BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ LÂM NHỰT ANH NGHIÊN CỨU TÌNH TRẠNG RỐI LOẠN ĐƯỜNG HUYẾT VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ NGUY CƠ CỦA NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH TỪ 40 – 69 TUỔI TẠI XÃ MỸ KHÁNH, HU[.]
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Người dân từ 40 – 69 tuổi (năm sinh từ 1948 – 1977) đang cư trú tại địa bàn xã Mỹ Khánh, huyện Phong Điền, TP Cần Thơ
- Đối tượng từ 40 – 69 tuổi có hộ khẩu thường trú từ 6 tháng trở lên và đang sinh sống tại địa bàn xã Mỹ Khánh, huyện Phong Điền, TP Cần Thơ
- Đối tượng đồng ý tham gia nghiên cứu
- Đối tượng không lấy được chỉ số nhân trắc (mất tay, gù vẹo cột sống,…)
- Đối tượng đang có các rối loạn về tâm thần hoặc các vấn đề khác ảnh hưởng đến khả năng trả lời phỏng vấn.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian: Từ tháng 4/2017 đến tháng 4/2018
- Địa điểm: Tại cộng đồng dân cư của xã Mỹ Khánh, huyện Phong Điền,
Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích
Cỡ mẫu được tính theo công thức sau: n = Z (1−α/2) 2 xp(1 − p) d 2 𝑥 𝐷𝐸 Trong đó:
- n: Là cỡ mẫu tối thiểu nghiên cứu cần có
- Z (1−α/2) 2 : Là hệ số tin cậy
- α: Là mức ý nghĩa thống kê Với α = 0,05 (độ tin cậy 95%) thì Z (1−α/2) = 1,96
- d = 0,05: Là sai số tuyệt đối
- p = 13,6%: Là tỷ lệ rối loạn dung nạp glucose (RLDNG) tại vùng Tây Nam
Bộ của người dân từ 30-69 tuổi theo nghiên cứu của Lê Văn Trụ và cộng sự năm 2012 [19]
- DE = 2: Là hiệu ứng thiết kế
Thay số vào công thức ta có: n = 1,96 2 x0,136(1 − 0,136)
0,05 2 𝑥2 = 361 Theo kết quả, cỡ mẫu thấp nhất cho nghiên cứu là 361 Cỡ mẫu thu được thực tế là 400
Chọn mẫu nhiều giai đoạn:
- Chọn ấp: Xã Mỹ Khánh có tất cả 8 ấp, bốc thăm ngẫu nhiên chọn ra 4 ấp Các ấp được chọn là: Mỹ Ái, Mỹ Phước, Mỹ Phụng, Mỹ Nhơn Với 400 đối tượng chia đều cho 4 ấp Mỗi ấp lấy tối thiểu 100 đối tượng từ 40 – 69 tuổi
+ Chọn tối thiểu 100 đối tượng từ 40 – 69 tuổi
Từ vị trí đứng tại nhà thông tin của ấp, hãy chọn hướng đi một cách ngẫu nhiên bằng cách bốc thăm, dựa trên số lượng hướng có sẵn tại điểm đứng để đảm bảo tính công bằng và chính xác trong quá trình xuất phát.
Chọn nhà đầu tiên dựa trên hướng đã xác định, kết hợp phỏng vấn và đo chỉ số nhân trắc cùng các chỉ số sức khỏe cho tất cả các đối tượng thuộc nhóm tuổi nghiên cứu để đảm bảo tính chính xác và phù hợp.
Tiếp tục thực hiện quy trình đi qua từng nhà để đảm bảo chọn đủ 100 đối tượng, nếu chưa đạt số lượng sau khi đi hết các con đường thì quay lại điểm ban đầu để bốc thăm hướng đi mới Trường hợp nhà không có ai phù hợp hoặc không phù hợp với đối tượng nghiên cứu, sẽ chuyển sang nhà bên cạnh để thuận lợi cho quá trình khảo sát.
2.3.4 Phương pháp và công cụ thu thập số liệu
2.3.4.1 Các phép đo nhân trắc học và sức khỏe Đối tượng nghiên cứu lần lượt được đo các chỉ số như sau:
Để đo chính xác cân nặng, sử dụng cân Ariranglife AR-S2016B với độ chính xác 0,1kg, trọng lượng cơ thể được ghi bằng đơn vị kg có số lẻ vào phiếu điều tra Khi cân, đối tượng cần mặc quần áo nhẹ, không đi giày dép, mũ hoặc mang vật dụng ảnh hưởng đến kết quả cân Người được cân phải đứng thẳng giữa bàn cân, không cử động, tay thả lỏng hai bên, trọng lượng phân bố đều trên hai chân để đảm bảo độ chính xác Cân cần đặt ở nơi ổn định, bằng phẳng và có đủ ánh sáng để thực hiện đo lường hiệu quả.
Để đo chiều cao chính xác, sử dụng thước gỗ 3 mảnh, đối tượng đứng không mang giày hoặc dép, không đội mũ, quay lưng vào thước đo và giữ lưng thẳng, mắt nhìn thẳng về phía trước Gót chân, mông, vai và chẩm phải tạo thành một đường thẳng áp sát vào thước, tay thả tự nhiên hai bên thân Sử dụng chặn đầu thước từ trên xuống dưới để tiếp xúc với đỉnh đầu, sau đó đọc kết quả chiều cao tính bằng centimet, có số lẻ, rồi ghi vào phiếu điều tra.
Để đo vòng eo chính xác, sử dụng thước dây không co dãn và ghi kết quả theo đơn vị centimet, gồm số lẻ Cách đo vòng eo là xác định điểm giữa của bờ dưới xương sườn cuối và bờ trên mào chậu, theo đường nách giữa, khi đối tượng đứng thoải mái, hai tay thả lỏng, vòng đo đặt ở mặt phẳng nằm ngang.
Để đo vòng mông chính xác, sử dụng thước dây không co dãn và ghi kết quả bằng đơn vị centimet, bao gồm số lẻ Cách đo: Đặt thước vòng quanh phần lớn nhất của mông khi người đo đứng ở tư thế thoải mái, hai tay thả lỏng, và thước đo nằm ngang, đảm bảo đo đúng mức và cho kết quả chính xác.
Đo huyết áp bằng ống nghe và máy đo huyết áp của Nhật được điều chỉnh theo quy định chuẩn, đảm bảo độ chính xác Người đo nên để bệnh nhân nghỉ ngơi ít nhất 15 phút trước khi thực hiện đo huyết áp nhằm đảm bảo kết quả chính xác Phương pháp đo huyết áp chuẩn là đo ở tay, trong tư thế ngồi hoặc nằm, tay để ngang mức tim để tránh sai lệch kết quả Nên thực hiện đo huyết áp hai lần cách nhau để có kết quả đáng tin cậy hơn, góp phần kiểm soát huyết áp hiệu quả.
Kết quả đo huyết áp sẽ được ghi theo đơn vị mmHg và tính trung bình của hai lần đo Nếu chênh lệch giữa hai lần đo vượt quá 10mmHg hoặc huyết áp tối đa trên 140mmHg hoặc huyết áp tối thiểu trên 90mmHg, người đo sẽ được đo lại lần thứ ba sau 15 phút Kết quả cuối cùng sẽ là số đo huyết áp của lần đo thứ ba, đảm bảo chính xác và đáng tin cậy cho quá trình chẩn đoán.
Dựa trên bộ câu hỏi phỏng vấn đã xây dựng và in thành các phiếu điều tra (xem phụ lục 1), tiến hành phỏng vấn trực tiếp đối tượng nghiên cứu nhằm thu thập các nhóm thông tin sau:
- Thông tin chung về nhân khẩu học: năm sinh, giới tính, dân tộc, trình độ học vấn, nghề nghiệp, kinh tế gia đình, tính chất công việc
- Thông tin về các phép đo nhân trắc học và sức khỏe: cân nặng, chiều cao, vòng eo, vòng mông và huyết áp
- Thông tin về tiền sử bản thân và gia đình:
Tiền sử cá nhân mắc các rối loạn đường huyết được xác định qua phỏng vấn hoặc kết quả xét nghiệm chẩn đoán tại cơ sở y tế, cùng với thông tin về loại thuốc đang sử dụng để điều trị Người điều tra cần lưu trữ bằng cách chụp lại hồ sơ Tiền sử rối loạn đường huyết bao gồm hai nhóm chính: tiền sử có tăng glucose máu (tiền ĐTĐ) và tiền sử mắc bệnh ĐTĐ chính thức.
+ Tiền sử THA/Đang dùng thuốc hạ áp? THA bao lâu? Kết quả đo HA hiện tại?
+ Tiền sử có rối loạn lipid máu
+ Tiền sử bệnh ĐTĐ của gia đình
+ Tiền sử thai kỳ (Đối với nữ):
Đối tượng được chẩn đoán ĐTĐ thai kỳ thông qua phỏng vấn trực tiếp hoặc dựa trên kết quả chẩn đoán từ các cơ sở y tế uy tín Quá trình này được ghi nhận chính xác vào phiếu điều tra và lưu trữ bằng hình ảnh chụp lại để đảm bảo thông tin lưu trữ rõ ràng, chính xác và thuận tiện cho các bước tiếp theo trong quá trình khảo sát.
Các yếu tố nguy cơ của rối loạn đường huyết bao gồm lối sống thiếu vận động thể lực và thói quen sinh hoạt không lành mạnh như hút thuốc lá, uống rượu bia, tiêu thụ nhiều dầu mỡ, thức ăn chứa nhiều đường, ít rau quả Những yếu tố này góp phần làm tăng khả năng phát triển các vấn đề về đường huyết, đòi hỏi cần chú trọng thay đổi thói quen để phòng tránh bệnh hiệu quả.
2.3.4.3 Quy trình thu thập số liệu
+ Xây dựng bộ câu hỏi phỏng vấn và in thành phiếu điều tra
Để đảm bảo chất lượng dữ liệu, cần thành lập nhóm nghiên cứu chuyên trách, tổ chức tập huấn cho cộng tác viên và tình nguyện viên về nội dung phiếu điều tra, kỹ thuật đo các chỉ số nhân trắc học và đo huyết áp đúng quy định nhằm hạn chế sai số kỹ thuật Ngoài ra, việc phổ biến cho cộng tác viên về các địa điểm lấy mẫu giúp họ sắp xếp thời gian hợp lý, thông báo rõ ràng cho người dân để thuận tiện trong việc dẫn đường, từ đó tiết kiệm thời gian, chi phí và công sức, nâng cao hiệu quả của công tác khảo sát.
+ Tổ chức đoàn điều tra thu thập số liệu, gồm: 1 CTV + 5 – 7 sinh viên phụ trách thu thập số liệu tại mỗi ấp
+ Sau khi lấy các chỉ số nhân trắc học và sức khỏe, tiến hành tính và phân loại các chỉ số sau:
Chỉ số khối cơ thể (BMI) = Cân nặng (kg)
Chiều cao 2 (m) (kg/m 2 ) phân loại theo Bảng 1.6
Chỉ số vòng eo/vòng mông (WHR) = Vòng eo (cm)
Vòng mông (cm) phân loại theo Bảng 1.7 Chỉ số huyết áp đo được phân loại theo Bảng 1.8
+ Ghi tất cả các thông tin thu được vào phiếu điều tra
2.3.4.4 Công cụ thu thập số liệu
- Ống nghe và máy đo huyết áp kế Nhật Bản
- Các công cụ khác: viết, máy ảnh/điện thoại,…
2.3.5.1 Sơ đồ biến số nghiên cứu
Sơ đồ 2.1: Các biến số trong nghiên cứu
(tuổi, giới tính, dân tộc,….)
CÁC CHỈ SỐ SỨC KHỎE
(BMI, Vòng eo, WHR, THA)
TIỀN SỬ BẢN THÂN VÀ
GIA ĐÌNH CÁC YẾU TỐ/HÀNH VI
2.3.5.2 Các biến số nghiên cứu
Bảng 2.1: Các biến số nghiên cứu
STT Biến số Khái niệm, giá trị Phân loại
Phương pháp thu thập THÔNG TIN CHUNG
1 Tuổi Là tuổi tính theo dương lịch của đối tượng nghiên cứu (lấy năm 2017 trừ đi năm sinh) nhận các giá trị trong độ tuổi từ 40-69 tuổi
Biến định lượng rời rạc
Dựa trên độ tuổi nghiên cứu chia làm 3 nhóm:
3 Giới tính Có 2 giá trị: Nam và Nữ Biến nhị giá
Là công việc mà người dân có thu nhập nhiều nhất và cần nhiều thời gian làm việc, bao gồm các nghề sau:
STT Biến số Khái niệm, giá trị Phân loại
5 Dân tộc Có 2 giá trị:
- Cấp II và cấp II
Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục
- Hạn chế của nghiên cứu:
Bài viết chỉ tập trung mô tả các tỷ lệ về tiền sử rối loạn đường huyết, bao gồm như tiền sử tăng glucose máu hoặc tiểu đường tíềm ẩn (ĐTĐ), mà không tiến hành các xét nghiệm sàng lọc ĐTĐ trong cộng đồng để xác định chính xác tình trạng bệnh.
Nghiên cứu tập trung vào việc xác định các yếu tố và hành vi nguy cơ liên quan đến rối loạn đường huyết, đồng thời mô tả tần số và tỷ lệ xuất hiện của những yếu tố này trong cộng đồng nghiên cứu.
- Các sai số và biện pháp khắc phục:
+ Sai số do chọn mẫu: Tuân thủ quy tắc chọn mẫu ngẫu nhiên, có kế hoạch và quy trình thực hiện
Để giảm thiểu sai số do điều tra viên và đo lường, cần tổ chức tập huấn cho cộng tác viên, điều tra viên và tình nguyện viên về nội dung phiếu điều tra, kỹ thuật thu thập thông tin chính xác và đảm bảo độ tin cậy Quá trình thu thập dữ liệu nhân trắc học và sức khỏe nên thực hiện ít nhất 2-3 lần, với dụng cụ đo được hiệu chỉnh hàng ngày để đảm bảo độ chính xác Việc kiểm tra và xác minh dữ liệu sau mỗi ngày giúp phát hiện và xử lý số liệu nghi ngờ kịp thời Đặc biệt, khi khai thác thông tin về tiền sử bệnh lý, cần giải thích rõ ràng bằng câu đơn giản để người tham gia dễ hiểu, hạn chế sai số nhớ lại và nên xin chứng minh thực tế để lưu trữ, nhằm nâng cao tính chính xác của dữ liệu.
Yếu tố nhiễu trong dữ liệu được xử lý thông qua các bước làm sạch số liệu, phân tầng và chuẩn hóa để loại bỏ tác động không mong muốn, đảm bảo tính chính xác của các biến như tuổi, giới tính, dân tộc Quá trình này giúp nâng cao chất lượng dữ liệu, phục vụ hiệu quả cho các phân tích sau này.
Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
Các đối tượng nghiên cứu sẽ được cung cấp rõ ràng về mục đích và nội dung của nghiên cứu để họ có thể tham gia một cách tự nguyện và hợp tác tích cực Họ có quyền từ chối tham gia bất cứ lúc nào mà không ảnh hưởng đến quyền lợi của mình Thông tin của các đối tượng sẽ được bảo mật tuyệt đối và chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu, chỉ có nhóm nghiên cứu mới được tiếp cận dữ liệu này Trong quá trình nghiên cứu, nếu phát hiện đối tượng có tiền sử rối loạn đường huyết hoặc các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, người nghiên cứu sẽ tư vấn chăm sóc sức khỏe, giới thiệu đến các cơ sở y tế phù hợp để điều trị, kiểm soát bệnh, đồng thời thúc đẩy thay đổi lối sống và hành vi nguy cơ nhằm bảo vệ sức khỏe của đối tượng.
Nghiên cứu đã được sự chấp thuận và phê duyệt bởi Hội đồng đạo đức của Trường Đại học Y dược Cần Thơ, cũng như các cơ quan có thẩm quyền bao gồm UBND và Trung tâm Y tế xã Mỹ Khánh, huyện Phong Điền, TP Cần Thơ, đảm bảo tuân thủ các tiêu chuẩn đạo đức và pháp lý trong nghiên cứu y tế.
KẾT QUẢ
Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Bảng 3 1: Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Thông tin chung Tần số Tỷ lệ (%)
Kinh tế gia đình Nghèo/cận nghèo 38 9,5
Tính chất công việc Lao động nhẹ và vừa 324 81,0
Trong tổng số 400 đối tượng nghiên cứu từ 40-69 tuổi, nhóm tuổi từ 60-69 chiếm tỷ lệ cao nhất với 36,25%, chủ yếu là nữ (63%) và người dân tộc kinh (99,25%) Đối tượng đến từ trình độ học vấn cấp II và III chiếm 43,5%, và nghề nội trợ chiếm 34% Về mặt kinh tế, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo là 9,5%, trong khi phần lớn các công việc của đối tượng thuộc nhóm lao động nhẹ và vừa (81%), phản ánh đặc điểm kinh tế và nghề nghiệp của nhóm nghiên cứu.
Bảng 3 2: Đặc điểm các số đo về nhân trắc học và sức khỏe của đối tượng nghiên cứu
Các chỉ số Tần số Giá trị trung bình ± Độ lệch chuẩn
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tuổi trung bình của các đối tượng là 55 tuổi, cho thấy nhóm nghiên cứu có độ tuổi trung niên Chỉ số BMI trung bình đạt 22,5 kg/m², nằm trong mức bình thường, phản ánh trạng thái cân nặng hợp lý của nhóm Tuy nhiên, chỉ số WHR trung bình là 0,91 vượt quá giới hạn bình thường ở cả nam và nữ, với mức giới hạn là ≤0,9 ở nam và ≤0,85 ở nữ, cho thấy nhiều người trong nhóm có tỷ lệ vòng eo/hông cao, tiềm ẩn nguy cơ về các vấn đề liên quan đến mỡ thừa phân bố không đều.
Tỷ lệ tiền sử rối loạn đường huyết
Bảng 3 3: Tỷ lệ tiền sử rối loạn đường huyết của đối tượng nghiên cứu Tiền sử rối loạn đường huyết Tần số Tỷ lệ (%)
Không 367 91,75 Đái tháo đường Có 31 7,75
Tỷ lệ về tiền sử rối loạn đường huyết lần lượt là tiền ĐTĐ chiếm 8,25% và ĐTĐ chiếm 7,75% trong tổng số 400 đối tượng nghiên cứu.
Mối liên quan giữa tiền sử rối loạn đường huyết và một số yếu tố nguy cơ
Bảng 3 4: Mối liên quan giữa tiền sử rối loạn đường huyết và giới tính
Giới tính Tiền ĐTĐ OR
Có (Tần số,%) Không (Tần số,%)
Giới tính Đái tháo đường OR
Có (Tần số,%) Không (Tần số,%)
Phụ nữ có nguy cơ mắc tiền ĐTĐ và ĐTĐ cao hơn nam giới lần lượt là 1,927 và 2,606 lần Sự khác biệt về tỷ lệ tiền sử rối loạn đường huyết giữa hai giới không có ý nghĩa thống kê đối với tiền ĐTĐ (χ² = 2,511; p > 0,05), nhưng lại có ý nghĩa thống kê đối với ĐTĐ (χ² = 4,489; p < 0,05).
Bảng 3 5: Mối liên quan giữa tiền sử rối loạn đường huyết và nhóm tuổi Nhóm tuổi
Có (Tần số,%) Không (Tần số,%)