1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nghiên cứu thực trạng chất lượng cuộc sống và một số yếu tố liên quan ở người cao tuổi tại thị xã bình minh, tỉnh vĩnh lon

92 9 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu thực trạng chất lượng cuộc sống và một số yếu tố liên quan ở người cao tuổi tại thị xã bình minh, tỉnh vĩnh long
Tác giả Nguyễn Hồng Phong
Người hướng dẫn ThS. Lê Minh Hữu
Trường học Trường Đại Học Y Dược Cần Thơ
Chuyên ngành Y học dự phòng
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2017
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU (11)
    • 1.1. Khái niệm người cao tuổi (11)
    • 1.2. Tuổi thọ người Việt Nam (11)
    • 1.3. Tình hình NCT trên thế giới và Việt Nam (12)
    • 1.4. Chất lƣợng cuộc sống (14)
    • 1.5. Đặc điểm, chính sách CSSK NCT Việt Nam (0)
    • 1.6. Chất lượng cuộc sống của người cao tuổi (21)
    • 1.7. Các yếu tố liên quan đến CLCS của NCT tại Việt Nam (23)
    • 1.8. Thông tin chung về địa bàn nghiên cứu (25)
  • CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (26)
    • 2.1. Đối tƣợng nghiên cứu (26)
    • 2.2. Phương pháp nghiên cứu (26)
    • 2.3. Đạo đức trong nghiên cứu (37)
  • CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (38)
    • 3.1. Đặc điểm chung của đối tƣợng nghiên cứu (38)
    • 3.2. Chất lượng cuộc sống của người cao tuổi (40)
      • 3.2.1. Khía cạnh sức khoẻ thể chất (40)
      • 3.2.2. Khía cạnh tinh thần, quan hệ, hỗ trợ trong sinh hoạt (42)
      • 3.2.3. Khía cạnh kinh tế (44)
      • 3.2.4. Khía cạnh khả năng lao động (45)
      • 3.2.5. Khía cạnh môi trường sống (46)
      • 3.2.6. Khía cạnh tín ngƣỡng, tâm linh (47)
      • 3.2.7. Đánh giá chung về CLCS của người cao tuổi (0)
    • 3.3. Một số yếu tố liên quan đến CLCS của người cao tuổi (0)
  • CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN (52)
    • 4.1. Đặc điểm chung về đối tƣợng nghiên cứu (52)
    • 4.2. Chất lượng cuộc sống của người cao tuổi (54)
    • 4.3. Một số yếu tố liên quan đến CLCS của người cao tuổi (0)
  • KẾT LUẬN (65)

Nội dung

Đánh giá sự hài lòng của người cao tuổi về các vấn đề về sức khỏe tinh thần, mối quan hệ, hỗ trợ trong sinh hoạt .... Theo nhiều tác giả nghiên cứu đã mô tả CLCS nhưng cho đến nay vẫn ch

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tƣợng nghiên cứu

Đối tƣợng nghiên cứu là NCT (từ 60 tuổi trở lên) đang sống tại Thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long vào thời điểm điều tra

- Người từ 60 tuổi trở lên đang sống tại thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long

- Đối tƣợng đồng ý tham gia nghiên cứu

- Đối tƣợng rời bỏ địa bàn trong thời gian nghiên cứu

- Những người bị khiếm khuyết về khả năng nghe, nói, rối loạn tâm thần hay sa sút trí tuệ

2.1.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Địa điểm tại thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long

- Thời gian từ tháng 4 năm 2017 đến tháng 6 năm 2018.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích

2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

2.2.2.1 Cỡ mẫu Áp dụng công thức ƣớc lƣợng một tỷ lệ trong quần thể

- là cỡ mẫu nghiên cứu

- khoảng sai lệch mong muốn giữa tỷ lệ mẫu và tỷ lệ thật

- là tỷ lệ tại một cộng đồng tương tự

- là ƣớc lƣợng khoảng tin cậy của kết quả nghiên cứu

- Độ tin cậy là 95% với thì ⁄ = 1,96

Theo nghiên cứu của Phan Văn Ê (2015) tại huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp, tỷ lệ người cao tuổi có mức chất lượng cuộc sống trung bình trở lên đạt 96,3% (p = 0,963), cho thấy đa số người cao tuổi tại địa phương này có trạng thái sức khỏe và chất lượng cuộc sống khá tốt, phản ánh hiệu quả của các can thiệp cải thiện sức khỏe và thể chất đã được thực hiện.

Trong nghiên cứu này, tỷ lệ sai lệch cho phép là 2% (0,02), tương đương với mức chênh lệch 0,02 so với tỷ lệ thực tế Áp dụng công thức tính cỡ mẫu, chúng tôi xác định được cỡ mẫu ban đầu là 343 người Để đảm bảo độ chính xác và khả năng tổng quát của nghiên cứu, chúng tôi cộng thêm 5% sai số trong quá trình khảo sát, khiến tổng số lượng dự kiến tăng lên Sau khi làm tròn, cỡ mẫu cuối cùng cần thu thập là 360 người tham gia nghiên cứu.

Vậy cỡ mẫu nghiên cứu là 360 người cao tuổi

Chúng tôi áp dụng phương pháp chọn mẫu nhiều giai đoạn để chọn ra 360 NCT trên địa bàn thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long

Bước 1: chọn 1 phường trong số 3 phường, chọn 2 xã trong số 5 xã

Bước 2: chọn ngẫu nhiên mỗi phường 3 khóm, mỗi xã 3 ấp

Bước 3: mỗi khóm chọn 40 người, mỗi ấp chọn 40 người

- Đi tới trung tâm khóm, ấp

- Bốc thăm ngẫu nhiên chọn hướng đi

Đi theo hướng đã bốc thăm và lần theo các nhà có Người Cao Tuổi (NCT) cho đến khi thu thập đủ mẫu cần thiết Trong trường hợp đi hết tuyến đường mà vẫn chưa đủ số mẫu, người thực hiện sẽ quay lại trung tâm khóm, ấp để chọn hướng khác ngược lại Nếu sau đó vẫn chưa đủ mẫu, quy trình sẽ tiếp tục bằng cách chọn bất kỳ hướng nào còn lại để hoàn thành mục tiêu thu thập mẫu.

- Chọn 1 NCT trong hộ gia đình, nếu gia đình có 2 NCT, bốc thăm ngẫu nhiên chọn 1 người

Trong quá trình khảo sát, nếu không gặp NCT tại hộ gia đình ban đầu, cần chuyển đến các hộ có NCT khác trong khu vực Trường hợp đã đi qua tất cả các hộ trong khóm, ấp mà vẫn chưa thu thập đủ mẫu, đội khảo sát sẽ quay lại tối đa 3 lần để gặp các hộ đã đi qua Nếu sau 3 lần vẫn không gặp được NCT, các hộ này sẽ bị loại bỏ khỏi danh sách khảo sát.

Trước khi tiến hành phỏng vấn NCT, các ĐTV hỏi 4 câu hỏi về sa sút trí tuệ để kiểm tra kiến thức của họ NCT sẽ được chọn nếu trả lời đúng tất cả 4 câu hỏi, trong khi trả lời sai bất kỳ câu nào sẽ bị loại bỏ Quá trình này giúp đảm bảo sự chính xác và chất lượng của cuộc phỏng vấn liên quan đến kiến thức về sa sút trí tuệ.

2.2.3.1 Thông tin chung về đối tƣợng nghiên cứu

- Tuổi: là tuổi tính theo dương lịch của ĐTNC (lấy năm 2017 trừ đi năm sinh)

- Giới tính: gồm 2 giá trị: nam, nữ

- Dân tộc: dựa vào giấy CMND, gồm 4 giá trị: kinh, khmer, hoa, khác

- Tôn giáo: là tôn giáo đối tƣợng đang theo, gồm 4 giá trị: không tôn giáo, phật giáo, thiên chúa giáo, khác

- Trình độ học vấn: là cấp bậc cao nhất mà ĐTNC từng học, gồm 5 giá trị: không đi học, tiểu học, THCS, THPT, trên THPT

Tình trạng hôn nhân của ĐTNC phản ánh trạng thái hiện tại của mối quan hệ hôn nhân, bao gồm bốn giá trị chính: chưa từng kết hôn, đang có vợ hoặc chồng, đã ly hôn hoặc ly thân, và mất vợ hoặc chồng Thông tin này giúp đánh giá rõ ràng về tình trạng gia đình của từng cá nhân để phục vụ cho công tác quản lý và hoạch định chính sách phù hợp Việc xác định chính xác tình trạng hôn nhân có ý nghĩa quan trọng trong các lĩnh vực nhân khẩu học, công tác xã hội và kế hoạch phát triển cộng đồng.

- Nghề nghiệp chính trước đây: là nghề nghiệp chiếm thời gian làm việc nhiều nhất của ĐTNC trước 55 tuổi với nữ giới và trước 60 tuổi với nam giới, gồm

5 giá trị: công chức/ viên chức, làm ruộng/ làm vườn, kinh doanh/ buôn bán/ công nhân/ thủ công, nội trợ, khác

Nghề nghiệp chính hiện tại của ĐTNC bao gồm các lĩnh vực chiếm phần lớn thời gian làm việc như hưu trí, làm ruộng hoặc làm vườn, kinh doanh, buôn bán, công nhân, thủ công, nội trợ và không làm gì Các hoạt động này phản ánh đa dạng lựa chọn nghề nghiệp và mức độ gắn bó với công việc trong cuộc sống hàng ngày Việc xác định nghề nghiệp chính giúp hiểu rõ hơn về cấu trúc lao động và các giá trị mà ĐTNC hướng tới trong cuộc sống.

2.2.3.2 Chất lƣợng cuộc sống của đối tƣợng nghiên cứu

CLCS được đo lường theo công cụ đã được chuẩn hóa tại Việt Nam [13] Có

Bài viết đề cập đến 6 khía cạnh quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng life của con người, bao gồm sức khỏe thể chất, khả năng lao động, tinh thần, quan hệ, hỗ trợ trong sinh hoạt, môi trường sống, tín ngưỡng, tâm linh và kinh tế Tổng cộng có 65 nội dung được đo lường bằng các thang đo khác nhau, mỗi thang đo xác định mức độ phát triển hoặc ảnh hưởng của từng khía cạnh qua 5 mức độ rõ ràng Các yếu tố này kết hợp giúp đánh giá toàn diện về cuộc sống và sức khỏe của cá nhân, góp phần xây dựng các chiến lược cải thiện phù hợp trong các lĩnh vực liên quan.

+ Mức 1: Không bao giờ; mức 2: Hiếm khi; mức 3: Thỉnh thoảng; mức 4: Khá thường xuyên; mức 5: Thường xuyên

+ Mức 1: Rất không hài lòng; mức 2: Không hài lòng; mức 3: Phân vân; mức 4: Hài lòng; mức 5: Rất hài lòng

+ Mức 1: Nghe không được gì; mức 2: Nghe được rất ít; mức 3: Nghe tương đối rõ; mức 4: Nghe khá rõ; mức 5: Nghe rất rõ

+ Mức 1: Không nhìn được; mức 2: Nhìn được rất ít; mức 3: Nhìn tương đối rõ; mức 4: Nhìn khá rõ; mức 5: Nhìn rất rõ

+ Mức 1: Không khó khăn; mức 2: Khó khăn một chút; mức 3: Khá khó khăn; mức 4: Khó khăn; mức 5: Rất khó khăn

+ Mức 1: Rất không tốt; mức 2: Không tốt; mức 3: Tương đối tốt; mức 4: Tốt; mức 5: Rất tốt

Mức độ tự chủ trong công việc được phân thành 5 cấp độ rõ ràng Mức 1 thể hiện khả năng không tự làm được bất cứ việc gì, trong khi mức 2 chỉ tự làm được rất ít Ở mức 3, cá nhân có thể tự làm được một số công việc nhất định Đến mức 4, người đó tự làm được hầu hết các công việc, và ở mức 5, họ hoàn toàn tự làm được tất cả các nhiệm vụ mà không cần sự hỗ trợ Hiểu rõ các mức độ này giúp đánh giá năng lực tự lập của từng cá nhân trong công việc một cách chính xác và toàn diện.

+ Mức 1: Hoàn toàn không hạnh phúc; mức 2: Không hạnh phúc; mức 3: Phân vân; mức 4: Hạnh phúc; mức 5: Rất hạnh phúc

+ Mức 1: Hoàn toàn không có ý nghĩa; mức 2: Không có ý nghĩa; mức 3: Phân vân; mức 4: Có ý nghĩa đáng kể; mức 5: Rất có ý nghĩa

+ Mức 1: Hoàn toàn không giúp đƣợc gì; mức 2: Giúp đƣợc chút ít; mức 3: Phân vân; mức 4: Giúp đƣợc đáng kể; mức 5: Giúp đƣợc rất nhiều

+ Mức 1: Rất không đều đặn; mức 2: Không đều đặn; mức 3: Phân vân; mức 4: Đều đặn; mức 5: Rất đều đặn

Mức 1 cho biết người dùng không có đủ tiền để chi trả các khoản chi phí, trong khi mức 2 cho thấy họ có thể chi trả chút ít Mức 3 phản ánh sự phân vân trong việc chi trả, còn mức 4 thể hiện khả năng chi trả hầu hết các khoản cần thiết Cuối cùng, mức 5 biểu thị rằng người dùng có đủ tiền để chi trả tất cả các khoản chi phí một cách dễ dàng, đảm bảo tài chính ổn định.

Khía cạnh I: sức khỏe thể chất: được đo lường chủ yếu bởi sự khỏe mạnh của cơ thể và khả năng vận động Gồm 18 nội dung:

Trong tháng qua, người cao tuổi thường cảm nhận cảm giác đau nhức, tê hoặc mỏi cơ thể, phản ánh mức độ khó chịu liên quan đến các phần như cơ, xương và khớp Những triệu chứng này ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống hàng ngày của họ và cần được quan tâm, theo dõi chặt chẽ để cải thiện sức khỏe và giảm thiểu các biến chứng.

Trong tháng qua, mức độ ảnh hưởng của các triệu chứng đau, nhức, tê hoặc mỏi đã được đánh giá rõ ràng Những ảnh hưởng này bao gồm cả khía cạnh thể chất, như gặp khó khăn khi đi lại, và cả yếu tố tinh thần Hiểu rõ tác động này giúp xác định mức độ ảnh hưởng tổng thể đến cuộc sống hàng ngày của người bệnh.

 Gặp khó khăn trong việc đi lại: là mức độ khó khăn trong việc đi lại

 Hài lòng với khả năng đi lại: là mức độ hài lòng về khả năng đi lại

Cảm thấy mệt mỏi là trạng thái mệt mỏi kéo dài, xuất phát từ sức khỏe tâm thần của người cao tuổi, nhưng lại do ảnh hưởng của tình trạng sức khỏe thể chất gây ra Điều này ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống của người cao tuổi, khiến họ cảm thấy yếu ớt và thiếu năng lượng Hiểu rõ về mối liên hệ giữa mệt mỏi và sức khỏe thể chất giúp chăm sóc sức khỏe toàn diện hơn cho người cao tuổi.

Tình trạng mệt mỏi của người cao tuổi (NCT) ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống, gây ra khó khăn trong việc di chuyển và thực hiện các hoạt động hàng ngày Mệt mỏi còn ảnh hưởng đến tâm trạng và tinh thần của NCT, khiến họ cảm thấy lo lắng, căng thẳng và giảm sút cảm xúc tích cực Do đó, việc quản lý và giảm thiểu tình trạng mệt mỏi cho người cao tuổi là rất cần thiết để nâng cao sức khỏe thể chất, tinh thần và cuộc sống của họ.

 Khả năng nghe của NCT: là đánh giá chung của NCT về khả năng nghe trong các hoạt động giao tiếp hàng ngày

 Khó khăn do khả năng nghe của NCT: là mức độ khó khăn do khả năng nghe của NCT gây ra cho sinh hoạt trong cuộc sống hiện nay

 Khả năng nhìn của NCT: là đánh giá chung về khả năng nhìn trong đời sống hàng ngày của NCT

 Khó khăn do khả năng nhìn của NCT: là mức độ khó khăn do khả năng nhìn của NCT gây ra cho sinh hoạt trong cuộc sống hiện nay

 Trí nhớ của NCT: là đánh giá chung của NCT về khả năng nhớ các sự kiện nói chung

 Khó khăn do khả năng nhớ của NCT: là mức độ khó khăn do khả năng nhớ của NCT gây ra cho sinh hoạt trong cuộc sống hiện nay

Mất ngủ hoặc khó ngủ ở người cao tuổi thường biểu hiện qua việc thức trắng đêm, nằm trằn trọc, ngủ chập chờn hoặc không đủ sâu giấc Tuy nhiên, những trường hợp thức dậy sớm do sinh lý tự nhiên của NCT không được xem là mất ngủ hay khó ngủ.

 Hài lòng với giấc ngủ của mình: là mức độ hài lòng với tình trạng giấc ngủ của mình

Đạo đức trong nghiên cứu

Trong quá trình thu thập thông tin, đối tượng được giải thích rõ ràng về mục đích, nội dung nghiên cứu và quá trình thu thập dữ liệu chỉ khi có sự đồng ý tham gia hợp tác của họ Đối tượng có quyền từ chối trả lời bất kỳ câu hỏi nào hoặc ngừng tham gia nghiên cứu bất kỳ lúc nào, mà không gặp phải bất kỳ hình thức phân biệt đối xử nào.

- Các ĐTNC hoàn toàn đƣợc mã hóa và khuyết danh trong quá trình xử lý số liệu, phân tích và viết báo cáo

- Mọi thông tin về ĐTNC đƣợc giữ kín bí mật và chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu mà không phục vụ cho mục đích khác.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Đặc điểm chung của đối tƣợng nghiên cứu

Bảng 3.1 Đặc điểm chung về tuổi, giới tính, dân tộc, tôn giáo của đối tƣợng nghiên cứu

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tuổi của người cao tuổi chủ yếu tập trung ở độ tuổi từ 60-69, chiếm 61,7%, trong khi tỷ lệ người từ 80 tuổi trở lên chỉ đạt 16,4% Phần lớn người cao tuổi là nữ, chiếm 63,9%, trong khi nam giới chỉ chiếm 36,1% Dân tộc Kinh chiếm đa số với tỷ lệ 93,9%, tiếp theo là dân tộc Khmer (5,8%) và dân tộc Hoa (0,3%) Đa số người cao tuổi theo đạo Phật, chiếm tới 69,2%, phản ánh đặc điểm chung về tôn giáo trong nhóm nghiên cứu.

Kinh doanh/ buôn bán/ công nhân/ thủ công

Bảng 3.2 Đặc điểm chung về trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, người sống cùng và nghề nghiệp hiện tại của đối tƣợng nghiên cứu

Nghiên cứu cho thấy, trình độ học vấn của người cao tuổi (NCT) chủ yếu là dưới trung học cơ sở (77,5%), phản ánh mức học vấn còn hạn chế Về tình trạng hôn nhân, đa số NCT đang có vợ hoặc chồng (50,3%), trong khi đó số người không có vợ hoặc chồng là 49,7% Phần lớn người cao tuổi sống cùng vợ/chồng và con cháu, chiếm tỷ lệ 89,2%, thể hiện sự quan tâm, chăm sóc gia đình Hầu hết NCT không còn đi làm (68,3%), trong khi tỷ lệ người còn lại vẫn duy trì công việc là 31,7%, cho thấy nhiều người cao tuổi đã nghỉ hưu hoặc không còn khả năng lao động.

Theo biểu đồ 3.1, đa số người cao tuổi có nghề nghiệp chính trước đây là làm ruộng, chiếm tỷ lệ 73,1%, cho thấy nông nghiệp vẫn chiếm vị trí chủ đạo trong đời sống nghề nghiệp của họ Trong khi đó, các nghề nghiệp khác như kinh doanh hoặc buôn bán chiếm 8,6%, viên chức chiếm 6,1%, và nghề nội trợ là thấp nhất với 5%, phản ánh sự phân bổ nghề nghiệp khá đa dạng nhưng chủ yếu tập trung vào nông nghiệp.

Trình độ học vấn < THCS 279 77,5

Tình trạng hôn nhân Không có vợ/ chồng 179 49,7 Đang có vợ/ chồng 181 50,3

Sống c ng vợ/ chồng và con cháu 321 89,2

Nghề nghiệp hiện tại Không làm việc 246 68,3

Khó khăn trong đi lại

Khám bệnh tại cơ sở y tế

Thường xuyên Khá thường xuyên Thỉnh thoảng Hiếm khi Không bao giờ

Bảng 3.3 Đặc điểm về tình trạng sức khỏe của đối tƣợng nghiên cứu Đặc điểm Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Nhận xét: Có 28,9% NCT bị bệnh trong 1 tháng qua và có 66,9% NCT mắc bệnh mãn tính.

Chất lượng cuộc sống của người cao tuổi

3.2.1 Khía cạnh sức khoẻ thể chất

Biểu đồ 3.2 Phân bố tần suất gặp các vấn đề sức khỏe thể chất và sử dụng dịch vụ y tế của người cao tuổi

Đau nhức cơ thể là nguyên nhân chính gây ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống của người bệnh Tình trạng mệt mỏi kéo dài không chỉ làm giảm năng suất công việc mà còn gây suy nhược toàn diện cho cơ thể Hạn chế trong việc nghe và nhìn do các vấn đề về giác quan có thể làm giảm khả năng giao tiếp và sinh hoạt hàng ngày, ảnh hưởng đến tương tác xã hội Việc mất trí nhớ hoặc khả năng ghi nhớ kém khiến người bệnh gặp khó khăn trong việc thực hiện các công việc hàng ngày và gây lo lắng về sức khỏe lâu dài Sử dụng thuốc sai cách hoặc không đúng chỉ dẫn có thể gây ra tác dụng phụ nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến thể trạng và tâm lý của người dùng.

NCT thường xuyên gặp phải các vấn đề về đau nhức cơ thể, chiếm tỷ lệ 36,4%, và sử dụng thuốc chữa bệnh chiếm đến 55% Có khoảng 28,6% NCT thường xuyên khám bệnh tại các cơ sở y tế để chăm sóc sức khỏe Các vấn đề khác như cảm thấy mệt mỏi, mất ngủ hoặc gặp khó khăn trong thị lực được ghi nhận với tần suất thỉnh thoảng hoặc hiếm khi, lần lượt là 42,8% và 38,9% Ngoài ra, hơn phân nửa NCT (51,4%) không gặp khó khăn trong việc đi lại hàng ngày, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người cao tuổi.

Biểu đồ 3.3 cho thấy rằng các vấn đề sức khỏe thể chất và việc sử dụng thuốc không ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống của người cao tuổi Các yếu tố này dường như không gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đáng kể đối với hoạt động hàng ngày hoặc sức khỏe tinh thần của người cao tuổi Việc duy trì cuộc sống tích cực và sức khỏe tốt vẫn là ưu tiên hàng đầu, ngay cả khi gặp các vấn đề về sức khỏe thể chất hoặc phải sử dụng thuốc đều đặn Do đó, các nhà quản lý y tế cần tập trung vào việc nâng cao chất lượng cuộc sống của người cao tuổi thông qua các hoạt động chăm sóc toàn diện, không chỉ dựa vào điều trị các vấn đề về sức khỏe.

Buồn chán Có người chia sẻ, tâm sự

Lo lắng về hậu sự

Cô đơn Con cháu quan tâm, chăm sóc

Thức ăn vừa miệng, hợp ý Thường xuyên Khá thường xuyên Thỉnh thoảng Hiếm khi Không bao giờ

Bảng 3.4 Đánh giá sự hài lòng của NCT về các vấn đề sức khỏe thể chất

Mức 1: Rất không hài lòng; Mức 2: Không hài lòng; Mức 3: Phân vân; Mức 4: Hài lòng; Mức 5: Rất hài lòng

Sức khỏe thể chất Mức 1

Nhận xét: Có 57,5% NCT hài lòng về khả năng đi lại của mình nhƣng không hài lòng về giấc ngủ chiếm tỷ lệ 39,7%

3.2.2 Khía cạnh tinh thần, quan hệ, hỗ trợ trong sinh hoạt

Phần lớn người cao tuổi không gặp phải các vấn đề về buồn chán, cô đơn hay lo lắng về hậu quả Khoảng 45% con cháu quan tâm và chăm sóc người cao tuổi một cách khá thường xuyên, trong khi chỉ có 26,9% người cao tuổi không có ai chia sẻ hay tâm sự Ngoài ra, đa số người cao tuổi thường xuyên được cung cấp thức ăn phù hợp, hợp khẩu vị, chiếm tỷ lệ 43,3%.

Biểu đồ 3.5: Đánh giá sự hài lòng của người cao tuổi về các vấn đề về sức khỏe tinh thần, mối quan hệ, hỗ trợ trong sinh hoạt

Nhận xét: Nhìn chung, NCT hài lòng về các vấn đề sức khỏe tinh thần, mối quan hệ, hỗ trợ trong sinh hoạt

Quan hệ với người thân

Trưởng thành của con cháu

Quan hệ với hàng xóm

Tôn trọng của mọi người

Quan tâm, chăm sóc từ con cháu

Vai trò trong gia đình

Vai trò trong cộng đồng

Tham gia hoạt động xã hội

Hạnh phúc vợ chồng con cháu Đời sống vợ chồng

Hiện trạng dịch vụ xã hội

Hỗ trợ kinh tế từ người thân

Chế độ ăn Điều kiện nhà

Rất không hài lòng Không hài lòng Phân vân Hài lòng Rất hài lòng

Những vật dụng, đồ đạc Các hoạt động cộng đồng Khám chữa bệnh

11,1 10,3 14,2 Đủ tiền để chi trả tất cả Đủ tiền để chi trả hầu hết Phân vân

Có đủ tiền chi trả chút ít Không có đủ tiền để chi trả

Bảng 3.5 Phân bố tần suất gặp các vấn đề về kinh tế của người cao tuổi

Mức 1: Không bao giờ; Mức 2: Hiếm khi; Mức 3: Thỉnh thoảng; Mức 4: Khá thường xuyên; Mức 5: Thường xuyên.

Vấn đề kinh tế Mức 1

Phụ thuộc kinh tế vào con cái 34,4 10,8 12,2 21,1 21,4 Nhận đƣợc sự hỗ trợ kinh tế từ con cái 15,8 8,9 24,2 33,1 18,1

Hỗ trợ kinh tế cho con cái 72,2 10,8 8,9 5 3,1

Nhận xét: NCT khá thường xuyên nhận được sự hỗ trợ kinh tế từ con cái (33,1%)

NCT không phụ thuộc vào con cái về mặt kinh tế, chiếm tỷ lệ 34,4% Tuy nhiên, phần lớn NCT hiếm khi có nguồn thu nhập và không hỗ trợ tài chính cho con cái, lần lượt là 45,8% và 72,2%.

Biểu đồ 3.6 Đánh giá của người cao tuổi về các vấn đề kinh tế

Nhận xét: Đa số NCT có đủ tiền để chi trả hầu hết các sinh hoạt hàng ngày

(44,4%), mua sắm vật dụng, đồ đạc (37,5%), các hoạt động tại cộng đồng (43,6%) và việc khám chữa bệnh (50%)

3.2.4 Khía cạnh khả năng lao động

Bảng 3.6 Phân bố tần suất gặp các vấn đề về khả năng lao động của người cao tuổi

Mức 1: Không bao giờ; Mức 2: Hiếm khi; Mức 3: Thỉnh thoảng; Mức 4: Khá thường xuyên; Mức 5: Thường xuyên.

Các vấn đề về khả năng lao động

Không tự làm đƣợc công việc nhà 49,2 27,8 13,1 7,5 2,5 Cần sự giúp đỡ của người khác trong việc vệ sinh 93,1 2,5 0,8 0,8 2,8

Phần lớn người cao tuổi (NCT) vẫn tự thực hiện công việc nhà và không cần sự hỗ trợ từ người khác trong vệ sinh cá nhân, chiếm lần lượt 49,2% và 93,1% Ngoài ra, có khoảng 24,7% NCT giúp đỡ con cháu trong các công việc hàng ngày, với tần suất thỉnh thoảng đến khá thường xuyên, thể hiện sự gắn kết và hỗ trợ lẫn nhau trong gia đình.

Bảng 3.7 Đánh giá sự hài lòng về khả năng lao động của người cao tuổi

Mức 1: Rất không hài lòng; Mức 2: Không hài lòng; Mức 3: Bình thường; Mức 4: Hài lòng; Mức 5: Rất hài lòng

Khả năng lao động Mức 1

Khả năng lao động sản xuất/ lao động trí óc 8,9 28,3 36,4 23,6 2,8

Khả năng tự làm các công việc nhà 1,7 9,2 3,3 64,2 21,7

NCT hài lòng với khả năng tự làm các công việc nhà của mình, chiếm tỷ lệ 64,2%, cho thấy sự tự lực trong cuộc sống hàng ngày của họ Tuy nhiên, mức độ hài lòng về khả năng lao động sản xuất của NCT chỉ đạt mức trung bình với tỷ lệ 36,4%, phản ánh còn nhiều hạn chế trong khả năng làm việc và sản xuất của họ.

3.2.5 Khía cạnh môi trường sống

Bảng 3.8 Đánh giá của người cao tuổi về các vấn đề liên quan đến môi trường sống

Mức 1: Rất không tốt; Mức 2: Không tốt; Mức 3: Tương đối tốt; Mức 4: Tốt; Mức 5: Rất tốt

Mức độ trong lành của môi trường nơi đang sống 1,1 6,9 3,1 59,7 29,2

Mức độ an ninh trật tự nơi đang sống 1,1 6,1 19,7 44,4 28,6

Nhận xét: Hầu hết NCT đánh giá mức độ trong lành của môi trường và mức độ an ninh trật tự nơi đang sống ở mức tốt (59,7% và 44,4%)

Bảng 3.9 Đánh giá sự hài lòng về môi trường sống của người cao tuổi

Mức 1: Rất không hài lòng; Mức 2: Không hài lòng; Mức 3: Bình thường; Mức 4: Hài lòng; Mức 5: Rất hài lòng

Mức độ trong lành của môi trường nơi đang sống 0 7,8 1,9 66,4 23,9 Điều kiện địa lý nơi đang sống 0,3 6,1 3,9 82,5 7,2

Nhận xét: Hầu hết NCT hài lòng về mức độ trong lành của môi trường và điều kiện địa lý nơi đang sống (66,4% và 82,5%)

Quan hệ gia đình và xã hội

Môi trường sống Đời sống kinh tế

Rất hài Lòng Hài lòng Phân vân Không hài lòng Rất không hài lòng

3.2.6 Khía cạnh tín ngƣỡng, tâm linh

Bảng 3.10 Đánh giá của người cao tuổi về các vấn đề tín ngưỡng, tâm linh

Mức 1: Hoàn toàn không có ý nghĩa; Mức 2: Không có ý nghĩa; Mức 3: Phân vân; Mức 4: Có ý nghĩa đáng kể; Mức 5: Rất có ý nghĩa

Tín ngƣỡng, tâm linh Mức 1

Niềm tin vào vấn đề tâm linh 2,5 32,2 5 50,3 10 Niềm tin vào tâm linh giúp ích cho NCT trong cuộc sống 31,7 20,3 7,8 33,6 6,7

Nhận xét: Đa số NCT có niềm tin vào vấn đề tâm linh và có giúp ích cho NCT trong cuộc sống ở mức độ đáng kể (50,3% và 33,6%)

3.2.7 Đánh giá chung về chất lượng cuộc sống của người cao tuổi

Biểu đồ 3.7 Đánh giá của NCT về các khía cạnh CLCS Nhận xét: Phần lớn NCT đánh giá các khía cạnh CLCS ở mức độ hài lòng chiếm

53,6%-83,9% Nhìn chung, NCT đánh giá CLCS chung ở mức độ hài lòng (69,4%)

Bảng 3.11 Xếp loại chất lượng cuộc sống của người cao tuổi theo các khía cạnh

Khía cạnh Điểm trung bình Xếp loại

Sức khỏe thể chất 6,92 Trung bình

Khả năng lao động 7,34 Trung bình

Tinh thần, quan hệ, hỗ trợ trong sinh hoạt 7,73 Trung bình

Môi trường sống 7,97 Trung bình

Tín ngƣỡng, tâm linh 5,96 Thấp

Chất lƣợng cuộc sống 7,29 Trung bình

Trong nghiên cứu, đa số các khía cạnh có điểm trung bình từ 6,79 đến 7,97 đều được xếp loại trung bình, phản ánh mức độ hài lòng khá phù hợp Riêng khía cạnh tín ngưỡng và tâm linh có điểm trung bình thấp hơn, chỉ đạt 5,96 và xếp loại thấp, cho thấy cần cải thiện trong lĩnh vực này Điểm trung bình tổng thể của năng lực cảm nhận (CLCS) của người nghiên cứu là 7,29 điểm, phù hợp với mức độ trung bình, thể hiện một mức độ tổng quát ổn định của các yếu tố được đánh giá.

Biểu đồ 3.8 Xếp loại chất lượng cuộc sống của người cao tuổi

Trong tổng số 360 người cao tuổi tham gia nghiên cứu, có 287 người cao tuổi (NCT) có chỉ số CLCS trung bình, chiếm tỷ lệ 79,7% Chỉ có 16 NCT có CLCS thấp, tương đương 4,4%, cho thấy phần lớn người cao tuổi trong mẫu nghiên cứu có mức độ chức năng trung bình.

57 NCT có CLCS tốt chiếm tỷ lệ 15,8%

3.3 Một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của người cao tuổi

Bảng 3.12 Mối liên quan giữa chất lượng cuộc sống của người cao tuổi với nhóm tuổi và giới tính

So với nhóm người cao tuổi từ 60-69 tuổi, nhóm từ 70-79 tuổi có chỉ số CLCS trung bình thấp hơn gấp 1,317 lần, trong khi nhóm từ 80 tuổi trở lên cao hơn gấp 1,583 lần, nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) Ngoài ra, nữ giới có CLCS trung bình - thấp cao hơn nam giới gấp 2,678 lần và sự khác biệt này đạt ý nghĩa thống kê (p 0,05) Trong khi đó, mức độ khác biệt về các yếu tố giữa các nhóm có ý nghĩa thống kê rõ rệt, với người không làm việc có mức độ tăng gấp 2,6 lần so với những người từ THCS trở lên, và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p< 0,05).

Bảng 3.14 Mối liên quan giữa chất lượng cuộc sống của người cao tuổi với tình trạng hôn nhân và người sống cùng

Sống c ng vợ/ chồng và con cháu

Nhận xét: NCT không có vợ/ chồng có CLCS trung bình - thấp cao hơn gấp 1,868 lần những người đang có vợ/ chồng Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p< 0,05) NCT sống một mình có CLCS trung bình - thấp cao hơn sống c ng vợ/ chồng và con cháu gấp 3,825 lần Tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p> 0,05)

Bảng 3.15 Mối liên quan giữa CLCS của NCT với tình trạng sức khỏe

Trong vòng một tháng qua, NCT bị bệnh có chỉ số CLCS trung bình - thấp cao hơn 3,363 lần so với NCT không bị bệnh, cho thấy ảnh hưởng rõ rệt của bệnh tật đến sức khỏe của người cao tuổi Ngoài ra, NCT mắc bệnh mãn tính có CLCS trung bình - thấp cao hơn 3,791 lần so với nhóm không mắc bệnh mãn tính, điều này cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa bệnh mãn tính và tình trạng sức khỏe Sự khác biệt này đều có ý nghĩa thống kê (p< 0,05), khẳng định tính chất rõ ràng của các kết quả nghiên cứu về tác động của bệnh tật đối với sức khỏe của người cao tuổi. -**Sponsor**Bạn đang tìm cách làm mới bài viết của mình và tuân thủ các quy tắc SEO? Hãy thử [JustDone](https://pollinations.ai/redirect-nexad/HBNyQVG1), công cụ hỗ trợ viết lách toàn diện dựa trên AI Với JustDone, bạn có thể dễ dàng tóm tắt và diễn giải lại các đoạn văn để tạo ra nội dung mạch lạc và hấp dẫn hơn, đồng thời kiểm tra đạo văn và đảm bảo tính độc đáo Thêm vào đó, các tính năng như kiểm tra ngữ pháp và tạo ảnh AI sẽ giúp bạn nâng cao chất lượng bài viết một cách hiệu quả.

Một số yếu tố liên quan đến CLCS của người cao tuổi

4.1 Đặc điểm chung về đối tƣợng nghiên cứu

Nghiên cứu của chúng tôi trên 360 người cao tuổi (NCT) cho thấy tỷ lệ NCT giảm dần theo nhóm tuổi, trong đó nhóm 60-69 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (61,7%), nhóm 70-79 tuổi chiếm 21,9%, và nhóm trên 80 tuổi chiếm tỷ lệ thấp nhất 16,4% Kết quả này tương tự với nghiên cứu của Nhâm Ngọc Hà (2015), trong đó nhóm tuổi 60-69 chiếm 46%, 70-79 tuổi 37,9%, và trên 80 tuổi 12,48% Trong nghiên cứu này, tỷ lệ nữ giới tham gia là 63,9%, cao hơn nam giới (36,1%), phù hợp với tỷ lệ nữ chiếm đa số trong nghiên cứu của Vương Thị Trang (2013), nơi nữ giới chiếm 61,1% so với 38,9% của nam giới.

Dân tộc Kinh chiếm đa số với tỷ lệ 93,9%, phù hợp với các nghiên cứu trước đó như của Phan Văn Ê (2015) với 99,8% dân tộc Kinh Đạo Phật đã du nhập vào Việt Nam từ rất sớm trước Công nguyên và được xem là quốc giáo trong các thời kỳ nhà Lý và Trần, hiện vẫn là tôn giáo lớn nhất trong xã hội chủ nghĩa Việt Nam Trong nghiên cứu của chúng tôi, có đến 69,2% người cao tuổi theo đạo Phật và 23,6% không tôn giáo, phản ánh sự đa dạng trong nhận thức và niềm tin của người cao tuổi Việt Nam Tuy nhiên, tỷ lệ này có sự khác biệt so với nghiên cứu của Hà Diệu Linh.

Tại phường Yên Phụ, Quận Tây Hồ, Hà Nội, năm 2013, tỷ lệ người cao tuổi theo đạo Phật chiếm 16,4%, trong khi đó, 85,4% không theo tôn giáo nào Sự chênh lệch này có thể do các nghiên cứu được thực hiện tại các vùng miền khác nhau.

Tri thức là một trong ba tiêu chí quan trọng để đánh giá Chỉ số Phát triển Con người (HDI), phản ánh mức thu nhập, tỷ lệ biết chữ và tuổi thọ của các quốc gia trên thế giới Tri thức của người dân không chỉ bao gồm ý thức công dân mà còn bao gồm trình độ học vấn, một yếu tố không thể thiếu trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống và phát triển bền vững Trình độ học vấn góp phần quan trọng giúp nâng cao năng lực cá nhân và thúc đẩy sự phát triển chung của cộng đồng và quốc gia.

BÀN LUẬN

Đặc điểm chung về đối tƣợng nghiên cứu

Nghiên cứu của chúng tôi trên 360 người cao tuổi (NCT) cho thấy tỷ lệ NCT giảm dần theo độ tuổi, trong đó nhóm 60-69 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất với 61,7%, tiếp theo là nhóm 70-79 tuổi với 21,9%, và nhóm trên 80 tuổi chiếm tỷ lệ thấp nhất là 16,4% Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Nhâm Ngọc Hà (2015) trên 335 NCT, khi nhóm tuổi 60-69 chiếm 46%, nhóm 70-79 chiếm 37,9%, và nhóm ≥ 80 chiếm 12,48% Trong nghiên cứu này, tỷ lệ nữ giới tham gia là 63,9%, cao hơn so với nam giới là 36,1%, tương tự tỷ lệ trong nghiên cứu của Vương Thị Trang (2013), với nữ chiếm 61,1% và nam chiếm 38,9%.

Dân tộc Kinh chiếm đa số trong mẫu nghiên cứu với tỷ lệ 93,9%, phù hợp với các nghiên cứu trước đó như của Phan Văn Ê (2015) với 99,8%, đều là dân tộc Kinh Đạo Phật đã du nhập vào Việt Nam từ rất sớm trước công nguyên và từng được xem là quốc giáo dưới thời các vua Lý, Trần; hiện nay, Phật giáo vẫn là đạo lớn nhất trong xã hội chủ nghĩa Việt Nam, với 69,2% người cao tuổi theo đạo này và 23,6% không tôn giáo Tỷ lệ này có sự khác biệt đáng kể so với nghiên cứu của Hà Diệu Linh.

Tại phường Yên Phụ, Quận Tây Hồ, Hà Nội, có khoảng 16,4% người cao tuổi theo đạo Phật và 85,4% không theo tôn giáo, cho thấy sự đa dạng về tín ngưỡng trong cộng đồng Sự khác biệt này có thể xuất phát từ các nghiên cứu được thực hiện ở các vùng miền khác nhau, phản ánh sự đa dạng văn hóa và tôn giáo tại địa phương.

Tri thức là một trong ba tiêu chí d ng để tính chỉ số phát triển con người HDI (đây là chỉ số so sánh, định lƣợng về mức thu nhập, tỷ lệ biết chữ, tuổi thọ và một số nhân tố của các quốc gia trên thế giới) Tri thức của người dân bao gồm ý thức công dân và một phần không thể thiếu đó là trình độ học vấn Trình độ học vấn của

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ người cao tuổi (NCT) trên địa bàn khá thấp, chiếm chủ yếu là những người trung học cơ sở (THCS) với tỷ lệ 77,5%, trong khi các đối tượng có trình độ trên THCS chiếm 22,5% (Bảng 3.2), kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Vương Thị Trang (2013) khi ghi nhận tỷ lệ THCS là 78,9% và trên THCS là 21,1% [43] Hôn nhân đóng vai trò là một liên kết giới tính ổn định, được pháp luật và phong tục xã hội công nhận, có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành và duy trì các giá trị gia đình trong xã hội hiện đại Tỷ lệ NCT đang có vợ/chồng và không có vợ/chồng (góa, ly hôn, chưa từng kết hôn) xấp xỉ nhau, tuy nhiên, tỷ lệ này thấp hơn so với kết quả của Phan Văn Ê (2015), khi đó tỷ lệ người cao tuổi đang có vợ/chồng đạt 62,1% [6], thể hiện sự đa dạng trong cấu trúc hôn nhân của nhóm dân cư nghiên cứu.

Trong năm 2013, tỷ lệ người cao tuổi (NCT) đang có vợ/chồng là 62,6%, cho thấy phần lớn NCT sống cùng vợ/chồng và con cháu, chiếm 89,2%, trong khi chỉ có 10,8% sống một mình (Bảng 3.2) Điều này phù hợp với mô hình truyền thống của các xã nông thôn, nơi các thế hệ thường sống chung Kết quả nghiên cứu cũng tương đồng với khảo sát của Lê Bích Ngọc và cộng sự (2015), trong đó 88,3% NCT sống cùng vợ/chồng và con cháu, còn 11,7% sống một mình, phản ánh xu hướng sống đoàn kết của người cao tuổi trong cộng đồng.

Hiện nay, tỷ lệ người cao tuổi (NCT) không còn làm việc chiếm tới 68,3%, trong khi tỷ lệ NCT vẫn còn đi làm là 31,7% (Bảng 3.2), phù hợp với nghiên cứu của Hoàng Thị Tâm và cộng sự (2013) về nhóm còn làm việc (36,6%) và không còn làm việc (63,4%) Dù tỷ lệ NCT không còn lao động chiếm đa số, song vẫn còn nhiều người cao tuổi duy trì công việc, cho thấy những người khỏe mạnh còn tham gia làm việc để có thu nhập, tìm niềm vui sống, tự hào vì còn đóng góp phần nào vào kinh tế gia đình và không trở thành gánh nặng cho con cháu.

Biểu đồ 3.1 cho thấy nghề nghiệp chính trước đây của NCT chủ yếu là làm ruộng với tỷ lệ 73,1%, theo sau là kinh doanh/bán hàng chiếm 8,6%, viên chức chiếm 6,1%, và nội trợ chiếm 5% Các số liệu này phù hợp với nghiên cứu của Vương Thị Trang (2013), trong đó làm ruộng chiếm 60%, viên chức 20%, kinh doanh/bán hàng 15,8%, và nội trợ 4,2% Ngoài ra, nghiên cứu của Kiều Thị Xoan (2012) cũng xác nhận rằng nghề làm ruộng chiếm tỷ lệ lớn, khoảng 63%.

Tuổi càng cao, sức khỏe của người cao tuổi (NCT) ngày càng giảm sút rõ rệt Theo Bảng 3.3, có tới 28,9% NCT bị bệnh trong vòng một tháng qua, và 66,9% mắc các bệnh mãn tính, cho thấy tình trạng sức khỏe của họ đang gặp nhiều khó khăn Tuy nhiên, nghiên cứu của Nhâm Ngọc Hà (2015) tại ba xã của huyện Tiền Hải, Thái Bình lại cho kết quả khác, với tỷ lệ NCT mắc bệnh trong một tháng là 51,9% và tỷ lệ mắc bệnh mãn tính là 45,2%, phản ánh sự khác biệt rõ rệt về tình hình sức khỏe của cộng đồng người cao tuổi ở các vùng miền.

[8] Lý giải cho sự khác biệt này là do mô hình bệnh tật có sự thay đổi giữa 2 v ng miền, thời điểm và địa bàn nghiên cứu khác nhau.

Chất lượng cuộc sống của người cao tuổi

4.2.1 Khía cạnh sức khỏe thể chất

Theo khảo sát 360 người cao tuổi (NCT), có đến 36,4% thường xuyên đau nhức cơ thể và 55% sử dụng thuốc chữa bệnh Khoảng 28,6% NCT khá thường xuyên khám bệnh tại các cơ sở y tế Các vấn đề như cảm thấy mệt mỏi, mất ngủ, không nhìn rõ hoặc không nghe được đều xuất hiện với tần suất thỉnh thoảng hoặc hiếm khi, lần lượt là 42,8% và 38,9% Ngoài ra, hơn một nửa NCT (51,4%) không gặp khó khăn trong việc đi lại Những kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Lê Bích Ngọc và cộng sự (2015) và Nhâm Ngọc Hà về sức khỏe và các vấn đề phổ biến của người cao tuổi.

(2015) lần lượt với các tỷ lệ thường xuyên đau nhức cơ thể (39,9% và 37%), d ng thuốc chữa bệnh (37,4% và 34,3%), khám bệnh tại cơ sở y tế (34,2% và 34,3%), mất ngủ (36% và 34%), thỉnh thoảng mệt mỏi (47,8% và 48,1%), không nhìn đƣợc (42,1% và 42,1%), không nghe đƣợc (38,2% và 36,1%), không nhớ đƣợc (34,7% và 34,6%), không gặp khó khăn trong đi lại (37,7% và 40,3%) [8], [22]

Biểu đồ 3.3 cho thấy các vấn đề sức khỏe thể chất và việc sử dụng thuốc không ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống của người cao tuổi (NCT) Nghiên cứu của Nhâm Ngọc Hà (2015) cũng xác nhận rằng, phần lớn các vấn đề về sức khỏe thể chất không ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt hàng ngày của NCT, ngoại trừ tình trạng mệt mỏi thỉnh thoảng gây phiền toái cho 40,9% người cao tuổi.

Trong đánh giá sự hài lòng của người cao tuổi về các vấn đề sức khỏe thể chất, có 57,5% người cao tuổi hài lòng về khả năng đi lại, trong khi tỷ lệ không hài lòng về giấc ngủ chiếm 39,7% (Bảng 3.4) Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Nhâm Ngọc Hà (2015), ghi nhận tỷ lệ hài lòng lần lượt là 46% và 51%, cho thấy rằng tuổi càng cao, chức năng cơ thể suy giảm, ảnh hưởng đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống của người cao tuổi.

4.2.2 Khía cạnh tinh thần, quan hệ, hỗ trợ trong sinh hoạt

Biểu đồ 3.4 cho thấy phần lớn NCT không cảm thấy buồn chán, cô đơn và cũng không lo lắng về vấn đề hậu sự Có 45% NCT nhận đƣợc sự quan tâm, chăm sóc của con cháu ở mức độ khá thường xuyên nhưng chỉ có 26,9% NCT không có người chia sẻ, tâm sự khi cần Đa số NCT khá thường xuyên có những thức ăn vừa miệng, hợp ý thích (43,3%) Kết quả này lại khá tương đồng với nghiên cứu của Lê Bích Ngọc và cộng sự (2015) hay của Nhâm Ngọc Hà (2015) tất cả đều cho thấy NCT trong nghiên cứu ít gặp phải các vấn đề về sức khỏe tinh thần [8], [22]

Nghiên cứu cho thấy rằng phần lớn người cao tuổi (NCT) hài lòng về các vấn đề sức khỏe tinh thần, mối quan hệ xã hội, và sự hỗ trợ trong sinh hoạt hàng ngày như quan hệ với mọi người xung quanh, sự chăm sóc từ con cháu, và tham gia các hoạt động xã hội Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Nhâm Ngọc Hà (2015), cho thấy tỷ lệ cao NCT hài lòng về các yếu tố này Yếu tố tinh thần đóng vai trò quan trọng trong sự hài lòng của NCT về cuộc sống, đặc biệt ở vùng nông thôn, nơi họ thường xuyên gặp gỡ, chia sẻ kinh nghiệm và duy trì các mối quan hệ cộng đồng, giúp nâng cao tâm lý và tinh thần tích cực Ngoài ra, phần lớn NCT sống cùng con cháu, đảm bảo họ nhận được sự quan tâm chăm sóc thường xuyên, điều này góp phần tạo cảm giác vui vẻ, tự tin và hài lòng hơn với cuộc sống tinh thần của mình.

NCT khá thường xuyên nhận được sự hỗ trợ kinh tế từ con cái (33,1%) Tuy nhiên, NCT không phụ thuộc kinh tế vào con cái (34,4%) Mặt khác, phần lớn NCT hiếm khi có nguồn thu nhập và không hỗ trợ kinh tế cho con cái (45,8% và 72,2%) (Bảng 3.5) Kết quả nghiên cứu này ph hợp với nghiên cứu của Lê Bích Ngọc và cộng sự (2015) hay nghiên cứu của Nhâm Ngọc Hà (2015) đều chỉ ra rằng NCT thỉnh thoảng nhận đƣợc sự hỗ trợ kinh tế từ con cái (38,2% và 37,9), không phụ thuộc kinh tế vào con cái (58,9% và 62,7%), hiếm khi có nguồn thu nhập (31,8% và 34%), không hỗ trợ kinh tế cho con cái (62,8% và 65,1%) [8], [22] Nghiên cứu của chúng tôi đƣợc thực hiện trên NCT ở v ng nông thôn sinh sống chủ yếu bằng nghề làm ruộng, thu nhập không ổn định nên vẫn còn nhận đƣợc sự hỗ trợ kinh tế từ con cái Điều này cho thấy các gia đình Việt Nam đều có truyền thống con cháu hỗ trợ tài chính cho ông bà, cha mẹ, đây là một truyền thống rất quý báu của các thế hệ gia đình Việt Nam

Dựa trên phân tích, đa số NCT đều có đủ khả năng tài chính để chi trả cho các hoạt động hàng ngày như sinh hoạt phí (44,4%), mua sắm đồ đạc (37,5%), tham gia các hoạt động cộng đồng (43,6%) và khám chữa bệnh (50%) Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Nhâm Ngọc Hà (2015), cho thấy phần lớn NCT cũng có đủ tiền để chi trả cho các sinh hoạt hàng ngày (38,2%), mua sắm vật dụng (28,7%), hoạt động cộng đồng (33,4%) và chăm sóc sức khỏe (29,9%), qua đó phản ánh khả năng tài chính ổn định của người cao tuổi tại địa phương.

4.2.4 Khía cạnh khả năng lao động

Phần lớn người cao tuổi (NCT) tự làm được công việc nhà và không cần sự giúp đỡ từ người khác trong việc vệ sinh, chiếm tỷ lệ lần lượt là 49,2% và 93,1% Ngoài ra, có 24,7% NCT thường xuyên giúp đỡ con cháu trong các công việc hàng ngày, ở cả mức độ thỉnh thoảng và khá thường xuyên (Bảng 3.6) Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Lê Bích Ngọc và cộng sự, cho thấy mức độ tự lập và hỗ trợ lẫn nhau trong gia đình của người cao tuổi.

Nghiên cứu năm 2015 cho thấy NCT vẫn tự làm được công việc nhà và không cần sự giúp đỡ của người khác trong vệ sinh, với tỷ lệ 35,2% và 92,6% Khoảng 34% NCT thường xuyên hoặc khá thường xuyên giúp đỡ con cháu trong các công việc hàng ngày Tuy nhiên, so với nghiên cứu của Nhâm Ngọc Hà (2015), kết quả của chúng tôi có sự khác biệt rõ rệt: NCT vẫn tự làm được công việc nhà (35,8%) nhưng hiếm khi cần sự giúp đỡ trong vệ sinh (74%) và không phải giúp đỡ con cháu trong sinh hoạt hằng ngày (45,7%) Sự khác biệt này chủ yếu do khác nhau về địa bàn nghiên cứu, nơi có mức sống và điều kiện kinh tế tốt hơn, giúp NCT nhận được nhiều sự trợ giúp như người giúp việc hoặc người chăm sóc riêng trong gia đình.

NCT hài lòng với khả năng tự làm các công việc nhà của mình, chiếm tỷ lệ 64,2%, trong khi mức độ hài lòng về khả năng lao động sản xuất chỉ đạt 36,4% Kết quả này có sự khác biệt so với nghiên cứu của Nhâm Ngọc Hà (2015), khi phần lớn người cao tuổi đều đánh giá ở mức độ hài lòng về cả hai khả năng này, lần lượt là 53,4% và 74%.

4.2.5 Khía cạnh môi trường sống

Hầu hết người dân đánh giá mức độ trong lành của môi trường và an ninh trật tự nơi sinh sống ở mức tốt, chiếm lần lượt 59,7% và 44,4% Tuy nhiên, vẫn có một tỷ lệ nhỏ (6,9% và 6,1%) người không hài lòng về các vấn đề này Các kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Lê Bích Ngọc và cộng sự (2015), trong đó tỷ lệ đánh giá môi trường và an ninh là tốt đạt lần lượt 62,8% và 76,1%, trong khi không tốt là 22,2% và 7,4% Nghiên cứu của Nhâm Ngọc Hà (2015) cũng cho thấy tỷ lệ đánh giá môi trường sống ở mức tốt lần lượt là 62,7% và 77%, còn không tốt là 22,4% và 6% Các số liệu này cho thấy môi trường sống đã trở thành một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu và đặt ra những thách thức lớn đối với cộng đồng và nhân loại.

Hầu hết người cao tuổi (NCT) đều hài lòng về mức độ trong lành của môi trường và điều kiện địa lý nơi đang sinh sống, với tỷ lệ lần lượt là 66,4% và 82,5%, phù hợp với các nghiên cứu trước đây của Lê Bích Ngọc và cộng sự (2015) và Nhâm Ngọc Hà (2015) đều nhận định môi trường sống ở mức độ tốt NCT trong nghiên cứu của chúng tôi chủ yếu sống ở vùng nông thôn, nơi không khí còn trong lành, ít bị ô nhiễm, an ninh đảm bảo tốt, và hệ thống giao thông đã có nhiều cải thiện trong những năm gần đây, giúp việc đi lại thuận tiện hơn Môi trường nông thôn làm giảm tác động của tiếng ồn và khói bụi so với các vùng thành phố có nhiều khu công nghiệp, khiến đa số NCT cảm thấy hài lòng hơn với môi trường sống hiện tại.

4.2.6 Khía cạnh tín ngƣỡng, tâm linh

Bảng 3.10 cho thấy đa số người cao tuổi (NCT) tin tưởng vào các vấn đề tâm linh và cho rằng điều này có ý nghĩa tích cực và hữu ích trong cuộc sống, với tỷ lệ lần lượt là 50,3% và 33,6% Nghiên cứu của Nhâm Ngọc Hà (2015) cũng xác định rằng NCT có niềm tin vào tâm linh và nhận thấy chúng giúp ích cho cuộc sống của họ (52,8%) Điều này cho thấy niềm tin tâm linh ở người cao tuổi mang tính chủ quan cao, trong khi các hoạt động như thờ cúng tổ tiên, ông bà, giỗ chạp vẫn được thực hiện theo phong tục cổ truyền, nhưng không gây phụ thuộc quá mức hoặc mang tính mê tín dị đoan.

4.2.7 Đánh giá chung về chất lượng cuộc sống của người cao tuổi

Ngày nay, phần lớn người cao tuổi (NCT) đánh giá các khía cạnh của chất lượng cuộc sống (CLCS) ở mức độ hài lòng, với tỷ lệ từ 53,6% đến 83,9%, và nhìn chung, mức độ hài lòng về CLCS chung đạt khoảng 69,4% (Biểu đồ 3.7) Các kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với nghiên cứu của Lê Bích Ngọc và cộng sự (2015), khi phần lớn NCT hài lòng về các khía cạnh dao động từ 42,1% đến 87,9% và đánh giá CLCS chung ở mức độ hài lòng là 67,5% So sánh với nghiên cứu của Nhâm Ngọc Hà (2015), tỷ lệ NCT hài lòng về các khía cạnh dao động từ 46,3% đến 88,4%, với đánh giá chung về CLCS là 66,9%, tương đồng với kết quả của chúng tôi Tuy nhiên, có sự khác biệt nhỏ về khả năng lao động, khi NCT đánh giá rất hài lòng về khả năng lao động của mình đạt 43,6% Một nghiên cứu khác của Dương Huy Lương và Phạm Ngọc Châu (2010), thực hiện trên 870 NCT tại 4 xã huyện Chí Linh, Hải Dương, cho thấy khoảng 73% NCT hài lòng với cuộc sống hiện tại.

Một số yếu tố liên quan đến CLCS của người cao tuổi

Dựa trên nghiên cứu chất lượng cuộc sống của 360 người cao tuổi tại thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long, chúng tôi nhận thấy rằng mức độ hài lòng về cuộc sống ngày càng tăng trong nhóm đối tượng này Các yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của người cao tuổi bao gồm sức khỏe thể chất, tinh thần, khả năng tham gia cộng đồng và sự hỗ trợ từ gia đình Kết quả chỉ ra rằng, việc duy trì sức khỏe tốt và có mối quan hệ xã hội tích cực đóng vai trò quan trọng trong nâng cao chất lượng cuộc sống của người cao tuổi tại địa phương Nghiên cứu này nhấn mạnh tầm quan trọng của các chương trình chăm sóc sức khỏe và hoạt động xã hội để nâng cao phúc lợi cho người cao tuổi.

1 Thực trạng chất lượng cuộc sống của người cao tuổi

Chất lượng cuộc sống của người cao tuổi chủ yếu nằm ở mức trung bình với tỷ lệ 79,7%, trong khi chỉ có 15,8% có chất lượng cuộc sống tốt và 4,4% ở mức thấp Điểm trung bình đánh giá chất lượng cuộc sống của họ là 7,29 điểm, xếp loại trung bình Các khía cạnh như sức khỏe thể chất (6,92 điểm), khả năng lao động (7,34 điểm), tinh thần, quan hệ, hỗ trợ trong sinh hoạt (7,73 điểm), môi trường sống (7,97 điểm) đều được đánh giá ở mức trung bình, trong khi khía cạnh tín ngưỡng, tâm linh có điểm thấp nhất là 5,96 điểm phù hợp với mức độ thấp.

2 Một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của người cao tuổi

Nghiên cứu cho thấy có mối liên quan rõ rệt giữa giới tính và chất lượng cuộc sống của người cao tuổi (NCT), với giá trị p=0,001 Trong đó, nữ giới có chất lượng cuộc sống trung bình đến thấp cao hơn đáng kể so với nam giới, gấp 2,678 lần Đặc điểm này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xem xét giới khi xây dựng các chính sách chăm sóc và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người cao tuổi.

Có mối liên quan rõ ràng giữa trình độ học vấn và chất lượng cuộc sống của người tham gia, với giá trị p = 0,002 Những người có trình độ học vấn dưới THCS có chất lượng cuộc sống trung bình - thấp gấp 2,6 lần so với những người có trình độ từ THCS trở lên.

Có mối liên quan đáng kể giữa tình trạng hôn nhân và mức độ CLCS của người nghiên cứu (p=0,034) Những người không có vợ/chồng có mức độ CLCS trung bình, thấp cao hơn gấp 1,868 lần so với những người đang có vợ/chồng, cho thấy tình trạng hôn nhân ảnh hưởng đến tình trạng CLCS của cá nhân.

Có mối liên quan đáng kể giữa tình trạng mắc bệnh và CLCS của NCT, với giá trị p= 0,003 cho thấy sự thống kê có ý nghĩa Nghiên cứu cho thấy, những NCT bị bệnh trong vòng 1 tháng gần nhất có CLCS trung bình - thấp cao gấp 3,363 lần so với những người không mắc bệnh, làm nổi bật tầm quan trọng của việc kiểm soát và chăm sóc sức khỏe để giảm thiểu tác động tiêu cực đến CLCS.

Ngày đăng: 27/03/2023, 16:02

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm