truyền và có vai trò nhất định đối với thừa cân, béo phì Kiểu gen đóng vai trò quan trọng, chiếm khoảng 40% trong nguyên nhân gây béo Những nghiên cứu về con sinh đôi, con nuôi đều khẳng định vai trò của di truyền Nếu bố, mẹ béo con dễ bị béo phì hơn trẻ mà
có bố mẹ không béo Một trong hai bố mẹ béo nguy cơ con bị béo tăng 3 lần, nếu cả hai bố mẹ béo nguy cơ con béo tăng lên 10 lần Nhưng vai trò của bố
mẹ không ngang nhau, mẹ béo con có nguy cơ bị béo hơn bố béo [4] Nghiên cứu của Trần Phương Bình ở những trẻ TC-BP thấy rằng tỷ lệ béo phì ở cha gần gấp 2 lần mẹ, tỷ lệ thừa cân ở cha gấp gần 3 lần ở mẹ [2]
1.4.3.4 Thời gian ngủ
Ngủ ít cũng được xem như là một nguy cơ cao ở trẻ Nguyên nhân chưa
rõ nhưng một số tác giả cho rằng kiểu sống gia đình thiếu điều độ từ ngủ tới
ăn hoặc do thiếu hoạt động thể lực tạo ra những sóng thấp trên điện não khi ngủ, cũng có thể do sự tiêu mỡ của cơ thể hoạt động tối đa về đêm và ngủ ít làm giảm tiêu mỡ nói chung Những trẻ em ngủ dưới 10 tiếng/ngày có nguy
cơ thừa cân cao hơn 3,5 lần so với những trẻ em ngủ trên 12 tiếng/ngày [22]
1.4.3.5 Điều kiện kinh tế văn hóa xã hội
Các yếu tố văn hóa, dân tộc, tầng lớp xã hội, tôn giáo cũng là những yếu
tố môi trường làm ảnh hưởng đến lượng thức ăn đưa vào theo nhiều cách khác nhau Ở các nước đang phát triển, tỉ lệ người béo phì ở tầng lớp nghèo thường thấp (thiếu ǎn, lao động chân tay nặng, phương tiện đi lại khó khǎn) và béo phì thường được xem là một đặc điểm của giàu có Tại các nước đã phát triển
Trang 21khi thiếu ǎn không còn phổ biến nữa thì tỉ lệ béo phì lại thường cao ở tầng lớp nghèo [22]
1.4.3.6 Trẻ được nuôi sữa công thức lúc nhỏ
Trẻ uống sữa công thức có nhiều nguy cơ hơn trẻ uống sữa mẹ Theo kết quả nghiên cứu thì tỷ lệ béo phì ở nhóm trẻ không được uống sữa mẹ cao hơn nhóm trẻ uống sữa mẹ 25 nghiên cứu với tổng cộng 226,508 người tham gia
đã được đưa vào phân tích này Nghiên cứu dao động từ năm 1997 đến 2014,
và đã khảo sát dân số của 12 quốc gia Kết quả cho thấy bú mẹ làm giảm đáng
kể nguy cơ béo phì ở trẻ (AOR = 0.78, 95% CI: 0.74, 0.81) Phân tích theo nhóm 17 nghiên cứu cho thấy tác động bú sữa mẹ và khả năng giảm nguy cơ béo phì ở trẻ em [38]
1.5 Hậu quả của thừa cân, béo phì
1.5.1 Ảnh hưởng tới tâm lý cá nhân
Một số nghiên cứu cho thấy trẻ gái bị béo phì bị tự ti nhiều hơn trẻ trai
Ví dụ, Strauss thấy rằng 34% của béo phì (BMI > 95th centile), 13 – 14 tuổi, trẻ gái có lòng tự trọng thấp hơn so với 8% trẻ gái không bị béo phì Tuy nhiên, cũng có một số bằng chứng của chúng tôi xem xét thấy rằng các vấn đề tâm lý của cha mẹ hoặc tâm thần có thể có một ảnh hưởng lớn hơn đến bệnh tật tâm lý của trẻ hơn béo phì hoặc giới tính [35]
1.5.2 Tăng nguy cơ mắc bệnh và tử vong
Trong nghiên cứu của Đặng Văn Khôi thấy rằng trẻ thừa cân, béo phì có huyết áp cao hơn trẻ không bị thừa cân, béo phì [12]
Béo phì thời thơ ấu có thể dẫn đến mắc bệnh mạn tính không lây như rối loạn dung nạp glucose, kháng insulin, đái tháo đường týp 2, tăng huyết áp, rối loạn lipit máu, gan nhiễm mỡ, rối loạn tiêu hoá, cơn ngừng thở khi ngủ và buồng trứng đa nang khi trưởng thành Đặc biệt, nếu BP lúc còn nhỏ tuổi sẽ
có nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường tuýp 2, bệnh mạch vành khi lớn lên
Trang 22Nghiên cứu cho thấy trẻ mắc BP bắt đầu từ khi bé và kéo dài cho đến tuổi trưởng thành, sẽ có nguy cơ cao mắc các rối loạn trong cuộc sống [19] Trong 11% trẻ em thừa cân Mặc dù mức lipid, insulin, và huyết áp không thay đổi đáng kể với chỉ số Quetelet ở mức <85 percentile, tỷ lệ các yếu tố nguy cơ tăng lên đáng kể ở các chỉ số Quetelet cao hơn Trẻ béo phì có tỷ lệ trung bình cao gấp 2,4 lần so với trẻ có chỉ số Quetelet <85 percentile Các tỷ lệ khác là 2,4 (huyết áp tâm trương), 3,0 (cholesterol lipoprotein mật độ thấp), 3,4 (cholesterol lipoprotein mật độ cao), 4,5 (huyết áp tâm thu), 7,1 (triglycerides)
và 12,6 (insulin nhịn ăn) [28]
1.5.3 Làm tăng nguy cơ béo phì ở tuổi trưởng thành
Bảng 1.1 Nguy cơ béo phì ở tuổi trưởng thành [19]
Béo phì ở trẻ em Nguy cơ béo phì tuổi trưởng thành
- Có béo phì
- Không béo phì
- 26% sẽ béo phì
- 15% sẽ béo phì Trẻ em từ 7- 8 tuổi
- Có béo phì
- Không béo phì
- 40% sẽ béo phì
- 10% sẽ béo phì
1.5.4 Hậu quả về tâm lý xã hội
Trẻ bị béo phì thường hay bị kỳ thị ở các nước công nghiệp Những đứa trẻ 6 tuổi mô tả những trẻ béo phì bằng những từ như: “lười biếng”, “bẩn”,
“ngu ngốc”, “rẻ mạc”,…Nhiều người béo phì có cơ thể thay đổi, họ thấy các
cơ quan của họ xấu xí và tin rằng những người khác luôn muốn loại trừ họ khỏi các mối quan hệ xã hội Điều này xảy ra thường xuyên nhất ở phụ nữ trẻ
Trang 23đặc biệt là những người đã bị béo phì kể từ thời thơ ấu Bên cạnh đó, các bác
sĩ có thể ít quan tâm đến việc quản lý bệnh nhân thừa cân, vì họ cho là ít có khả năng được hưởng lợi từ việc tư vấn Mặc dù ít được thực hiện nhưng cho đến nay sự can thiệp giáo dục đã được liên kết với một thái độ tích cực hơn cho người béo phì trong số các sinh viên y tế năm đầu tiên bên cạnh những chuyên gia y tế [37]
1.5.5 Mất thoải mái trong cuộc sống
Người BP thường có cảm giác bức bối khó chịu về mùa hè do lớp mỡ dày đã trở thành một hệ thống cách nhiệt Người BP cũng thường xuyên cảm thấy mỏi mệt chung toàn thân, hay nhức đầu, tê buốt ở hai chân làm cho cuộc sống thiếu thoải mái [19]
1.5.6 Giảm hiệu suất lao động và kém lanh lợi
Người BP làm việc chóng mệt nhất là ở môi trường nóng Mặt khác do khối lượng cơ thể quá lớn nên để hoàn thành một công việc trong lao động, người BP mất nhiều công sức hơn Hậu quả là hiệu suất lao động giảm rõ rệt
so với người bình thường [19] Người BP thường phản ứng chậm chạp hơn so với người bình thường nên dễ bị tai nạn xe cộ cũng như tai nạn lao động
1.5.7 Ảnh hưởng béo phì tới kinh tế xã hội
Hậu quả kinh tế có thể chia làm 2 loại: Hậu quả trực tiếp và hậu quả gián tiếp Hậu quả trực tiếp phản ánh giá trị có thể không bị mất đi nếu không có bệnh BP Hậu quả trực tiếp là những chi phí dành cho việc chữa trị bệnh và các bệnh liên quan Hậu quả gián tiếp là việc giảm năng lực sản xuất do những căn bệnh xuất phát từ BP như cao huyết áp, đái tháo đường [19]
1.6 Thực trạng thừa cân béo phì trên thế giới và Việt Nam
1.6.1 Thực trạng thừa cân béo phì trên thế giới
Sự phổ biến của thừa cân và béo phì ở trẻ em và thanh thiếu niên (tuổi 19) đã tăng đáng kể từ 4% trong 1975 để chỉ hơn 18% trong 2016 Sự nổi lên
Trang 245-đã xảy ra nhiều hoặc ít hơn hay bằng nhau trong cả hai bé trai và trẻ em gái: trong 2016 tỷ lệ thừa cân ở hai giới lần lượt là 18% ở trẻ gái và 19% ở trẻ trai Trong khi chỉ dưới 1% trẻ em và thanh thiếu niên bị béo phì trong 1975 thì đến 2016 đã có gần 7% trẻ bị béo phì Sự gia tăng nhanh chóng hơn trong số các bé trai, với bệnh béo phì xảy ra trong 8% ở bé trai và 6% ở bé gái [36] Năm 2010, kết quả phân tích trên 450 cuộc điều tra cắt ngang về TC, BP của trẻ em ở 144 nước trên thế giới cho thấy có khoảng 43 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị TC, BP (35 triệu trẻ em từ các nước đang phát triển, 8 triệu từ các nước đã phát triển), 92 triệu trẻ em có nguy cơ bị thừa cân Tỷ lệ TC, BP của trẻ em trên thế giới đã tăng từ 4,2% (CI 95%: 3,2% - 5,2%) năm 1990 lên 6,7% (CI 95%: 5,6% - 7,7%) vào năm 2010 Với xu hướng này thì dự kiến đến năm 2020 sẽ có 9,1% (CI 95%: 7,3% - 10,9%), tương đương với khoảng
60 triệu trẻ em bị thừa cân, béo phì Tỷ lệ thừa cân, béo phì của trẻ em Châu Phi là 8,5% năm 2010, ước tính năm 2020 sẽ là 12,7% Tỷ lệ béo phì ở các nước phát triển cao gấp 2 lần các nước đang phát triển [27]
Trong 2009, tỷ lệ béo phì Pháp là 14,5% +/-0,4% Nó đã được 13,1% trong 2006, 11,9% trong 2003, 10,1% trong 2000 và 8,5% trong 1997 Đồng thời, tỷ lệ của Pháp không có thừa cân đã giảm kể từ 2006: tổng thể, nó tăng
từ 61,7% trong 1997 đến 53,6% trong 2009 Tỷ lệ của béo phì khối lượng tăng từ 0,3% (± 0,1%) dân số trong 1997 đến 1,1% (± 0,1%) trong 2009 [40]
Vì vậy, sự phổ biến của bệnh béo phì đã tăng gần 6%/năm trong 12 năm qua, thêm gần 3.000.000 cá nhân góp vào tổng số người béo phì, trong đó có hơn 1% có béo phì độ lớn Một phân tích tốt cho thấy béo phì đã dần được hình thành trong suốt thế kỷ XX, từ thế hệ này sang thế hệ khác và trở nên ngày càng trẻ hoá [40]
Dự kiến tỷ lệ người béo phì sẽ tiếp tục gia tăng cho đến ít nhất là năm
2030 Mức độ béo phì dự kiến đặc biệt cao ở Hoa Kỳ, Mexico, Anh tương
Trang 25ứng 47%, 39% và 35% dân số tương ứng được dự kiến vào năm 2030 Ngược lại, béo phì tăng yếu hơn ở Ý, Hàn Quốc với tỷ lệ dự kiến tương ứng là 13%
và 9% [33]
Báo cáo rằng tỷ lệ béo phì trong giới trẻ người Canada đã tăng gấp ba trong vòng 25 năm qua Trong thực tế, một đứa trẻ hoặc thanh thiếu niên trong độ tuổi từ 2 đến 17 năm bị béo phì hoặc thừa cân Tại Mỹ, tỷ lệ người béo phì trong dân số là một trong ba, không xa phía trước của Canada 50% trẻ em trong độ tuổi Canada 5-17 là không hoạt động đủ để duy trì tăng trưởng bình thường và phát triển tối ưu "Lối sống của ngày nay được thiết kế hầu như ngăn chặn chúng ta khỏi hoạt động thể chất” Cựu chủ tịch của Hiệp hội Y khoa Canada, Ruth Collins-Nakai, đã đánh giá rằng béo phì sẽ làm giảm tuổi thọ trung bình của Canada 3-4 năm trong 40 năm tới [39]
Trên thế giới, trong giai đoạn 1988–1994 đến 2003-2004, tỷ lệ trẻ em và thanh thiếu niên từ 2-19 tuổi bị béo phì tăng lên từ 10,0% đến 17,1%, và sau
đó ổn định từ năm 2003-2004 đến 2013-2014 Tỷ lệ trẻ em và thanh thiếu niên béo phì là 17,2% trong giai đoạn 2013-2014 [24]
Tại Hoa Kỳ, sự phổ biến của béo phì ở những người trẻ tuổi là 17% vào năm 2011-2014 Hơn tất cả, tỷ lệ béo phì ở học sinh mẫu giáo (2-5 tuổi) là 8,9% thấp hơn học sinh tiểu học (6-11 tuổi) và vị thành niên (12-19 tuổi ) là 20,5% [25]
1.6.2 Tình hình béo phì tại Việt Nam
Một nghiên cứu khác vào năm 2012, tỷ lệ thừa cân, béo phì ở trẻ 6-10 tuổi tại thành phố Cần Thơ là 29,3%, trong đó thừa cân là 11,3% và béo phì là 18,0% Tỷ lệ thừa cân, béo phì ở học sinh nam (35,7%) cao hơn học sinh nữ (23,6%) [13]
Trang 26Tình trạng thừa cân, béo phì ở học sinh từ 6-18 tuổi tại thành phố Hồ Chí Minh đang gia tăng đáng báo động với tỷ lệ thừa cân, béo phì năm 2014 là 41,4%, trong đó béo phì chiếm 19%, béo phì trung tâm là 17,3% [10]
Tại thành phố Thái Bình, kết quả nghiên cứu về tình trạng dinh dưỡng của học sinh 6 trường tiểu học tại cho thấy: trong 2050 trẻ em được khám, có
68 trẻ thừa cân chiếm 3,3%, tình trạng thừa cân tăng dần theo tuổi: trẻ 6 tuổi
tỷ lệ thừa cân là 1,7%; 7 tuổi là 2,3%; 8 tuổi 2,8%; 9 tuổi là 2,8%; 10 tuổi là 6,3%; 11 tuổi tỷ lệ thừa cân cao nhất: 8,3 % [12]
Tại Hà Nội, xét về nhóm tuổi thấy tỷ lệ thừa cân, béo phì cao nhất ở nhóm học sinh 10 tuổi (18,2%), ở nhóm tuổi này có tới 24% học sinh nam và 11,7% học sinh nữ bị thừa cân, béo phì Tiếp đến là nhóm học sinh 11 tuổi (13,0%), với 23,3% (nam) và 3,4% (nữ) bị thừa cân, béo phì Tỷ lệ thừa cân, béo phì thấp nhất ở nhóm học sinh 14 tuổi (6,4%) và nhóm 13 tuổi (7,7%), sự khác biệt giữa các nhóm có ý nghĩa thống kê với p < 0,001 [19]
Trang 27Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Học sinh đang học tại các trường tiểu học trên địa bàn quận Bình Thuỷ, thành phố Cần Thơ
- Phụ huynh của các học sinh được lựa chọn
* Tiêu chí chọn mẫu :
Tiêu chuẩn chọn vào:
- Học sinh đang học tại các trường tiểu học trên địa bàn quận Bình Thuỷ, thành phố Cần Thơ
- Phụ huynh của các học sinh được chọn
Tiêu chuẩn loại ra:
- Đối tượng không đồng ý tham gia nghiên cứu
- Đối tượng vắng mặt trong thời gian điều tra
- Đối tượng mắc các bệnh gây phù làm tăng trọng lượng cơ thể như gan, thận, tim mạch
- Đối tượng không thể thu thập được các chỉ số nhân trắc: gù, vẹo cột
sống, đoạn chi…
2.1.2 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 10 năm 2017 đến tháng 6 năm 2018
2.1.3 Địa điểm nghiên cứu
Các trường tiểu học trên địa bàn quận Bình Thuỷ, thành phố Cần Thơ
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích
Trang 28α = 0,05 (độ tin cậy 95%), thì Z1 – α/2 = 1,96 (tra bảng phân phối bình thường) d: Sai lệch mong muốn giữa tỷ lệ mẫu và tỷ lệ thật của quần thể, chọn d =0,04
Từ công thức trên ta tính được số đối tượng nghiên cứu là 410 Ước tính
số đối tượng nghiên cứu bỏ cuộc điều tra là 10% Vậy điều chỉnh cỡ mẫu sau khi dự trù hiện tượng bỏ cuộc là 450 mẫu
2.2.3 Phương pháp lấy mẫu
Chọn mẫu theo phương pháp chọn ngẫu nhiên nhiều giai đoạn:
- Lập danh sách tất cả các trường tiểu học tại quận Bình Thuỷ
- Chọn ngẫu nhiên 2 trường trong 15 trường bằng cách bốc thăm Kết quả chọn ra 2 trường: Long Tuyền 1, An Thới 2
- Ở mỗi trường chọn 5 khối lớp Mỗi khối chọn ngẫu nhiên 3 lớp Mỗi lớp chọn ngẫu nhiên 15 học sinh
Trang 292.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Nghề nghiệp
của cha,mẹ
Biến định danh, gồm 5 giá trị được định nghĩa như sau:
Nghề nghiệp cha mẹ: nghề làm ra thu nhập nhiều nhất của
cha mẹ
o Buôn bán nhỏ: chủ các doanh nghiệp, bán các sản phẩm mà nhu cầu xã hội cần: tạp hóa, rau, thịt, sữa, trái
cây, quần áo, giày dép, mỹ phẩm, gạo,
o Lao động phổ thông: làm công cho các công ty, nhà máy, xí nghiệp; hưởng lương theo sức lao động
o Công nhân – nông dân: làm các nghề như trồng lúa, chăn nuôi thủy hải sản, các loại thực phẩm khác như ếch,
lương, baba…
o Công nhân viên nhà nước: làm việc cho cơ sở trực thuộc nhà nước, có lương cố định và lương hưu như giáo
viên, nhân viên
o Nghề khác: không thuộc các nghề nghiệp nêu trên
Biến định tính, có 3 giá trị và được định nghĩa như sau:
Kinh tế gia đình: thu nhập bình quân của từng người trong
o Hộ trung bình trở lên là hộ có thu nhập bình quân
đầu người/tháng trên 1.300.000
Trang 30khi mẹ mang thai
Biến định tính, lấy cân nặng lúc gần sinh trừ đi cân nặng lúc trước khi mang thai
Gồm 3 giá trị là dưới 10 kg, 10-15 kg và trên 15 kg
Bú sữa mẹ
Tiền căn mẹ bị
đái tháo đường
khi mang thai
Biến định tính gồm 2 giá trị có, không Mẹ được xem là tiểu đường khi mang thai khi đường huyết > 120 mg/lít hoặc đã có dùng thuốc điều trị tiểu đường
Tiền căn suy
dinh dưỡng của
trẻ
Biến định tính Gồm 2 giá trị: có, không Trẻ được xem
là có suy dinh dưỡng khi đã có điều trị suy dinh dưỡng
Tiền sử uống sữa
công thức
Biến định tính Thời gian được tính từ khi trẻ bắt đầu uống sữa công thức Gồm 3 giá trị: từ khi sinh ra, từ tháng thứ 6, từ tháng thứ 12
Tiền sử bú mẹ
Biến định tính, tính bằng tổng số tháng từ lúc trẻ sinh ra đến tháng trẻ ngưng bú sữa mẹ hoàn toàn Gồm 3 giá trị
Gồm 3 giá trị là: thường xuyên (≥ 4 lần/tuần), thỉnh thoảng (≥ 2-3 lần/tuần), ít khi (<2 lần/tuần)
Trang 31Đặc tính ăn
của trẻ
Biến định tính Gồm 2 giá trị: háu ăn (trẻ ăn dưới 30 phút), ăn bình thường (trẻ ăn ≥ 30 phút)
Tần suất ăn rau
Biến định tính Gồm 3 giá trị: thường xuyên (≥ 4 lần/tuần), thỉnh thoảng (≥ 2-3 lần/tuần), ít khi (< 2 lần/tuần)
thích ăn trái cây
Biến định tính, được định nghĩa dựa trên số lần ăn trái cây của trẻ trên tuần
Gồm 3 giá trị là: thường xuyên (≥ 4 lần/tuần), thỉnh thoảng (≥ 2-3 lần/tuần), ít khi (< 2 lần/tuần)
Mức độ thích ăn
thức ăn nhanh
Biến định tính được định nghĩa dựa trên số lần ăn thức
ăn nhanh của trẻ
Gồm 3 giá trị: thường xuyên (≥ 4 lần/tuần), thỉnh thoảng (≥ 2-3 lần/tuần), ít khi (< 2 lần/tuần)
Mức độ thích ăn
đồ ngọt
Biến định tính Gồm 3 giá trị là thường xuyên (≥ 4 lần/tuần), thỉnh thoảng (≥ 2-3 lần/tuần), ít khi (< 2 lần/tuần)
Mức độ thích ăn
vặt
Biến định tính Gồm 3 giá trị là thường xuyên (≥ 4 lần/tuần), thỉnh thoảng (≥ 2-3 lần/tuần), ít khi (< 2 lần/tuần)
Số lần ăn
trong ngày
Biến định tính
Gồm hai giá trị là ≤ 3 lần/ngày và > 3 lần/ngày
Ăn thêm trong
lúc xem TV
(snack, kẹo)
Biến định tính gồm hai giá trị là có, không
Trang 322.3.2 Tình trạng thừa cân, béo phì
Thừa cân/béo phì: được phân loại theo chỉ số khối cơ thể BMI theo tuổi, giới
quay lưng vào thước đo Đơn vị tính theo centimet, lấy 1 số lẻ
- Cân nặng: trẻ đứng ở giữa bàn cân, không cử động, mắt nhìn thẳng,
trọng lượng dồn vào hai chân Đơn vị được tính theo kilogram, lấy 1 số lẻ
Mức hoạt động
của trẻ
Biến định tính, là thời gian bé chạy, nhảy, chơi thể thao, xếp thành 3 mức độ: ít vận động (< 1 giờ/ngày), có vận động (≥ 1 giờ/ngày)
Thời gian ngồi
học trong ngày
Biến định tính, là tổng thời gian trẻ ngồi học liên tục Gồm 2 giá trị: ≤ 5 giờ/ngày và > 5 giờ/ngày
Thời gian xem
TV Biến định tính gồm hai giá trị là ≤ 2 giờ, > 2 giờ
Bửa ăn thêm vào
buổi tối
trước khi đi ngủ
Biến định tính Gồm 3 giá trị là thường xuyên (≥ 4 lần/tuần), thỉnh thoảng (≥ 2-3 lần/tuần), ít khi (< 2 lần/tuần)
Thời gian ngủ
Thời điểm đi ngủ
của trẻ
Biến định tính Gồm hai giá trị là trước 22 giờ, từ 22 giờ về sau
Phương tiện
đến trường
Biến định tính gồm 3 giá trị là đạp xe đến trường, được cha mẹ đưa, đi bộ
Ý kiến của cha,
Trang 33Bảng 2.1 Bảng phân độ BMI theo tuổi và theo giới
2.4 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu
2.4.1 Công cụ thu thập số liệu:
Cân, thước đo và phiếu điều tra cho cha, mẹ học sinh tự điền
2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu
- Thông tin về chiều cao và cân nặng sẽ được thu thập bằng cách trực
tiếp cân và đo tại nơi mà học sinh đang theo học
- Thông tin chung về ngày, tháng, năm sinh và khối lớp sẽ được thu thập
qua số liệu do trường của học sinh cung cấp
- Các thông tin khác sẽ được thu thập thông qua phiếu điều tra gửi cho
phụ huynh trả lời
2.5 Xử lý và phân tích số liệu
- Số liệu phải được kiểm tra ngay sau khi thu phiếu điều tra về để đảm bảo đầy đủ nội dung, nếu còn thiếu nội dung thì gọi điện hỏi lại đối tượng để
bổ sung cho hoàn chỉnh
- Số liệu sẽ được mã hoá và phân tích bằng phần mềm SPSS 22
Trang 34- Soạn phiếu điều tra phù hợp với trình độ phụ huynh
- Có thể làm phiếu đồng ý, khi phụ huynh đã chấp nhận mới tiến hành
- Người điều tra nhiệt tình, có tinh thần trách nhiệm và được tập huấn kỹ trước khi tiến hành hướng dẫn cho phụ huynh về phiếu điều tra
- Thực hiện thử nghiệm phiếu điều tra trên 30 đối tượng trước khi tiến hành khảo sát chính thức
2.7 Vấn đề y đức
Nghiên cứu đảm bảo người tham gia nghiên cứu không chịu sự tổn hại nào về tinh thần hay thể chất Tham gia của phụ huynh là tự nguyện, người tham gia được quyền lựa chọn tham gia hay từ chối nghiên cứu Những thông tin phỏng vấn được đảm bảo giữ bí mật cho gia đình Kết quả nghiên cứu của chúng tôi sẽ là cơ sở cho các chương trình can thiệp sau này trong cộng đồng
Trang 35Chương 3 KẾT QUẢ
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1 Đặc điểm chung của học sinh được khảo sát
Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu Tần số
(n)
Tỷ lệ (%)
tỷ lệ nhiều hơn với 53,1%
Bảng 3.2 Đặc điểm dinh dưỡng và uống sữa công thức ở trẻ
Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Trẻ từng bị suy dinh dưỡng
Trang 36chiếm tỷ lệ rất thấp với 12,4% và trẻ chưa từng bị suy dinh dưỡng chiếm tỷ lệ cao với 87,6%
Bảng 3.3 Đặc điểm tiền sử của trẻ
Nghiên cứu có tỷ lệ trẻ em mà cân nặng lúc sinh từ 2,5kg đến < 4kg chiếm đa phần đến 90,4% và thấp nhất với cân nặng lúc sinh < 2,5kg là 6%
Về tình hình bú sữa mẹ ở trẻ dao động từ 6 đến 18 tháng chiếm tỷ lệ cao nhất 55,8% và trẻ bú trên 18 tháng chiếm tỷ lệ thấp nhất 16,2%
Bảng 3.4 Đặc điểm chung của cha mẹ trẻ
Yếu tố nghiên cứu Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Trang 37Yếu tố nghiên cứu Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Mẹ khi mang thai
mắc đái tháo đường
Trình độ phụ huynh trong khảo sát có học vấn THPT chiếm tỷ lệ cao nhất với 32% và thấp nhất là mù chữ chiếm 0,7% Nghiên cứu có tỷ lệ gia đình thu nhập trung bình trở lên chiếm tỷ lệ cao 74,9% và thấp nhất là hộ nghèo 9,1% Tình trạng dinh dưỡng của phụ huynh là bình thường chiếm tỷ lệ cao nhất với 95,1% và phụ huynh có thể trạng suy dinh dưỡng chiếm tỷ lệ thấp nhất 1,1% Tỷ lệ mẹ mang thai không bị đái tháo đường ở nhóm trẻ có thừa cân, béo phì cao hơn có đái tháo đường lần lượt là 98% và 2%
3.2 Tình hình thừa cân, béo phì ở học sinh tiểu học và một số yếu tố liên
quan đến thừa cân, béo phì
3.2.1 Tỷ lệ thừa cân, béo phì ở hai trường khảo sát
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ thừa cân, béo phì trong nghiên cứu
Có TC-BP 46,2%
Không BP 53,8%
Trang 38TC-Sơ đồ 3.2 Tỷ lệ thừa cân, béo phì ở 2 trường khảo sát
Tỷ lệ thừa cân, béo phì ở 2 trường khảo sát chiếm 46,2% Trong đó, trường tiểu học An Thới 2 có tỷ lệ học sinh TC-BP là 53,8% cao hơn Long Tuyền 38,7%
Bảng 3.5 Phân bố thừa cân, béo phì giữa các khối
Trang 393.2.2 Một số yếu tố liên quan đến tình trạng thừa cân, béo phì ở trẻ
3.2.2.1 Mối liên quan giữa yếu tố di truyền và tình trạng thừa cân, béo phì được khảo sát
Bảng 3.6 Tình trạng thừa cân, béo phì theo giới
Bảng 3.7 Mối liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng của phụ huynh
và thừa cân, béo phì ở trẻ
Kết quả nghiên cứu cho thấy phụ huynh TC-BP có con TC-BP 60% cao hơn nhóm phụ huynh không TC-BP có con TC-BP 46,2% Sự khác biệt trên không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05)
Trang 40Bảng 3.8 Mối liên quan giữa tiền sử đái tháo đường hay rối loạn chuyển hóa của mẹ khi mang thai trẻ và thừa cân, béo phì
Tiền sử đái tháo
đường của mẹ khi
mang thai
Thừa cân, béo phì
OR (KTC 95%) p
Trẻ TC- BP có mẹ bị đái tháo đường trong thời gian mang thai là 66,7%
và mẹ không bị đái tháo đường trong thời gian mang thai với tỷ lệ 45,9% Sự khác biệt trên chưa có ý nghĩa thống kê (p > 0,05)
3.2.2.2 Mối liên quan giữa trình độ văn hoá, kinh tế của phụ huynh và tình trạng thừa cân, béo phì khảo sát ở trẻ
Bảng 3.9 Học vấn phụ huynh và thừa cân, béo phì ở trẻ
Học vấn
phụ huynh
Thừa cân, béo phì
OR (KTC 95%)
p
Có (%) Không
(%)
Mù chữ 1 (33,3%) 2 (66,7%) 0,551 (0,049-6,219) 0,630 Tiểu học 18 (40%) 27 (60%) 0,735 (0,372-1,452) 0,376