--- QUÁCH KHÁNH MI NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH SUY DINH DƯỠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở TRẺ EM DƯỚI 5 TUỔI TẠI PHƯỜNG TRƯỜNG LẠC, QUẬN Ô MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ NĂM 2017 LUẬN VĂN TỐT NGHI
TỔNG QUAN
Khái quát chung về dinh dưỡng
1.1.1 Các khái niệm liên quan đến dinh dƣỡng
Dinh dưỡng là tình trạng cơ thể được cung cấp đầy đủ, cân đối các thành phần dinh dưỡng cho sự phát triển toàn vẹn, tăng trưởng của cơ thể để đảm bảo chức năng sinh lý và tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội [1] Tình trạng dinh dưỡng (TTDD) là tập hợp các đặc điểm cấu trúc, hóa sinh và đặc điểm các chức phận của cơ thể phản ánh mức đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng TTDD của một cá thể là kết quả của quá trình ăn uống vá sử dụng các chất dinh dưỡng của cơ thể TTDD của trẻ từ 0 đến 5 tuổi thường được coi là đại diện cho TTDD và thực phẩm của toàn bộ cộng đồng [17] Rối loạn dinh dưỡng (malnutrition) là một thuật ngữ thường được sử dụng rộng rãi để thay thế cho SDD (undernutrition) nhưng về mặt ý nghĩa nó cũng đề cập đến thừa dinh dưỡng (overnutrition) Người bị SDD là do chế độ ăn uống không cung cấp đủ năng lượng và protein thích hợp cho sự tăng trưởng và duy trì hoạt động hoặc cơ thể không hấp thu chất dinh dưỡng từ thực phẩm do bệnh tật [36]
SDD là một thuật ngữ chung để chỉ việc thiếu hụt một vài chất hoặc tất cả các chất cần thiết cho sức khỏe con người, có 2 loại SDD cơ bản là:
+ SDD protein-năng lượng (PEM: protein energy malnutrition)
+ SDD thiếu vi chất dinh dưỡng (vitamin và khoáng chất)
Chúng tôi sử dụng định nghĩa SDD trong nghiên cứu này như sau: SDD là tình trạng chậm lớn chậm phát triển do chế độ ăn của trẻ không đảm bảo đủ nhu cầu protein và năng lượng kèm theo các bệnh nhiễm khuẩn [13],[16]
Dinh dưỡng học là môn nghiên cứu mối quan hệ giữa thức ăn và cơ thể, nhằm hiểu cách cơ thể sử dụng thực phẩm để duy trì sự sống, hỗ trợ tăng trưởng và chức năng của các cơ quan, mô, cũng như sinh năng lượng cần thiết hàng ngày Ngoài ra, nó còn nghiên cứu phản ứng của cơ thể đối với việc ăn uống, sự biến đổi của khẩu phần ăn và các yếu tố khác có ảnh hưởng đến sức khỏe và có ý nghĩa bệnh lý.
1.1.2 Đặc điểm sinh học và nhu cầu dinh dƣỡng trẻ em Đặc điểm sinh học của trẻ dưới 5 tuổi
Tốc độ tăng trưởng nhanh, nhất là trong 3 tháng đầu do đó nhu cầu dinh dưỡng cao, quá trình đồng hóa cao hơn dị hóa
Chức năng tiêu hóa của trẻ phát triển nhanh nhưng vẫn chưa hoàn thiện hoàn toàn Hệ miễn dịch thụ động, đặc biệt là lượng IgG truyền từ mẹ sang giảm nhanh, trong khi khả năng sản xuất Globulin miễn dịch của trẻ còn yếu Điều này làm tăng nguy cơ suy giảm đề kháng và nhiễm trùng, đòi hỏi chăm sóc đặc biệt để hỗ trợ sự phát triển toàn diện của hệ tiêu hóa và miễn dịch phù hợp với từng giai đoạn.
Trong giai đoạn này, các bệnh lý phổ biến bao gồm các bệnh về dinh dưỡng và chuyển hóa như suy dinh dưỡng, thiếu máu, còi xương, và tiêu chảy cấp Bên cạnh đó, các bệnh nhiễm khuẩn như viêm phổi, viêm đường hô hấp trên, và viêm màng não mủ cũng thường gặp.
Nhu cầu dinh dƣỡng của trẻ
Dinh dưỡng cho trẻ dưới 1 tuổi
Dinh dưỡng của trẻ dưới 1 tuổi có ý nghĩa quan trọng tới sức khỏe và cả quá trình phát triển của trẻ Trong năm đầu tốc độ phát triển của mô, các cơ quan của trẻ dưới 1 tuổi rất nhanh, đồng thời là sự phát triển sinh lý và tinh thần của trẻ Khi dinh dưỡng của trẻ không đáp ứng đầy đủ sẽ dẫn đến chậm phát triển và cả những biến đổi về hóa sinh và những hậu quả bệnh tật của thiếu các chất dinh dưỡng Ảnh hưởng của thiếu dinh dưỡng lên sức khỏe của trẻ phụ thuộc vào thời điểm xuất hiện chất dinh dưỡng nào thiếu và thời gian thiếu bao lâu Nhân viên nghiên cứu của Đại học Michegen của Mỹ nghiên cứu phát hiện trẻ em bị thiếu sắt nghiêm trọng ở giai đoạn sơ sinh rất dễ có vấn đề về học tập và hành vi khi bước vào dậy thì [22] Nhiều vấn đề sức khỏe bệnh tật của trẻ có thể phòng và cải thiện được nếu được điều chỉnh đúng kịp thời Một điểm đáng chú ý là khả năng hấp thu của trẻ dưới 1 tuổi chưa hoàn thiện, khả năng miễn dịch của trẻ còn hạn chế nên những thiếu sót trong nuôi dưỡng chăm sóc sức khỏe vệ sinh đều có thể ảnh hưởng tới sức khỏe và nguy cơ mắc bệnh nhiễm trùng và SDD ở trẻ [2]
Dinh dưỡng cho trẻ từ 1-3 tuổi
Trẻ em lứa tuổi này đã có những phát triển về hệ thống tiêu hóa ngay từ
Vào độ tuổi 1, trẻ đã có một số răng và khả năng tiêu hóa hấp thu dưỡng chất đã tiến bộ rõ rệt so với trước đó Dù tốc độ phát triển của trẻ giảm nhẹ so với 12 tháng đầu đời, nhưng vẫn duy trì mức cao, phù hợp với các hoạt động như tập đi, tập nói và tăng trưởng tổng thể Do đó, nhu cầu năng lượng của trẻ ở độ tuổi này vẫn cao hơn so với người lớn, nhằm hỗ trợ quá trình phát triển thể chất và trí tuệ.
Nhu cầu năng lượng của lứa tuổi này là khoảng 1300Kcal mỗi ngày, tương đương với 100Kcal trên mỗi kg cân nặng Đặc biệt, nhu cầu protein hàng ngày của họ là khoảng 28g, tương đương từ 2,5 đến 3g protein trên mỗi kg cân nặng Trong đó, protein động vật nên chiếm khoảng 50% tổng lượng protein nhằm đảm bảo cung cấp đủ amino acids cần thiết cho phát triển và duy trì sức khỏe phù hợp với lứa tuổi.
Nhu cầu một số vitamin như sau:
Vitamin K: 15mg Vitamin PP: 9mg
Nhu cầu một số khoáng chất như sau:
Trẻ từ 1 đến 3 tuổi cơ quan tiêu hóa dần hoàn thiện trẻ bắt đầu tập tự ăn, tuy nhiên cách thức ăn vẫn phụ thuộc hoàn toàn vào bố mẹ và người chăm sóc trẻ Cơ quan tiêu hóa của trẻ chưa phát triển hoàn chỉnh, do vậy cách thức ăn cho trẻ cần phải dễ tiêu hóa, giàu các chất dinh dưỡng có giá trị cao và đủ các nhóm thực phẩm trong ô dinh dưỡng để đáp ứng nhu cầu các chất dinh dưỡng, đảm bảo tốt vệ sinh thực phẩm và ăn uống để đề phòng tránh nhiễm khuẩn và bệnh đường ruột ở trẻ Cần chú ý những yêu cầu sau: Đối với nhóm tuổi từ 1-3 tuổi số bữa ăn trong ngày nên từ 4-5 bữa với chế độ ăn riêng của trẻ, với các thức ăn mềm và tập dần cho trẻ ăn từng loại thức ăn từ ít đến nhiều, cho đến thức ăn hỗn hợp
Đảm bảo chế biến các món ăn cho trẻ phù hợp và thay đổi đa dạng giúp kích thích vị giác, duy trì sự ngon miệng và ngăn ngừa tình trạng chán ăn Việc thay đổi cách chế biến và đa dạng thực đơn còn giúp bé không cảm thấy mệt mỏi hoặc sợ một loại thức ăn nào đó do phải ăn quá nhiều hoặc lặp đi lặp lại Chế biến hợp lý góp phần hình thành thói quen ăn uống lành mạnh và phát triển tốt về thể chất cho trẻ.
Tập cho trẻ ăn đúng bữa, ăn đủ, không ăn vặt, bánh kẹo trước bữa ăn Tập cho trẻ không thành kiến với một loại thức ăn nào đó
Hàng ngày chú ý cho trẻ uống đủ nước
Tạo không khí vui vẻ khi cho trẻ ăn, tạo điều kiện cho trẻ thích thú khi ăn và trẻ sẽ ăn ngon miệng
Trong quá trình nuôi dưỡng trẻ ở lứa tuổi này, việc chú trọng đảm bảo đầy đủ nhu cầu dinh dưỡng, chăm sóc vệ sinh sạch sẽ và tạo điều kiện cho trẻ hoạt động là rất quan trọng Việc chơi các trò chơi phù hợp với độ tuổi giúp trẻ phát triển toàn diện về thể chất lẫn tinh thần, góp phần nâng cao sức khỏe và khả năng vận động của trẻ.
Dinh dưỡng cho trẻ từ 4-6 tuổi
Lứa tuổi này có tốc độ phát triển nhanh, với trung bình mỗi năm cân nặng tăng khoảng 2kg và chiều cao tăng khoảng 7cm, đồng thời hoạt động thể lực cũng tăng đáng kể Đây là giai đoạn bắt đầu vào học mẫu giáo, đòi hỏi nhu cầu dinh dưỡng và năng lượng phù hợp để hỗ trợ sự phát triển toàn diện của trẻ Các khuyến nghị về chế độ ăn uống cho lứa tuổi này đã được đưa ra nhằm đảm bảo cung cấp đủ chất dinh dưỡng cần thiết cho sự trưởng thành của trẻ.
Nhu cầu năng lượng là 1600Kcal/ngày
Nhu cầu protein là 36g/ngày, khoảng 2-2,5g/kg cân nặng/ngày, protein động vật ở lứa tuổi nên đạt 50% tổng số protein
Nhu cầu một số vitamin:
Vitamin K: 20mg Vitamin PP: 12mg
Nhu cầu một số khoáng chất như sau:
Hệ thống tiêu hóa của trẻ trong giai đoạn này đã phát triển hơn, cho phép đa dạng hóa các loại thức ăn phù hợp với bữa ăn của người lớn, tuy nhiên, cần chú ý không cho trẻ ăn theo khẩu phần của người lớn để đảm bảo cân đối dinh dưỡng Để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của trẻ, các loại thực phẩm như sữa và chế phẩm từ sữa, thịt, cá, trứng và trái cây cần được bổ sung đầy đủ trong chế độ ăn hàng ngày Giai đoạn này rất quan trọng trong việc hình thành thói quen và tập tính dinh dưỡng, vì thế, việc tuân thủ nguyên tắc ăn đúng bữa và duy trì chế độ ăn đa dạng giúp trẻ phát triển toàn diện.
Trẻ từ 4-6 tuổi rất thích ăn đồ ngọt do sự phát triển của các gai vị giác nên việc trẻ dễ thích ăn vặt, đường, bánh kẹo trước bữa ăn, làm giảm ngon miệng ở trẻ trong bữa ăn rất dễ xảy ra tình trạng thiếu dinh dưỡng [2].
Đánh giá tình trạng dinh dưỡng trẻ dưới 5 tuổi
Hiện nay có 4 phương pháp được dùng để đánh giá TTDD của trẻ em: điều tra khẩu phần và tập quán ăn uống, các chỉ tiêu nhân trắc, thăm khám thực thể để phát hiện các dấu hiệu lâm sàng của bệnh tật có liên quan đến ăn uống, các xét nghiệm hóa sinh
Nhân trắc học dinh dưỡng nhằm đo lường các biến đổi về kích thước và cấu trúc cơ thể theo tuổi, là những chỉ số quan trọng để đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ em Để xác định mức độ suy dinh dưỡng protein - năng lượng ở trẻ dưới 5 tuổi trong cộng đồng, người ta thường sử dụng ba chỉ tiêu nhân trắc theo hướng dẫn của WHO, gồm cân nặng theo tuổi (CN/T), chiều cao theo tuổi (CC/T), và cân nặng theo chiều cao (CN/CC) Những chỉ số này giúp đánh giá chính xác tình trạng dinh dưỡng, phát hiện sớm các vấn đề liên quan đến thiếu hụt dinh dưỡng ở trẻ nhỏ.
Cân nặng theo tuổi là chỉ số phổ biến và dễ dàng sử dụng nhất để đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ ở cả cá thể và cộng đồng Chỉ số này giúp phát hiện trẻ có cân nặng thấp hơn so với trẻ cùng độ tuổi trong quần thể tham chiếu, biểu hiện của suy dinh dưỡng dưới dạng suy dinh dưỡng nhẹ cân (underweight) Vì việc theo dõi cân nặng dễ thực hiện hơn so với chiều cao, tỷ lệ nhẹ cân vẫn được xem như một chỉ số phản ánh mức độ thiếu dinh dưỡng chung trong cộng đồng.
Chiều cao theo tuổi là chỉ số phản ánh tình trạng dinh dưỡng trong quá trình phát triển của trẻ Chiều cao thấp theo tuổi cho thấy trẻ có thể đã bị chậm phát triển hoặc còi xương do quá trình dinh dưỡng kéo dài hoặc gặp vấn đề trong quá khứ Chỉ số này hiện đã được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến cáo sử dụng để phát hiện trẻ bị thấp còi, giúp định hướng can thiệp dinh dưỡng phù hợp nhằm thúc đẩy sự phát triển toàn diện của trẻ.
Chỉ số cân nặng theo chiều cao là một tiêu chí đánh giá tình trạng dinh dưỡng hiện tại của cơ thể Đây là chỉ số phản ánh rõ tình trạng suy dinh dưỡng cấp tính (wasting), đặc biệt khi giá trị này thấp hơn -2 độ lệch chuẩn so với quần thể tham khảo Khi chỉ số này nằm dưới ngưỡng này, người đó được xem là gầy còm hoặc mắc suy dinh dưỡng cấp tính, cần được chú ý và can thiệp kịp thời để cải thiện sức khỏe.
Phân loại dinh dưỡng trẻ dưới 5 tuổi
1.3.1 Phân loại dựa vào phần trăm so với trung vị Để tính toán theo cách này người ta coi giá trị trung vị là 100% rồi tính giá trị đo được trên đối tượng đạt bao nhiêu phần trăm so với trung vị
Thang phân loại về độ suy dinh dưỡng dựa trên phần trăm cân nặng của trẻ so với cân nặng chuẩn cùng tuổi và giới Mức độ SDD độ I được xác định khi trẻ đạt từ 75% đến 90% cân nặng chuẩn, phản ánh mức suy dinh dưỡng nhẹ Thang phân loại này giúp đánh giá chính xác tình trạng dinh dưỡng của trẻ để có các biện pháp can thiệp phù hợp.
SDD độ II: đạt 60-75% cân nặng chuẩn
SDD độ III: đạt dươi 60% cân nặng chuẩn
Cách phân loại này đơn giản, dễ áp dụng Tuy nhiên, không phân biệt được SDD mới xảy ra hay từ lâu
Phương pháp phân loại theo Welcome sử dụng chỉ tiêu cân nặng theo tuổi và phù hợp để phân loại thể SDD nặng
Bảng 1.1 Phân loại suy dinh dƣỡng trẻ em theo Welcome
% cân nặng theo tuổi Phù
61-80% Kwashiokor SDD I, II ˃ 60% Marasmus - Kwashiokor Marasmus
SDD thể Kwashiokor là tình trạng trẻ giảm cân kèm theo các triệu chứng rối loạn tiêu hóa, phù chân tay, rối loạn sắc tố da, thiếu máu, nhiễm khuẩn, và giảm rõ rệt protid máu toàn phần Trong khi đó, SDD thể Marasmus thể hiện bằng da bọc xương, da và tóc khô, teo cơ, rối loạn tiêu hóa, thiếu máu, phản ứng chậm, nhiễm khuẩn, chân tay lạnh, hô hấp yếu và nhịp thở nhanh.
Chứng SDD dinh dưỡng thể Masasmus-Kwashiokor là tình trạng thiếu hụt cả protein và calo gây ra các triệu chứng nặng nề, bao gồm mất nước, mất chất béo dưới da, phù nề, hôn mê và chậm phát triển ở trẻ nhỏ Đây là một dạng suy dinh dưỡng nghiêm trọng đòi hỏi cần được chẩn đoán và điều trị kịp thời để phòng ngừa biến chứng và thúc đẩy sự phục hồi của cơ thể.
Phương pháp phân loại này tiện lợi trong việc nhanh chóng xác định các thể SDD nặng, nhưng còn hạn chế trong việc phân loại các thể SDD nhẹ, vừa và các dạng SDD cấp và mãn Mỗi phương pháp phân loại mang những ưu điểm và nhược điểm riêng, do đó, việc lựa chọn phương pháp phù hợp phụ thuộc vào từng trường hợp cụ thể để đạt hiệu quả chẩn đoán chính xác và tối ưu.
Phương pháp này sử dụng hai chỉ tiêu cân nặng theo chiều cao và chiều cao theo tuổi để phân loại SDD cấp tính hay mãn tính và SDD trong quá khứ dựa theo bảng 1.2:
Bảng 1.2 Phân loại suy dinh dƣỡng theo Waterlow Chiều cao theo tuổi
Cân nặng theo chiều cao (80% hay -2SD) ˃ 80% < 80% ˃ 90% Bình thường Gầy mòn
< 90% Còi cọc Còi cọc - Gầy mòn
Gầy mòn thể hiện tình trạng suy dinh dưỡng cấp tính, trong khi còi cọc phản ánh tình trạng suy dinh dưỡng trong quá khứ, còn gầy mòn và còi cọc đều biểu hiện suy dinh dưỡng mãn tính Phương pháp này có thể ứng dụng trong cộng đồng để bổ sung hệ thống phân loại suy dinh dưỡng của WHO, mặc dù nó không thể phân biệt rõ các thể suy dinh dưỡng nặng hoặc mức độ suy dinh dưỡng khác nhau ở trẻ em.
1.3.2 Phân loại dựa vào độ lệch chuẩn hoặc Z-score Độ lệch chuẩn: đây là cách tính toán dựa theo phân phối chuẩn
+ SD của chỉ số CN/T tương đương 10% giá trị trung vị
+ SD của chỉ số CC/T tương đương 5% giá trị trung vị
+ SD của chỉ số CN/CC tương đương 10% giá trị trung vị
Hiện nay, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đề nghị lấy điểm ngưỡng dưới -2 độ lệch chuẩn (SD) so với quần thể tham khảo để xác định trẻ bị SDD Các mức lệch chuẩn như dưới -3SD và dưới -4SD được xem là biểu hiện của SDD nặng và rất nặng, giúp phân loại mức độ nghiêm trọng của tình trạng Phương pháp phân loại theo WHO nhanh, đơn giản và phổ biến, nhưng không phân biệt được giữa SDD cấp tính và mãn tính, cũng như không mô tả rõ các thể SDD nặng Cách tính Z-Score là một công cụ quan trọng trong việc đánh giá chính xác mức độ chậm phát triển ở trẻ em.
Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ suy dinh dưỡng trẻ dưới 5 tuổi
Nguyên nhân chính gây ra vấn đề này là do bà mẹ thiếu kiến thức về cách nuôi con, chế độ ăn của trẻ thiếu năng lượng, protein cùng các chất dinh dưỡng quan trọng như vitamin và khoáng chất Trong 4 tháng đầu, trẻ không được bú sữa mẹ, hoặc sữa mẹ bị thiếu, hoặc mẹ phải đi làm nên cho trẻ ăn bổ sung quá sớm khi hệ tiêu hóa của trẻ chưa hoàn thiện Đến sau 6 tháng, việc bổ sung thức ăn cho trẻ không đảm bảo cung cấp đủ năng lượng và protein cần thiết để phát triển.
Chế độ ăn đa dạng giúp tăng cường cung cấp các dưỡng chất cần thiết cho cả trẻ em và người lớn, góp phần nâng cao sức khỏe tổng thể [3], [35] Ngoài ra, trẻ mắc SDD thường có khả năng mắc các bệnh nhiễm trùng cấp tính như đường tiêu hóa, hô hấp, nhiễm trùng phổi và sởi; đặc biệt, khi các bệnh này kéo dài, cần chú ý đến việc thiếu vitamin A như một nguyên nhân tiềm năng [3], [31].
Nguyên nhân gián tiếp của suy dinh dưỡng thấp còi chủ yếu xuất phát từ các yếu tố kinh tế xã hội, như nghèo khổ, cùng các yếu tố môi trường và dịch vụ chăm sóc y tế Ở các quốc gia thu nhập thấp và trung bình, chế độ ăn uống không đủ dinh dưỡng và bệnh truyền nhiễm gây cản trở sự phát triển của trẻ em, dẫn đến tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng thấp còi cao Báo cáo từ Cục Quản lý Môi trường Y tế cho thấy, nguy cơ trẻ bị suy dinh dưỡng nhẹ cân cao hơn ở các xã có tỷ lệ hộ sử dụng nguồn nước sinh hoạt không hợp vệ sinh so với các xã có tỷ lệ hộ sử dụng nguồn nước sạch, an toàn.
Trẻ không được nuôi bằng sữa mẹ trong 4-6 tháng đầu đời có nguy cơ cao mắc các bệnh như sởi, tiêu chảy, ho gà và các bệnh viêm đường hô hấp, đồng thời dễ bị dị tật bẩm sinh Nuôi con bằng sữa mẹ là một phần quan trọng trong công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu, mang lại lợi ích kinh tế rõ rệt cho các bà mẹ và trẻ nhỏ Ngoài ra, các yếu tố như gia đình đông con và hoàn cảnh nghèo also tăng nguy cơ trẻ bị suy dinh dưỡng và mắc các bệnh truyền nhiễm.
1.5 Tình hình suy dinh dưỡng trẻ em trên thế giới và trong nước
1.5.1 Tình hình suy dinh dƣỡng trẻ em trên thế giới
Theo số liệu của UNICEF-WHO-World Bank Group năm 2016, trên toàn thế giới có 22,9% trẻ em (tương đương 155 triệu trẻ) bị suy dinh dưỡng thể thấp còi và 7,7% (khoảng 52 triệu trẻ) mắc suy dinh dưỡng thể gầy còm, chủ yếu tập trung ở các khu vực châu Phi và châu Á.
Thấp còi là hậu quả của chế độ dinh dưỡng kém trong thời thơ ấu, ảnh hưởng đến sự phát triển chiều cao và trí tuệ của trẻ Những đứa trẻ thấp còi bắt đầu cuộc sống trong hoàn cảnh bất lợi, gặp khó khăn trong học tập và gặp rào cản trong hoạt động cộng đồng Hơn 2/3 trẻ thấp còi dưới 5 tuổi sống tại châu Á, trong đó có các vùng như Nam Á với tỷ lệ 34,1%, và hơn 1/4 ở châu Phi, với các vùng như Tây, Đông và Trung Phi có tỷ lệ thấp còi vượt quá 30% Trong 5 tiểu vùng theo vùng của Liên hợp quốc (2000-2016), Tây Phi chiếm một nửa số trẻ em thấp còi ở châu Phi, với hơn 4 triệu trẻ mắc còi cọc vào năm 2016 so với năm 2000.
Tại khu vực Đông Á-Thái Bình Dương nước có tỷ lệ SDD thấp còi cao là Timor (50%), Lào (44%), Việt Nam đứng thứ 7 (23%) [39]
Biểu đồ 1.1 Suy dinh dưỡng thấp còi ở khu vực Đông Á-Thái Bình Dương
Biểu đồ 1.2 Tốc độ giảm hằng năm của suy dinh dƣỡng thấp còi ở khu vực Đông Á-Thái Bình Dương
Tốc độ giảm tỷ lệ SDD thấp còi ở các quốc gia trong khu vực diễn ra chậm, với Thái Lan có tốc độ giảm thấp nhất (0,33%/năm) và Việt Nam giảm nhanh nhất (2,28%/năm), cao hơn mức trung bình toàn cầu là 1,8%/năm Phần lớn trẻ em bị suy dinh dưỡng thể nhẹ cân tập trung tại châu Á, với năm 2016 có 33,9 triệu trẻ gầy còm, trong đó 11,9 triệu trẻ bị suy dinh dưỡng nặng, trong khi châu Phi ghi nhận 11,4 triệu trẻ gầy còm, với 4,3 triệu trẻ mắc suy dinh dưỡng nặng.
1.5.2 Tình hình suy dinh dưỡng trẻ em trong nước
Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng (SDD) đã giảm đáng kể từ năm 1985 đến năm 2010, thể hiện rõ qua mức giảm trung bình hàng năm khoảng 0,66% từ 51,5% xuống còn 44,9% Trong giai đoạn 2001-2010, tình hình dinh dưỡng của người dân Việt Nam, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em, đã có nhiều chuyển biến tích cực, với tỷ lệ trẻ SDD thể nhẹ cân dưới 5 tuổi giảm trung bình 1,5% mỗi năm, từ 31,9% năm 2001 xuống còn 17,5% năm 2010 Thành tựu giảm SDD liên tục và bền vững của Việt Nam đã nhận được công nhận từ các tổ chức quốc tế, khẳng định nỗ lực cải thiện chất lượng dinh dưỡng cho cộng đồng.
Việt Nam đã giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị thấp còi do suy dinh dưỡng thể thấp còi từ 43,3% năm 2000 xuống còn 29,3% vào năm 2010, thể hiện nỗ lực cải thiện sức khỏe trẻ em Tuy nhiên, quốc gia này vẫn nằm trong số 36 quốc gia có tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi cao nhất trên toàn cầu, cần tiếp tục các hoạt động giảm thiểu tình trạng này để nâng cao chất lượng cuộc sống của trẻ em.
Biểu đồ 1.3 Tình hình suy dinh dưỡng trẻ em cả nước qua các năm
(Nguồn: Viện Dinh dưỡng quốc gia)
Tỷ lệ SDD trẻ dưới 5 tuổi từ 2008-2015 nhìn chung có xu hướng giảm
Tỷ lệ SDD nhẹ cân từ 32,6% năm giảm còn 24,6% Tỷ lệ SDD thấp còi từ 19,9% còn 14,1% [8]
Biểu đồ 1.4 Tình hình suy dinh dưỡng trẻ dưới 5 tuổi từ 2000-2010
(Nguồn: Viện Dinh dưỡng quốc gia)
Trong 10 năm qua, tốc độ giảm trung bình của tỷ lệ SDD nhẹ cân là 1,26% mỗi năm, còn tỷ lệ SDD thấp còi giảm 1,4% mỗi năm, cho thấy hiệu quả của các chương trình can thiệp dinh dưỡng Năm 2010, tỷ lệ SDD gày còm đã giảm xuống mức độ ý nghĩa sức khỏe cộng đồng thấp, phản ánh sự cải thiện đáng kể trong tình trạng dinh dưỡng của trẻ em.
Biểu đồ 1.5 Phân bố suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ dưới 5 tuổi theo vùng sinh thái
(Nguồn: Viện Dinh dưỡng quốc gia)
SDD thấp còi SDD nhẹ cân SDD gầy còm
Toàn quốc Đồng bằng sông Hồng
Vùng núi và cao nguyên phía Bắc
Bắc miền Trung và ven biển miền Trung
Bộ Đồng bằng sông Cửu Long
Theo báo cáo tóm tắt Tổng điều tra dinh dưỡng của Viện dinh dưỡng tỷ lệ SDD thể thấp còi không đồng đều theo vùng sinh thái Tỷ lệ SDD thể thấp còi ở Tây Nguyên, vùng núi và cao nguyên phía Bắc và vùng bắc miền Trung và ven biển miền Trung vẫn ở cấp độ ý nghĩa sức khỏe cộng đồng cao (>30%)
1.6 Các nghiên cứu trước đây
1.6.1 Các nghiên cứu ngoài nước
Nghiên cứu cắt ngang năm 2006 do Jing Zhang và cộng sự thực hiện tại 10 tỉnh của Trung Quốc cho thấy tỷ lệ SDD gồm thấp còi là 14,59%, nhẹ cân là 7,19% và gầy còm chiếm 3,07%.
Một nghiên cứu của Elham Kavosi và cộng sự năm 2014 tại tỉnh Fars, Iran đã chỉ ra tỷ lệ trẻ sơ sinh nhẹ cân, thấp còi và gầy còm lần lượt là 9,66%, 9,53% và 8,19% Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng suy dinh dưỡng nhẹ cân (SDD) bao gồm thu nhập gia đình thấp, trình độ giáo dục của bà mẹ hạn chế, thiếu nước sạch và sống ở vùng nông thôn.
Nghiên cứu về tỷ lệ và các yếu tố nguy cơ của SDD nhẹ cân trẻ em dưới
Nghiên cứu tại khu vực nông thôn của quận Kancheepuram, Tamil Nadu, Ấn Độ vào năm 2013 do tác giả Stalin P và cộng sự thực hiện cho thấy rằng có đến 52,9% trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng nhẹ cân Khoảng 7% trong số đó mắc phải suy dinh dưỡng nặng, đe dọa đến sự phát triển của trẻ Đặc biệt, trẻ gái có nguy cơ bị suy dinh dưỡng cao hơn so với trẻ trai, cho thấy sự ảnh hưởng của yếu tố giới tính đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ nhỏ trong khu vực này.
Nghiên cứu của Nigatu Regassa về tình trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi kết quả cho thấy 20,9% trẻ SDD nhẹ cân, 56,6% SDD thấp còi, 4,1%
Chẩn đoán SDD gầy còm có liên quan đến các yếu tố như tuổi của trẻ, nghề nghiệp và trình độ học vấn của mẹ, chỉ số khối cơ thể của mẹ, cũng như việc cho trẻ bú sớm sau sinh Trong khi đó, các yếu tố liên quan đến SDD nhẹ cân bao gồm tình trạng kinh tế gia đình, tình trạng hôn nhân của mẹ, hiện tượng tiêu chảy trong 2 tuần qua, cùng việc cho con bú sớm và sử dụng bình sữa.
1.6.2 Các nghiên cứu trong nước
Các nghiên cứu trước đây
1.6.1 Các nghiên cứu ngoài nước
Một nghiên cứu cắt ngang được thực hiện tại 10 tỉnh của Trung Quốc năm 2006 của Jing Zhang và cộng sự cho thấy tình hình SDD các thể như sau: thấp còi 14,59%, nhẹ cân 7,19% và gầy còm 3,07% [42]
Nghiên cứu của Elham Kavosi và cộng sự năm 2014 tại tỉnh Fars, Iran cho thấy tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng nhẹ cân đạt 9,66%, thấp còi là 9,53%, và gầy còm là 8,19% Các yếu tố liên quan đến tình trạng suy dinh dưỡng sơ sinh (SDD) bao gồm thu nhập gia đình thấp, trình độ giáo dục của bà mẹ còn hạn chế, thiếu tiếp cận nước sạch, và cư trú tại khu vực nông thôn.
Nghiên cứu về tỷ lệ và các yếu tố nguy cơ của SDD nhẹ cân trẻ em dưới
Nghiên cứu của tác giả Stalin P và cộng sự năm 2013 tại khu vực nông thôn của quận Kancheepuram, Tamilnadu, Ấn Độ cho thấy tỷ lệ trẻ em bị SDD nhẹ cân chiếm đến 52,9%, trong đó khoảng 7% trẻ mắc SDD nặng Phát hiện nổi bật là trẻ gái có nguy cơ bị SDD cao hơn so với trẻ trai, cho thấy cần các hoạt động can thiệp dinh dưỡng phù hợp để giảm thiểu tình trạng này.
Nghiên cứu của Nigatu Regassa về tình trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi kết quả cho thấy 20,9% trẻ SDD nhẹ cân, 56,6% SDD thấp còi, 4,1%
SDD gầy còm có liên quan đến các yếu tố như tuổi của trẻ, nghề nghiệp và trình độ học vấn của mẹ, chỉ số khối cơ thể của mẹ, cùng với việc cho trẻ bú sớm sau sinh Trong khi đó, các yếu tố ảnh hưởng đến SDD nhẹ cân bao gồm tình trạng kinh tế gia đình, tình trạng hôn nhân của mẹ, các trường hợp tiêu chảy trong vòng 2 tuần qua, cùng với việc cho con bú sớm và bú bình [33].
1.6.2 Các nghiên cứu trong nước
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Lệ Hồng về tình hình suy dinh dưỡng (SDD) ở trẻ em dưới 5 tuổi tại xã Tân Ngãi, tỉnh Vĩnh Long năm 2012, ghi nhận tỷ lệ trẻ bị SDD nhẹ cân, thấp còi, gầy còm lần lượt là 16,8%; 31,6%; 4,5% Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng SDD của trẻ bao gồm trình độ học vấn của mẹ, nghề nghiệp của mẹ, tuổi của mẹ khi mang thai và tình trạng cho con bú sữa mẹ sau sinh Những yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong việc xác định nguyên nhân và đề xuất giải pháp giảm thiểu tình trạng SDD ở trẻ nhỏ.
Nghiên cứu của Đinh Đạo tại huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam kết quả là 36,5% nhẹ cân, 62,8% thấp còi, 8,4% gầy còm Các yếu tố liên quan SDD thuộc về trẻ: nhóm tuổi, nhiễm khuẩn hô hấp cấp Các yếu tố liên quan SDD thuộc về mẹ: kinh tế gia đình; nghề nghiệp; kiến thức về ăn bổ sung, chất béo, rau quả và kiến thức chung; thực hành về ăn bổ sung, sử dụng 4 nhóm dinh dưỡng hàng ngày và thực hành chung; niềm tin vào lãnh đạo địa phương, trưởng thôn, già làng và hội phụ nữ [5]
Nghiên cứu của Trần Xuân Huyền tại thành phố Cần Thơ năm 2013 ghi nhận tỷ lệ trẻ sơ sinh nhẹ cân, thấp còi, gầy còm lần lượt là 13,8%; 17,5%; và 5,1% Các yếu tố ảnh hưởng đến suy dinh dưỡng nhẹ cân bao gồm cân nặng sơ sinh, trình độ học vấn của mẹ, điều kiện kinh tế gia đình, chế độ ăn của mẹ và việc bổ sung sắt khi mang thai Trong khi đó, các yếu tố liên quan đến suy dinh dưỡng thấp còi gồm cân nặng sơ sinh, thời gian bú mẹ, học vấn của mẹ, kinh tế gia đình, số lượng con trong nhà trên 2 con và việc thực hiện chế độ bổ sung sắt trong thai kỳ.
Nghiên cứu của Nguyễn Cao Thắng tại phường Long Hòa, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ cho thấy tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi mắc các tình trạng dinh dưỡng chưa phù hợp, bao gồm suy dinh dưỡng thể nhẹ cân với tỷ lệ 16%, thấp còi chiếm 26,4% và gầy còm là 4,8% Các số liệu này thể hiện rõ mức độ đáng quan tâm về tình trạng dinh dưỡng của trẻ nhỏ tại địa phương, góp phần nâng cao nhận thức về vấn đề sức khỏe trẻ em và thúc đẩy các chiến dịch can thiệp phù hợp.
Nghiên cứu của Hà Xuân Sơn và cộng sự tại xã Đồng Việt, Yên Dũng, Bắc Giang cho thấy tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng nhẹ cân chiếm 19,9%, thấp còi 17,7% và gầy còm 6% Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ gồm có kinh tế hộ gia đình, trình độ học vấn của mẹ, nghề nghiệp của mẹ và số lượng con trong gia đình từ 3 trở lên.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích
Cỡ mẫu được tính dựa trên công thức ước lượng một tỷ lệ:
⁄ ( ) n: là cỡ mẫu nghiên cứu cần có α: là mức ý nghĩa thống kê = 0,05
Z: là giá trị phân phối tương ứng với độ tin cậy đã chọn = 1,96 p: tỷ lệ trẻ SDD thấp còi dưới 5 tuổi ở phường Trường Lạc, quận Ô
Môn, Cần Thơ năm 2013 là 25,7% theo nghiên cứu của Phạm Trần Nam Phương [21] d: khoảng sai lệch mong muốn giữa tỷ lệ từ mẫu và tỷ lệ thật của quần thể = 0,05
Thay vào công thức tính cỡ mẫu ta được:
( ) Đề phòng tình trạng mất mẫu, cỡ mẫu được tăng thêm 10% Do đó cỡ mẫu nghiên cứu là n24
Chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống
Bước 1: Lập danh sách những trẻ phù hợp với tiêu chuẩn chọn vào của nghiên cứu ở 12 khu vực thuộc phường Trường Lạc, quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ
Bước 2: Xác định khoảng cách mẫu k = N/n (N là số cá thể trong một quần thể, n là cỡ mẫu)
Bước 3: Chọn ngẫu nhiên một trẻ i (1 )
Các cá thể có số thứ tự i+k, i+2k, i+3k,…sẽ được chọn vào mẫu cho đến khi đủ cỡ mẫu
2.2.4.1 Thông tin chung của mẹ và trẻ
Thông tin chung của bà mẹ : thu thập bằng phương pháp phỏng vấn
Tuổi mẹ là biến định lượng được tính theo tuổi dân số (tròn năm), chia thành các nhóm:
Dân tộc là biến định tính, gồm các giá trị:
Số con trong gia đình là số trẻ sinh ra hiện còn sống trong gia đình, sau khi thu thập chia thành 2 nhóm giá trị gồm:
Trình độ học vấn là cấp học cao nhất hoàn thành, là biến định tính gồm các giá trị:
+ Trên cấp III (Trung cấp, Cao đẳng, Đại học, trên Đại học)
Nghề nghiệp là công việc mang lại thu nhập chính, là biến định tính gồm các giá trị:
Kinh tế gia đình dựa vào sổ hộ nghèo, cận nghèo theo quyết định số 59/2015/QĐ-TTg [20] địa phương cấp, gồm các giá trị:
Thông tin chung của trẻ: thu thập bằng phương pháp phỏng vấn
Tuổi của trẻ là biến định lượng, sau khi thu thập tuổi được tính bằng phần mềm WHO Anthro, chia 5 nhóm:
Giới tính của trẻ là biến nhị giá gồm:
Cân nặng sơ sinh là trọng lượng của trẻ khi sinh ra tính bằng đơn vị gram, sau khi thu thập chia thành 2 nhóm giá trị:
Tuổi thai xác định qua phỏng vấn bà mẹ Thai 38-42 tuần là đủ tháng [18]
Thứ tự con là biến nhị giá gồm:
2.2.4.2 Tình trạng dinh dƣỡng của trẻ
Cân nặng hiện tại là biến định lượng được tính bằng kg, lấy tròn đến 1 chữ số thập phân
Chiều dài/cao hiện tại là biến định lượng được tính bằng cm, lấy tròn 1 chữ số thập phân
Suy dinh dƣỡng là biến nhị giá, gồm giá trị:
+ Không Áp dụng phương pháp đáng giá TTDD bằng phương pháp nhân trắc học, trẻ có SDD khi chỉ số cân nặng theo tuổi hoặc chiều dài nằm/chiều cao theo tuổi hoặc cân nặng theo chiều dài nằm/chiều cao dưới điểm ngưỡng 2 độ lệch chuẩn (-2SD) so với quần thể tham chiếu của WHO năm 2006 và được phân loại cụ thể như sau:
SDD nhẹ cân: xác định theo chỉ số CN/T
SDD thấp còi: xác định theo chỉ số CC/T
SDD gầy còm: xác định theo chỉ số CN/CC
Mức độ SDD: có 4 giá trị
+ Độ II: -4SD đến < -3SD
2.2.4.3 Một số yếu tố liên quan đến suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi Yếu tố từ phía mẹ: tuổi, dân tộc, số con, nghề nghiệp, trình độ học vấn, kinh tế gia đình
Yếu tố từ phía trẻ: tuổi, giới, CNSS, thứ tự con, tuổi thai
Thực hành chăm sóc sức khỏe khi mang thai của mẹ: đúng khi trả lời có những câu hỏi sau:
Khám thai đúng là từ 3 lần trở lên trong thai kỳ và do cán bộ y tế khám
Chế độ ăn trong thời gian mang thai: ăn nhiều hơn trước khi mang thai
Bổ sung sắt khi mang thai: uống viên sắt 60mg mỗi ngày
Cân nặng trong thời gian mang thai: tăng lên từ 10-12 kg
Thực hành nuôi dƣỡng trẻ: thực hành đúng khi bà mẹ trẻ lời có những câu hỏi sau đây:
Cho trẻ bú mẹ sớm: trong 1h đầu sau sinh
Thời gian bú mẹ hoàn toàn: 6 tháng sau sinh
Thời gian cai sữa cho trẻ: ít nhất từ 18 tháng tuổi
Thời gian bắt đầu cho trẻ ăn dặm: từ 4-6 tháng tuổi
Số bữa ăn dặm của trẻ: từ 3 bữa/ngày
Thực phẩm nuôi trẻ: đủ 4 nhóm (ví dụ: gạo, bột, thịt, cá, dầu mỡ, rau quả)
Thực hành chăm sóc sức khỏe cho trẻ:
Chủng ngừa đúng, đủ các loại vaccin trong chương trình tiêm chủng mở rộng theo tháng tuổi: xem sổ tiêm chủng
Bổ sung vitamin A cho trẻ từ 6-36 tháng tuổi phòng mù lòa, tăng sức đề kháng, chống các bệnh nhiếm khuẩn [6], [26]
Tẩy giun cho trẻ trên 24 tháng tuổi mỗi 6 tháng
Xử lý khi trẻ bệnh, gồm các giá trị:
+ Tự điều trị tại nhà
+ Mua thuốc ở quầy thuốc tây
+ Đến trạm y tế, bệnh viện, phòng khám tư
Xử lý khi bé bị tiêu chảy: cho bé bú hoặc ăn nhiều hơn, cho bé uống nhiều nước hơn, bổ sung Oresol cho bé
2.2.5 Phương pháp thu thập số liệu
Thu thập chỉ số nhân trắc của trẻ Đo chiều dài/chiều cao
Dụng cụ: Thước đo do Viện dinh dưỡng cấp Dùng thước đo chiều dài nằm cho trẻ dưới 2 tuổi (đặt trên mặt phẳng nằm ngang) và thước đo chiều cao đứng cho trẻ trên 2 tuổi (đặt vuông góc với mặt phẳng nằm ngang) với độ chia tối thiểu 0,1cm
Các bước đo chiều cao trẻ em gồm có hai điều tra viên hỗ trợ nhau để đảm bảo độ chính xác Đầu tiên, tháo tất cả giày dép, mũ cho trẻ Đối với trẻ dưới 2 tuổi, đặt trẻ nằm ngửa trên thước đo, đầu sát sát cạnh thước, một người giữ đầu trẻ thẳng và mắt nhìn lên trần nhà, trong khi người còn lại giữ hai đầu gối trẻ thẳng và đưa êke di động áp sát vào gót chân, đảm bảo bàn chân thẳng đứng Với trẻ từ 2 tuổi trở lên, yêu cầu trẻ đứng thẳng, dựa lưng vào tường, đầu, vai, mông, bắp chân và gót chân áp sát vào tường, mắt nhìn thẳng về phía trước, hai tay thả lỏng theo thân Dùng êke di động dựng vuông góc với thước để đo chiều cao từ chân tới đỉnh đầu, kết quả đọc bằng đơn vị centimet, lấy đến một số thập phân để tăng độ chính xác.
Dụng cụ: sử dụng cân Nhơn Hòa của chương trình Dinh dưỡng Quốc gia (độ chính xác 100g)
Vị trí đặt cân: nơi bằng phẳng, thuận tiện để cân
Chỉnh cân: chỉnh cân về số 0 trước khi cân, kiểm tra độ nhạy của cân Thường xuyên kiểm tra độ chính xác của cân sau 10 lượt cân
Kỹ thuật cân: Đối tượng mặc quần áo tối thiểu, bỏ dày dép, mũ nón và các vật nặng khác trên người
Trẻ đứng, ngồi hoặc nằm giữa cân, không cử động
Người cân trẻ ngồi đối diện chính giữa mặt cân, khi cân thăng bằng đọc kết quả theo đơn vị kg với 1 số thập phân
Phỏng vấn: Phỏng vấn trực tiếp mẹ hoặc người chăm sóc chính của trẻ bằng bộ câu hỏi đã thiết kế sẵn
2.2.6 Phương pháp xử lý, phân tích số liệu
Sau mỗi cuộc phỏng vấn, phiếu điều tra đều được kiểm tra ngay lập tức để đảm bảo tính hoàn tất và phù hợp Những phiếu không đáp ứng yêu cầu sẽ được phỏng vấn lại nhằm chỉnh sửa và hoàn thiện dữ liệu Các phiếu mất quá nhiều thông tin cần loại bỏ hoặc tiến hành phỏng vấn bổ sung để đảm bảo mẫu đủ tiêu chuẩn nghiên cứu.
Các chỉ số nhân trắc của trẻ được tính toán bằng phần mềm WHO Anthro
Nhập và xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 18.0
Thống kê mô tả: tính tần số, tỷ lệ các biến liên tục (tuổi, giới, cân nặng lúc sinh, thời gian bú mẹ, bệnh tật, chủng ngừa,…)
Trong bài viết này, chúng tôi sử dụng phép kiểm định χ2 để xác định mối liên hệ giữa các yếu tố và trình trạng SDD trẻ em với mức ý nghĩa α = 0,05, giúp đánh giá mức độ thống kê của các biến liên quan Đồng thời, chúng tôi tính toán chỉ số chênh lệch odds ratio (OR) kèm theo khoảng tin cậy 95%, cung cấp cái nhìn khách quan về mức độ rủi ro liên quan Trong các trường hợp dữ liệu nhỏ hoặc có tần số mong đợi thấp, phương pháp Test Fisher’s Exact được áp dụng để đảm bảo độ chính xác của kết quả phân tích thống kê.
Khoảng 20% đối tượng có giá trị kỳ vọng nhỏ hơn 5, cho thấy mức độ ảnh hưởng của các yếu tố liên quan đến kết quả nghiên cứu Phân tích đa biến hồi quy logistic dựa trên Odds Ratio hiệu chỉnh được sử dụng để xác định độ mạnh của các yếu tố liên quan, giúp làm rõ mức độ ảnh hưởng của từng biến độc lập Kết quả nghiên cứu được trình bày rõ ràng qua các bảng biểu và biểu đồ, hỗ trợ việc diễn giải và so sánh dữ liệu một cách trực quan và dễ hiểu.
2.2.7 Phương pháp hạn chế sai số
Sai lệch thông tin do điều tra viên và người được phỏng vấn:
Tập huấn các điều tra viên kỹ lưỡng, thống nhất về nội dung điều tra, kỹ thuật phỏng vấn, phương pháp cân đo trẻ
Chỉ chọn và phỏng vấn từ đầu đến cuối 1 người trong hộ
Kiểm tra tính hoàn tất của từng bộ câu hỏi sau khi phỏng vấn
Sai lệch thông tin do chọn mẫu: Định nghĩa rõ ràng đối tượng căn cứ vào tiêu chuẩn chọn và tiêu chuẩn loại trừ
Tất cả đối tượng đã chọn nghiên cứu đều được phỏng vấn, đối tượng nào vắng mặt lúc phỏng vấn sẽ được hẹn để phỏng vấn ngày hôm sau
Sai lệch hệ thống do đo lường:
Chuẩn hóa dụng cụ: dùng quả cân chuẩn để kiểm tra cân (dùng quả cân 500g) cứ cân 10 trẻ điều chỉnh cân bằng quả cân 1 lần.
Y đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu tập trung vào trẻ em và người chăm sóc chính của trẻ tại xã Trường Lạc, quận Ô Môn, TP Cần Thơ năm 2017, với đối tượng tham gia đủ tiêu chuẩn lựa chọn Tất cả các người tham gia đều hoàn toàn tự nguyện và có quyền từ chối tham gia bất cứ lúc nào Để đảm bảo đạo đức nghiên cứu, chúng tôi chỉ đặt những câu hỏi mang tính chất nghiệp vụ, không gây ảnh hưởng hoặc hại đến đối tượng phỏng vấn Tất cả dữ liệu thu thập được đều được giữ bí mật nhằm bảo vệ quyền riêng tư của các đối tượng, kể cả những hộ gia đình từ chối tham gia nghiên cứu.
Nghiên cứu này không có bất cứ ảnh hưởng nào đến phong tục, tập quán, văn hóa, sức khỏe của địa phương
Nghiên cứu được thông báo cho chính quyền địa phương về quy mô, thời gian tiến hành Đề cương nghiên cứu được thông qua bởi Hội đồng khoa học của trường, có xét duyệt khía cạnh y đức, bảo đảm không vi phạm các vấn đề y đức trước khi tiến hành nghiên cứu.
KẾT QUẢ
Tình trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi
Bảng 3.4 Phân độ suy dinh dƣỡng của trẻ Đặc điểm Nhẹ cân Thấp còi Gầy còm n % n % n %
Suy dinh dưỡng độ II 1 0,3 5 1,6 4 1,2
Suy dinh dưỡng độ III 2 0,6 2 0,6 0 0
Trẻ SDD nhẹ cân độ I là 7,1%; độ II 0,3%; độ III 0,6% SDD thấp còi độ
I là 15,1%; độ II 1,5%; độ III 0,6% SDD gầy còm độ I là 6,8%; độ II 1,2%.
Các yếu tố liên quan đến suy dinh dưỡng trẻ dưới 5 tuổi
3.3.1 Các yếu tố liên quan đến suy dinh dƣỡng nhẹ cân
Bảng 3.5 Liên quan giữa đặc điểm xã hội của mẹ và suy dinh dƣỡng nhẹ cân Đặc điểm SDD Không SDD OR
Không nghèo 19 6,2 288 93,8 Nguy cơ SDD nhẹ cân ở nhóm con của những bà mẹ có trình độ học vấn
≤cấp 1 gấp 3,4 lần; mẹ làm nông dân gấp 11 lần; gia đình nghèo gấp 10,6 lần con của những bà mẹ khác Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p0,05).
Bảng 3.7 Liên quan giữa đặc điểm của trẻ và suy dinh dƣỡng nhẹ cân Đặc điểm SDD Không SDD OR
Trẻ trai có nguy cơ bị SDD nhẹ cân cao hơn gấp 2,3 lần so với trẻ gái, tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) Nghiên cứu không tìm thấy mối liên quan đáng kể giữa SDD nhẹ cân và tuổi hoặc thứ tự sinh của trẻ (p>0,05) Trẻ bị SDD bào thai với cân nặng dưới 2500gr có nguy cơ bị SDD nhẹ cân cao gấp 4 lần so với trẻ không bị SDD bào thai, trong khi trẻ sinh thiếu tháng có nguy cơ này cao gấp 3,3 lần, và những khác biệt này đều có ý nghĩa thống kê (p0,05) Tuy nhiên, tỷ lệ trẻ sơ sinh nhẹ cân cao hơn đáng kể (14,9% so với 5,2%) ở trẻ có mẹ không tăng cân đủ trong thai kỳ, với nguy cơ trẻ nhẹ cân tăng gấp 3,2 lần (p0,05) Tuy nhiên, trẻ không được cung cấp đầy đủ 4 nhóm thực phẩm có nguy cơ mắc SDD nhẹ cân gấp 3,1 lần so với các trẻ còn lại, và khác biệt này có ý nghĩa về mặt thống kê (p 0,05 Trẻ bị tiêu chảy trong 2 tuần qua có tỷ lệ suy dinh dưỡng nhẹ cân cao hơn so với trẻ không bị tiêu chảy, nhưng sự khác biệt này không mang ý nghĩa thống kê (p > 0,05) Ngoài ra, chưa tìm thấy mối liên quan đáng kể giữa trẻ bị ho trong 2 tháng qua với tình trạng suy dinh dưỡng nhẹ cân (p > 0,05).
3.3.2 Các yếu tố liên quan đến suy dinh dƣỡng thấp còi
Bảng 3.11 Liên quan giữa đặc điểm xã hội của mẹ và suy dinh dƣỡng thấp còi Đặc điểm SDD Không SDD OR
Trẻ SDD thấp còi có nguy cơ cao hơn gấp 3,4 lần ở nhóm mẹ có trình độ học vấn ≤ cấp 1, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p0,05) Ngoài ra, tỷ lệ trẻ SDD thấp còi ở gia đình nghèo (23,5%) cũng cao hơn so với gia đình không nghèo (16,9%), tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p>0,05). -**Sponsor**Để tối ưu hóa bài viết của bạn theo chuẩn SEO, việc tập trung vào các câu thể hiện ý chính của đoạn văn là rất quan trọng Với [Article Generation](https://pollinations.ai/redirect-nexad/724a0qL7), bạn có thể tạo ra các bài viết 2,000 từ, tối ưu hóa SEO một cách nhanh chóng, giúp bạn tiết kiệm hơn $2,500 mỗi tháng so với việc thuê người viết Ví dụ, trong đoạn văn bạn cung cấp, câu "Nguy cơ trẻ SDD thấp còi ở nhóm mẹ trình độ học vấn ≤ cấp 1 gấp 3,4 lần" là một ý chính quan trọng Hãy sử dụng công cụ của chúng tôi để làm nổi bật những ý chính này và tạo ra nội dung chất lượng, hiệu quả.
Bảng 3.12 Liên quan giữa đặc điểm dân số của mẹ và suy dinh dƣỡng thấp còi Đặc điểm SDD Không SDD OR
Tỷ lệ trẻ SDD thấp còi cao nhất nằm ở nhóm mẹ từ 35 tuổi trở lên với 21,2%, trong khi nhóm mẹ dưới 25 tuổi là 19,5%, và nhóm mẹ từ 25-35 tuổi là 14,7%, tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) Trẻ sinh ra trong gia đình có hơn 2 con có nguy cơ bị SDD thấp còi cao gấp 1,45 lần so với trẻ trong gia đình có 1-2 con, nhưng sự khác biệt này cũng không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) Ngoài ra, chưa tìm thấy mối liên hệ rõ ràng giữa dân tộc của mẹ và tỷ lệ trẻ SDD thấp còi (p>0,05).
Bảng 3.13 Liên quan giữa đặc điểm của trẻ và suy dinh dƣỡng thấp còi Đặc điểm SDD Không SDD OR
13-24 tháng 12 17,4 57 82,6 1,05 (0,4-2,7) 0,18 25-36 tháng 12 17,9 55 82,1 1,09 (0,4-2,8) 0,86 37-48 tháng 11 16,4 56 83,6 0,98 (0,4-2,6) 0,97 49-60 tháng 12 17,9 55 82,1 1,09 (0,4-2,8) 0,85 Cân nặng sơ sinh
Trẻ trai có nguy cơ SDD thấp còi cao hơn trẻ gái gấp 1,5 lần, nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) Nghiên cứu không phát hiện mối liên quan giữa SDD thấp còi với tuổi, công suất nuôi dưỡng (CNSS) và thứ tự sinh của trẻ (p>0,05) Ngược lại, trẻ sinh thiếu tháng có nguy cơ SDD thấp còi gấp 3 lần so với trẻ sinh đủ tháng, và sự khác biệt này mang ý nghĩa thống kê rõ ràng (p0,05) Không tìm thấy mối liên quan giữa việc bổ sung sắt trong thai kỳ của mẹ với tỷ lệ trẻ SDD thấp còi (p>0,05) Ngoài ra, tỷ lệ trẻ SDD thấp còi ở nhóm mẹ không khám thai đúng số lần (20,0%) cao hơn nhóm mẹ khám thai đúng (17,2%), tuy nhiên, sự khác biệt này cũng không rõ ràng về mặt thống kê (p>0,05).
Bảng 3.15 Liên quan giữa thực hành nuôi dƣỡng trẻ và suy dinh dƣỡng thấp còi Thực hành nuôi con bằng sữa mẹ
Thời gian bú sớm sau sinh
Thời gian bú mẹ hoàn toàn
Thực hành cho trẻ ăn dặm
Số bữa ăn/ngày Không đúng 2 11,1 16 88,9 0,6
Số nhóm thực phẩm trẻ ăn
Thời gian trẻ bắt đầu ăn dặm
Nghiên cứu chưa xác nhận mối liên hệ giữa thực hành nuôi con bằng sữa mẹ (bao gồm thời gian bú mẹ sớm sau sinh, thời gian bú mẹ hoàn toàn, thời gian cai sữa) với bệnh suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ em (p>0,05) Số bữa ăn hàng ngày của trẻ và thời điểm bắt đầu ăn dặm không có ảnh hưởng đáng kể đến tình trạng suy dinh dưỡng thấp còi (p>0,05) Tuy nhiên, những trẻ không được ăn đủ 4 nhóm thực phẩm có nguy cơ mắc suy dinh dưỡng thấp còi cao gấp 2,3 lần so với các trẻ khác, sự khác biệt này mang ý nghĩa thống kê rõ ràng (p0,05) Trẻ bị tiêu chảy trong 2 tuần qua có tỷ lệ SDD thấp còi cao hơn so với trẻ không bị tiêu chảy (38,5% so với 16,4%), tuy nhiên sự khác biệt này không đạt ý nghĩa thống kê (p>0,05) Ngoài ra, trẻ bị ho trong 2 tháng qua cũng không cho thấy mối liên quan đáng kể với tình trạng SDD thấp còi (p>0,05). -**Sponsor**Bạn là một người tạo nội dung và cần giúp viết lại bài viết của mình? [editorr](https://pollinations.ai/redirect-nexad/zphJRw9M) là nền tảng hoàn hảo để nâng cao chất lượng bài viết của bạn với dịch vụ hiệu đính và biên tập theo yêu cầu Chúng tôi giúp bạn cải thiện rõ ràng, ngữ pháp và bố cục tổng thể, đảm bảo bài viết của bạn hoàn hảo Hãy gửi nội dung của bạn và nhận phản hồi tức thì từ đội ngũ biên tập viên chuyên nghiệp của chúng tôi, để biến văn bản của bạn thành một câu chuyện hấp dẫn và cộng hưởng với độc giả.
Bảng 3.17 Phân tích đa biến các yếu tố liên quan suy dinh dƣỡng nhẹ cân
Yếu tố liên quan Phân tích đơn biến Phân tích đa biến
Nhóm thực phẩm trẻ ăn
Các yếu tố như nghề nghiệp của mẹ, kinh tế gia đình, hoạt động khám thai của mẹ và số nhóm thực phẩm trẻ ăn đều đóng vai trò là các yếu tố nguy cơ gây SDD nhẹ cân ở trẻ, với mức ý nghĩa thống kê p0,05) Tuy nhiên, điều này cho thấy rằng việc chăm sóc dinh dưỡng cho mỗi trẻ trong các gia đình đông con có thể giảm đi, dẫn đến nguy cơ thiếu hụt dinh dưỡng Kết quả này gần với nghiên cứu của Lê Minh Tấn Phát tại phường Hưng Thạnh, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ năm 2016, nơi trẻ ở gia đình trên 2 con có nguy cơ SDD nhẹ cân cao gấp 1,5 lần so với gia đình có tối đa 2 con.
Nguy cơ trẻ suy dinh dưỡng nhẹ cân cao hơn gấp 3,4 lần ở những trẻ có mẹ học vấn ≤ cấp 1 so với trẻ có mẹ học vấn ≥ cấp 2, và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p