1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nghiên cứu thực trạng trầm cảm và một số yếu tố liên quan của người dân 18 60 tuổi tại quận ninh kiều, thành phố cần thơ năm 2017

112 1 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Thực Trạng Trầm Cảm Và Một Số Yếu Tố Liên Quan Của Người Dân 18 60 Tuổi Tại Quận Ninh Kiều, Thành Phố Cần Thơ Năm 2017
Tác giả Nguyễn Cao Ngân Phương
Người hướng dẫn TS.BS Dương Phúc Lam
Trường học Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
Chuyên ngành Y học dự phòng
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2018
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 12,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU (12)
    • 1.1. Tổng quan về trầm cảm (12)
    • 1.2. Tình hình trầm cảm trên thế giới và Việt Nam (22)
    • 1.3. Một số yếu tố liên quan đến bệnh trầm cảm (24)
    • 1.4. Một số thông tin về địa bàn nghiên cứu (29)
  • CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (30)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (30)
    • 2.2. Phương pháp nghiên cứu (30)
    • 2.3. Đạo đức trong nghiên cứu (39)
  • CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (40)
    • 3.1. Một số thông tin chung về đối tượng nghiên cứu (40)
    • 3.2. Tình hình trầm cảm của người dân từ 18 - 60 tuổi tại quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ (44)
    • 3.3. Một số yếu tố liên quan đến trầm cảm của đối tượng (47)
  • CHƯƠNG 4. BÀN LUẬN (62)
    • 4.1. Đặc điểm của quần thể nghiên cứu (62)
    • 4.2. Tình hình trầm cảm của người dân từ 18 - 60 tuổi tại quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ (64)
    • 4.3. Một số yếu tố liên quan đến trầm cảm của đối tượng (66)
  • KẾT LUẬN (73)

Nội dung

Một số yếu tố liên quan đến trầm cảm của đối tượng .... Một số yếu tố liên quan đến trầm cảm của đối tượng ..... Vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu thực trạng trầm cảm và một

Trang 1

NGUYỄN CAO NGÂN PHƯƠNG

Trang 2

tôi đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp bác sĩ y học dự phòng của mình

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban giám hiệu, Khoa Y tế công cộng, quý thầy cô trường Đại học Y Dược Cần Thơ đã tạo mọi điều kiện thuận lợi

để tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến giáo viên hướng dẫn của tôi TS.BS Dương Phúc Lam, bộ môn Thống kê - Dân số trường Đại học Y Dược Cần Thơ, người thầy luôn tạo điều kiện và hướng dẫn

từ những bước căn bản, những bước tiếp cận đầu tiên trong nghiên cứu khoa học, tận tâm và nhiệt tình, giúp đỡ tôi xây dựng nên các kỹ năng cần thiết trong suốt thời gian làm luận văn tốt nghiệp

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các thầy cô giáo khoa Y tế công cộng, các giáo viên phụ trách các phòng ban, thư viện đã tạo mọi điều kiện về cơ sở vật chất, cũng như sự hướng dẫn, giúp đỡ và góp ý kiến cho tôi trong suốt quá trình làm đề tài

Tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến tập thể lớp YHDP.K38 đã động viên, hợp tác và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Và tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn đến những người thân trong gia đình, bạn bè luôn là nguồn động lực lớn lao, luôn bên tôi, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Cần Thơ, ngày 18 tháng 6 năm 2018

Người thực hiện luận văn

Nguyễn Cao Ngân Phương

Trang 3

và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào Tất cả những tham khảo và kế thừa đều được trích dẫn và tham chiếu đầy đủ

Cần Thơ, ngày 18 tháng 6 năm 2018

Tác giả luận văn

Nguyễn Cao Ngân Phương

Trang 4

BDI

CES-D Trung tâm Nghiên cứu Dịch tễ học - Trầm cảm

(Center for Epidemiologic Studies-Depression) DSM Sổ tay thống kê và chẩn đoán các rối loạn tâm thần

(Dianogstic and Statistical Manual) HAM-D Thang đo trầm cảm của Hamilton

(Hamilton Rating Scale for Depression) ICD-10 Hệ thống phân loại bệnh tật quốc tế lần thứ 10

(International Classification of Diseases, ver.10) JCPTD Ủy ban Phòng chống và Điều trị Trầm cảm của Nhật Bản

(Japan Committee for Prevention and Treatment of Depression) NIMH Viện sức khỏe tâm thần quốc gia

(National Institute of Mental Health) PHQ-9 Bảng câu hỏi sức khỏe số 9

(Patient Health Questionaire) SAVY Chân dung thanh thiếu niên Việt Nam

WHO Tổ chức y tế thế giới

( World Health Organization)

Trang 5

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1.TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Tổng quan về trầm cảm 3

1.2 Tình hình trầm cảm trên thế giới và Việt Nam 13

1.3 Một số yếu tố liên quan đến bệnh trầm cảm 15

1.4 Một số thông tin về địa bàn nghiên cứu 20

CHƯƠNG 2.ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

2.1 Đối tượng nghiên cứu 21

2.2 Phương pháp nghiên cứu 21

2.3 Đạo đức trong nghiên cứu 30

CHƯƠNG 3.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31

3.1 Một số thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 31

3.2 Tình hình trầm cảm của người dân từ 18 - 60 tuổi tại quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ 35

3.3 Một số yếu tố liên quan đến trầm cảm của đối tượng 38

CHƯƠNG 4.BÀN LUẬN 53

4.1 Đặc điểm của quần thể nghiên cứu 53

4.2 Tình hình trầm cảm của người dân từ 18 - 60 tuổi tại quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ 55

4.3 Một số yếu tố liên quan đến trầm cảm của đối tượng 57

KẾT LUẬN 64

Trang 6

PHỤ LỤC 2.DANH SÁCH ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Trang 7

Bảng 3.1 Phân bố đối tượng theo tuổi, giới tính, dân tộc, tôn giáo

(n=412) 31

Bảng 3.2 Phân bố đối tượng theo trình độ học vấn, nghề nghiệp (n=412) 32

Bảng 3.3 Phân bố đối tượng theo điều kiện kinh tế, tình trạng hôn nhân (n=412) 33

Bảng 3.4 Phân bố đối tượng theo đặc điểm công việc về tính chất, mức độ nặng nhọc, thời gian, áp lực trong công việc (n=412) 34

Bảng 3.5 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo thang đo CES-D 35

Bảng 3.6 Biểu hiện trầm cảm theo tuổi 38

Bảng 3.7 Biểu hiện trầm cảm theo giới tính 38

Bảng 3.8 Tình hình trầm cảm phân bố theo dân tộc, tôn giáo 39

Bảng 3.9 Biểu hiện trầm cảm theo tôn giáo 39

Bảng 3.10 Biểu hiện trầm cảm theo trình độ học vấn và nhóm nghề nghiệp 40

Bảng 3.11 Biểu hiện trầm cảm theo nghề nghiệp 41

Bảng 3.12 Biểu hiện trầm cảm theo tình trạng hôn nhân 41

Bảng 3.13 Biểu hiện trầm cảm ở người có bệnh mãn tính 42

Bảng 3.14 Biểu hiện trầm cảm ở nhóm người có hành vi hút thuốc lá và lạm dụng rượu bia 43

Bảng 3.15 Biểu hiện trầm cảm theo đặc điểm công việc về tính chất, mức độ nặng nhọc, thời gian, áp lực trong công việc 44

Bảng 3.16 Biểu hiện trầm cảm phân bố theo đặc điểm kinh nguyệt của từng nhóm phụ nữ (n=235) 45

Trang 8

Bảng 3.19 Biểu hiện trầm cảm theo tình hình kinh tế gia đình 47 Bảng 3.20 Biểu hiện trầm cảm theo yếu tố mâu thuẫn

với gia đình 47 Bảng 3.21 Biểu hiện trầm cảm theo đặc điểm môi trường sống

trong gia đình 48 Bảng 3.22 Biểu hiện trầm cảm theo yếu tố liên quan đến

người thân 49 Bảng 3.23 Biểu hiện trầm cảm và yếu tố mâu thuẫn nơi làm việc,

hàng xóm 50 Bảng 3.24 Phân tích hồi quy logistic đa biến giữa biểu hiện

trầm cảm và các yếu tố liên quan 50

Trang 9

Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ trầm cảm của người dân từ 18 - 60 tuổi tại quận Ninh Kiều 37 Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ có biểu hiện trầm cảm theo nhóm bệnh mãn tính 42

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã đưa ra định nghĩa về sức khỏe: “Sức khỏe

là trạng thái lành mạnh về thể chất, thoải mái về tinh thần và đầy đủ về phúc lợi

xã hội, chứ không đơn thuần sức khỏe chỉ là không bệnh-tật” [21]

Theo Tổ chức Y tế thế giới, nhận định trầm cảm là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến bệnh tật trên thế giới, ước tính hơn 322 triệu người bị trầm cảm (2015) [60] Trầm cảm ảnh hưởng đến giấc ngủ, ăn uống, khả năng làm việc, học tập, gây cản trở trong sinh hoạt, cuộc sống của bản thân, cũng như gia đình

và xã hội Trầm cảm làm suy giảm đáng kể chất lượng cuộc sống con người khoảng 63% khi so sánh với nhóm người khỏe mạnh hoặc bị bệnh mãn tính khác [30], [41], [49] Theo Tổ chức Y tế Thế giới, từ năm 2005-2015, tỷ lệ bệnh nhân trầm cảm tăng 18,4%, mỗi năm trung bình có hơn 800.000 người tử vong do bệnh trầm cảm Tỷ lệ mắc chung của trầm cảm chiếm 4,4% dân số thế giới (2015) [60]

Tại Việt Nam, thống kê của Viện Sức khỏe Tâm thần Trung ương cho biết, hiện có khoảng 30% dân số mắc rối loạn tâm thần, trong đó tỷ lệ trầm cảm chiếm 25% Theo nhiều nghiên cứu khác nhau về dịch tễ học trầm cảm cho thấy tỷ lệ mắc trầm cảm trong cộng đồng khoảng từ 3 đến 8% [14] Trầm cảm xuất phát từ rất nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng chủ yếu là nguyên nhân xã hội, tâm lý và sinh lý Có rất nhiều phụ nữ sau sinh bị trầm cảm (tỷ lệ là 1,5% [6]), hay những người bị “sốc” về tinh thần, tình cảm (tỷ lệ trầm cảm đối với stress do mất mát người thân là 7,2% [6]), thiếu thốn kinh tế (tỷ lệ mắc trầm cảm ở nhóm nghèo 8,9%, cận nghèo 4,4,% [6]), thất nghiệp (tỷ lệ trầm cảm ở người không có việc làm là 18,1% [6]), nạn nhân của thiên tai dịch họa, xung đột vũ trang (yếu tố nhiệt độ cao và lượng mưa nhiều ở Cần Thơ

và Huế làm tăng biểu hiện trầm cảm với tỷ lệ lần lượt là 6,3%, 4,3% [15])

Trang 11

dễ mắc trầm cảm [61] Đặc biệt độ tuổi từ 18-60 là đối tượng có nhiều thay đổi

về tâm sinh lý, trải qua giai đoạn hoàn thiện nhân cách, tích lũy kinh nghiệm, vốn sống, chịu nhiều áp lực từ học tập, công việc, môi trường sống, các mối quan hệ xã hội… dễ dẫn đến trầm cảm

Hiểu biết được mối liên quan giữa các yếu tố liên quan và trầm cảm sẽ giúp hỗ trợ trong công tác xây dựng kế hoạch, chương trình chăm sóc sức khỏe phù hợp cho người dân, giảm thiểu các yếu tố nguy cơ, nâng cao chất lượng cuộc sống cũng như chất lượng lao động, đặc biệt người dân trong độ tuổi lao động Quận Ninh Kiều thành phố Cần Thơ với đặc điểm dân cư, kinh tế,

xã hội phát triển như hiện nay thì vấn đề chăm sóc sức khỏe cho người dân trong

độ tuổi lao động cần được quan tâm Đặc biệt là trầm cảm với tỷ lệ ngày càng tăng như hiện nay Năm 2013, tỷ lệ đối tượng từ 18 - 60 tuổi có biểu hiện trầm cảm ở Cần Thơ là 6,3% [15] Câu hỏi được đặt ra là tỷ lệ trầm cảm tại cộng đồng hiện nay là bao nhiêu và những yếu tố nào liên quan đến trầm cảm và

liên quan như thế nào? Vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu thực trạng trầm cảm và một số yếu tố liên quan của người dân 18 - 60 tuổi tại quận Ninh Kiều thành phố Cần Thơ năm 2017” với các mục tiêu sau:

1 Xác định tỷ lệ trầm cảm của người dân 18-60 tuổi ở quận Ninh Kiều thành phố Cần Thơ

2 Mô tả một số yếu tố liên quan đến trầm cảm của người dân 18-60 tuổi quận Ninh Kiều thành phố Cần Thơ

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Tổng quan về trầm cảm

1.1.1 Các khái niệm về trầm cảm

Trầm cảm (rối loạn trầm cảm chủ yếu hay trầm cảm lâm sàng) là một trong những rối loạn tâm thần phổ biến, biểu hiện bởi các triệu chứng ảnh hưởng đến cảm xúc, tư duy, hoạt động hằng ngày như ăn, ngủ và làm việc [43]

Trầm cảm là một rối loạn tâm thần thường gặp, biểu hiện bởi trạng thái chán nản, buồn bã, mất hứng thú, giảm năng lượng, có cảm giác tội lỗi, mặc cảm

tự ti, rối loạn giấc ngủ, giảm sự tập trung Trầm cảm không đơn thuần là cảm giác buồn chán, mà là sự giảm sút khí sắc dai dẳng, gây cản trở khả năng thực hiện chức năng và nhìn nhận những sự việc trong cuộc sống Trầm cảm

có thể gây ra nhiều triệu chứng cả về thể chất lẫn tâm thần Rối loạn này có thể kéo dài nhiều tuần, nhiều tháng hay nhiều năm, và người bệnh khó có thể phục hồi nếu không được điều trị [6], [58]

1.1.2 Nguyên nhân của trầm cảm

Hiện nay nguyên nhân trầm cảm vẫn được xác định dựa vào giả thuyết

đa yếu tố, các nguyên nhân trầm cảm có thể xếp vào 3 nhóm chính:

Nhóm 1: Trầm cảm nội sinh (còn gọi là trầm cảm chưa rõ nguyên nhân):

Có nhiều giả thuyết cho là do di truyền, miễn dịch, môi trường sống và yếu tố

xã hội nhưng chưa có giả thuyết nào có tính thuyết phục

Nhóm 2: Trầm cảm do stress: Chẳng hạn như khi mất việc làm, mâu

thuẫn trong gia đình, con cái hư hỏng, bị trù dập ở nơi làm việc, làm ăn thua lỗ,

bị phá sản hoặc có người thân bệnh, chết đột ngột

Trang 13

Nhóm 3: Trầm cảm do các bệnh thực tổn:

(1) Nhóm bệnh do các rối loạn nội tiết:

 Giảm năng tuyến giáp (hypothyroidism)

 Bệnh đái tháo đường

 Hội chứng Cushing (2) Nhóm bệnh do các rối loạn thần kinh:

 Các tai biến mạch máu não

 Khối máu tụ dưới màng cứng (subdural hematoma)

 Bệnh xơ cứng rải rác (multiple sclerosis)

 U não

 Bệnh parkinson

 Bệnh co giật

 Sa sút trí tuệ (dementia) Bệnh trầm cảm được xếp loại thành nguyên phát nếu như các triệu chứng xuất hiện trước và không liên hệ với bất cứ một bệnh nội khoa hoặc tâm thần

có ý nghĩa nào khác Được 4hum4à thứ phát khi bệnh trầm cảm xảy ra sau và

có liên hệ với một bệnh nội khoa hoặc tâm thần khác [3], [33]

1.1.3 Triệu chứng trầm cảm

- Khí sắc giảm (khí sắc trầm cảm): là nét mặt của bệnh nhân rất đơn điệu,

luôn buồn bã, các nếp nhăn giảm nhiều thậm chí mất hết nếp nhăn Khoảng 90% trường hợp người bệnh than phiền cảm thấy buồn, chán nản, trống rỗng,

vô vọng Khí sắc trầm cảm có thể được biểu hiện trên nét mặt và trên hành vi của bệnh nhân Nhiều bệnh nhân lại có trạng thái tăng kích thích (bệnh nhân hay cáu gắt, dễ nổi giận với một lỗi lầm nhỏ)

- Mất hứng thú hoặc sở thích: gần như luôn biểu hiện trong một mức độ

nhất định Các bệnh nhân cho rằng họ đã mất hết các sở thích vốn có

Trang 14

(tôi không thích gì bây giờ cả) Tất cả các sở thích trước đây của bệnh nhân đều bị ảnh hưởng nặng nề, kể cả ham muốn tình dục

- Mất cảm giác ngon miệng, ăn ít hoặc sụt cân: Sự ngon miệng thường bị

giảm sút, nhiều bệnh nhân có cảm giác rằng họ bị ép phải ăn Họ ăn rất ít, thậm chí trong các trường hợp nặng bệnh nhân nhịn ăn hoàn toàn Vì vậy, bệnh nhân thường sụt cân nhanh chóng (có thể sụt vài kg trong một tháng,

cá biệt có trường hợp sụt đến 10 kg) Khi khám bệnh, bệnh nhân thường than phiền rằng họ bị mất cảm giác ngon miệng, rằng họ không thấy đói mặc dù không ăn gì Ngược lại, khoảng 5% số bệnh nhân trầm cảm lại có thể tăng cảm giác ngon miệng và có thể muốn ăn một số thức ăn nhiều hơn (ví dụ đồ ngọt hoặc các hydrat cacbon khác) Khi đó họ dễ tăng cân và trở thành béo phì

- Rối loạn giấc ngủ: hay gặp nhất trong giai đoạn trầm cảm chủ yếu là mất

ngủ (chiếm 95% số trường hợp) Các bệnh nhân thường có mất ngủ giữa giấc (nghĩa là tỉnh ngủ vào lúc ban đêm và khó ngủ tiếp) hoặc mất ngủ cuối giấc (nghĩa là tỉnh ngủ quá sớm và không thể ngủ tiếp) Mất ngủ đầu giấc (nghĩa là khó bắt đầu giấc ngủ) cũng có thể xuất hiện Hiếm gặp hơn, có một số bệnh nhân biểu hiện ngủ nhiều, dưới hình thức một giai đoạn ngủ đêm dài hoặc tăng độ dài ngủ ban ngày Họ có thể ngủ tới 10-12 giờ mỗi ngày, thậm chí ngủ nhiều hơn Ngủ nhiều gặp ở 5% số bệnh nhân trầm cảm và thường phối hợp với triệu chứng ăn nhiều

- Rối loạn hoạt động tâm thần vận động: Thay đổi tâm thần vận động

bao gồm kích động (nghĩa là bệnh nhân luôn đi đi lại lại, không thể ngồi yên), vận động chậm chạp (ví dụ nói chậm, vận động cơ thể chậm), tăng khoảng nghỉ trước khi trả lời, giọng nói nhỏ, số lượng ít, nội dung nghèo nàn, thậm chí câm

Họ có thể nằm lỳ trên giường cả ngày mà không hoạt động gì Các kích động vận động hay gặp ở người trẻ tuổi Họ luôn hoạt động nhiều, đi lại và hoạt động liên tục nhưng không hề có mục đích gì rõ ràng

Trang 15

- Giảm sút năng lượng (mất sinh lực): Năng lượng giảm sút, kiệt sức và mệt

mỏi là rất hay gặp Một người có thể than phiền mệt mỏi mà không có một nguyên nhân cơ thể nào Cảm giác mệt mỏi thường tăng lên vào buổi sáng và giảm đi một chút vào buổi chiều Tuy nhiên, một số bệnh nhân lại có triệu chứng mệt mỏi về buổi chiều Buổi sáng, họ cảm thấy rất thoải mái, dễ chịu Triệu chứng mệt mỏi về buổi chiều hay đi kèm với triệu chứng ngủ nhiều và

ăn nhiều Khi triệu chứng giảm sút năng lượng xuất hiện rầm rộ thì bệnh nhân hầu như không thể làm được việc gì (thậm chí cả vệ sinh cá nhân cũng là hoạt động quá sức của họ)

- Cảm giác tự ti, mặc cảm tội lỗi: Bệnh nhân cho rằng mình là kẻ vô dụng,

không làm nên trò trống gì Họ luôn nghĩ mình đã làm hỏng mọi việc, trở thành gánh nặng cho gia đình, cơ quan và cho xã hội Nhiều bệnh nhân giải thích một cách sai lầm các hiện tượng thông thường hàng ngày như là khiếm khuyết của họ Cảm giác vô dụng hoặc tội lỗi có thể mạnh lên thành hoang tưởng, khi đó niềm tin của bệnh nhân là sai lầm nhưng rất mãnh liệt (ví dụ: một bệnh nhân tin rằng anh ta là sự khốn cùng của thế giới) Chính cảm giác vô dụng và tội lỗi của bệnh nhân khiến bệnh nhân muốn nhanh chóng kết thúc cuộc sống bằng cách từ chối điều trị và tự sát

- Khó suy nghĩ, tập trung hoặc ra quyết định: Đây là triệu chứng rất hay

gặp, khiến bệnh nhân rất khó chịu và phải đi khám bệnh Nhiều bệnh nhân than phiền khó suy nghĩ, khó tập trung chú ý vào một việc gì đó Bệnh nhân cũng rất khó khăn khi cần đưa ra quyết định, họ thường phải cân nhắc mất nhiều thời gian với những việc thông thường Khó tập trung chú ý của bệnh nhân thể hiện ở những việc đơn giản như không thể đọc xong một bài báo ngắn, không thể nghe hết một bài hát mà bệnh nhân vốn yêu thích, không thể xem hết một chương trình tivi mà bệnh nhân trước đây vẫn quan tâm Rối loạn trí nhớ ở bệnh nhân thường là giảm trí nhớ gần Bệnh nhân có thể quên mình vừa làm gì

Trang 16

(không nhớ mình đã ăn sáng cái gì, không thể nhớ mình đã bỏ 7hum chìa khoá ở đâu ) Trong khi đó, trí nhớ xa (ngày sinh, quê quán, các sự việc đã xảy ra lâu trong quá khứ ) thì vẫn còn được duy trì tương đối tốt trong một thời gian dài

- Ý nghĩ muốn chết hoặc có hành vi tự sát: bệnh nhân có ý nghĩ về cái chết,

nặng hơn thì họ có thể có ý định tự sát hoặc hành vi tự sát Từ ý nghĩ tự sát, bệnh nhân sẽ có hành vi tự sát Khoảng 1% bệnh nhân trầm cảm tự sát trong vòng 12 tháng kể từ khi phát bệnh

- Lo âu: phần lớn bệnh nhân biểu hiện lo âu là triệu chứng căng thẳng

nội tâm, lo sợ, đánh trống ngực, mạch nhanh,…

- Triệu chứng cơ thể: đó là đau đầu, đau lưng, chuột rút, buồn nôn, nôn,

táo bón, thở nhanh

- Loạn thần: xuất hiện các triệu chứng ảo giác và hoang tưởng [1], [10],

[11]

1.1.4 Tiêu chuẩn chẩn đoán

1.1.4.1 Chẩn đoán trầm cảm theo tiêu chuẩn DSM-V

A Năm (hoặc hơn) trong số các triệu chứng sau được biểu hiện trong thời gian 2 tuần và biểu hiện một số sự thay đổi mức độ chức năng trước đây, có ít nhất 1 trong các triệu chứng hoặc là 1/khí sắc giảm, hoặc là 2/mất thích thú/sở thích

Ghi chú : Không bao gồm các triệu chứng là hậu quả rõ ràng của bệnh cơ

thể hoặc hoang tưởng hoặc ảo giác không phù hợp với khí sắc

1 Khí sắc giảm ở phần lớn thời gian trong ngày, hầu như hàng ngày, nhận biết hoặc bởi chính bệnh nhân (ví dụ: cảm giác buồn hoặc cảm xúc trống rỗng) hoặc được quan sát bởi người khác (ví dụ: thấy bệnh nhân khóc) Ghi chú:

ở trẻ em và vị thành niên khí sắc có thể bị kích thích

Trang 17

2 Giảm sút rõ ràng các thích thú/sở thích cho tất cả hoặc hầu như tất cả các hoạt động, có phần lớn thời gian trong ngày, hầu như hàng ngày (được chỉ ra hoặc bởi bệnh nhân, hoặc từ sự quan sát của người khác)

3 Mất khối lượng cơ thể rõ ràng, cả khi không ăn kiêng, hoặc tăng khối lượng cơ thể (ví dụ: thay đổi hơn 5% khối lượng cơ thể trong một tháng), giảm hoặc tăng cảm giác ngon miệng hầu như hàng ngày Lưu ý: trẻ em mất khả năng đạt được khối lượng cần thiết

4 Mất ngủ hoặc ngủ nhiều hầu như hàng ngày

5 Kích động hoặc vận động tâm thần chậm hầu như hàng ngày (được quan sát bởi người khác, không chỉ cảm giác của bệnh nhân là không yên tĩnh hoặc chậm chạp)

6 Mệt mỏi hoặc mất năng lượng hầu như hàng ngày

7 Cảm giác vô dụng hoặc tội lỗi quá mức (có thể là hoang tưởng) hầu như hàng ngày (không chỉ là tự khiểm trách hoặc kết tội liên quan đến các vấn

B Các triệu chứng không thoả mãn cho một giai đoạn hỗn hợp

C Các triệu chứng được biểu hiện rõ ràng, là nguyên nhân ảnh hưởng đến các lĩnh vực xã hội, nghề nghiệp hoặc trong các lĩnh vực quan trọng khác

D Các triệu chứng không phải là hậu quả sinh lý trực tiếp của một chất (ví dụ: ma tuý, thuốc) hoặc do một bệnh cơ thể (ví dụ: bệnh nhược giáp)

E Các triệu chứng không được giải thích tốt bởi có tang, nghĩa là sau khi mất người thân, các triệu chứng bền vững hơn 2 tháng, được đặc trưng bởi

Trang 18

rIi loạn chức năng rõ ràng, có ý nghĩ mình là vô dụng, ý định tự sát, các triệu chứng loạn thần hoặc vận động tâm thần chậm [11], [25]

1.1.4.2 Chẩn đoán trầm cảm theo tiêu chuẩn ICD-10

Việc chẩn đoán dựa trên sự xuất hiện của:

Ba triệu chứng đặc trưng của trầm cảm:

 Khí sắc trầm

 Mất mọi quan tâm thích thú

 Giảm năng lượng dẫn đến tăng sự mệt mỏi và giảm vận động Bảy triệu chứng phổ biến khác:

 Giảm sút tập trung chú ý

 Giảm lòng tự trọng và lòng tự tin

 Có ý tưởng bị tội và không xứng đáng, vô dụng

 Không tin tưởng vào tương lai

 Có ý tưởng và hành vi tự huỷ hoặc tự sát

 Rối loạn giấc ngủ

 Ăn không ngon miệng hoặc từ chối ăn, giảm trọng lượng cơ thể (5% trở lên) trong vòng 4 tuần

Thời gian tối thiểu của cả giai đoạn trầm cảm phải kéo dài cần thiết ít nhất

2 tuần Tiêu chuẩn về thời gian để phân biệt với các phản ứng cảm xúc buồn rầu xuất hiện trong một số hoàn cảnh đặc biệt hoặc sau một stress [8], [56], [59]

1.1.5 Phân loại mức độ trầm cảm

1.1.5.1 Phân loại mức độ trầm cảm theo DSM-V

Nhẹ: bệnh nhân chỉ có 5-6 triệu chứng, đủ để chẩn đoán, các triệu chứng

này ít ảnh hưởng đến chức năng lao động, xã hội của bệnh nhân

Vừa: bệnh nhân có 7-8 triệu chứng và bị ảnh hưởng chức năng lao động,

xã hội rõ ràng

Trang 19

Nặng: bệnh nhân có tất cả các triệu chứng (9), các chức năng xã hội,

nghề nghiệp bị ảnh hưởng trầm trọng Mức độ nặng chia làm:

- Nặng không có triệu chứng loạn thần

- Nặng có triệu chứng loạn thần (hoang tưởng, ảo giác), bao gồm loạn thần phù hợp với khí sắc (hoang tưởng nghi bệnh, hoang tưởng tự buộc tội)

và loạn thần không phù hợp với khí sắc (hoang tưởng bị hại, bị chi phối,

bị theo dõi, ảo thanh bình phẩm, ảo thanh ra lệnh) [11], [25]

1.1.5.2 Phân loại mức độ trầm cảm theo ICD-10

Nhẹ: Có 2 trong 3 triệu chứng chủ yếu và 2 trong 7 triệu chứng phổ biến

khác Thời gian tối thiểu phải 2 tuần Không có hoặc có ít triệu chứng cơ thể mức độ nhẹ

Vừa: Có 2 trong 3 triệu chứng chủ yếu và 3 hoặc 4 trong 7 triệu chứng

phổ biến khác Có 2-3 triệu chứng cơ thể mức độ vừa Thời gian tối thiểu là

2 tuần và có nhiều khó khăn trong hoạt động xã hội, nghề nghiệp và công việc gia đình

Nặng: Có cả 3 trong 3 triệu chứng chủ yếu và ít nhất 4 trong 7 triệu chứng

phổ biến khác Thời gian ít nhất 2 tuần [8], [56]

1.1.5.3 Phân loại mức độ trầm cảm theo điểm cắt của thang đo CES-D

Nghiên cứu này thực hiện nhằm tìm hiểu thực trạng trầm cảm và mối liên hệ giữa các yếu tố nguy cơ với trầm cảm trên cộng đồng nên phân độ mức độ trầm cảm theo các điểm cắt như sau [12], [23], [51]:

+ 16-21 có nguy cơ trầm cảm,

+ ≥ 22 biểu hiện trầm cảm

1.1.6 Một số thang đo trầm cảm

1.1.6.1 Thang đo trầm cảm của Beck (Beck Depression Inventory ─ BDI)

BDI được Aaron T Beck xây dựng và năm 1961, được chuẩn hóa vào năm 1969, và đăng ký bản quyền vào năm 1979 BDI lúc đầu được xây dựng

Trang 20

để phát hiện, đánh giá và theo dõi những thay đổi ở các triệu chứng trầm cảm với những bệnh nhân trong cơ sở chăm sóc sức khỏe tâm thần Sau này, BDI cũng được dùng để phát hiện các triệu chứng trầm cảm tại các cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu và tại cộng đồng Các cán bộ được tập huấn về cách sử dụng cũng như cách diễn giải nghiệm pháp này

Thang đánh giá trầm cảm Beck được WHO công nhận để đánh giá trạng thái trầm cảm và hiệu quả của các phương pháp điều trị, là thang đo được dùng phổ biến tại Viện Sức Khỏe Tâm Thần Quốc Gia từ năm 1989

BDI gồm có hai phiên bản, bản đầy đủ và bản rút gọn Bản đầy đủ gồm

21 đề mục, mỗi đề mục gồm bốn câu lựa chọn Mỗi câu lựa chọn được ấn định một điểm từ 0 đến 3 thể hiện mức độ của triệu chứng Phiên bản rút gọn dành cho nhân viên chăm sóc sức khỏe ban đầu gồm 13 đề mục, mỗi đề mục đề cập đến một triệu chứng của rối loạn trầm cảm chủ yếu xuất hiện trong hai tuần trở lại đây

Dựa vào kết quả được phân tích theo các mức độ:

Trang 21

Thang đánh giá trầm cảm của Hamilton có nhiều phiên bản khác nhau Phiên bản gốc có 21 đề mục (Hamilton, 1960) Phiên bản sửa đổi có 17 đề mục (Hamilton, 1967) [34], [63]

1.1.6.3 Bộ câu hỏi sàng lọc trầm cảm PHQ-9 (Patient Haelth Questionaire for Depression ─ PHQ-9)

PHQ-9 là bộ câu hỏi bao gồm 9 câu hỏi về dấu hiệu của trầm cảm PHQ-9 là một công cụ được sử dụng trong việc chẩn đoán, sàng lọc và điều trị trầm cảm

Bộ câu hổi PHQ-9 dùng để đánh giá mức độ sa sút về mặt triệu chứng, chức năng trong chẩn đoán thăm dò bệnh trầm cảm và dựa vào đánh giá nhằm chọn cách điều trị phù hợp, đánh giá cách điều trị đó

Dựa vào kết quả, phân tích theo các mức độ:

+ <5 điểm: Không có biểu hiện trầm cảm

+ 5-9 điểm: Có biểu hiện trầm cảm

Trong thang đo CES-D gồm 20 câu hỏi được thiết kế để đánh giá các triệu chứng chính của bệnh trầm cảm theo DSM-V với các khía cạnh: khí sắc trầm cảm, cảm giác hứng thú, cảm giác ngon miệng, giấc ngủ, suy nghĩ/ tập trung, cảm giác tội lỗi, mệt mỏi, tâm thần vận động, ý định tự sát [48]

Trang 22

Các câu hỏi được đánh giá theo thang điểm từ 0-3 như sau:

+ 0 điểm: Không bao giờ hoặc hiếm khi (<1 ngày)

+ 1 điểm: Đôi khi (từ 1-2 ngày)

+ 2 điểm: Thỉnh thoảng (từ 3-4 ngày)

+ 3 điểm: Rất hay xảy ra (5-7 ngày)

Tổng điểm cho 1 đối tượng dao động từ 0-60 điểm Theo đánh giá chuẩn của quốc tế và để tối ưu hóa độ nhạy và độ đặc hiệu thì điểm 16 là mốc (cut-off point) để phân loại giữa có và không có nguy cơ trầm cảm Theo một nghiên cứu khác thì điểm mốc (cut-off point) là 22 điểm, với <22 điểm xem như không trầm cảm và ≥ 22 điểm là trầm cảm [23] Cũng theo một số nghiên cứu khác, trong hai nghiên cứu Tây Ban Nha, các điểm mốc này nằm trong khoảng từ 16 [50] đến 26 [39], [51]

Thang đo CES-D đã được xác định độ tin cậy và tính giá trị là khá tốt, hệ số Cronbach’s alpha dao động từ 0,85 - 0,90 Thang đo này được nhiều tác giả xem

là công cụ đáng tin cậy trong việc tầm soát, đánh giá mức độ, cũng như thời giIn tác động của các triệu chứng trầm cảm [48]

1.2 Tình hình trầm cảm trên thế giới và Việt Nam

1.2.1 Trên thế giới

Theo Tổ chức Y tế thế giới, trầm cảm là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến bệnh tật trên thế giới, tỷ lệ mắc chung của trầm cảm chiếm 4,4% dân số thế giới, ước tính hơn 322 triệu người bị trầm cảm (2015) [60]

Thống kê mỗi năm tại châu Âu, cứ 15 người thì có 1 người bị trầm cảm (2015) [46]

Theo Viện sức khỏe tâm thần quốc gia (NIMH) ước tình ở Mỹ, trầm cảm là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến bệnh tật ở người có độ tuổi từ 15-44 Ảnh hưởng đến 15 triệu người, chiếm tỷ lệ là 6,7% dân số (2016) [26]

Trang 23

Theo thống kê của Ủy ban Phòng chống và Điều trị Trầm cảm của Nhật Bản (JCPTD) cho thấy 6,6% người Nhật bị trầm cảm Chi phí hằng năm chi trả cho vấn đề trầm cảm là 2,7 nghìn tỷ Yên [47]

Một nghiên cứu tại Maharashtra thực hiện trên đối tượng trên 18 tuổi thu được tỷ lệ 5,03% trong tổng số 3000 người dân có rối loạn tâm thần trong

12 tháng liên tục [29]

Các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ trầm cảm ở Malaysia ước tính khoảng

từ 8 đến 12% Tỷ lệ này còn cao hơn ở đối tượng phụ nữ có thu nhập thấp và người mắc các bệnh kèm theo [44]

1.2.2 Việt Nam

Tại Việt Nam, thống kê của Viện Sức khỏe Tâm thần Trung ương cho biết, hiện có khoảng 30% dân số mắc rối loạn tâm thần, trong đó tỷ lệ trầm cảm chiếm 25% Theo nhiều nghiên cứu khác nhau về dịch tễ học trầm cảm cho thấy

Trang 24

Theo tác giả Nguyễn Văn Siêm (2010) nghiên cứu tại xã Quất Động, Thường Tín, Hà Tây (nay là thuộc Hà Nội) cho thấy tỷ lệ mắc trầm cảm là 8,35% dân số từ 15 tuổi trở lên Tỷ lệ trầm cảm nữ/nam là 5/1 Tỷ lệ mắc ở

độ tuổi 30-59 là 58,21%, từ 60 tuổi trở lên là 36,9% Các yếu tố liên quan trầm cảm theo thứ tự tăng dần: sống độc thân, ly thân, góa bụa, stress cường độ mạnh, đông con, stress trung bình, bệnh cơ thể [17]

Theo tác giả Nguyễn Thị Xuân (2015) nghiên cứu trên sinh viên các trường trung cấp có đào tạo ngành Y Dược tại thành phố Cần Thơ, ghi nhận: sinh viên mắc trầm cảm là 23,8% (nữ mắc trầm cảm gấp 1,45 lần nam), tỷ lệ mắc trầm cảm trên bệnh nhân mắc bệnh mãn tính, tật là 39,5%, tỷ lệ mắc trầm cảm trên người được hỗ trợ về kinh tế là 23,9% [23]

Nghiên cứu của Lê Minh Công (2016) được thực hiện trên 840 đối tượng là công nhân tại Khu công nghiệp Biên Hoà 2, Đồng Nai ghi nhận tỷ lệ trầm cảm

là 7,26%[7]

1.3 Một số yếu tố liên quan đến bệnh trầm cảm

1.3.1 Di truyền

Các nghiên cứu gia đình cho thấy trầm cảm chịu ảnh hưởng từ yếu tố

di truyền: con cái, anh chị em của bệnh nhân bị trầm cảm có nguy cơ bị trầm cảm cao hơn ở những người gia đình khác không có người bị trầm cảm Một số nghiên cứu ghi nhận 50% số bệnh nhân rối loạn cảm xúc có ít nhất một người cha hoặc mẹ mắc rối loạn cảm xúc thường là trầm cảm [28], [54]

Theo nghiên cứu Nguyễn Nguyên Ngọc, tỷ lệ có biểu hiện trầm cảm ở những người có tiền sử gia đình về bệnh tâm thần là 8,8%, tỷ lệ này cao gấp

2 lần so với người không có tiền sử gia đình về bệnh lý tâm thần là 4,3% [15]

Trang 25

1.3.2 Tuổi

Theo thống kê của Viện sức khỏe tâm thần quốc gia, trong 12 tháng tỷ lệ trầm cảm ở người trưởng thành ở Mỹ là 6,7%, trong đó tỷ lệ trầm cảm của các nhóm tuổi là 10,3% (18-25 tuổi), 7,5% (26-49 tuổi), 4,8% (50 tuổi trở lên) [42] Theo TS Nguyễn Doãn Phương, Viện trưởng Viện Sức khỏe tâm thần cho biết, bệnh trầm cảm hiện có xu hướng trẻ hoá Đây là rối loạn phổ biến, xảy ra ở mọi lứa tuổi nhưng phổ biến trong độ tuổi từ 18-45 tuổi [14]

Theo Nguyễn Thanh Cao, tỷ lệ trầm cảm theo nhóm tuổi: 2,3% (18-40 tuổi), 3,7% (41-50 tuổi), 7,4% (51-60 tuổi), 9,5% (61-70 tuổi) [6]

1.3.3 Giới tính

Ở hầu hết các quốc gia, không phân biệt văn hóa, nền kinh tế, đều thấy rằng

tỷ lệ trầm cảm ở nữ cao hơn nam Lý do của sự khác biệt này có thể do

sự khác biệt về hormone và do phụ nữ phải trải qua các giai đoạn như mang thai, sinh con, tiền mãn kinh, mãn kinh, cũng như sự khác biệt về yếu tố chấn thương tâm lý xã hội khác nhau giữa nam và nữ [24], [57]

1.3.4 Nghề nghiệp

Theo Tạp chí Substance Abuse and Mental Health Services Administration (2008), nghiên cứu trầm cảm ở nhóm người đang làm việc độ tuổi 18-64 cho thấy tỷ lệ trầm cảm ở các nhóm nghề nghiệp khác nhau: Người làm công việc chăm sóc cá nhân và dịch vụ là 10,8%, chế biến thực phẩm 10,3%, công tác xã hội 9,6%, chăm sóc sức khỏe và kỹ thuật 9,6%, làm nghệ thuật, thiết kế, quảng cáo, thể thao, truyền thông: 9,1% [45], [62]

Theo Nguyễn Thanh Cao (2012), tỷ lệ mắc trầm cảm theo nghề nghiệp là: Không nghề nghiệp 18,1%, học sinh, sinh viên 13,8%, cán bộ hành chính 3,6%, lao động tự do 3,2%, buôn bán 3,0%, công nhân 2,8%, hưu trí 1,7%, nội trợ 1,1% [6]

Trang 26

1.3.5 Các yếu tố cá nhân

1.3.5.1 Đối với phụ nữ

- Các yếu tố nội tiết: Nội tiết thay đổi trong quá trình phát triển và sinh sản

có thể đóng một vai trò trong bệnh trầm cảm

- Kinh nguyệt: Nhiều phụ nữ trải nghiệm những thay đổi tâm trạng trong

khoảng thời gian kinh nguyệt, một tỷ lệ nhỏ phụ nữ bị rối loạn tiền kinh nguyệt Đây là một hội chứng tâm thần cụ thể bao gồm trầm cảm nặng, khó chịu, và căng thẳng trước kỳ kinh

- Mang thai và sinh sản: Biến động nội tiết xảy ra trong thai kỳ, đặc biệt là

khi kết hợp với mối quan hệ căng thẳng và lo lắng, có thể làm gia tăng trầm cảm Khoảng 10 - 15% phụ nữ mang thai bị trầm cảm sau khi sinh Các nghiên cứu cho rằng những phụ nữ nhạy cảm với biến động nội tiết tố có nguy cơ mắc trầm cảm sau sinh Sẩy thai cũng làm gia tăng nguy cơ trầm cảm

- Tiền mãn kinh và mãn kinh: Biến động nội tiết có thể gây ra trầm cảm

khi phụ nữ được chuyển sang thời kỳ mãn kinh Giấc ngủ bị gián đoạn cũng rất phổ biến trong thời tiền mãn kinh và có thể đóng góp vào trầm cảm

Ngoài ra, nhiều phụ nữ nghèo, bị lạm dụng tình dục, hoặc xung đột gia đình, nghiện rượu trong thời kỳ có thai cũng là những yếu tố nguy cơ làm gia tăng bệnh trầm cảm [32], [40], [53], [54]

1.3.5.1 Đối với nam giới

Trầm cảm không phải là hiếm gặp ở nam giới Một số nghiên cứu cho thấy trầm cảm ở nam giới có liên quan với các chỉ số như khuynh hướng hành vi bốc đồng hoặc lạm dụng rượu hay chất gây nghiện [53]

Trang 27

1.3.6 Yếu tố hành vi

1.3.6.1 Hút thuốc lá

Có mối liên quan giữa hút thuốc lá và trầm cảm Những người gặp trở ngại khi bỏ thuốc và kéo dài trên 6 tháng dễ bị trầm cảm, tỷ lệ là 25% Hơn nữa, những người trầm cảm hút thuốc không có khả năng bỏ thuốc lá, chỉ có khoảng 6% cai thuốc thành công sau 1 năm [53]

Theo tác giả Laura A Pratt nghiên cứu về mối liên quan giữa trầm cảm và hút thuốc lá tại Mỹ đã đưa ra kết luận người bị trầm cảm thì dễ có nguy cơ nghiện thuốc lá hơn người không bị trầm cảm (tỷ lệ là 43% nữ hút thuốc lá

bị trầm cảm, 22% nữ hút thuốc lá không bị trầm cảm) [37]

1.3.6.2 Uống rượu bia

Theo báo cáo của SAVY 2 cho kết quả uống rượu, bia là hiện tượng phổ biến

ở đa số nam thanh niên (69%) và ít phổ biến ở nữ (28%) Hành vi uống rượu, bia tăng theo tuổi 57,9% ở nhóm tuổi 18-21 và 62,2% ở nhóm tuổi 22-24 [5], [23] Theo tác giả Arve Strandheim và cộng sự đã ghi nhận rượu làm tăng ý nghĩ

tự tử từ 50-70% trong cả nam và nữ [27] Trong nghiên cứu của Bramness JG và cộng sự trên sinh viên y khoa đã đưa ra kết luận sinh viên nữ thường có khuynh hướng căng thẳng nhiều hơn nam [23], [31]

1.3.6.3 Áp lực công việc, học tập

Công việc căng thẳng như làm công tác nghiên cứu khoa học, quản lý, làm việc quá sức, quá thời gian, kéo dài thường là nguyên nhân của stress, tái diễn nhiều lần dẫn đến trầm cảm [6]

Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Xuân trên đối tượng sinh viên các trường trung cấp Y dược tại thành phố Cần Thơ (2015) ghi nhận sinh viên có áp lực học tập cao thì nguy cơ trầm cảm cũng cao gấp 3,7 lần [23]

Trang 28

1.3.7 Yếu tố tâm lý

Những người tâm lý quá nhạy cảm, ít bạn bè, sống nội tâm, có khả năng chịu đựng stress yếu thường dễ mắc trầm cảm [31], [45]

1.3.8 Yếu tố về thu nhập gia đình

Theo thống kê tại Mỹ của Laura A Pratt và cộng sự (2014) cho thấy tỷ lệ trầm cảm của người có thu nhập dưới mức nghèo cao hơn so với người có thu nhập ở mức trên (tỷ lệ trầm cảm tương ứng là 15%, 6,2%) [38]

1.3.9 Các bệnh mãn tính làm tăng tỷ lệ trầm cảm

Theo Robert G Robinson (2002) tỷ lệ mắc trầm cảm trong suốt cuộc đời của người dân Hoa Kỳ vào khoảng 17% Tỷ lệ mắc trầm cảm ở những người khỏe mạnh thấp hơn rất nhiều so với những người đang mắc bệnh Tỷ lệ mắc trầm cảm trong nhóm bệnh nhân rất cao, từ 20 đến 40% Trầm cảm đơn thuần hoặc kết hợp với các bệnh lý khác đều gây những tổn hại nghiêm trọng về mặt thể chất và tinh thần Nếu không được điều trị, trầm cảm có thể kéo dài nhiều tháng và có thể gây phức tạp thêm quá trình điều trị bệnh [10]

Theo Boris Voinv và cộng sự (2013) ghi nhận rối loạn trầm cảm xảy ra ở 23% bệnh nhân sau nhồi máu cơ tim, và khoảng 30% - 45% ở bệnh nhân nội trú

có bệnh động mạch vành Trầm cảm là một tình trạng rất phổ biến ở bệnh nhân đột quỵ và tỷ lệ trầm cảm dao động từ 20% - 60% Đối với bệnh đái tháo đường,

cứ 4 người bị đái tháo đường thì có 1 người bị trầm cảm trong khoảng thời gian 2,5 năm Bệnh nhân đái tháo đường bị trầm cảm, tỷ lệ tiến triển mãn tính và khả năng tái phát trầm cảm là rất cao Tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân đái tháo đường bị trầm cảm cao gấp 3 lần đối với bệnh nhân chỉ bị đái tháo đường [52]

Trang 29

1.4 Một số thông tin về địa bàn nghiên cứu

Năm 2016, tỷ lệ trầm cảm của người dân từ 18 - 60 tuổi ở quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ là 16% [16] Ninh Kiều là quận trung tâm của thành phố Cần Thơ, Đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam Quận Ninh Kiều là quận sầm uất,

đô thị hóa nhanh và kinh tế phát triển, hiện đại Diện tích: 29,2 km², dân số: 888.600 người, mật đô dân số: 26.953người/km² Quận Ninh Kiều chính là cái lõi đô thị loại I trực thuộc trung ương, 100% là dân số thành thị

Quận Ninh Kiều bao gồm 13 phường [2]:

- An Bình 12.721 người - An Phú 12.495 người

- An Cư 20.086 người - Cái Khế 33.018 người

- An Hòa 22.367 người - Hưng Lợi 35.121 người

- An Hội 9.393 người - Tân An 8.345 người

- An Khánh 7.731 người - Thới Bình 15.476 người

- An Lạc 13.969 người - Xuân Khánh 23.870 người

- An Nghiệp 7.332 người

Trang 30

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Tiêu chuẩn chọn đối tượng

Người dân từ 18 đến 60 tuổi có hộ khẩu thường trú (ít nhất 6 tháng) tại quận Ninh Kiều thành phố Cần Thơ

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ

- Tình trạng sức khỏe của đối tượng không có khả năng trả lời được phỏng vấn (mắc bệnh thần kinh thực thể, dị tật không thể giao tiếp,…), đối tượng mắc bệnh tâm thần phân liệt, động kinh đang sử dụng thuốc điều trị,…

- Đối tượng đang nằm viện, bị giam giữ, đi làm ăn hay công tác xa

2.1.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian: từ tháng 5 năm 2017 đến tháng 4 năm 2018

- Địa điểm: Quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích

2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

2.2.2.1 Cỡ mẫu

Cỡ mẫu nghiên cứu được tính theo công thức ước lượng tỷ lệ trong quần thể

Trong đó: n là cỡ mẫu nghiên cứu cần có

= 1,96 (với : xác suất sai lầm loại 1 ( 0,05), : hệ số tin cậy của ước lượng với mức tin cậy mong muốn là 95%)

Trang 31

p là tỷ lệ trầm cảm Theo nghiên cứu của Nguyễn Nguyên Ngọc

về “Biểu hiện trầm cảm và liên quan đến một số yếu tố thời tiết tại 6 xã/phường thuộc Hà Nội - Thừa Thiên Huế - Cần Thơ năm 2012”, trên đối tượng là người dân từ 18-60 tuổi với tỷ lệ trầm cảm là 6,3% [15] Do đó, chúng tôi chọn p=0,063

d là sai số tuyệt đối 0,03 (3%)

Cỡ mẫu tương ứng được tính theo công thức là 252

Sử dụng hiệu lực thiết kế là 1,5 và cộng thêm khoảng 5% ước tính cho dữ liệu khuyết (không hợp lệ) Vậy cỡ mẫu nghiên cứu tối thiểu là: n = 400 Mẫu thực tế thu được là 412

Chia đều mẫu cho 4 phường, rồi chia đều cho 3 khu vực của mỗi phường thì chúng tôi phải chọn 34 hộ gia đình trong mỗi khu vực Do điều kiện thực tế trong quá trình thu thập số liệu gặp khó khăn (trong vấn đề thời gian và liên hệ cộng tác viên) nên chúng tôi quyết định mỗi phường chọn ngẫu nhiên 90 hộ gia đình

Chọn ngẫu nhiên 30 hộ gia đình từ mỗi khu vực theo kỹ thuật chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống: từ danh sách hộ gia đình của mỗi khu vực ta chọn hộ gia đình có

Trang 32

phiếu bộ câu hỏi tương ứng với hàng dọc trong bảng từ 0-9 được hàng dọc, viết tên các thành viên 18-60 tuổi của hộ gia đình đang điều tra vào cột Số Nam/Nữ đủ tiêu chuẩn trong hộ gia đình, sau đó lấy chữ số cuối cùng (từ 0-9) của giá trị tổng thành viên đủ điều kiện của hộ gia đình là hàng ngang, đối chiếu hàng dọc và hàng ngang tương ứng được số thứ tự của thành viên cần phỏng vấn của hộ gia đình

Khi tiến hành thu mẫu, chúng tôi phỏng vấn theo từng khu vực đã chọn, nếu đối tượng thỏa các tiêu chuẩn chọn mẫu và không có tiêu chuẩn loại trừ thì chúng tôi tiến hành phỏng vấn đối tượng theo bộ câu hỏi thiết kế sẵn Trong trường hợp khi tiến hành thu thập, nếu đối tượng tạm thời không có nhà hay có việc bận, thì chúng tôi quay lại vào cuối buổi phỏng vấn hoặc vào giờ đã hẹn với đối tượng (trong ngày)

Khi thu thập đủ 12 khu vực, chúng tôi tổng kết tổng số đối tượng đã thu thập

số liệu là 352, chúng tôi tiến hành bốc thăm ngẫu nhiên thêm 1 phường (An Khánh) trong 9 phường còn lại và chọn ngẫu nhiên 2 khu vực, mỗi khu vực

30 hộ gia đình để đủ số lượng mẫu Tiến hành chọn hộ gia đình và đối tượng như phương pháp trên và thu đủ số lượng mẫu Mẫu thực tế thu được là 412

2.2.3 Nội dung nghiên cứu

- Giới tính: biến nhị giá, gồm: Nam và Nữ

- Dân tộc: là biến định danh, gồm

Trang 33

- Tôn giáo: là biến định danh, gồm

- Trình độ học vấn: là biến thứ tự, học vấn cao nhất của đối tượng cho đến thời điểm nghiên cứu, gồm 05 giá trị

1 Không biết chữ 4 Tốt nghiệp THCS (9/12)

2 Biết đọc biết viết 5 Tốt nghiệp THPT (12/12)

3 Tốt nghiệp tiểu học (5/12) 6 Trên THPT

- Nghề nghiệp: là biến định danh, việc làm chính chiếm 50% tổng thời gian trong ngày, gồm 09 giá trị

Trang 34

Hộ cận nghèo ở khu vực thành thị: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số

đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản

Hộ có mức sống trung bình ở khu vực thành thị: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1.300.000 đồng đến 1.950.000 đồng

Chia thành 04 giá trị:

1 Hộ nghèo (từ đủ 900.000 đồng /người/tháng trở xuống hoặc thiếu hụt

từ 3 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên)

2 Hộ cận nghèo (trên 900.000 đồng - 1.300.000 đồng /người/tháng và thiếu hụt dưới 3 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản)

3 Hộ có mức sống trung bình (trên 1.300.000 đồng đến 1.950.000 đồng/người/tháng)

4 Hộ trên mức sống trung bình (trên 1.950.000 đồng /người/tháng)

2.2.3.2 Các yếu tố liên quan đến trầm cảm

lo lắng về tình trạng sức khỏe của bản thân

1 Tai biến mạch máu não 4 Không mắc bệnh

3 Bệnh tim mạch

Trang 35

- Tình hình hút thuốc lá: là biến nhị giá, thời gian tính trong tháng qua đối tượng được xem là có hút thuốc lá khi >1 gói/ngày

- Tình hình uống rượu bia: là biến nhị giá, thời gian tính trong tháng qua đối tượng được xem là có lạm dụng rượu bia khi uống >4 đơn vị/ ngày (đối với nam), >3 đơn vị/ ngày (đối với nữ) [23]

- Các giai đoạn đặc biệt đối với phụ nữ: là biến thứ tự, gồm các giá trị

1 Mất kinh ≥ 12 tháng

2 Mất kinh < 12 tháng và rối loạn kinh nguyệt

3 Kinh nguyệt bình thường

+ Thời gian làm việc được thu thập qua nhận định của đối tượng, giá trị

* Yếu tố gia đình

- Tiền sử gia đình mắc bệnh trầm cảm: biến nhị giá, cha/mẹ/anh/chị/em ruột đối tượng có ai từng bị bệnh trầm cảm

Trang 36

- Mâu thuẫn gia đình: biến định tính, đối tượng có mâu thuẫn với chồng, con,

bố mẹ hay những người sống chung trong gia đình, mâu thuẫn làm ảnh hưởng đến tâm lý đối tượng

+ Đối tượng sống chung với người nghiện rượu

+ Đối tượng sống trong gia đình thường xuyên la mắng, cãi vã

+ Đối tượng sống trong gia đình thường xuyên bị đánh đập, bạo hành

* Yếu tố cộng đồng và xã hội

- Mâu thẫn với những người hàng xóm, hay nơi làm việc: là biến định tính, tình trạng đối tượng có mâu thuẫn với những người hàng xóm, hay nơi làm việc dẫn đến những căng thẳng về tinh thần ảnh hưởng đến đối tượng

2.2.3.3 Tỷ lệ trầm cảm của đối tượng

Thang đo sàng lọc trầm cảm: chúng tôi sử dụng thang đo CES-D cho nghiên cứu này Bộ câu hỏi sử dụng thang điểm 4 từ 0-3 điểm với thang đo được mã hóa: 0 điểm: Không bao giờ hoặc hiếm khi (<1 ngày), 1 điểm: Đôi khi (từ 1-2

Trang 37

ngày), 2 điểm: Thỉnh thoảng (từ 3-4 ngày), 3 điểm: Rất hay xảy ra (5-7 ngày) Riêng câu 4, 8, 12 và 16 trong thang đo mang nghĩa tích cực nên được tính điểm bằng cách tính từ điểm 3 cho câu trả lời hiếm khi đến điểm 0 cho câu trả lời hầu hết cả tuần Điểm tích lũy có thể nằm trong khoảng từ 0-60 điểm Nếu có lớn hơn 5 câu hỏi trong thang đo không được trả lời thì sẽ không được tính điểm Nếu có từ 1 đến 5 câu không được trả lời thì sẽ được tính điểm bằng cách [13]

Điểm Tổng 20

Số câu được trả lờiNghiên cứu này thực hiện nhằm tìm hiểu thực trạng trầm cảm và mối liên hệ giữa các yếu tố nguy cơ với trầm cảm trên cộng đồng nên sử dụng các điểm cắt như sau: 16-21 có nguy cơ trầm cảm, ≥ 22 biểu hiện trầm cảm

2.2.4 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu

2.2.4.1 Công cụ thu thập số liệu

Bộ câu hỏi phỏng vấn soạn sẵn [Phụ lục 1] gồm:

- Phiếu khảo sát thông tin chung về đối tượng và các yếu tố liên quan đến tình hình trầm cảm ở đối tượng

- Thang đánh giá trầm cảm CES-D

2.2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu

Phỏng vấn trực tiếp đối tượng qua bộ câu hỏi soạn sẵn

2.2.4.3 Các bước thu thập số liệu

- Bước 1: Đến trạm y tế của 5 phường An Bình, Hưng Lợi, Thới Bình, Xuân Khánh, An Khánh; quận Ninh Kiều thành phố Cần Thơ; liên hệ cán bộ dân số của trạm y tế để xác định thông tin về phường (khu vực, số điện thoại liên hệ)

- Bước 2: Thực hiện chọn mẫu theo phương pháp chọn mẫu nhiều giai đoạn (mục 2.2.2.2) Nhờ sự giúp đỡ của 01 cộng tác viên tại mỗi khu vực dẫn đường

đi thu thập số liệu để dễ dàng trong việc tìm kiếm nhà đối tượng

Trang 38

- Bước 3: Khi đến nhà đối tượng, tiến hành chọn đối tượng và xem xét đối tượng thỏa tiêu chuẩn chọn vào thì tiến hành giải thích lý do nghiên cứu và phỏng vấn

- Bước 4: Kiểm tra lại thông tin của đối tượng sau khi phỏng vấn, đảm bảo đầy đủ thông tin cần thu thập trên phiếu phỏng vấn

2.2.5 Phương pháp hạn chế sai số, xử lý và phân tích số liệu

2.2.5.1 Phương phát hạn chế sai số

- Bộ câu hỏi thiết kế khách quan, đúng mục tiêu, rõ ràng, dễ hiểu

- Tập huấn cho các thành viên thu thập số liệu, sử dụng bảng Kish chọn đối tượng đúng quy trình và thống nhất cách thức phỏng vấn

- Trong quá trình đối tượng trả lời bộ câu câu hỏi, phỏng vấn viên luôn có mặt giải đáp thắc mắc cho đối tượng

- Giám sát chặt chẽ việc thu thập thông tin từ thực địa, thu thập thông tin đầy

đủ, kiểm tra thông tin ngay sau khi phỏng vấn xong một đối tượng, kiểm tra lại các phiếu đã thu thập mỗi ngày

2.2.5.2 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

- Kiểm tra lại bộ số liệu trước khi nhập máy bằng phương pháp thủ công bằng cách xem xét những bộ câu hỏi thiếu thông tin ở thang đo trầm cảm (>5 câu) (mục 2.2.3.3)

- Nhập liệu bằng phần mềm EpiData 3.0 và xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 20.0

- Mô tả mẫu nghiên cứu (giới tính, tuổi, nghề nghiệp,…)

- So sánh tỷ lệ và ước tính các yếu tố liên quan đến trầm cảm với các yếu tố

cá nhân (tuổi, giới, trình độ học vấn, nghề nghiệp, bệnh mãn tính, yếu tố hành vi,…), yếu tố gia đình (tiền sử gia đình, yếu tố liên quan từ người thân…), yếu

tố xã hội,… được thể hiện dưới dạng tỷ lệ phần trăm (%), tỷ số chênh (OR), khoảng tin cậy 95% của OR; hồi quy logistic đơn biến và kiểm định chi bình

Trang 39

phương với mức ý nghĩa 0,05 được lấy để xem xét sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05 Hồi quy logistic đa biến được sử dụng để loại các biến nhiễu không tham gia vào mô hình giải thích cho biến phụ thuộc, chọn những biến độc lập có liên liên quan đến biến phụ thuộc với mức ý nghĩa 0,05 được lấy để xem xét sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05 và sử dụng phương pháp loại trừ dần ( Backward Wald) với ngưỡng ý nghĩa thống kê khi thực hiện so sánh tự động (entry=0,05, removal=0,1)

2.3 Đạo đức trong nghiên cứu

- Nghiên cứu được thực hiện với sự đồng ý của trường Đại học Y Dược Cần Thơ

- Đối tượng đưa vào nghiên cứu được cung cấp thông tin về mục tiêu nghiên cứu và quyền tham gia hoặc từ chối tham gia nghiên cứu

- Nghiên cứu được thực hiện không gây ảnh hưởng hoặc tổn thương đến thể chất và tinh thần của đối tượng tham gia nghiên cứu

- Các số liệu thu thập được phục vụ cho mục đích nghiên cứu, và được phân tích, xử lý một cách khách quan, khoa học Các thông tin cá nhân được giữ

bí mật

Trang 40

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Một số thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

3.1.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tuổi, giới tính, dân tộc, tôn giáo

Bảng 3.1 Phân bố đối tượng theo tuổi, giới tính, dân tộc, tôn giáo (n=412)

Ngày đăng: 27/03/2023, 15:53

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w