1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nghiên cứu kiến thức, thực hành vệ sinh môi trường, vệ sinh cá nhân và các yếu tố liên quan của người dân xã trường long, huyện phong điền, thành phố cần thơ

101 4 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu kiến thức, thực hành vệ sinh môi trường, vệ sinh cá nhân và các yếu tố liên quan của người dân xã Trường Long, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ
Tác giả Lao Ngọc Thanh Thư
Người hướng dẫn ThS. Châu Liễu Trinh
Trường học Trường Đại Học Y Dược Cần Thơ
Chuyên ngành Y tế công cộng
Thể loại Luận văn tốt nghiệp bác sĩ y học dự phòng
Năm xuất bản 2017
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 2,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1. TỔNG QUAN (0)
    • 1.1. Một số khái niệm (11)
    • 1.2. Những ảnh hưởng của việc sử dụng hố xí, xử lý rác không hợp vệ sinh (0)
    • 1.3 Tình hình vệ sinh môi trường, vệ sinh cá nhân trên Thế giới và ở Việt Nam (17)
    • 1.4 Các nghiên cứu liên quan (21)
    • 1.5 Đặc điểm của xã Trường Long, huyện Phong Điền, Thành phố Cần Thơ (23)
  • Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (0)
    • 2.1 Đối tượng nghiên cứu (24)
    • 2.2 Phương pháp nghiên cứu (24)
  • Chương 3. KẾT QUẢ (0)
    • 3.1. Kiến thức, thực hành về sử dụng nhà tiêu, xử lý rác thải và vệ sinh cá nhân của người dân xã Trường Long, huyện Phong Điền, TP Cần Thơ (33)
    • 3.2 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành vệ sinh môi trường, vệ sinh cá nhân của người dân (43)
  • Chương 4. BÀN LUẬN (0)
    • 4.1 Kiến thức, thực hành về vệ sinh môi trường và vệ sinh cá nhân của người dân xã Trường Long, huyện Phong Điền, TP Cần Thơ (53)
    • 4.2 Một số yếu tố liên quan kiến thức, thực hành vệ sinh môi trường, vệ sinh cá nhân của người dân (61)
  • KẾT LUẬN (0)
  • PHỤ LỤC (74)

Nội dung

Kiến thức, thực hành về sử dụng nhà tiêu, xử lý rác thải và vệ sinh cá nhân của người dân xã Trường Long, huyện Phong Điền, TP Cần Thơ .... Nếu không có phương tiện vệ sinh phù hợp, ngườ

Trang 1

LAO NGỌC THANH THƯ

NGHIÊN CỨU KIẾN THỨC, THỰC HÀNH VỆ SINH MÔI TRƯỜNG,

VỆ SINH CÁ NHÂN VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA NGƯỜI DÂN XÃ TRƯỜNG LONG, HUYỆN PHONG ĐIỀN,

Trang 2

nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình

nào khác

Người thực hiện đề tài

Lao Ngọc Thanh Thư

Trang 3

trường, vệ sinh cá nhân và các yếu tố liên quan của người dân xã Trường Long, huyện Phong Điền, TP Cần Thơ năm 2017” tôi đã nhận được sự giúp đỡ của nhiều

người

Trước hết, tôi xin cảm ơn quý thầy cô khoa Y Tế Công Cộng , Ban giám hiệu, hội đồng khoa học, các phòng ban, các bộ môn trường Đại Học Y Dược Cần Thơ đã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện cho em trong thời gian học tập và thực hiện đề tài này

Cám ơn trạm y tế xã Trường Long, huyện Phong Điền, TP Cần Thơ đã cho phép và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thu thập số liệu trong nghiên cứu này

Đặc biệt cám ơn giáo viên hướng dẫn khoa học ThS Châu Liễu Trinh đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong quá trình làm luận văn

Cám ơn bạn bè và gia đình đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu và động viên tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Trong quá trình thực hiện đề tài, do kiến thức bản thân còn nhiều hạn chế nên không thể tránh khỏi sai sót Em rất mong nhận được sự thông cảm của quý Thầy Cô

và các bạn

Người thực hiện đề tài

Lao Ngọc Thanh Thư

Trang 4

CDC Centers for Disease Control and Prevention

Trang 5

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 TỔNG QUAN 3

1.1 Một số khái niệm 3

1.2 Những ảnh hưởng của việc sử dụng hố xí, xử lý rác không hợp vệ sinh 6

1.3 Tình hình vệ sinh môi trường, vệ sinh cá nhân trên Thế giới và ở Việt Nam 9

1.4 Các nghiên cứu liên quan 13

1.5 Đặc điểm của xã Trường Long, huyện Phong Điền, Thành phố Cần Thơ 15

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16

2.1 Đối tượng nghiên cứu 16

2.2 Phương pháp nghiên cứu 16

Chương 3 KẾT QUẢ 25

3.1 Kiến thức, thực hành về sử dụng nhà tiêu, xử lý rác thải và vệ sinh cá nhân của người dân xã Trường Long, huyện Phong Điền, TP Cần Thơ 25

3.2 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành vệ sinh môi trường, vệ sinh cá nhân của người dân 35

Chương 4 BÀN LUẬN 45

4.1 Kiến thức, thực hành về vệ sinh môi trường và vệ sinh cá nhân của người dân xã Trường Long, huyện Phong Điền, TP Cần Thơ 45

4.2 Một số yếu tố liên quan kiến thức, thực hành vệ sinh môi trường, vệ sinh cá nhân của người dân 53

KẾT LUẬN 58

KIẾN NGHỊ 59 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

Bảng 3.2 Kiến thức của người dân về sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh 27

Bảng 3.3 Lý do các HGĐ còn sử dụng nhà tiêu ao cá 28

Bảng 3.4 Thực hành sử dụng nhà tiêu của người dân 29

Bảng 3.5 Kiến thức của người dân về xử lý rác thải sinh hoạt tại hộ gia đình 29

Bảng 3.6 Thực hành của người dân về xử lý rác thải sinh hoạt tại hộ gia đình 30

Bảng 3.7 Kiến thức của người dân về rửa tay bằng xà phòng 31

Bảng 3.8 Sử dụng xà phòng và nguồn nước để rửa tay của người dân 32

Bảng 3.9 Cách rửa tay bằng xà phòng của người dân 33

Bảng 3.10 Mức độ rửa tay bằng xà phòng của người dân tại một số thời điểm rửa tay 33

Bảng 3.11 Tiếp cận thông tin truyền thông về vệ sinh môi trường, vệ sinh cá nhân của người dân 34

Bảng 3.12 Liên quan giữa kiến thức sử dụng nhà tiêu và đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 35

Bảng 3.13 Liên quan giữa kiến thức sử dụng nhà tiêu và đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (tiếp theo) 36

Bảng 3.14 Liên quan giữa kiến thức sử dụng nhà tiêu và tiếp cận thông tin truyền thông của đối tượng nghiên cứu 36

Bảng 3.15 Liên quan giữa thực hành sử dụng nhà tiêu và đặc điểm chung của người dân…… 37

Bảng 3.16 Liên quan giữa thực hành sử dụng nhà tiêu và đặc điểm chung của người dân (tiếp theo) 38

Bảng 3.17 Liên quan thực hành sử dụng nhà tiêu và tiếp cận thông tin truyền thông, sự vận động của địa phương 39 Bảng 3.18 Liên quan giữa kiến thức và thực hành sử dụng nhà tiêu của người dân 39

Trang 7

thông tin của người dân 41 Bảng 3.21 Liên quan đặc điểm chung với thực hành xử lý rác thải của người dân 42 Bảng 3.22 Liên quan giữa kiến thức và thực hành xử lý rác thải của người dân 42 Bảng 3.23 Liên quan giữa đặc điểm chung và kiến thức rửa tay bằng xà phòng của người dân… 43 Bảng 3.24 Liên quan giữa tiếp cận thông tin truyền thông và kiến thức rửa tay bằng

xà phòng của người dân 43 Bảng 3.25 Liên quan đặc điểm chung của người dân với thực hành rửa tay bằng xà phòng của người dân 44 Bảng 3.26 Liên quan kiến thức với thực hành rửa tay bằng xà phòng của người dân… 44

Trang 8

Biểu đồ 3.2 Phân bố nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu 26

Biểu đồ 3.3 Các loại hố xí hộ gia đình đang sử dụng 28

Biểu đồ 3.4 Thực hành xử lý rác hợp vệ sinh của người dân 31

Biểu đồ 3.5 Thực hành rửa tay bằng xà phòng của người dân 34

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

Các bệnh liên quan đến vệ sinh môi trường và vệ sinh cá nhân là vấn đề sức khỏe lớn ở nhiều nước trên thế giới và ở Việt Nam Trên toàn thế giới, ước tính có khoảng 2,5 tỷ người thiếu điều kiện vệ sinh cơ bản (hơn 35% dân số thế giới)[27], chất thải từ các cá nhân bị nhiễm bệnh có thể làm ô nhiễm đất và nước của cộng đồng, làm tăng nguy cơ nhiễm trùng cho các cá nhân khác Nếu không có phương tiện vệ sinh phù hợp, người ta thường không có lựa chọn nào khác ngoài việc sống và sử dụng nước từ một môi trường bị ô nhiễm chất thải từ những người bị nhiễm bệnh, do

đó tự đặt mình vào nguy cơ nhiễm trùng trong tương lai[27] Xử lý chất thải không đầy đủ dẫn đến chu kỳ nhiễm trùng của nhiều tác nhân có thể lây lan qua đất, thức

ăn, nước và côn trùng bị ô nhiễm như ruồi Dân số tăng nhanh kéo theo việc phát sinh chất thải rắn ngày càng nhiều gây sức ép lên môi trường nặng nề Theo một nghiên cứu của Tổ chức Greenpeace, thì đại dương trên khắp thế giới cũng đã trở thành một bãi rác khổng lồ với gần 6,5 triệu tấn rác thải chứa trong nó Theo WHO ước tính hơn

2 triệu người tử vong mỗi năm do hít phải không khí bị ô nhiễm trong nhà và ngoài trời, đồng thời có khoảng 40 triệu trẻ em mắc các bệnh liên quan đến rác thải[25] Các số liệu của UNICEF cho biết mỗi ngày, vẫn có 1.400 trẻ em dưới 5 tuổi tử vong

do các bệnh về tiêu chảy do thiếu nước sạch, vệ sinh môi trường và vệ sinh cá nhân gây ra[21]

Trong những năm gần đây, Việt Nam đã đạt được những tiến bộ đáng kể trong việc cung cấp nước sạch và phương tiện vệ sinh cho người dân nông thôn với các tiêu chí xây dựng “Nông thôn mới” được bắt đầu thực hiện từ năm 2008[17] Tuy nhiên vẫn còn nhiều hộ không có nhà tiêu hợp vệ sinh để sử dụng, không tiếp cận được nguồn nước sạch hoặc không khả năng chi trả để sử dụng nước sạch, vẫn còn tích trữ nước mưa hoặc sử dụng nước sông, nước giếng trực tiếp mà chưa qua xử lý dẫn đến nhiều nguy cơ nhiễm bệnh từ nguồn nước không an toàn đó Qua một nghiên cứu điều tra trong năm 2006 do Bộ Y tế và UNICEF Việt Nam tiến hành, chỉ có khoảng 15.6% người được phỏng vấn thực hành rửa tay bằng xà phòng sau khi đi vệ sinh,

Trang 10

18% hộ gia đình có nhà tiêu hợp vệ sinh theo tiêu chuẩn 08/2005/QĐ-BYT do Bộ Y

tế ban hành[35] Trên 60 triệu dân sống ở nông thôn, riêng chất thải rắn sinh hoạt đã lên tới khoảng 6,6 triệu tấn mỗi năm[19], trong khi rác thải, nước thải sinh hoạt đa phần thải trực tiếp xuống sông chưa qua xử lý đã dẫn đến rất nhiều vụ dịch liên quan bệnh truyền nhiễm như các bệnh về da, mắt và đặc biệt là các bệnh lây theo đường phân – miệng như tả, lỵ, thương hàn, tiêu chảy….đã và đang xảy ra ở Việt Nam Điều này làm ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe người dân và gây ô nhiễm môi trường

Theo thống kê của trạm y tế xã Trường Long năm 2016, vẫn còn 7,5% hộ gia đình sử dụng cầu tiêu ao cá, tỷ lệ xử lý rác không hợp vệ sinh còn cao 21% và chưa

có thống kê về vệ sinh cá nhân nên việc đánh giá hình hình vệ sinh môi trường, vệ sinh cá nhân tại đây sẽ giúp cho việc đánh giá tình hình thực tế, tìm hiểu một số yếu

tố liên quan từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp để nâng cao sức khỏe người dân, cải

thiện tình trạng ô nhiễm môi trường Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi thực

hiện đề tài “Nghiên cứu kiến thức, thực hành vệ sinh môi trường, vệ sinh cá nhân

và các yếu tố liên quan của người dân xã Trường Long, huyện Phong Điền, Thành phố Cần Thơ năm 2017”

Mục tiêu nghiên cứu:

1 Xác định tỷ lệ người dân có kiến thức, thực hành đúng về sử dụng nhà vệ sinh,

xử lý rác thải và vệ sinh cá nhân tại xã Trường Long, huyện Phong Điền, TP Cần Thơ năm 2017

2 Tìm hiểu một số yếu tố liên quan kiến thức và thực hành vệ sinh môi trường,

vệ sinh cá nhân của người dân xã Trường Long, huyện Phong Điền, Thành phố Cần Thơ năm 2017

Trang 11

1 Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Định nghĩa nhà tiêu hợp vệ sinh

- Nhà tiêu quy định trong tiêu chuẩn của Bộ Y tế bao gồm 4 loại: nhà tiêu hai ngăn

ủ phân tại chỗ, nhà tiêu chìm có ống thông hơi, nhà tiêu thấm dội nước, nhà tiêu tự hoại dùng cho gia đình Các loại nhà tiêu này được Bộ Y tế quy định là nhà tiêu hợp

vệ sinh về mặt kỹ thuật và đảm bảo các yêu cầu sau[4]:

+ Cô lập được phân người, ngăn không cho phân chưa được xử lý tiếp xúc với người, động vật và côn trùng

+ Có khả năng tiêu diệt được tác nhân gây bệnh có trong phân (vi rút, vi khuẩn, đơn bào, trứng giun, sán) và không làm ô nhiễm môi trường xung quanh

Qua khảo sát, trong các loại nhà tiêu hợp vệ sinh, nhà tiêu thấm dội nước và nhà tiêu

tự hoại là 2 loại nhà tiêu đang được người dân tại xã Trường Long, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ sử dụng phổ biến Theo quyết định số 08/2005/QĐ-BYT tiêu chuẩn về xây dựng, sử dụng và bảo quản nhà tiêu như sau[4]:

1.1.1.1 Nhà tiêu thấm dội nước

- Quy định về xây dựng : Không xây dựng ở nơi thường bị ngập, úng; Cách nguồn

nước ăn uống, sinh hoạt từ 10m trở lên; Bể chứa phân không bị lún, sụt, thành bể cao hơn mặt đất ít nhất 20cm; Nắp bể chứa phân được trát kín, không bị rạn nứt; Mặt sàn nhà tiêu nhẵn phẳng và không đọng nước; Bệ xí có nút nước; Nước từ bể chứa phân hoặc đường dẫn phân không thấm, tràn ra mặt đất

- Quy định về sử dụng và bảo quản : Có đủ nước dội, dụng cụ chứa nước dội không

có bọ gậy; Không có mùi hôi, thối; Sàn nhà tiêu sạch, không có rêu trơn, giấy, rác; Giấy vệ sinh bỏ vào lỗ tiêu (nếu là giấy tự tiêu) hoặc bỏ vào dụng cụ chứa giấy bẩn

có nắp đậy; Không có ruồi hoặc côn trùng trong nhà tiêu; Bệ xí sạch, không dính,

đọng phân; Nhà tiêu được che chắn kín, ngăn được nước mưa

Trang 12

1.1.1.2 Nhà tiêu tự hoại

- Quy định về xây dựng: Bể xử lý gồm 3 ngăn; Bể chứa phân không bị lún, sụt;

Nắp bể chứa phân được trát kín, không bị rạn nứt; Mặt sàn nhà tiêu nhẵn phẳng và không đọng nước; Bệ xí có nút nước; Có ống thông hơi

- Quy định về sử dụng và bảo quản: Có đủ nước dội, dụng cụ chứa nước dội không

có bọ gậy; Không có mùi hôi, thối; Nước từ bể xử lý chảy vào cống hoặc hố thấm,

không chảy tự do ra xung quanh; Sàn nhà tiêu sạch, không có rêu trơn, giấy, rác; Giấy

vệ sinh bỏ vào lỗ tiêu (nếu là giấy tự tiêu) hoặc bỏ vào dụng cụ chứa giấy bẩn có nắp

đậy; Không có ruồi hoặc côn trùng trong nhà tiêu; Bệ xí sạch, không dính, đọng phân; Nhà tiêu được che chắn kín, ngăn được nước mưa[4]

1.1.2 Định nghĩa, phân loại và thành phần rác thải

1.1.2.1 Một số định nghĩa liên quan rác thải và xử lý rác thải

Theo Nghị định của chính phủ số 38/2015/NĐ-CP, các loại chất thải được định nghĩa như sau[8]:

- Chất thải rắn (CTR) là chất thải ở dạng rắn hoặc sệt (còn gọi là bùn thải) được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác

- Chất thải thông thường là chất thải không thuộc danh mục chất thải nguy hại hoặc thuộc danh mục chất thải nguy hại nhưng có yếu tố nguy hại dưới ngưỡng chất thải nguy hại

- Chất thải rắn sinh hoạt (còn gọi là rác sinh hoạt) là chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt hằng ngày của con người

- Xử lý chất thải là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật (khác với sơ chế) để làm giảm, loại bỏ, cô lập, cách ly, thiêu đốt, tiêu hủy, chôn lấp chất thải và các yếu tố nguy hại có trong chất thải

1.1.2.2 Phân loại chất thải rắn

Theo hướng dẫn thu gom và phân loại rác thải hộ gia đình năm 2013 do Chương trình phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) phân loại rác thải như sau [10]:

Trang 13

- Rác hữu cơ dễ phân hủy là các loại rác thải có khả năng tự phân hủy trong môi trường tự nhiên sau một thời gian ngắn, như: lá cây, rau quả, vỏ trái cây, xác động vật, phân động vật,

- Rác thải khó phân hủy là các loại rác thải có khả năng tồn lưu trong môi trường tự nhiên rất lâu, như: vải vụn, bao nhựa, chai nhựa, bóng đèn, tóc, lốp xe, giấy kẹo, giầy da, xốp,

- Chất thải rắn nguy hại là chất thải rắn chứa các chất hoặc hợp chất có một trong những đặc tính: phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc các đặc tính nguy hại khác Rác thải nguy hại đồng ruộng là các loại rác thải nguy hại thải bỏ trong quá trình hoạt động sản xuất nông nghiệp, chủ yếu là các bao

bì, chai lọ đựng hóa chất bảo vệ thực vật sau khi sử dụng

1.1.3 Vấn đề vệ sinh cá nhân

Vệ sinh cá nhân là những hoạt động hằng ngày nhằm giúp giữ vệ sinh cơ thể như rửa tay (trước khi chế biến thức ăn, trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh, sau khi tiếp xúc người bệnh….), đánh răng (sáng sớm và trước khi đi ngủ ), tắm gội…

Trong nghiên cứu này chúng tôi xin đề cập đến vệ sinh cá nhân có nghĩa là rửa tay bằng xà phòng, vì đây là một hoạt động đơn giản nhưng có thể mang lại lợi ích to lớn giúp con người tránh được nhiều bệnh tật như bệnh lây qua đường tiêu hóa, các bệnh da liễu, các bệnh phụ khoa/nam khoa do kém vệ sinh…không chỉ cho cá nhân

mà còn hạn chế việc lây lan một số bệnh truyền nhiễm cho nhiều người

- Theo hướng dẫn của Bộ Y tế Việt Nam, rửa tay đúng cách gồm 6 bước như sau:

Bước 1: Làm ướt 2 lòng bàn tay bằng nước Lấy xà phòng và chà 2 lòng bàn tay vào nhau

Bước 2: Chà lòng bàn tay này lên mu và kẽ ngoài các ngón tay của bàn tay kia và ngược lại

Bước 3: Chà 2 lòng bàn tay vào nhau, miết mạnh các kẽ trong ngón tay

Bước 4: Chà mặt ngoài các ngón tay của bàn tay này vào lòng bàn tay kia

Bước 5: Dùng bàn tay này xoay ngón cái của bàn tay kia và ngược lại

Trang 14

Bước 6: Xoay các đầu ngón tay này vào lòng bàn tay kia và ngược lại Rửa sạch tay dưới vòi nước chảy đến cổ tay và làm khô tay

Chú ý: Mỗi bước “chà” 5 lần Thời gian rửa tay tối thiểu 30 giây

- Các thời điểm rửa tay theo khuyến cáo của Bộ y tế Việt Nam: Trước khi ăn và

trước khi cho trẻ ăn; Trước khi chế biến thức ăn; Sau khi sử dụng hố xí; Sau khi vệ sinh cho trẻ; Sau khi lao động

- Theo CDC khuyến cáo, các thời điểm nên rửa tay bằng xà phòng: Trước, trong

và sau khi chuẩn bị thức ăn; Trước khi ăn thức ăn; Trước và sau khi chăm sóc người

bị bệnh; Trước và sau khi điều trị vết cắt hoặc vết thương; Sau khi sử dụng nhà vệ sinh; Sau khi thay tã hoặc lau dọn một đứa trẻ đã sử dụng nhà vệ sinh; Sau khi ho hoặc nhảy mũi; Sau khi chạm vào động vật, thức ăn chăn nuôi, hoặc chất thải động

vật; Sau khi xử lý thức ăn vật nuôi hoặc vật nuôi xử lý; Sau khi chạm vào rác [32] 1.2 Những ảnh hưởng của việc sử dụng nhà tiêu, xử lý rác không hợp vệ sinh 1.2.1 Những ảnh hưởng của việc sử dụng nhà tiêu không hợp vệ sinh

Phân người, nếu không được thu gom và xử lý hợp vệ sinh gây nên nhiều loại bệnh tật, trong đó phải kể đến bệnh tiêu chảy, giun sán, ngoài da, phụ khoa, mắt và các bệnh khác [18] Bên cạnh đó, không có nhà tiêu để sử dụng hoặc sử dụng nhà tiêu không hợp vệ sinh, chất thải từ các cá thể bị nhiễm bệnh (chủ yếu là phân và nước tiểu) có thể làm ô nhiễm đất và nước của cộng đồng, làm tăng nguy cơ lây nhiễm cho các cá nhân khác Xử lý chất thải hợp lý có thể làm chậm chu kỳ lây nhiễm của nhiều tác nhân gây bệnh, làm giảm sự lây lan của nhiều bệnh/ tác nhân có thể gây ra bệnh tật và tử vong lan rộng Theo thống kê của Bộ Y tế năm 2008 các bệnh liên quan đến nước: tiêu chảy, hội chứng lỵ, lỵ trực khuẩn là 3 trong số 10 bệnh có tỷ lệ mắc cao nhất, trong đó tiêu chảy là bệnh đứng thứ 6 trong các bệnh có tỷ lệ tử vong lớn nhất (0,009/100.000 dân) Năm 2009 tình hình cũng chưa được cải thiện, tỷ lệ mắc trên 100.000 dân với bệnh tiêu chảy là 1081,66 ; tả là 0,56 ; lỵ trực khuẩn là 30,55 ; lỵ amip là 10,97 ; thương hàn là 1,77 Số mắc thương hàn ở trẻ em năm 2008 là 1316 trẻ, bệnh tả là 1049 trẻ Năm 2009 các tỷ lệ này có giảm (thương hàn 823 trẻ và tả

474 trẻ), nhưng tỷ lệ chết không thay đổi (Cục Y tế dự phòng, 2008, 2009) [18] Vì

Trang 15

vậy, phân người cần được thu gom, xử lý để tiêu diệt các vi khuẩn gây bệnh bằng các loại nhà tiêu hợp vệ sinh

Ngoài ra, chất thải của con người không được xử lý có thể ảnh hưởng đến toàn

bộ cộng đồng, ảnh hưởng đến nhiều mặt của cuộc sống hàng ngày và một nguy cơ nghiêm trọng cho sức khoẻ Hơn nữa, báo cáo rằng mỗi năm số trẻ em chết vì bệnh tiêu chảy cao hơn do HIV, sốt rét và lao phổi kết hợp Vấn đề này có thể được giải quyết một cách đơn giản bằng cách cung cấp và cải thiện nước và các công trình vệ sinh

1.2.2 Những ảnh hưởng của việc xử lý rác thải không hợp vệ sinh

Quá trình phát sinh rác thải gắn liền với quá trình sinh hoạt và sản xuất của con người Trong những năm gần đây bộ mặt nông thôn Việt Nam nói chung và xã Trường Long nói riêng, đời sống và kinh tế người dân đã có nhiều chuyển biến tích cực từ nông nghiệp chuyển dẫn sang nền kinh tế phi nông nghiệp như tiểu thủ công nghiệp, các làng nghề, du lịch Song song với sự chuyển biến tích cực, nông thôn Việt Nam vẫn còn bộc lộ những hạn chế, yếu kém: phát triển thiếu quy hoạch, tự phát, có khoảng 23% xã có quy hoạch nhưng chất lượng quy hoạch chưa cao Kết cấu hạ tầng kỹ thuật

và hạ tầng xã hội còn lạc hậu, vệ sinh môi trường nông thôn còn nhiều vấn đề bất cập[1] Dẫn đến phát sinh nhiều rác thải nhưng lại không được xử lý phù hợp dẫn đến

ô nhiềm môi trường đất, nước, không khí và ảnh hưởng sức khỏe con người Việc xử

lý chất thải không thích hợp làm cho chu kỳ lây nhiễm của nhiều chất có thể lây lan qua đất, thực phẩm, nước và côn trùng bị ô nhiễm như ruồi

1.2.2.1 Ảnh hưởng của rác thải sinh hoạt không xử lý đúng cách lên môi trường

Đối với môi trường đất: Tại Việt Nam, hoạt động phân loại rác thải tại nguồn chưa được phát triển rộng rãi, điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật còn hạn chế, phần lớn phương tiện thu gom rác thải không đạt quy chuẩn kỹ thuật và không đảm bảo vệ sinh môi trường Các điểm tập kết rác thải (điểm hẹn, trạm trung chuyển) chưa được đầu tư xây dựng đúng mức, gây mất vệ sinh Tại nhiều khu vực, hệ thống vận chuyển chưa đáp ứng nhu cầu vận chuyển rác thải hàng ngày, gây tình trạng tồn đọng rác thải trong khu dân cư Nhìn chung, tất cả các giai đoạn quản lý rác thải từ

Trang 16

khâu thu gom, vận chuyển đến khâu xử lý (chôn lấp, đốt) đều gây ô nhiễm môi trường Tại các bãi rác, bãi chôn lấp rác thải không hợp vệ sinh, không có hệ thống xử lý nước rác đạt tiêu chuẩn, hóa chất và vi sinh vật từ rác thải dễ dàng thâm nhập gây ô nhiễm đất, nước và ô nhiễm không khí [1]

1.2.2.2 Tác hại của rác thải đối với sức khỏe người dân

Lượng rác thải ngày càng gia tăng nhưng không được xử lý hoặc xử lý không triệt để, không đúng cách ngoài ảnh hưởng đến môi trường đất, nước, không khí còn ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp rất lớn đến sức khỏe cộng đồng Các vật dụng khó phân huỷ không dùng được nữa mà thải bừa bãi ra xung quanh thì môi trường ngày càng chứa nhiều loại vật gây mất vệ sinh và mất mỹ quan, tạo cơ hội cho các loài nấm

và vi khuẩn, côn trùng độc hại phát triển gây độc hại cho con người Tác động của rác thải đến sức khỏe cộng đồng: Trong thành phần rác thải sinh hoạt, thông thường hàm lượng hữu cơ chiếm tỷ lệ lớn Các loại rác hữu cơ dễ phân huỷ gây hôi thối, phát triển vi khuẩn làm ô nhiễm môi trường không khí, nước, đất, làm mất vệ sinh môi trường và ảnh hưởng tới đời sống mọi người Khu tập trung rác hữu cơ là nơi thu hút, phát sinh và phát triển chuột, ruồi, muỗi, gián và các loại vi trùng gây nhiều chứng bệnh truyền nhiễm cho con người, vật nuôi trong gia đình và lây lan gây thiệt hại lớn; nước thải từ bãi rác độc hại nếu thải ra nguồn nước gây ô nhiễm lây lan

Đất bị ô nhiễm trực tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe con người thông qua tiếp xúc trực tiếp với đất hoặc qua đường hô hấp do sự bốc hơi của chất gây ô nhiễm đất; thông qua sự xâm nhập của ô nhiễm đất vào tầng nước ngầm Ảnh hưởng của ô nhiễm nước đối với sức khỏe cộng đồng chủ yếu thông qua hai con đường: do ăn uống phải nước bị ô nhiễm hay các loại rau quả, thủy hải sản được nuôi trồng trong nước bị ô nhiễm và do con người tiếp xúc với môi trường nước bị ô nhiễm trong quá trình sinh hoạt và lao động gây ra Theo thống kê của Bộ Y tế, gần một nửa trong số 26 bệnh truyền nhiễm có nguyên nhân liên quan tới nguồn nước bị ô nhiễm Trong số các bệnh khác nhau liên quan đến nước thì các bệnh thường gặp là tiêu chảy do vi rút Rota, dịch tả, thương hàn và phó thương hàn, viêm gan, viêm dạ dày ruột tiêu chảy, viêm não, giun sán, đau mắt hột, các bệnh do muỗi truyền…Theo những nghiên cứu

Trang 17

mới đây, có khoảng 33 triệu người có nguy cơ nhiễm, mắc giun sán tại Việt Nam Trong đó, có 13 tỉnh thành có tỷ lệ người nhiễm, mắc rất cao (62,7%) và có 24 địa

phương có tỷ lệ người mắc chiếm trên 30% dân số[1]

1.2.3 Những lợi ích của việc thực hành vệ sinh cá nhân đúng cách

Trong các hoạt động vệ sinh cá nhân, rửa tay thường xuyên bằng xà phòng khi được thực hiện đúng cách, là cách đơn giản nhất để ngăn ngừa sự lây lan của các bệnh truyền nhiễm Có thể làm giảm đáng kể sự lây lan của các bệnh truyền nhiễm ở trẻ

em và cả người lớn Các bệnh có thể được giảm bớt bằng việc rửa tay tốt như: các bệnh lây lan qua đường truyền qua đường tiêu hóa, bao gồm các tác nhân như salmonellosis, shigellosis, viêm gan A, giardiasis, enterovirus, amebiasis và campylobacteriosis Bởi vì những bệnh này lây lan qua việc nuốt phải những phân tử nhỏ nhất của phân bám trên tay hoặc thức ăn, nước uống bị lây nhiễm bởi tay của người có chứa vi khuẩn gây bệnh Vì vậy, rửa tay bằng xà phòng thường xuyên là rất quan trọng

Các bệnh lây lan qua tiếp xúc gián tiếp với chất bài tiết qua đường hô hấp cũng

có thể được giảm bớt bằng việc rửa tay tốt Các vi sinh vật có thể lây truyền qua tuyến đường này bao gồm cúm, Streptococcus, Virus và bệnh cảm thông thường Bởi vì những bệnh này có thể lan truyền gián tiếp bằng tay bị nhiễm bẩn Các chất bài tiết qua đường hô hấp của người bệnh, bệnh có thể tránh bằng cách rửa tay sau khi ho hoặc nhảy mũi và sau khi bắt tay với những người đã ho và hắt hơi Bệnh cũng có thể lây lan khi tay bị ô nhiễm nước tiểu, nước bọt hoặc các chất cơ thể ẩm ướt khác Các

vi sinh vật truyền qua một hoặc nhiều chất cơ thể bao gồm cytomegalovirus, thương hàn, tụ cầu và vi rút Epstein-Barr Những sinh vật này có thể lây truyền từ người sang người hoặc gián tiếp thông qua thực phẩm hoặc đồ vật như đồ chơi [37]

1.3 Tình hình vệ sinh môi trường, vệ sinh cá nhân trên Thế giới và ở Việt Nam 1.3.1 Tình hình trên thế giới

Theo WHO (Tổ chức y tế Thế giới), vào năm 2015 có 68% dân số thế giới đã được sử dụng các phương tiện vệ sinh cải tiến; trong 2,3 tỷ người không có các phương tiện vệ sinh cơ bản như nhà tiêu và nước sạch, có 892 triệu người vẫn còn đi

Trang 18

vệ sinh bừa bãi, ví dụ ở các đường phố, sau những cây bụi hoặc vào các vùng nước Tại Nam Á, năm 2010, 47% dân số sử dụng các thiết bị vệ sinh được cải thiện so với 22% vào năm 1990 Tiểu vùng Sahara ở Châu Phi đã có tiến bộ chậm hơn, với tỷ lệ

vệ sinh tăng từ 24% lên 30% vào năm 2015[31] Theo WHO năm 2015 có 39% dân

số thế giới (2,9 tỷ người) được tiếp cận công trình vệ sinh an toàn[39] Hầu hết các quốc gia ở Châu Phi đều có độ bao phủ dưới 50% các phương tiện rửa tay cơ bản [39]

Mỗi năm có khoảng 8 triệu tấn rác thải nhựa được đổ vào các đại dương trên toàn thế giới Mối đe doạ do quản lý chất thải kém đặc biệt thể hiện rõ ở các quốc gia

có thu nhập thấp, nơi tỷ lệ thu gom rác thường dưới 50% Các đống rác dọc bờ sông, khói dày đặc từ việc đốt rác, chất thải độc hại, hơi cay, ruồi muỗi và các loài gặm nhấm tràn lan là một trong những nguyên nhân gây ra ô nhiễm môi trường Bên cạnh

đó, việc tăng dân số tự nhiên, việc di cư dân số về các đô thị, đô thị hóa và phát triển kinh tế cũng làm cho lượng chất thải đang ngày càng trở nên quá tải đối với các hệ thống quản lý Trong báo cáo “Đánh giá toàn cầu về quản lý chất thải rắn” năm 2012, Ngân hàng Thế giới (WB) nhận định, khối lượng rác thải ngày càng lớn của cư dân

đô thị đang là một thách thức lớn không kém gì tình trạng biến đổi khí hậu, và chi phí

xử lý rác thải sẽ là gánh nặng đối với các quốc gia nghèo khó, đặc biệt là ở châu Phi[25]

Nghiên cứu bệnh tật toàn cầu năm 2015 đã báo cáo rằng tỷ lệ mắc các bệnh do không rửa tay đã giảm đều đặn kể từ những năm 1990 Đầu tư vào việc giảm ô nhiễm môi trường chủ yếu được thúc đẩy bởi giảm tỷ lệ tử vong và gánh nặng bệnh tật do nước, điều kiện vệ sinh và vệ sinh cá nhân Giữa năm 2005 và 2015, số ca tử vong toàn cầu do sử dụng nước không an toàn và không rửa tay bằng xà phòng hơn 12%, trong khi DALY giảm hơn 20%

1.3.2 Tình hình ở Việt Nam

1.3.2.1 Tình hình sử dụng hố xí

Theo thống kê của Unicef tại Việt Nam, tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nhà tiêu hợp

vệ sinh đạt khoảng 79% Tuy nhiên, hơn một nửa số hộ gia đình dân tộc thiểu số

Trang 19

không có nhà tiêu hợp vệ sinh[22] Theo báo cáo chương trình mục tiêu Quốc gia giai đoạn 2011-2015, Việt Nam có khoảng 65% nhà tiêu đạt tiêu chuẩn hợp vệ sinh; và tỷ

lệ này khác nhau giữa các vùng miền trong đó Đồng bằng Sông Hồng 79%, Bắc Trung

Bộ 85% , Duyên Hải miền Trung 72%, Đông Nam Bộ 86% và 3 vùng có tỷ lệ hố xí hợp vệ sinh thấp là miền núi phía Bắc 58%; Tây Nguyên 61%, đồng bằng sông Cửu Long 57% [9] [6]

Thống kê của Unicef và Bộ y tế Việt Nam, năm 2007 có đến 25% số hộ gia đình nông thôn Việt Nam không có nhà tiêu, phải đi vệ sinh nhờ hoặc đi tiêu bừa bãi ngoài môi trường[35] Ở Việt Nam có đến hơn 28,6% dân số nông thôn vẫn đang sử dụng nhà tiêu không hợp vệ sinh, gồm 8,6% sử dụng nhà tiêu lộ thiên[22]

Theo chương trình phát triển liên hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam 1,1% dân số thành thị và 8,6% dân số nông thôn không có nhà vệ sinh cho đại tiện Tình trạng không có nhà vệ sinh cho đại tiện chủ yếu xảy ra đối với người nghèo 22,9% và các nhóm dân tộc thiểu số (27,5%) Ba vùng có mức sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh thấp nhất là ĐBSCL, Tây Nguyên và miền núi phía Bắc [36]

Kết quả điều tra của WHO năm 2011, Có 30,1% số hộ nông thôn Việt Nam đang

sử dụng phân người trong sản xuất nông nghiệp, nuôi cá Đa số những hộ này không

ủ phân hoặc ủ phân không đủ thời gian quy định Đây là một trong những nguyên nhân quan trọng góp phần gây ô nhiễm phân người ra nguồn nước và môi trường xung quanh [18] Trong số hộ có nhà tiêu thì 82% là nhà tiêu không đạt tiêu chuẩn vệ sinh về xây dựng hoặc về sử dụng theo Quyết định số 08/2005/QĐ-BYT[18] Có hơn

80 phần trăm của người dân - hoặc 50 triệu người Việt Nam, trong đó có 18 triệu trẻ

em không có nhà tiêu đáp ứng yêu cầu của Chính phủ[35]

Thực hiện chiến lược Quốc gia của Thủ tướng Chính phủ, mục tiêu đến năm 2020: tất cả cư dân nông thôn sử dụng nước sạch đạt tiêu chuẩn quốc gia với số lượng ít nhất 60 lít/người/ngày, sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh và thực hiện tốt vệ sinh cá nhân [15]

Trang 20

1.3.2.2 Tình hình xử lý rác thải

Báo cáo đánh giá lĩnh vực cấp nước và vệ sinh môi trường Việt Nam cho thấy, năm 2011 của WHO, việc thu gom, xử lý rác thải cũng bắt đầu được quan tâm, khoảng 3.310 xã và thị trấn có tổ thu gom rác thải, đạt 32% trên tổng số 9.728 xã trên cả nước [18]

Nghiên cứu của Nguyễn Xuân Hoàng năm 2011 về quản lý chất thải rắn vùng đồng bằng sông Cửu Long, thống kê lượng rác thải bình quân mỗi người là khoảng 0,55kg/ngày và thành phần chủ yếu là rác dễ phân hủy (thực phẩm thừa) 65 – 95% [29] Số lượng chất thải phát sinh hàng năm ở Việt Nam xấp xỉ 15 triệu tấn, trong đó chiếm phần lớn (80%) là chất thải đô thị, phần lớn chất thải này được được thải ra bãi chôn lấp hoặc mở các bãi rác Còn lại là chất thải công nghiệp (17%), chất thải y tế

từ các bệnh viện (0,14%) và các chất thải khác[29]

Theo báo cáo của Bộ xây dựng cho thấy tỷ lệ thu gom chất thải rắn trung bình

ở các đô thị trong cả nước năm 2008 đạt khoảng 80% (một số đô thị đạt cao hơn như

Hà Nội đạt khoảng 90%, TP Hồ Chí Minh đạt 97%; một số địa phương đạt thấp như Bắc Kạn đạt 50%; Cà Mau đạt 63%) Tỷ lệ chất thải rắn đô thị được xử lý hợp vệ sinh trung bình cả nước năm 2008 đạt 23% Tỷ lệ này đạt thấp so với tỷ lệ thu gom chất thải rắn vì hiện trong tổng số 91 bãi chôn lấp chất thải rắn trong cả nước mới chỉ

có 17 bãi chôn lấp chất thải rắn là đảm bảo tiêu chuẩn hợp vệ sinh Trong những năm tới đây, khi nhiều cơ sở xử lý chất thải rắn được xây dựng và đưa vào hoạt động tại các địa phương trong cả nước thì tỷ lệ này sẽ được nâng lên[3]

1.3.2.3 Tình hình vệ sinh cá nhân

Năm 2016, Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương khảo sát về rửa tay bằng xà phòng, kết quả cho thấy tỷ lệ người dân Việt Nam rửa tay tường xuyên với xà phòng, kể cả trong các cơ sở y tế còn rất thấp: Chỉ có 23% rửa tay trước khi ăn và 36% sau khi đi

vệ sinh[24]

Theo UNICEF năm 2008, rửa tay với xà phòng, có thể làm giảm các trường hợp tiêu chảy gần một nửa và giảm tỷ lệ nhiễm trùng hô hấp Tuy nhiên, chỉ có 12% nông dân Việt Nam rửa tay bằng xà phòng trước bữa ăn và 16% sau khi đi vệ sinh [35]

Trang 21

Dự án “Rửa tay với xà phòng hữu hiệu để phòng bệnh” được triển khai dưới sự quản lý, giám sát của Cục quản lý môi trường y tế – Bộ Y tế bằng nguồn kinh phí hỗ trợ 42 tỷ đồng từ quỹ Unilever Việt Nam Sau 5 năm thực hiện dự án tỉ lệ rửa tay với

xà phòng của người dân đã tăng từ 14,6% lên 66,5 % Ngoài ra, được sự hỗ trợ của Quỹ Unilever Việt Nam và sự ủng hộ của lãnh đạo Bộ Y tế, dự án đã khuyến khích người dân thực hiện hành vi rửa tay bằng xà phòng tại gia đình qua các đợt cấp phát miễn phí xà phòng tới các hộ gia đình và những nơi công cộng tại các địa phương triển khai dự án[23]

1.4 Các nghiên cứu liên quan

1.4.1 Nghiên cứu liên quan tình hình sử dụng nhà tiêu

Một số nghiên cứu cho thấy tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh đạt được cao hơn so với tình hình chung của cả nước(65%) là nghiên cứu của trung tâm

y tế dự phòng tỉnh Thừa Thiên Huế, ở xã Quảng Thành, xã Quảng Thành và thị trấn Sịa, huyện Quảng Điền năm 2012 có 93,8% hộ dân sử dụng các loại nhà tiêu hợp vệ sinh theo Bộ Y tế quy định[20] và nghiên cứu của Trần Đỗ Hùng thực hiện ở xã Thanh Sơn, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai, tổng số 385 hộ gia đình điều tra có 288 HGĐ có nhà tiêu HVS chiếm tỷ lệ 74,8% Nghiên cứu của Trần Đỗ Hùng cũng cho biết thêm trong số 385 hộ gia đình có 49 HGĐ không có nhà tiêu chiếm tỷ lệ 12,7%;

48 hộ gia đình có nhà tiêu không HVS chiếm tỷ lệ 12,5% trong đó có 6 HGĐ có các loại cầu tiêu ao cá chiếm 1,6% [11] Nghiên cứu của Ngô Văn Tường thực hiện ở xã

An Viễn, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên có 93% hộ có nhà tiêu hợp vệ sinh trong đó 30% là nhà tiêu tự hoại, 55% nhà tiêu hai ngăn và 8% là nhà tiêu một ngăn[14] Các nghiên cứu khác cho thấy tỷ lệ sử dụng hố xí hợp vệ sinh còn rất thấp, chỉ đạt khoảng 30% hộ sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh như nghiên cứu của Trần Hữu Lộc tại các huyện Châu Thành,Vĩnh Thuận, Gò Quao, tỉnh Kiên Giang cho kết quả số hộ

sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh chỉ đạt 33,08%[12] và một nghiên cứu khác của Phạm Thị Ngọc Bích thực hiện tại xã Phú Hữu, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang năm

2014, tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh là 30,1%, trong đó 2 loại chính được sử dụng là nhà tiêu tự hoại và nhà tiêu thấm dội nước [7]

Trang 22

1.4.2 Nghiên cứu liên quan xử lý rác thải sinh hoạt

Một nghiên cứu ở Accra đã chỉ ra rằng trong số 364 hộ gia đình, chỉ có 63 (17,3%) tách chất thải của họ khi lưu kho, còn lại 301 (82,7%) không phân loại chất thải rắn, phản ánh những gì xảy ra ở hầu hết các thành phố châu Phi Có 61,0% số

hộ gia đình xử lý chất thải tại thùng cộng đồng hoặc rác thải do nhà thầu tư nhân thu nhặt tại nhà của họ và có đến 39,0% còn lại xử lý chất thải của họ trong các cống rãnh, đường xá, hố và bụi rậm gần đó [33]

Kết quả nghiên cứu của trung tâm y tế dự phòng tỉnh Thừa Thiên Huế, ở xã Quảng Thành, xã Quảng Thành và thị trấn Sịa, huyện Quảng Điền năm 2012 có đến 96,7% hộ gia đình có xử lý rác hàng ngày[20]

Nghiên cứu của Ngô Văn Tường có trên 60% số hộ gia đình không thu gom rác để đúng nơi quy định, thậm chí đổ rác xuống các ao, hồ; 30% số hộ cho nước thải chảy trực tiếp xuống ao và đa phần rãnh thoát nước của thôn không có nắp đậy[14] Theo nghiên cứu của Phạm Thị Ngọc Bích thực hiện tại xã Phú Hữu, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang năm 2014, tỷ lệ hộ gia đình xử lý rác thải hợp vệ sinh là 60,7%[7]

1.4.3 Nghiên cứu liên quan vệ sinh cá nhân

Nghiên cứu của trung tâm y tế dự phòng tỉnh Thừa Thiên Huế cho thấy có 94% người dân cho rằng rửa tay xà phòng là cần thiết, 15,8% biết 6 bước rửa tay Bộ Y tế hướng dẫn, 75,5% người dân thường xuyên rửa tay bằng xà phòng, 86% người dân

có xà phòng để rửa tay tại nhà[20]

Rất nhiều nghiên cứu khác cũng đã cho hành vi rửa tay đúng cách sẽ mang lại tác dụng phòng bệnh hiệu quả như kết quả nghiên cứu của CDC đã cho thấy nguy cơ tiêu chảy cao hơn đáng kể ở trẻ em mà mẹ không rửa tay bằng xà phòng trước khi chuẩn

bị thức ăn, trước khi cho trẻ ăn và sau khi rời nhà vệ sinh [28] Một nghiên cứu khác cho thấy, tiêu chảy là một nguyên nhân gây bệnh phổ biến và là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi Rửa tay là một trong những biện pháp can thiệp xúc tiến vệ sinh có thể làm gián đoạn việc truyền bệnh gây bệnh tiêu chảy Xem xét các kết quả thử nghiệm điều chỉnh ngẫu nhiên theo cụm, các can thiệp xúc tiến rửa

Trang 23

tay làm giảm 39% số ca tiêu chảy ở trẻ ở các cơ sở ở các nước có thu nhập cao và giảm 32% tỷ lệ trẻ em sống trong cộng đồng tại các nước có thu nhập thấp hoặc trung bình [34] Trong 8 nghiên cứu dựa vào cộng đồng của WHO bao gồm 14.762 người tham gia đã cho thấy chương trình rửa tay làm giảm 28% số người mắc bệnh tiêu chảy[38]

1.5 Đặc điểm của xã Trường Long, huyện Phong Điền, Thành phố Cần Thơ

Huyện Phong Điền là huyện đầu tiên của TP Cần Thơ có 100% số xã đạt chuẩn

và được công nhận huyện nông thôn mới vào năm 2015 Xã Trường Long thuộc huyện Phong Điền, có diện tích 31,04 km2, gồm có 20 ấp, số hộ dân sinh sống là 4652

hộ và dân số là 18166 người Nghề nghiệp chính của các hộ dân ở xã là nghề nông và buôn bán nhỏ

Báo cáo thống kê của Trạm y tế xã Trường Long năm 2016: Tỷ lệ hộ sử dụng hố

xí hợp vệ sinh là 76,39% trong đó tỷ lệ hộ sử dụng hố xí thấm dội nước là 19%, tỷ lệ

hộ sử dụng hố xí tự hoại là 56,6%, tỷ lệ hộ sử dụng cầu tiêu ao cá là 7,5% Về xử lý rác thải: có 79% hộ gia đình xử lý rác thải hợp vệ sinh trong đó tỷ lệ hộ xử lý bằng biện pháp chôn lấp là 30% và tỷ lệ hộ sử dụng biện pháp đốt rác là 49%

Trang 24

2 Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng: Hộ gia đình sống ở xã Trường Long, huyện Phong Điền, TP Cần Thơ

Tiêu chuẩn chọn vào

Người được phỏng vấn là chủ hộ (hoặc người thay thế chủ hộ) từ 18 tuổi trở lên, có đủ sức khỏe để trả lời câu hỏi của người điều tra và có hộ khẩu thường trú (ít nhất 6 tháng) tại xã Trường Long, huyện Phong Điền, Thành phố Cần Thơ

Tiêu chuẩn loại ra

Những người mắc bệnh tâm thần sẽ không được lựa chọn để phỏng vấn Những người từ chối không tham gia phỏng vấn hoặc những hộ không có người ở nhà sau 3 lần ghé thăm

Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Địa điểm nghiên cứu: xã Trường Long, huyện Phong Điền, TP Cần Thơ Nghiên cứu được tiến hành từ: tháng 6 năm 2017 đến tháng 6 năm 2018

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu phương pháp mô tả cắt ngang

2.2.2 Cỡ mẫu

Áp dụng công thức ước lượng tỷ lệ trong quần thể

n = Z2× (1 – α/2) × 𝑝×(1−𝑝)

𝑑 2

n: cỡ mẫu nghiên cứu cần có

α: 0,05 (xác xuất sai lầm loại 1), độ tin cậy 95%

Z = 1,96 (ứng với α = 0,05)

p = 0,5

d = 0,05 (sai số cho phép)

Trang 25

Thay vào công thức ta được:

n = (1,96

2 ) ×0,5 ×(1−0.5) (0,05) 2

n = 385 hộ gia đình

Để thuận tiện cho việc điều tra thực địa, chúng tôi chọn dự trù 5% cho trường hợp không có người ở nhà hoặc từ chối phỏng vấn, như vậy trong nghiên cứu này chúng tôi sẽ chọn ra 410 HGĐ để điều tra Thực tế thu được 400 mẫu

Cỡ mẫu nghiên cứu n = 400 hộ gia đình

2.2.3 Phương pháp chọn mẫu

Chọn mẫu nhiều giai đoạn

Giai đoạn 1: Chọn ngẫu nhiên 10 ấp trong 20 ấp bằng cách bốc thăm ngẫu nhiên Các ấp được bốc thăm: Trường Thọ I, Trường Thọ, Trường Thọ B, Trường Thuận A, Trường Phú, Trường Phú A, Trường Hòa, Trường Hòa A, Trường Phú I, Trường Thuận

Giai đoạn 2: Mỗi ấp chọn 40 hộ gia đình Trong mỗi nhà sẽ phỏng vấn ngẫu nhiên 01 người theo tiêu chuẩn chọn vào

Dùng bút chấm ngẫu nhiên vào danh sách hộ gia đình của ấp để chọn hộ đầu tiên Các hộ tiếp theo sẽ được lấy “nhà liền nhà” từ hộ đầu tiên Nếu đi hết đường chưa đủ 40 hộ thì quay lại đi theo hướng ngược lại từ hộ đầu tiên

2.2.4 Nôi dung nghiên cứu

2.2.4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Tuổi: được tính bằng cách lấy năm hiện tại trừ đi năm sinh (tính theo dương lịch) của

đối tượng được phỏng vấn Gồm 4 giá trị: Từ 18 – 30 tuổi; Từ 31 – 45 tuổi; Từ 46 –

60 tuổi; >60 tuổi

Giới: là biến nhị giá gồm 2 giá trị: Nam và Nữ

Dân tộc: là biến định danh, gồm có 4 giá trị: Kinh; Hoa; Khơ me; Khác

Nghề nghiệp: thể hiện qua việc làm chính chiếm trên 50% tổng thời gian trong ngày,

là biến định danh có 5 giá trị: Nông dân; Nội trợ; Công nhân, viên chức; Buôn bán; Khác

Trang 26

Trình độ học vấn: là trình độ cao nhất người được phỏng vấn đạt được, gồm 04 giá

Trên cấp III: CN, CĐ, ĐH trở lên

Kinh tế gia đình: theo quyết định 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của thủ tướng

chính phủ [16]:

Hộ nghèo khu vực nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân đầu người/tháng

từ đủ 700.000 đồng trở xuống hoặc có sổ hộ nghèo

Hộ cận nghèo khu vực nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 700.000đ đến 1.000.000đ hoặc có sổ cận nghèo

Hộ không nghèo là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 1.000.000đ trở lên

2.2.4.2 Vệ sinh môi trường

- Kiến thức về sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh

Tên các loại nhà tiêu hợp vệ sinh: 1 Tự hoại (cầu tiêu máy); 2 Thấm dội nước; 3

Hai ngăn; 4 Ao cá; 5 Đi trên sông/ngoài ruộng; 6 Khác; 7 Không biết Trả lời là một trong các ý 1,2,3 là đúng

Các tiêu chí nhà tiêu HVS: 1 Không có mùi hôi, thối; 2 Sàn nhà tiêu sạch, không rêu

trơn, giấy rác; 3 Không côn trùng; 4 Bệ xí sạch, không dính đọng phân; 5 Nhà tiêu được che chắn kín, ngăn được nước mưa; 6 Nước từ bệ xí, hố chứa không chảy tràn

tự do ra xung quanh; 7 Ý khác; 8 Không biết, không trả lời Trả lời được 03 trong các ý 1,2,3,4,5,6 là đúng

Tên một số bệnh có liên quan sử dụng nhà tiêu không HVS: 1 Tiêu chảy; 2 Tả, lỵ;

3 Giun, sán; 4 Khác (bệnh có liên quan sử dụng nhà tiêu không HVS); 5 Không biết Trả lời được 01 trong các ý 1,2,3,4 là đúng

Trang 27

Lợi ích của việc sử dụng nhà tiêu HVS: 1 Cô lập phân người; 2 Ngăn động vật, côn

trùng tiếp xúc với phân; 3 Diệt mầm bệnh trong phân; 4 Ngăn ngừa bệnh tật, ngăn lây lan dịch bệnh; 5 Không gây ô nhiễm môi trường; 6 Không gây hôi thối; 7 Văn minh, lịch sự; 8 Khác; 9 Không biết Trả lời được 03 trong các ý 1,2,3,4,5,6,7 là đúng

Cách sử dụng nhà tiêu HVS: 1 Nhà tiêu không bị nghẹt; 2 Có đủ nước dội; 3 Vệ

sinh sàn nhà tiêu sạch sẽ; 4 Có thùng rác có nắp đậy; 5 Vệ sinh bàn cầu sạch, không dính đọng phân; 6 Có sẵn dụng cụ làm vệ sinh; 7 Ý khác; 8.Không biết Trả lời được

03 trong các ý 1,2,3,4,5,6,7 là đúng

Kiến thức về sử dụng nhà tiêu HVS đúng khi đạt 3/5 câu hỏi về kiến thức sử dụng nhà tiêu nêu trên

- Thực hành sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh

Loại nhà tiêu gia đình đang sử dụng: là biến định danh gồm có 6 giá trị: 1.Tự hoại;

2.Thấm dội nước; 3.Hai ngăn; 4 Ao cá; 5 Không có; 6 Khác Sử dụng 01 trong các loại 1,2,3 là đạt

Sử dụng nhà tiêu tự hoại/ thấm dội nước hợp vệ sinh gồm có các tiêu chí sau đây [2]:

1.Nhà tiêu được che chắn kín; 2 Nhà tiêu không bị nghẹt; 3.Bàn cầu sạch, không dính đọng phân; 4.Có đủ nước dội; 5.Có thùng rác có nắp đậy; 6.Sàn nhà tiêu sạch; không giấy rác; 7.Có dụng cụ làm vệ sinh; 8.Không có mùi hôi thối, không có côn trùng; 9 Nước thải chảy tự do ra xung quanh Quan sát đánh giá các tiêu chí trên, mỗi tiêu chí đều là biến định danh, có 2 giá trị là đạt và không đạt Sử dụng hố xí tự hoại hợp vệ sinh khi HGĐ đạt từ 06 ý trong các ý 1,2,3,4,5,6,7,8

Thực hành sử dụng nhà tiêu HVS đạt 02 ý về sử dụng nhà tiêu nêu trên

- Kiến thức xử lý rác thải hợp vệ sinh

Tầm quan trọng của việc xử lý rác thải: 1 Rất quan trọng; 2 Quan trọng; 3 Không

quan trọng; 4 Không biết Câu trả lời là 1 hoặc 2 là đúng

Tác hại của việc đổ, bỏ rác bừa bãi: 1 Ô nhiễm môi trường; 2 Gây nhiều bệnh truyền

nhiễm; 3 Gây mùi hôi, thối; 4 Ý khác; 5 Không biết Trả lời được 02 trong các ý 1,2,3 là đúng

Trang 28

Lợi ích của việc phân loại rác thải trước khi xử lý: 1 Giảm ô nhiễm môi trường; 2

Thuận tiện cho xử lý rác; 3 Tiết kiệm do tái sử dụng, bán phế liệu; 4 Làm phân bón, thức ăn gia súc/ gia cầm; 5 Ý khác; 6 Không biết Trả lời được 2 trong các ý 1,2,3,4

là đúng

Cách phân loại rác thải:1 Rác dễ phân hủy (thức ăn thừa, vỏ rau, củ, quả, ); 2 Rác

khó phân hủy (chai nhựa, thủy tinh, sắt vụn ); 3 Rác thải độc hại (pin, acquy, vỏ bao thuốc bảo vệ thực vật ); 4 Ý khác; 5 Không biết Trả lời được từ 02 ý trong các

ý 1,2,3 là đúng

Cách xử lý rác thải HVS: 1 Tập trung lại, xe rác thu gom; 2 Đốt; 3 Chôn; 4 Vứt

quanh nhà, vứt xuống sông; 5 Ý khác; 6 Không biết Trả lời được 01 trong các ý 1,2,3 là đúng

Kiến thức về xử lý rác thải đúng khi trả lời đúng 3/5 câu hỏi về xử lý rác nêu trên

- Thực hành xử lý rác thải

Phân loại rác thải trước khi xử lý, là biến định danh gồm 2 giá trị: 1 Có; 2 Không Mức độ phân loại rác thải: 1 Thường xuyên (tối thiểu 3 lần/tuần); 2 Thỉnh thoảng

(<=2 lần/ tuần); 3 Hiếm khi (<= 1 lần/tháng)

Tình hình phân loại rác thải trước khi xử lý của các hộ gia đình:

Có phân loại rác: ít nhất phân rác thành 2 loại rác dễ phân hủy và rác khó phân hủy

Không phân loại rác thải: gom chung tất cả các loại rác thải khi bỏ rác, xử lý rác

Cách xử lý rác hợp vệ sinh thải sinh hoạt chủ yếu của HGĐ: 1.Tập trung lại, để trước

nhà có xe rác thu gom; 2 Tập trung lại đốt hoặc chôn; 3 Dùng thùng rác tự hoại (thùng compost); 4 Bán phế liệu; 5 Làm phân bón, thức ăn gia súc/gia cầm; 6 Vứt xuống sông, vứt quanh nhà Quan sát kết hợp phỏng vấn, cách xử lý rác đúng khi đạt

từ 02 trong các ý 1,2,3,4,5

Thực hành xử lý rác thải hợp vệ sinh khi đạt 2/4 ý nêu trên

Trang 29

2.2.4.3 Kiến thức, thực hành đúng về vệ sinh cá nhân và các yếu tố liên quan kiến

thức, thực hành vệ sinh cá nhân chưa đúng

- Kiến thức đúng về vệ sinh cá nhân của người dân

RTBXP là cần thiết: 1 Có; 2 Không; 3 Không biết Kiến thức đúng khi câu trả lời

là ý 1

Các bệnh liên quan vệ sinh tay kém: 1.Bệnh tiêu hóa (tiêu chảy, tả lỵ ….); 2 Bệnh hô

hấp; 3 Bệnh da liễu; 4 Khác; 5 Không biết Trả lời 01 trong các ý 1,2,3,4 là đúng

Lợi ích của việc RTBXP: 1.Giúp làm sạch bàn tay; 2 RTBXP giúp loại bỏ vi khuẩn/kí

sinh trùng trên tay; 3 RTBXP giúp hạn chế lây lan bệnh từ người này sang người

khác; 4 RTBXP giúp phòng ngừa được bệnh; 5 Khác; 6 Không biết Trả lời được

02 trong các ý 1,2,3,4 là đúng

Nguồn nước nên sử dụng để RTBXP: 1 Nước máy; 2 Nước giếng; 3 Nước mưa

4 Nước sông; 5 Không biết Trả lời 01 trong các ý 1,2 là đúng

Các bước rửa tay bằng xà phòng: đúng khi câu trả lời là 06 bước

Cách rửa tay đúng: 1 Rửa tay bằng cách chà xát với xà phòng và dưới vòi nước chảy,

lau tay bằng khăn khô sạch; 2 Ý khác; 3 Không biết Kiến thức đúng khi câu trả lời

là ý 01

Thời điểm nên rửa tay: 1 Chỉ khi nào thấy tay bẩn; 2 Sau khi đi vệ sinh; 3.Trước khi

chạm vào thức ăn; 4.Trước khi ăn/uống; 5.Trước khi cho trẻ ăn/uống; 6.Sau khi chăm

sóc người bệnh; 7.Sau khi hắt hơi; 8 Không biết Kiến thức đúng khi trả lời được 03

trong các ý1, 2,3,4,5,6,7

Kiến thức về rửa tay bằng xà phòng đúng khi đạt 03 trong các câu kiến thức về

RTBXP nêu trên

- Thực hành rửa tay bằng xà phòng

Cách rửa tay: 1 Chỉ rửa tay với nước; 2 Rửa tay với xà phòng, nước sạch, không lau

khô tay; 3 Rửa tay với xà phòng, nước sạch và lau khô tay sau khi rửa Cách rửa tay

đúng là cách 3

Trang 30

Loại xà phòng dùng để rửa tay: 1 Nước rửa tay chuyên dụng; 2 Xà phòng bánh;

3.Nước rửa chén; 4 Loại khác; 5 Không dùng xà phòng Loại xà phòng dùng để rửa tay đúng khi dùng loại 1 hoặc 2

Nguồn nước để rửa tay HVS gồm các giá trị: 1.Nước máy; 2 Nước giếng; 3 Nước

mưa,nước sông Đúng khi dùng nước máy hoặc nước giếng

Cách sử dụng nước để rửa tay: 1 Rửa tay dưới vòi nước chảy; 2 Rửa tay bằng nước

sạch trong thau chậu; 3 Rửa tay bằng nước trong thau chậu đã qua sử dujnh (rửa chén, giặt đồ ) Cách sử dụng nước rửa tay đúng là ý 1

Vị trí vòi nước rửa tay: 1 Gần nhà bếp; 2 Gần nhà tiêu; 3 Xa nhà bếp và nhà tiêu,

4 Khác; 5 Không có Vị trí đúng là gần nhà bếp, gần nhà tiêu hoặc cả 2 vị trí đó

Làm khô tay sau khi rửa tay: 1 Lau/chùi vào quần áo đang mặc; 2.Lau bằng khăn

khô sạch; 3 Lau bằng giấy vệ sinh; 4 Khác; 5 Không có Cách đúng là cách lau bằng khăn khô sạch

Thời điểm và mức độ rửa tay các giá trị: Khi thấy tay bẩn; Sau khi sử dụng nhà tiêu;

Trước khi chế biến thức ăn; Trước khi ăn/uống; sau khi chăm sóc người bệnh; Sau

khi hắt hơi Mỗi ý đều có 3 mức độ: thường xuyên; thỉnh thoảng; Không bao giờ

Đúng khi thường xuyên rửa tay ở 4/7 thời điểm kể trên

Thực hành về RTBXP đúng khi thực hiện đúng 4/7 ý về thực hành RTBXP nêu trên

- Các nguồn thông tin mà HGĐ có nghe hoặc xem về vệ sinh môi trường, vệ sinh

cá nhân, có 5 giá trị: Ti vi; Loa truyền thanh; Sách báo; Người thân/bạn bè; Khác

- Sự vận động, hỗ trợ của địa phương trong xây dựng nhà tiêu: 1 Hỗ trợ hoàn

toàn; 2 Hỗ trợ cho vay; 3 Không hỗ trợ kinh phí

- Các yếu tố liên quan kiến thức, thực hành không đúng về vệ sinh môi trường,

vệ sinh cá nhân của người dân

Nhóm tuổi: 18-30 tuổi; 31-45 tuổi; 45-60 tuổi; trên 60 tuổi

Kinh tế gia đình: Nghèo, cân nghèo; Không nghèo

Nghề nghiệp: Nông dân; nội trợ; công nhân, viên chức; khác

Trình độ học vấn, chia làm 2 nhóm: Dưới THPT(từ lớp 9 trở xuống); Từ THPT trở lên (từ lớp 10 trở lên)

Trang 31

Số nguồn thông tin HGĐ nhận được, chia làm 2 nhóm: Có tiếp cận ; Không tiếp cận

Sự vận động, hỗ trợ của địa phương, 02 nhóm: Có; Không

2.2.5 Phương pháp thu thập số liệu

2.2.5.1 Phương pháp thu thập số liệu

- Phỏng vấn trực tiếp: đối tượng ở HGĐ theo tiêu chuẩn chọn vào bằng bộ câu hỏi in sẵn

- Quan sát: hố xí của HGĐ, nơi rửa tay; đánh giá bằng bảng kiểm

2.2.5.2 Công cụ thu thập số liệu

- Bộ câu hỏi phỏng vấn có cấu trúc gồm 3 phần: thông tin chung; vệ sinh môi trường (sử dụng hố xí; xử lý rác thải sinh hoạt) và vệ sinh cá nhân

2.2.6 Phương pháp phân tích xử lý số liệu

Xử lý số liệu: Mỗi bộ câu hỏi được điều tra viên kiểm tra lại xem có điền đầy

đủ thông tin chưa, loại bỏ những phiếu thiếu thông tin Sau đó mã hóa số liệu và nhập liệu vào máy tính bằng phầm mêm SPSS 20.0

Trang 32

Thống kê phân tích: Tìm hiểu yếu tố liên quan giữa biến độc lập với biến phụ thuộc thông qua OR, khoảng tin cậy CI 95%, với test 𝜒2, mức p có ý nghĩa <0,05

2.2.7 Sai số và phương pháp khắc phục

Thiết kế nghiên cứu phù hợp Lựa chọn đối tượng nghiên cứu đúng kỹ thuật Tiến hành nghiên cứu thử để kiểm tra chất lượng thông tin và bộ câu hỏi trước khi tiến hành nghiên cứu Xây dựng bộ câu hỏi phù hợp, sát mục tiêu nghiên cứu Tập huấn kỹ: kỹ năng phỏng vấn và thu thập thông tin, kỹ năng quan sát, kỹ năng điền phiếu cho các điều tra viên và cán bộ giám sát Giám sát chặt chẽ việc thu thập thông tin từ thực địa, thu thập thông tin đầy đủ và kiểm tra mỗi ngày Kiểm tra làm sạch số liệu trước khi nhập vào máy tính

2.2.8 Đạo đức trong nghiên cứu

Nghiên cứu thông qua hội đồng xét duyệt đề cương của khoa Y tế công cộng, trường Đại học Y dược Cần Thơ Nghiên cứu được sự đồng ý của tram y tế xã Trường Long Cuộc phỏng vấn được thực hiên trên nguyên tắc tự nguyện, tôn trọng nhằm đảm bảo kết quả chính xác và khách quan Các thông tin riêng tư được đảm bảo giữ

bí mật chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu Ngoài việc phỏng vấn để có số liệu điều tra, chúng tôi còn thông tin, tuyên truyền cho các đối tượng hiểu biết về tầm quan trọng của việc sử dụng nhà tiêu, xử lý rác thải hợp vệ sinh và vệ sinh cá nhân đúng cách Quá trình xử lý số liệu thực hiện nghiêm túc, tuyệt đối không ngụy tạo số liệu, các tình huống điều tra nghiên cứu

Trang 33

3 Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Kiến thức, thực hành về sử dụng nhà tiêu, xử lý rác thải và vệ sinh cá

nhân của người dân xã Trường Long, huyện Phong Điền, TP Cần Thơ 3.1.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Trang 34

Biểu đồ 3.1 Phân bố trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu

Trình độ học vấn của đối tượng chủ yếu là cấp I (44,3%), cấp II (37,0%), vẫn còn 7% đối tượng mù chữ

Biểu đồ 3.2 Phân bố nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu

Gần một nửa số đối tượng nghiên cứu có nghề nghiệp là nông dân (49,5%), kế tiếp là nội trợ (23,5%), nhóm nghề khác 16,5%

Trang 35

3.1.2 Kiến thức và thực hành của người dân về sử dụng nhà tiêu

Bảng 3.2 Kiến thức của người dân về sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh

Nội dung

Kiến thức Đúng

n(%)

Chưa đúng n(%)

Biết tên các loại

Tỷ lệ người dân có kiến thức đúng về sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh là 33,8% Trong đó, đa số đối tượng trả lời đúng về nhà tiêu tự hoại là loại nhà tiêu HVS (81,8%), kế đến là nhà tiêu thấm dội nước (11%) và rất ít người nêu được loại nhà tiêu hai ngăn (2%) Có đến 66% người dân kể được một số bệnh liên quan việc sử dụng nhà tiêu không HVS Tỷ lệ người dân có kiến thức đúng về lợi ích, các tiêu chí

và cách sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh còn rất thấp với tỷ lệ lần lượt là 25,5%, 20,5 và 25,5%

Trang 36

Biểu đồ 3.3 Các loại hố xí hộ gia đình đang sử dụng*

Trong 400 HGĐ được khảo sát, có hơn một nửa số HGĐ sử dụng nhà tiêu tự hoại (57%), kế tiếp là sử dụng nhà tiêu thấm dội nước (14,5%); sử dụng nhà tiêu ao

cá (42,2%) và vẫn còn 1,3% HGĐ không có nhà tiêu để sử dụng

*Câu hỏi nhiều lựa chọn

Bảng 3.3 Lý do các HGĐ sử dụng nhà tiêu ao cá (n = 177)*

*Câu hỏi nhiều lựa chọn

Các HGĐ còn sử dụng nhà tiêu ao cá với nhiều lý do, trong đó có 58,1% sử dụng do thói quen, cảm thấy thoải mái; 43,5% do để tăng thu nhập bằng việc nuôi cá, 30,5% do không có điều kiện xây dựng nhà tiêu và có 17,5% người dân cho rằng nhà tiêu ao cá là hợp vệ sinh

Trang 37

Bảng 3.4 Thực hành sử dụng nhà tiêu của người dân

Tỷ lệ người dân sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh là 63,7%

3.1.3 Kiến thức, thực hành của người dân về xử lý rác thải sinh hoạt

Bảng 3.5 Kiến thức của người dân về xử lý rác thải sinh hoạt tại hộ gia đình

Nội dung

Kiến thức Đúng

n(%)

Chưa đúng n(%)

Biết tầm quan trọng của việc xử lý rác 367 (91,8) 33 (8,2) Biết được tác hại của việc đổ/bỏ rác bữa bãi 187 (46,8) 213 (53,2) Biết được lợi ích của việc phân loại rác thải 100 (25,0) 300 (75,0) Biết được ít nhất cần phân loại rác thành 2 loại 154 (38,5) 264 (61,5) Biết cách xử lý rác thải HVS 183 (45,8) 217 (54,3)

Nhìn chung, tỷ lệ người dân có kiến thức chung đúng về xử lý rác thải chiếm 49,5% Có 91,8% người dân cho rằng việc xử lý rác thải là quan trọng chiếm tỷ lệ cao hơn các kiến thức còn lại

Nội dung

Nhà tiêu HVS

Trang 38

Bảng 3.6 Thực hành của người dân về xử lý rác thải sinh hoạt tại hộ gia đình

lý (41,5%), trong đó có 22,8% thực hiện phân loại thường xuyên và phân rác thải thành 2 loại (92,2) Về dụng cụ đựng rác bằng túi nilong và thùng đựng rác có tỷ lệ xấp xỉ nhau (56,7% và 45,7%) Phần lớn HGĐ xử lý rác thải bằng cách đốt hoặc chôn (79,8%) kế đến là bán phế liệu (26,8%) Có 19,5% hộ gia đình có xe rác đến thu gom, vẫn có 13% người dân thường vứt rác xuống sông hoặc quanh nhà

Trang 39

Biểu đồ 3.4 Thực hành xử lý rác hợp vệ sinh của người dân

Tỷ lệ người dân thực hành xử lý rác thải đúng là 39,5%

3.1.4 Kiến thức, thực hành của người dân về vệ sinh cá nhân

Bảng 3.7 Kiến thức của người dân về rửa tay bằng xà phòng

Nội dung

Kiến thức Đúng

n (%)

Chưa đúng n(%)

Tầm quan trọng của rửa tay bằng xà phòng 326 (81,5) 74 (18,5) Biết 6 bước rửa tay phòng bệnh 17 (4,3) 383 (95,7)

Kể tên các bệnh liên quan vệ sinh cá nhân kém 262 (65,5) 138 (34,5) Biết lợi ích của việc rửa tay bằng xà phòng 167 (41,8) 233 (58,3) Biết nguồn nước nên dùng để rửa tay bằng xà

39,5%

60,5%

Đúng Chưa đúng

Trang 40

Bảng 3.8 Sử dụng xà phòng và nguồn nước để rửa tay của người dân

sau khi rửa tay

Lau/chùi tay vào quần áo

đa số 48,3%, kế đến là gần nhà tiêu 31,3% Tỷ lệ người dân có sử dụng khăn sạch để lau khô tay là 74,2%

Ngày đăng: 27/03/2023, 16:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Bùi Kim Chiên Trần Hữu Lộc, Nguyễn Quốc Oai, "Kiến thức, thái độ, thực hành về sử dụng nhà vệ sinh của người dân vùng nông thôn tại các huyện Châu Thành, Vĩnh Thuận và Gò Quao, tỉnh Kiên Giang, năm 2013", Trung tâm truyền thông - Giáo dục sức khỏe trung ương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức, thái độ, thực hành về sử dụng nhà vệ sinh của người dân vùng nông thôn tại các huyện Châu Thành, Vĩnh Thuận và Gò Quao, tỉnh Kiên Giang, năm 2013
Tác giả: Bùi Kim Chiên, Trần Hữu Lộc, Nguyễn Quốc Oai
Nhà XB: Trung tâm truyền thông - Giáo dục sức khỏe trung ương
Năm: 2013
13. Hoàng Thái Sơn (2009), "Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành về vệ sinh môi trường của người dân huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên&#34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành về vệ sinh môi trường của người dân huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên
Tác giả: Hoàng Thái Sơn
Năm: 2009
14. Ngô Văn Tường (2013), "Đánh giá nhận thức, thái độ, hành vi về vấn đề ô nhiễm môi trường của người dân thôn Nội Thượng, xã An Viễn, huyện Tiên Lữ, Hưng Yên", Trung tâm truyền thông - Giáo dục sức khỏe trung ương, tr. 109 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá nhận thức, thái độ, hành vi về vấn đề ô nhiễm môi trường của người dân thôn Nội Thượng, xã An Viễn, huyện Tiên Lữ, Hưng Yên
Tác giả: Ngô Văn Tường
Nhà XB: Trung tâm truyền thông - Giáo dục sức khỏe trung ương
Năm: 2013
15. Thủ tướng chính phủ (2000), Quyết định của Thủ tướng Chính phủ Về việc phê duyệt Chiến lược quốc gia, Điều 1. Phê duyệt Chiến lược quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn đến năm 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định của Thủ tướng Chính phủ Về việc phê duyệt Chiến lược quốc gia, Điều 1. Phê duyệt Chiến lược quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn đến năm 2020
Tác giả: Thủ tướng chính phủ
Năm: 2000
17. Thủ tướng Chính phủ (2016), Quyết định về việc ban hành bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định về việc ban hành bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2016
18. Tổ chức y tế thế giới, Bộ Y tế, Cục quản lý môi trường y tế , Quỹ Nhi đồng liên hiệp quốc (2012), Báo cáo đánh giá lĩnh vực cấp nước và vệ sinh môi trường Việt Nam, năm 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá lĩnh vực cấp nước và vệ sinh môi trường Việt Nam, năm 2011
Tác giả: Tổ chức y tế thế giới, Bộ Y tế, Cục quản lý môi trường y tế, Quỹ Nhi đồng liên hiệp quốc
Năm: 2012
20. Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Thừa Thiên Huế (2012), "Nghiên cứu kiến thức, hành vi vệ sinh của người dân xã Quảng Thành và thị trấn Sịa, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2012&#34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu kiến thức, hành vi vệ sinh của người dân xã Quảng Thành và thị trấn Sịa, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2012
Tác giả: Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Thừa Thiên Huế
Năm: 2012
21. Unicef (2013), "UNICEF và Ngày Thế giới rửa tay: Một giải pháp đơn giản mang lại tác dụng rộng rãi – sức mạnh nằm ở đôi tay chúng ta&#34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: UNICEF và Ngày Thế giới rửa tay: Một giải pháp đơn giản mang lại tác dụng rộng rãi – sức mạnh nằm ở đôi tay chúng ta
Tác giả: Unicef
Năm: 2013
22. Unicef (2014), "Tổng Cục Thống kê và UNICEF công bố Kết quả chính của Điều tra Đánh giá các Mục tiêu về Trẻ em và Phụ nữ (MICS) năm 2013-2014&#34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả chính của Điều tra Đánh giá các Mục tiêu về Trẻ em và Phụ nữ (MICS) năm 2013-2014
Tác giả: Unicef
Năm: 2014
23. Unilever Việt Nam (2013), Rửa tay với xà phòng hữu hiệu để phòng bệnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rửa tay với xà phòng hữu hiệu để phòng bệnh
Tác giả: Unilever Việt Nam
Năm: 2013
25. Hồng Vy (2017), Rác thải - Thách thức môi trường nghiêm trọng trên toàn cầu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rác thải - Thách thức môi trường nghiêm trọng trên toàn cầu
Tác giả: Hồng Vy
Năm: 2017
26. Lê Thị Bảo Xuyên (2017), "Nghiên cứu tình hình xử lý chất thải rắn sinh hoạt và kiến thức về ô nhiễm môi trường do chất thải rắn sinh hoạt của người dân tại phường An Thới, quận Bình Thủy, Thành phố Cần Thơ năm 2016".Tài liệu Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tình hình xử lý chất thải rắn sinh hoạt và kiến thức về ô nhiễm môi trường do chất thải rắn sinh hoạt của người dân tại phường An Thới, quận Bình Thủy, Thành phố Cần Thơ năm 2016
Tác giả: Lê Thị Bảo Xuyên
Năm: 2017
27. Centers for Disease Control and Prevention "Global Water, Sanitation, &amp; Hygiene (WASH)&#34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Global Water, Sanitation, & Hygiene (WASH)
Tác giả: Centers for Disease Control and Prevention
31. World Health Organization (2016), Sanitation, from http://www.who.int/mediacentre/factsheets/fs392/en/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sanitation
Tác giả: World Health Organization
Năm: 2016
32. Centers for Disease Control and Prevention (2016), "When &amp; How to Wash Your Hands&#34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: When & How to Wash Your Hands
Tác giả: Centers for Disease Control and Prevention
Năm: 2016
37. Division of Public Health Wisconsin Department of Health Services (2015), "Handwashing", tr. 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Handwashing
Tác giả: Division of Public Health Wisconsin Department of Health Services
Năm: 2015
38. World health organization (2015). Hand washing promotion for preventing diarrhoea. Retrieved 07/6/2017,http://www.who.int/elena/titles/review_summaries/handwashing/en/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hand washing promotion for preventing diarrhoea
Tác giả: World health organization
Năm: 2015
39. World health organization (2017), "Progress on Drinking Water, Sanitation and Hygiene&#34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Progress on Drinking Water, Sanitation and Hygiene
Tác giả: World Health Organization
Năm: 2017
35. Unicef. (2008). Poor sanitation putting children at risk in rural Viet Nam. Retrieved Ngày truy cập: 06/5/2017, from http://www.un.org.vn/en/unicef-agencypresscenter2-89/424-poor-sanitation-putting-children-at-risk-in-rural-viet-nam.html Link
36. United Nations Development Programme. Retrieved 06/5/2017, http://www.vn.undp.org/content/vietnam/vi/home/mdgoverview/overview/mdg7.html Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w