1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Đánh giá hiệu quả điều trị tăng huyết áp và tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị tăng huyết áp ở bệnh nhân tăng huyết áp có bệnh mạch vành mạn tại phòng khám khoa nội tim mạch – lão học

90 44 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh Giá Hiệu Quả Điều Trị Tăng Huyết Áp Và Tìm Hiểu Một Số Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Kết Quả Điều Trị Tăng Huyết Áp Ở Bệnh Nhân Tăng Huyết Áp Có Bệnh Mạch Vành Mạn Tại Phòng Khám Khoa Nội Tim Mạch – Lão Học
Tác giả Trương Yến Nhi
Người hướng dẫn TS. BS. Nguyễn Thị Diễm
Trường học Trường Đại Học Y Dược Cần Thơ
Chuyên ngành Y Dược
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2018
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 1,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1. TỔNG QUAN (11)
    • 1.1. Khái niệm cơ bản về huyết áp động mạch và tăng huyết áp (11)
    • 1.2. Khái niệm cơ bản về bệnh động mạch vành mạn (15)
    • 1.3. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và yếu tố nguy cơ tim mạch ở bệnh nhân tăng huyết áp có bệnh mạch vành mạn (17)
    • 1.4. Xử trí tăng huyết áp ở bệnh nhân bệnh mạch vành mạn (21)
    • 1.5. Tình hình tăng huyết áp và các nghiên cứu trong và ngoài nước (24)
  • Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (27)
    • 2.1. Đối tƣợng nghiên cứu (27)
    • 2.2 Phương pháp nghiên cứu (27)
      • 2.2.1. Thiết kế nghiên cứu (27)
      • 2.2.2. Cỡ mẫu (28)
      • 2.2.3. Phương pháp chọn mẫu (28)
      • 2.2.4. Nội dung nghiên cứu (28)
      • 2.2.5. Phương pháp thu thập số liệu (33)
    • 2.3. Vấn đề y đức (36)
  • Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (37)
    • 3.1. Đặc điểm chung của đối tƣợng nghiên cứu (37)
    • 3.2. Khả năng kiểm soát huyết áp ở bệnh nhân (40)
    • 3.3. Yếu tố ảnh hưởng kết quả điều trị tăng huyết áp (48)
  • Chương 4: BÀN LUẬN (52)
    • 4.1. Đặc điểm chung của đối tƣợng nghiên cứu (52)
    • 4.2. Khả năng kiểm soát huyết áp (58)
    • 4.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị (62)
  • KẾT LUẬN (67)
    • Trên 65 (0)
    • Lần 1: Độ 1 (0)
    • Độ 2: (0)
    • Độ 3: (0)
    • Lần 2: Độ 1 (0)
    • Độ 2 (0)
    • Độ 3 (0)

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ TRƯƠNG YẾN NHI ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ TĂNG HUYẾT ÁP VÀ TÌM HIỂU MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ TĂNG HUYẾ

TỔNG QUAN

Khái niệm cơ bản về huyết áp động mạch và tăng huyết áp

Máu chảy trong lòng mạch có một áp suất nhất định gọi là huyết áp (HA) Trong đó, máu trong động mạch (ĐM) có một áp lực với xu hướng đẩy thành ĐM giãn ra, thành ĐM lại có một sức ép ngƣợc trở lại Sức đẩy của máu gọi là

HA, sức ép của thành ĐM gọi là thành áp Hai áp lực này cân bằng nhau [36]

Huyết áp là một chỉ số phản ánh chức năng sống của cơ thể, do đó việc theo dõi huyết áp không chỉ giúp chẩn đoán các bệnh về tim mạch mà còn dự đoán nhiều trạng thái bệnh lý khác Việc duy trì huyết áp ở mức lý tưởng là rất quan trọng để phòng ngừa các biến chứng nguy hiểm Theo dõi huyết áp định kỳ giúp phát hiện sớm các vấn đề sức khỏe, từ đó có phương pháp điều trị phù hợp để nâng cao chất lượng cuộc sống Đồng thời, kiểm soát huyết áp hiệu quả còn góp phần giảm thiểu nguy cơ đột quỵ, suy tim và các bệnh lý nguy hiểm khác.

HA bao gồm huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương:

Huyết áp tâm thu (HATT), còn gọi là HA tối đa, là trị số huyết áp cao nhất trong chu kỳ tim, đo được trong thời kỳ tâm thu Chỉ số này phụ thuộc vào lực và thể tích tâm thu của tim, đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá sức khỏe tim mạch.

Huyết áp tâm trương (HATTr), còn gọi là HA tối thiểu, là trị số huyết áp thấp nhất trong chu kỳ tim, phản ánh áp lực trong mạch máu khi tim nghỉ và phụ thuộc vào trương lực của mạch máu.

HA phụ thuộc vào cung lượng tim và sức cản ngoại biên, trong đó cung lượng tim được hình thành bởi nhịp tim và thể tích thất trái Sức cản ngoại biên là lực chống lại dòng máu, chịu ảnh hưởng bởi chiều dài, bán kính động mạch và độ quánh của máu Hiểu rõ các yếu tố này giúp kiểm soát huyết áp hiệu quả hơn trong điều trị lâm sàng.

Tăng huyết áp (THA) là trạng thái xảy ra khi lưu lượng máu qua mạch vành tăng hoặc sức cản ngoại biên tăng, hoặc cả hai yếu tố này cùng lúc mà các cơ chế điều hòa của cơ thể không còn hiệu quả Hiện nay, các hướng dẫn y tế quốc tế đều định nghĩa tăng huyết áp dựa trên mức huyết áp tâm thu và tâm trương, phản ánh sự bất thường trong huyết áp giúp phát hiện và kiểm soát bệnh sớm Tăng huyết áp là một trong những yếu tố nguy cơ hàng đầu gây các bệnh tim mạch, đột quỵ và các biến chứng sức khỏe khác, đòi hỏi việc chẩn đoán và điều trị kịp thời để giảm thiểu tác động tiêu cực.

THA là khi HATT ≥ 140mmHg và/hoặc HATTr ≥ 90mmHg hoặc đang điều trị thuốc hạ áp Huyết áp bình thường là 120/80 mmHg hoặc thấp hơn [62]

1.1.2.2 Phân loại tăng huyết áp

Có nhiều cách phân loại THA Trên thực tế lâm sàng người ta sử dụng cách phân loại đơn giản, chia THA ra làm 2 loại chính:

THA nguyên phát (chƣa rõ nguyên nhân) hay còn gọi là bệnh THA, chiếm khoảng 90-95% các trường hợp THA

THA thứ phát là loại tăng huyết áp được xác định rõ nguyên nhân gây ra, thường liên quan đến các bệnh lý thận, hẹp eo động mạch chủ hoặc tác dụng phụ của thuốc Chiếm từ 5-10% các trường hợp tăng huyết áp, THA thứ phát đòi hỏi chẩn đoán chính xác để có phương pháp điều trị phù hợp và hiệu quả hơn.

1.1.2.3 Phân độ tăng huyết áp

Phân độ THA theo Hội Tim mạch Việt Nam năm 2015, dựa trên phân loại của ESC/ESH năm 2013:

Bảng 1.1 Phân độ THA theo Hội Tim mạch Việt Nam (2015) [23]

Phân loại HA HATT (mmHg) HATTr (mmHg)

HA bình thường 120-129 Và/Hoặc 80-84

HA bình thường cao 130-139 Và/Hoặc 85-89

THA độ II 160-179 Và/Hoặc 100-109

THA độ III ≥ 180 Và/Hoặc ≥ 110

Tăng HATT đơn độc ≥ 140 Và < 90

Phân độ THA theo JNC 7 (2003):

Bảng 1.2 Phân loại THA theo JNC 7 [69]:

Phân loại THA HATT (mmHg) HATTr (mmHg)

THA độ II ≥ 160 Và/Hoặc ≥ 100

1.1.2.4 Chẩn đoán tăng huyết áp

THA chủ yếu biểu hiện qua các thay đổi về trị số HA, thường tiến triển trong thời gian dài mà không có triệu chứng rõ ràng Các triệu chứng lâm sàng thường xuất hiện do tác động của THA lên các cơ quan đích, đặc biệt là các biến chứng tim mạch Chẩn đoán THA dựa vào việc đo trị số HA theo phương pháp lâm sàng tiêu chuẩn và không ngừng đánh giá nguy cơ tim mạch toàn diện bằng cách tìm kiếm các yếu tố nguy cơ, tổn thương các cơ quan đích, bệnh lý kèm theo hoặc dấu hiệu lâm sàng liên quan Ngoài ra, việc xác định nguyên nhân thứ phát gây ra THA cũng là phần quan trọng trong quá trình chẩn đoán.

Quá trình chẩn đoán bệnh bao gồm các bước quan trọng như đo huyết áp nhiều lần để đảm bảo chính xác, khai thác kỹ lưỡng tiền sử bệnh nhân giúp xác định nguyên nhân, thực hiện khám thực thể để đánh giá các biểu hiện lâm sàng, và tiến hành các xét nghiệm cận lâm sàng cần thiết nhằm hỗ trợ chẩn đoán chính xác.

1.1.3 Cơ chế bệnh sinh của tăng huyết áp nguyên phát

Bệnh THA nguyên phát chiếm trên 90% các trường hợp tăng huyết áp, trong khi cơ chế bệnh sinh vẫn chưa được hiểu rõ hoàn toàn Tuy nhiên, các nghiên cứu cho thấy rằng tăng huyết áp có nhiều yếu tố tham gia và hình thành phức tạp, bao gồm sự tương tác giữa yếu tố di truyền và môi trường.

Tính di truyền đóng vai trò quan trọng trong bệnh tăng huyết áp (THA), được xác định qua các nghiên cứu di truyền quần thể, nghiên cứu trên trẻ sinh đôi và phân tích phả hệ Tần suất mắc THA cao hơn từ 2 đến 7 lần ở những người có bố hoặc mẹ bị bệnh, cho thấy yếu tố di truyền có ảnh hưởng rõ rệt đến nguy cơ phát triển bệnh.

Trẻ có bố mẹ bị cao huyết áp (THA) có nguy cơ mắc bệnh cao hơn so với trẻ chỉ có một trong hai cha mẹ mắc THA, cho thấy mối liên hệ rõ ràng giữa tình trạng THA của cha mẹ và trẻ Đồng thời, các trẻ sinh đôi cùng trứng cũng cho thấy mức độ tương quan cao về khả năng mắc THA, phản ánh tầm ảnh hưởng của yếu tố di truyền trong việc phát triển bệnh huyết áp cao ở trẻ nhỏ.

Tăng hoạt giao cảm và stress kích thích hoạt động của tim, làm tăng cung lượng máu và tần số tim, đồng thời làm tăng sức cản ngoại vi, dẫn đến tăng huyết áp động mạch Nhiều nghiên cứu đã ghi nhận rằng căng thẳng tâm lý kéo dài góp phần làm tăng nguy cơ cao huyết áp, đặc biệt là ở những người sống trong môi trường có thảm họa hoặc có áp lực tâm lý lớn, qua đó ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe tim mạch.

Adrenaline tác dụng chính là co mạch dưới da nhưng lại làm giãn mạch vành, mạch não và mạch cơ vân, do đó chỉ làm tăng huyết áp tâm thở (HATT) Trong khi đó, noradrenaline có tác dụng co mạch toàn thân, dẫn đến tăng cả huyết áp tâm thu (HATT) và huyết áp trung bình (HATTr).

Hệ Renin – Angiotensin – Aldosterone (RAA) đóng vai trò quan trọng trong điều hòa huyết áp cả ở người bình thường và người bị tăng huyết áp Renin được tổng hợp và phóng thích từ cấu trúc cạnh vi cầu thận, xúc tác chuyển angiotensinogen ở gan thành angiotensin I, sau đó qua trung gian men chuyển, angiotensin I biến thành angiotensin II có tác dụng co mạch mạnh mẽ Angiotensin II còn kích thích vỏ thận bài tiết aldosterone, giúp giữ muối và nước, góp phần duy trì áp lực máu Ngoài ra, angiotensin II còn gây phì đại tế bào mạch máu, góp phần vào quá trình tăng huyết áp Hiện nay, người ta phát hiện hệ RAA không chỉ có trong máu mà còn tồn tại ở mô, tác động qua cơ chế tự tiết và cận tiết, góp phần điều hòa huyết áp một cách toàn diện.

Vai trò của muối Natri: Hiện tượng ứ natri sẽ làm tăng giữ nước, tăng nhạy cảm của hệ thống mạch với angiotensin và noradrenaline và làm tăng HA

Nitric Oxide (NO) và Endotheline: Đƣợc tiết ra bởi tế bào nội mạc mạch máu, NO có tác dụng giãn mạch, endotheline có tác dụng co mạch mạnh

Khái niệm cơ bản về bệnh động mạch vành mạn

Bệnh mạch vành (BMV) là tình trạng tổn thương các thành động mạch vành của tim, chủ yếu do các mảng xơ vữa – huyết khối gây ra trong hơn 90% trường hợp Những mảng này làm giảm khả năng vận chuyển máu của động mạch vành, dẫn đến trạng thái gọi là “suy vành” hoặc “thiểu năng vành” Tất cả hậu quả của trạng thái này đều gây áp lực lên cơ tim, đặc biệt từng vùng “cục bộ” của cơ tim do nhánh động mạch vành phụ trách, gây ra hiện tượng thiếu máu cục bộ (TMCB – ischemia) Chính vì lý do đó, cụm từ "Bệnh tim thiếu máu cục bộ" (BTTMCB) đã chính thức được WHO khuyến cáo sử dụng để mô tả căn bệnh này.

Tự nhận biết các triệu chứng nổi bật giúp bệnh nhân phát hiện sớm bệnh lý tim mạch, trong đó đau ngực là dấu hiệu quan trọng nhất William Heberden cách đây hơn 220 năm đã mô tả triệu chứng này với thuật ngữ Angina pectoris, hay còn gọi là cơn đau thắt ngực (ĐTN) Đau ngực do bệnh lý này thường có nhiều đặc trưng riêng biệt, giúp chẩn đoán chính xác và nâng cao hiệu quả điều trị Hiểu rõ các triệu chứng của ĐTN là bước quan trọng trong việc phòng ngừa các biến chứng nguy hiểm của bệnh tim mạch.

Bệnh BMV mạn là một nhiều thể lâm sàng, bao gồm bệnh động mạch vành mạn ổn định, cơn ĐTN mạn ổn định, ĐTN biến thái Prinzmetal, hội chứng X và TMCB cơ tim thầm lặng.

1.2.2 Cơ chế tăng huyết áp và bệnh mạch vành

Các nghiên cứu dịch tễ học đã xác nhận mối liên hệ chặt chẽ giữa tăng huyết áp (THA) và bệnh mạch bằng quang (BMV) THA là yếu tố nguy cơ độc lập hàng đầu dẫn đến BMV, ảnh hưởng đến mọi nhóm tuổi, dân tộc và giới tính.

1.2.2.1 Cơ chế vật lý và huyết động học

Trong bệnh tăng huyết áp (THA), nhu cầu tiêu thụ oxy của cơ tim tăng do hậu gánh gây ra, dẫn đến sức căng thành tim tăng và có thể gây phì đại thất trái Đồng thời, lưu lượng vành hoặc dự trữ vành giảm do tắc nghẽn mạch vành bởi mảng xơ vữa, tái cấu trúc mạch vành vừa và nhỏ, đặc biệt khi huyết áp tâm thu thấp làm giảm áp lực tưới máu mạch vành Những yếu tố này gây ra thiếu hụt nguồn cung oxy cho cơ tim, làm tăng nguy cơ thiếu máu cục bộ cơ tim.

Các lực vật lý như áp suất và lưu lượng đóng vai trò quan trọng quyết định hoạt động chức năng và cấu trúc của tim Chúng ảnh hưởng đến quá trình tái cấu trúc và xơ vữa động mạch chủ, gây ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe tim mạch Khi huyết áp tâm thu tăng (HATT tăng), vừa làm tăng trở kháng của đường ra thất trái, vừa nâng cao sức căng thành tim, từ đó làm tăng nhu cầu oxy của cơ tim, gây áp lực lớn hơn lên hệ tuần hoàn và tiềm ẩn nguy cơ các bệnh lý tim mạch.

Lão hóa và tăng huyết áp (THA) gây ra các bất thường về cấu trúc và rối loạn chức năng nội mạc, góp phần làm cứng động mạch ở người cao tuổi Cứng động mạch tăng vận tốc và sóng phản xạ làm tăng hậu gánh tim, dẫn đến tăng huyết áp tâm thu đơn độc và giảm áp lực tưới máu cho động mạch vành, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe tim mạch.

Stress oxy hóa đóng vai trò quan trọng trong bệnh tăng huyết áp và quá trình xơ vữa động mạch Quá trình này dẫn đến sự sinh ra quá mức các gốc oxy phản ứng, gây tổn thương tế bào nội mô, làm giảm khả năng giãn mạch và góp phần hình thành huyết khối cũng như tắc nghẽn mạch máu Các gốc oxy phản ứng kích thích phóng thích cytokine và phân tử bám dính trên bề mặt nội mô bị tổn thương, từ đó tăng sự lưu thông và bám dính của bạch cầu vào thành mạch Quá trình viêm mạch nhẹ kéo dài tạo nền tảng cho sự phát triển của xơ vữa động mạch và thúc đẩy huy động bạch cầu tuần hoàn vào lớp dưới nội mô.

1.2.2.3 Các yếu tố chuyển hóa và thể dịch

Các cơ chế gây tăng huyết áp không chỉ làm tăng áp lực máu mà còn gây tổn thương cho các cơ quan đích như mạch vành và cơ tim Những cơ chế này bao gồm tăng hoạt hệ thần kinh giao cảm và hệ RAA, giảm phóng thích hoặc hoạt động của các chất giãn mạch, các bất thường về cấu trúc và chức năng của động mạch, cũng như tăng các yếu tố tăng trưởng và cytokine gây viêm trong hệ thống mạch máu Hiểu rõ các cơ chế này giúp phát triển các loại thuốc hạ huyết áp có hiệu quả, mang lại lợi ích bảo vệ mạch máu thông qua tác dụng hạ huyết áp độc lập.

Hình 1.2 Cơ chế tổn thương động mạch vành trong tăng huyết áp

Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và yếu tố nguy cơ tim mạch ở bệnh nhân tăng huyết áp có bệnh mạch vành mạn

1.3.1.1 Triệu chứng của tăng huyết áp

Hầu hết bệnh nhân tăng huyết áp (THA) không có triệu chứng cơ năng rõ rệt, và bệnh thường được phát hiện qua đo huyết áp định kỳ hoặc khi xuất hiện biến chứng Các triệu chứng chính của mức huyết áp cao gồm nhức đầu, xây xẩm, hồi hộp, dễ mệt mỏi và có cảm giác bất lực Trong đó, nhức đầu là triệu chứng phổ biến nhất, đặc biệt khi THA nặng, thường xuất hiện ở vùng chẩm, sau gáy, chủ yếu vào sáng sớm, chiếm khoảng 15-20% các trường hợp [38].

Triệu chứng thực thể: đo HA bằng phương pháp Korotkoff có giá trị HATT ≥ 140mmHg và/hoặc HATTr ≥ 90mmHg

1.3.1.2 Triệu chứng của bệnh mạch vành mạn

Triệu chứng thường gặp nhất là 1 cơn đau thắt ngực (ĐTN) với nhiều đặc trƣng trên lâm sàng:

Vị trí đau thường nằm sau xương ức, trong một vùng chứ không phải một điểm duy nhất Đau có thể lan lên cổ, vai, tay, hàm, thượng vị và phía sau lưng Thường gặp nhất là cảm giác đau lan lên vai trái rồi xuống mặt trong của bàn tay trái, thậm chí xuống các ngón tay 4, 5, gây ảnh hưởng đáng kể đến sinh hoạt hàng ngày.

Cơn Đau Thắt Ngực thường xuất hiện khi gắng sức, xúc cảm mạnh hoặc gặp lạnh, đặc biệt sau bữa ăn nhiều hoặc khi hút thuốc lá Ngoài ra, một số trường hợp có thể gặp phải cơn ĐTN vào ban đêm, khi thay đổi tư thế hoặc kèm theo nhịp nhanh.

Các bệnh nhân thường mô tả cơn Đau Thắt Ngực như cảm giác thắt lại, nghẹt, rát, bị đè nặng trước ngực và có thể kèm theo cảm giác buốt giá Một số người còn gặp phải các triệu chứng khác như khó thở, mệt lả, đau đầu, buồn nôn và vã mồ hôi, cho thấy mức độ đau và các biểu hiện đi kèm có thể đa dạng và nghiêm trọng.

Thời gian cơn đau thắt ngực thường kéo dài từ vài phút đến tối đa 30 phút, với khoảng 5-7 phút thường là dấu hiệu của ĐTN mạn ổn định, trong khi 7-20 phút có thể phản ánh ĐTN Prinzmetal hoặc hội chứng Xang Các cơn đau kéo dài trên 30 phút thường liên quan đến hội chứng Vành Cấp, còn những cơn đau dưới 1 phút cần tìm nguyên nhân khác ngoại trừ tim Đau ngực có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau, do đó cần xác định rõ khả năng mắc Đau Thắt Ngực kiểu ĐMV Theo hướng dẫn của AHA/ACC, cơn đau thắt ngực điển hình do bệnh ĐMV dựa trên các yếu tố lâm sàng như tần suất, đặc điểm cơn đau và các triệu chứng kèm theo.

Đau thắt ngực điển hình gồm ba yếu tố chính: đau thắt chặt sau xương ức với đặc điểm và thời gian điển hình, xuất hiện khi gắng sức hoặc xúc cảm, và giảm đau khi nghỉ ngơi hoặc dùng thuốc nitrates.

- Đau thắt ngực không điển hình: chỉ gồm hai yếu tố trên

- Không phải đau thắt ngực: chỉ một hoặc không có yếu tố nào nói trên

1.3.2 Đặc điểm cận lâm sàng: Đặc điểm kết quả cận lâm sàng có vai trò quan trọng trong đánh giá kết quả điều trị THA ở bệnh nhân:

Trên tim, các phương pháp như siêu âm tim và điện tâm đồ đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá các tổn thương tim như dày thất trái, thiếu máu cục bộ, nhồi máu cơ tim hoặc suy tim Điện tâm đồ còn giúp chẩn đoán chính xác các rối loạn nhịp tim, từ đó hỗ trợ trong việc điều trị và phòng ngừa các biến chứng nguy hiểm.

Siêu âm động mạch cảnh đo độ dày lớp trung mô của động mạch cảnh, giúp phát hiện mảng xơ vữa quan trọng trong dự phòng đột quỵ và nhồi máu cơ tim Phương pháp này có giá trị dự báo cao trong việc đánh giá nguy cơ các bệnh tim mạch liên quan đến mạch máu Đo độ dày lớp trung mô là bước quan trọng trong chẩn đoán sớm các biến chứng mạch máu và hướng tới điều trị phòng ngừa hiệu quả.

1.3.3 Yếu tố nguy cơ tim mạch

Các yếu tố nguy cơ bệnh tim mạch đóng vai trò quan trọng trong việc xác định khả năng mắc bệnh của mỗi người Việc sở hữu một hoặc nhiều yếu tố nguy cơ có thể làm tăng khả năng mắc bệnh tim mạch, nhưng không đồng nghĩa là chắc chắn sẽ bị bệnh Hiểu rõ các yếu tố này giúp mọi người chủ động trong việc phòng ngừa và kiểm soát sức khỏe tim mạch hiệu quả.

Sau đây là danh sách của các yếu tố nguy cơ chính của bệnh tim mạch, đã đƣợc thừa nhận

1.3.3.1 Yếu tố nguy cơ không thể thay đổi đƣợc

Tuổi: Nguy cơ xảy ra các biến cố tim mạch tăng lên khi tuổi đời cao hơn

Các nghiên cứu dịch tễ học cho thấy, hơn 50% số người mắc đột quỵ tim mạch và tới 80% số ca tử vong do đột quỵ tập trung ở nhóm người trên 65 tuổi, cho thấy tuổi tác là yếu tố nguy cơ quan trọng liên quan đến bệnh đột quỵ.

Nam giới có nguy cơ cao mắc bệnh mạch vành, đột quỵ và các bệnh tim mạch khác ở tuổi trẻ Tuy nhiên, sau tuổi mãn kinh, nữ giới cũng đối mặt với nguy cơ bệnh tim mạch không thua kém gì so với nam giới.

Yếu tố di truyền đóng vai trò quan trọng trong nguy cơ mắc bệnh tim mạch và đột quỵ Các nghiên cứu đã chứng minh rằng những người có tiền sử gia đình bị bệnh tim mạch hoặc đột quỵ, đặc biệt là nam trước 55 tuổi và nữ trước 65 tuổi, có khả năng mắc bệnh cao hơn so với người khác Di truyền là một trong những yếu tố quan trọng cần lưu ý để phòng ngừa các bệnh tim mạch hiệu quả.

Yếu tố nguy cơ có thể thay đổi đƣợc

Tăng cholesterol trong máu và các rối loạn lipid liên quan: Tăng hàm lượng lipid máu (cholesterol và triglycerid) rất thường gặp và là một trong những yếu tố nguy cơ có thể thay đổi đƣợc quan trọng bậc nhất của bệnh tim mạch Cholesterol toàn phần bao gồm nhiều dạng, trong đó, hai thành phần quan trọng nhất là cholesterol trọng lƣợng phân tử cao (HDL-c) và cholesterol trọng lƣợng phân tử thấp (LDL-c) Khi nồng độ LDL-c tăng là yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch, tương tự với tăng triglycerid Ngược lại, HDL-c được xem là có vai trò bảo vệ, và khi hàm lƣợng HDL-c trong máu càng thấp thì nguy cơ bị bệnh tim mạch càng cao

Hút thuốc lá, bao gồm cả thuốc lào, là yếu tố nguy cơ chính gây tăng tỷ lệ bệnh động mạch vành, đột quỵ và bệnh mạch máu ngoại vi Ngoài ra, hút thuốc lá thụ động, khi hít phải khói thuốc của người khác, cũng góp phần làm tăng nguy cơ mắc các bệnh về tim mạch và mạch máu Việc ngăn chặn và giảm thiểu tiếp xúc với khói thuốc lá là cực kỳ quan trọng để bảo vệ sức khỏe tim mạch của bạn.

Thừa cân và béo phì ở mọi mức độ đều làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch, gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe Béo phì không chỉ là vấn đề về ngoại hình mà còn tác động trực tiếp đến sự hình thành các yếu tố nguy cơ khác như huyết áp cao, mỡ máu bất thường và tiểu đường Vì vậy, kiểm soát cân nặng là yếu tố quan trọng trong việc phòng ngừa các bệnh tim mạch và duy trì sức khỏe toàn diện.

Xử trí tăng huyết áp ở bệnh nhân bệnh mạch vành mạn

Quản lý THA ở bệnh nhân BMV mãn nhằm ngăn ngừa tử vong, nhồi máu cơ tim và đột quỵ, đồng thời giảm tần số và thời gian TMCBCT cũng như cải thiện các triệu chứng Thay đổi lối sống, chế độ ăn hạn chế natri, tiết chế rượu, tập thể dục đều đặn, giảm cân, bỏ thuốc lá, kiểm soát đường huyết và lipids là những yếu tố không thể thiếu trong điều trị Việc sử dụng thuốc là cần thiết để đảm bảo kiểm soát huyết áp hiệu quả và giảm nguy cơ biến chứng.

Mục tiêu huyết áp cho bệnh nhân THA có bệnh ĐMV theo

Theo hướng dẫn của AHA/ACC/ASH (2017), mức huyết áp mục tiêu cho bệnh nhân tăng huyết áp có bệnh ĐMV hoặc nguy cơ mắc bệnh xơ vữa động mạch trong 10 năm ≥ 10% là dưới 130/80 mm Hg (lớp I).

1.4.1.1 Thuốc ức chế beta Ức chế beta là lựa chọn đầu tiên điều trị THA ở bệnh nhân BMV mạn Chúng làm giảm TMCB và ĐTN chủ yếu là do tác dụng giảm co cơ và chậm nhịp tim Nhịp tim giảm làm tăng thời gian đổ đầy tâm trương và tăng tưới máu mạch vành Ức chế beta cũng ức chế giải phóng renin từ tổ chức cạnh cầu thận Chống chỉ định tương đối việc sử dụng thuốc bao gồm rối loạn chức năng nút nhĩ thất hoặc nút xoang nhĩ, suy tim mất bù, bệnh phổi co thắt phế quản nặng Ức chế beta làm giảm tử suất trước hoặc sau NMCT cấp, giảm 29% nguy cơ đột quỵ, 42% nguy cơ suy tim [38]

Tác dụng phụ: cảm giác mệt mỏi, mất ngủ, ảo giác, làm chậm nhịp tim và co mạch ngoại vi [38]

Thuốc chẹn kênh canxi (UCCa) giảm nhu cầu oxy cơ tim bằng cách giảm sức cản ngoại biên, hạ huyết áp và cải thiện cung cấp oxy cho cơ tim qua giãn mạch vành Các thuốc nondihydropyridine làm giảm tần số phát xung của nút xoang và làm chậm dẫn truyền qua nút nhĩ thất, giúp kiểm soát nhịp tim UCCa hoặc nitrat có tác dụng kéo dài giúp giảm triệu chứng khi thuốc ức chế beta không phù hợp hoặc gây tác dụng phụ không thể chấp nhận được ở bệnh nhân ĐTN ổn định (Khuyến cáo IIa) Mặc dù UCCa rất hiệu quả trong quản lý tăng huyết áp ở bệnh nhân ĐTN ổn định, tuy nhiên vẫn chưa có sự đồng thuận về vai trò của chúng trong phòng ngừa biến cố tim mạch ở bệnh nhân với bệnh ĐMV đã xác định.

Các tác dụng phụ phổ biến của thuốc bao gồm nhức đầu, đỏ bừng, phù mắt cá chân, chủ yếu xuất phát từ cơ chế dãn mạch của thuốc Tuy nhiên, các chế phẩm phóng thích chậm với tác dụng kéo dài thường gây ít tác dụng phụ hơn, giúp giảm thiểu các rủi ro cho người dùng.

1.4.1.3 Thuốc ức chế men chuyển

Thuốc ức chế men chuyển (UCMC) được khuyến cáo sử dụng cho tất cả bệnh nhân mắc bệnh ĐMV ổn định kèm theo THA, ĐTĐ, hoặc phân suất tống máu thất trái ≤ 40%, trừ khi có chống chỉ định (Khuyến cáo loại I a) Các nghiên cứu lâm sàng như HOPE cho thấy sử dụng UCMC như ramipril 10 mg/ngày giúp giảm 20-25% các biến cố tim mạch ở nhóm nguy cơ cao với 80% có bệnh ĐMV Ngoài ra, nghiên cứu EUROPA cho thấy giảm 20% nguy cơ gặp các sự kiện chính như tử vong tim mạch, NMCT hoặc ngừng tim ở bệnh nhân điều trị với perindopril 8 mg/ngày so với giả dược, chứng minh hiệu quả của UCMC trong phòng ngừa biến cố tim mạch và kiểm soát huyết áp.

Tác dụng phụ thường gặp của UCMC là ho, với tần suất từ 5-12,3%, chủ yếu là ho khan, từng cơn vào buổi tối kèm cảm giác ngứa cổ họng Ngoài ra, thuốc còn làm tăng kali máu ở các bệnh nhân suy thận hoặc người dùng thuốc lợi tiểu tiết kiệm kali, cần theo dõi chặt chẽ để tránh biến chứng.

1.4.1.4 Thuốc ức chế thụ thể AT 1 của Angiotensin II

Thuốc ức chế thụ thể AT1 của Angiotensin II (UCTT) được khuyến cáo sử dụng cho tất cả các bệnh nhân đau thắt ngực ổn định có huyết áp cao, đái tháo đường, phân suất tống máu thất trái ≤ 40%, hoặc suy thận Tuy nhiên, thuốc này chỉ định cho những bệnh nhân không dung nạp với thuốc ức chế men chuyển (UCMC), theo khuyến cáo loại Ia trong hướng dẫn điều trị.

Thuốc ức chế men chuyển (UCTT) có tác dụng phụ ít, dễ dung nạp hơn so với các nhóm thuốc hạ huyết áp khác Tuy nhiên, một số tác dụng phụ đã được ghi nhận bao gồm độc tính thai nhi, phù mạch, tăng kali máu, tụt huyết áp và suy thận UCTT ít gây ho khan, nên thường được thay thế bằng UCMC khi xảy ra tác dụng phụ này để đảm bảo hiệu quả điều trị và an toàn cho người bệnh.

Thuốc lợi tiểu thiazid cùng với các thuốc lợi tiểu tương tự đã được chứng minh rõ ràng về khả năng làm giảm các biến cố tim mạch qua các nghiên cứu quan trọng như nghiên cứu quản lý cự chiến binh [41], thử nghiệm MRC [42] và nghiên cứu SHEP, cho thấy sự hiệu quả của chúng trong việc cải thiện sức khỏe tim mạch.

Các nghiên cứu như [43] và sau này là nghiên cứu ALLHAT [40] đã chỉ ra rằng thuốc lợi tiểu có hiệu quả thứ cấp trong việc phòng ngừa các bệnh tim mạch ở bệnh nhân ĐMV Những bằng chứng này cho thấy thuốc lợi tiểu đóng vai trò quan trọng trong chiến lược điều trị để giảm nguy cơ mắc các bệnh tim mạch phổ biến.

Tác dụng phụ: hạ HA tƣ thế đứng, hạ kali máu, tăng canxi máu, tăng acid uric máu, tăng cholesterol, kém dung nạp đường [38]

Thay đổi lối sống và chế độ ăn uống là yếu tố thiết yếu để duy trì sức khỏe, trong đó cần hạn chế lượng natri nạp vào cơ thể, tiết chế tiêu thụ rượu bia và duy trì tập thể dục đều đặn Việc giảm cân hợp lý, bỏ thuốc lá, kiểm soát đường huyết cùng mức cholesterol trong máu giúp phòng ngừa các bệnh lý liên quan Ngoài ra, điều trị kháng tiểu cầu cũng đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sức khỏe tim mạch và mạch máu.

1.4.3 Yếu tố ảnh hưởng kết quả điều trị

Tuân thủ chặt chẽ chế độ điều trị là yếu tố then chốt để đạt được thành công trong việc kiểm soát huyết áp cao (THA) Sự phối hợp chặt chẽ giữa bác sĩ và bệnh nhân đóng vai trò quan trọng, giúp đảm bảo quá trình điều trị diễn ra hiệu quả Việc tuân thủ đúng hướng dẫn của bác sĩ không chỉ giúp kiểm soát tốt huyết áp mà còn giảm thiểu các biến chứng hiểm họa của bệnh.

- Khám bệnh theo đúng hẹn với bác sĩ, uống thuốc đúng theo đơn

- Báo với bác sĩ những bất thường bệnh nhân gặp phải để kịp thời chỉnh lại chế độ điều trị

- Tuân thủ các nguyên tắc cần thiết để cải thiện lối sống.

Tình hình tăng huyết áp và các nghiên cứu trong và ngoài nước

1.5.1 Tình hình tăng huyết áp

Thế giới: tỷ lệ mắc THA ở các nước phát triển đều khá cao: ở Đức 55%,

Phần Lan 49%, Anh 42%, Ý 38% và Thụy Sỹ 32% Các nước Châu Á, tỷ lệ

THA có thấp hơn Châu Âu nhƣng cũng ở mức cao: Nhật Bản 45%, Ấn Độ 36%, Trung Quốc 27% [70]

Trong nước: theo điều tra năm 2015 của Hội Tim mạch học Việt Nam trên phạm vi cả nước tỷ lệ THA là 47,3% trong số những người từ 25 tuổi trở lên

[37] Tại Cần Thơ năm 2007 THA ở độ tuổi từ 30 trở lên chiếm tỷ lệ khá cao là 45,6% [31]

Các nghiên cứu quốc tế cho thấy xu hướng cải thiện rõ rệt trong tỷ lệ kiểm soát huyết áp qua các thập niên Tại Hoa Kỳ, tỷ lệ kiểm soát huyết áp đã tăng từ 46,5% (1999-2000) lên 64% (2009-2010), phản ánh những nỗ lực giảm thiểu biến chứng liên quan đến tăng huyết áp Trong khi đó, tại Canada, tỷ lệ kiểm soát huyết áp từ 13,2% (1992) đã tăng lên 64% (2009), thể hiện sự tiến bộ trong quản lý bệnh Tuy nhiên, tại Trung Quốc, tỷ lệ kiểm soát huyết áp vẫn còn thấp, ở mức 19%, cho thấy cần tiếp tục các chiến lược cải thiện công tác điều trị và phòng ngừa tăng huyết áp.

(2002) lên 30,6% (2009), trong đó có 54,1% số BN đƣợc điều trị phối hợp trên 2 nhóm thuốc, UCCa và UCTT đƣợc sử dụng nhiều nhất chiếm tỷ lệ là 56,6% và 32% [52]

Nghiên cứu INTERHEART trên 52 quốc gia cho thấy tăng huyết áp (THA) làm tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim cấp cao hơn bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) Một nghiên cứu quan sát khác chỉ ra rằng bệnh mạch vành (BMV) vẫn là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và tàn tật ở các nước phát triển, và dự đoán đến năm 2020, BMV sẽ trở thành yếu tố tử vong hàng đầu tại các nước đang phát triển.

Nghiên cứu ONTARGET (2008) trên 23.400 bệnh nhân cho thấy telmisartan và ramipril đều có hiệu quả giảm huyết áp tương đương, đạt trị số huyết áp trung bình là 135-136 mmHg Cả hai thuốc đều giúp giảm huyết áp tâm thu (HATT) xuống còn khoảng 76,9-77,5 mmHg và huyết áp tâm trương (HATTr), mang lại hiệu quả trong kiểm soát huyết áp và giảm nguy cơ mắc các biến cố tim mạch Hiện nay, telmisartan là thuốc ức chế hệ RAA duy nhất được chứng minh có hiệu quả bảo vệ tim mạch tương đương với ramipril, vốn được xem là thuốc "tham chiếu" trong điều trị bệnh nhân có nguy cơ tim mạch cao.

Nghiên cứu HOPE (2000) đánh giá tác dụng của thuốc UCMC (ramipril) trên 9.541 bệnh nhân có nguy cơ cao trong vòng 3,5 năm Kết quả cho thấy, ramipril giúp giảm tỷ lệ tử vong, nhồi máu cơ tim, đột quỵ và suy tim, đồng thời giảm các biến cố liên quan đến tiểu đường.

Nhiều nghiên cứu tại Việt Nam cho thấy tỷ lệ kiểm soát huyết áp mục tiêu còn thấp, trong đó theo nghiên cứu của Phạm Thái Sơn (2012), chỉ có 10,7% bệnh nhân đạt được kiểm soát huyết áp sau 3 năm theo dõi trên 860 bệnh nhân ở 8 huyện khác nhau Điều này cho thấy cần có các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý và kiểm soát huyết áp nhằm giảm thiểu các biến chứng liên quan đến tăng huyết áp.

2013, có 57,5% BN điều trị đạt HA mục tiêu theo Nguyễn Ngọc Thanh Vân

Năm 2015, theo nghiên cứu của Trần Công Duy, tỷ lệ kiểm soát huyết áp tại Việt Nam đạt 46,7% Các nghiên cứu khác như của Phạm Như Hảo (2013) cho thấy tỷ lệ kiểm soát huyết áp ở bệnh nhân tăng huyết áp kèm đái tháo đường là 60,4% Những số liệu này phản ánh tình hình kiểm soát huyết áp chưa đạt mức tối ưu và cần tiếp tục nâng cao hiệu quả quản lý bệnh lý này để phòng ngừa các biến chứng.

(2012) tỷ lệ kiểm soát HA của BN THA kèm bệnh thận mạn là 30% [11]

Lý Huy Khanh (2010) đã khảo sát hiệu quả điều trị tăng huyết áp tại phòng khám Bệnh viện Trưng Vương từ tháng 1/2008 đến tháng 6/2009, cho thấy tỷ lệ kiểm soát huyết áp đạt mục tiêu theo hướng dẫn JNC 7 là 40,4% Nghiên cứu này ghi nhận rằng bệnh nhân tăng huyết áp có độ tuổi trung bình là 63,3 ± 13,8, trong đó nữ giới chiếm đa số với tỷ lệ 57,98% Phần lớn các bệnh nhân mắc tăng huyết áp ở mức độ I, phản ánh tình hình phân bố bệnh trong nhóm này.

Châu Ngọc Hoa [7] (2015): nghiên cứu tỷ lệ kiểm soát THA theo mục tiêu

HA của ESH/ESC 2013 ở 300 bệnh nhân THA đang điều trị tại phòng khám Nội Tim Mạch, bệnh viện Chợ Rẫy từ 10/2013 đến 3/2014 Kết quả cho thấy tỷ lệ

BN đạt HA mục tiêu theo ESH/ECS 2013 là 46,7% Tỷ lệ kiểm soát HA trên bệnh nhân THA có ĐTĐ là 39%, bệnh thận mạn là 43,4%.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tƣợng nghiên cứu

Tất cả bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên mắc bệnh mạch vành mạn, bao gồm thiếu máu cơ tim cục bộ, nhồi máu cơ tim cũ trên 2 tháng và đau thắt ngực ổn định, đang được theo dõi và điều trị tại phòng khám Khoa Nội Tim mạch của Bệnh viện Đa khoa Thành phố Cần Thơ trong giai đoạn năm 2017-2018.

Tất cả bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên có bệnh mạch vành mãn gồm thiếu máu cơ tim cục bộ, nhồi máu cơ tim cũ trên 2 tháng hoặc đau thắt ngực ổn định đều được chẩn đoán tăng huyết áp nguyên phát theo tiêu chuẩn của Hội tim mạch Việt Nam 2015, với HATT ≥ 140mmHg và/hoặc HATTr ≥ 90mmHg Những bệnh nhân này đang trong quá trình điều trị bằng các thuốc chống tăng huyết áp liên tục ít nhất từ 3 tháng trở lên.

Tăng huyết áp thứ phát

Bệnh nhân THA nguyên phát kèm theo một số bệnh lý khác có khả năng gây tăng huyết áp như Lupus ban đỏ, lao thận, sỏi đường tiết niệu

THA ở phụ nữ có thai

Bệnh nhân mắc bệnh tâm thần hoặc không có khả năng nghe, hiểu và trả lời câu hỏi

Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu.

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang

Công thức tính cỡ mẫu: 𝑛 =

Mức ý nghĩa α = 5%, hệ số tin cậy z = 1,96, và sai số cho phép của nghiên cứu d = 0,045 được sử dụng để xác định kích thước mẫu trong nghiên cứu này Tỷ lệ bệnh nhân mắc bệnh cao huyết áp có biến chứng TMCBCT và NMCT theo nghiên cứu của Trần Bá Thành trong giai đoạn 2015-2016 là 13,2% Áp dụng các thông số này vào công thức tính sơ bộ, kích thước mẫu cần thiết là 𝑛 = 1,96² × 0,132 × (1 - 0,132).

Số đối tƣợng nghiên cứu thực tế chúng tôi thu đƣợc là 225 đối tƣợng

Chọn mẫu thuận tiện và những đối tượng THA phù hợp theo tiêu chuẩn là bước đầu quan trọng trong quá trình chẩn đoán, sau đó tiến hành hỏi bệnh sử, khai thác triệu chứng cơ năng của bệnh, khám lâm sàng và thực hiện các xét nghiệm cận lâm sàng để đánh giá chính xác tình trạng bệnh Việc kiểm tra kết quả điều trị được thực hiện dựa trên bộ công cụ thu thập dữ liệu đã được thiết kế sẵn nhằm đảm bảo tính khách quan và hiệu quả trong quản lý bệnh nhân cao huyết áp.

2.2.4.1 Đặc điểm chung của đối tƣợng nghiên cứu

- Tuổi: Biến số tuổi chia làm 3 nhóm:

Nhóm 1: < 50 tuổi Nhóm 2: 50 - 64 tuổi Nhóm 3: ≥ 65 tuổi

- Giới tính: giới nam và giới nữ

- Nghề nghiệp: chia làm 5 nhóm: nông dân, công nhân viên chức, nội trợ, hết tuổi lao động và nghề khác

- Trình độ học vấn gồm 5 nhóm gồm: Không biết chữ, Tiểu học, Trung học cơ sở, Trung học phổ thông, Đại học và sau đại học

Thời gian phát hiện tăng huyết áp (THA) được tính từ khi bệnh nhân được chẩn đoán mắc THA hoặc bắt đầu sử dụng thuốc điều trị huyết áp đến thời điểm thực hiện nghiên cứu Thời gian này được chia thành bốn nhóm chính: dưới 5 năm, từ 5 đến dưới 10 năm, từ 10 đến dưới 15 năm, và từ 15 năm trở lên Việc phân nhóm này giúp đánh giá chính xác mức độ ảnh hưởng của thời gian mắc bệnh đến các yếu tố liên quan trong nghiên cứu.

- Bệnh lý đi kèm: có hoặc không Bao gồm các bệnh: Đái tháo đường, suy tim, suy thận, đột quỵ

- Tiền sử THA của gia đình (cha, mẹ, anh, chị, em): có hoặc không

- Tiền sử gia đình mắc bệnh tim mạch hay tử vong do tim mạch sớm: có hoặc không

Hút thuốc lá được xác định dựa trên mức độ tiêu thụ hàng ngày, với đối tượng có hút thuốc nếu trung bình từ 10 điếu trở lên mỗi ngày trong ít nhất 3 năm liên tục Những người chỉ hút thuốc một lần trong tuần hoặc ít hơn một lần trong tuần được xem là không hút thuốc Việc xác định chính xác mức độ hút thuốc giúp đánh giá nguy cơ và tác động của thuốc lá đối với sức khỏe cộng đồng.

Việc hạn chế hoặc loại bỏ rượu là rất quan trọng để duy trì sức khỏe Người trưởng thành không nên uống rượu hoặc chỉ nên uống dưới 1 đơn vị rượu mỗi ngày, tương đương với 330ml bia, 140ml rượu vang hoặc 40ml rượu mạnh Phụ nữ nên tiêu thụ lượng rượu ít hơn, khoảng phân nửa so với mức này để giảm thiểu các tác hại sức khỏe.

Đo cân nặng và chiều cao để đánh giá sức khỏe tổng thể, trong đó ghi nhận giá trị cân nặng (kg) với một chữ số thập phân và chiều cao (m) với hai chữ số thập phân Từ đó, tính chỉ số khối cơ thể (BMI) giúp xác định mức độ béo phì hoặc gầy gò, hỗ trợ trong việc chẩn đoán và theo dõi tình trạng sức khỏe cá nhân một cách chính xác.

𝑐ℎ𝑖ề𝑢 𝑐𝑎𝑜 𝑚 2 (Kg/m 2 ) Theo Tổ chức Y tế Thế giới, kiểm soát tốt cân nặng khi chỉ số khối thể < 23Kg/m 2 , thừa cân khi chỉ số khối cơ thể

≥ 23Kg/m 2 , béo phì khi chỉ số khối cơ thể ≥ 25 Kg/m 2 [49]

- Lối sống tĩnh tại: có, không

Không có lối sống tĩnh tại, việc duy trì các hình thức luyện tập đều đặn là rất quan trọng Bạn nên tập ít nhất 30 phút mỗi ngày, với cường độ vừa phải, đủ làm ấm người, thở nhanh hơn và ra mồ hôi nhẹ Để đạt được hiệu quả tối ưu, nên duy trì thói quen tập luyện ít nhất 5 ngày mỗi tuần theo khuyến cáo của chuyên gia.

Việc ăn mặn với lượng muối trên 6g/ngày (hơn 1 muỗng cà phê muối mỗi ngày) thường xuất phát từ thói quen sử dụng thức ăn chế biến sẵn, thực phẩm mặn như mắm, tương, cũng như việc chấm nước mắm và nước tương trong các bữa ăn hàng ngày Các thói quen này có thể làm tăng lượng muối hấp thụ, ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe Để duy trì chế độ ăn hợp lý, nên hạn chế tiêu thụ các thực phẩm có nhiều muối và giảm việc sử dụng các gia vị mặn trong nấu ăn hàng ngày.

- Ăn mỡ: có, không Ăn mỡ: thức ăn có nhiều cholesterol và axit béo no

Các bệnh lý kèm theo như đái tháo đường và rối loạn lipid máu đã được chẩn đoán tại các tuyến y tế cấp tỉnh trở lên, có đầy đủ giấy ra viện và toa thuốc điều trị đã hoặc đang được sử dụng đến thời điểm nghiên cứu.

2.2.4.2 Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của đối tƣợng nghiên cứu Đặc điểm lâm sàng

Các triệu chứng của tăng huyết áp mạn tính (THA, BMV mạn) và triệu chứng do tổn thương cơ quan đích gồm có, có hoặc không, cảm giác đau đầu căng tức hai bên thái dương, âm ỉ, lan ra vai và gáy Đau đầu có thể xuất hiện hoặc tăng cường về cường độ và tần suất so với trước khi bắt đầu điều trị Khi tình trạng THA hoặc BMV giảm hoặc khỏi hẳn, cơn đau đầu cũng thường giảm hoặc hết.

Hoa mắt, chóng mặt khi thay đổi tư thế là triệu chứng thường gặp, có thể tăng về tần suất xuất hiện hoặc giảm hoặc không còn triệu chứng rõ ràng Đau ngực là dấu hiệu cảnh báo quan trọng, đặc biệt khi cơn đau không thuyên giảm hoặc tăng cường về cường độ và số lần xuất hiện theo tiêu chuẩn CCS Ngược lại, khi tình trạng đau ngực giảm hoặc hết, đây có thể là dấu hiệu cải thiện hoặc chuyển biến của bệnh lý.

Yếu nửa người: cảm giác tê, yếu, mất vận động, mất cảm giác ở nửa người

Khám lâm sàng: Đo HA ghi nhận giá trị HATT, HATTr (mmHg)

Khám tim mạch giúp phát hiện nhịp tim đều hay rối loạn nhịp, xác định âm thổi bệnh lý tại tim cùng với vị trí chính xác, từ đó hỗ trợ chẩn đoán các triệu chứng suy tim dựa trên lâm sàng Quá trình này còn bao gồm xác định rõ các dấu hiệu bất thường để đánh giá mức độ và nguyên nhân của suy tim theo các tiêu chuẩn chẩn đoán của Hội Tim mạch Châu Âu 2012 Đặc điểm cận lâm sàng được sử dụng để hỗ trợ chẩn đoán chính xác hơn, từ đó định hướng phương pháp điều trị phù hợp và hiệu quả.

Sinh hóa máu: bao gồm glucose, HbA1c, cholesterol, triglycerid, HDL-c, LDL-c Giá trị bình thường các chỉ số như sau:

Theo tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường của ADA 2017, glucose máu đói từ 3,9-6,4 mmol/L và HbA1c ≤ 6,5% là bình thường Để chẩn đoán ĐTĐ, cần dựa vào ít nhất một trong các tiêu chuẩn sau: đường máu lúc đói ≥ 7mmol/L (126 mg/dL) sau 8 giờ nhịn đói, đo hai lần riêng biệt; đường máu bất kỳ ≥ 11,1mmol/L (200 mg/dL) kèm các biểu hiện tăng đường máu như uống nhiều, tiểu nhiều, giảm cân không rõ nguyên nhân; đường huyết sau 2 giờ thử nghiệm dung nạp glucose 75g ≥ 11,1mmol/L (200 mg/dL); hoặc HbA1c ≥ 6,5%.

Cholesterol bình thường theo tiêu chuẩn là từ 3,9-5,2 mmol/L, với HDL-c ≥ 0,9 mmol/L, LDL-c ≤ 3,4 mmol/L và triglycerid từ 0,46-1,88 mmol/L Theo tiêu chuẩn của NCEP ATP III 2001, chẩn đoán rối loạn lipid máu khi có ít nhất một trong bốn thành phần lipid máu bị rối loạn, trong đó cholesterol ≥ 5,2 mmol/L, triglycerid ≥ 1,7 mmol/L, LDL-c ≥ 3,4 mmol/L, hoặc HDL-c thấp hơn mức bình thường.

Theo tiêu chuẩn kiểm soát lipid máu ở bệnh nhân BMV, mức LDL-C đạt dưới 1,8 mmol/L được xem là đạt chuẩn, đặc biệt khi giá trị ≤ 0,9 mmol/L Trong quá trình đánh giá, cần chú ý các dấu hiệu trên điện tâm đồ như TMCBCT và NMCT cũ để phát hiện các tổn thương tim mạch cũ hoặc mới Tiêu chuẩn chẩn đoán bao gồm việc xác định các đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng phù hợp với tình trạng bệnh lý mạch vành.

Vấn đề y đức

Nghiên cứu được thực hiện sau khi được phê duyệt bởi Hội Đồng Nghiên Cứu Khoa Học của Trường Đại Học Y Dược Cần Thơ, tuân thủ các tiêu chí về đạo đức trong nghiên cứu y học Các đối tượng nghiên cứu được giải thích rõ ràng về mục đích, quy trình, đảm bảo không gây tổn hại sức khỏe và giữ gìn bí mật cá nhân Quá trình nghiên cứu bao gồm khám nội khoa, làm xét nghiệm và tư vấn điều trị cho bệnh nhân, đảm bảo vấn đề đạo đức y học trong nghiên cứu khoa học.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Đặc điểm chung của đối tƣợng nghiên cứu

Biểu đồ 3.1 Đặc điểm giới tính của đối tƣợng nghiên cứu

Nhận xét: Kết quả cho thấy bệnh nhân THA là nữ giới chiếm 47,1% thấp hơn nam là 52,9%

Biểu đồ 3.2 Đặc điểm tuổi của đối tƣợng nghiên cứu

Nhận xét: Bệnh nhân 50 – 64 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất với 56,4%, kế tiếp là trên 65 tuổi chiếm tỷ lệ 38,2%, cuối cùng là < 50 tuổi với 5,3%

Biểu đồ 3.3 Trình độ học vấn của đối tƣợng nghiên cứu

Nhận xét: Trình độ THCS chiếm tỷ lệ cao nhất với 36,4%, không biết chữ chiếm tỷ lệ thấp nhất với 1,8%

Biểu đồ 3.4 Nghề nghiệp của đối tƣợng nghiên cứu

Tiểu học THCS THPT Đại học và sau đại học

Nông dân Công nhân viên chức

Nội trợ Hết tuổi lao động

Nhận xét: Người bệnh hết tuổi lao động chiếm tỷ lệ cao nhất với 66,2%, kế đến là nội trợ với 16,4%

Bảng 3.1 Yếu tố nguy cơ tim mạch Yếu tố nguy cơ Số lƣợng (n) Tỷ lệ (%) TB ± SD

Nhận xét: Tỷ lệ người bệnh có tăng LDL-c chiếm tỷ lệ cao nhất với

84,4%, tiếp đó là lối sống tĩnh tại chiếm 56,0% và tăng triglycerid máu với 42,7%

Bảng 3.2 Thời gian phát hiện THA của bệnh nhân

Thời gian Số lƣợng (n) Tỷ lệ (%)

Thời gian trung bình 7,67 ± 6,6 (năm)

Tỷ lệ bệnh nhân mắc bệnh tăng huyết áp dưới 5 năm chiếm tỷ lệ cao nhất, đạt 48,4%, trong khi đó, tỷ lệ bệnh nhân mắc từ 10 đến dưới 15 năm là thấp nhất với 8,9% Thời gian trung bình mắc bệnh tăng huyết áp của các bệnh nhân là 7,67 ± 6,6 năm, cho thấy đa số người bệnh phát hiện tình trạng từ khá sớm và thời gian bệnh lý trung bình còn khá dài.

Khả năng kiểm soát huyết áp ở bệnh nhân

Bảng 3.3 Giá trị huyết áp lúc tái khám

Thông số TB ± SD Max-Min

Giá trị trung bình của HATT là 127 ± 16,8 mmHg, với mức cao nhất đạt 200 mmHg và mức thấp nhất là 100 mmHg, cho thấy sự biến đổi rõ ràng trong huyết áp trung bình của bệnh nhân Trong khi đó, chỉ số HATTr trung bình là 74,7 ± 9,1 mmHg, cao nhất lên đến 100 mmHg và thấp nhất là 50 mmHg, phản ánh mức huyết áp trung tâm phù hợp và ổn định trong nhóm nghiên cứu Các kết quả này cung cấp thông tin quan trọng về tình trạng huyết áp trung bình và huyết áp trung tâm của bệnh nhân, góp phần hỗ trợ chẩn đoán và điều trị phù hợp.

Bảng 3.4 Mức độ tăng huyết áp tâm thu

Phân loại HATT Số lƣợng (n) Tỷ lệ (%)

Nhận xét: Có 56% bệnh nhân đạt HATT mục tiêu là < 130mmHg, còn lại

20,4% bệnh nhân có HATT từ 130 đến 139 mmHg, 23,6% có HATT ≥ 140 mmHg

Bảng 3.5 Mức độ tăng huyết áp tâm trương

Phân loại HATTr Số lƣợng (n) Tỷ lệ (%)

Nhận xét: Có 12,4% bệnh nhân có HATTr < 60 mmHg, 41,8% bệnh nhân có HATTr từ 60 – 79 mmHg, 35,1% bệnh có HATTr từ 80 – 89 mmHg, còn lại 10,7% bệnh nhân có HATTr ≥ 90mmHg

Dựa trên biểu đồ 3.5 về triệu chứng lâm sàng của đối tượng nghiên cứu, có thể thấy rằng đau ngực là triệu chứng phổ biến nhất, xuất hiện ở 58,2% bệnh nhân Tiếp theo là triệu chứng đau đầu với tỷ lệ 42,4%, trong khi đó, chóng mặt khi thay đổi tư thế chỉ gặp ở 16,4% các trường hợp.

Bảng 3.6 Triệu chứng lâm sàng theo mức HATT Triệu chứng

HATT Đau đầu (n, %) Đau ngực (n,%)

Chóng mặt khi thay đổi tƣ thế (n, %)

Tổng 95 (100) 131 (100) 37 (100) Đau đầu Đau ngực Chóng mặt khi đổi tƣ thế

Nhận xét: Trong 95 bệnh nhân có triệu chứng đau đầu có 21,1 % có

HATT < 130mmHg, 37,9% có HATT từ 130 – 139mmHg và 41,1% bệnh nhân có HATT ≥ 140mmHg

Trong 131 bệnh nhân có triệu chứng đau ngực có 29,8% bệnh nhân thuộc nhóm HATT < 130mmHg, 32,1% có HATT từ 130 – 139mmHg và 38,2% bệnh nhân có HATT ≥ 140mmHg

Trong 37 bệnh nhân có triệu chứng chóng mặt khi thay đổi tƣ thế, có 54,1% bệnh nhân thuộc nhóm HATT < 130mmHg, 32,4% có HATT từ 130 – 139mmHg và 13,5% bệnh nhân có HATT ≥ 140mmHg

Bảng 3.7 Triệu chứng lâm sàng theo mức HATTr Triệu chứng

HATTr Đau đầu Đau ngực Chóng mặt khi thay đổi tƣ thế

Nhận xét: Triệu chứng đau đầu gặp nhiều ở nhóm HATTr từ 80 – 89 mmHg với 53,1% và nhóm HATTr ≥ 90 mmHg với 50% bệnh nhân có triệu chứng này

Triệu chứng đau ngực phổ biến ở nhóm HATTr < 60mmHg với 82,1% bệnh nhân có đau ngực, và nhóm HATTr ≥ 90 mmHg với 91,7%

Triệu chứng chóng mặt khi thay đổi tư thế là hiện tượng phổ biến, đặc biệt gặp ở nhóm HATTr < 60mmHg, chiếm đến 60,7% bệnh nhân Trong khi đó, xu hướng này hiếm gặp hơn ở nhóm HATTr từ 90mmHg trở lên, chỉ có 8,3% bệnh nhân gặp phải triệu chứng này.

Trong nghiên cứu, phần lớn bệnh nhân có tần số tim khi nghỉ đạt chuẩn từ 50 – 60 lần/phút, chiếm tỷ lệ 67,1% với 151 bệnh nhân, cho thấy mức độ lành mạnh về tim mạch; tiếp theo là 53 bệnh nhân có tần số tim > 60 lần/phút (23,6%), phản ánh một số trường hợp có thể mắc các vấn đề về tim; cuối cùng, có 21 bệnh nhân có tần số tim thấp < 50 lần/phút (9,3%), đây có thể là dấu hiệu của nhịp tim chậm cần theo dõi kỹ lưỡng.

Bảng 3.8 Tần số tim khi nghỉ theo HATT Tần số tim

Nhận xét: Trong nhóm có tần số tim thấp < 50 lần/phút có 95,2% có

HATT < 130mmHg, 4,8% có HATT từ 130 – 139 mmHg, không có bệnh nhân nào có HATT ≥ 140mmHg

Trong 151 bệnh nhân có tần số tim từ 50 – 60 lần/phút có 65,5% thuộc nhóm HATT < 130mmHg, 27,8% thuộc nhóm HATT từ 130 – 139 mmHg, và 6,6% bệnh nhân có HATT ≥ 140mmHg

Trong 53 bệnh nhân có tần số tim > 60 lần/phút, có 13,2% thuộc nhóm HATT < 130mmHg, 5,7% thuộc nhóm HATT từ 130 – 139 mmHg, và 81,1% bệnh nhân có HATT ≥ 140mmHg

Bảng 3.9 Tần số tim khi nghỉ theo HATTr Tần số tim

Nhận xét: Trong các bệnh nhân có tần số tim lúc nghỉ < 50 lần/phút, nhóm HATTr < 60 mmHg chiếm đa số với 85,7%

Trong nhóm bệnh nhân có tần số tim lúc nghỉ từ 50 – 60 lần/phút, đa số thuộc nhóm HATTr từ 60 - 79 mmHg và 80 - 89 mmHg với tỷ lệ lần lƣợt là 52,3% và 37,7%

Trong nhóm bệnh nhân có tần số tim lúc nghỉ từ > 60 lần/phút, có 1,9% thuộc nhóm HATTr < 60 mmHg, 26,4% và 37,7% lần lƣợt có HATTr từ 60 - 79 mmHg và 80 - 89 mmHg, 34% bệnh nhân có HATTr ≥ 90 mmHg

Bảng 3.10 Các thuốc dùng trong điều trị

Nhóm thuốc Số lƣợng (n) Tỷ lệ (%) Đơn trị 0 0

UCCa + UCMC + Ức chế beta 49 21,8

LT + UCMC + Ức chế beta 30 13,3

Trong nghiên cứu, tất cả bệnh nhân đều được điều trị bằng phương pháp phối hợp thuốc để kiểm soát huyết áp hiệu quả Cụ thể, có 141 bệnh nhân (62,7%) sử dụng song song hai nhóm thuốc hạ áp, trong khi 84 bệnh nhân (37,3%) được điều trị bằng sự kết hợp của ba nhóm thuốc khác nhau.

Trong cách phối hợp 2 nhóm thuốc, dùng phổ biến nhất là UCMC + Ức chế beta chiếm 36,4%, kế tiếp là UCTT + Ức chế beta chiếm 19,1%

Trong phương pháp phối hợp ba nhóm thuốc, UCCa kết hợp với UCMC được sử dụng phổ biến nhất, chiếm tỷ lệ 21,8% Tiếp theo là sự kết hợp giữa LT, UCMC và Ức chế beta, chiếm 13,3% Đặc biệt, phối hợp giữa LT, UCMC và UCCa chiếm tỷ lệ thấp hơn, chỉ 2,2%.

Bảng 3.11 Điều trị dùng thuốc theo mức HA HATT

UCCa + UCMC + Ức chế beta

LT + UCMC + Ức chế beta

Nhận xét: Trong cách phối hợp 2 nhóm thuốc, dùng phổ biến nhất là

UCMC + Ức chế beta chiếm 36,4%, tỷ lệ đạt HA mục tiêu cũng cao nhất với 62,2% Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p = 0,012

Trong các phối hợp thuốc điều trị huyết áp, nhóm UCCa kết hợp với UCMC và ức chế beta được sử dụng phổ biến nhất, chiếm 21,8% các liệu trình Phối hợp này đạt tỷ lệ kiểm soát huyết áp mục tiêu cao nhất với 65,3% Tuy nhiên, sự khác biệt giữa các nhóm thuốc này không có ý nghĩa thống kê, với giá trị p = 0,292, cho thấy các phương pháp điều trị này có hiệu quả tương đương nhau trong quản lý huyết áp.

Yếu tố ảnh hưởng kết quả điều trị tăng huyết áp

Bảng 3.12 Liên quan giữa tuổi, giới tính, số năm THA với kết quả điều trị

Trong phân tích dữ liệu, nhận thấy rằng nhóm tuổi từ 50 đến 64 có tỷ lệ đạt huyết áp mục tiêu HATT < 130mmHg cao nhất, đạt 65,4%, trong khi nhóm bệnh nhân trên 65 tuổi chỉ đạt 43% Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p = 0,015, cho thấy tuổi tác ảnh hưởng đáng kể đến khả năng kiểm soát huyết áp của bệnh nhân.

Nam có tỷ lệ kiểm soát đƣợc HA thấp hơn nữ Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p = 0,623

Những bệnh nhân mắc bệnh tăng huyết áp trên 15 năm có tỷ lệ đạt mục tiêu huyết áp thấp nhất chỉ 47,2% Thời gian mắc bệnh càng lâu càng giảm khả năng kiểm soát huyết áp thành công, dẫn đến tỷ lệ không đạt mục tiêu ngày càng cao hơn.

HA mục tiêu càng tăng, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê

Bảng 3.13 Liên quan giữa chỉ số BMI, cholesterol, triglycerid, LDL-c và HDL-c của bệnh nhân với kết quả điều trị THA HATT

Nhận xét cho thấy nhóm bệnh nhân có BMI ≥ 23kg/m², Triglycerid < 1,7 mmol/L và HDL-c ≤ 0,9 mmol/L có tỷ lệ đạt huyết áp mục tiêu cao hơn so với nhóm có BMI < 23kg/m², Triglycerid ≥ 1,7 mmol/L và HDL-c > 0,9, tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) Ngược lại, nhóm bệnh nhân có Cholesterol < 5,2 mmol/L và LDL-c < 1,8 mmol/L đạt tỷ lệ huyết áp mục tiêu cao hơn so với nhóm có Cholesterol ≥ 5,2 mmol/L và LDL-c < 1,8 mmol/L, với sự khác biệt này mang ý nghĩa thống kê rõ ràng (p < 0,05).

Bảng 3.14 Liên quan giữa các yếu tố thói quen và mức độ THA của bệnh nhân HATT

Nhận xét: Tỷ lệ người bệnh hút thuốc lá có HA đạt mục tiêu thấp hơn người không hút thuốc lá (43,3% và 60,6%), khác biệt có ý nghĩa thống kê với p

Tỷ lệ người có lối sống tĩnh tại có HA đạt mục tiêu là 38,9%, chỉ bằng một nửa người thường xuyên vận động (78,9%), khác biệt với p < 0,001

Tỷ lệ người bệnh hạn chế ăn muối có HA đạt mục tiêu là 67,3% cao hơn người không hạn chế ăn muối, khác biệt có ý nghĩa thống kê với p = 0,003

Tỷ lệ người bệnh tăng huyết áp (THA) có uống rượu và không hạn chế ăn mỡ cao hơn so với nhóm không uống rượu và hạn chế ăn mỡ, tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p lần lượt là 0,806 và 0,398.

Bảng 3.15 Liên quan giữa THA và tuân thủ điều trị HATT

Nhóm không uống thuốc đều và không tái khám đều có chỉ số huyết áp không đạt mục tiêu cao hơn so với nhóm tuân thủ đều cả việc uống thuốc và tái khám, cho thấy mức độ tuân thủ điều trị ảnh hưởng rõ rệt đến hiệu quả kiểm soát huyết áp Sự khác biệt này đã được xác nhận là có ý nghĩa thống kê với p < 0,001, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì đều đặn trong việc dùng thuốc và tái khám để đạt mục tiêu huyết áp mong muốn.

BÀN LUẬN

Đặc điểm chung của đối tƣợng nghiên cứu

Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận tỷ lệ nam là 52,9% và nữ là 47,1%, gần tương tự các nghiên cứu khác như của Trương Tấn Minh và Lê Tấn Phùng, với tỷ lệ tăng huyết áp ở nam là 52,2% cao hơn nữ 47,8% Các nghiên cứu của Trần Phi Hùng, Đặng Duy Quý, và Đặng Oánh đều cho kết quả tỷ lệ nam chiếm khoảng 50-51%, nữ chiếm khoảng 49-50% Tuy nhiên, nghiên cứu của Nguyễn Thanh Tùng lại cho thấy tỷ lệ nữ là 54,2% cao hơn nam 45,8%, còn Phạm Hùng Lực có tỷ lệ nữ 50,2% và nam 49,8%.

Nhiều nghiên cứu cho thấy phụ nữ chiếm tỷ lệ lớn hơn so với nam giới trong các khảo sát, với Lê Triều Minh ghi nhận nữ chiếm 61,9% và nam 38,1%, Nguyễn Văn Thỉnh báo cáo nữ chiếm 60,3% và nam 39,7%, còn Lê Thị Anh Thơ xác định tỷ lệ nữ là 59,5% và nam 40,5%.

Nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt về tỷ lệ tăng huyết áp giữa nam và nữ Sự khác biệt này có thể xuất phát từ các thói quen sinh hoạt khác nhau, như chế độ ăn uống, hoạt động thể chất, hút thuốc và uống rượu, giữa hai giới Hiểu rõ những yếu tố này giúp nâng cao hiệu quả phòng ngừa và kiểm soát tăng huyết áp, đặc biệt phù hợp với các chiến lược chăm sóc sức khỏe giới tính.

Biểu đồ 3.1 cho thấy phần lớn nhóm tuổi trong nghiên cứu của chúng tôi đều trên 50 tuổi, chiếm tới 94,6%, trong đó nhóm từ 50 – 64 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất với 56,4%, tiếp theo là nhóm trên 65 tuổi với 38,2% Độ tuổi trung bình của các đối tượng nghiên cứu là 68,1 ± 11,4, ranging từ 32 đến 99 tuổi Kết quả này gần giống với nghiên cứu của Cao Hoàng Anh, khi tỷ lệ đối tượng trên 50 tuổi là 89,4% và tuổi trung bình là 62,56 ± 11,41, với tuổi cao nhất là 99.

94, thấp nhất là 34 [1] Nghiên cứu của Lê Thị Huỳnh Mai [13] có độ tuổi trung bình là 63,8 ± 9,7, độ tuổi từ 55 trở lên chiếm 85%, tuổi thấp nhất là 38, cao nhất là 94

Nghiên cứu cho thấy phần lớn bệnh nhân đến khám tại phòng khám Nội tim mạch – Lão học là người trung niên và cao tuổi, nhóm tuổi dễ gặp các vấn đề sức khỏe hơn so với người trẻ tuổi Hơn nữa, các chỉ số HATT và HATTr tăng theo tuổi, do hệ thống động mạch trở nên xơ cứng, khả năng co giãn đàn hồi giảm đi và lòng động mạch hẹp lại Theo Tổ chức Y tế Thế giới, tỷ lệ tăng huyết áp ngày càng cao ở các nhóm tuổi cao, với khoảng 1 trong 20 người ở 35 tuổi, 1 trong 7 người ở 45 tuổi và 1 trong 3 người trên 59 tuổi mắc bệnh tăng huyết áp.

4.1.3 Đặc điểm về trình độ học vấn

Trình độ học vấn của bệnh nhân tham gia nghiên cứu đạt mức trung bình

Tỷ lệ không biết chữ trong cộng đồng là 1,8%, trong khi đó tỷ lệ học Tiểu học là 27,1%, THCS là 36,4%, THPT là 21,8%, và đại học hoặc sau đại học chiếm 12,9%, cho thấy trình độ học vấn còn hạn chế Nghiên cứu của Trần Phi Hùng năm 2012 tại Quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ cũng xác định tỷ lệ không biết chữ là 0,7%, Tiểu học 28,3%, THCS 31,6%, THPT 25,3%, và cao đẳng, đại học là 14,1%, phù hợp với kết quả hiện tại Ngoài ra, nghiên cứu của Nguyễn Thanh Tuấn tại huyện Châu Thành, Hậu Giang cho thấy tỷ lệ không biết chữ là 13,5%, Tiểu học chiếm 40,9%, THCS 32,5%, và THPT trở lên là 13,1%, phản ánh rõ ràng trình độ học vấn của người dân địa phương Điều này phù hợp với thực tế vì phần lớn bệnh nhân khám tại phòng khám đa khoa thành phố Cần Thơ là cư dân sinh sống tại khu vực, đặc biệt là quận Ninh Kiều.

4.1.4 Đặc điểm về nghề nghiệp

Kết quả nghiên cứu cho thấy nhóm người lớn tuổi lao động chiếm tỷ lệ cao nhất với 66,2%, tiếp đến là nội trợ chiếm 16,4%, công nhân viên chức là 9,3%, và nông dân là 7,6% Trong các nghiên cứu liên quan, Nguyễn Thị Mụi ghi nhận tỷ lệ người hết tuổi lao động là 72,6%, nông dân chiếm 14,9%, và các nghề khác như buôn bán, lái xe chiếm 6,7%, trong khi nội trợ chiếm 4,2% và công nhân viên chức là 1,5% Theo nghiên cứu của Bùi Thị Hà và Trần Thị Thanh Thủy, tỷ lệ người hết tuổi lao động là 47,24%, thấp hơn so với kết quả của chúng tôi, với nông dân chiếm 16,1% và công nhân viên chức chỉ 1,02%.

Kết quả phù hợp với đối tượng nghiên cứu và đặc điểm địa phương, khi đa số người cao tuổi sống tại thành phố và thuộc nhóm hết tuổi lao động, nội trợ Nghiên cứu của Phạm Hùng Lực xác nhận rằng đối tượng chính của nghiên cứu tập trung vào người cao tuổi ở khu vực đô thị Điều này cho thấy sự phân bổ dân cư và đặc điểm xã hội phù hợp với mục tiêu nghiên cứu về đối tượng cao tuổi sống tại thành phố.

Nghề nông chiếm tỷ lệ cao nhất với 76,2%, đặc biệt ở các vùng xa trung tâm thành phố, trong khi nghề công nhân viên chức chỉ chiếm 2,1% Các nghiên cứu cho thấy, nghề nghiệp của người dân phụ thuộc nhiều vào vị trí địa lý; ở các vùng nông thôn hoặc vùng xa trung tâm, tỷ lệ nông dân cao hơn, trong khi tại các khu vực trung tâm hoặc gần trung tâm thành phố, các hoạt động buôn bán, công nhân và nội trợ chiếm ưu thế.

4.1.5 Các yếu tố nguy cơ tim mạch

Trong nghiên cứu của chúng tôi nhận thấy, tỷ lệ người hút thuốc lá chiếm 26,7% Kết quả của chúng tôi tương đồng với kết quả của Nguyễn Thị Mụi

Các nghiên cứu trong nhiều năm cho thấy tỷ lệ này dao động từ 22,7% đến 36,3% Cụ thể, nghiên cứu của Đặng Duy Quý (2012) đạt 22,7%, nghiên cứu của Trần Bá Thành (2016) là 29,5%, còn nghiên cứu của (2016) là 26,7% Trong khi đó, nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận tỷ lệ thấp hơn, chỉ 22,7%, so với 36,3% của Lê Thị Vẻ (2011) Sự khác biệt này có thể do đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là nam giới trên 50 tuổi, còn nghiên cứu của Lê Thị Vẻ tập trung vào cả hai giới.

Hút thuốc lá là yếu tố nguy cơ độc lập gây tăng huyết áp (THA) và bệnh mạch vành ở cả hai giới, với nicotine trong thuốc lá kích thích hệ thần kinh giao cảm gây co mạch ngoại vi và làm tăng huyết áp tạm thời khoảng 11mmHg trong 20-30 phút sau mỗi điếu thuốc Hút thuốc nhiều có thể dẫn đến các cơn THA kịch phát nguy hiểm do tác dụng kéo dài của nicotine, đồng thời làm nhịp tim tăng, cơ tim co bóp mạnh hơn, làm tăng nhu cầu oxy của cơ tim Ngoài ra, khí CO trong khói thuốc làm giảm cung cấp oxy cho các tế bào, phối hợp với áp lực dòng máu đã tăng trong THA, sẽ gây tổn thương lớp nội mạc của động mạch và thúc đẩy sự phát triển của xơ vữa động mạch.

Uống rượu và bia gây tăng áp lực thành mạch, làm tăng tỷ lệ mắc bệnh THA và giảm hiệu quả điều trị huyết áp do tăng đề kháng thuốc Rượu khiến huyết áp tối đa tăng ở người trẻ và huyết áp tối thiểu tăng ở người già, đặc biệt qua các tác dụng co mạch trực tiếp của ethanol Đối với bệnh nhân THA, cần kiêng rượu để kiểm soát huyết áp tốt hơn, và giảm lượng rượu tiêu thụ xuống dưới 30ml/ngày giúp giảm huyết áp hiệu quả trong quá trình điều trị.

Qua kết quả nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy tỷ lệ uống rƣợu bia của đối tượng nghiên cứu là 19,1% Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu của Trần Bá Thành [27] là 20,5%, nghiên cứu của Đào Duy Khánh là 22,4%, nghiên cứu của Đặng Duy Quý [21] là 24% Nghiên cứu của Lê Thị Vẻ [35] cho thấy số người uống rượu, bia là 35% Sự khác biệt có thể là do giới tính của 2 nhóm đối tƣợng nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ bệnh nhân thừa cân – béo phì chiếm 50,7%, cao hơn nhiều so với các nghiên cứu trước đây như của Nguyễn Thanh Tuấn (43,5%), Đặng Vạn Phước (34,3%) và Châu Ngọc Hoa (31%) Nghiên cứu của Framingham đã xác định thừa cân, béo phì là yếu tố nguy cơ chính trong cơ chế bệnh sinh của tăng huyết áp và bệnh mạch vành mạn, với tỷ lệ mắc cao hơn đáng kể: gấp 5,6 lần tăng huyết áp, gấp 3,8 lần đái tháo đường và gấp 2,1 lần mỡ máu so với người có chỉ số khối cơ thể bình thường.

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, có đến 56% bệnh nhân có lối sống tĩnh tại, trong khi nhóm thường xuyên vận động thể lực chiếm tỷ lệ 44%, phản ánh rõ mối liên hệ giữa lối sống ít vận động và sức khỏe Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Cao Hoàng Anh (2015), ghi nhận 43,5% người tập thể dục thường xuyên và 56,5% người không tập thể dục đều đặn, nhấn mạnh tầm quan trọng của vận động thể chất trong việc duy trì sức khỏe.

Khả năng kiểm soát huyết áp

4.2.1 Mức độ tăng huyết áp

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy 56% bệnh nhân đạt mục tiêu huyết áp tâm thu dưới 130 mmHg Trong khi đó, 20,4% bệnh nhân có huyết áp từ 130 đến 139 mmHg, và 23,6% có huyết áp ≥ 140 mmHg Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của tác giả Chin-Chou Huang trên cộng đồng người Trung Quốc ở Đài Loan, trong đó 43,0% bệnh nhân đạt huyết áp dưới 130 mmHg, 28,5% từ 130 đến 139 mmHg, và 28,5% từ 140 mmHg trở lên.

Trong kết quả nghiên cứu của chúng tôi, có 12,4% bệnh nhân có huyết áp tâm trương dưới 60 mmHg, 41,8% có huyết áp từ 60-79 mmHg, 35,1% từ 80-89 mmHg, và nhóm có huyết áp trên hoặc bằng 90 mmHg chiếm tỷ lệ thấp nhất là 10,7% Nghiên cứu của tác giả Chin-Chou Huang cũng ghi nhận 11,5% bệnh nhân có huyết áp tâm trương ≥ 90 mmHg, tuy nhiên, có sự khác biệt đáng kể ở các nhóm huyết áp tâm trương giữa các nghiên cứu.

Chin-Chou Huang cho thấy 20,5% bệnh nhân có HATTr từ 80 – 89 mmHg, 32,2% bệnh nhân có HATTr < 70 mmHg, và 35,8% bệnh nhân có HATTr từ 70 – 79 mmHg

Trong nghiên cứu của chúng tôi, giá trị huyết áp tâm thu trung bình (HATT) là 127 ± 16,8 mmHg, trong khi huyết áp tâm trương trung bình (HATTr) là 74,7 ± 9,1 mmHg Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Chin-Chou Huang, với HATT là 130,6 ± 17,7 mmHg và HATTr là 74,9 ±

Tỷ lệ bệnh nhân đạt huyết áp mục tiêu theo hướng dẫn AHA/ACC 2017 trong nghiên cứu của chúng tôi là 56%, cao hơn so với tỷ lệ 76,4% theo mục tiêu của AHA/ACC 2015 So sánh với nghiên cứu của Chin-Chou Huang, chỉ có 43% bệnh nhân đạt huyết áp < 130/80 mmHg và 60,6% đạt huyết áp < 140/90 mmHg, cho thấy sự khác biệt về tỷ lệ kiểm soát huyết áp có thể do phương pháp nghiên cứu, môi trường (cộng đồng hay bệnh viện) và tiêu chuẩn huyết áp mục tiêu được sử dụng.

Kết quả này cho thấy còn đến 44% bệnh nhân chưa đạt được mục tiêu điều trị huyết áp theo hướng dẫn của AHA/ACC 2017, phản ánh sự cần thiết của việc nâng cao hiệu quả kiểm soát huyết áp trong cộng đồng Đồng thời, có một phần nhỏ bệnh nhân (12,4%) gặp phải tình trạng huyết áp tâm trương quá thấp, đặt ra thách thức trong việc duy trì cân bằng huyết áp an toàn và hiệu quả.

Theo khuyến cáo của AHA/ACC 2015, huyết áp dưới 60mmHg không mang lại lợi ích cho bệnh nhân tăng huyết áp có bệnh mạch vành mạn, do đó cần thận trọng trong việc điều chỉnh huyết áp ở nhóm này Các bác sĩ cần lưu ý đánh giá kỹ lưỡng các dấu hiệu và triệu chứng không thuận lợi, đặc biệt là các biểu hiện của thiếu máu cơ tim, để đảm bảo an toàn và tránh các biến chứng nguy hiểm.

Trong quá trình khám, chúng tôi ghi nhận các triệu chứng cơ năng phổ biến nhất là đau ngực, chiếm tỷ lệ 58,2% Tiếp theo là triệu chứng đau đầu xuất hiện ở 42,2% các bệnh nhân Ngoài ra, chóng mặt khi thay đổi tư thế là triệu chứng có tỷ lệ thấp hơn Những triệu chứng này đóng vai trò quan trọng trong việc chẩn đoán và đánh giá tình trạng bệnh.

Khoảng 16,4% số bệnh nhân gặp phải các triệu chứng không phổ biến, điều này khác biệt so với hầu hết các nghiên cứu trước đây, nơi đa số cho thấy triệu chứng đau đầu là phổ biến nhất Nghiên cứu của Nguyễn Thị Mụi (2016) cũng nhấn mạnh rằng, mặc dù đau đầu thường là triệu chứng chính, nhưng một tỷ lệ nhất định bệnh nhân gặp phải các biểu hiện khác không điển hình.

Trong các nghiên cứu về các triệu chứng liên quan đến bệnh, đau đầu chiếm tỷ lệ cao với 66,1% theo thống kê và 70% theo nghiên cứu của Bùi Thị Hà và Trần Thị Thanh Thủy (2011) Ngoài ra, nghiên cứu của Tạ Ngọc Liên (2012) cho thấy có đến 49% bệnh nhân gặp phải triệu chứng đau đầu chóng mặt, trong khi các triệu chứng như đau ngực chỉ chiếm 14% số bệnh nhân.

Sự khác biệt trong kết quả có thể xuất phát từ đối tượng nghiên cứu khác nhau, trong đó nghiên cứu của chúng tôi tập trung vào bệnh nhân mắc bệnh mạch vành mạn, khiến triệu chứng đau ngực xuất hiện phổ biến hơn Ngoài ra, sự chủ quan của đối tượng nghiên cứu cũng góp phần vào những khác biệt này, ảnh hưởng đến khả năng ghi nhận và đánh giá triệu chứng.

Dữ liệu từ bảng 3.6 cho thấy, trong số bệnh nhân đau ngực, có 29,8% thuộc nhóm HATT dưới 130mmHg, 32,1% có HATT từ 130 – 139mmHg, và 38,2% có HATT từ 140mmHg trở lên Điều này cho thấy việc kiểm soát huyết áp dưới 130mmHg giúp giảm cường độ và tần suất các cơn đau ngực Tuy nhiên, đa số bệnh nhân gặp chứng chóng mặt khi thay đổi tư thế lại có mức HATT dưới 130mmHg (54,1%), cho thấy cần cân nhắc trong quản lý huyết áp để tránh các tác dụng phụ không mong muốn.

Khi mức HATTr giảm xuống dưới 60mmHg, có tới 82,1% bệnh nhân ghi nhận xuất hiện triệu chứng đau ngực tăng lên đáng kể Đồng thời, 60,7% bệnh nhân gặp phải triệu chứng chóng mặt khi thay đổi tư thế, cho thấy mức huyết áp thấp ảnh hưởng đáng kể đến các triệu chứng liên quan đến tuần hoàn và khả năng chịu đựng của bệnh nhân.

Tương tự, bảng 3.9 cho thấy có 85,7% bệnh nhân có tần số tim lúc nghỉ <

50 lần/phút, thấp hơn cho với tần số tim chuẩn, thuộc vào nhóm HATTr < 60mmHg

Kiểm soát huyết áp quá chặt ở bệnh nhân THA có bệnh mạch vành mạn có thể gây ra các triệu chứng bất lợi như đau thắt ngực, chóng mặt khi thay đổi tư thế và nhịp tim thấp dưới 50 lần/phút Khi huyết áp tâm trương hạ xuống dưới 60 mmHg, nguy cơ thiếu máu cơ tim tăng cao, khiến bệnh nhân dễ xuất hiện các biểu hiện của thiếu máu cơ tim Do đó, việc điều trị cần cân nhắc để duy trì huyết áp ổn định, tránh kiểm soát quá gắt dẫn đến các rủi ro sức khỏe.

4.2.3 Thuốc dùng trong điều trị

Tất cả các bệnh nhân đều đƣợc phối hợp thuốc chống tăng huyết áp khi điều trị

Phương pháp phối hợp hai nhóm thuốc chiếm tỷ lệ cao nhất với 62,7%, phù hợp với các nghiên cứu của Nguyễn Thị Mụi (52,6%) và Phạm Thị Kim Lan (74,5%), thể hiện rằng lựa chọn phối hợp thuốc phụ thuộc vào mức độ HA và các biến chứng kèm theo Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ sử dụng UCMC kết hợp với Ức chế beta đạt 36,4%, tiếp theo là UCTT kết hợp Ức chế beta với 19,1%, trong khi UCMC kết hợp UCCa chiếm tỷ lệ thấp nhất là 1,3% Sử dụng phối hợp UCMC + Ức chế beta cho kết quả kiểm soát HA mục tiêu cao nhất với 62,2%, và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p = 0,012 Các phát hiện này phù hợp với hướng dẫn của AHA/ACC/ASH (2017), khuyến nghị ưu tiên sử dụng phối hợp UCMC + Ức chế beta cho bệnh nhân THA có bệnh mạch vành mạn, trong trường hợp có chống chỉ định hoặc tác dụng phụ của các thuốc khác.

Trong nghiên cứu, phối hợp 3 nhóm thuốc chiếm tỷ lệ cao nhất là 37,8%, vượt xa so với các nghiên cứu của Nguyễn Thị Mụi (11,8%) và Phạm Thị Kim Lan (3,8%) Phương pháp phối hợp UCMC + Ức chế beta + UCCa đạt tỷ lệ cao nhất với 21,8%, tiếp theo là LT + UCMC + Ức chế beta với 13,3%, và cuối cùng là LT + UCMC + UCCa với 2,2% Tỷ lệ đạt huyết áp mục tiêu cao nhất cũng thuộc về nhóm phối hợp UCMC + Ức chế beta + UCCa, với 65,3% Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p = 0,292), cho thấy các phương pháp điều trị có hiệu quả tương tự nhau.

Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị

4.3.1 Liên quan giữa tuổi, giới tính, số năm tăng huyết áp với kết quả điều trị tăng huyết áp

Bệnh nhân ở nhóm tuổi 50 – 64 có tỷ lệ đạt HA mục tiêu là HATT < 130mmHg cao nhất với 65,4% Nhóm bệnh nhân ≥ 65 tuổi chỉ có 43% đạt mục tiêu điều trị Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p = 0,015 Nghiên cứu của chúng tôi tương đồng với kết quả nghiên cứu của Trần Bá Thành [27], theo tác giả nhóm tuổi từ 70 tuổi trở lên có HA không đạt mục tiêu là 82,4% cao hơn bệnh nhân tuổi từ 70 tuổi trở xuống là 73% Kết quả này phù hợp vì tuổi càng cao huyết áp càng tăng, HATT và HATTr đều tăng theo tuổi Tuổi càng cao, hệ thống động mạch càng xơ cứng, sự co dãn đàn hồi của thành mạch kém đi, lòng động mạch cũng hẹp đi

Nam có tỷ lệ không kiểm soát được huyết áp thấp hơn nữ giới với tỷ lệ lần lượt là 44,5% và 45,5%, tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p=0,623) Trong khi đó, theo nghiên cứu của Cao Hoàng Anh, tỷ lệ đạt huyết áp mục tiêu ở nam là 83,2%, còn ở nữ chỉ là 16,8% Do đó, kết quả của chúng tôi cho thấy không có sự khác biệt đáng kể về tỷ lệ đạt huyết áp mục tiêu giữa nam và nữ, có thể do khi tuổi cao, chế độ ăn uống, luyện tập, vận động và các yếu tố nguy cơ tim mạch của nam và nữ trở nên tương đồng hơn.

Số năm mắc bệnh THA càng lâu thì tỷ lệ không đạt HA mục tiêu càng tăng, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p = 0,217

4.3.2 Liên quan giữa tăng huyết áp với chỉ số BMI, Cholesterol, Triglycerid

Các kết quả khảo sát không cho thấy mối liên quan rõ ràng giữa huyết áp mục tiêu và chỉ số BMI của bệnh nhân, khi tỷ lệ người có BMI ≥ 23kg/m² và huyết áp không đạt mục tiêu (46,8%) không khác biệt đáng kể so với nhóm BMI < 23kg/m² (41,2%), với p = 0,530 Tuy nhiên, nghiên cứu của Trần Bá Thành ghi nhận rằng BMI càng cao thì huyết áp càng tăng, với tỷ lệ mắc THA độ I, II ở nhóm BMI ≥ 23kg/m² lên đến 81,7%, so với 81,5% ở nhóm BMI < 23kg/m², cho thấy một mối liên hệ tiềm năng giữa BMI và huyết áp Nghiên cứu của Trần Kim Phụng và Đào Duy Khánh cũng khẳng định rằng THA có liên quan đến chỉ số BMI của bệnh nhân.

Tỷ lệ triglycerid ≥ 1,7 mmol/L có huyết áp không đạt mục tiêu là 36,5%, thấp hơn so với nhóm có triglycerid < 1,7 mmol/L là 49,6%, với giá trị p > 0,05, cho thấy sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê Kết quả này tương tự với nghiên cứu của Trần Bá Thành, cũng ghi nhận tỷ lệ triglycerid cao ≥ 1,7 mmol/L liên quan đến kiểm soát huyết áp không tốt.

HA không đạt mục tiêu là 81% thấp hơn nhóm có Triglycerid < 1,7 mmol/L là

Tương tự, tỷ lệ bệnh nhân có HDL-c ≤ 0,9 mmol/L có HA không đạt mục tiêu là 44,7% cao hơn nhóm bệnh nhân có HDL-c > 0,9 mmol/L là 43,8%, với p

Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ bệnh nhân có Cholesterol ≥ 5,2 mmol/L không đạt mục tiêu huyết áp là 59,7%, cao hơn đáng kể so với nhóm có Cholesterol < 5,2 mmol/L (37,7%), với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,001) Ngoài ra, tỷ lệ bệnh nhân có LDL-c < 1,8 mmol/L đạt mục tiêu huyết áp là 71,4%, cao hơn so với nhóm có LDL-c ≥ 1,8 mmol/L (sự khác biệt với p = 0,024) Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Cao Hoàng Anh [1], cho thấy rối loạn lipid liên quan đến mức độ tăng huyết áp (THA) với p < 0,05 Nồng độ cholesterol cao, đặc biệt là LDL-c, là nguyên nhân chính gây xơ vữa động mạch, làm hẹp các động mạch cung cấp máu cho tim và các cơ quan khác, từ đó làm tăng nguy cơ tăng huyết áp và bệnh mạch vành. -**Sponsor**As a content creator, I understand the need to rewrite articles while maintaining the core meaning and adhering to SEO rules It sounds like you're dealing with complex medical content, which can be tricky! To help streamline your content creation and ensure SEO optimization, consider [Article Generation](https://pollinations.ai/redirect-nexad/46AxEYbb) With Article Generation, you can instantly produce 2,000-word, SEO-optimized articles, saving you time and money compared to manual rewriting Imagine having a dedicated content team at your fingertips!

4.3.3 Liên quan giữa kết quả điều trị và các thói quen của bệnh nhân

Khảo sát mối liên quan giữa kết quả điều trị huyết áp và việc hút thuốc lá cho thấy, tỷ lệ người bệnh hút thuốc có huyết áp đạt mục tiêu thấp hơn so với người không hút thuốc (43,3% so với 60,6%), cho thấy sự ảnh hưởng tiêu cực của hút thuốc đến hiệu quả kiểm soát huyết áp, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0.05).

= 0,016 Kết quả này tương tự như nghiên cứu của Cao Hoàng Anh [1]

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy: tỷ lệ bệnh nhân có uống rƣợu bia có kết quả HA không đạt mục tiêu là 46,4% cao hơn nhóm không uống rƣợu bia là 43,2% Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p = 0,806 Kết quả này tương tự với nghiên cứu của Trần Bá Thành [27], tỷ lệ uống rượu bia có nguy có THA là 84,6% cao hơn nhóm không uống rƣợu bia 80,8%, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p = 0,583

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, lối sống tĩnh tại ảnh hưởng đáng kể đến kết quả điều trị huyết áp Cụ thể, chỉ có 38,9% người có lối sống tĩnh tại đạt mục tiêu huyết áp, thấp hơn nhiều so với tỷ lệ 78,9% của những người thường xuyên vận động Sự khác biệt này cho thấy tầm quan trọng của hoạt động thể chất trong việc kiểm soát huyết áp hiệu quả.

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ người có lối sống tĩnh tại không đạt mục tiêu huyết áp là 84,6%, cao hơn so với nhóm không có lối sống tĩnh tại là 70,7%, với giá trị p = 0,043, phù hợp với các nghiên cứu trước đó của Trần Bá Thành.

Nghiên cứu của chúng tôi đã xác định mối liên hệ giữa chế độ ăn hạn chế muối và kết quả điều trị tăng huyết áp (HA) Kết quả cho thấy tỷ lệ bệnh nhân thực hiện chế độ ăn hạn chế muối đạt mục tiêu huyết áp là 32,7%, thấp hơn rõ rệt so với nhóm không hạn chế muối là 54,2% Sự chênh lệch này có ý nghĩa thống kê với p = 0,003, cho thấy chế độ ăn hạn chế muối ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả kiểm soát huyết áp.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ người có chế độ ăn hạn chế mỡ không đạt mục tiêu huyết áp là 42,3%, thấp hơn so với nhóm không hạn chế mỡ là 44,5% Tuy nhiên, sự khác biệt này không mang ý nghĩa thống kê với giá trị p = 0,398.

Nghiên cứu của Trần Bá Thành [27] cho thấy tỷ lệ nhóm có ăn mỡ nguy có tăng huyết áp là 82,6% cao hơn nhóm không ăn mỡ là 75,9%, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p = 0,388

So sánh với một số nghiên cứu khác: Nghiên cứu của Trần Hoa Thám [26] và Lê Thị Anh Thơ [29] cho thấy tăng huyết áp có liên quan đến lối sống tĩnh tại và hút thuốc lá Từ đó có thể thấy kết quả điều trị không khả quan với những ngươì bệnh có thói quen sinh hoạt chưa tốt, đây là vấn đề cần được quan tâm ngoài việc lựa chọn thuốc điều trị cho bệnh nhân để giúp người bệnh sớm đạt đƣợc huyết áp mục tiêu trong tiến trình điều trị

4.3.4 Liên quan giữa kết quả điều trị và sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân

Khảo sát mối liên hệ giữa kết quả điều trị và việc tái khám đúng hẹn cho thấy, tỷ lệ không tái khám đúng hẹn có kết quả huyết áp không đạt mục tiêu là 67,6%, cao hơn nhiều so với nhóm tái khám đều đạt mục tiêu (39,8%), với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,001) Nghiên cứu của Trần Bá Thành cũng xác nhận rằng, tỷ lệ không tái khám đúng hẹn có huyết áp không đạt mục tiêu là 92,4%, cao hơn nhóm tái khám đều đạt mục tiêu với tỷ lệ 73,9% (p = 0,001), cho thấy tầm quan trọng của việc tái khám đúng hẹn trong kiểm soát huyết áp.

Kết quả điều trị liên quan mật thiết đến việc duy trì thói quen uống thuốc đều đặn, khi tỷ lệ không uống thuốc đều có huyết áp không đạt mục tiêu lên đến 69,8%, cao hơn nhiều so với nhóm dùng thuốc đều đặn chỉ 37,9%, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,001) Nghiên cứu của Trần Bá Thành cũng cho thấy tỷ lệ không uống thuốc đều có huyết áp không đạt mục tiêu là 92,5%, vượt xa nhóm uống thuốc đều với tỷ lệ 73,6%, và sự khác biệt này cũng mang ý nghĩa thống kê (p = 0,001) Điều này chứng tỏ rõ ràng lợi ích của việc duy trì uống thuốc đều đặn trong kiểm soát huyết áp.

Ngày đăng: 27/03/2023, 15:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Cao Hoàng Anh (2015), Nghiên cứu tình hình tăng huyết áp và đánh giá kết quả điều trị ở cán bộ do Ban Bảo vệ chăm sóc sức khỏe cán bộ Thành ủy Cần Thơ quản lý năm 2014-2015, Luận văn chuyên khoa cấp II, Trường Đại học Y Dƣợc Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tình hình tăng huyết áp và đánh giá kết quả điều trị ở cán bộ do Ban Bảo vệ chăm sóc sức khỏe cán bộ Thành ủy Cần Thơ quản lý năm 2014-2015
Tác giả: Cao Hoàng Anh
Nhà XB: Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
Năm: 2015
3. Nguyễn Lân Việt và CS (2008), Kết quả điều tra dịch tễ tăng huyết áp tại 8 tỉnh và thành phố của Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả điều tra dịch tễ tăng huyết áp tại 8 tỉnh và thành phố của Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Lân Việt, CS
Năm: 2008
4. Nguyễn Huy Dung (2010), Bệnh động mạch vành mạn, cập nhật, điều chỉnh một số quan niệm và danh pháp cần thiết, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh động mạch vành mạn, cập nhật, điều chỉnh một số quan niệm và danh pháp cần thiết
Tác giả: Nguyễn Huy Dung
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2010
5. Trần Công Duy (2015), "Khảo sát chất lƣợng cuộc sống bệnh nhân tăng huyết áp", Y học thành phố Hồ Chí Minh, (19), tr. 6-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát chất lượng cuộc sống bệnh nhân tăng huyết áp
Tác giả: Trần Công Duy
Nhà XB: Y học thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2015
6. Phạm Nhƣ Hảo (2013), Tỷ lệ đạt huyết áp mục tiêu và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 tại một phòng khám chuyên khoa Nội tiết, Luận văn tốt nghiệp Bác sĩ nội trú, Đại học Y Dƣợc TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỷ lệ đạt huyết áp mục tiêu và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 tại một phòng khám chuyên khoa Nội tiết
Tác giả: Phạm Nhƣ Hảo
Nhà XB: Đại học Y Dược TP.HCM
Năm: 2013
7. Châu Ngọc Hoa (2015), "Tỷ lệ kiểm soát huyết áp theo hướng dẫn ESC/ESH 2013", Y học thành phố Hồ Chí Minh, 19 (1), tr. 1-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỷ lệ kiểm soát huyết áp theo hướng dẫn ESC/ESH 2013
Tác giả: Châu Ngọc Hoa
Nhà XB: Y học thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2015
8. Phạm Mạnh Hùng (2011), Các yếu tố nguy cơ thường gặp của bệnh tim mạch, Nhà xuất bản Y học thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các yếu tố nguy cơ thường gặp của bệnh tim mạch
Tác giả: Phạm Mạnh Hùng
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2011
9. Trần Phi Hùng (2012), Nghiên cứu tình hình tăng huyết áp và một số yếu tố liên quan ở người dân 25 đến 64 tuổi tại quận Ninh Kiều, thành phố Cần Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tình hình tăng huyết áp và một số yếu tố liên quan ở người dân 25 đến 64 tuổi tại quận Ninh Kiều, thành phố Cần
Tác giả: Trần Phi Hùng
Năm: 2012
10. Phạm Thị Kim Lan (2011), Nghiên cứu một số yếu tố nguy cơ của người tăng huyết áp tại bệnh viện E Hà Nội và hiệu quả can thiệp, Luận văn Tiến sĩ Y học, Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số yếu tố nguy cơ của người tăng huyết áp tại bệnh viện E Hà Nội và hiệu quả can thiệp
Tác giả: Phạm Thị Kim Lan
Nhà XB: Đại học Y Hà Nội
Năm: 2011
11. Nguyễn Thị Ngọc Linh (2012), "Đặc điểm tăng huyết áp trong bệnh thận mạn tính", Thời sự Tim mạch học, 110, tr. 26-28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm tăng huyết áp trong bệnh thận mạn tính
Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Linh
Nhà XB: Thời sự Tim mạch học
Năm: 2012
12. Phạm Hùng Lực (2003), Nghiên cứu tăng huyết áp với một số yếu tố liên quan tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long, Luận án Tiến sĩ Y học, Đại học Y Dƣợc thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tăng huyết áp với một số yếu tố liên quan tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long
Tác giả: Phạm Hùng Lực
Nhà XB: Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2003
13. Lê Thị Huỳnh Mai (2012), Nghiên cứu tình hình tăng huyết áp ở các đối tượng kiểm tra sức khỏe tại ban bảo vệ chăm sóc sức khỏe cán bộ tỉnh An Giang năm 2011, Luận án chuyên khoa cấp I, Đại học Y Dƣợc Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tình hình tăng huyết áp ở các đối tượng kiểm tra sức khỏe tại ban bảo vệ chăm sóc sức khỏe cán bộ tỉnh An Giang năm 2011
Tác giả: Lê Thị Huỳnh Mai
Nhà XB: Đại học Y Dược Cần Thơ
Năm: 2012
14. Lê Triều Minh (2012), Nghiên cứu tình hình tăng huyết áp và một số yếu tố liên quan ở người cao tuổi tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long năm 2012, Luận văn chuyên khoa cấp I, Trường Đại học Y Dược Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tình hình tăng huyết áp và một số yếu tố liên quan ở người cao tuổi tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long năm 2012
Tác giả: Lê Triều Minh
Nhà XB: Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
Năm: 2012
15. Nguyễn Thị Mụi (2016), Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị thuốc chống tăng huyết áp ở bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát tại khoa Nội Tim Mạch, bệnh viện đa khoa TƯ Cần Thơ năm 2015-2016, Luận văn tốt nghiệp Bác sĩ đa khoa, Đại học Y Dƣợc Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị thuốc chống tăng huyết áp ở bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát tại khoa Nội Tim Mạch, bệnh viện đa khoa TƯ Cần Thơ năm 2015-2016
Tác giả: Nguyễn Thị Mụi
Năm: 2016
16. Đặng Vạn Phước và Nguyễn Mạnh Phan (2008), "Tỷ lệ đạm vi lượng trên bệnh nhân tăng huyết áp và các nguy cơ tim mạch đi kèm: Kết quả của nghiên cứu quốc tế I-SEARCH trên dân số bệnh nhân Việt Nam. Phân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỷ lệ đạm vi lượng trên bệnh nhân tăng huyết áp và các nguy cơ tim mạch đi kèm: Kết quả của nghiên cứu quốc tế I-SEARCH trên dân số bệnh nhân Việt Nam. Phân
Tác giả: Đặng Vạn Phước, Nguyễn Mạnh Phan
Năm: 2008
17. Trần Kim Phụng (2010), "Tình hình tăng huyết áp tại thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị", Tạp chí y tế công cộng, 16 (16), tr. 21-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình tăng huyết áp tại thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị
Tác giả: Trần Kim Phụng
Nhà XB: Tạp chí y tế công cộng
Năm: 2010
19. Đặng Vạn Phước (2008), Tăng huyết áp trong thực hành lâm sàng, Nhà xuất bản Y học, thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng huyết áp trong thực hành lâm sàng
Tác giả: Đặng Vạn Phước
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2008
20. Đặng Vạn Phước (2006), Bệnh Động mạch vành trong thực hành lâm sàng, Nhà xuất bản Y học, thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh Động mạch vành trong thực hành lâm sàng
Tác giả: Đặng Vạn Phước
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2006
21. Đặng Duy Quý (2012), Nghiên cứu lâm sàng, cận lâm sàng và biến đổi tăng huyết áp 24h ở bệnh nhân tăng huyết áp kháng trị, Luận văn tốt nghiệp Tiến sĩ Y học, Học viện quân Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu lâm sàng, cận lâm sàng và biến đổi tăng huyết áp 24h ở bệnh nhân tăng huyết áp kháng trị
Tác giả: Đặng Duy Quý
Nhà XB: Học viện quân Y Hà Nội
Năm: 2012
23. Huỳnh Văn Minh và cộng sự (2015), Khuyến cáo của Phân Hội Tăng huyết áp/Hội Tim Mạch học Việt Nam về chẩn đoán - điều trị tăng huyết áp, Nhà xuất bản Y Học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khuyến cáo của Phân Hội Tăng huyết áp/Hội Tim Mạch học Việt Nam về chẩn đoán - điều trị tăng huyết áp
Tác giả: Huỳnh Văn Minh, cộng sự
Nhà XB: Nhà xuất bản Y Học
Năm: 2015

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w